Fidel Castro qua đời và Việt Nam

Fidel Castro qua đời và Việt Nam

Blog RFA

Song Chi

27-11-2016

Nông Đức Mạnh và Fidel Castro trong chuyến thăm Cuba năm 2007. Nguồn: AFP

Cuối cùng thì Fidel Castro, lãnh tụ cách mạng Cuba, cựu Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba, cựu Tổng Bí thư đảng cộng sản Cuba, một trong những nhà lãnh đạo cầm quyền lâu nhất (47 năm) và mang tính biểu tượng nhất thế giới, đã qua đời ngày 25.11 ở tuổi 90.

Nếu như đối với người dân của nhiều quốc gia trên thế giới, cái chết của Fidel Castro chả có ý nghĩa gì, chỉ là một nhân vật độc tài đã sống quá lâu mới chịu ra đi, thì ở VN cái chết của Fidel Castro được đề cập đến khá nhiều, cả trên báo chí chính thống của nhà nước lẫn các trang blog, trang mạng xã hội.

Đứng về phía nhà nước cộng sản VN thì chả có gì khó hiểu. Chỉ có vài quốc gia còn sót lại trên thế giới là do đảng cộng sản lãnh đạo. Đảng cộng sản Cuba và đảng cộng sản VN từng một thời gắn bó, Cuba cũng như các nước XHCN khác đã ra sức ủng hộ, giúp đỡ Bắc VN trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Mối giao tình ấy sau này tuy có nhạt đi phần nào khi VN đi theo mô hình “đổi mới” của Trung Quốc, chuyển sang làm ăn kinh tế thị trường trong lúc Cuba vẫn trung thành với mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa, mọi thứ đều được quốc hữu hóa, nhưng đảng cộng sản VN vẫn giữ mối quan hệ với nước cộng sản anh em này.

Vì vậy khi Fidel Castro chết, trong số ít ỏi những nhân vật lãnh đạo của các nước gửi điện chia buồn có Tổng thống Vladimir Putin của Nga, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình, một số nước Nam Mỹ như Tổng thống Sanchez Ceren của Salvador, Tổng thống Nicolás Maduro của Venezuela, Tổng thống Enrique Peña Nietoc của Mexico…và tất nhiên, có VN.

Báo chí nhà nước chạy hết công suất để ca ngợi nhà cách mạng Fidel Castro, nhắc lại cuộc đời, sự nghiệp, những lần Fidel đến VN, nhắc lại những câu nói của Fidel Castro với VN trong đó có câu “Vì VN, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” v.v…

Còn đối với người dân VN, những ai vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi hệ thống giáo dục, tuyên truyền của nhà nước cộng sản thì vẫn nghĩ Fidel Castro là một nhà lãnh đạo cách mạng vĩ đại, “người bạn lớn” của nhân dân VN. Nhưng tất cả những ai có thông tin thì đều biết rằng Fidel Castro thật ra là một kẻ độc tài, dù có thể lúc đầu đã đứng lên đấu tranh vì một lý tưởng, vì muốn lật đổ một chế độ và xây dựng một chế độ khác tốt đẹp hơn cho dân tộc mình nhưng cuối cùng lại trở thành kẻ tội đồ khi đi theo một lý thuyết sai lầm, chọn một con đường sai lầm, kìm hãm đất nước, nhân dân Cuba trong đói nghèo, lạc hậu và không được hưởng bất cứ quyền tự do, dân chủ nào.

Cũng giống như những nhân vật độc tài khác, nhất là những nhân vật độc tài của chế độ cộng sản, như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Polpot, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, cha con nhà Kim Jong-Il, Kim Jong-un, Fidel Castro sau khi giành được quyền lực đã biến đất nước, nhân dân thành sở hữu riêng của đảng cộng sản và của mình.

Và cũng giống như rất nhiều lãnh tụ cộng sản, “cha già dân tộc” chỉ đóng vai giản dị, nông dân trước quần chúng còn thật sự thì sống một cuộc sống xa hoa, sung sướng hơn rất nhiều lần so với đời sống bần cùng của đại đa số người dân dưới sự lãnh đạo của họ, đời sống tình dục thì vô cùng phóng đãng, vô độ, Fidel Castro cũng vậy.

Nhiều tài liệu cho biết ông có nhiều du thuyền, dinh thự riêng, hàng ngàn người bảo vệ, đời tư thì hết sức phóng túng, ngoài các người vợ là danh sách dài các người tình lâu dài, người tình một đêm. (Ngay lãnh tụ Lenin của Liên bang Xô Viết thì sau này sự thật mới lộ ra là chết vì giang mai do bị lây nhiễm từ gái điếm Paris chứ không phải bị đột quỵ như truyền thông, sách vở Liên Xô một thời đã viết như thế…)

Về mặt quan điểm chính trị, tư tưởng, Fidel Castro bảo thủ hơn các đồng chí cộng sản ở Trung Quốc hay VN, ông không chấp nhận đổi mới, kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân và tuyên bố “Tôi là người theo chủ nghĩa Mác Lênin và tôi sẽ như thế cho tới ngày cuối cùng của cuộc đời mình” (“Những câu nói nổi tiếng của lãnh tụ Cuba Fidel Castro”, Pháp luật TP.HCM).

Dưới thời Fidel Castro, hàng trăm ngàn người Cuba đã bỏ nước ra đi, cũng như người VN dưới thời cộng sản, và nếu như người Việt tỵ nạn có thủ phủ của mình là “Little Saigon” trên đất Mỹ thì người Cuba cũng có “Little Havana”. Khi được tin Fidel Castro chết, hàng ngàn người Cuba ở Little Havana, Miami, đã đổ ra đường ăn mừng.

Ai rồi cũng chết. Chính trị gia, lãnh tụ cách mạng hay “cha già dân tộc” gì cũng thế. Điều quan trọng là di sản mà họ để lại cho đất nước, dân tộc. Và vì cái di sản ấy, họ sẽ mãi mãi được ghi nhớ công lao trong lịch sử hay sẽ đời đời bị phán xét, nguyền rủa như tội đồ của dân tộc. Cho dù tạm thời lịch sử có bị bưng bít, che dấu, bản thân họ có được vẽ rồng rắn thành huyền thoại thì rồi cũng sẽ có ngày sự thật được trả lại và không một nhân vật nào có thể thoát khỏi sự đánh giá khách quan của hậu thế. Họ có chết đi thì con cháu họ cũng vẫn phải đọc lại những trang sử ấy.

Di sản của Fidel Castro để lại cho đất nước, nhân dân Cuba hay của Hồ Chí Minh để lại cho VN, đáng tiếc là quá tệ hại.

Cái chết của Fidel Castro gợi lại ký ức về những ngày tháng xa xưa đói khổ ở miền Bắc

Cái chết của Fidel Castro gợi lại ký ức về những ngày tháng xa xưa đói khổ ở miền Bắc

FB Nguyễn Thị Oanh

27-11-2016

Nguồn: Esteban Felix AP/Press Association Images

Đọc thông tin và những bình luận về cái chết của Fidel Castro. Thấy có người thì ngợi ca, thương tiếc. Có người thì mừng vui, hả dạ.

Đối với mình thì chẳng vui chẳng buồn. Cái chết của Fidel chỉ gợi lại cho mình ký ức về những ngày tháng xa xưa đói khổ ở miền Bắc. Hồi đó, bọn trẻ chúng mình say sưa với những hình ảnh thần tượng của các lãnh tụ XHCN là bác Mao, bác Fidel và bác Stalin. Đọc thơ của Tố Hữu, thấy hình ảnh các bác ấy, và Trung Hoa, Liên Xô với Cuba sao mà vĩ đại thế! Điều kỳ lạ là hồi đó chẳng ai nghĩ mình khổ! Ai cũng thấy tự hào được sống ở một đất nước thuộc phe XHCN, ai cũng một lòng bừng bừng niềm tin đánh thắng đế quốc để mình sẽ lên CNCS, sẽ được “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”…

Suốt cả tuổi thơ, từ năm 7 tuổi mình đã quen với những buổi thức dậy từ mờ sương, mắt nhắm mắt mở xếp hàng mua gạo, thịt, mắm, muối… ở các cửa hàng mậu dịch. Quen với những bìa tem phiếu và sổ mua lương thực quyết định chuyện đói, no cho cả nhà. Quen với những lúc phải ăn gạo mốc, gạo mọt. Quen với cảnh mẹ xúm xít cùng các cô chia nhau từng gam mì chính (bột ngọt). Quen với những khi bố phải lấy kẹo bột nấu chè thay đường để có chút ngọt cho cả nhà đỡ thèm… Và mơ ước cháy bỏng của mình về nghề nghiệp suốt thời thơ trẻ là mong sau này sẽ được trở thành cô mậu dịch viên oai phong, ngồi sau quầy kính đầy quyền uy để ban phát cái ăn cho mọi người 😦.

Nhiều bạn nói rằng thấy Cuba vẫn hơn VN nhiều thứ, đặc biệt về dịch vụ y tế và sự ổn định cuộc sống cho người dân của họ. Và rằng Cuba cũng giúp đỡ VN rất hào phóng trong suốt cuộc chiến chống Mỹ. Để từ đó cho rằng Fidel thật sự có công với Cuba và ông quả đúng là người bạn tốt của nhân dân VN.

Mình nhớ, năm 1975, mình nhận được một con “búp bê miền Nam” bằng nhựa do anh họ đi bộ đội trở về mang cho. Mình đã ngây ngất ngắm nó và nghĩ không hiểu sao “bọn đế quốc trong Nam” lại có thể làm được một vật đẹp đẽ như thế! Cũng trong năm đó, lần đầu tiên mình có được một cái áo hoa do bà nội mua cho, khi bà vào Sài Gòn thăm người em ruột và họ hàng di cư từ năm 54 chưa hề gặp lại. Con bé 9 tuổi hồi nào giờ chỉ biết mặc áo một màu trắng, xanh, nâu hoặc xám, lúc ấy ngượng nghịu sung sướng với tấm áo hoa đầu tiên trong đời nên nâng niu cất để dành đến Tết mới dám mặc…

Mình chưa từng tới Cuba nên không biết người dân ở đó thực sự sống thế nào và nghĩ gì về những điều mà Fidel đã mang lại cho đất nước của họ. Mình chỉ suy ra từ mình – một đứa trẻ đã từng thần tượng Fidel cũng như nhiều nhà lãnh đạo khác của khối XHCN. Nhưng rồi một ngày nào đó nó chợt tỉnh và vỡ ra rằng bấy lâu nay nó khổ mà không biết mình khổ. Nó hài lòng với những gì có được mà không biết rằng nó chỉ đang được sống ở mức tối thiểu. Nó cứ tưởng nó sung sướng mà không biết rằng người ta đang thương hại nó thế nào…

Nên hôm nay, với Fidel, mình cúi đầu chia buồn khi nghe tin về cái chết của ông như nghe tin một người quen cũ vừa qua đời. Nhưng nếu bảo tiếc thương, mình không thể tiếc thương một quá khứ nông nổi, ấu trĩ và đau buồn. Vĩnh biệt ông mà cũng mong nhân dân Cuba sẽ vĩnh biệt luôn một thời kỳ u mê, mông muội quá lâu, quá dài trong suốt chiều dài lịch sử của họ!

FIDEL: SỐNG ‘HIẾN DÂNG MÁU’, CHẾT ĐỂ LẠI GÌ CHO VIỆT NAM?

FIDEL: SỐNG ‘HIẾN DÂNG MÁU’, CHẾT ĐỂ LẠI GÌ CHO VIỆT NAM?

FB Nguyễn Anh Tuấn

27-11-2016

Ảnh tư liệu, Fidel Castro và Phạm Văn Đồng. Nguồn: internet

2003, Fidel thăm Việt Nam, người Việt, vì chỉ có báo đài Nhà nước, chỉ thấy một Fidel anh hùng giải phóng dân tộc, hào hoa lãng tử, và nặng tình nặng nghĩa với Việt Nam.

2016, Fidel chết, người Việt, nhờ có Internet và mạng xã hội, lại thấy thêm nhiều Fidel khác.

Một Fidel tham quyền cố vị, nắm quyền suốt 47 năm, và trong thời gian đó đã bắt bớ đối lập, ràng buộc dư luận, khống chế các quyền tự do cơ bản của người dân, đi ngược lại các nguyên tắc nhân quyền phổ quát được cộng đồng quốc tế công nhận.

Một Fidel xa hoa phóng đãng, sống giàu sang phú quý trên cảnh thiếu thốn của phần đông dân chúng, Fidel đó cũng thất bại trong tư cách một lãnh đạo quốc gia trong việc đem đến sự thịnh vượng cho đất nước.

Một Fidel ủng hộ quyết liệt chủ nghĩa cộng sản, do đó, phát ngôn ‘Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình’ nên được hiểu là thế lực cộng sản Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình để giúp đỡ thế lực cộng sản Việt Nam nắm quyền trên toàn bộ quốc gia, trong tình hữu ái mác-xít dựa trên ý thức hệ không hơn không kém.

Chọn Fidel nào tùy vào góc nhìn, và đôi khi còn là vào niềm tin của mỗi người.

Riêng tôi, tôi chọn cái không gian tự do đã mang tới rất nhiều cách nhìn khác nhau về Fidel (và nhiều người khác nữa) – điều đang khiến người Việt trở nên rất khác so với chính họ hơn 10 năm về trước trong những sinh hoạt tâm tưởng, theo một chiều hướng rõ ràng là tích cực hơn.

Từ lúc này, người Việt, hay ít nhất là một tỷ lệ tuyệt đối đa số của họ, chẳng thể nào còn suy nghĩ chỉ theo một lối, vì bị dắt đi bởi chỉ một nguồn phát tin được nữa. Những thần tượng chính trị cũng vì đó mà sụp đổ theo, từng phần từng phần một.

Nhìn từ đó, cái chết của Fidel mang ý nghĩa kiểm chứng, cho một câu hỏi không kém phần quan trọng:

“Liệu người Việt còn có thể sùng bái cá nhân chính trị, như họ đã từng, nữa hay không?”

– Không. Đến như Fidel chết đi mà còn bị đánh giá thế kia cơ mà, huống gì lãnh đạo kiểu đồng chí X nhà ta.

Câu hỏi trên quan trong bởi lẽ một khi những tượng đài vỡ toạc sẽ mở ra một chương mới lành mạnh hơn trong mối quan hệ giữa người dân với quyền lực chính trị, trong đó quyền lực chính trị không còn là ông chủ của nhân dân được nữa, mà phải trở về đúng với vai trò công cụ của nó.

Những năm tháng còn lại của cuộc đời.

Mời Coi Clip Này Để Biết Trân Quý Mỗi Ngày Ta Còn Được Hiện Diện Trên Trần Gian.

Một Ngày Qua Đi Là Mất Sẽ Không Bao Giờ Có Trở Lại.

Quan Trọng Là Ngày Hôm Nay Ta Vui Hay Buồn, Và Làm Được Gì Để Dành Cho Ngày Ta Ra Đi Vĩnh Viễn Sẽ Có Một Tài Sản Lớn Trên Thiên Quốc.

Thắng – Thua, Được – Mất, Tất Cả Rồi Cũng Trở Về Với Cát Bụi.

Sự Sống Sau Cái Chết Mới Quan Trọng.

Nhưng Buồn Thay, Có Mấy Ai Nghĩ Tới. !!!

                  https://www.youtube.com/embe d/AucM9F9Lie0                 

            

Tán tận lương tâm.

Tán tận lương tâm.
– Chúng là loài quỷ dữ, làm gì có lương tâm.
– Chúng là lũ bán nước!
– Một chính phủ khốn nạn.

CÁC ANH, MỘT CHÍNH PHỦ KHỐN NẠN! –
Nancy Nguyễn

– “…KHỐN NẠN CÁI LŨ CÁC ANH! Các anh không phải chỉ đang buôn bán cái mảnh đất này, cái dải nước này, nhưng là các anh đang buôn bán sinh mạng của mấy trăm ngàn nóc nhà, mấy triệu con người, thậm chí là mấy chục triệu con người.“

CÁC ANH, MỘT CHÍNH PHỦ KHỐN NẠN!

Nancy Nguyễn

Khi thông tin cá chết xuất hiện các anh đã trả lời dân thế nào?

“KHÔNG CÓ THẨM QUYỀN KIỂM TRA FORMOSA!”

Xin lỗi các anh, đất này của người VN hay của Đài Loan, Trung Quốc mà họ có quyền cấm các anh vào kiểm tra? Giả sử Formosa không sản xuất thép, mà chế bom nguyên tử, hay đem quân đội vào đóng ngay huyết mạch bắc nam thì cái đất nước này sẽ khốn nạn thế nào? Các anh là con người hay là con chó mà chỉ 1 doanh nghiệp tư nhân cũng có thể khiến cả 1 chính phủ nghe lời?

Rồi 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày rồi từ ngày đổi sang tuần, rồi từ tuần đổi sang tháng.

Các anh ưu việt đến nỗi TỚI TẬN BÂY GIỜ VẪN CHƯA PHÁT HIỆN ĐƯỢC NGUYÊN NHÂN CÁ CHẾT.

Trong trường hợp này, các anh không phải đang khoe dốt, nhưng là đang khoe ÁC! Ác với đồng bào, ác với đồng loại.

Bởi các anh đâu phải không biết nguyên nhân, và thằng dân cũng vậy, nhưng các anh dùng mọi thủ đoạn để lách luồn, để chống chế, để nguỵ biện.

Tôi không biết các anh ăn gì để sống, nhưng biết các anh đã bán cái gì đi để mua thực phẩm cho cái lũ các anh. CÁC ANH BÁN NƯỚC!

Tôi không biết các anh đã họp kín gì với Formosa, với cả đống ban bệ của các anh, nhưng tôi biết một điều, bước ra khỏi hội nghị, Formosa thẳng thừng tuyên bố: CHỌN CÁ HAY CHỌN NHÀ MÁY THÉP.

Sự trơ trẽn này của Formosa chứng tỏ họ hiểu các anh, bọn thằng dân chúng tôi, và bọn Tầu, Đài ĐỀU BIẾT RÕ đâu là nguyên nhân cá chết,và tất nhiên, Tầu, Đài đã được bảo kê an toàn.

CÁC ANH CÒN NÓI MÌNH KHÔNG BÁN NƯỚC HẠI DÂN?

Màn kịch thuỷ triều đỏ là cực điểm của vở bi hài kịch Vũng Áng.

Khi mà AI-CŨNG-BIẾT-VÌ-SAO thì các anh trơ trẽn, trâng tráo đổ cho tảo đỏ.

Xin lỗi nói thẳng với anh, biển không phải là phụ nữ, mà cá chết 27 ngày không đỏ,đến ngày thứ 28 thì … hành kinh. Nhưng tột cùng khốn nạn của các anh có lẽ là chính lúc này.

Khi các anh đã chỉ FORMOSA khoá dưới mức nguy hiểm, các anh đồng loạt hô “ĐÃ AN TOÀN” và nhiệt tình quảng bá hình ảnh quan chức ăn cá, tắm biển, vui chơi DÙ VẪN CHƯA DÁM XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN NHIỄM ĐỘC. Tình trạng tái nhiễm độc có thể diễn ra bất cứ lúc nào,chỉ khi có cá chết, người chết, thì dân mới lại ngã ngửa ra lần nữa.

Cho phép tôi chửi KHỐN NẠN CÁI LŨ CÁC ANH! Các anh không phải chỉ đang buôn bán cái mảnh đất này, cái dải nước này, nhưng là các anh đang buôn bán sinh mạng của mấy trăm ngàn nóc nhà, mấy triệu con người, thậm chí là mấy chục triệu con người. Các anh không dám nhìn nhận người dân xuống đường biểu tình vì chính cái khốn nạn của các anh, cái vô liêm sỉ, cái mất nhân tính của các anh, nhưng đốn mạt hơn,các anh đổ tất thảy những cái đê tiện đó cho con ông kẹ “thế lực thù địch” rồi đem 2 thằng ký giả quèn chỉ làm được mỗi việc phỏng vấn, lấy tin, và cứu trợ nhân đạo ra tế thần. Cả VTV, VTC nữa, các anh cũng đốn mạt, hèn hạ vô cùng!

Còn Tiền Phong nữa, lương tri con người, lương tâm báo chí các anh để đâu mà bảo “Nước biển 4 tỉnh miền trung đã an toàn!” Các anh đã bao giờ làm phóng sự điều tra độc lập,cử người xâm nhập vào Formosa để tìm ra nguyên nhân,và tự mình xác định được là vấn đề đã được hoàn toàn khắc phục hay chưa, hay chỉ nghe đảng hô sao thì viết vậy?Tôi hỏi thật các anh truyền thông, câu này tôi hỏi thật lòng: Các anh là phóng viên, nhà báo,hay là đĩ điếm? Mà Đảng bảo hùng hục là hùng hục, bảo nằm im là răm rắp nằm im?

Bảo cười là cười, bảo câm phải câm, cho nói gì mới được nói ấy! Nếu phải làm báo như thế, tôi thật không bao giờ dám tự xưng mình là phóng viên, nhà báo, vì có khác gì phò đâu! Một số người bảo toàn bộ sự việc chỉ là chiêu trò của TQ, để hất cẳng Đài Loan, để đuổi dân khỏi Hà Tĩnh, để nhân cơ hội cả nước lên đồng mà âm thầm gom thêm vài cục đảo,rằng thằng dân Vệ đang bị thằng Hán lợi dụng.

Là gì đi chăng nữa thì cũng chỉ chứng tỏ 1 điều:
BỌN NÓ ĐÁNH CỜ CÒN CÁC ANH HẦU QUẠT.
Bọn nó luôn nằm trên còn các anh nằm dưới. Phò thì có thắt cà vạt, mặc áo vét lên ti vi vẫn là phò.

Lời  cuối, tôi bảo thật, ở trên kia TRỜI XANH CÓ MẮT.

Các anh xếp tôi vào loại xách động biểu tình,thì đây:
ALL ZOMBIES: LET’S RAPE THE STREETS!!!!

Nancy Nguyễn

Nancy Nguyễn

Phan Thị Hồng's photo.
Phan Thị Hồng's photo.

SỐNG MÙA VỌNG

 SỐNG MÙA VỌNG

 + Gm. GB Bùi Tuần

Sống mùa Vọng này với kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ Fatima, chúng ta sẽ có một cái nhìn phải đổi mới chính mình và Hội Thánh mình trên Quê Hương Việt Nam.

  1. Để kỷ niệm ngày Chúa Giáng Sinh năm nay. Hội Thánh dạy chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn một cách sốt sắng. Thời gian chuẩn bị kéo dài bốn tuần lễ. Thời gian đó quen gọi là mùa vọng.

Suốt Mùa Vọng, tôi cầu nguyện và làm những việc mà Phụng Vụ chỉ dẫn.

Kinh nghiệm trong Ơn Chúa Thánh Thần, tôi nhấn mạnh nhiều hơn đến mấy việc sau đây. Xin phép được chia sẻ vắn tắt.

  1. Việc thứ nhất là tăng cường những liên đới thương cảm.

Phúc âm thánh Gioan dạy: “Thiên Chúa yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một Người cho thế gian, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).

Tôi hiểu: vì thương yêu tôi, nên Chúa giáng trần. Tôi tin Chúa giáng trần, là để cứu tôi. Tôi đón nhận Người bằng sự tôi tin vào tình yêu của Người, và bằng sự tôi thương người khác, như Người đã phán: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34).

  1. Theo kinh nghiệm, tôi thấy những việc yêu thương nhau giữa chúng ta, nếu muốn được là“như Chúa yêu thương chúng ta”,thì chúng ta phải có lửa yêu thương thực sự do Chúa chia sẻ cho. Lửa yêu thương đó được tôi gọi là thương cảm.
  1. Thương cảm là một tình yêu cho đi. Nó như lửa. Vui vì được hi sinh cho người khác. Cho đó là ý nghĩa đời mình.
  1. Tới đây, tôi nhớ tới những thương cảm, mà tôi đã nhận được từ bao người dành cho tôi. Những thương cảm đó rất sống động, tuy rất âm thầm, rất kín đáo, và rất bé nhỏ. Những thương cảm chân thành đó đã cứu tôi, đã giúp tôi nhận ra Chúa, đã đưa tôi về với Chúa, một Chúa là tình yêu hi sinh trên thánh giá.

Cũng chính những thương cảm đó đã mở rộng lòng tôi ra, để tôi biết nhìn mọi người bằng cái nhìn yêu thương của Chúa. Phải nhận sự thực này là: đối với những người nghèo khổ bệnh tật, cô đơn, chúng ta tuy có giữ liên đới, nhưng thường vẫn thiếu thương cảm thực sự.

  1. Việc thứ hai là tăng cường những thứ tha, lấy yêu thương xoá bỏ hận thù.

Tôi tin lời Chúa phán:

“Thiên Chúa sai Con Một Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3,17).

Tôi tin như thế. Niềm tin của tôi được thể hiện bằng sự chính tôi cũng biết bắt chước Chúa, mà tha thứ, mà không lên án.

  1. Tôi sẽ xin với Chúa Cha cũng một lời cầu của Chúa Giêsu xưa trên thánh giá:“Lạy Cha, xin tha cho họ, Vì họ làm nhưng không biết việc họ làm” (Lc 23,34).
  1. Suốt cuộc đời dài của tôi, tôi đã gặp được không ít những tấm lòng thứ tha quảng đại. Những tấm lòng đó đã giúp tôi sống nhẹ nhàng, chỉ có yêu thương, chứ không nặng nề với những hận thù và kết án.Những tấm lòng đó là những hạt giống Tin Mừng đang được gieo vào lịch sử Đất Nước tôi. Cần phải có thời gian, để những hạt giống đó nảy sinh ra cánh đồng an bình yêu thương.
  1. Nhưng cũng rất cần tôi phải tỉnh thức và cầu nguyện, để khỏi sa vào những cám dỗ xa lìa những cơ hội để tha thứ. Nếu tôi cứ khăng khăng quả quyết: chính họ phải xin lỗi chúng ta, thì chúng ta sẽ rất lầm, và dễ dánh mất cơ hội để hoà giải.
  1. Việc thứ ba là cùng với Mẹ  Maria tăng cường những khám phá ra những tiềm năng tốt trong lịch sử mình đang sống và nơi những người xung quanh mình.

Tôi luôn nhớ tới lời Chúa Giêsu nói từ trên thánh giá với môn đệ Gioan: “Đây là mẹ của con”(Ga 19,27).

Chỉ một tiếng: “Mẹ của con” đã giúp tôi khám phá biết bao tiềm năng tốt trong lịch sử mà tôi đã và đang trải qua.

  1. “Mẹ”là cảm xúc gần gũi và ngọt ngào. Suốt đời tôi, nhất là trong mùa vọng, Mẹ Maria là tình yêu bao la đã và đang giúp tôi khám phá. Khám phá mà Mẹ giúp tôi thực hiện, thường kín đáo. Khám phá những sự lạ lùng Chúa làm trong thế giới các tâm hồn. Ngay tại Việt Nam hôm nay, vẫn có rất nhiều tâm hồn được Chúa ban cho những ơn rất trọng đại. Họ là những tâm hồn bé nhỏ, khiêm nhường.

Với Mẹ Maria, tôi nhìn thấy nơi nhiều đồng bào những điểm tốt, nhất là về nhân bản, nhân đạo, nhân cách.

  1. Sống mùa vọng, như tôi vừa chia sẻ trên đây, sẽ không ồn ào và hoành tráng. Giống như Mẹ Maria xưa, khi mang  thai Chúa Cứu Thế, nhiều tâm hồn sống mùa vọng đã và đang âm thầm tỉnh thức và cầu nguyện.
  1. Nếu tôi thực sự cảm thấy mình còn xa những gì Chúa dạy tôi như trên, cái mình có vẫn còn quá ít, thì chính nhận thức đó sẽ giúp tôi nhận ra sự nghèo nàn của tôi, để càng tăng thêm hối cải và tin vào lòng thương xót Chúa.
  1. Hiện tình ViệtNam là rất phức tạp. Hiện tình thế giới là rất căng thẳng. Chính vì vậy, mà mùa vọng này đang là một mời gọi Chúa gửi đến chúng ta. Chúng ta cần trân trọng đón nhận lời mời gọi tha thiết này của Chúa. Tôi có cảm tưởng là: thế giới đang bước vào thời kỳ mà quỷ Satan được phép lộng hành. Chỉ Chúa mới trị được nó mà thôi.
  1. Năm 2017 sắp tới sẽ là kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra ởFatima. Nhân kỷ niệm này, chúng ta nên nhớ lại những cảnh báo, mà Đức Mẹ đã nói ở Fatima. Cảnh báo về một tình hình khủng khiếp sẽ xảy ra cho thế giới và cho Hội Thánh. Chỉ Chúa mới cứu được thôi.

Sống mùa Vọng này với kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ Fatima, chúng ta sẽ có một cái nhìn phải đổi mới chính mình và Hội Thánh mình trên Quê Hương Việt Nam.

Đổi mới. Phải đổi mới ngay từ bây giờ. Kẻo sẽ quá muộn. Khiêm nhường biết mình cần đổi mới là bước đầu tốt. Tự mãn coi mình không cần đổi mới, là tự sa chìm xuống vực thẳm hư vong.

  1. Riêng tôi, tôi vui mừng cảm tạ Chúa, vì Chúa ban mùa Vọng này cho tôi, nhưmột cơ hội chứa chan niềm vui và hi vọng.

Niềm vui và hi vọng này sẽ được chia sẻ rộng rãi trên khắp Quê Hương Việt Nam yêu dấu.

Niềm vui và hi vọng này cần có một cái nhìn sáng suốt và một tinh thần trách nhiệm cao.

Niềm vui và hi vọng này là của chung mọi đồng bào thân yêu, không phân biệt ai, không loại trừ ai. Mùa Vọng là của mọi người. Xin hết lòng cảm tạ Chúa giàu lòng thương xót.

Long Xuyên, ngày 24.11.2016

+ Gm. GB Bùi Tuần

From:  VÒNG TAY SONG NGUYỀN gởi

Câu chuyện của một linh mục tử đạo Albania.

Câu chuyện của một linh mục tử đạo Albania.

tu-dao-albanie

Câu chuyện của một linh mục tử đạo Albania, người được ĐGH Phanxicô tấn phong hồng y vào ngày 19 tháng Mười Một

Trong chuyến đi tới Albania vào tháng Chín năm 2014, Đức Thánh Cha Phanxicô nghe câu chuyện rợn người của một linh mục 84 tuổi sống trong một trại lao động 28 năm dưới chế độ cộng sản ở Albania. Tên của ngài là Ernest Simoni và ngài sẽ được tấn phong hồng y tại hội nghị công giáo vào ngày 19 tháng Mười Một.

Đây là toàn văn câu chuyện của ngài, mà ngài đã tiết lộ trong một bài phát biểu trước Đức Thánh Cha Phanxicô, trong chuyến thăm quốc gia Đông Âu này.

Toàn văn:

“Con tên là Ernest Simoni. Con là một linh mục 84 tuổi. Vào tháng Mười Hai, năm 1944, Đảng Cộng sản đến Albania, với mục tiêu chính của họ là tiêu diệt đức tin và giáo sĩ của đất nước này. Để đạt được mục tiêu này, ngay lập tức họ bắt đầu bắt giữ, tra tấn, và đấu tố hành quyết hàng trăm linh mục và giáo dân. Biến cố này kéo dài bảy năm, các Kitô hữu vô tội đổ máu, một số trong đó, ánh mắt đăm đăm trên khuôn mặt nhìn vào cái chết, hét lên, “Vạn tuế Đức Kitô Vua!”

Năm 1952, chính quyền cộng sản, tiếp theo là một chiến lược chính trị được dàn dựng cẩn thận từ Moscow (Stalin), bằng mọi cách tập trung các linh mục còn lại và cho họ được thực thi đức tin với một điều kiện: họ tách ra khỏi Roma và Vatican. Hàng giáo sỹ không bao giờ chấp nhận sự lừa bịp của chính phủ. Con tiếp tục với việc học hành của mình tại trường đại học Phanxicô mười năm, từ năm 1938 đến năm 1948. Các đấng bề trên của chúng con buộc phải thi hành bởi những người cộng sản và đó là lý do tại sao con buộc phải hoàn tất việc nghiên cứu Thần học trong tình trạng lén lút.

Bốn năm sau, con phải đi lính. Họ muốn cho con biến mất. Con đã mất hai năm ở đó, mà còn tệ hơn là ở trong tù. Nhưng Chúa đã cứu con và, vào ngày 07 tháng Tư năm 1956, con được thụ phong linh mục. Ngày hôm sau, Chúa Nhật Lòng thương xót Chúa, con cử hành thánh lễ đầu tiên của con. Trong tám năm rưỡi thực thi tác vụ, cho đến khi những người cộng sản quyết định rằng con phải dời đi.

Vào ngày 24, tháng Mười Hai, 1963, sau khi cử hành Thánh Lễ Vọng Giáng sinh, tại thị trấn Barbullush, gần Scutari, cán bộ đến tìm con và đưa cho con lệnh bắt giữ và thực hiện. Họ trói tay con ra sau lưng, đưa con vào còng, và lôi con vào xe của họ bằng cách đá đạp con. Từ giáo xứ, họ đưa con đến một phòng cách ly con bị họ giam giữ ba tháng trong điều kiện không phải con người. Họ thẩm vấn con. Thủ trưởng của họ nói với con: “Mày sẽ bị treo cổ như một kẻ thù bởi vì mày đã nói với dân chúng rằng họ sẽ chết cho Đức Kitô nếu cần.” Họ siết còng sắt trên cổ tay của con đau đến nỗi con có thể cảm thấy nhịp tim của con ngưng đập. Con sắp chết. họ muốn con lên tiếng chống lại Giáo Hội và các đấng bậc trong Giáo Hội. Con gần như chết vì bị tra tấn. Thấy con trong trạng thái đó, họ gỡ con ra. Chúa muốn con còn được sống.

Họ còn kết tội con vì cử hành ba thánh lễ cho linh hồn của cố Tổng thống Hoa Kỳ, John F. Kennedy, người đã bị sát hại một tháng trước khi con bị bắt. Nhưng con cử hành những Thánh Lễ này theo chỉ dẫn của Đức Phaolô VI trao cho tất cả các linh mục trên thế giới. Con đặt mua tạp chí chính của Nga bằng tiếng Pháp: “Liên bang Xô viết”. Như bằng chứng để họ buộc tội, họ đã trình bày với thẩm phán về vấn đề của tạp chí này, trên trang bìa có một hình của Tổng thống Mỹ. Nhờ sự yêu thương và che chở của Thiên Chúa, bản án của con không bao giờ được thực hiện. Họ mang một tù nhân khác đến phòng biệt giam, người mà để do thám con. Người này chỉ trích Đảng nhưng con trả lời rằng Chúa Kitô dạy chúng ta yêu thương kẻ thù của chúng ta, tha thứ cho họ, và làm việc vì lợi ích của nhân dân. Nhà độc tài đã biết được về những lời con đã nói. Ông ta đã thay thế án tử hình của con bằng 18 năm tù trong mỏ than Spac. Khi con được thả ra, con bị kết án thêm mười năm lao động cưỡng bức, cho đến khi chế độ độc tài sụp đổ. Con làm việc trong cống rãnh nước thải. Con đã dâng lễ bằng tiếng Latin, từ trí nhớ.

Con cũng giải tội và ban Phép Thánh Thể bí mật.

Khi quyền tự do tôn giáo đã được thiết lập, Chúa đã giúp con phục vụ tại nhiều thị trấn và hóa giải với những người đầy hận thù với Thánh Giá, xua đuổi hận thù và ma quỷ ra khỏi trái tim của con người.

Thưa Đức Thánh Cha, con nghĩ rằng con nói thay cho tất cả mọi người ở đây. Con cầu nguyện với Chúa rằng, nhờ lời cầu bầu của Thánh Mẫu của Đức Kitô, xin Người ban cho ngài sống thọ, sức khỏe tốt, và sức mạnh để dẫn dắt đoàn chiên, đó là Giáo Hội của Đức Kitô. Amen.”

BUI HUY CUONG
2 avenue Claude Debussy

78330 FONTENAY LE FLEURY

FRANCE

From: Cam Tuyet & chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Tạ Ơn Chúa !

Tạ Ơn Chúa !

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

    Thi sĩ Lamartine của Pháp có kể lại một giai thoại như sau:

Một hôm, tình cờ đi qua một khu rừng, ông nghe một âm thanh kỳ lạ.  Cứ sau mỗi tiếng búa gõ vào đá lại vang lên một tiếng “Cám ơn”.  Ðến gần nơi phát ra âm thanh, thi sĩ mới nhận thấy một người thợ đá đang miệt mài làm việc.  Cứ mỗi lần gõ vào phiến đá, ông lại thốt lên “Cám ơn’.

Thi sĩ Lamartine mới nấn ná đến trò chuuyện, người thợ đập đá giải thích: “Tôi cảm ơn Chúa”. 

Ngạc nhiên về lòng tin của một con người mà cuộc sống hẳn phải lầm than lam lũ, thi sĩ mới nói: “Giả như bác được giàu có, thì tôi hiểu tại sao bác không ngừng thốt lên hai tiếng cám ơn.  Ðằng này, Thiên Chúa chỉ nghĩ tới bác có mỗi một lần duy nhất đó là lúc Ngài tạo nên bác.  Sau đó, Ngài ban cho bác có mỗi cái búa này để rồi không còn ngó ngàng gì đến bác nữa.  Thế thì tại sao bác lại mỏi miệng để cám ơn Ngài?”.

Nghe thế, người đập đá mới hỏi vặn lại thi sĩ: “Ngài cho rằng Chúa chỉ nghĩ đến tôi có một lần thôi sao”.

Thi sĩ Lamartine bèn thách thức: “Dĩ nhiên, Chúa chỉ nghĩ đến bác có mỗi một lần mà thôi”.

Người thợ đá nghèo, nhưng đầy lòng tin, mới mếu máo thốt lên: “Tôi nghĩ rằng điều đó không có gì đáng ngạc nhiên cả.  Ngài nghĩ rằng Thiên Chúa đã đoái thương đến một người thợ đá thấp hèn như tôi, dù chỉ một lần thôi.  Vậy không đủ cho tôi cám ơn Ngài sao?  Vâng, cám ơn Chúa, cám ơn Chúa”. 

Nói xong, ông bỏ mặc cho thi sĩ đứng đó và tiếp tục điệp khúc quen thuộc của ông, vừa đục đá vừa tạ ơn Chúa.

Thiên Chúa yêu thương con người.

Ðó là bài ca mà chúng ta không chỉ hát lên trong mùa Giáng Sinh, mà phải được lập lại trong từng khoảnh khắc của cuộc sống.  Nhưng khi chúng ta nói: Thiên Chúa yêu thương con người, điều đó trước hết phải có nghĩa là Ngài yêu thương tôi.  Thiên Chúa không yêu thương con người bằng một cách chung chung. Thiên Chúa yêu thương mỗi người bằng một tình yêu cá biệt, riêng rẽ.  Ðiều đó cũng có nghĩa là mỗi người là một chương trình trong trái tim của Thiên Chúa.

Ðối với Thiên Chúa, không có đám đông vô danh, cũng không có những con số.

Ngài gọi mỗi người bằng tên gọi riêng…

Chúng ta không thể đo lường Tình Yêu của Thiên Chúa bằng thước đo hẹp hòi, thiển cận của chúng ta.  Trong Tình Yêu Quan Phòng của Ngài, mỗi một con người là một chương trình và mỗi một chương trình đều cao cả.  Thiên Chúa không tạo dựng chúng ta theo một khuôn mẫu, mà theo một chương trình riêng cho mỗi người.  Mỗi một biến cố xảy đến đều được Ngài sử dụng để đem lại điều thiện hảo cho chúng ta.

Nói như thánh Phaolô, Thiên Chúa quy mọi sự về điều thiện cho những kẻ Ngài yêu thương.  Cũng chính vị thánh này đã nói: “Tất cả mọi sự đều là ân sủng của Chúa”.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Niềm tin giản đơn đến bất ngờ

Niềm tin giản đơn đến bất ngờ

Vinhsơn Vũ Tứ Quyết S.J

Tạ ơn Chúa vì con bị HIV !

Đây là lời cầu nguyện “ngược đời” của một con người hạnh phúc trong khổ đau. Chị là một người giữa bao người. Chị bình thường trong một cuộc sống bình thường. Thế nhưng, một ngày đã tới, ngày mà chị biết mình bị nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV. Chẳng mấy chốc, mọi người đều rời xa chị. Chị cô đơn đến tuyệt vọng. Chị kiệt sức. Chị muốn chết.

Phúc thay, chị được đưa đến mái ấm có các sơ chăm sóc. Dần dần, sức khỏe chị khá lên. Ngày qua ngày, niềm vui chị nhận được từ những người xa lạ, dần lớn lên trong chị. Lần đầu tiên trong đời chị biết Chúa Giêsu. Lần đầu tiên trong đời chị cảm nhận được tình thương mến lạ lùng từ những người tin vào Giêsu. Lần đầu tiên trong đời chị nhận ra ơn của Chúa ngay trong nghịch cảnh, nhận ra sức sống ngay trong sự tiều tụy. Sự kinh ngạc và niềm vui lớn tới nỗi chị thốt lên: “Nếu con không bị HIV, con nào biết Chúa trên đời. Vì con bị HIV như thế này mà con có dịp biết Chúa. Tạ ơn Chúa.”
Vâng, con người bỏ rơi nhau, còn Chúa thì không bao giờ.

Tại sao con theo đạo Phật, mà Chúa lại bắt con vác thánh giá ?

Đó là lời “than trách khó hiểu” của một bà bị tai biến, hiện liệt nửa người, đang ở trong nhà dưỡng lão mà các sơ chăm sóc. Trước kia, bà vốn ở một mình. Nhìn khuôn mặt bà, nghe bà kể chuyện, tôi nhận thấy niềm tiếc nuối rất lớn về quá khứ. Bà nói: “Trước kia con đẹp lắm, làm ăn được lắm, có của ăn của để, bạn bè rất nhiều… Đến một ngày, con bị tai biến, liệt nửa người. Thế là, tiền bạc của con có dư thì cũng không cứu được con. Bạn bè con bỏ con hết, chẳng còn ai. Người thân của con thì ai họ cũng phải lo việc nhà của họ. Con còn lại một mình.”

“Cũng chẳng biết ở đâu, vì không có người chăm sóc, con đành ở trong nhà dưỡng lão này. Từ trước tới giờ, con sùng đạo Phật lắm. Khi vào đây ở, có các sơ, con mới biết Chúa. Các sơ có an ủi con thế này: Bà chịu khó vác thánh giá Chúa trao.”

Bà thắc mắc về số phận khó chấp nhận của mình, bà hỏi tôi: “Khi con bị tai biến, con đâu biết Chúa. Tại sao con theo đạo Phật mà Chúa lại bắt con vác thánh giá?” Nhìn bà, tôi nhủ thầm: “Bà ơi! Bệnh tật là một phần của đời người, chẳng ai tránh được. Chỉ có điều, mỗi người đối diện với bệnh tật một cách mà thôi. Bà buồn rầu và thất vọng không phải vì bà bị bệnh, mà là vì bà bị bỏ rơi và bị quên lãng, là vì bà chưa có sức mạnh từ bên trong, là vì bà chưa có những người thực sự thân thiết yêu thương.”

Cầu chúc bà có thể nhận thấy tình thương mến của những người đang sống với bà.

Đối diện với đau khổ và cái chết, mỗi người chọn cho mình một thế đứng. Tùy điểm tựa mà mỗi người vững vàng hay sụp đổ. Có một điều chắc chắn là ai cũng chết, cũng có một điều khá chắc chắc là hầu như người ta cứ nghĩ mình còn lâu mới chết. Giá trị đời người và giá trị con người, ngày càng bị lãng quên trong cuộc sống xô bồ.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết tìm điểm tựa nơi Ngài, để con sống một cuộc đời đáng sống và chết một cái chết bình an, và dù có chết thì con vẫn sống trong Ngài. Amen.

Vinhsơn Vũ Tứ Quyết S.J

No automatic alt text available.

Hòa giải và bức tường than khóc

Hòa giải và bức tường than khóc

Kính Hòa, phóng viên RFA
2016-11-27
Ông Hùng Cửu Long (giữa) ở Washington DC.

Ông Hùng Cửu Long (giữa) ở Washington DC.

Courtesy photo

Bị phản đối dữ dội

Một người đàn ông mặc áo mang cờ đỏ sao vàng xuất hiện tại trung tâm người Việt tại miền Nam California. Ông ta bị phản đối dữ dội. Người đàn ông đó tên là Lê Đình Hùng từ Việt Nam sang. Ông ta nói rằng hành động của ông là để góp phần vào công cuộc hòa giải dân tộc.

Một cuộc họp được tổ chức tại Sài Gòn kêu gọi Việt kiều góp phần xây dựng đất nước.

Ông Lê Minh Nguyên, thành viên một tổ chức đấu tranh cho nhân quyền Việt Nam, có trụ sở ở California viết rằng:

Cho đến nay, chưa bao giờ, người viết xin nhắc lại là “chưa bao giờ” Cộng Sản Việt Nam có chủ trương hoà giải, họ chỉ chủ trương đại đoàn kết hay hoà hợp, tức là muốn nạn nhân của họ phải thần phục họ, phải “bó thân về với triều đình”, phải chấp nhận là thần dân của họ, chung vào rọ của họ, nằm dưới sự lãnh đạo của họ.

Theo thông tin từ truyền thông nhà nước Việt Nam thì có khoảng 500 Việt kiều có mặt tại Sài gòn trong buổi họp do nhà nước Việt Nam tổ chức. Blogger Dân Nguyễn so sánh con số đó với những trí thức, những người cựu cộng sản trong nước bị đàn áp, và tác giả cho rằng buổi họp chỉ là một sự mỵ dân:

Chưa bao giờ” Cộng Sản Việt Nam có chủ trương hoà giải, họ chỉ chủ trương đại đoàn kết hay hoà hợp, tức là muốn nạn nhân của họ phải thần phục họ, phải “bó thân về với triều đình”, phải chấp nhận là thần dân của họ.
-Ông Lê Minh Nguyên

Các ông còn bày đặt việc “tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào tham gia góp ý xây dựng…”!? Mỵ dân như rứa là xưa lắm rồi. Biết bao “trí thức xã hội chủ nghĩa”, và cả trí thức (không xã hội chủ nghĩa), những con người tâm huyết với xã tắc, ngày đêm góp ý với các ông, bằng miệng có, văn bản có, các ông còn không thèm nghe, thậm chí còn đe nẹt, hăm dọa và cả tống vào tù. Nhiều “Lão thành cách mạng”, những người đáng bậc cha chú các ông về tuổi đời, tiền bối các ông về tuổi đảng và cả sự cống hiến…góp ý, các ông còn khinh lờn bỏ ngoài tai… “Việt kiều yêu nước” là cái thá gì?

Hơn 4 triệu kiều bào, liệu có được 500 “Việt kiều yêu nước”? Và trong 500 Việt kiều hôm rồi hiện diện tại cái thành phố từng là Hòn ngọc Viễn Đông xưa, liệu có mấy người “yêu nước” theo quan niệm “Yêu” của các ông?

Từ trong nước, blogger Nguyễn Lân Thắng cho rằng nếu nhà nước cộng sản Việt Nam thực tâm mong muốn hòa giải thì họ phải có những hành động khác:

Tôi nghĩ cách để hoà giải tốt nhất là những người cộng sản hãy tự khép lại thời đại độc tài đảng trị, tuyên bố bầu cử tự do, sửa đổi hiến pháp… những nạn nhân của chế độ này có lẽ hầu hết không cần lời xin lỗi, không cần đền bù những gì đã mất trong quá khứ… Tất cả chúng ta cần một nước Việt Nam trong tương lai không còn tồn tại một chế độ độc tài đè lên đầu lên cổ nhân dân..

Về hành động mang cờ đỏ sao vàng của ông Lê Đình Hùng, nhiều blogger hỏi ông rằng khi làm việc đó ông có nghĩ rằng nếu mang cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa đứng tại Sài Gòn thì sẽ bị như thế nào hay không?

Tuy vậy, Luật sư Lê Công Định cũng cho rằng ý của ông Hùng là có thực tâm:

Khi tranh cử Quốc hội khoá 14 vừa rồi anh Lê Đình Hùng (Hùng Cửu Long) tuyên bố trong chương trình tranh cử của mình ý định trùng tu nghĩa trang Biên Hoà của các binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà.

Đó là hành động cụ thể để hoà giải đôi bên tham chiến trong quá khứ mà anh chủ xướng. Chưa thấy ứng cử viên đại biểu quốc hội nào dám làm vậy. Cũng chưa thấy những người luyến tiếc chế độ Sài Gòn ở đây lên tiếng ủng hộ ý định đó của anh.

hung-cuu-long-622.jpg
Ông Hùng Cửu Long ở khu Phước Lộc Thọ, California. Photo by Nguyen Van Ly

Mang cờ cộng sản sang thủ đô người Việt tị nạn cộng sản có khác nào chuyện đại náo thiên cung của Tề Thiên trong Tây Du Ký. Hoà giải đâu không thấy chỉ thấy chọc giận cộng đồng. Lẽ ra anh nên suy xét khía cạnh này trước khi nhập vai Tề Thiên.

Giữa muôn vàn lời công kích anh lúc này, tôi nghĩ bà con Việt Nam tị nạn cộng sản cũng nên xét đến kế hoạch trùng tu nghĩa trang Biên Hoà của các binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà để thấy ý tưởng tốt đẹp và thành thật của anh Hùng.

Tôi đoan chắc rằng nhiều vị đòi đuổi cổ anh hôm qua có người thân đang yên nghỉ tại nghĩa trang đó. Nếu kế hoạch của anh được thực thi, có phải anh sẽ thay mặt nhiều bà con không thể hồi hương góp công sức hương khói cho thân nhân của mình không? Tuy chưa làm được, nhưng tấm lòng của anh Hùng rất đáng ghi nhận.

Bức tường than khóc và dân oan

Trong lúc ấy thì Quốc hội Việt Nam họp.

Lấy điển tích lịch sử bức tường than khóc tại Do Thái, blogger Cánh Cò viết:

Ở Việt Nam cũng có một bức tường than khóc như thế.

Mỗi năm một lần bức tường than khóc xuất hiện tại Quốc hội qua hình ảnh của 500 ông bà đại biểu như những viên gạch được người dân gửi tới nằm chồng lên nhau. Những viên gạch lằng nghe sự than khóc của những ông Bộ trưởng qua các báo cáo, chất vấn và những câu trả lời “nhận khuyết điểm” như tiếng than khóc của những đứa bé chưa trưởng thành được giao cho vai trò ngồi trên đầu thiên hạ.

Bức tường ấy đôi khi cũng giận dữ hay phê phán với một chừng mực nhất định để rồi cuối cùng nhận tấm giấy “hứa” nhét vào khe hở vốn toang hoác vì trơ trẽn.

Bức tường than khóc năm nay bị quá tải. Quá tải bởi sự than khóc của các Bộ trường trở nên đông đúc và khôi hài hơn.

Mỗi năm một lần bức tường than khóc xuất hiện tại Quốc hội qua hình ảnh của 500 ông bà đại biểu như những viên gạch được người dân gửi tới nằm chồng lên nhau.
-Blogger Cánh Cò

Nói theo cách của blogger Cánh Cò, thì năm nay, những lời than khóc đáng được chú ý hơn cả là của các ông Bộ trưởng Công thương, Giáo dục. Ông Bộ trưởng Công thương phải giải trình việc cựu nhân viên của Bộ này bị truy tố tham nhũng và trốn ra nước ngoài mất tích. Vị Bộ trưởng Giáo dục lại gây giận dữ cho cả truyền thông tự do lẫn truyền thông nhà nước, khi bảo vệ cho một số quan chức ngành giáo dục trong vụ bê bối điều giáo viên nữ tiếp quan chức cấp trên.

Bên ngoài Việt Nam, các tổ chức nhân quyền trao giải thưởng cho hai nông dân bị mất đất vì sự hy sinh của họ trong việc mưu tìm công lý.

Một số người lên tiếng chỉ trích rằng những người nông dân này chỉ hành động cho riêng lợi ích bản thân của họ, không phải là công việc dân chủ hóa nói chung.

Nhiều blogger không đồng tình với những chỉ trích này.

Lin mục Phan Văn Lợi, một người đấu tranh cho tự do tôn giáo viết:

Dân oan khi tranh đấu đòi lại đất chính là đánh vào nguyên tắc mang tính chất và hậu quả chính trị: “Nhà nước sở hữu đất đai” hết sức vô lý và phi pháp, khiến mọi người ý thức rằng đó là một nguyên tắc không thể chấp nhận.

Giải Nhân quyền Việt Nam trao cho bà Cấn Thị Thêu và bà Trần Ngọc Anh năm nay là lời công nhận phong trào dân oan đấu tranh đòi đất chính là đòi nhân quyền, và qua nhiều hành động khác, họ là một lực lượng đấu tranh nhân quyền rất đáng khâm phục và rất đáng được hỗ trợ. Đừng cho rằng đó là lợi dụng họ, là xúi bẫy họ kiểu “xịt chó vô gai”, là đẩy họ vào trò chính trị nguy hiểm! Không có những lực lượng quần chúng như nông dân, công nhân, ngư dân, tín đồ, thì những “bộ óc dân chủ” thông minh cũng chẳng làm gì được.

Một người tên là Nguyễn Thị Bích Nga viết trên mạng xã hội:

Các vị bảo, “Dân oan chỉ đấu tranh cho quyền lợi của chính mình.” Vâng, rất đúng. Và đó là cách đấu tranh đúng. Con người có các nhu cầu chính đáng và các nhu cầu đó cần được tôn trọng như: quyền được sống, được tự do thể hiện chính kiến, tự do tín ngưỡng, có quyền tư hữu, quyền bất khả xâm phạm thân thể… Khi một trong các nhu cầu này bị xâm phạm bởi tập đoàn độc tài, họ lên tiếng đấu tranh cho chính mình thì có gì sai? Các vị cho rằng phải đấu tranh cho người khác thì mới cao cả còn đấu tranh cho chính mình là thấp kém? Đó là một nhận định hết sức sai lầm và vô hình trung làm chia rẽ lực lượng đấu tranh ra làm hai thành phần.

Nhiều blogger cũng như những gương mặt đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam cho rằng sự chia rẽ đó là có thật.

Blogger Viết từ Sài Gòn so sánh lực lượng những người hoạt động cho dân chủ với những người cộng sản đang cai trị đất nước:

Hiện tại đã có hơn 60 tổ chức và đảng phái hoạt động công khai, bán công khai và manh nha hình thành. Nhưng có một thực tế: Không có đảng nào hội tụ được chừng 5 triệu đảng viên. Rất khó tìm ra một đảng phái có đủ ma lực để thu hút hàng trăm triệu người dân. Mặc dù người dân vẫn nhìn thấy cái sai của đảng Cộng sản, vẫn nhìn thấy sự gian ác, tham lam và dối trả của họ. Nhưng ma lực của họ vẫn mạnh nhất. Đây là sự thật không thể chối bỏ. Không phải vì nhân dân ngu ngốc, mà vì ma lực của các đảng phái, tổ chức chưa đủ mạnh, phải nhìn thẳng vào sự thật này.

Đây là một thực tế. Đảng Cộng sản, qua 41 năm nắm quyền bính và dày vò đất nước này, họ có trong tay một hệ thống quân đội, nhà nước, công an, ngân hàng, bệnh viện, phương tiện tuyên truyền và đặc biệt là tài nguyên con người và tài nguyên đất đai, họ đã dùng chính sách mị dân “sở hữu toàn dân, nhà nước quản lý” để nắm toàn bộ.

Luật sư Lê Công Định, người từng bị chính quyền cộng sản bỏ tù vì những tư tưởng cải cách chính trị của ông cũng kêu gọi mọi người phải nhìn nhận một thực tế là vai trò của đảng cộng sản vẫn rất mạnh trong xã hội Việt Nam hiện tại:

Dù bị mọi người chỉ trích vì các chính sách trong quá khứ và hiện tại, thú thật Đảng Cộng sản vẫn là tổ chức hùng mạnh nhất. Do đó, để giải quyết các vấn nạn của xã hội ngày nay, vai trò của họ vẫn còn rất quan trọng. Đây là sự thật không thể bác bỏ.

Viết về sự không đồng nhất trong những người đối kháng tại Việt Nam, blogger Đoan Trang cho rằng:

Viết những dòng này, tôi chỉ mong những người Việt Nam trong và ngoài nước, nếu quan tâm đến công cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam, xin đừng ảo tưởng rằng cứ hễ là nhà hoạt động thì là người tốt, đáng tin cậy.

Cũng xin đừng thất vọng tổng kết, khái quát chung rằng toàn bộ phong trào dân chủ chỉ gồm những người coi “đấu tranh này là trận kiếm tiền”.

Và nhất là, hãy cứ tin dân chủ, tự do là những giá trị tốt đẹp phổ quát, mà hàng chục, hàng trăm hay thậm chí hàng nghìn cá nhân xấu cũng không đại diện cho chúng được.

Những giá trị phổ quát mà blogger Đoan Trang đề cập, ngày càng thấm sâu vào xã hội Việt Nam hiện đại hơn, khi những người dân bình thường nhất đã xuống đường bảo vệ môi trường, và gần đây nhất là nhiều công dân trẻ tại Sài Gòn thể hiện sự phản kháng của mình bằng cách kéo những con cá bằng giấy trên đường phố, một hành động mà blogger Điền Phương Thảo viết trên trang Tin mừng cho người nghèo rằng người dân đã hiểu những việc làm chính đáng và đã vượt qua nổi sợ bị chụp mũ là làm chính trị. Vì chỉ có làm chính trị như thế, blogger Điền Phương Thảo viết tiếp, mới kéo đất nước này ra khỏi những vũng lầy, mà thảm họa Formosa chỉ là một.

VĨNH BIỆT NHÀ ĐỘC TÀI FIDEL CASTRO

Image may contain: 3 people

Ảnh : chủ tịch nước Trần Đại Quang mới yết kiến Fidel Castro vài ngày thì nhà độc tài lăn ra chết ( 1926-2016)

Tran Manh Hao Follow

VĨNH BIỆT NHÀ ĐỘC TÀI FIDEL CASTRO

Thơ Trần Mạnh Hảo

( Đề dẫn : người vợ đầu tiên của Fidel Castro là bà Mirta Diaz Balart bỏ trốn sang Mỹ lưu vong vì không chịu được chế độ độc tài tàn bạo của chồng; ngày 19/12/1993, con gái Fidel Castro là cô Alina Fernandez Revuelta cũng trốn sang Mỹ định cư từ bỏ địa ngục trá hình thiên đường Cuba của cha mình. Vợ và con Fidel Castro luôn đi đầu trong các cuộc biểu tình chống Fidel của dân Cuba lưu vong tại Mỹ)

Cả hòn đảo bị tù
Vợ con Ngài bỏ trốn
Dùng học thuyết đại ngu
Nhốt dân vào nguy khốn

Vĩnh biệt nhà độc tài
Nhân dân mừng khôn xiết
Chủ nghĩa của các Ngài
Cũng đã về cõi chết !

Sài Gòn 27-11-2016

T.M.H.

httpv://www.youtube.com/watch?v=KxgN91FrY5I

Hàng trăm người Cuba lưu vong ăn mừng trước cái chết của Fidel Castro ở Florida

Chính Đảng Hay Băng Đảng?

Chính Đảng Hay Băng Đảng?

 Tạp Ghi Huy Phương

 bang-dang

Đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam tham dự đại hội lần thứ 12. (Hình: KHAM./AFP/Getty Images)

Ngày 13 Tháng Mười, Ngoại Trưởng John Kerry đến vùng Silicon Valley của California tham dự một cuộc hội thảo bàn tròn về an ninh cũng như vai trò của Internet đã và đang làm thay đổi thế giới, do tổ chức Virtuous Circle mời ông làm diễn giả. Tại đây, trong bài diễn văn, ông Kerry cho rằng tại Việt Nam hiện nay, không còn chủ nghĩa Cộng Sản, mà đó chỉ là một xứ độc tài đảng trị nhưng theo đuổi chủ nghĩa tư bản “cuồng nhiệt.”

Ông John Kerry nói trong buổi hội luận này như thế và cho rằng Việt Nam hiện chỉ là một nước hăm hở đuổi theo tư bản chủ nghĩa mà trong đó người dân tiếp cận được với Internet. Ông Kerry nhìn nhận rằng nước Việt Nam “theo thời gian, đang có dấu hiệu thay đổi,” nhưng bây giờ vẫn còn là “một nước độc tài độc đảng và vẫn còn đàn áp nhân quyền bên cạnh những vấn đề khác.” Ông cũng nói thêm: “Cộng Sản là một lý thuyết kinh tế, và bạn không thấy một chút hơi thở nào của chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam.”

Đảng Cộng Sản Việt Nam là đảng cầm quyền tại Việt Nam hiện nay đồng thời là chính đảng duy nhất được phép hoạt động trên đất nước Việt Nam. Theo cương lĩnh và điều lệ chính thức được công bố hiện nay, đảng Cộng Sản Việt Nam là “đại biểu trung thành” của liên minh giai cấp công nhân, nông dân và lấy chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của đảng.

Bề ngoài, đảng Cộng Sản là một chính đảng, nhưng thực chất hiện nay là một băng đảng có phân chia ngôi thứ, cấu kết khắng khít với nhau vì quyền lợi.
Nói đến “chủ nghĩa” và “tư tưởng” thì liệu rằng 4.5 triệu đảng viên, 200 ủy viên trung ương, và 19 ủy viên Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay có tin rằng chủ nghĩa Cộng Sản đem lại no ấm cho nhân loại, Hồ Chí Minh là vị cứu tinh của dân tộc Việt Nam hay không? Tôi tin rằng tất cả đều không, nhưng những người này vẫn giả vờ dối trá với nhau, dối trá với cả nước, dối cả với mình, dối với vợ con, để giả vờ tin đảng. Không ai dám nói thật với ai, để vin vào sự gắn bó keo sơn vì quyền lợi thiết thân của họ. Đảng không còn thì số đông quyền lực này không còn gì để bám víu vào nhau như bầy nghêu, hà bám vào ghềnh đá.

Trong hội trường, dinh cơ, những người Cộng Sản hôm nay vẫn còn treo cờ búa liềm, hình Lenin, hình Karl Mark, và hình tượng Hồ Chí Minh, như thể họ tôn sùng và tin tưởng vào những hình ảnh ấy. Thực tế là không! Họ tự dối mình, với lương tâm mình, giả dối với đồng chí và quần chúng chung quanh mình, để có địa vị và được sống còn. Không ai có thể nói khác, cười khác đi, mà không theo đường lối đã quy định của đảng.

Họ cam phận hèn khi biết mình bị dối trá, bản thân mình cũng dối trá và cư xử với người khác cũng dối trá, y như Alexander Solzhenitsyn đã lên án: “Mình thà ở lại đàn làm một thằng hèn. Sao cũng được, miễn no bụng ấm lưng thì thôi…”

Nhưng dư luận gần đây cũng đã nêu lên câu hỏi: Chống Cộng? Bây giờ làm gì còn Cộng Sản mà chống? Không còn Cộng Sản để chống, nhưng phải chống lại với băng đảng và cái ác đang thống trị đất nước.

Băng đảng có cơ chế và qui luật của băng đảng, nhất là chuyện chia chác quyền lợi. Sau một vụ cướp nhà băng, việc đầu tiên của bọn cướp là kiếm chỗ để tụ họp chia tiền. Ngày xưa Việt Minh đi đánh đồn Tây, hay phục kích “con voi, “chiếm được đồn hay chiếm được xe là có gạo, có đường, có bơ, có thịt hộp, ai cũng hăng hái. Đánh thắng miền Nam, chiến lợi phẩm đầu tiên là 16 tấn vàng, trả nợ máu xương hay Bộ Chính Trị chia chác, bấu véo với nhau thì đã rõ. Rồi sau đó cơ man là gạo, đường, bột mì, sắt thép, xi măng, đồ điện khí, xe cộ, từ cái quạt máy, chiếc đồng hồ cho đến cái TV, bom đạn, máy bay, xe tăng… gấp triệu lần một lần đánh đồn Tây.

Đất nước “thu về một mối,” có quyền lực trong tay rồi, thì nhân dân, tài năng mà không có đảng, không ở trong băng đảng phải lo tìm đường bỏ nước ra đi. Tài năng của đất nước, chuyên viên cấp cao được đào tạo từ nước ngoài, trừ Liên Xô, không ai dùng. Chúng ta nhìn xem chuyện chia chác quyền lực của đảng Cộng Sản Việt Nam ra sao?

Theo cơ cấu của đảng, 19 ủy viên Bộ Chính Trị, đương nhiên nắm giữ tất cả những cương vị chủ chốt trong đảng và nhất là trong bộ máy chính quyền: Chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch Quốc Hội, phó thủ tướng thường trực, bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, bộ trưởng Bộ Công An, bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, những người này được gọi là “các cán bộ chủ chốt của đảng và nhà nước.”

Hai trăm ủy viên trung ương đảng nắm giữ tất cả vị trí then chốt của quốc gia, không ai ngoài đảng được lọt vào như bí thư tỉnh, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành, các bộ trưởng, thứ trưởng trong chính phủ, các tướng lãnh tư lệnh các binh chủng, các quân khu cho đến các ngành quan trọng của quốc gia như các đại học quốc gia, công ty hàng không, ngân hàng, đài truyền hình, thông tấn xã, viện kiểm sát nhân dân…

Việt Nam hiện nay có 4.5 triệu đảng viên Cộng Sản thì được phân phối, chia nhau trong các lãnh vực công quyền, từ chức giám đốc, trưởng ty, trưởng, phó phòng cho đến anh công an đứng đường thổi còi phạt mang đến cấp bậc trung tá, không một con muỗi ngoài đảng nào lọt được vào trong lưới quyền lực. Ai cũng có đặc quyền, đặc lợi, nên ai cũng ôm đảng và giữ đảng cho đến chết.

Đại hội đảng Cộng Sản lần thứ 11 năm 2011 chỉ có 3.6 triệu đảng viên, sang đến đại hội 12 năm 2016, số đảng viên tăng lên tới 4.5 triệu, rõ ràng là đảng có chủ trương lấy thịt đè người, tăng nhân sự, thêm vây cánh, thêm quyền lợi để giữ đảng.

Ali Baba chỉ có vây cánh là 40 tên cướp. Đảng nay có đến 4.5 triệu tên cướp. Câu thần chú của Ali để mở và đóng cửa hang động chứa kho tàng là: “Vừng ơi! Mở ra!” và “Vừng ơi! Đóng lại,” nay câu thần chú của đảng là: “Chủ nghĩa Mác- Lenin bách chiến bách thắng” và câu kinh nhật tụng là: “Hồ chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!”

Xin nhắc lại câu nói của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry, có thể là một câu nói để đời: “Tại Việt Nam hiện nay, không còn chủ nghĩa Cộng Sản, mà đó chỉ là một xứ độc tài đảng trị nhưng theo đuổi chủ nghĩa tư bản ‘cuồng nhiệt.’”

Hiện nay chính đảng không còn, mà chỉ còn là băng đảng!

Huy Phương