. BÀN VỀ MỘT SỐ THẤT BẠI VỀ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

. BÀN VỀ MỘT SỐ THẤT BẠI VỀ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

Nguyễn Đình Cống

5-11-2016

Đối ngoại và đối nội không phải chỉ là hoạt động của Quốc gia mà là của mọi tổ chức, mọi gia đình, mọi con người. Có 2 loại người với xu hướng khác nhau, hướng nội và hướng ngoại. Thông thường người hướng nội quan tâm nhiều đến đối nội, người hướng ngoại thích thú với đối ngoại hơn. Nhưng hướng về một phía nhiều quá sẽ thành cực đoan, không tốt. Vấn đề là giữ được quan hệ, giữ được cân bằng giữa hai lĩnh vực này.

Ngẫm nghĩ cho kỹ thấy rằng đối nội là gốc gác, cách gì cũng phải có. Vì vậy đối ngoại phải xuất phát từ đối nội và phục vụ cho đối nội. Trong hai việc, nếu bắt buộc phải ưu tiên cho một việc thì người khôn ngoan sẽ chọn đối nội, phải làm tốt đối nội mới có cơ sở vững chắc để đối ngoại. Ngược lại những người mắc “bệnh sĩ” sẽ chọn đối ngoại. Họ quá xem trọng hình thức và lời khen chê của mọi người, cố làm ra vẻ ta đây sang trọng, giỏi giang. Ca dao VN có bài nhận xét về loại người này: “Ra đường võng giá nghênh ngang/ Về nhà hỏi vợ cám rang đâu mày…”.

Bệnh sĩ của một con người đã tai hại, bệnh sĩ của một dân tộc, một đất nước càng tệ hại hơn. Nhưng nói bệnh sĩ của dân tộc có lẽ không đúng mà là của những người lãnh đạo, quản lý rồi lây lan ra trong xã hội. Khi đối nội chưa được tốt mà muốn khuếch trương đối ngoại để được nhiều tiếng khen thì buộc lòng phải tìm cách che giấu những thói hư tật xấu, che giấu những tệ nạn gặp phải. Như thế là phạm vào tội dối trá.

Các nước đều rất quan tâm đến ngoại giao. Tuy vậy cũng có một số nước ít quan tâm, họ chú trọng nhiều hơn đến đối nội. Bhutan là một trong những nước như vậy. Ở đó nhân dân được hưởng nền tự do, hạnh phúc vào loại bậc nhất của Châu Á và Thế giới, nhưng trong nhiều năm trước đây (và ngay cả bây giờ) Bhutan có rất ít quan hệ ngoại giao với các nước, đặc biệt không quan hệ với Trung Quốc, mặc dầu 2 nước có biên giới chung khá dài.

Trong hơn 70 năm qua, đối ngoại của Chính phủ Việt Nam có nhiều thành tích tốt đẹp và cũng phạm phải nhiều sai lầm, thất bại. Thành tích đã được nói và viết nhiều, tôi không phủ nhận, chỉ xin không viết lại. Vì là ý kiến phản biện nên chỉ viết về một số việc được cho là thất bại hoặc sai lầm. Không biết trong các tài liệu mật Chính phủ có tổng kết về chúng hay không, còn công khai không thấy nói đến, hoặc chỉ nói chung chung. Tôi chỉ muốn kể ra và phân tích một vài điều để ai cần thì rút ra bài học và kinh nghiệm.Tôi không làm trong ngành ngoại giao, những điều tôi kể ra chỉ được thu thập từ thông tin đại chúng.

Thất bại buổi đầu. Trong thời gian dài trên 5 năm, sau 1945, không có nước nào hưởng ứng lời kêu gọi trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”. Tiếp theo là sự im lặng của Tổng thống Mỹ khi nhận những bức thư cầu xin, mặc dầu Chủ tịch Hồ đã tìm mọi cách ca ngợi Mỹ, trông chờ vào Mỹ. Tại sao vậy ?. Chính nghĩa, thiện chí, thông minh của chúng ta để ở đâu mà bên ngoài nhìn vào người ta không thấy, không công nhận. Phải chăng là tại sự chống phá của các thế lực thù địch và phản động. Tôi nghĩ rằng sự chống phá cũng có nhưng cơ bản nhất là tại Đảng Cộng sản phạm sai lầm trong việc tuyên bố tự giải tán rồi rút vào hoạt động bí mật. Đó là một mưu đồ lừa dối thiên hạ. Đó là sản phẩm của những đầu óc kém trí tuệ, chỉ quen dùng mưu mẹo trong những việc như đánh du kích và cướp của, cướp quyền. Người ta thừa biết anh dối trá, lừa gạt thì làm sao người ta công nhận anh được, làm sao người ta giúp anh được.

Hiệp ước với Pháp. Sai lầm tiếp theo là không tạm nhường Nam Bộ cho Pháp vào năm 1946.Việc này được cho là ý chí kiên quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, được nhiều người ca ngợi. Theo Hiệp ước Nhà Nguyễn ký với Pháp thì Nam kỳ là nhượng địa chứ không phải thuộc địa hoặc bảo hộ. Tháng 7/ 1945 Chính phủ Trần Trọng Kim thu hồi, tháng 9/ 1945 Pháp đòi lại, ta không chịu trả mới xẩy ra Nam bộ kháng chiến. Nếu khôn ngoan ra, tạm nhường vài năm rồi cũng sẽ thu hồi được. Vụ cố giữ cho được đất Nam kỳ là thuộc loại “Tham bát bỏ mâm “vì phải kháng chiến 9 năm và mất 20 năm chia cắt với không biết bao nhiêu xương máu và thù hận để thống nhất. Cuối cùng thống nhất được lãnh thổ trong sự chia rẽ dân tộc, cái giá phải trả quá đắt.

Hiệp định Genève. Hiệp định chia cắt đất nước ở vĩ tuyến 17. Nghe kể rằng Phạm Văn Đồng phải lau nước mắt khi ký. Chúng ta tính rằng nếu phải tạm thời chia cắt thì ranh giới ở vĩ tuyến 14. Nếu đấu tranh quá căng mà phải lùi thì cũng không thể đến vĩ tuyến 16. Nhưng rồi bị sức ép của Chu Ân Lai mà Phạm Văn Đồng ngậm đắng nuốt cay chấp nhận vĩ tuyến 17. Đây là do kết hợp giữa 2 yếu tố: sự đểu cáng của Chu và sự hèn yếu của Phạm. Nếu so với những sứ thần của VN trong lịch sử như Giang Văn Minh, Mạc Đĩnh Chi, Đỗ Khắc Chung, Lê Quý Đôn, Phùng Khắc Khoan… thì Phạm Văn Đồng kém xa. Ông Đồng kém vì thiếu dũng khí trước Chu Ân Lai và Môlôtôp, và cũng tại vì Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản VN mắc nợ người ta quá nhiều, chịu lệ thuộc quá nhiều. Phải làm theo lệnh nước ngoài thì có khác gì chính phủ bù nhìn.

Đuổi đại sứ Mỹ. Sai lầm ngoại giao một cách ngờ nghệch mà tưởng là anh dũng và thông minh là việc đuổi đại sứ Mỹ ở Sài gòn ngày 30/4/1975 bỏ chạy bằng máy bay trực thăng. Khi quân giải phóng tiến vào Sài gòn ngày 30 tháng 4, Đại sứ Bân cơ cho nhân viên ra đi trước, còn mình ở lại đến phút cuối cùng. Ông ta chờ một lời mời ở lại. Lời mời đó đã không có để rồi VN phải mất 20 năm, chịu không biết bao nhiêu sự cấm vận, cực khổ mới nối lại được. Đó là sai lầm của những người thừa kiêu ngạo mà thiếu trí tuệ.

Hội nghị Thành Đô. Sai lầm nguy hiểm là Hội nghị Thành Đô 1990. Ba nhân vật chủ chốt hồi đó là Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười thay mặt Đảng Cộng sản và Nhà nước VN đã cúi đầu nhận thần phục Trung cộng. Theo Nguyễn Cơ Thạch (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hồi đó) thì với hội nghị này VN sắp bước vào thời kỳ Bắc thuộc mới đầy nguy hiểm. Đó là hành động ngoại giao đầu hàng.

Thuật đu dây. Hiện nay nhiều người cho rằng VN đang thực hiện thuật đu dây giữa Mỹ và Trung Quốc. Người này cho là đúng, là hay, ngươì khác lại phê là sai, là dở. Xem qua lịch sử vài ngàn năm của các nước thấy rằng, đã có những nước giữ được ổn định và phát triển nhờ thuật này, nhưng cũng nhiều nước vì đu dây mà lâm vào cảnh lên bờ xuống ruộng, đẩy nhân dân vào cảnh lầm than. Nước Trịnh thời Xuân Thu (Đông Chu Liệt Quốc) là một thí dụ. Để sử dụng có hiệu quả thuật đu dây cần phải có một số điều kiện. Thế mà theo tôi VN đang thiếu các điều kiện đó.

Tạm kể một vài sai lầm và thất bại điển hình, còn có thể kể ra nhiều nữa, nhưng tạm dừng để bàn thêm chuyện khác.

Điều quan trọng trong ngoại giao (cũng như trong các quan hệ khác) là phải biết mình, biết người, phải tôn trọng phương châm đối ngoại trên cơ sở của đối nội và phục vụ cho đối nội, đối với các nước bạn bè phải trung thực, chân thành, hạn chế đến xóa bỏ bệnh sĩ.

Về biết mình. Trong nhiều năm chúng ta tự đánh giá quá cao, như là lãnh đạo vô cùng sáng suốt, nhân dân vô cùng anh hùng, rồi tự huyễn hoặc, tự vẽ phấn tô son. Biết đâu rằng thực chất trong nhiều năm, VN chỉ là anh lính xung kích của phong trào cộng sản, mà cụ thể là nằm dưới sự điều khiển của Trung Quốc.

Tự hào là một nước nhỏ mà đánh thắng 2 đế quốc lớn. Thực ra có phải như thế đâu. Trong chiến tranh ta chỉ là anh lính xung kích, đánh Mỹ thay cho Liên Xô và Trung Quốc. Ta bắn rơi được vài ngàn máy bay Mỹ, giết được vài vạn lính Mỹ thì ngược lại Mỹ cũng gây ra cho ta những thiệt hại nặng nề hơn về của và người. Ta nói Mỹ vào xâm lược VN, ta đã đánh thắng và đuổi đi. Mỹ nói họ vào để ngăn chặn tên lính xung kích của cộng sản Trung Quốc lan xuống vùng Đông Nam Á. Nhận thấy rằng bằng một vài cách khác ngăn chặn được rồi, đạt mục đích rồi thì họ rút ra, họ không có mục đích xâm lược, họ muốn vào thì vào, muốn ra thì ra. Trong khi ta đem lực lượng không những của toàn quốc mà còn có một phần của Trung Quốc và Liên Xô để đánh nhau với một đội quân vài vạn người, chỉ gồm một phần nhỏ của quân đội Mỹ mà cho rằng đánh thắng đế quốc Mỹ thì quả thật đã huyênh hoang một tấc đến trời.

Cho rằng đã đánh thắng được Pháp và Mỹ thì rồi việc gì ta cũng làm được là một lập luận vô cùng sai trái, thế mà người ta cứ tuyên truyền mãi. Đến thời kỳ xây dựng trong hòa bình mới lộ rõ mọi sự yếu kém và sai lầm. Nhưng đã lỡ mồm khoác lác về tài năng, về sáng suốt. Đâm lao phải theo lao, phải tiếp tục tuyên truyền ta khôn, ta giỏi.

Về biết người. Trong chiến tranh với Mỹ nhân dân thế giới thương hại nhân dân VN, ủng hộ, cứu trợ cho nhân dân chứ họ chẳng yêu quý gì thể chế cộng sản mà nhà nước theo đuổi. Và họ thương hại chứ không nể trọng. Nếu có cảm phục thì chỉ cảm phục trong thời gian ngắn về đức tính chịu hy sinh gian khổ trong chiến tranh, còn trong việc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền thì họ coi thường, coi khinh. Với nạn thuyền nhân thì họ càng kinh ngạc và phẫn nộ. Ngày nay một số không ít người Việt ra nước ngoài bị nhiều người sở tại cảnh giác, xem là bọn ăn cắp và gây rối.

Với các quốc gia, chúng ta có quan hệ ngoại giao với rất nhiều nước, ký nhiều hiệp định hợp tác toàn diện và chiến lược, nhận được một số viện trợ ODA, nhưng thử hỏi có nước nào thân thiết với ta như kiểu quan hệ giữa Mỹ với Nhật hoặc với Nam Hàn. Mang tiếng có nhiều bạn nhưng khi mà bị mắc kẹt vào ý thức hệ cộng sản thì không thể nào có bạn thân thiết trong những nước theo chế độ dân chủ. Họ đi lại, quan hệ với ta chỉ là theo hình thức ngoại giao.

Quan trọng là ta đã biết Mỹ và Trung Quốc đến đâu. Với Mỹ, từ trước 1945 Hồ Chí Minh rất muốn thân thiện. Vì kiên trì cộng sản và dối trá mà không nhận được giúp đỡ, chúng ta bị Mao Trạch Đông lừa gạt mà nhận định sai về họ, xem là kẻ thù không đội trời chung. Bây giờ tuy đã có thay đổi nhiều nhưng vẫn chưa đạt được như mong muốn. Với Trung Quốc, quan hệ trong lịch sử là khá phức tạp giữa phụ thuộc, bạn, thù. Ngày nay đa số nhân dân xem Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp với tham vọng bá quyền, muốn thôn tính Việt Nam; nhưng lãnh đạo nhà nước lại chịu khuất phục, chịu lệ thuộc và đàn áp những người dân chống Trung Quốc. Đây là một mâu thuẫn quá nặng nề, làm hủy hoại sự thống nhất ý chí dân tộc.

Về đối nội. Quan trọng và cơ bản nhất của đối nội là giải quyết mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân, nó gồm cả 2 mặt: hợp tác và đấu tranh xử lý mâu thuẫn. Về vấn đề này ở Việt nam có nhiều quan điểm khác lạ với rất nhiều nước dân chủ. Với một hệ thống 3 tầng (đảng, chính quyền, mặt trận) chồng chéo, dẫm đạp lên nhau, sự quản lý nhà nước của VN thuộc loại tồi tệ, kém hiệu quả, lãng phí vào loại bậc nhất thế giới. Chính quyền tồn tại nhờ vào 2 thế lực chính, công an và tuyên truyền, nhưng lại bất lực trước nhiều tai họa của xã hội, của môi trường. Mấu chốt nhất là lãnh đạo vẫn kiên trì con đường Mác Lê XHCN, họ cho rằng đó là nguyện vọng của toàn dân, trong lúc dân chẳng được hỏi ý kiến.

Phân tích qua như vậy để thấy đối ngoại của VN không hoàn toàn tuân theo nguyên tắc xuất phát từ đối nội và quay về phục vụ cho đối nội.

Về bệnh sĩ. Đây là loại bệnh không gây chết người, lại làm cho người ta sung sướng, tự hào trong chốc lát, nhưng mang lại tai họa trong bản chất và lâu dài. Có lẽ người Việt mắc bệnh sĩ thuộc hạng nặng nhất thế giới. Bệnh này có nguồn gốc từ trong những yếu kém của nền văn hóa dân tộc, gặp được môi trường thuận lới là đường lối tuyên truyền của cộng sản mà nó phát triển nhanh chóng, rộng khắp.

Trong nước bệnh sĩ biến tướng ra bệnh thành tích dỏm, là việc chạy khen thưởng, huân chương, danh hiệu anh hùng, danh hiệu gia đình và đơn vị văn hóa, nông thôn mới, bằng cấp dỏm các loại v.v…

Ra nước ngoài, hễ thế giới có cuộc thi gì thì Việt Nam cố chọn vài người, tập trung huấn luyện, bồi dưỡng thật lực, không kể tốn kém, đi thi mà kiếm lấy huân chương, để khoe khoang là chủ yếu, chẳng cần đại diện cho một cơ sở nào, còn tình trạng lạc hậu của các nghành nghề thì mặc kệ trời đất. Thì đấy, năng suất lao động thuộc loại thấp nhất mà thợ đi thi tay nghề đạt huy chương vàng, giỏi nhất khu vực; giáo dục xuống cấp trầm trọng mà học sinh thi thế giới môn nào cũng được vài huy chương vàng bạc.

Hễ thế giới có Công ước gì mới thì VN là một trong những nước ký đầu tiên. Ký xong, tuyên truyền xong rồi để đó, không cần thực hiện. Có được các di sản vật thể và đặc biệt là phi vật thể nào thì cố mà chạy để UNESCO công nhận. Một số điệu hò, điệu hát thi nhau chạy, theo kiểu “con gà tức nhau tiếng gáy”. Cái điệu hát A ở vùng kia được rồi thì điệu hò B của vùng ta tốn bao nhiêu cũng cố mà chạy cho được chứ. Phải chi tiêu khá tốn kém để chạy được rồi, tổ chức ăn mừng rồi, xong thì để đó, chẳng dùng làm gì, chẳng mấy ai nhớ tới, chỉ là để thỏa bệnh sĩ trong thời gian ngắn.

Ở Liên hiệp quốc, có cơ quan gì thì ta cố chạy, cố vận động các nước ủng hộ để vào cho được. Vào được Hội đồng nhân quyền trong khi nhân quyền trong nước bị nhiều nơi lên án. Vào được Hội đồng bảo an trong lúc đất đai và biển đảo mất dần vào tay bọn bành trướng Trung cộng. Vào được Ủy ban luật pháp trong khi những bản án oan sai và bị tẩy chay ngày càng nhiều. Như vậy phải chăng vào các co quan của Liên hiệp quốc là chỉ để thỏa mãn bệnh sĩ.

Rồi rất nhiều đoàn cấp cao tấp nập đi lại thăm nhau. Trong việc thăm này cái lợi cho những người tham gia, sự tốn kém của công quỹ là rõ ràng, còn Quốc gia, nhân dân được gì không, hiệu quả như thế nào thì chưa thấy ai khảo sát và tổng kết.

Vài lời chốt lại. Cứ nghe báo cáo và tuyên truyền một chiều thì mọi người tưởng nhầm là thành tích và tài năng đối ngoại của chúng ta trong hơn 70 năm qua thuộc loại nhất nhì thế giới và rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc. Viết ra vài điều phản biện, lật lại để xem mặt trái của tấm huân chương, may ra có thể cung cấp được vài thông tin và ý kiến cho những người tử tế, còn có lương tri để tránh bớt nhầm lẫn, chỉ biết nghe tuyên truyền một chiều.

Hầu hết khiếu nại tố cáo liên quan đến tranh chấp đất đai

Hầu hết khiếu nại tố cáo liên quan đến tranh chấp đất đai

RFA

Hiện trường một vụ cưỡng chế đất.

Hiện trường một vụ cưỡng chế đất.

File photo

Phần lớn đơn thư khiếu nại, tố cáo của người dân là liên quan đến thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư. Theo báo cáo tổng kết 4 năm thi hành Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tại hội nghị tổng kết 4 năm thi hành Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo tố chức hôm 4 tháng 11, chính quyền TP.HCM cho biết: “Trong thời gian qua, hầu hết đơn thư khiếu nại, tố cáo ở thành phố chủ yếu liên quan đến quy hoạch, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất để thực hiện các dự án. Ngoài ra cũng có nhiều phản ứng của người dân về việc bao che, vòi vĩnh, nhũng nhiễu của các cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính.”

Báo Pháp Luật trích dẫn bản báo cáo tổng kết cho thấy, sau bốn năm thực hiện Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo, UBND thành phố đã nhận được hơn 20.000 đơn khiếu nại, gần 4.000 đơn tố cáo.

Phát biểu tại buổi khai mạc hội nghị, Phó chủ tịch UBND TP.HCM, ông Huỳnh Cách Mạng nhìn nhận rằng mặc dù đã có sự nỗ lực của các cấp nhưng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tại một số quận-huyện còn hạn chế, việc áp dụng pháp luật khi giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa đúng và đầy đủ.

Ông Phó chủ tịch thành phố yêu cầu lãnh đạo các sở, ban ngành, địa phương phải chủ động kiểm tra, tăng cường công tác tiếp công dân, hạn chế tối đa tình trạng đơn giải quyết tồn đọng, khiếu nại kéo dài, và khiếu nại vượt cấp

Bệnh nấm gây chết người lần đầu xuất hiện ở Mỹ

Bệnh nấm gây chết người lần đầu xuất hiện ở Mỹ

Nguoi-viet.com

Các giới chức y tế Hoa Kỳ đang rất lo ngại về loại dịch bệnh mới này. (Hình minh họa: Getty Images)

WASHINGTON (NV) – Một loại bệnh nấm hiếm thấy và rất nguy hiểm đã lần đầu tiên thấy xuất hiện ở Mỹ, theo một bản báo cáo do Cơ Quan Phòng Chống Dịch Bệnh Mỹ (CDC) vừa đưa ra.

Bản tin của đài ABC News nói rằng có ít nhất 13 ca bệnh nhiễm trùng men nấm, gọi là Canida auris (C.auris) đã được báo cáo ở Mỹ. Bảy ca đầu tiên của bệnh này được xem xét trong cuộc điều tra của CDC, đăng tải trong tạp chí hàng tuần của cơ quan này, có tên Morbidity and Mortality Weekly Report.

Nhiễm trùng men nấm C.auris nguy hiểm vì thường có khả năng chống lại các loại thuốc dùng đối phó với loại nhiễm trùng nấm và cũng khó để nhận ra, theo CDC.

Bệnh này lần đầu tiên thấy xuất hiện ở Nhật trên thân một bệnh nhân vào năm 2009. Kể từ đó đến nay, có thêm một số quốc gia thấy xuất hiện bệnh này, gồm cả Colombia, Ấn Độ, Nam Hàn và Anh.

Bác Sĩ William Schaffner, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm ở đại học Vanderbilt University, nói rằng các trường hợp nhiễm trước đây ở các quốc gia khác đang làm giới chức y tế ở Mỹ lo ngại.

“Chúng tôi rất quan tâm đến vấn đề này,” theo ông Schaffner. “Bệnh nấm này có khả năng chống lại tất cả các thuốc chống nấm mà chúng tôi đang dùng, và bệnh này cũng thường nhắm vào vào những bệnh nhân mà cơ thể đã suy yếu do các bệnh khác, gây ra mức tử vong cao. Bệnh lây lan giữa các bệnh nhân trong bệnh viện và gây ra các ổ bệnh tại những nơi này.”

Bảy trường hợp báo cáo bệnh đầu tiên xảy ra từ Tháng Năm, 2013 tới Tháng Tám, 2016 ở Illinois, Maryland, New Jersey và New York. Chỉ duy nhất có một trong bảy trường hợp này được nhận ra ngay từ đầu. (V.Giang)

Vài lời cuối với LHQ trước lúc mãn nhiệm tổng thống của ông Obama:

Vài lời cuối với LHQ trước lúc mãn nhiệm tổng thống của ông Obama:

Gia đình của tôi được tạo dựng từ da thịt, huyết thống, truyền thống, văn hoá và đức tin từ rất nhiều nơi trên thế giới. Nó cũng giống như việc nước Mỹ được xây dựng từ mọi sắc dân trên quả đất này. Suốt cuộc đời của tôi, ở đất nước này, và với tư cách Tổng thống, tôi học được rằng đâu cần phải định danh cái tôi của chúng ta bằng cách đè nén những người xung quanh, mà chúng ta có thể định danh nó bằng việc nâng đỡ đồng loại. Cái tôi của chúng ta không cần phải được định danh bằng việc chống lại người khác, mà có thể chỉ bằng niềm tin vào tự do, vào bình đẳng, vào công lý, vào công bằng.

Và việc tôi nâng niu những nguyên tắc phổ quát này không làm suy yếu lòng tự tôn của tôi, hay tình yêu của tôi với nước Mỹ – trái lại, nó làm cho những điều đó mạnh mẽ thêm. Niềm tin của tôi rằng những lý tưởng đó tồn tại khắp mọi nơi không làm suy yếu cam kết của tôi là phải giúp đỡ những người có chủng tộc giống tôi, hoặc đức tin giống tôi, hoặc tôn thờ lá cờ của tôi. Trái lại, đức tin vào những nguyên tắc này còn ép buộc tôi phải mở rộng giới hạn của đạo đức bản thân và giúp tôi nhận ra rằng để có thể phục vụ đồng bào tôi tốt hơn, để có thể chăm sóc cho con gái tôi, thì tôi phải đảm bảo rằng hành động của mình cũng phải là tốt nhất cho mọi người, cho mọi đứa trẻ, cho cả con cháu của các bạn.

“Today, a nation ringed by walls would only imprison itself.”
TIME.COM

ỦY BAN ĐIỀU TRA BẮT NGƯỜI TÙY TIỆN LIÊN HIỆP QUỐC RA PHÁN QUYẾT VỀ TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM NGUYỄN ĐẶNG MINH MẪN

Image may contain: 1 person , outdoor and nature
Ngoc Duc Nguyen with Loi Minh and Son Van.

ỦY BAN ĐIỀU TRA BẮT NGƯỜI TÙY TIỆN LIÊN HIỆP QUỐC RA PHÁN QUYẾT VỀ TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM NGUYỄN ĐẶNG MINH MẪN

Ngày 3 tháng 11/2016, Ủy Ban Điều Tra về Bắt Giữ Tùy Tiện của Liên Hiệp Quốc (UNWGAD) đã công bố 21 phán quyết liên quan đến 58 người bị giam giữ tùy tiện ở 17 nước. Việt Nam có 1 phán quyết duy nhất liên quan đến tù nhân lương tâm Nguyễn Đặng Minh Mẫn.

Phán quyết 40/2016 của ủy ban UNWGAD đã được thông qua từ ngày 26/8/2016, nhưng cho đến hôm qua mới được chính thức công bố.

Trong một tài liệu dài 11 trang, ủy ban Điều Tra về Bắt Giữ Tùy Tiện của Liên Hiệp Quốc đã ghi lại quá trình hoạt động của Minh Mẫn, từ lúc theo gia đình đi vượt biên tỵ nạn tại Thái Lan, nhưng sau đó bị cưỡng bức hồi hương, đến những tấm ảnh « HS.TS.VN » để biểu lộ lòng yêu nước,…

Trong suốt quá trình hoạt động này, Ủy Ban UNWGAD chỉ nhận thấy ở Nguyễn Đặng Minh Mẫn sự bức xúc của một người Việt Nam trước hiện tình đất nước và thực thi quyền tự do tư tưởng của mình. Những việc làm của cô không thể bị quy chụp vào tội « âm mưu lật đổ chế độ » và bị kết án nặng nề như vậy.

Ủy Ban Điều Tra về Bắt Giữ Tùy Tiện của Liên Hiệp Quốc cũng nhận xét là các phiên tòa xét xử Minh Mẫn hoàn toàn thiếu vô tư, không công bằng và không độc lập.

Do đó, ủy ban này đã lên án chính quyền Việt Nam và yêu cầu phải trả tự do cho Nguyễn Đặng Minh Mẫn.

Toàn văn phán quyết của UNWGAD : http://www.ohchr.org/…/Deten…/Opinions/Session76/40-2016.pd

Mỹ cảnh giác nguy cơ tấn công khủng bố Ngày Bầu cử

Mỹ cảnh giác nguy cơ tấn công khủng bố Ngày Bầu cử

05.11.2016

Mạng lưới al Qaeda vẫn dai dẳng hoạt động hơn 15 năm nay sau vụ tấn công khủng bố 11/9/2001 tại Mỹ.

Mạng lưới al Qaeda vẫn dai dẳng hoạt động hơn 15 năm nay sau vụ tấn công khủng bố 11/9/2001 tại Mỹ.

Các giới chức liên bang Mỹ cảnh báo nhà chức trách thành phố New York, bang Texas, và bang Virginia về các mối đe dọa tấn công của nhóm chủ chiến al Qaeda xung quanh Ngày bầu cử, khiến lực lượng hành pháp cảnh giác cao độ trước sự kiện ngày 8/11 tới đây.

Một nguồn tin từ chính phủ tại Washington cho Reuters biết một số cơ quan liên bang đã gửi thông báo lưu ý tới các giới chức địa phương và giới chức tiểu bang, đồng thời cho biết rằng mối đe dọa hiện nay ở mức tương đối thấp.

Sở Cảnh sát thành phố New York và giới hữu trách New York, New Jersey đang đề cao cảnh giác và tiếp tục các cuộc tuần tra cao độ.

Dù sự chú ý của Mỹ đang dồn vào các cuộc tấn công lấy cảm hứng từ Nhà nước Hồi giáo, nhưng mạng lưới al Qaeda vẫn dai dẳng hoạt động hơn 15 năm nay sau vụ tấn công khủng bố 11/9/2001 tại Mỹ.

Thống đốc của bang Texas và bang Virgina cho hay đang theo dõi sát tình hình.

Nhà chức trách đang đánh giá xem thật sự có âm mưu tấn công quanh Ngày bầu cử hay không và liệu ba nơi được nêu tên có thật sự là mục tiêu hay chỉ là chiêu đánh lạc hướng.

FBI chưa xác nhận thông tin hay bình luận gì về các chi tiết này. Giới chức của Bộ An ninh Nội địa cũng chưa phản hồi yêu cầu bình luận.

Đài CBS News là kênh đầu tiên loan tin về đe dọa tấn công quanh Ngày bầu cử. Nguồn tin này nói rằng có thể xảy ra vào thứ hai, một ngày trước Ngày bầu cử.

Trong khi giới hữu trách tiểu bang và liên bang đang tăng cường an ninh mạng trước những mối đe dọa tin tặc phá hoại hệ thống bầu cử, những ban ngành khác đang thực hiện thêm các bước đề phòng xảy ra tình trạng bạo động hoặc bất ổn dân sự.

Phú Yên: Xả lũ lớn nhất trong vòng 7 năm qua, nhiều nhà lút nóc

Phú Yên: Xả lũ lớn nhất trong vòng 7 năm qua, nhiều nhà lút nóc

phu-yen

Nhà cửa lút nóc ở thị trấn La Hai (huyện Đồng Xuân, Phú Yên).

Tối 3.11, hàng loạt tuyến đường như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi… (TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên) ngập ngụa nước lũ.    Các thủy điện trên Sông Ba đồng loạt xả lũ vào ngày 3.11, thủy điện Sông Ba Hạ (tỉnh Phú Yên) xả với lưu lượng 10.000 m3/s (lớn nhất trong vòng 7 năm qua tại tỉnh).

Thiên tai hay nhân hoạ

Thiên tai hay nhân hoạ

khat-vong-bay-len

Trần Nhật Phong (Danlambao) – Chọn lựa cơ chế nào là do chính các bạn quyết định, không ai quyết định cuộc đời của bạn và con cháu của các bạn cả, trừ phi các bạn “hèn”, “buông xuôi”, “mặc cho số phận”, để những kẻ khác thao túng cuộc sống của các bạn và chính con cháu của các bạn, muốn con cháu các bạn có đời sống như chúng tôi và con cháu chúng tôi, các bạn phải tự mình tranh đấu, hy vọng các bạn đã nhìn ra sự bất công các bạn đang chịu đựng, và được che đậy bằng cái gọi là “thành quả rực rỡ của cách mạng”, để các bạn hiểu rõ, mảnh đất các bạn đang sinh sống, những con người đang sống trên mảnh đất đó, đang bị sự khinh bỉ, dè bỉu của cả cộng đồng quốc tế, chứ không phải như chiếc bánh vẽ mà các bạn tưởng là “mảnh đất đáng sống” đâu.
*

Nhiều bạn trẻ lại inbox cho tôi, so sánh những thiên tai ở Hoa Kỳ với Việt Nam, cho rằng thiên tai thì không nơi nào tránh khỏi, và sự tàn phá của thiên tai ở Mỹ có khác gì ở Việt Nam đâu, sao cứ dùng chuyện này đề đả kích nhà nước?

Đúng chứ! Đã gọi là thiên tai thì làm sao tránh khỏi, nước Mỹ mà tôi đang sinh sống, ở California luôn phải đối diện với tiềm năng động đất, phải chịu đựng hạn hán trong nhiều năm dọc các bờ biển miền đông Hoa Kỳ, năm nào cũng phải đương đầu với các trận bão từ Đại Tây Dương, các tiểu bang trong lòng nước Mỹ như Kansas, Kentucky, có năm nào mà không bị tàn phá bởi những cơn lốc xoáy, các tiểu bang miền nam như Louisiana, Mississippi có năm nào mà không lụt lội.

Chính phủ của chúng tôi ứng phó như thế nào với những thiên tai nói trên? Họ đã làm rất nhiều việc để ứng phó, và tiền chính là từ nguồn thuế của chúng tôi đóng hàng năm, hàng tháng, chính phủ chúng tôi không sử dụng tiền của dân chúng để xây tượng đài vô tội vạ, không sử dụng tiền thuế của chúng tôi để trả lương cho những nhân viên vô tích sự, không sử dụng tiền thuế của chúng tôi để… đi chữa bệnh ở nước ngoài.

Tại California, do đường nứt San Andre kéo dài từ khu sa mạc miền nam California đến tận San Francisco, chúng tôi luôn trong tình trạng xảy ra động đất bất cứ giờ phút nào, mà hàng năm vẫn có những trận động đất nhỏ diễn ra.

Để giảm thiểu về thiệt hại nhân mạng, chính phủ tiểu bang chúng tôi qui định, cất nhà không quá 3 tầng, muốn xây một cao ốc nhiều tầng, bản vẽ phải phù hợp các qui định trong đó bao gồm nền móng có thể chống nổi mức tương đối của động đất, các chất liệu xây dựng phải đúng qui định của chính phủ, để giảm bớt các tiềm năng nguy hiểm cho mạng sống con người, như sườn nhà bằng gỗ, vách nhà thông thường là tường bằng bột ép (dry wall). Còn nếu là các tòa nhà thương mại (commercial building), thì đòi hỏi các sườn nhà phải bằng thép (Stainless steel).

Mỗi dự án xây dựng, đều được chuyên viên của chính phủ đến kiểm tra, ví dụ xây nền móng, phải đúng qui định độ sâu bao nhiêu, dùng xi măng và cốt sắt như thế nào, đường ống thoát nước dơ và đường ống dẫn nước sạch ra sao? Hệ thống điện và Gas phải dùng nguyên liệu gì cho an toàn, đặc biệt là hệ thống gas, đòi hỏi mức an toàn cao một khi có động đất, nếu không đúng thì chuyên viên bắt buộc không ký giấy, và nếu họ không ký thì những bước xây dựng kế tiếp phải ngưng trệ.

Còn ở những tiểu bang nằm giữa Hoa Kỳ đối diện với những cơn lốc xoáy hàng năm, đa số nhà đều phải có hầm (basement), giúp cho người dân tránh những trận lốc xoáy mãnh liệt, có thể cuốn phăng đi những ngôi nhà.

Các tiểu bang miền nam thì nhà luôn có cột theo kiểu nhà sàn, và được xây cao hơn bình thường để giảm bớt những thiệt hại về lũ lụt, trong khi các tiểu bang bờ biển miền đông, chính phủ luôn dự trữ các bao cát, ván gỗ, cung cấp cho người dân mỗi khi sắp sửa có những trận bão đánh vào từ Đại Tây Dương.

Đó là những luật lệ qui định của chính phủ, nhằm giúp người dân giảm thiểu các thiệt hại nhân mạng, bên cạnh đó chính phủ còn khuyến khích người dân mua bảo hiểm cho các tài sản như nhà, đất đai, để khi có thiên tai, người dân được các hãng bảo hiểm bồi thường và họ có tài chánh để sửa sang lại.

Bên cạnh việc ứng phó với những thiên tai, chính phủ luôn có những luật lệ cứng rắn để đối phó với nhân họa. Đặc biệt là đối với môi trường sống của dân chúng Hoa kỳ luôn được chính phủ ưu tiên hàng đầu.

Các đạo luật gắt gao về ô nhiễm luôn được công chúng Hoa kỳ bỏ phiếu thông qua, nhằm tạo ra môi trường sạch sẽ hơn. Hàng trăm triệu chiếc xe phải tuân thủ luật kiểm soát khí thải của chính phủ (Smog check), các công ty công nghiệp nặng, phải tuân thủ những qui định nghiêm ngặt về xử lý những chất thải công nghiệp, muốn phát triển hay mở một công ty có tiềm năng gây nguy hại môi trường, những nhà đầu tư buộc phải chứng minh làm sao xử lý những chất thải công nghiệp, và cách xử lý có thuyết phục hay không? Nhiều khu vực các chính quyền địa phương phải mở ra nhũng cuộc họp khoáng đại, và tổ chức cho người dân bỏ phiếu là chấp thuận hay không? Đôi khi chính quyền địa phương chấp thuận, nhưng lại bị chính quyền tiểu bang hay liên bang phản đối thì dự án cũng không thực hiện được.

Bên cạnh những qui định nghiêm ngặt về môi trường, chính phủ luôn khuyến khích người dân trồng cây xanh nơi họ cư ngụ, đa phần các thành phố trên toàn quốc, đều qui định tối thiểu phải có 12% cây xanh trên tổng diện tích của một khu đất. Nhiều thành phố, nhất là những thành phố gần sa mạc, có cả chương trình tài trợ cho dân chúng trong kế hoạch trồng cây xanh, vừa có nguồn thu cho dân chúng về trồng trọt nông nghiệp, vừa tạo cho môi trường được tươi sạch cho tương lai.

Các dự án xây dựng thêm đường phố cũng vậy, những công ty trúng thầu đều phải chứng minh khả năng hoàn tất dự án của họ. Nơi tôi ở, vài năm trước đây, chính quyền quận có dự án mở rộng các xa lộ (freeway) để đáp ứng với nhu cầu ngày càng đông đúc cư dân, gây ra nạn kẹt xe. Họ buộc công ty trùng thầu dự án phải bảo đảm tiến độ xây dựng đúng thời hạn, và nếu bị trễ thì công ty này bị phạt lên đến một triệu Mỹ kim cho một ngày bị trễ hạn, và cứ thế nhân lên. Nhờ qui định nghiêm ngặt đó, mà những công ty trúng thầu không bao giờ dám trễ nải các dự án, khiến cho cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng, đó là chưa kể họ phải chứng minh nhiều thứ khác như nguồn tài chánh của dự án từ đâu trước khi được quận chi trả, các nguyên liệu được sử dụng trong dự án là gì, bảo đảm được bao nhiêu năm, nguồn gốc của nguyên liệu từ đâu v.v…

Bạn muốn xây dựng một khu đất trong thành phố thành một khu thương mại, ngoại trừ những qui định về an toàn như phòng chống động đất, phòng chống thiên tai, bạn còn phải trình lên bản vẽ sơ đồ, bạn xây càng lớn, càng nhiều thì qui định đòi hỏi cũng càng tăng theo, ví dụ bãi đậu xe đòi hỏi tối thiểu đậu được bao nhiêu chiếc, theo kích thước mà bạn muốn xây, 10 căn thì bao nhiêu chiếc xe có thể đậu, 20 căn thì bao nhiêu chiếc xe, không phải bạn muốn xây bao nhiêu là xây.

Để bảo đảm an toàn cho đời sống và môi trường của người dân, những cơ quan kiểm soát của chính phủ đều thuê mướn những chuyên gia làm việc, muốn trở thành chuyên gia của chính phủ, các bạn phải trải qua những cuộc phỏng vấn hay thi rất nghiêm ngặt, ngoại trừ những cuộc phỏng vấn hay thực hành để chứng minh khả năng, khi được nhận bạn sẽ có thời hạn 3 tháng để minh khả năng trước khi được nhận chính thức, trong thời gian 3 tháng đó bạn không chỉ chứng minh khả năng làm việc, mà còn thái độ làm việc hay cách ứng xử. Nhiều thành phố hay quận hạt, còn đòi kiểm tra hồ sơ cá nhân của bạn xem bạn có bị kỷ lục xấu hay không, nợ nần của bạn như thế nào, có ảnh hưởng đến công việc làm của bạn hay không, nhằm ngăn chặn những tiêu cực tham nhũng có thể xảy ra.

Mỗi khi thành phố hay quận hạt có việc làm mở ra (open job), thì có đến hàng ngàn lá đơn xin việc, bạn sẽ vượt qua tất cả những người khác để vào vị trí số 1 mới được thuê mướn, không có tình trạng “thẻ đảng” được ưu tiên nhé.

Vài năm trước đây, ở thành phố Garden Grove, ông thị trưởng có tên là Bruce Broad Water, dùng uy thế cá nhân của ông để can thiệp cho con trai ông được làm lính cứu hỏa, vì anh này đã không vượt được cuộc thi khảo hạch của sở cứu hỏa, kết quả không những anh chàng này không được nhận, mà ngay cả ông Broad Water cũng mất luôn chức thị trưởng thành phố về tay cho Bảo Nguyễn một ứng cử viên gốc Việt. Cho thấy trong xã hội minh bạch, việc bổ nhiệm hay thuê mướn nhân viên làm việc cho chính phủ, đều phải trải qua những cuộc khảo hạch gắt gao, không phải có “thẻ đảng” chống lưng là “đúng qui trình”.

Chính vì những minh bạch rõ ràng từ luật lệ, qui định mà nơi chúng tôi đang sinh sống, người dân an tâm và đặt niềm tin vào chính phủ, vì những luật lệ, qui định do chính người dân chúng tôi bỏ phiếu, và chúng tôi chịu trách nhiệm với những gì chúng tôi quyết định, không ai có thể áp đặt luật lệ cho chúng tôi. Do đó chúng tôi giảm được rất nhiều những thiệt hại từ “nhân họa”, và luôn đứng vững vàng trước các “thiên tai”.

Còn xứ sở mà các bạn đang sinh sống, luật lệ thì lỏng lẻo, lương chính phủ thì không đủ sống, con cái quan chức thì nhờ quan hệ leo lên ghế lãnh đạo ban ngành nhưng lại không có khả năng làm việc, các vị trí lãnh đạo ban ngành thì phải có “thẻ đảng”, dù bạn có tài năng cỡ nào, có bản lãnh cỡ nào cũng chỉ đứng khoanh tay chờ “lệnh”, các bạn không có cơ hội tạo ra sự thay đổi bởi vì “cơ chế nó như vậy”.

Chúng tôi cũng giống như các bạn, hàng ngày vẫn phải đương đầu với các tiềm năng nguy hiểm về thiên tai, nhân họa, nhưng chúng tôi có một chính phủ chịu trách nhiệm với công chúng, có những lãnh đạo sẵn sàng chịu trách nhiệm khi ban ngành của họ xảy ra vấn đề, người đứng đầu luôn tỏ thái độ chịu trách nhiệm bằng việc từ chức, sẵn sàng bị truy tố ra tòa và nhận án tù về sự sơ xuất của bản thân hay các nhân viên dưới quyền làm việc.

Còn xứ sở của các bạn đang sinh sống, kẻ gây ra thảm họa môi trường thì được bảo vệ đến tận răng, ống nước sông Đà bị bễ hàng chục lần thì được miễn truy tố vì “nhân thân tốt”, xã lũ khiến cho mất mạng người thì “khiển trách, kỷ luật nội bộ”, ban ngành có vấn đề thì… lỗi của “thằng tiền nhiệm” mắc mớ chi tôi.

Ở xứ sở pháp trị của chúng tôi, thì trước luật pháp ai cũng như ai, bất kể tổng thống hay kẻ ăn mày đều như nhau, cũng phải cất tiếng thưa “Your Honor! Thưa quan tòa!” Còn ở xứ sở của các bạn, pháp luật chỉ áp dụng với dân đen thôi, còn kẻ có “thẻ đảng”, có “nhân thân tốt”, có “công với cách mạng” thì pháp trị chả là cái gì cả, những kẻ đó được những “nghị định”, “thông tư” của “đảng” “bảo kê” rồi, đó chính là sự khác biệt giữa cuộc sống của chúng tôi và các bạn, và đương nhiên con cháu chúng tôi ra đời trong môi trường sạch sẽ hơn, sinh hoạt trong xã hội lành mạnh hơn, biết chịu trách nhiệm cho cuộc sống và xã hội nhiều hơn so với con cháu của các bạn, vì họ trưởng thành trong chế độ “đảng trị” chứ không phải là pháp trị.

So sánh là khập khễnh, câu nói này chỉ đúng một nữa thôi, phải so sánh để hiểu rõ chế độ nào thích hợp với bản thân và gia đình các bạn, chứ không phải so sánh để nói tôi hơn bạn hay bạn hơn tôi, mà phải so sánh để tự hỏi lại bản thân tại sao xứ sở của người ta có một chế độ, một cơ chế tốt, tại sao con em ở xứ sở của người ta chưa ra trường đã có các công ty gọi mời làm việc, còn xứ sở của các bạn, con em ra đường thì “bề hội đồng”, lên Facebook thì văng tục chửi bới, tốt nghiệp xong phải dấu bằng đại học để làm cu li, tại sao con em của kẻ có “thẻ đảng” thì tung tăng du học ở Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, Thụy Sĩ, còn con em của các bạn thì “xuất khẩu lao động” làm Osin, làm cu li cho những quốc gia như Nga Sô, Ukraine, Trung Quốc, Cộng hòa Czech.

Chọn lựa cơ chế nào là do chính các bạn quyết định, không ai quyết định cuộc đời của bạn và con cháu của các bạn cả, trừ phi các bạn “hèn”, “buông xuôi”, “mặc cho số phận”, để những kẻ khác thao túng cuộc sống của các bạn và chính con cháu của các bạn, muốn con cháu các bạn có đời sống như chúng tôi và con cháu chúng tôi, các bạn phải tự mình tranh đấu, hy vọng các bạn đã nhìn ra sự bất công các bạn đang chịu đựng, và được che đậy bằng cái gọi là “thành quả rực rỡ của cách mạng”, để các bạn hiểu rõ, mảnh đất các bạn đang sinh sống, những con người đang sống trên mảnh đất đó, đang bị sự khinh bỉ, dè bỉu của cả cộng đồng quốc tế, chứ không phải như chiếc bánh vẽ mà các bạn tưởng là “mảnh đất đáng sống” đâu.

5/11/2016

Trần Nhật Phong

danlambaovn.blogspot.com

Phong trào ‘Việt Nam nói là làm’: dân mạng đang ‘like’ điều gì?

Phong trào ‘Việt Nam nói là làm’: dân mạng đang ‘like’ điều gì?

BBC

Ben Ngô

BBC Tiếng Việt

5-11-2016

Nhiều bạn trẻ đang đưa ra những thách thức 'nói là làm' nếu nhận được lượt like khủng như mong muốn. Ảnh: Getty Images.

Những lượt ‘like’ trên mạng xã hội cho thấy giới trẻ Việt Nam đang quan tâm, ủng hộ điều gì và nếu xem số lượng like là thước đo thì liệu chúng ta có nên quan ngại?

Hiện đang có trào lưu “Việt Nam nói là làm” gây ra những vụ cười ra nước mắt.

Gần đây nhất, một thanh niên 21 tuổi, sống tại TP. Hồ Chí Minh, sở hữu trang cá nhân có gần nửa triệu người theo dõi, đăng tuyên bố sẽ nhảy từ tầng bốn tòa nhà Bitexco nếu có một triệu người bấm ‘like’. Vài hôm sau, có ba triệu người xem video và có hơn 300 ngàn lượt ‘like’. Người này, hồi tháng Chín cũng đã “đốt người” và nhảy cầu để thực hiện lời hứa khi bức ảnh của mình nhận được 40.000 lượt ‘like’.

Tháng Mười, truyền thông Việt Nam tường thuật vụ một bé gái 13 tuổi ở tỉnh Khánh Hòa đổ xăng đốt trường sau khi “đủ ngàn like” trên Facebook.

Cô bé, người phải nhập viện vì bỏng nặng, sau đó nói với báo Thanh Niên rằng khi đăng lên Facebook nội dung ‘đủ 1.000 like sẽ đốt trường’ chỉ là đùa vui. Đến khi đạt số ‘like’, cô bé rất sợ hãi và bỏ trốn, “nhưng người ta mua xăng, ép bé đốt trường nếu không sẽ bị đánh”.

Trả lời BBC từ Hà Nội, Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang, nhà hoạt động xã hội và là tác giả chính luận, nói: “Có thể những bạn trẻ muốn thực hiện những vụ “Nói là làm” trên mạng xã hội là nhằm để gây chú ý và nhận được sự tán thưởng từ đám đông.”

“Những bạn trẻ này không có lỗi và hành vi này có thể được lý giải là do họ không được phát triển tâm lý lành mạnh, cũng như thiếu một nền tảng nhân văn nên có khao khát làm những điều nổi loạn, táo bạo.”

“Tôi dự đoán sẽ còn có thêm những vụ tương tự trong thời gian tới một khi những người trẻ không nhận được sự quan tâm thích hợp từ phía gia đình, nhà trường và xã hội.”

‘An toàn’

Cũng có ý kiến cho rằng dường như cư dân mạng, phần lớn trong số đó là những người trẻ tuổi, chỉ thích nhấn ‘like’ cho những chủ đề ‘vô thưởng vô phạt’ hơn là những vấn đề mang tính chính sự như biểu tình đòi đóng cửa Formosa hay tính minh bạch của hoạt động cứu trợ lũ lụt miền Trung, hoặc quan chức tham nhũng…

Có thể là vì ‘like’ những điều không-liên-quan-đến-chính-trị thì an toàn cho bản thân họ và không có nguy cơ gặp rầy rà với chính quyền.

Thực tế, các post của giới nhà báo, nhà hoạt động ở Việt Nam bình luận về những vấn đề thời sự, chính trị nếu có được cỡ vài ngàn lượt ‘like’ thì xem như đã “được dân chúng quan tâm kinh khủng”.

Trong một diễn biến khác, một loạt website, trang thông tin điện tử tại Việt Nam vừa bị cơ quan chức năng phạt hàng chục triệu đồng mỗi trường hợp vì để lọt những comment ‘không thích hợp’ hoặc ‘đi ngược đường lối chủ trương của Đảng’ trên trang của họ.

Bắt ‘bác sĩ Hồ Hải’ để dập tắt tiếng nói phản biện?

Nhiều báo tại Việt Nam hiện cũng đã khóa comment trên fanpage và chỉ cho phép người đọc nhấn ‘like’ chứ không được có ý kiến gì.

Có thể bằng cách này, chính quyền muốn kiểm soát suy nghĩ của cộng đồng mạng và đưa thông tin “đi đúng hướng” mà họ muốn.

Trong hàng ngàn lượt comment bên dưới post tuyên bố sẽ nhảy từ tầng bốn tòa nhà Bitexco của facebooker nêu trên , có một bình luận: “Tao like cho mày chết!”. Còn trong đoạn video đốt trường thì các bạn trẻ đi kèm luôn giục “đốt đi, đốt đi…”.

Phải chăng các luợt “like’, bình luận, cổ vũ ấy cho thấy sự vô cảm và thiếu nhân tính trong xã hội đã không còn giới hạn? Và nếu đã không còn giới hạn thì chúng ta sẽ mong chờ điều gì ở thế hệ trẻ hiện nay?

SỰ THÔNG CÔNG GIỮA CÁC THÁNH, CÁC LINH HỒN, VÀ LOÀI NGƯỜI Ở TRẦN GIAN

SỰ THÔNG CÔNG GIỮA CÁC THÁNH, CÁC LINH HỒN, VÀ LOÀI NGƯỜI Ở TRẦN GIAN

linh-hon-luyen-nguc
Sự hiệp thông giữa các thánh gồm có tất cả những ai sống trên trái đất, các thánh trên Thiên Đàng và các linh hồn dưới luyện ngục.  Ba Hội Thánh Chiến Đấu, Khải Hoàn, và Đau Khổ kết hợp thành một gia đình lớn, và hiệp thông với nhau một cách đặc biệt.  Vì thế, sự thống khổ và niềm vui của một người cũng là của tất cả mọi người.  Sự khải hoàn của các thánh, sự đau khổ của các linh hồn và sự thử thách của các người còn sống trên thế gian là điều kinh nghiệm của mọi người.  Khi chúng ta ở thế gian vui mừng khi nghĩ về các thánh, và buồn cho các linh hồn ở luyện ngục, thì các ngài, dù ở trên Trời hay còn ở luyện tội, cũng đều lo lắng cho số phận của chúng ta trên trần thế.  Các ngài thấy và biết rõ các nguy hiểm mà chúng ta đang sống.

Các linh hồn ở Luyện ngục tham dự vào niềm vui huynh đệ với các thánh trên Thiên Đàng, và họ cảm ơn các việc lành thánh mà chúng ta làm để dâng hiến cho họ được sớm giải thoát.  Họ xem chúng ta là những ân nhân của họ.  Khi từ lửa luyện ngục, họ nhìn lên Thiên Đàng và thấy các thánh đang hạnh phúc, thì họ nghĩ rằng một ngày nào đó, họ cũng sẽ được hạnh phúc như thế.  Các linh hồn ở Luyện ngục cũng biết rằng họ có các bạn hữu trên Thiên Đàng đang cầu bầu cho họ trước Ngai Tòa của Chúa.  Do đó, sự liên hệ đặc biệt giữa các linh hồn ở Luyện ngục, với nhân loại trên trần gian, và với các thánh nơi Thiên Đàng, không bị quên lãng.

Chúng ta đừng quên các Thiên Thần, vì dĩ nhiên, các ngài rất chăm sóc cho các linh hồn ở Luyện ngục.  Nhiều linh hồn phú thác cho các Thiên Thần của Chúa.  Các Thiên Thần cho rằng sứ mệnh của họ chưa chấm dứt cho đến khi nào họ đem được các linh hồn lên Thiên Đàng.  Toàn thể các Thiên Thần luôn chú ý đến những linh hồn khi còn sống mà biết tôn kính các ngài.

Nghi lễ cho ngày lễ kính Thánh Micae cho ta biết rằng ngài đã được Chúa chỉ định cho việc nhận các linh hồn vào Thiên Đàng, khi họ rời Luyện ngục.  Do đó, Thánh Micae như là một vị Hoàng tử của vương quốc thống khổ.  Ngài có lòng trắc ẩn với các linh hồn này, và Ngài tiếp tục cầu bầu cho các linh hồn ấy.

Thánh Frances thành Roma rất vui thích khi nói đến các Thiên Thần chăm lo cho mọi người trong suốt đời sống của họ.  Bà nói rằng: “Khi một người chết, tùy theo mức độ công trạng của họ, vị Thiên thần Bản mệnh dẫn đưa người ấy tới phần sâu của Luyện ngục, và ở lại bên phía tay phải của người ấy, trong khi ma quỷ ở phía tay trái người ấy.  Thiên Thần dâng lên Chúa Giêsu các lời cầu nguyện để cầu bầu cho linh hồn ấy được giảm bớt sự đau đớn.  Trong khi ấy, ma quỷ thì chịu sự điều khiển của Lucifer, nên bị hành hạ một cách đặc biệt vì không thể dụ dỗ linh hồn ấy vào Hỏa ngục.  Khi giờ đền tội của một linh hồn đã hoàn tất, người ấy được chuyển qua một nơi chốn cao hơn, và ma quỷ rời linh hồn ấy để trở về với đồng bọn của hắn, những tên ma quỷ khác sẽ chỉ trích hắn vì hắn đã thất bại trong việc dụ dỗ linh hồn ấy.

Như vậy, các Thiên Thần Bản Mệnh thăm viếng các linh hồn nơi Luyện ngục và cầu bầu cho họ trước Tòa Chúa.

Trong chuyến thăm viếng Luyện nguc dài 2 tiếng đồng hồ của Thánh Nữ Mary Magdalen Dei Pazzi, bà thánh đến thăm một nhà tù mà người ta phạm tội vì sự ngu dốt hay yếu kém, và bà thấy các Thiên Thần Bản Mệnh của các linh hồn ấy ở ngay bên cạnh họ để an ủi.
Thánh Nữ Margaret Mary Alacoque cũng vậy, trong khi bà bị bịnh, Thiên Thần Bản Mệnh của bà mời bà đến thăm Luyện ngục với Ngài.  Ngài đưa bà đến một nơi rộng lớn đầy những lửa và than đá.  Tại đó, Ngài cho bà thánh thấy rất nhiều linh hồn trong hình dáng con người, đang giơ tay ra để cầu xin lòng thương xót, và bên cạnh họ là các Thiên Thần Bản Mệnh đang an ủi họ với những lời yêu thương.
Các mặc khải trên đây đúng theo lời giảng dạy về Thần Học và hợp với đại đa số các Tiến sĩ Hội Thánh.  Các ngài nói rằng các Thiên Thần Bản Mệnh đưa các linh hồn vào Luyện ngục, và để cho họ liên lạc với chúng ta, linh hứng để ta cầu nguyện cho các linh hồn ấy, và rồi báo tin cho các linh hồn xem ai là người cầu bầu cho họ.  Khi thời kỳ đền tội đã hoàn tất, các Thiên thần đưa họ lên Thiên Đàng và đến với chúng ta để báo cho ta biết về sự giải phóng của họ.  Chúng ta đoan chắc rằng các Thiên Thần hành động như người trung gian giữa Luyện ngục và Trần gian.

Ngoài ra, các Thiên Thần còn là người trung gian giữa Luyện ngục và Thiên Đàng.  Chúng ta đã nhắc đến việc họ dâng lên Chúa các lời nguyện và sự hy sinh mà chúng ta dâng lên để cầu cho các linh hồn ở Luyện ngục, và các ngài đem những an ủi mà Chúa ban đến cho các linh hồn.

Mỗi khi Chúa hay Đức Mẹ Maria ngự xuống Luyện ngục thì đều có các Thiên thần bao quanh, sự huy hoàng và sáng láng của các Ngài đem lại nhiều an ủi và niềm vui cho các linh hồn ấy.  Nếu các Thiên Thần đã chăm sóc cho các linh hồn ấy khi ở trần gian, tại sao lại không chăm lo cho họ trong thời gian họ ở trong Luyện ngục chứ?

Để kết luận, và để hiểu rõ sự lưu tâm của các Thiên thần ở trong Luyện ngục, chúng tôi kể một câu chuyện do nhà văn Rossignoli kể trong tác phẩm của ông:

“Trong tu viện của Thánh Catherine ở vùng Naples, các tu sĩ có thói quen đạo đức là đọc kinh chiều cho các linh hồn vào mỗi buổi tối, trước khi đi ngủ.  Như vậy, trước khi nghỉ ngơi, người tu sĩ có thể đem lại chút ủi an cho các linh hồn.  Một tối kia, các nữ tu vì quá mỏi mệt vì lao động mệt nhoài, nên họ không đọc kinh chiều cầu cho các linh hồn.  Do đó, một ca đoàn Thiên Thần từ Thiên Đàng đi xuống và bắt đầu đọc kinh chiều cho các linh hồn trong cung ca đoàn của tu viện.  Nhờ vậy, các linh hồn không lo buồn vì sự thiếu kinh nguyện.  Như vậy chúng ta có cần thêm chứng từ nữa không?”

Vậy chúng ta hãy luôn nhớ rằng niềm vui và hạnh phúc của các thánh, sự đau đớn và thống khổ của các linh hồn ở Luyện ngục và các thử thách và phiền muộn của các người đang sống ở thế gian đều hợp thông với nhau.  Các thánh ở trên Thiên Đàng rất cảm động khi nhìn thấy sự nguy hiểm mà loài người trên trần gian phải đi qua, và các ngài nhìn xuống Luyện ngục với lòng thương xót và trắc ẩn.  Họ cầu bầu cho các anh chị em của họ sớm hưởng hạnh phúc trên Thiên Đàng.  Còn các linh hồn thì cảm ơn các ân nhân ở trần gian, và ngước mắt lên trời để chiêm ngắm các thánh đang hưởng hạnh phúc vĩnh cửu.  Họ vui mừng và đầy hy vọng khi biết rằng lời cầu bầu của các anh chị em trên trời cũng như trên thế gian sẽ giúp rút ngắn thời gian thống khổ.  Thật là một tương quan đẹp đẽ và thân thiện giữa Luyện ngục, Thiên Đàng và Trần gian, và đó chính là di sản quý báu và đẹp đẽ của Giáo hội Công giáo.

Trích trong tác phẩm The Holy Souls, của Lm Alessio Parente
Kim Hà dịch thuật

Anh chị Thụ & Mai gởi

Cầu nguyện cho các Linh Hồn

 Cầu nguyện cho các Linh Hồn

Dòng Tên Việt Nam

Man Mourning at Graveyard

Nhớ đến các linh hồn, cầu nguyện cho họ và cầu nguyện với họ giúp mình nhớ về nhiều điều.

– …nhớ về thân phận của mình. Ai trong chúng ta rồi cũng sẽ đến lúc trở về cát bụi và đến với Chúa. Mình sống tiếp phận người của mình ra sao đây?
– …nhớ về những người thân yêu, thân quen đã qua đi…nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp với họ. Cuộc sống mình là chuỗi những tình thương yêu mình nhận lãnh từ họ. Mình làm cho tình thương yêu đó tiếp nối trong cuộc đời mình thế nào đây?
– …nhớ về những người đã khuất nhưng vẫn còn đó nỗi buồn hay đổ vỡ mà mình chưa hàn gắn được. Mình cũng đã góp phần làm ra những đổ vỡ đó, mình hàn gắn lại thế nào và không lập lại kinh nghiệm đó trong cuộc sống hiện tại ra sao?
-…và sâu nhất là nhớ về Tình Yêu Chúa đang dành cho mỗi người. Hỏa ngục không phải do Chúa làm ra, vì Chúa là Sự Sống sao lại muốn con người phải chết. Luyện ngục không phải là hình phạt của Chúa, vì Chúa là Sự Sống luôn tạo cơ hội để mỗi người có được sự sống của Chúa; nên khi các linh hồn chưa chia sẻ trọn vẹn sự sống của Chúa như các Thánh thì họ có cơ hội Chúa ban nơi thanh luyện. Chúa yêu mỗi chúng ta thế đó.

Chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn không phải để thay đổi Chúa theo ý mình mong. Chúng ta cùng cầu nguyện với và cho các linh hồn để mỗi chúng ta và các linh hồn nơi thanh luyện tiếp tục mở lòng nhận tình yêu của Chúa để thay đổi.
Ước mong bạn và tôi được thanh luyện mỗi ngày trong tình yêu của Chúa, và nhớ hiệp ý cầu nguyện cho/với các linh hồn trong tháng 11 này.

Sĩ Nghị, SJ

Bạn có biết tổ tiên chúng ta đời xưa lưu lại bảo bối dưỡng sinh gì không?

Bạn có biết tổ tiên chúng ta đời xưa lưu lại bảo bối dưỡng sinh gì không?

1, Ăn no không gội đầu, đói không tắm. Rửa mặt nước lạnh, vừa đẹp vừa khỏe. Mồ hôi chưa khô, đừng  tắm nước lạnh.  Đánh răng nước ấm, chống ê chắc răng.

2, Ăn gạo có trấu, thức ăn có chất sơ. Nam không thể thiếu rau hẹ, nữ không thể thiếu ngó sen. Củ cải trắng, sống không tốt nhưng chín thì bổ. Ăn không quá no, no không nên nằm.

3, Dưỡng sinh là động, dưỡng tâm là tĩnh. Tâm không thanh tịnh, ưu tư vọng tưởng dễ nảy sinh. Tâm thần an bình, bệnh sao đến được. Nhắm mắt dưỡng thần, tĩnh tâm ích trí.

4, Dược bổ thực bổ, đừng quên tâm bổ. Coi tiền như cỏ, coi thân như bảo.Khói hun cháy lửa, tốt nhất không ăn. Chiên dầu ngâm ướp, ít ăn thì tốt.

5, Cá thối tôm rữa, lấy mạng oan gia. Ăn mặc giữ ấm, nhất thân là xuân. Lạnh chớ chạm răng, nóng chớ chạm môi. Đồ chín mới ăn, nước chín mới uống.

6, Ăn nhiều rau quả, ít ăn đồ thịt. Ăn uống chừng mực, ngủ dậy đúng giờ. Đầu nên để lạnh, chân nên giữ ấm. Vui chơi biết đủ, không cầu an dật.

7, Dưỡng sinh là cần cù, dưỡng tâm là tĩnh tại.

8, Người đến tuổi già, thì phải rèn luyện, đi bộ chạy chậm, luyện công múa kiếm; đừng sợ giá lạnh, quét sạch sân nhà, hội họa thêm vui, tấm lòng rộng mở;

9, Nghe tiếng gà gáy, đừng cố nằm thêm, trồng hoa nuôi chim, đọc sách ngâm thơ; chơi cờ hát kịch, không ham phòng the, việc tư không nhớ, không chiếm lợi riêng.

10, Ẩm thực không tham, bữa tối ăn ít, khi ăn không nói, không nên hút thuốc; ít muối ít đường, không ăn quá mặn, ít ăn chất béo, cơm không quá nhiều;

11, Mỗi ngày ba bữa, thức ăn phù hợp, rau xanh hoa quả, ăn nhiều không sợ; đúng giờ đi ngủ, đến giờ thì dậy, nằm dậy nhẹ nhàng, không gấp không vội;

12, Uống rượu có độ, danh lợi chớ tham, chuyện thường không giận, tấm lòng phải rộng.

13, Tâm không bệnh, nên phòng trước, tâm lý tốt thân thể khỏe mạnh; tâm cân bằng, phải hiểu biết, cảm xúc ổn định bệnh tật ít;

14, Luyện thân thể, động cùng tĩnh, cuộc sống hài hòa tâm khỏe mạnh; phải thực dưỡng, no tám phần, tạng phủ nhẹ nhõm tự khai thông;

15, Người nóng giận, dễ già yếu, thổ lộ thích hợp người người vui; thưởng thức thư họa, bên suối thả câu, lựa chọn sở thích tự do chơi;

16, Dùng đầu óc, không mệt nhọc, bớt lo dưỡng tâm ít náo nhiệt; có quy luật, sức khỏe tốt, cuộc sống thường ngày phải hài hòa;

17, Tay vận động, tốt cho não, phòng ngừa bị lạnh và cảm cúm.

18, Mùa hè không ngủ trên đá, mùa thu không ngủ trên phản. Mùa xuân không hở rốn, mùa đông không che đầu. Ban ngày hoạt động, tối ngủ ít mơ.

19, Tối ngủ rửa chân, hơn uống thuốc bổ. Buổi tối mở cửa, hễ ngủ là say. Tham mát không chăn, không bệnh mới lạ.

20, Ngủ sớm dậy sớm, tinh thần sảng khoái, tham ngủ tham lạc, thêm bệnh giảm thọ. Tranh cãi buổi tối, ruột như  sát muối.

21, Một ngày ăn một đầu heo, không bằng nằm ngủ ngáy trên giường.

22, Ba ngày ăn một con dê, không bằng rửa chân rồi mới lên giường.

23, Gối đầu chọn không đúng, càng ngủ người càng mệt. Tâm ngủ trước, người ngủ sau, ngủ vậy sẽ thành mỹnhân.

24, Đầu hướng gió thổi, ấm áp dễ chịu, chân hướng gió thổi, hãy mời thầy lang.

25, Không ngủ nơi ngõ hẻm, độc nhất khi gió lùa.

26, Đi ngủ không thắp đèn, sáng dậy không chóng mặt.

27, Muốn ngủ để tấm thân nhẹ nhõm, chân không hướng tây đầu không hướng đông