Lũ lớn nhất trong 5 năm qua, dân Nha Trang chèo thuyền trên phố

Lũ lớn nhất trong 5 năm qua, dân Nha Trang chèo thuyền trên phố

Nha trang LỤT 2016 


LỤT KHẮP ĐẤT NƯỚC, TỪ HANOI ĐẾN SAIGON . DÂN KHỔ TRIỀN MIÊN !!!!!

Dân trí Lũ được cho là lớn nhất trong hơn nửa thập kỷ qua đã nhấn chìm nhiều làng mạc vùng ven của TP Nha Trang (Khánh Hòa). Người dân Nha Trang đang phải chèo thuyền trên phố để đi lại – một cảnh tượng hiếm thấy ở thành phố du lịch này.

Ông Lê Văn Mỹ, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Ngọc (TP Nha Trang, Khánh Hòa), cho biết, do ảnh hưởng của mưa lũ, nước dâng cao khiến hàng nghìn hộ dân của của xã này đang bị cô lập.

Hiện các tuyến đường dẫn vào xã Vĩnh Ngọc đều bị nước lũ dâng cao bủa vây, có những đoạn dâng cao hơn 0,6m khiến giao thông bị tê liệt.

Theo Chủ tịch xã Vĩnh Ngọc, toàn xã này có 10 thôn thì có 7 thôn bị ngập nặng, với hơn 4.000 dân bị ảnh hưởng .“Kể từ năm 2010 đến nay, đây là trận lụt lớn nhất khiến xã bị ngập nặng, giờ xã thành như đảo rồi”, ông Mỹ nói.

Hình ảnh toàn cảnh về trận lụt ở TP Nha Trang, Khánh Hòa:

Lũ lên cao, người dân xã Vĩnh Ngọc (TP Nha Trang) phải chèo thuyền di chuyển
Lũ lên cao, người dân xã Vĩnh Ngọc (TP Nha Trang) phải chèo thuyền di chuyển
 Một em bé Nha Trang tập sống chung với lũ

Một em bé Nha Trang tập “sống chung với lũ”

Trường học ở TP Nha Trang bị nước lũ cô lập, học sinh phải nghỉ học
Trường học ở TP Nha Trang bị nước lũ cô lập, học sinh phải nghỉ học
Người dân Nha Trang chèo thuyền để vận chuyển hàng hóa
Người dân Nha Trang chèo thuyền để vận chuyển hàng hóa

Suy nghĩ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe

Suy nghĩ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe

 Tác giả: Kathy McWilliams | Dịch giả: Trà Giang

 

       suy-nghi

Suy nghĩ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe(Ảnh: pixabay / CC0 1.0)

Tiến sĩ bác sĩ David R. Hawkins, một bác sĩ, chuyên gia về tâm thần, nhà nghiên cứu nổi tiếng toàn quốc, và là tác giả của cuốn sách bán chạy nhất Power vs Force. Ông đã phát hiện rằng khi bạn có thói quen hay chê trách, cáo buộc, hoặc căm hận nhắm vào người khác, là lúc bạn làm hạ mức năng lượng của cơ thể và giữ một tần số rung động (vibration frequency) thấp.
Tần số rung động được ví như một từ trường. Tiến sĩ Hawkins tin rằng nhiều người mắc bệnh vì họ thiếu lòng từ bi, tình thương yêu và lòng khoan dung. Họ thường hay đau khổ, chán nản và dễ mắc các bệnh về thể chất.

suy-nghi-2
Năng lượng tích cực
Các nghiên cứu chỉ ra rằng tần số rung động có biên độ từ 1 đến 1000 trong đó 1 là chỉ số thấp nhất và 1000 là cao nhất. Cho tới nay, tần số rung động cao nhất mà Tiến sĩ Hawkins ghi nhận được là 700. Khi một người đạt tần số rung động đặc biệt cao thì sự hiện diện của họ có thể tác động đến từ trường trên một khu vực rộng.
Từ góc nhìn y học, Tiến sĩ Hawkins tin rằng ý niệm thật sự có sức mạnh và tác động đáng kể đến sức khỏe con người. Những suy nghĩ tích cực và lạc quan kết hợp với trái tim đầy thương yêu là những thành tố không thể thiếu để có một sức khỏe tốt.
Những suy nghĩ tích cực và lạc quan kết hợp với trái tim đầy thương yêu là những thành tố không thể thiếu để có một sức khỏe tốt
Năng lượng tiêu cực
Tiến sĩ Hawkins khảo sát hàng chục ngàn trường hợp trên toàn cầu và kết quả luôn giống nhau: Mỗi khi tần số rung động của một người rơi xuống dưới mức 200, người đó sẽ bị ốm.
Những ý niệm có tần số rung động cao – như sự từ bi, tình thương yêu, lòng khoan dung và sự dịu dàng – mang theo tần số dao động khoảng 400 đến 500.
Ngược lại, sự tức giận, hay đổ lỗi, oán giận, đố kỵ, ích kỷ có tần số rung động rất thấp, mức có thể gây ra ung thư, tim mạch và nhiều bệnh khác

Bí quyết sống lâu

Điểm thú vị là chế độ ăn uống và luyện tập lại không phải là điểm mấu chốt nhất để kéo dài tuổi thọ. Tiến sĩ Elizabeth Blackbum, người đoạt giải sinh lý học 2009, tóm tắt: nếu bạn muốn sống thọ hơn 100 tuổi thì việc ăn uống hợp lý chiếm 25%, các yếu tố khác chiếm 25%, trong khi đó cân bằng tâm lý chiếm 50% còn lại.
Vậy để trở thành người trên trăm tuổi, những điểm sau cần được lưu ý:

suy-nghi-3
Tâm trạng tốt và tâm trạng xấu
Nếu bạn cả ngày mệt mỏi và tâm trạng đầy giận dữ, căng thẳng và suy nghĩ tiêu cực, cơ thể sẽ tiết ra lượng hóc môn ức chế đủ giết chết một con chuột.

Tuy nhiên khi bạn hạnh phúc, não bộ sẽ tiết ra chất dẫn truyền dopamine  và hóc môn có lợi khác. Có một điểm chung giữa những vị sống trăm tuổi – họ có trái tim vui vẻ.

suy-nghi-4

Thiết lập mục tiêu khiến cuộc sống đầy sức sống
Khi một người không có mục tiêu trong cuộc sống thì cái chết là mục tiêu cuối cùng và sức khỏe tinh thần của họ sẽ bị  tổn hại. Duy trì thái độ tích cực và nỗ lực tìm kiếm cách để đạt được mục tiêu sẽ kích thích các tế bào não và ngăn ngừa lão hóa sớm.
Nuôi dưỡng lòng từ bi và hành thiện
suy-nghi-5

Chuyên gia tâm thần cho biết hành thiện giúp trái tim đong đầy niềm vui, dẫn đến việc ngăn chặn hóc môn căng thẳng và gia tăng sản sinh hóc môn có lợi.

Hòa khí trong gia đình
Mối quan hệ hòa ái giữa các thành viên trong gia đình là một cách nữa để ngăn chặn hóc môn căng thẳng. Cùng lúc đó, khi các nhu cầu tình cảm của bạn được đáp ứng đầy đủ bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc vui vẻ.

suy-nghi-6
Sự tử tế sản sinh sự tử tế
Rất nhiều nhà tâm thần học cho rằng việc cho đi với trái tim nhân hậu là cách ngăn ngừa và chữa lành sự suy sụp.

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

NGÀY MAI NƯỚC MỸ ĐI BẦU

NGÀY MAI NƯỚC MỸ ĐI BẦU

FB Mạnh Kim

7-11-2016

Không có cảnh đường phố treo đầy cờ Mỹ với giăng mắc chi chít băng rôn kiểu như “Đi bầu là nghĩa vụ của mọi người dân”, người Mỹ, nhìn bề ngoài, dường như không quan tâm cuộc bầu cử quan trọng theo cách mà truyền thông Mỹ tường thuật hàng ngày. Trong các thành phố mà tôi đã đi qua từ Bắc xuống Nam bang California (San Jose, Fresno, Bakersfield, Los Angeles, Orange County…) hoặc thậm chí New York City, chẳng nơi nào có “không khí náo nhiệt ngày hội đi bầu”, nếu không kể những panô ứng cử viên cấp địa phương dựng trơ trọi vài góc đường.

Tóm lại là không có “Nhiệt liệt chào mừng ngày bầu cử các cấp” hoặc “Sáng suốt lựa chọn…”. Trong thực tế, người Mỹ không thờ ơ với cuộc bầu cử. “Quyền làm chủ” được họ hiểu rõ mà không cần được nhắc. “Quyền làm chủ” bao gồm cả việc thích đi bầu hay không mà chính quyền không thể ép buộc.

Dù “không khí bầu cử” không ồn ào (như một hình thức tuyên truyền mị dân) nhưng người Mỹ vẫn quan tâm đến cuộc bầu cử. Cần nhấn mạnh, vào ngày 8-11, không chỉ có một cuộc bầu cử tổng thống. Chỉ riêng một phần phía Nam Orange County, có hơn 10 lá phiếu được bầu vào ngày mai: phiếu bầu dân biểu địa hạt 45th; phiếu bầu thượng nghị sĩ cấp tiểu bang địa hạt 37th; phiếu bầu hội đồng tiểu bang địa hạt 68th; phiếu bầu hội đồng thành phố Lake Forest…

Tổng cộng, cuộc bầu cử 2016 là tiến trình chọn ứng cử viên cho tất cả 435 ghế Hạ viện; 34/100 ghế Thượng viện; 12 ghế thống đốc và nhiều ghế chính quyền địa phương, chẳng hạn ghế thành viên hội đồng thành phố Lake Forest, đang được tranh cử bởi một trong những ứng cử viên, cô Leah Basile, một phụ nữ xinh đẹp 42 tuổi có hai con, sống đối diện căn nhà nơi tôi đang ở.

Tất nhiên cuộc tranh cử tổng thống vẫn được chú ý nhiều nhất. Cho đến thời điểm này, Hillary Clinton vẫn nhỉnh hơn Donald Trump ở tất cả các cuộc thăm dò, trong khi nước Mỹ vẫn tiếp tục mâu thuẫn và chia cắt quanh việc ủng hộ Trump hay Hillary. Vấn đề Trump thậm chí trở thành chủ đề nhạy cảm đến mức nhiều người Mỹ bắt đầu thấy ngại bàn đến.

Vài trong số những người này nói với tôi rằng họ sẽ không bỏ phiếu cho ai; vài người khác nói rằng họ không thích Hillary nhưng sẽ bỏ phiếu cho bà vì đơn giản họ “thấy kinh tởm Trump”. Với Leah Basile, người đang tranh cử với tư cách ứng cử viên độc lập, khi được tôi hỏi sẽ bỏ phiếu cho ai, Leah trả lời rằng cô không muốn “tiết lộ”. Leah nói thêm cô không muốn bị “unfriend” khỏi danh sách bạn bè Facebook chỉ bởi thể hiện công khai quan điểm!

Vài người khác thì không ngần ngại bày tỏ. Khi được hỏi liệu có phải Trump là “khối ung thư của chính trị Mỹ hay không”, đạo diễn phim tài liệu lừng danh Ken Burns trả lời ngay: “Không thể chính xác hơn!”. Và trả lời tôi về việc Trump có thật sự “chống Cộng” hay không, giáo sư Lê Xuân Khoa nói rằng chỉ những người ấu trĩ về chính trị Mỹ mới tin như vậy.

Dù không cờ xí và băngrôn ồn ào, sự kiện ngày mai vẫn là sự kiện quan trọng, không chỉ với nước Mỹ. Vấn đề bây giờ không phải là câu hỏi Trump thắng hay không mà là nước Mỹ học được những gì từ cái gọi là “hiện tượng Trump”, bất luận là Trump thua hay thắng.

Bế tắc và lối thoát

Bế tắc và lối thoát

Kính Hòa, phóng viên RFA

 RFA

Hội nghị trung ương lần thứ tư, khóa 12 của đảng cộng sản Việt Nam hôm 5/11/2016 tại Hà Nội.

Hội nghị trung ương lần thứ tư, khóa 12 của đảng cộng sản Việt Nam hôm 5/11/2016 tại Hà Nội.

Courtesy chinhphu.vn

Bế tắc và lối thoát

03:16/09:55

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh 

Cuộc chiến chống tham nhũng bất khả thi

Nghị quyết của hội nghị trung ương lần thứ tư, khóa 12 của đảng cộng sản Việt Nam tập trung vào lời kêu gọi chống tham nhũng và xây dựng đảng.

Nhiều blogger hoài nghi về chuyện chống tham nhũng của đảng cộng sản từ bấy lâu nay. Ông Nguyễn Phú Trọng lại như châm dầu vào ngọn lửa hoài nghi vẫn âm ỉ này khi ông lại nói rằng chống tham nhũng của đảng chính là chống lại đảng. Nguyên văn lời ông là ta lại đánh ta.

Blogger Siêu Hình trình bày trên trang Dân Luận lý do tại sao đảng cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng được:

Từ sự tuyển chọn, kết nạp cho đến giám sát thẩm tra đều một tay các ban bệ cơ quan của Đảng Cộng sản thực hiện, sự thống nhất quyền lực không chấp nhận phân quyền đã làm cho cả hệ thống chính trị phải ôm đồm hết tất cả công việc.Chính vì không có sự phân quyền, giám sát đối trọng lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực và các ban bệ cơ quan mà còn tập trung tất cả vào tay một Đảng nên sự giám sát này mang tính thi hành mệnh lệnh tuyệt đối từ cấp trên mà cấp trên này dù gì đi nữa cũng là chịu sự chỉ huy và chịu trách nhiệm đối với Đảng, mà đặc thù trong các quốc gia Cộng sản thì đã từng có quá khứ chuyên chính tuyệt đối mà ở đó mệnh lệnh chính trị từ Đảng có thể chi phối bất cứ công việc gì.

Cũng trên trang Dân Luận, tác giả Lã Yên phân tích thêm sự lạm quyền trong hệ thống cai trị độc đảng tại Việt Nam hiện nay:

Quyền hạn nhiều, trình độ có thấp lại không được giám sát, dễ sinh ra thói tự tung tự tác. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến việc lạm quyền ngày càng tăng. Do không hiểu luật hoặc hiểu không rõ nên họ lạm dụng quyền lực một cách hiển nhiên, tự cho mình cái quyền xâm hại nhân phẩm, tính mạng người khác mà không mảy may suy nghĩ.

Quyền hạn nhiều, trình độ có thấp lại không được giám sát, dễ sinh ra thói tự tung tự tác. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến việc lạm quyền ngày càng tăng.
– Lã Yên

 Một blogger người Mỹ viết tiếng Việt là giáo sư Jonathan London viết rằng ông hoài nghi khả năng chống tham nhũng của Việt Nam nếu vẫn không có cải cách gì ở phương cách của tầng lớp lãnh đạo vẫn thực hiện từ trước đến nay trong việc quản trị đất nước:

Xin lỗi nếu tôi còn hơi hoài nghi về khả năng rằng ‘bệnh tham nhũng’ có thể được đề cập một cách hữu hiệu chỉ hoặc chủ yếu bằng việc điều chỉnh, tự phê bình  như bao nhiêu thập kỳ trước. Có vẻ phải có một cơ chế để giám sát quyền lực công khai hơn. Có vẻ phải có một nền báo chí độc lập và chuyên nghiệp hơn.

Lời đề nghị của vị giáo sư Mỹ chỉ được viết ra vài ngày trước khi tổ chức Phóng viên không biên giới xếp người đứng đầu đảng là ông Nguyễn Phú Trọng vào một danh sách 35 người là kẻ thù của tự do báo chí.

Trong khi đó thủ đô Hà Nội lại tổ chức một cuộc họp mặt lần thứ 18 của các đảng cộng sản trên toàn thế giới. Giáo sư Nguyễn Đình Cống bình luận về sự kiện này một cách trào phúng:

Nguyên Tổng bí thư ĐCSVN Nông Đức Mạnh (phải) ngồi trên một chiếc ghế chạm trổ đầu rồng màu vàng tại nhà riêng khi đã về hưu. Ảnh minh họa chụp trước đây. File photo

Có một việc rất nên làm mà không biết Bộ Chính trị, Ban Bí thư hoặc Ban đối ngoại Trung Ương có nghĩ ra không. Đó là mời các đại biểu đi thăm dinh thự của một số quan chức của Đảng, đã về hưu hoặc đang tại chức. Sau khi thấy được những dinh thự xa hoa, lộng lẫy của các vua chúa Cộng Sản, thấy được ngai vàng ở nhà ông này, tượng vàng ở nhà ông kia v. v… thì sự cảm phục, kính trọng Đảng Cộng Sản Việt Nam được nâng lên tầm cao, có thể tinh thần và quyết tâm làm cách mạng vô sản của các đại biểu sẽ được nâng lên trong chốc lát.

Hình ảnh mà giáo sư Cống đề cập về tài sản của các vị quan chức của đảng ngày càng được lưu truyền rộng rãi trên không gian mạng, trong đó tấm hình phòng tiếp khách sơn son thếp vàng của cựu Tổng bí thư Nông Đức Mạnh vẫn được xem như là hình ảnh tiêu biểu cho sự giàu sang của các qaun chức cộng sản Việt Nam.

Giáo sư Cống vốn là một đảng viên cộng sản, và đã tuyên bố từ bỏ đảng. Ông cũng là người viết rất nhiều bài trên các trang blog, và mạng xã hội, yêu cầu chấm dứt việc xem chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa độc tôn ở Việt Nam.

Dân trí và trách nhiệm của những người còn lại ngoài đảng

Một lý do thường được những người bảo vệ chế độ cai trị độc đảng đưa ra để duy trì chế độ ấy là cho rằng trình độ dân trí Việt Nam thấp, nếu mở rộng dân chủ, cạnh tranh đa đảng phải sẽ dẫn đến loạn lạc.

Luật sư Lê Luân đặt câu hỏi rằng ai là nguyên nhân cho cái gọi là dân trí thấp đó:

Ngược lại với họ, tôi chỉ cần đặt câu hỏi, dễ dàng nhận ra người ta đang nguỵ biện mà không biết, hoặc là để né tránh thực tế gốc rễ của nó.

Câu hỏi: Ai khiến cho dân trí thấp?

Giáo dục, do ai đặt ra và kiểm soát? Do ai định hướng và đào tạo? Do ai có quyền dạy, dạy gì và bác bỏ điều gì, nếu muốn?

Đó chính là chính quyền, nhà nước đang trị vì quốc gia ấy.

Nhưng ngoài trách nhiệm của chính quyền và nhà nước đang cai trị, nhà báo Trương Duy Nhất cho rằng còn có trách nhiệm từ sự cam chịu của dân chúng nữa. Trong bài viết về những cơn lũ đến hẹn lại lên tại miền Trung, ông đặt câu hỏi tại sao cả nhà nước và dân chúng cứ đặt ra những vấn đề lớn lao, còn chuyện giải quyết cụ thể nạn lũ lụt hàng năm lại chưa bao giờ được nói đến:

Tại sao không ai nghĩ tới điều này? Tại sao bao chục năm rồi, vẫn là những mái lá nhà tranh, những thôn làng ọp ẹp chỉ một cơn lũ thôi đã cuốn sạch sành sanh? Bao nhiêu nhiệm kỳ, bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu những chương trình mục tiêu mới cũ- cũ mới về nông thôn, những chương trình mục tiêu thiên niên kỷ gì đấy nữa… Những “đoàn tàu” mục tiêu với định hướng phát triển, phát triển định hướng gì đấy vẫn hùng hục lao về một nơi nào đó, rất xa xôi. Còn những vùng quê ấy, vẫn như bị bỏ rơi lại phía sau. Tài sản của nhiều hộ dân, hàng triệu triệu những hộ dân vùng lũ, vẫn không gì hơn ngoài mấy con bò. Một thùng mì tôm, mấy ổ bánh mỳ, với nhiều gia đình vẫn là nỗi khát khao.

Sống trong lũ, chết chìm trong lũ.

Chính phủ cam chịu. Dân tình cam chịu. Một dân tộc cam chịu. Loay hoay, xà quần trong lũ không ra lối thoát. Mặc cho lũ, kệ cho lũ. Cứ lũ xong – mì tôm cứu trợ. Lũ về – cứu trợ mì tôm. Không phải lũ chồng lên lũ, mà lũ chồng lên hết thế hệ này đến thế hệ khác.

Riết rồi quen. Quen đến mất quên cả khái niệm phản kháng, như một lẽ tự nhiên. Quen đến kiếp đời không nhận ra cái vận số cả dân tộc còn đang ngụp lặn chìm vùi trong một cơn lũ khác, đại lũ – Cơn lũ tư tưởng đục đắm tanh hôi, mà cứ tưởng “vĩ đại quang vinh”. Cơn lũ mà thế gian đều đã biết đạp qua, bỏ lại mình ta. Khi chới với nhận ra thì thiên hạ đã bơi xa, quá xa rồi.

Chúng ta chỉ trích đảng cộng sản Việt Nam yếu kém, không có khả năng cải cách, không có khả năng thay đổi. Nhưng hãy nhìn vào chính chúng ta để nói xem bản thân chúng ta có khả năng thay đổi hay không.
– Nguyễn Thị Từ Huy

 Khi chới với nhận ra thì thiên hạ đã đi xa quá rồi, câu cảm thán của nhà báo Trương Duy Nhất nhắc đến bài viết của nhạc sĩ Tuấn Khanh trước đó chưa lâu khi ông bình luận về giải Nobel văn chương năm nay được trao cho một nhạc sĩ hát rong Bob Dylan. Ông viết rằng thế giới đang vươn xa, tìm tòi những điều hay, trong khi Việt Nam vẫn loay hoay với những trận lụt ở thôn làng mà không có cách nào giải quyết được.

Luật sư Lê Luân cho rằng trách nhiệm của giới trí thức Việt Nam cũng rất nặng nề trong tình trạng tụt hậu của Việt Nam, trong tình trạng được cho là dân trí thấp của người Việt Nam:

Mà đến nay, ngay cả trí thức, nếu chính họ nói rằng dân trí thấp để đổ lỗi cho hiện trạng xã hội, thì bản thân họ là kẻ phải chịu trách nhiệm đầu tiên về hậu quả đó, bởi trách nhiệm của người trí thức là khai sáng, là đem đến cho người dân những giá trị nhận thức đúng và khai phóng họ khỏi những thứ hủ lậu, tụt hậu và xấu xa, dù họ trong chính quyền hay ở ngoài thực thể đó, thì việc để cho dân trí thấp thì họ không thể đứng ngoài công cuộc “dân ngu” đó được. Họ là thành phần phải cúi đầu đầu tiên mà nhìn lại và nhận lấy trách nhiệm đó về mình, vì rằng họ đã không thể đóng góp hay làm gì cho nhận thức của người khác, của xã hội, mà sau nửa thế kỷ họ vẫn vô tư đổ lỗi cho người khác về tình trạng dân trí thấp.

Trên bình diện cao hơn, blogger Nguyễn Thị Từ Huy tự hỏi chính mình và các tổ chức được gọi là bất đồng chính kiến với những người cộng sản hiện nay:

Chúng ta chỉ trích đảng cộng sản Việt Nam yếu kém, không có khả năng cải cách, không có khả năng thay đổi. Nhưng hãy nhìn vào chính chúng ta để nói xem bản thân chúng ta có khả năng thay đổi hay không, bản thân các tổ chức đang tồn tại có khả năng cải cách hay không, và chúng ta có khả năng hình thành các tổ chức mới hay không…

Nhạc sĩ Tuấn Khanh trong bày viết về quan hệ Việt Nam Trung quốc, có viết rằng tình cảnh của người Việt Nam đang thua thiệt người Trung quốc về nhiều mặt, đứng trước nguy cơ bị họ thống trị. Ông so sánh tình cảnh đó như đang ở trong một nồi nước sôi sùng sục, nhưng ông thì ông đã leo ra khỏi nó về mặt tâm thức, như nhiều người Việt Nam khác, và đó, theo ông là một niềm tin ở tương lai của dân tộc này:

Và tôi nhận thấy mình có một niềm tin mới, rằng sẽ không có một sự “trở về” hay “đi tới” nào cả. Dân tộc này, đất nước này không thể đi vào khốn khó, nếu người người cùng nuôi hy vọng và nhìn bằng sự thật về đất nước mình, dân tộc mình, và cùng nhau leo ra khỏi nắp nồi đóng kín đó, trước khi quá muộn.

Một luật sư người Việt sống ở Hà nội là ông Hirota Fushihara viết bằng tiếng Việt một cách dí dỏm rằng nếu cách đây mấy mươi năm ông thường xuyên bị theo dõi khi sống ở Hà nội vì đảng sợ diễn biến hòa bình, thì bây giờ ông không còn bị theo dõi nữa, mà lại học được một từ mới là tự diễn biến. Đối với ông, học được từ mới đó là đón chờ một thời đại mới.

Bao nhiêu dân Mỹ đi bỏ phiếu?

Bao nhiêu dân Mỹ đi bỏ phiếu?

Nguoi-viet.com

Người Việt

Hà Tường Cát/Người Việt

HOA KỲ – Câu trả lời là: Không nhiều. Theo nghiên cứu của PewResearch Center thì tỉ lệ đi bầu ở Mỹ đứng hàng thứ 31 trong số 35 nước thuộc OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) – Tổ chức Hợp Tác Kinh Tế và Phát Triển, với thành viên hầu hết là những nước dân chủ có trình độ phát triển cao nhất thế giới.

Trên bình diện khoa học chính trị, so sánh này có những phức tạp căn cứ trên những yếu tố khác nhau trong quy định về cử tri và cách tính toán. Bình thường đây là tỉ lệ đầu phiếu trong số cử tri hợp lệ được quyền bầu cử, nghĩa là công dân trên 18 tuổi không bị cấm cản vì các giới hạn pháp lý gì khác.

Kỳ tổng tuyển cử năm 2012 có 129.1 triệu cử tri đi bầu, 53.6% của 241 triệu cử tri hợp lệ trong dân số 314 triệu. Dân số Mỹ năm 2016 ước lượng khoảng 324 triệu.

Nên biết rằng các chế độ độc tài và những quốc gia chậm tiến thường phóng đại tỉ lệ cử tri đi bầu lên tới gần 100% hoàn toàn vô căn cứ.

Tỉ lệ bầu cử cao nhất trong 35 nước OECD là Bỉ 87.2%, Thổ Nhĩ Kỳ 84.3%, Thụy Điển 82.6% và thấp nhất là Thụy Sĩ dưới 40%.

Bỉ và Thụy Sĩ ở trong số 6 nước OECD (và 25 nước trên thế giới) có luật cưỡng bách đi bầu, Mặc dầu luật này không được thực thi chặt chẽ lắm nhưng có tác động quan trọng đến tỉ lệ cử tri đi bầu.

Chile, một nước OECD, bỏ luật cưỡng bách bầu cử từ năm 2012, áp dụng quy định tự nguyện bầu cử. Đến kỳ bầu cử tổng thống sau đó chỉ có 42% cử tri ghi danh so với 87% năm 2010, nhưng tỉ lệ đi bầu lên tới 67%.

Tình trạng Chile đưa đến một vấn đề phức tạp khác: Sự phân biệt cử tri hợp lệ với cử tri có ghi danh bầu cử khi đo lường mức độ đi bầu. Nhiều nước, như Thụy Điển và Đức, coi cử tri có quyền bầu cử là tự động được phép đi bầu.

Tại Mỹ, trên nguyên tắc việc ghi danh bầu cử là trách nhiệm của từng cá nhân và nếu chưa từng khi nào ghi danh ở những kỳ bầu cử trước thì không có tên trong danh sách được đi bầu (sau này một số tiểu bang dành dễ dàng cho cử tri chưa ghi danh bằng những quy định khác nhau và chính thể lệ này gây nên tranh cãi).

Theo Văn phòng Kiểm tra Dân số Mỹ (US Census Bureau), năm 2012 chỉ có 65% người đủ tuổi (và 71% công dân đủ tuổi) xin ghi danh bầu cử, so với 91% ở Canada, 96% ở Thụy Điển và 99% ở Nhật.

Do đó nếu tính toán căn cứ trên tiêu chuẩn cử tri có quyền bầu cử thì tỉ lệ cử tri đi bầu ở Mỹ thấp hơn nhiều quốc gia khác, đúng hàng thứ 31 trong 35 nước như đã nói rên. Còn nếu căn cứ trên số cử tri ghi danh thì tỉ lệ khá hơn, lên tới hạng 7 trong OECD, năm 2012 có 84.3% ghi danh đi bầu.

Vậy ngày 8 tháng 11 năm 2016 sắp tới, tỉ lệ đi bầu sẽ như thế nào? Khó dự đoán chính xác vì có những tác động trái ngược. Một mặt nhiều người mất tin tưởng vào tình hình chính trị Mỹ, chán nản với cuộc tranh cử thiếu văn minh, quá tiêu cực và cả hai ứng cử viên đều không được lòng dân chúng, do đó có thể nhiều cử tri sẽ không đi bầu. Nhưng mặt khác, sự đối đầu gay go giữa hai đối thủ Donald Trump và Hillary Clinton lại có thể là yếu tố mạnh mẽ thúc đẩy những cử tri tuyệt đối ủng hộ gà của mình phải đi bầu. Lập luận về cuộc bầu cử năm nay tất nhiên có cái đúng nhưng cũng có nhiều điều sai do ảnh hưởng của tuyên truyền xuyên tạc và cường điệu từ hai phe bênh chống.

Tất nhiên phải nhìn nhận là ít khi có một ứng cử viên nổi bật gây được hứng khởi và niềm hy vọng cho cử tri như trường hợp Barack Obama. Bầu cử 2016 không thể có hào hứng bằng bầu cử 2008, và có lẽ tỉ lệ đi bầu sẽ không lên tới 57% như năm ấy. Nhưng có thể tin rằng sẽ không quá thấp và cuộc bầu cử không diễn ra tẻ nhạt theo một cách phán đoán bi quan.

Tỉ lệ cử tri đi bầu tại Mỹ ở gần như ở mức cố định, biến đổi không quá 9% giữa các kỳ bầu cử từ 1980 đến nay. Tỉ lệ đó là 53% năm 1982 khi Ronald Reagan thắng cử. 51% năm 1996 và 49% khi Bill Clinton thắng cử và tái đắc cử, 51% năm 2000 khi George W. Bush thắng Al Gore tuy thua phiếu phổ thông cử tri toàn quốc.

Vận động cử tri đi bầu đông để đem thắng lợi cho ứng cử viên của đảng mình là mục tiêu chính của hai ban tranh cử Dân Chủ – Cộng Hòa trong mấy ngày cuối cùng trước bầu cử. (HC)

Sức mạnh của lòng tin

 Sức mạnh của lòng tin

“Khi ấy, các Tông Đồ thưa với Chúa Giêsu rằng: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con.” Chúa đáp : “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này : ‘Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc’, nó cũng sẽ vâng lời anh em.”

Thứ Hai tuần thứ 32 Thường Niên: Lc 17, 1-6.
Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con
Tác giả Luca không nói rõ cho chúng ta biết điều gì đã khiến các Tông Đồ phải xin Chúa gia tăng lòng tin cho họ. Hình như họ đang phải đối diện với một nhiệm vụ gì khó khăn và quan trọng lắm, đòi hỏi họ phải hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa chứ không cậy dựa vào sức riêng mình.

Trong thực tế, trực tiếp ngay trước lời xin này này là lời của Chúa Giêsu yêu cầu các đồ đệ của Ngài phải tha thứ không giới hạn cho anh em mình (Lc 17,3-4). Quả thực, nhiệm vụ tha thứ này là vô cùng khó khăn, đòi hỏi sự kiên nhẫn, tình yêu, lòng bao dung và lòng tin mạnh mẽ. Các Tông Đồ ý thức về tính cách khó khăn, quan trọng và nghiêm túc của việc thực hiện yêu sách đó của Chúa Giêsu. Các ông ý thức về sự yếu đuối và thiếu lòng tin của mình.

Trong hoàn cảnh đó, thay vì thoái lui trước những yêu sách của Chúa Giêsu, các ông cầu xin Đức Chúa ban thêm lòng tin cho họ. Và quả thực, chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban sức mạnh cho chúng ta để chúng ta có thể sống đúng Tin Mừng của Chúa Giêsu.

Như thế, các Tông Đồ trong bài Tin Mừng hôm nay đã nêu cho chúng ta một gương mẫu rất tốt lành. Hơn một lần chúng ta cảm thấy những nhiệm vụ mà chúng ta phải đảm nhiệm (trong gia đình, trong cộng đoàn, trong Hội Thánh và trong xã hội), những yêu sách của đời sống Kitô hữu, những đòi hỏi của Tin Mừng… là những điều vượt quá sức chúng ta. Hơn ai hết, chúng ta biết mình yếu đuối và giới hạn. Gương của các Tông Đồ trong bài Tin Mừng mời gọi chúng ta đừng buông xuôi hay thoái lui. Hãy chạy đến với Đức Chúa và khiêm hạ xin Ngài ban thêm lòng tin cho chúng ta. Đó là thái độ đúng đắn nhất.

Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải

Đáp lại lời xin của các Tông Đồ, Chúa Giêsu nói: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em” (c.6). Cây dâu được nói đến ở đây là một loại cây lớn (có thể sống đến 600 năm) và có một bộ rễ cắm rất sâu dưới đất, nên không dễ gì bật rễ lên mà xuống mọc dưới biển được. Nói cách khác, sự đối nghịch quá lớn giữa hình ảnh một hạt cải rất nhỏ bé và hình ảnh cây dâu bật rễ mà xuống mọc dưới biển, cho thấy rất rõ tính cách vĩ đại của hiệu quả mà lòng tin có thể đem lại.

Điều Chúa Giêsu muốn nói đến ở đây không phải là sự cần thiết phải có một lòng tin mạnh đủ để có thể làm được những sự lạ cả thể mà mọi người có thể thấy được. Nhưng Ngài muốn nhấn mạnh rằng lòng tin có thể giúp các đồ đệ thực hiện được những điều tưởng như không thể, hay nói cách khác, Ngài muốn các Tông đồ hiểu rằng không có gì là bất khả đối với lòng tin. Chúa Giêsu không muốn đòi hỏi các đồ đệ của ngài phải làm được những điều phi thường, nhưng Ngài muốn họ biết rằng một lòng tin cho dù vô cùng nhỏ bé, dẫu chỉ như hạt cải, miễn là lòng tin đích thực, sẽ luôn luôn có thể làm nên những điều tưởng như là không thể xảy ra.

Vậy, điều quan trọng không phải là độ lớn của lòng tin (điều mà các Tông Đồ đang bận tâm khi xin Chúa tăng thêm lòng tin cho họ) mà là phẩm chất chân thực của lòng tin đó. Lòng tin chân thật sẽ cho phép người ta hoàn toàn mở ra cho Thiên Chúa và để cho quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi mình.

Sức mạnh và tính hữu hiệu của đời sống các Tông Đồ là thực tại đến từ chính Thiên Chúa và quyền năng của Người.

Đức tin có sức mạnh vô cùng to lớn và có thể giúp chúng ta thực hiện được những điều vốn bình thường là không thể xảy ra. Tại sao? Thưa: bởi lẽ khi tin, chúng ta đặt tất cả sức mạnh của mình nơi Thiên Chúa, hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa và vào sức mạnh, quyền năng… của Người.

Vậy vấn đề không phải là lòng tin lớn đến đâu, mà là sức mạnh và quyền năng của Thiên Chúa được thực thi nơi người có lòng tin. Mà với Thiên Chúa thì không điều gì là bất khả.

Điều quan trọng là sự chân thực và thuần khiết của lòng tin. Miễn đó là lòng tin đích thực, thì cho dù chỉ lớn bằng hạt cải nhỏ bé, lòng tin đó vẫn có thể làm nên được những điều kỳ diệu, hay nói cho chính xác hơn, Thiên Chúa vẫn có thể thực hiện những kỳ công lớn lao không ngờ được nơi những con người có lòng tin chân thực đó.

Lm Giuse Nguyễn Thể Hiện CSsR

Thảm họa Formosa và thảm họa BP: So sánh để học kinh nghiệm

Thảm họa Formosa và thảm họa BP: So sánh để học kinh nghiệm

Trà Mi-VOA

clip_image001

Sự cố Formosa đã khiến cá chết hàng loạt ở miền trung Việt Nam.

Thảm họa môi trường biển chưa từng thấy trước nay tại Việt Nam do Formosa gây ra hồi tháng 4 khiến người ta nhắc nhớ thảm họa môi trường biển lớn nhất lịch sử Mỹ trong vụ tràn dầu của công ty BP cách đây 6 năm.

Cả hai cùng là khủng hoảng do con người gây ra, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế, sức khỏe, đời sống của nhiều thế hệ và tương lai môi trường.

Tuy nhiên, có những khác biệt rất rõ nét về cách giải quyết giữa hai vụ việc, dẫn đến những kết cục khác nhau.

Một nhà hoạt động pháp lý từng tích cực hỗ trợ vô số ngư dân gốc Việt tại các bang duyên hải bị ảnh hưởng trong vụ tràn dầu BP tại Mỹ năm 2010 phân tích những điểm khác biệt này để nêu lên những cách xử lý Việt Nam nên học hỏi, áp dụng vào sự cố Formosa.

Ngoài việc giúp đỡ pháp lý cho hàng trăm người Mỹ gốc Việt trong thảm họa môi trường BP, luật sư Phan Quốc Cường còn tham gia vận động chính sách và điều trần tại Quốc hội, kêu gọi bảo vệ quyền lợi cho các nạn nhân bị thiệt hại.

Trong cuộc trao đổi với Tạp chí Thanh niên VOA, vị luật sư trẻ dấn thân vì cộng đồng nhìn lại vụ tràn dầu BP để chia sẻ kinh nghiệm với các đồng nghiệp trong nước nhân thảm họa Formosa.

clip_image002

Vụ tràn dầu của công ty BP cách đây 6 năm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.

LS Quốc Cường: Chúng ta có thể thấy rằng, thứ nhất, phản ứng của chính quyền rất khác biệt. Sau vụ tràn dầu tại Louisiana, chính phủ Mỹ ngay lập tức cho lực lượng cứu hộ tham gia. Hai, ba tháng sau, họ vận động hàng trăm ngàn người tham gia vào lực lượng cứu hộ, làm sạch môi trường. Thông tin báo chí, tự do báo chí giúp người dân cả nước biết rõ về những diễn biến mới nhất. Còn tại Việt Nam, báo chí [bị] cấm đả động tới hoặc bị bưng bít. Một số bài tường thuật nêu lên một số ý kiến về luật pháp hoặc bảo vệ người dân đòi thiệt hại thì ngay lập tức bị áp lực lấy xuống. Cần hiểu rõ vụ tràn dầu ở Louisiana là một sự bất cẩn và tắc trách. Hệ thống họ sử dụng bất thình lình không hoạt động đúng mới xảy ra sự cố này. Hoàn toàn không có sự biết rõ của chính phủ hay dự tính của công ty đổ chất độc ra biển. Hai cách cư xử rất khác nhau vì hệ thống tư pháp và cách hành xử của chính phủ hai nước cũng rất khác nhau. Một bên có luật bảo vệ môi trường rất nghiêm ngặt. Còn một bên biết rõ hoặc cố tình để cho công ty đó xả thẳng chất độc ra biển. Đó chính là hành vi mang tính hình sự. Một hành vi bất cẩn bên Mỹ cũng đã khiến cho hãng dầu BP chịu trách nhiệm về hình sự lẫn dân sự, phải bồi thường cho chính phủ rồi chịu trách nhiệm trực tiếp với mỗi người dân, doanh nghiệp trên khắp 5 tiểu bang bị ảnh hưởng và trên toàn nước Mỹ. Nếu so sánh, thật sự sự cố tình vi phạm của Formosa và sự hợp tác của chính phủ Việt Nam lớn hơn rất nhiều so với lỗi của BP.

Trà Mi: Trở lại vụ BP 6 năm trước, lúc đó chính phủ Mỹ có vụ kiện riêng và những người dân bị ảnh hưởng có những vụ kiện riêng, thưa luật sư?

LS Quốc Cường: Đúng vậy. Bộ Tư pháp Hoa Kỳ chính thức khởi đơn kiện BP. Song song đó, họ cũng truy tố hãng BP ra tòa về trách nhiệm hình sự. Sau đó, BP phải gấp rút chi ra hàng chục tỷ đô la bồi thường cho các cấp từ thành phố, thị xã, tiểu bang cho đến liên bang. Rất nhiều cơ quan chính phủ Hoa Kỳ đã kiện BP. Cho đến thời điểm này, 6 năm sau, vẫn còn một số vụ chưa giải quyết xong.

Trà Mi: Đó là tổng cộng chi phí họ phải tiêu tốn 54 tỷ đôla?

LS Quốc Cường: Mình nghĩ số đó sẽ tiếp tục tăng vì tới hôm nay quá trình kiện tụng vẫn tiếp diễn, và dĩ nhiên, thảm họa vẫn còn hậu quả kéo dài. Ngoài ra, còn chi phí mà họ phải làm sạch dầu trong mấy chục dặm biển cũng rất tốn kém.

Trà Mi: Trong vụ đó, ông đã can thiệp và hỗ trợ cho những thành phần nào và các vụ kiện đó thành quả ra sao?

LS Quốc Cường: Sự tham gia của mình trong hai vai trò, trong hai thời gian khác nhau. Thứ nhất, một-hai tuần sau vụ nổ giàn khoan Deepwater Horizon ngày 20/4, khoảng đầu tháng 5, BPSOS, một tổ chức của người Mỹ gốc Việt, cử mình trong tư cách một luật sư cộng đồng xuống dưới đó giám sát tình hình. Rất đông cộng đồng Việt Nam ở các làng duyên hải trên khắp các tiểu bang từ Texas, Louisiana, Mississippi, Florida, tới Alabama. Ở 5 tiểu bang này, số ngư phủ Việt tại các làng duyên hải lên tới hàng chục ngàn người. Chúng tôi, một tổ chức cộng đồng, có tổ chức những nỗ lực trực tiếp kéo dài từ tháng 6 đến hơn 1,5 năm về sau. Mình đưa phẩm vật thiện nguyện từ khắp nơi về, đưa các kế toán viên về đó giúp bà con tiến hành việc bảo vệ quyền lợi về pháp lý và tài chính. Mình cũng giúp đưa những các chuyến thực phẩm cứu trợ bằng cách hợp tác với các cơ quan chính phủ Mỹ và các tổ chức thiện nguyện Mỹ, đưa các phái đoàn y bác sĩ về đó giúp bà con. Mình cũng vận động chính sách tại các cấp Thống đốc và dân cử địa phương. Mình cũng tổ chức các phái đoàn của người Mỹ gốc Việt lên tận Washington DC để điều trần tại Quốc hội Mỹ về quyền lợi và cuộc sống của người dân đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng thế nào. Sau này, khi tôi ra hành nghề tư nhân, trong tư cách luật sư tư nhân, mình đại diện cho bà con và các doanh nghiệp nhỏ bị thiệt hại để đòi bồi thường. Tới lúc này, phần lớn bà con ngư phủ mà tôi đại diện đã được bồi thường qua nhiều đợt, bây giờ vào giai đoạn cuối.

Trà Mi: Trong vụ Formosa ở Việt Nam, chính phủ đã nhận 500 triệu đôla bồi thường, chưa nói đến phí tổn dọn dẹp, phục hồi bao nhiêu, chưa kể đến bao nhiêu người bị thiệt hại đã bị trả đơn kiện. Trong lúc này, những nạn nhân bị ảnh hưởng đó có thể làm gì?

LS Quốc Cường: Chính quyền Việt Nam vội vã tiến hành dàn xếp, thỏa thuận ngầm với Formosa để khỏa lấp vụ này. Một chính phủ được tạo ra để phục vụ dân, nhưng khi họ không hiểu hoặc quay mặt với quyền lợi của tập thể nhân dân, thì chính người dân phải đứng lên đòi công lý cho mình. Họ, các luật sư trong nước và người Việt khắp nơi trên thế giới cần phải tạo sự đồng nhất, hỗ trợ cho nhau để đòi quyền lợi cho các nạn nhân trực tiếp, không để chính phủ quyết định mọi chuyện mà bỏ rơi đi quyền lợi của dân. Họ phải sử dụng hệ thống tư pháp hiện tại, dù hệ thống đó không phải là độc lập. Đây là cơ hội để giới luật sư trẻ trong nước và thế hệ trẻ, vì quyền lợi người dân, đứng lên mở ra một mặt trận về pháp lý, truyền thông. Những người dân bé nhỏ với một hệ thống công lý và tư pháp không màng đến quyền lợi của họ trước một tập đoàn kinh doanh đa quốc như Formosa với sức mạnh kinh tế và quyền lực chính trị cùng với nền truyền thông bị kiểm duyệt bởi chính phủ và đảng, dân chỉ còn cách dựa vào nhau tạo ra sức mạnh và tiếng nói cho quyền lợi của mình.

Trà Mi: Trở lại vụ BP, lúc thảm họa xảy ra có các tập đoàn luật sư và giới chuyên môn tới giúp khảo sát thiệt hại ra sao?

LS Quốc Cường: Đã có rất nhiều phái đoàn luật sư thiện nguyện, Mỹ có, Việt có. Riêng tổ chức chúng tôi đã tổ chức trên 20 buổi hội thảo pháp lý miễn phí để các luật sư tham gia cùng nghiên cứu các luật lệ liên quan đến thảm họa này và cung cấp thông tin, giúp người dân hiểu rõ quyền của họ ra sao. Khi họ hiểu được quyền và cách đòi quyền lợi cho mình thì sự tự tin của họ cũng tăng lên kèm theo sự tin tưởng. Những buổi hội thảo pháp lý đó cộng với các phương tiện truyền thông độc lập, với vận động chính phủ. Bên này, chính phủ đáp ứng nhanh chóng trước áp lực quần chúng. Còn bên Việt Nam, đòi hỏi bà con phải can đảm và kiên nhẫn, phải dám chấp nhận sự trừng phạt, cô lập, hay đàn áp của chính phủ.

Trà Mi: Các tổ chức luật sư thiện nguyện bên Việt Nam, dù họ muốn giúp đỡ, nhưng khả năng hạn hẹp, không đủ kinh phí cũng là một trở ngại. Luật sư nghĩ sao?

LS Quốc Cường: Do đó cần sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, nhất là cộng đồng người Việt ở hải ngoại, giúp họ vượt qua trở ngại này. Ví dụ, các luật sư ngoài nước liên kết với các luật sư trong nước, cung cấp tài liệu pháp lý liên quan. Cũng có thể tạo ra những đợt gây quỹ. Nếu truyền thông trong nước cô lập, thì hôm nay chúng ta có Facebook và internet khuyếch trương tiếng nói của các xã hội dân sự đang đại diện cho bà con.

Trà Mi: Trong vụ BP, khi khảo sát, thống kê thiệt hại có biết bao nhiêu nạn nhân mà lực lượng thiện nguyện thì có giới hạn, làm thế nào xoay sở?

LS Quốc Cường: Mình thường xuyên theo dõi các cuộc điều tra do chính phủ và các ủy ban độc lập họ tiến hành. Lúc đó có rất nhiều cơ quan chính phủ, hành pháp, họ tiến hành điều tra độc lập, song song với nhau. Bên lập pháp cũng có những ủy ban độc lập do Quốc hội lập ra. Về phía tư nhân, cũng có rất nhiều tổ chức thiện nguyện trong xã hội dân sự họ tham gia điều tra. Thậm chí các tờ báo lớn có khả năng, họ cũng tiến hành các cuộc điều tra riêng của họ. Cho nên, về thông tin, rất rõ ràng. Ngoài ra còn có nhiều cơ quan, hội nhóm bảo vệ môi trường tham gia. Khi các cuộc điều tra khảo sát kết thúc với kết quả rõ ràng, chính phủ mới có dữ kiện đầy đủ để minh bạch với quần chúng số tiền đòi bồi thường và trừng phạt là bao nhiêu. Khi chính phủ chấp nhận số tiền đó rồi, cũng không thể cấm đoán người dân theo đuổi những vụ kiện riêng của họ. Ở Việt Nam, cá chết trắng các tỉnh duyên hải, ngư dân không có việc làm, mà họ còn nói không đủ bằng chứng thiệt hại thì mình không hiểu đâu là bằng chứng về tư cách đạo đức, về trách nhiệm phục vụ công lý và phục vụ quyền lợi nhân dân. Hy vọng ngày càng có nhiều người nhận thức được sự thật chua chát đó mà hành động, khiến chính phủ phải thay đổi tích cực. Mọi thảm họa hay thử thách đi kèm với cơ hội, cơ hội tạo nội lực sức mạnh, cơ hội hội tụ xung quanh những người có năng lực, gầy dựng lại với nhau tạo tiếng nói đòi công lý. Cho nên, trong thời gian tới, đáp án không nằm nơi chính quyền Việt Nam. Sự thay đổi phải đến từ xã hội dân sự. Các tổ chức luật sư đoàn cần lên tiếng. Chúng ta cần thấy sự phát triển ngày càng mạnh của xã hội dân sự, nhất là trong vụ Formosa. Sự ủng hộ của người Việt khắp nơi và của các luật sư đoàn quốc tế cũng hết sức quan trọng, mang lại những ủng hộ tinh thần, vật chất cần thiết cho các luật sư trong nước.

Trà Mi: Nếu người dân Việt Nam kiện Formosa tại Việt Nam không thành, họ có thể kiện ở Đài Loan, quê nhà Formosa, hay kiện ra tòa quốc tế chăng?

LS Quốc Cường: Cũng cần giới luật sư Đài Loan tư vấn xem có thể tiến hành kiện tại Đài Loan hay không. Cũng có một số tòa án quốc tế giải quyết các vấn đề tranh chấp về thiệt hại kinh tế, tuy nhiên, cần sự hợp tác và ý thức của chính phủ Việt Nam vì phần lớn các tranh chấp môi trường ở quốc tế là giữa các chính phủ với nhau.

Trà Mi: Chân thành cảm ơn luật sư Phan Quốc Cường về những thông tin vừa chia sẻ.

Nguồn: http://www.voatiengviet.com/a/tham-hoa-formosa-va-tham-hoa-bp-so-sanh-de-hoc-kinh-nghiem/3581430.html

. BÀN VỀ MỘT SỐ THẤT BẠI VỀ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

. BÀN VỀ MỘT SỐ THẤT BẠI VỀ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

Nguyễn Đình Cống

5-11-2016

Đối ngoại và đối nội không phải chỉ là hoạt động của Quốc gia mà là của mọi tổ chức, mọi gia đình, mọi con người. Có 2 loại người với xu hướng khác nhau, hướng nội và hướng ngoại. Thông thường người hướng nội quan tâm nhiều đến đối nội, người hướng ngoại thích thú với đối ngoại hơn. Nhưng hướng về một phía nhiều quá sẽ thành cực đoan, không tốt. Vấn đề là giữ được quan hệ, giữ được cân bằng giữa hai lĩnh vực này.

Ngẫm nghĩ cho kỹ thấy rằng đối nội là gốc gác, cách gì cũng phải có. Vì vậy đối ngoại phải xuất phát từ đối nội và phục vụ cho đối nội. Trong hai việc, nếu bắt buộc phải ưu tiên cho một việc thì người khôn ngoan sẽ chọn đối nội, phải làm tốt đối nội mới có cơ sở vững chắc để đối ngoại. Ngược lại những người mắc “bệnh sĩ” sẽ chọn đối ngoại. Họ quá xem trọng hình thức và lời khen chê của mọi người, cố làm ra vẻ ta đây sang trọng, giỏi giang. Ca dao VN có bài nhận xét về loại người này: “Ra đường võng giá nghênh ngang/ Về nhà hỏi vợ cám rang đâu mày…”.

Bệnh sĩ của một con người đã tai hại, bệnh sĩ của một dân tộc, một đất nước càng tệ hại hơn. Nhưng nói bệnh sĩ của dân tộc có lẽ không đúng mà là của những người lãnh đạo, quản lý rồi lây lan ra trong xã hội. Khi đối nội chưa được tốt mà muốn khuếch trương đối ngoại để được nhiều tiếng khen thì buộc lòng phải tìm cách che giấu những thói hư tật xấu, che giấu những tệ nạn gặp phải. Như thế là phạm vào tội dối trá.

Các nước đều rất quan tâm đến ngoại giao. Tuy vậy cũng có một số nước ít quan tâm, họ chú trọng nhiều hơn đến đối nội. Bhutan là một trong những nước như vậy. Ở đó nhân dân được hưởng nền tự do, hạnh phúc vào loại bậc nhất của Châu Á và Thế giới, nhưng trong nhiều năm trước đây (và ngay cả bây giờ) Bhutan có rất ít quan hệ ngoại giao với các nước, đặc biệt không quan hệ với Trung Quốc, mặc dầu 2 nước có biên giới chung khá dài.

Trong hơn 70 năm qua, đối ngoại của Chính phủ Việt Nam có nhiều thành tích tốt đẹp và cũng phạm phải nhiều sai lầm, thất bại. Thành tích đã được nói và viết nhiều, tôi không phủ nhận, chỉ xin không viết lại. Vì là ý kiến phản biện nên chỉ viết về một số việc được cho là thất bại hoặc sai lầm. Không biết trong các tài liệu mật Chính phủ có tổng kết về chúng hay không, còn công khai không thấy nói đến, hoặc chỉ nói chung chung. Tôi chỉ muốn kể ra và phân tích một vài điều để ai cần thì rút ra bài học và kinh nghiệm.Tôi không làm trong ngành ngoại giao, những điều tôi kể ra chỉ được thu thập từ thông tin đại chúng.

Thất bại buổi đầu. Trong thời gian dài trên 5 năm, sau 1945, không có nước nào hưởng ứng lời kêu gọi trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”. Tiếp theo là sự im lặng của Tổng thống Mỹ khi nhận những bức thư cầu xin, mặc dầu Chủ tịch Hồ đã tìm mọi cách ca ngợi Mỹ, trông chờ vào Mỹ. Tại sao vậy ?. Chính nghĩa, thiện chí, thông minh của chúng ta để ở đâu mà bên ngoài nhìn vào người ta không thấy, không công nhận. Phải chăng là tại sự chống phá của các thế lực thù địch và phản động. Tôi nghĩ rằng sự chống phá cũng có nhưng cơ bản nhất là tại Đảng Cộng sản phạm sai lầm trong việc tuyên bố tự giải tán rồi rút vào hoạt động bí mật. Đó là một mưu đồ lừa dối thiên hạ. Đó là sản phẩm của những đầu óc kém trí tuệ, chỉ quen dùng mưu mẹo trong những việc như đánh du kích và cướp của, cướp quyền. Người ta thừa biết anh dối trá, lừa gạt thì làm sao người ta công nhận anh được, làm sao người ta giúp anh được.

Hiệp ước với Pháp. Sai lầm tiếp theo là không tạm nhường Nam Bộ cho Pháp vào năm 1946.Việc này được cho là ý chí kiên quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, được nhiều người ca ngợi. Theo Hiệp ước Nhà Nguyễn ký với Pháp thì Nam kỳ là nhượng địa chứ không phải thuộc địa hoặc bảo hộ. Tháng 7/ 1945 Chính phủ Trần Trọng Kim thu hồi, tháng 9/ 1945 Pháp đòi lại, ta không chịu trả mới xẩy ra Nam bộ kháng chiến. Nếu khôn ngoan ra, tạm nhường vài năm rồi cũng sẽ thu hồi được. Vụ cố giữ cho được đất Nam kỳ là thuộc loại “Tham bát bỏ mâm “vì phải kháng chiến 9 năm và mất 20 năm chia cắt với không biết bao nhiêu xương máu và thù hận để thống nhất. Cuối cùng thống nhất được lãnh thổ trong sự chia rẽ dân tộc, cái giá phải trả quá đắt.

Hiệp định Genève. Hiệp định chia cắt đất nước ở vĩ tuyến 17. Nghe kể rằng Phạm Văn Đồng phải lau nước mắt khi ký. Chúng ta tính rằng nếu phải tạm thời chia cắt thì ranh giới ở vĩ tuyến 14. Nếu đấu tranh quá căng mà phải lùi thì cũng không thể đến vĩ tuyến 16. Nhưng rồi bị sức ép của Chu Ân Lai mà Phạm Văn Đồng ngậm đắng nuốt cay chấp nhận vĩ tuyến 17. Đây là do kết hợp giữa 2 yếu tố: sự đểu cáng của Chu và sự hèn yếu của Phạm. Nếu so với những sứ thần của VN trong lịch sử như Giang Văn Minh, Mạc Đĩnh Chi, Đỗ Khắc Chung, Lê Quý Đôn, Phùng Khắc Khoan… thì Phạm Văn Đồng kém xa. Ông Đồng kém vì thiếu dũng khí trước Chu Ân Lai và Môlôtôp, và cũng tại vì Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản VN mắc nợ người ta quá nhiều, chịu lệ thuộc quá nhiều. Phải làm theo lệnh nước ngoài thì có khác gì chính phủ bù nhìn.

Đuổi đại sứ Mỹ. Sai lầm ngoại giao một cách ngờ nghệch mà tưởng là anh dũng và thông minh là việc đuổi đại sứ Mỹ ở Sài gòn ngày 30/4/1975 bỏ chạy bằng máy bay trực thăng. Khi quân giải phóng tiến vào Sài gòn ngày 30 tháng 4, Đại sứ Bân cơ cho nhân viên ra đi trước, còn mình ở lại đến phút cuối cùng. Ông ta chờ một lời mời ở lại. Lời mời đó đã không có để rồi VN phải mất 20 năm, chịu không biết bao nhiêu sự cấm vận, cực khổ mới nối lại được. Đó là sai lầm của những người thừa kiêu ngạo mà thiếu trí tuệ.

Hội nghị Thành Đô. Sai lầm nguy hiểm là Hội nghị Thành Đô 1990. Ba nhân vật chủ chốt hồi đó là Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười thay mặt Đảng Cộng sản và Nhà nước VN đã cúi đầu nhận thần phục Trung cộng. Theo Nguyễn Cơ Thạch (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hồi đó) thì với hội nghị này VN sắp bước vào thời kỳ Bắc thuộc mới đầy nguy hiểm. Đó là hành động ngoại giao đầu hàng.

Thuật đu dây. Hiện nay nhiều người cho rằng VN đang thực hiện thuật đu dây giữa Mỹ và Trung Quốc. Người này cho là đúng, là hay, ngươì khác lại phê là sai, là dở. Xem qua lịch sử vài ngàn năm của các nước thấy rằng, đã có những nước giữ được ổn định và phát triển nhờ thuật này, nhưng cũng nhiều nước vì đu dây mà lâm vào cảnh lên bờ xuống ruộng, đẩy nhân dân vào cảnh lầm than. Nước Trịnh thời Xuân Thu (Đông Chu Liệt Quốc) là một thí dụ. Để sử dụng có hiệu quả thuật đu dây cần phải có một số điều kiện. Thế mà theo tôi VN đang thiếu các điều kiện đó.

Tạm kể một vài sai lầm và thất bại điển hình, còn có thể kể ra nhiều nữa, nhưng tạm dừng để bàn thêm chuyện khác.

Điều quan trọng trong ngoại giao (cũng như trong các quan hệ khác) là phải biết mình, biết người, phải tôn trọng phương châm đối ngoại trên cơ sở của đối nội và phục vụ cho đối nội, đối với các nước bạn bè phải trung thực, chân thành, hạn chế đến xóa bỏ bệnh sĩ.

Về biết mình. Trong nhiều năm chúng ta tự đánh giá quá cao, như là lãnh đạo vô cùng sáng suốt, nhân dân vô cùng anh hùng, rồi tự huyễn hoặc, tự vẽ phấn tô son. Biết đâu rằng thực chất trong nhiều năm, VN chỉ là anh lính xung kích của phong trào cộng sản, mà cụ thể là nằm dưới sự điều khiển của Trung Quốc.

Tự hào là một nước nhỏ mà đánh thắng 2 đế quốc lớn. Thực ra có phải như thế đâu. Trong chiến tranh ta chỉ là anh lính xung kích, đánh Mỹ thay cho Liên Xô và Trung Quốc. Ta bắn rơi được vài ngàn máy bay Mỹ, giết được vài vạn lính Mỹ thì ngược lại Mỹ cũng gây ra cho ta những thiệt hại nặng nề hơn về của và người. Ta nói Mỹ vào xâm lược VN, ta đã đánh thắng và đuổi đi. Mỹ nói họ vào để ngăn chặn tên lính xung kích của cộng sản Trung Quốc lan xuống vùng Đông Nam Á. Nhận thấy rằng bằng một vài cách khác ngăn chặn được rồi, đạt mục đích rồi thì họ rút ra, họ không có mục đích xâm lược, họ muốn vào thì vào, muốn ra thì ra. Trong khi ta đem lực lượng không những của toàn quốc mà còn có một phần của Trung Quốc và Liên Xô để đánh nhau với một đội quân vài vạn người, chỉ gồm một phần nhỏ của quân đội Mỹ mà cho rằng đánh thắng đế quốc Mỹ thì quả thật đã huyênh hoang một tấc đến trời.

Cho rằng đã đánh thắng được Pháp và Mỹ thì rồi việc gì ta cũng làm được là một lập luận vô cùng sai trái, thế mà người ta cứ tuyên truyền mãi. Đến thời kỳ xây dựng trong hòa bình mới lộ rõ mọi sự yếu kém và sai lầm. Nhưng đã lỡ mồm khoác lác về tài năng, về sáng suốt. Đâm lao phải theo lao, phải tiếp tục tuyên truyền ta khôn, ta giỏi.

Về biết người. Trong chiến tranh với Mỹ nhân dân thế giới thương hại nhân dân VN, ủng hộ, cứu trợ cho nhân dân chứ họ chẳng yêu quý gì thể chế cộng sản mà nhà nước theo đuổi. Và họ thương hại chứ không nể trọng. Nếu có cảm phục thì chỉ cảm phục trong thời gian ngắn về đức tính chịu hy sinh gian khổ trong chiến tranh, còn trong việc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền thì họ coi thường, coi khinh. Với nạn thuyền nhân thì họ càng kinh ngạc và phẫn nộ. Ngày nay một số không ít người Việt ra nước ngoài bị nhiều người sở tại cảnh giác, xem là bọn ăn cắp và gây rối.

Với các quốc gia, chúng ta có quan hệ ngoại giao với rất nhiều nước, ký nhiều hiệp định hợp tác toàn diện và chiến lược, nhận được một số viện trợ ODA, nhưng thử hỏi có nước nào thân thiết với ta như kiểu quan hệ giữa Mỹ với Nhật hoặc với Nam Hàn. Mang tiếng có nhiều bạn nhưng khi mà bị mắc kẹt vào ý thức hệ cộng sản thì không thể nào có bạn thân thiết trong những nước theo chế độ dân chủ. Họ đi lại, quan hệ với ta chỉ là theo hình thức ngoại giao.

Quan trọng là ta đã biết Mỹ và Trung Quốc đến đâu. Với Mỹ, từ trước 1945 Hồ Chí Minh rất muốn thân thiện. Vì kiên trì cộng sản và dối trá mà không nhận được giúp đỡ, chúng ta bị Mao Trạch Đông lừa gạt mà nhận định sai về họ, xem là kẻ thù không đội trời chung. Bây giờ tuy đã có thay đổi nhiều nhưng vẫn chưa đạt được như mong muốn. Với Trung Quốc, quan hệ trong lịch sử là khá phức tạp giữa phụ thuộc, bạn, thù. Ngày nay đa số nhân dân xem Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp với tham vọng bá quyền, muốn thôn tính Việt Nam; nhưng lãnh đạo nhà nước lại chịu khuất phục, chịu lệ thuộc và đàn áp những người dân chống Trung Quốc. Đây là một mâu thuẫn quá nặng nề, làm hủy hoại sự thống nhất ý chí dân tộc.

Về đối nội. Quan trọng và cơ bản nhất của đối nội là giải quyết mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân, nó gồm cả 2 mặt: hợp tác và đấu tranh xử lý mâu thuẫn. Về vấn đề này ở Việt nam có nhiều quan điểm khác lạ với rất nhiều nước dân chủ. Với một hệ thống 3 tầng (đảng, chính quyền, mặt trận) chồng chéo, dẫm đạp lên nhau, sự quản lý nhà nước của VN thuộc loại tồi tệ, kém hiệu quả, lãng phí vào loại bậc nhất thế giới. Chính quyền tồn tại nhờ vào 2 thế lực chính, công an và tuyên truyền, nhưng lại bất lực trước nhiều tai họa của xã hội, của môi trường. Mấu chốt nhất là lãnh đạo vẫn kiên trì con đường Mác Lê XHCN, họ cho rằng đó là nguyện vọng của toàn dân, trong lúc dân chẳng được hỏi ý kiến.

Phân tích qua như vậy để thấy đối ngoại của VN không hoàn toàn tuân theo nguyên tắc xuất phát từ đối nội và quay về phục vụ cho đối nội.

Về bệnh sĩ. Đây là loại bệnh không gây chết người, lại làm cho người ta sung sướng, tự hào trong chốc lát, nhưng mang lại tai họa trong bản chất và lâu dài. Có lẽ người Việt mắc bệnh sĩ thuộc hạng nặng nhất thế giới. Bệnh này có nguồn gốc từ trong những yếu kém của nền văn hóa dân tộc, gặp được môi trường thuận lới là đường lối tuyên truyền của cộng sản mà nó phát triển nhanh chóng, rộng khắp.

Trong nước bệnh sĩ biến tướng ra bệnh thành tích dỏm, là việc chạy khen thưởng, huân chương, danh hiệu anh hùng, danh hiệu gia đình và đơn vị văn hóa, nông thôn mới, bằng cấp dỏm các loại v.v…

Ra nước ngoài, hễ thế giới có cuộc thi gì thì Việt Nam cố chọn vài người, tập trung huấn luyện, bồi dưỡng thật lực, không kể tốn kém, đi thi mà kiếm lấy huân chương, để khoe khoang là chủ yếu, chẳng cần đại diện cho một cơ sở nào, còn tình trạng lạc hậu của các nghành nghề thì mặc kệ trời đất. Thì đấy, năng suất lao động thuộc loại thấp nhất mà thợ đi thi tay nghề đạt huy chương vàng, giỏi nhất khu vực; giáo dục xuống cấp trầm trọng mà học sinh thi thế giới môn nào cũng được vài huy chương vàng bạc.

Hễ thế giới có Công ước gì mới thì VN là một trong những nước ký đầu tiên. Ký xong, tuyên truyền xong rồi để đó, không cần thực hiện. Có được các di sản vật thể và đặc biệt là phi vật thể nào thì cố mà chạy để UNESCO công nhận. Một số điệu hò, điệu hát thi nhau chạy, theo kiểu “con gà tức nhau tiếng gáy”. Cái điệu hát A ở vùng kia được rồi thì điệu hò B của vùng ta tốn bao nhiêu cũng cố mà chạy cho được chứ. Phải chi tiêu khá tốn kém để chạy được rồi, tổ chức ăn mừng rồi, xong thì để đó, chẳng dùng làm gì, chẳng mấy ai nhớ tới, chỉ là để thỏa bệnh sĩ trong thời gian ngắn.

Ở Liên hiệp quốc, có cơ quan gì thì ta cố chạy, cố vận động các nước ủng hộ để vào cho được. Vào được Hội đồng nhân quyền trong khi nhân quyền trong nước bị nhiều nơi lên án. Vào được Hội đồng bảo an trong lúc đất đai và biển đảo mất dần vào tay bọn bành trướng Trung cộng. Vào được Ủy ban luật pháp trong khi những bản án oan sai và bị tẩy chay ngày càng nhiều. Như vậy phải chăng vào các co quan của Liên hiệp quốc là chỉ để thỏa mãn bệnh sĩ.

Rồi rất nhiều đoàn cấp cao tấp nập đi lại thăm nhau. Trong việc thăm này cái lợi cho những người tham gia, sự tốn kém của công quỹ là rõ ràng, còn Quốc gia, nhân dân được gì không, hiệu quả như thế nào thì chưa thấy ai khảo sát và tổng kết.

Vài lời chốt lại. Cứ nghe báo cáo và tuyên truyền một chiều thì mọi người tưởng nhầm là thành tích và tài năng đối ngoại của chúng ta trong hơn 70 năm qua thuộc loại nhất nhì thế giới và rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc. Viết ra vài điều phản biện, lật lại để xem mặt trái của tấm huân chương, may ra có thể cung cấp được vài thông tin và ý kiến cho những người tử tế, còn có lương tri để tránh bớt nhầm lẫn, chỉ biết nghe tuyên truyền một chiều.

Hầu hết khiếu nại tố cáo liên quan đến tranh chấp đất đai

Hầu hết khiếu nại tố cáo liên quan đến tranh chấp đất đai

RFA

Hiện trường một vụ cưỡng chế đất.

Hiện trường một vụ cưỡng chế đất.

File photo

Phần lớn đơn thư khiếu nại, tố cáo của người dân là liên quan đến thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư. Theo báo cáo tổng kết 4 năm thi hành Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tại hội nghị tổng kết 4 năm thi hành Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo tố chức hôm 4 tháng 11, chính quyền TP.HCM cho biết: “Trong thời gian qua, hầu hết đơn thư khiếu nại, tố cáo ở thành phố chủ yếu liên quan đến quy hoạch, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất để thực hiện các dự án. Ngoài ra cũng có nhiều phản ứng của người dân về việc bao che, vòi vĩnh, nhũng nhiễu của các cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính.”

Báo Pháp Luật trích dẫn bản báo cáo tổng kết cho thấy, sau bốn năm thực hiện Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo, UBND thành phố đã nhận được hơn 20.000 đơn khiếu nại, gần 4.000 đơn tố cáo.

Phát biểu tại buổi khai mạc hội nghị, Phó chủ tịch UBND TP.HCM, ông Huỳnh Cách Mạng nhìn nhận rằng mặc dù đã có sự nỗ lực của các cấp nhưng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tại một số quận-huyện còn hạn chế, việc áp dụng pháp luật khi giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa đúng và đầy đủ.

Ông Phó chủ tịch thành phố yêu cầu lãnh đạo các sở, ban ngành, địa phương phải chủ động kiểm tra, tăng cường công tác tiếp công dân, hạn chế tối đa tình trạng đơn giải quyết tồn đọng, khiếu nại kéo dài, và khiếu nại vượt cấp

Bệnh nấm gây chết người lần đầu xuất hiện ở Mỹ

Bệnh nấm gây chết người lần đầu xuất hiện ở Mỹ

Nguoi-viet.com

Các giới chức y tế Hoa Kỳ đang rất lo ngại về loại dịch bệnh mới này. (Hình minh họa: Getty Images)

WASHINGTON (NV) – Một loại bệnh nấm hiếm thấy và rất nguy hiểm đã lần đầu tiên thấy xuất hiện ở Mỹ, theo một bản báo cáo do Cơ Quan Phòng Chống Dịch Bệnh Mỹ (CDC) vừa đưa ra.

Bản tin của đài ABC News nói rằng có ít nhất 13 ca bệnh nhiễm trùng men nấm, gọi là Canida auris (C.auris) đã được báo cáo ở Mỹ. Bảy ca đầu tiên của bệnh này được xem xét trong cuộc điều tra của CDC, đăng tải trong tạp chí hàng tuần của cơ quan này, có tên Morbidity and Mortality Weekly Report.

Nhiễm trùng men nấm C.auris nguy hiểm vì thường có khả năng chống lại các loại thuốc dùng đối phó với loại nhiễm trùng nấm và cũng khó để nhận ra, theo CDC.

Bệnh này lần đầu tiên thấy xuất hiện ở Nhật trên thân một bệnh nhân vào năm 2009. Kể từ đó đến nay, có thêm một số quốc gia thấy xuất hiện bệnh này, gồm cả Colombia, Ấn Độ, Nam Hàn và Anh.

Bác Sĩ William Schaffner, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm ở đại học Vanderbilt University, nói rằng các trường hợp nhiễm trước đây ở các quốc gia khác đang làm giới chức y tế ở Mỹ lo ngại.

“Chúng tôi rất quan tâm đến vấn đề này,” theo ông Schaffner. “Bệnh nấm này có khả năng chống lại tất cả các thuốc chống nấm mà chúng tôi đang dùng, và bệnh này cũng thường nhắm vào vào những bệnh nhân mà cơ thể đã suy yếu do các bệnh khác, gây ra mức tử vong cao. Bệnh lây lan giữa các bệnh nhân trong bệnh viện và gây ra các ổ bệnh tại những nơi này.”

Bảy trường hợp báo cáo bệnh đầu tiên xảy ra từ Tháng Năm, 2013 tới Tháng Tám, 2016 ở Illinois, Maryland, New Jersey và New York. Chỉ duy nhất có một trong bảy trường hợp này được nhận ra ngay từ đầu. (V.Giang)

Vài lời cuối với LHQ trước lúc mãn nhiệm tổng thống của ông Obama:

Vài lời cuối với LHQ trước lúc mãn nhiệm tổng thống của ông Obama:

Gia đình của tôi được tạo dựng từ da thịt, huyết thống, truyền thống, văn hoá và đức tin từ rất nhiều nơi trên thế giới. Nó cũng giống như việc nước Mỹ được xây dựng từ mọi sắc dân trên quả đất này. Suốt cuộc đời của tôi, ở đất nước này, và với tư cách Tổng thống, tôi học được rằng đâu cần phải định danh cái tôi của chúng ta bằng cách đè nén những người xung quanh, mà chúng ta có thể định danh nó bằng việc nâng đỡ đồng loại. Cái tôi của chúng ta không cần phải được định danh bằng việc chống lại người khác, mà có thể chỉ bằng niềm tin vào tự do, vào bình đẳng, vào công lý, vào công bằng.

Và việc tôi nâng niu những nguyên tắc phổ quát này không làm suy yếu lòng tự tôn của tôi, hay tình yêu của tôi với nước Mỹ – trái lại, nó làm cho những điều đó mạnh mẽ thêm. Niềm tin của tôi rằng những lý tưởng đó tồn tại khắp mọi nơi không làm suy yếu cam kết của tôi là phải giúp đỡ những người có chủng tộc giống tôi, hoặc đức tin giống tôi, hoặc tôn thờ lá cờ của tôi. Trái lại, đức tin vào những nguyên tắc này còn ép buộc tôi phải mở rộng giới hạn của đạo đức bản thân và giúp tôi nhận ra rằng để có thể phục vụ đồng bào tôi tốt hơn, để có thể chăm sóc cho con gái tôi, thì tôi phải đảm bảo rằng hành động của mình cũng phải là tốt nhất cho mọi người, cho mọi đứa trẻ, cho cả con cháu của các bạn.

“Today, a nation ringed by walls would only imprison itself.”
TIME.COM

ỦY BAN ĐIỀU TRA BẮT NGƯỜI TÙY TIỆN LIÊN HIỆP QUỐC RA PHÁN QUYẾT VỀ TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM NGUYỄN ĐẶNG MINH MẪN

Image may contain: 1 person , outdoor and nature
Ngoc Duc Nguyen with Loi Minh and Son Van.

ỦY BAN ĐIỀU TRA BẮT NGƯỜI TÙY TIỆN LIÊN HIỆP QUỐC RA PHÁN QUYẾT VỀ TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM NGUYỄN ĐẶNG MINH MẪN

Ngày 3 tháng 11/2016, Ủy Ban Điều Tra về Bắt Giữ Tùy Tiện của Liên Hiệp Quốc (UNWGAD) đã công bố 21 phán quyết liên quan đến 58 người bị giam giữ tùy tiện ở 17 nước. Việt Nam có 1 phán quyết duy nhất liên quan đến tù nhân lương tâm Nguyễn Đặng Minh Mẫn.

Phán quyết 40/2016 của ủy ban UNWGAD đã được thông qua từ ngày 26/8/2016, nhưng cho đến hôm qua mới được chính thức công bố.

Trong một tài liệu dài 11 trang, ủy ban Điều Tra về Bắt Giữ Tùy Tiện của Liên Hiệp Quốc đã ghi lại quá trình hoạt động của Minh Mẫn, từ lúc theo gia đình đi vượt biên tỵ nạn tại Thái Lan, nhưng sau đó bị cưỡng bức hồi hương, đến những tấm ảnh « HS.TS.VN » để biểu lộ lòng yêu nước,…

Trong suốt quá trình hoạt động này, Ủy Ban UNWGAD chỉ nhận thấy ở Nguyễn Đặng Minh Mẫn sự bức xúc của một người Việt Nam trước hiện tình đất nước và thực thi quyền tự do tư tưởng của mình. Những việc làm của cô không thể bị quy chụp vào tội « âm mưu lật đổ chế độ » và bị kết án nặng nề như vậy.

Ủy Ban Điều Tra về Bắt Giữ Tùy Tiện của Liên Hiệp Quốc cũng nhận xét là các phiên tòa xét xử Minh Mẫn hoàn toàn thiếu vô tư, không công bằng và không độc lập.

Do đó, ủy ban này đã lên án chính quyền Việt Nam và yêu cầu phải trả tự do cho Nguyễn Đặng Minh Mẫn.

Toàn văn phán quyết của UNWGAD : http://www.ohchr.org/…/Deten…/Opinions/Session76/40-2016.pd