Huyền Diệu về, tuyệt vời trong âm sắc

Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ Nhất mùa Vọng năm A 27/11/2016

Tin Mừng (Mt 24: 37-44)

 Hôm ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy.Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nôê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại;hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại.

 “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.

+   +   +   +

 “Huyền Diệu về, tuyệt vời trong âm sắc”

Tôi đứng nơi đây mỗi chiều nắng tắt

Hát bản tình ca không tiếng không lời

Đêm về xanh xanh màu xanh đáy mắt

Giốc cạn tình em trong âm sắc tuyệt vời.”

(Dẫn từ thơ Vĩnh Hảo)

Mt 24: 37-44

Mai Tá lược dịch.

Nhà thơ ngoài đời, đứng đợi nơi đây chiều nắng tắt. Dân con trong Đạo chờ Huyền diệu về, Đấng Yêu Thương. Đấng Diệu Huyền đến, trong ánh sáng ban mai, theo tư thế rất thương yêu và nhung nhớ.

Trình thuật đầu năm phụng vụ hôm nay, mang dáng dấp của mầu xanh Hy vọng mà Đấng Huyền Diệu hẹn với đàn con. Với dân con, Ngài vẫn thương mến và hứa hẹn. Vua Vũ trụ huy hoàng đến, như đã hứa với dân Ngài bằng tiếng gọi của Vương Quốc, đang chờ mong. Tiếng gọi của Mùa Vọng rất thân thương và bức bách.

Bài đọc đầu, phụng vụ đưa ra thị kiến non cao, chốn Zi-on rực sáng ấy. Ở nơiđó, có Đền thờ Chúa dựng xây. Ở nơi đó, có trung tâm của địa cầu. Và nơi đó, còn là điểm tập trung của nhân loại, và vũ trụ. Cựu Ước khi xưa từng khẳng định: “Núi Nhà Đức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi.” (Is 2: 2) Chốn non cao Zi-on, còn thu hút mọi người tràn về. Về, mà ca tụng và phụng thờ Giavê, Đấng Huyền Diệu nơi Đền thờ Đức Chúa.

Đền thờ Chúa nơi đây, chính là Thân Mình Huyền Diệu Đức Kitô. Đền thánh nơi đây, là chính Con Chúa đã hạ mình nhập cuộc, sống với ta. Ngài nhập cuộc, để trở nên người phàm giống như ta. Thân Mình Ngài nhập cuộc ở Bét-lê-hem, chính là Đền Chúa ngự, là Thân Mình Đấng Huyền Diệu, rất Hài Nhi.

Huyền diệu Hài Nhi, nằm nơi vòng tay nghèo của Mẹ Chúa, nơi hang lừa. Và, Huyền Diệu Hài Nhi được mục đồng Chúa đến lạy thờ. Huyền diệu Hài Nhi – chốn Đền đài bằng xương thịt, vẫn là mẫu mực để ta học hỏi sống với Chúa. Sống cuộc sống nghèo và quyết bước theo Ngài.

Phúc Âm hôm nay, chưa nói nhiều về Nhiệm Tích Nhập Thể. Nhưng, Đấng Huyền Diệu Quang Lâm được cảnh báo như một thời có nhiều xáo trộn. Xáo trộn ngày Đức Chúa Quang lâm, được mô tả giống thời Nô-ê. Một thời cần cảnh giác và tỉnh thức. Tỉnh thức, vì Ngài đến bất chợt, rất đột xuất.

Đấng Huyền Diệu đến, sẽ không như buổi xử phạt, vào ngày cuối. Ngày Chúa đến, sẽ nhắc nhở con dân của Ngài đừng vì cảnh ly biệt tách lìa, mà hãi sợ. Cảnh giác và tỉnh thức để mọi người nhận ra Chúa luôn hiện diện, trong huyền diệu.

Việc đề cao tỉnh thức, còn được thánh Phao-lô tông đồ nhắn nhủ, qua thư gửi giáo đoàn Rôma lành thánh, rằng:

 “Đã đến lúc anh chị em phải tỉnh giấc … 

Đêm hầu tàn, ngày sắp đến. 

Hãy vất bỏ những việc tối tăm và mặc lấy khí giới của sự sáng”.

(Rm 13: 12)

Đi vào đời sống, người người cần nhận ra, rằng: đã đến lúc ta nên cảnh tỉnh. Cần giác ngộ về các hành động mình đã và đang làm. Cảnh tỉnh/giác ngộ, để không còn gì phải sợ sệt hoặc che giấu. Giấu Chúa và giấu người phàm. Và khi đã cảnh tỉnh rồi, ta sẽ không tủi hổ vì đã có hành vi bất chính. Không còn hãi sợ vì đã hành xử phản lại tâm trạng người đón chờ ngày Chúa Quang Lâm.

Đón chờ ngày Đấng Huyền Diệu Quang Lâm, là biết sẵn sàng trong tư thế của người con bình thuờng. Người con bình thường, là người không sợ phải quay về với thời ông Nô-ê, khi trước. Người con ở tư thế bình thường, là người không còn sợ ngày xét xử, vào lần cuối.

Tâm trạng của người con chờ ngày Chúa đến, còn là tâm trạng phó thác để Chúa hiện diện với chính mình. Ngài hiện diện qua tương quan rất hiện tại. Tương quan mang hình thái của một “nhiệm tích hiện tại”. Nhiệm tích xảy đến vào mọi lúc, với mọi người. Nhiệm tích thể hiện qua hành vi, và qua công việc thường nhật. Ngài sẽ đến bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu.

Sống trong tương quan “nhiệm tích hiện tại”, ta nhận ra Ngài đang hiện diện nơi mọi người trong cuộc sống. Và, nhận ra bàn tay thân thương Ngài đặt nơi sự kiện đang xảy đến. Khi ấy, không còn hãi sợ. Không còn e dè ngần ngại về mọi cảnh báo. Nhưng, sẽ phấn khởi sống tình thương của Chúa. Phấn khởi, nhận ra Ngài đang gần gũi chính mình. Gần hơn cả nhịp đập rộn rã, của con tim. Nhịp tình yêu. Nhịp của “nhiệm tích hiện tại”.

Trong trông chờ “nhiệm tích hiện tại” quang lâm hiện diện, ta cứ hát lên lời ca đầy khích lệ. Rất vui, như nhà nghệ sĩ khi xưa, từng hát:

Tay nâng nâng cao, nâng hòn núi sông Hòa bình

Chân đi đi mau, đi đến con đường sáng ngời

Cùng nhau múa, cùng nhau nắm tay thân tình

Tôi với anh, một lòng Đoàn kết từ đây

Tay vươn vươn lên, như bờ núi cao cao vời

Chân khoan khoan thai, như bước theo nhịp oai hùng

Bài thơ mới, và câu hát vui yêu đời

Vui với bao niềm tin đời là bài ca.

(Xuân Lôi – Y Vân –- Bài hát của người tự do)

Vui với bao niềm tin. Vui, vì đời là bài ca. Bài ca, mọi người đều hát. Hát cho đời. Hát cho người. Những người chợt thấy Đấng Huyền Diệu về, tuyệt vời trong âm sắc.       

Lm Frank Doyle sj biên-soạn

Mai Tá lược dịch.

Lời Cám Ơn Cuối Cùng

Lời Cám Ơn Cuối Cùng

bac-si

 

 

 

Trên một tờ nhật báo tại Thụy Sĩ, người ta đọc được một mẫu cáo phó rất đặc biệt bên cạnh một công thức thông thường mà người ta dành để báo tin người thân nhân đã chết.

Một bác sĩ 83 tuổi: Cáo Phó: Vì một lý do đặc biệt, tôi muốn chính tôi là người loan báo về cái chết của tôi. Tôi nghĩ rằng: đây là biến cố duy nhất cho tôi, để một lần nữa tôi cám ơn tất cả những người trong suốt cuộc đời của tôi, đã giúp tôi được trở nên người giàu có và hạnh phúc, bằng cách mang lại cho tôi sự giáo dục, gương sáng, những lời chỉ giáo, những lời phê bình và nhất là tình yêu của họ. Tôi muốn được từ giả mọi người với chân tình ấy. Tâm hồn tôi tràn ngập hân hoan, tôi xin mọi người đừng than khóc vì sự ra đi của tôi mà hãy cùng tôi vui mừng và tiếp tục sống bằng niềm tin tưởng thanh thản ấy.

Quí vị và các bạn thân mến,

Vào những giây phút cuối đời biết nhìn lại cuộc sống và cám ơn mọi người như ông bác sĩ 83 tuổi trên đây quả là một cử chỉ đáng ca ngợi. Nhưng có cần phải đợi đến 83 tuổi, đến giờ phút cuối đời mới nói lên lời cám ơn với mọi người không. Có cần phải đợi đến lúc nhắm mắt lìa đời mới thốt lên một lời cám ơn không.

Mỗi một giây phút qua đi trong cuộc sống của chúng ta phải chăng không là một món nợ với mọi người. Có giây phút hiện hữu nào không nằm trong dây chuyền của tình liên đới. Tất cả mọi người trên thế giới này ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp đều tham dự vào cuộc sống của tôi, sự sống còn của tôi, định mệnh của tôi, tất cả những gì tôi có, tất cả những gì tôi đắc thủ được và ngay tất cả những gì tôi có thể trao ban cũng đều có liên hệ đến người khác.

Có những người thân và người bạn hữu giúp tôi sống hạnh phúc đã đành mà ngay cả những người tôi cho là kẻ thù của tôi cũng đang giúp tôi cách nào đó. Tình yêu bao bọc tôi dạy tôi biết sống yêu thương. Lòng ganh tị của những người xung quanh cũng là một thách đố luôn thúc giục tôi cố gắng vươn lên hơn. Lòng quảng đại của những người xung quanh nâng đỡ tôi, những nỗi khổ đau của những người xung quanh cũng mời gọi tôi sống quảng đại hơn. Tôi nhận lãnh rất nhiều, nhưng tôi cũng được đòi hỏi chia sẻ không ngừng. Những người có lòng tốt trao ban cho tôi không ít, họ trao ban cho tôi sự thách đố để sống cao thượng hơn. Ai đó đã nói thật chí lý: “Không có ai nghèo nàn đến độ không có gì để trao tặng cho ta”. Thiên Chúa tạo dựng mỗi người cho chính nó, nhưng con người chỉ có thể sống cho ra người khi nó biết sống cho tha nhân mà thôi. Như vậy, bất cứ một người nào cũng đều đóng góp cho sự trưởng thành của tôi, cho niềm hạnh phúc của tôi. Ðó không là lý do để tôi biết ơn hay sao? Ðó không là lý do để tôi sống hài hòa hay sao?

Lạy Chúa, yêu thương những người bạn hữu và những người làm phúc cho chúng con quả là chuyện dễ làm. Nhưng yêu thương những kẻ hãm hại chúng con cách này hay cách khác là điều ngược lại với khuynh hướng tự nhiên của con người.

Xin giúp chúng con thắng vượt được lòng ích kỷ, sự thù hận trong tâm hồn chúng con, để chúng con luôn có cái nhìn tích cực về mọi người và đủ can đảm để sống tình liên đới, sự khiêm nhượng, lòng cảm mến vơi mọi người. Amen.

( Ngọc Nga sưu tầm)

Anh chị Thụ & Mai gởi

Có thể bạn chưa biết về Fidel Castro

Có thể bạn chưa biết về Fidel Castro

Posted by adminbasam on 26/11/2016

FB Hoàng Ngọc Diêu

26-11-2016

Fidel Castro và Che Guevara. Ảnh: internet

Thế giới cả hai phía cộng sản và tự do đã viết rất nhiều về Fidel Castro, một lãnh tụ cộng sản lừng lẫy, một trong những người nắm quyền hành và duy trì chế độ độc tài cộng sản lâu nhất trong lịch sử. Phía cộng sản viết về những thành tích cách mạng và dựng lên hình ảnh một lãnh tụ anh hùng và giản dị của vùng châu Mỹ Latin. Phía tự do liệt kê ra những thành tích tàn sát những người phản kháng mà Fidel Castro đã thực hiện trong suốt cuộc đời ông ta.

Trong phạm trù này, ít người biết, có lần, Che Guevara, đã bênh vực hành động tàn sát những người phản kháng của Fidel Castro, rằng: “trò xét xử là trò cũ kỹ lỗi thời của bọn tư sản. Đây là cách mạng và cách mạng thì phải trở thành một cái máy giết người máu lạnh được nuôi dưỡng bằng lòng căm thù” (“These procedures are an archaic bourgeois detail. This is a revolution. And a revolutionary must become a cold killing machine motivated by pure hate.”).

Xét ra, chuyện giết người không cần xử của những người cộng sản là chuyện không đáng ngạc nhiên. Mặc dù so với các đồng chí của ông như Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Polpot… .v..v… thì bảng thành tích nhân mạng của Castro còn thua xa, nhưng cái chất tàn bạo của cộng sản trong Castro thì vẫn không hề thua sút.

Càng ít người biết, đặc biệt là những “cháu ngoan” phía cộng sản, rằng Fidel Castro thật sự không phải là một lãnh tụ giản dị như được sơn phết mà thật sự, ông ta sống một cuộc đời xa hoa và phóng đãng. Phần lớn thời gian ông sống ở hòn đảo Caya Piedra ở phía nam Cuba, nơi đó có du thuyền lộng lẫy, có hàng trăm người phục dịch, có cảnh binh bảo vệ, có hàng trăm cô gái phục vụ chuyện chăn gối bất cứ khi nào ông cần. Chiếc xe Mercedes-Benz đặc biệt của Castro mua từ Đức về được tháo rời ra và khám xét rất kỹ và được “độ” lại với hệ thống bảo an, kể cả lớp chống đạn đặc biệt…v..v..

Mỗi buổi, trước khi Catro ăn phải có người thử trước vì ông ta sợ bị giết bằng thuốc độc. Castro còn có một người giống hệt ông tên là Silvino Alvarez, giả làm Castro mỗi khi ông ta cảm thấy bất an khi xuất hiện trước công chúng. Thậm chí hai người cận vệ của Castro phải có nhóm máu y hệt như ông ta, phòng khi Castro cần tiếp máu khẩn cấp và vô vàn những chuyện khác [1].

Những chuyện này thế giới không hề biết cho đến khi Juan Reinaldo Sanchez, cận vệ và trợ lý riêng của Castro đào thoát khỏi Cuba đã viết cuốn “The Double Life of Fidel Castro” (hoặc La vida oculta de Fidel Castro, bản tiếng Tây Ban Nha) được xuất bản [2]. Một tuần lễ sau khi xuất bản cuốn sách này, Juan Reinaldo Sanchez qua đời vì bệnh nhiễm trùng phổi và cái chết của ông trở thành đề tài của những chuyện được bàn tán xôn xao, kể cả những chuyện mang tính chất của thuyết âm mưu.

Rest in peace Fidel Castro 1926 – 2016.

[1] Castro the commie hypocrite who lives like a billionaire: He’s posed as a man of the people. But a new book reveals Cuba’s leader has led a life of pampered hedonism and a fortune as big as the Queen’s (Daily Mail).

[2] Juan Reinaldo Sanchez: Fidel Castro’s bodyguard who blew the whistle on the leader’s secret life (Independent).

Biểu tượng cách mạng Cuba Fidel Castro qua đời

Biểu tượng cách mạng Cuba Fidel Castro qua đời

BBC

25-11-2016

fidel-castro
Fidel Castro lãnh đạo cách mạng cộng sản Cuba năm 1959. Ảnh: AFP

Fidel Castro, cựu chủ tịch Cuba và là biểu tượng cách mạng cộng sản, qua đời ở tuổi 90, truyền hình nhà nước thông báo.

Chưa có thông tin chi tiết về nguyên do.

Fidel Castro lãnh đạo Cuba, quốc gia độc đảng trong gần nửa thế kỷ trước khi chuyển giao quyền lực cho người em trai Raul năm 2008.

Những người ủng hộ ca ngợi ông như người đưa Cuba trở lại cho dân chúng. Nhưng cũng có cáo buộc ông đàn áp tàn bạo phe đối lập.

Tháng 4/2016, Fidel Castro có bài phát biểu hiếm hoi trong lễ bế mạc Đại hội Đảng Cộng sản Cuba.

Ông thừa nhận mình tuổi đã cao nhưng cho biết lý tưởng cộng sản Cuba vẫn còn giá trị và người dân Cuba “sẽ chiến thắng”.

“Tôi sắp 90 tuổi”, cựu chủ tịch nói thêm rằng đây là “một điều gì đó tôi chưa bao giờ tưởng tượng đến”.

“Chẳng bao lâu tôi sẽ giống như những người khác, đến một khúc quanh của cuộc đời,” Fidel Castro nói.

Những cột mốc của Fidel Castro

1926: Sinh ra tại tỉnh Oriente, đông nam Cuba

1953: Bị cầm tù sau khi dẫn dắt phong trào chống lại chế độ Batista không thành công

1955: Ra tù do được ân xá

1956: Cùng Che Guevara, tiến hành cuộc chiến tranh du kích chống chính phủ

1959: Đánh bại Batista, tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng Cuba

1961: Đánh tan đạo binh người Cuba lưu vong do CIA tài trợ tại Vịnh Con Heo

1962: Khơi mào cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba khi chấp thuận cho Liên Xô triển khai tên lửa hạt nhân ở Cuba

1976: Được Quốc hội Cuba bầu làm Chủ tịch

1992: Đạt thỏa thuận với Mỹ về người tỵ nạn Cuba

2006: Thôi làm chủ tịch Cuba do vấn đề sức khỏe

____

BBC

Fidel Castro – ‘người không chấp nhận đối lập’

26-11-2016

luc-luong-cua-castro

Lực lượng của Castro tiến vào Havana năm 1959. Ảnh: Getty Images

Fidel Castro lãnh đạo Cuba, quốc gia độc đảng, trong gần nửa thế kỷ.

Fidel Castro lên nắm quyền tại Cuba vào ngày 1 tháng Giêng năm 1959 sau một cuộc chiến dài lật đổ Tổng thống Batista. Ông là Thủ tướng cho tới năm 1976 khi ông trở thành nguyên thủ quốc gia và Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng.

Fidel Castro sinh tại miền Đông Cuba và là con trai của một điền chủ trồng mía giàu có và được giáo dục là một người theo Dòng Tên.

Khi là một sinh viên trẻ ông bắt đầu tham gia vào chính trị cách mạng và năm 1953 ông bị bỏ tù vì vai trò của mình trong kế hoạch nhưng không được thực hiện dự định lật đổ chính phủ của Tổng thống Batista.

Khi được thả tự do ông sang Mexico và cùng với những người Cuba lưu vong khác bắt đầu một kế hoạch mới.

Tháng 12 năm 1956 khoảng một trăm người của nhóm này đổ bộ vào Cuba từ một chiếc tàu cá. Họ đã được chờ sẵn và ngay trong cuộc đụng độ đầu tiên với quân chính phủ tại bãi biển chỉ còn 12 người trong số này sống sót.

Họ trốn vào các khu đồi và thành lập các cơ sở hạt nhân của đội quân du kích và lực lượng này đã hoạt động thành công tới mức chỉ trong hai năm Tổng thống Batista đã bỏ chạy khỏi Cuba.

Vào ngày mùng 1 Tết năm 1959, Castro chiến thắng tiến vào thủ đô Havana. Năm đó ông 32 tuổi.

Trên cương vị Thủ tướng (được giới chức của một Tổng thống mà chính ông dựng lên) ông tiến hành một chương trình cấp tiến về nông nghiệp và các cải tổ khác và kiên trì với nó bất cấp nhưng khó khăn không thể tránh khỏi về tài chính.

Thỏa thuận thương mại của ông với Liên bang Xô Viết đã khiến cả chính phủ và các doanh nghiệp lớn của Mỹ bất bình và ông còn làm cho vấn đề tồi tệ hơn khi tước đoạt và bán hàng loạt các tài sản của Mỹ tại Cuba.

Ông lặp đi lặp lại cáo buộc là Hoa Kỳ đã nuôi dưỡng phe nổi dậy chống lại chế độ của ông và vào mùa xuân 1961 cuộc xâm nhập Vịnh Con Heo (Bay of Pigs) từ căn cứ tại Florida của những người Cuba lưu vong sớm thất bại đã được dùng là cớ cho các cáo buộc đó.

castro

Ông Castro không chấp nhận đối lập. Ảnh: AP

Trong năm 1962, đồ cung ứng và kỹ thuật viên của Liên xô đổ vào Cuba và tới mùa thu người ta biết rằng những vị khách này đang xây dựng một mạng lưới các căn cứ hỏa tiễn mà khi hoàn tất sẽ có thể bắn phá những khu vực xa xôi nhất trên đất Mỹ.

Tới tháng 10, Tổng thống Kennedy, với sự hậu thuẫn của Tổ chức Các Tiểu bang Mỹ, đã áp đặt một lệnh phong tỏa một phần đối với Cuba và đưa ra các dấu hiệu có chủ định tiến hành một cuộc tấn công vào hòn đảo này.

‘Sự pha trộn‘

Cuộc khủng hoảng chỉ qua đi khi ông Nikita Khrushchev, sau các trao đổi thư từ với Tổng thống Kennedy, đồng ý vì lợi ích của hòa bình sẽ tháo dỡ các căn cứ này và đem hỏa tiễn về Nga.

Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Cuba vẫn tiếp tục căng thẳng và không được cải thiện do quyết của Castro vào giữa những năm 70 gửi hàng ngàn binh lính Cuba tới châu Phi.

Họ tới Angola để giúp phong trào MPLA do Liên Xô hậu thuẫn để giành quyền kiểm soát tại đây khi nhà nước Trung Phi này đạt được độc lập từ Bồ Đào Nha.

Cuộc xâm chiếm Afghanistan của Nga vào tháng 12 năm 1979 đã làm cho quan hệ của Cuba với Nga căng thẳng nhưng một năm sau Castro bày tỏ sự ủng hộ hết lòng cho “sự can thiệp” này.

Nền kinh tế ngày càng tồi tệ đã khiến nhiều người Cuba bất mãn, những người cảm thấy không bằng lòng về sự hiện diện của quân đội nước họ tại châu Phi. Ước tính con số binh lính Cuba có mặt tại Angola là 36 ngàn quân và ở Ethiopia là 12 ngàn.

Những năm qua chính phủ Anh giữ quan hệ khá thận trọng với Castro, không hẳn là thù nghịch; những chỉ trích của Mỹ đã không ngăn các công ty của Anh cung cấp cho Castro xe buýt và những thứ mà đất nước ông cần.

Đối với nhiều người tại đây Castro vẫn giữ được không khí lãng mạn về ông. Hình ảnh ông xuất hiện trên truyền hình và tại rạp chiếu phim có lẽ phần nào giúp tạo ra điều đó: cao và râu cao nón, trong bộ trang phục rằn ri dã chiến màu xanh rêu, thường với một khẩu súng lục bên hông và một điếu ci-ga trên tay, ông trông giống như một sự pha trộn giữa một nhà thơ đi tiên phong và một tay cướp biển.

Ông thực sự vừa là một người trí thức vừa là người của hành động và suốt nhiều năm ít người trên thế giới có thể là đối thủ của ông như một lãnh tụ cách mạng xuất sắc.

Fidel Castro qua đời

Tháng Chín năm 1988, Cộng đồng châu Âu tuyên bố thành lập quan hệ ngoại giao với Cuba nhưng sự tan vỡ của Liên Xô và khối Đông Âu đã là một đòn giáng đối với nền kinh tế nước này.

85% thương mại của Cuba, mà chủ yếu là đường, là với Liên Xô và các nước vệ tinh của nước này và Castro phải đối mặt với tình trạng tài chính bị hủy hoại khi giá trị của đồng peso Cuba giảm giá hơn một nửa.

Chỉ có chợ đen là phát triển vào khi những người nổi dậy chống chính phủ xuống đường biểu tình tại thủ đô Havana.

Tiếp sau đó là vài năm vô cùng khó khăn thiếu thốn trên khắp đất nước Cuba. Fidel Castro khuyến khích du lịch để lấp khoảng trống trong nền kinh tế do khối các nước Liên Xô cũng để lại.

Nó giúp giảm thiểu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và quyết định vào cuối những năm 1990 hợp pháp hóa việc sở hữu đồng đôla Mỹ đồng thời cho phép thành lập một số công ty liên doanh và doanh nghiệp tư nhân cũng đã góp phần tương tự.

Vào dịp kỷ niệm 40 năm ngày cách mạng Cuba năm 1999, Castro vẫn rao giảng với người dân của ông về sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản. Người dân Cuba của ông vẫn đang nhận thẻ chăm sóc y tế miễn phí và một hệ thống giáo dục có tỉ lệ biết chữ rất cao nhưng thái độ bất bình chính trị tiếp tục gia tăng.

Thái độ không chấp nhận đối lập của ông cũng có nghĩa là con số tù chính trị tại các nhà tù Cuba có lúc lên tới 80.000 người và năm 2003 trong khi truyền thông tập trung vào cuộc chiến tại Iraq ông đã bỏ tù một số nhà lãnh đạo đối lập nổi tiếng.

tran-dai-quang

Fidel Castro nhận quà tặng từ ông Trần Đại Quang và phu nhân, bà Nguyễn Thị Hiền, ở Havana hôm 15/11/2016. Ảnh: ALEX CASTRO/EPA

‘Độc nhất vô nhị‘

Fidel Castro đã tạo ra nhãn hiệu cộng sản độc nhất vô nhị ở vùng Caribe. Trong những năm cuối đời, ông bị buộc phải thích nghi và từ từ cho phép một vài cải tổ thị trường để cứu vãn tên tuổi của mình.

Ngày 31/7/2006, chỉ vài ngày trước sinh nhật 80, Castro tạm thời trao quyền cho em trai Raul, sau khi trải qua phẫu thuật ruột kết.

Sức khỏe của ông tiếp tục đi xuống. Đầu năm 2008, Castro thông báo ông sẽ không nhận chức chủ tịch và lãnh đạo quân đội tại cuộc họp của Quốc hội.

Nói chung ông ít xuất hiện trước công chúng, chỉ viết các bài báo trên truyền thông nhà nước dưới tiêu đề Suy tưởng của Đồng chí Fidel.

Tháng Bảy 2010 ông xuất hiện lần đầu tiên từ khi ốm, chào đón người lao động và lên truyền hình trả lời phỏng vấn, nói về căng thẳng của Mỹ với Iran và Bắc Hàn.

Tháng sau đó, Castro lần đầu phát biểu trước Quốc hội sau bốn năm, kêu gọi Mỹ không dùng vũ trang chống Iran hay Bắc Hàn, cảnh báo hủy diệt hạt nhân nếu căng thẳng gia tăng.

Tháng 12 năm 2014, loan báo của Tổng thống Mỹ Barack Obama về việc giảm trừng phạt Cuba đã bắt đầu quá trình tan băng giữa hai nước.

Castro hoan nghênh bước đi này, nói rằng đây là “bước đi tích cực thiết lập hòa bình trong khu vực” nhưng cũng nói ông không tin chính phủ Mỹ.

Mặc dù nhiều người Cuba căm ghét Castro, nhiều người khác cũng thực sự yêu mến ông. Họ xem ông như một anh hùng bé nhỏ David chống lại Goliath khổng lồ, là Mỹ.

Với họ, Castro là Cuba và Cuba là Castro.

Tuấn Khanh: Thế kỷ kết liễu độc tài

Tuấn Khanh: Thế kỷ kết liễu độc tài

Blog RFA

Tuấn Khanh

H1Những ngày của đầu năm 2015, tin tức về cái chết của Fidel Castro, nhà lãnh đạo cộng sản khét tiếng của Châu Mỹ Latin đang được lan truyền khắp nơi. Có thể đó chỉ là tin đồn. Có thể ông ta đã chết nhưng đảng cộng sản Cuba đang chọn tìm một thời điểm thích hợp để công bố, như số phận của nhiều nhà lãnh đạo cộng sản khác. Cũng có thể tin đồn đó chỉ là cách phản ánh một tâm thức chán ghét của của đám đông về nhân vật này. Nhưng điều quan trọng hơn, với những gì đang diễn ra ở Cuba, thì ý nghĩa tồn tại thể chất của nhà độc tài cộng sản 88 tuổi không còn quan trọng: Trong mắt loài người văn minh, Fidel Castro kể như đã chết.

Cũng giống như nhiều lãnh tụ cộng sản háo danh khác, Fidel Castro cũng thích nhảy múa cùng những huyền thoại của mình, để ông được “sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Một trong những huyền thoại hay được sách vở Cuba tuyên truyền rầm rộ là ông đã phá vỡ được đến 638 vụ ám sát của CIA Mỹ tổ chức nhằm vào ông. Những vụ ám sát được công bố qua các phương thức như bỏ thuốc độc, nổ xì-gà… rất ư là 007. Với theo nhiều tài liệu phân tích của các sử gia, thì đa số là do các tổ chức Cuba phản kháng lưu vong tìm cách thực hiện. Nhưng điều đáng nói nhất, thì người dân Cuba ít được phép nhắc đến, đó là Fidel Castro đã cai trị dân tộc mình bằng máu và nước mắt hơn nửa thế kỷ.

Không chỉ riêng ở Cuba, mà ngay ở Việt Nam, các giáo viên dạy sử cũng được nhận lệnh gia công cho các huyền thoại này. Trong một giờ dạy về lịch sử quốc tế, tôi còn nhớ mình phải học thuộc lòng rằng Cuba như chỉ sinh ra từ Fidel Castro và chủ nghĩa cộng sản. Người thầy dạy sử, mà tôi tin chắc rằng ông ta chưa bao giờ được một lần đặt chân đến Cuba, đã say mê thuyết phục những đứa học trò trung học chúng tôi rằng nơi đó là thiên đường, và Fidel là một kỳ nhân của thế gian khi cải tạo đất nước này sang hình thái xã hội chủ nghĩa.

Ở thiên đường đó, mà tôi cũng từng mơ màng trong suốt nhiều năm, có những điều thật trớ trêu. Hơn một triệu người dân Cuba không chấp nhận cộng sản, chọn cách ra đi đã hàng năm gửi về cho thân nhân của họ hơn 1 tỷ USD kiều hối, tương đương với 35% ngoại tệ thu về hàng năm của cả nước, giúp nền kinh tế này thoi thóp sống. Nơi quốc gia này, nhân viên nhà nước làm việc cho chính phủ, chỉ có được mức lương trung bình khoảng 15 USD/tháng nhưng phí điện thoại di động là 40 USD/ tháng. Tôi không có dịp gặp lại người thầy của mình để hỏi lại cảm giác của ông về những tin tức như năm 2014, người dân Cuba mới bắt đầu được đi du lịch nước ngoài mà không còn cần phải làm bản trả lời thẩm vấn nộp cho công an địa phương. Hoặc chỉ để nhìn lại ông, khi chìa cho ông bản tin chính báo chí Việt Nam đăng tải, rằng các phát minh của thế kỷ 20 như tivi màu, internet… người dân Cuba chỉ được chạm đến trong thế kỷ 21.

Năm 1961, sau một thời gian làm cách mạng lật đổ chế độ thân Mỹ của tổng thống Fulgencio Batista, Fidel Castro tuyên bố mình đi theo chủ nghĩa cộng sản, đưa đất nước này vào bóng đêm tăm tối của chế độ độc tài toàn trị. Dù được ca ngợi là thành tựu ở một vài lãnh vực như y khoa, kiểm soát tội phạm… nhưng đất nước Cuba cũng được nhắc đến về cuộc sống rên siết trong vòng vây của chế độ cộng sản. Một chế độ mà chính chủ tịch mới, ông Raul Castro đã phải thú nhận trước quốc hội vào tháng 4/2011, rằng « Hoặc là chúng ta sửa đổi, hoặc như thế là hết. Chúng ta không còn có thể đi men theo bờ vực thẳm, chúng ta sẽ chìm đắm, và cùng chìm theo ta là nỗ lực của bao nhiêu thế hệ ».

Triều đại bàn tay sắt của Fidel Castro vẫn còn được được mô tả trong bản báo cáo về nhân quyền năm 2009, qua lời của Rodolfo Bartelemí Coba, một nhà tranh đấu cho quyền con người, rằng “Chúng ta sống 24 giờ một ngày, mà vốn đã được chuẩn bị sẵn sàng để bị giam giữ”. 10 ngày sau lời phát biểu này, ông Rodolfo cũng đã bị bắt đi mất tích.

Sự tàn bạo của chính quyền cộng sản Cuba, thông qua Lực Lượng Vũ Trang Cách Mạng (FAR) là đề tài kinh hoàng của những người vượt thoát khỏi Cuba. Theo hồ sơ của Hiệp hội Đồng hương Mỹ-Cuba (Cuban American National Foundation) thì từ sau khi Fidel Castro cầm quyền, đã có khoảng 12.000 đối lập chính trị bị bắn, chôn sống hoặc tra tấn đến chết. Nhưng các tài liệu ngoài tiếng Tây Ban Nha thì cho biết số lượng những nạn nhân này có thể lên đến 17.000 người, chỉ tính riêng từ năm 1959 đến 1990.

Một bản tin về chuyện ngay sau khi Mỹ bỏ cấm vận với Cuba vào 17/12/2014 vừa rồi, cũng như tin tức chủ tịch Raul Castro ký trả tự do cho 35 nhà đối lập trong danh sách 100 người được quốc tế đề nghị (8/1/2015), số người đào thoát khỏi Cuba vẫn tăng đến 117%. Dù tự do và thay đổi đang ở ngay trước mặt nhưng người dân Cuba đã không còn kiên nhẫn để chờ đợi nữa. Họ làm mọi cách để chạm vào tự do ngay khi hàng rào kẽm gai vừa lỏng lẻo chứ không còn kiên nhẫn và cam chịu để chờ đến khi hàng rào đó sụp đổ. Không thể đợi Fidel chết và chế độ cộng sản Cuba sụp đổ trên bản đồ chính trị, người dân muốn tiễn đưa ngay cơn ác mộng của đời mình bằng hành động cụ thể nhất.

Khác với các nhân vật như đại tá Gaddafi hay tổng thống Mubarak, các nhà lãnh đạo cộng sản vẫn hay lên tiếng tố cáo sự tư hữu xa hoa của chế độ phương Tây, bày tỏ cuộc sống khiêm tốn của mình. Nhưng khi mọi thứ được phơi bày, người dân mới té ngửa khi biết rằng mọi thứ đều là dối trá. Chính các nhà lãnh đạo cộng sản là kẻ tham nhũng ghê sợ nhất, xa hoa nhất trên tấm lưng còng của tổ quốc mình. Theo tiết lộ từ cuốn La Vie Cachée de Fidel Castro (tạm dịch: Cuộc đời bí ẩn của Fidel), một nhân viên cận vệ của Fidel Castro kể rằng nhà lãnh tụ này chưa bao giờ từ bỏ lối sống tiện nghi tư bản mà ông ta vẫn hay lên truyền hình nguyền rủa nó. Juan Reinaldo Sánchez, người đã làm cận vệ riêng cho Fidel trong suốt 17 năm, sau đó đào thoát qua Mỹ, tiết lộ rằng dân cả nước Cuba không thể nào hình dung nổi cuộc sống sang trọng phung phí của Fidel. Thậm chí Fidel Castro còn quy hoạch một hòn đảo nhỏ thành của riêng cho mình, đảo Cato Piedra, nằm ở phía nam của Vịnh con Heo. Juan nói rằng nơi đó được Fidel Castro xây dựng như một vườn địa đàng, đầy những trại nuôi rùa biển và cá heo.

Thế kỷ 20 và 21 đã chứng kiến nhiều cuộc kết liễu độc tài. Từ Stalin đến Mao Trạch Đông… rồi Kim Chính Nhật đến Gaddafi… giờ thì đã rất gần với Fidel Castro, nhân vật bạo chúa được khoác áo người hùng trong vai diễn của lịch sử cộng sản thế giới. Như một quy luật không thể thay đổi: bất cứ chế độc tài nào rồi cũng phải ra đi, dù đi nhanh hay đi chậm. Thế kỷ như đang kết liễu những nhà độc tài, những nhà nước độc tài núp bóng vì nhân dân, vì tổ quốc. Những người như tôi cũng có dịp để kết liễu những bài học lịch sử nhồi sọ của mình, để ghi vào đó, một trang sử mới bằng tên của những người yêu nước Cuba đã chết cho quê hương của họ được tự do.

Freedom House: Việt Nam không có tự do Internet

Freedom House: Việt Nam không có tự do Internet

November 25, 2016

Nguoi-viet.com

Hàng chục người dân cầm biểu ngữ đòi trả tự do cho ông Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy ở gần tòa án Hà Nội ngày 23 Tháng Ba, 2016. Ông Vinh và Bà Thúy phổ biến các tin tức “lề trái” trên Internet nên bị chế độ Hà Nội bỏ tù. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

WASHINGTON (NV) – Tại Việt Nam, không hề có tự do thông tin, tự do truy cập Internet như nhà cầm quyền CSVN tuyên truyền, tổ chức Freedom House vừa tố cáo trong một bản phúc trình.

Theo Freedom Hose, một tổ chức nghiên cứu phi chính phủ, nhà cầm quyền CSVN kiềm chế không bắt nhiều người khi đang thương thuyết Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương. Nhưng ngay sau đó, họ kết án ba người sử dụng Internet, khi hiệp định đã được ký một tháng.

Trang mạng xã hội Facebook và Instagram nhiều lần bị ngăn chặn tại Việt Nam hồi Tháng Năm, 2016 nhằm không cho người ta phổ biến tin tức về các cuộc biểu tình chống công ty Formosa gây thảm họa cho biển Việt Nam và nhà cầm quyền không minh bạch, không đứng về phía nhân dân, thông tin không đầy đủ và không có biện phát tốt để đối phó với thảm họa có thể kéo dài nhiều thế hệ.

Một đạo luật về an ninh mạng được chế độ Hà Nội đưa ra hồi cuối năm ngoái nhằm siết chặt thông tin Internet và phạt nặng những ai vi phạm. Theo Freedom House, tình trạng tự do sử dụng internet tại Việt Nam vẫn tồi tệ trong năm nay như năm ngoái.

Khi đảng CSVN tổ chức đại hội đảng và các phe cánh đấu đá nhau để tranh giành những chỗ trong guồng máy chóp bu của đảng và nhà nước, chính những phe cánh đó phổ biến những bài viết, thông tin tố cáo nhau, đổ tội cho nhau trên mạng xã hội. Không ai biết tác giả của những bài viết, thông tin đó là ai, đến từ đâu. Không có cuộc điều tra nào để lôi những thủ phạm đó ra tòa. Nhưng bất cứ ai bị gán ghép cho thuộc thành phần chống đối chế độ, đòi hỏi tự do thông tin, tự do hội họp mà nói chung nhân quyền, đều bị chế độ Hà Nội tìm mọi cách để trấn áp, từ hành hung, cắt sinh kế hàng ngày đến tù tội.

Theo cuộc khảo sát của Freedom House, tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nước tệ hại nhất về tự do thông tin trên Internet. Tuy các nước khác cũng chẳng có tự do thông tin trên internet nhưng họ cũng còn nới lỏng hơn là chế độ Hà Nội. Việt Nam còn thua cả Thái Lan, Malaysia, Indonesia, thậm chí thua cả Cambodia.

Trong năm qua, ít nhất 15 người dân tại Việt Nam đang bị nhà cầm quyền CSVN giam giữ. Các vụ ngăn chặn không cho ra khỏi nhà, hành hung, thẩm vấn đối với những ai bị liệt vào thành phần “phản động” tức đòi hỏi tự do dân chủ, nhân quyền, xảy ra rất thường.

 Nhà cầm quyền CSVN dùng các điều luật hình sự mơ hồ như các điều 79, 88 và 258 để giam giữ và bắt tù bất cứ hai vào bất cứ lúc nào chế độ muốn. Ngay như cơ quan Cao Ủy Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc, trong năm 2016 cũng đã phải lên tiếng đến sáu lần, cáo buộc chế độ Hà Nội vi phạm nhân quyền. (TN)

Lễ Tạ Ơn: Chiếc Kính Gãy

Lễ Tạ Ơn: Chiếc Kính Gãy – VVNM 2016 – Việt Báo Online
Tác giả: Phan
Bài số 4972-18-30672-v7111916

Nhân mùa Lễ Tạ Ơn bắt đầu, mời tiếp tục đọc về Tháng Mười Một, bài thứ 3 của Phan. Chiếc Kính Gãy là chuyện trên đất Mỹ. Tác giả là nhà báo trong nhóm chủ biên một số tuần báo, tạp chí tại Dallas. Ông cũng là tác giả Viết Về Về Nước Mỹ đầu tiên có bài đạt số lượng trên một triệu người đọc và đã nhận giải Vinh Danh VVNM 2016.
* * *

kinh-gay-gong

Kính gãy (gọng).

Mùa Lễ đã về, lễ Tạ ơn đến gần từng ngày với những sớm mai thức dậy trong hơi thu lành lạnh, những chiều về bát ngát trời thu trên những cánh đồng…Tôi nhớ lắm những người quen kẻ còn người mất, thương đám trẻ trong nhà không còn háo hức đợi quà mà chúng đang tất bật đời sống của những người đã trưởng thành, những người cố nhín chút thời gian đi mua quà cho người thân của chúng khi ngày lễ Tạ ơn đã cận kề.

Tôi còn nhớ lễ Tạ ơn đầu tiên năm tôi đến Mỹ. Tôi nghĩ riêng trong lòng, xứ giàu người ta bày vẽ quá, lễ này lễ nọ để bán thiệp, bán quà… những hình thức thương mại thật đa dạng, phong phú ở xứ tư bản. Nhưng chỉ lễ Tạ ơn năm sau tôi đã nhìn ra, làm thương mại ở xứ giàu dù sao cũng còn nhân đạo hơn làm thương mại ở xứ nghèo là chế tạo ra đồ giả, thuốc tây giả, hàng nhái…bất chấp an toàn thực phẩm và sức khoẻ của người khác.

Những suy nghĩ bước đầu hội nhập ấy tôi nhớ rõ vì đó là những suy nghĩ đầu tiên về lễ Tạ ơn trên mảnh đất dung thân mà mình vừa tới được. Những ý nghĩ cụ thể hơn khi ấy chỉ là một ngày nghỉ được trả lương, và một buổi tối ăn uống với gia đình.

Nhưng hội nhập sâu hơn vào đời sống Mỹ tôi mới hiểu thêm được ý nghĩa của ngày lễ Tạ ơn. Tại sao hàng năm lễ Tạ ơn lại được xem như quốc lễ; tại sao muôn người đều hoan hỷ đón mừng lễ Tạ ơn… Bởi ngoài lịch sử của lễ Tạ ơn đầu tiên trên nước Mỹ đã quá đẹp, và ngày lễ này ngày càng đẹp đẽ hơn với thêm nhiều ý nghĩa về tình người, nhân bản, từ bi… mà tôi đã may mắn được làm người chứng.

Sau lần nước Mỹ bị khủng bố, tôi bị mất việc. Hàng tuần lãnh tiền thất nghiệp đã tới những tuần cuối rồi cũng chưa tìm được việc làm khác vì kinh tế Mỹ lúc ấy tuột dốc nên việc làm ít. Tôi nghe lời người bạn cùng mất việc với tôi, và theo anh ta đi làm công việc dễ nhất trong thành phố là đi giao pizza tận nhà cho khách hàng đặt hàng (order) qua điện thoại.

Ôi, bao nhiêu tự ái, tủi thân cứ nhỏ lệ âm thầm mỗi tối khi ngồi đếm những đổng tiền tip trong ngày có được để sinh tồn. Nhưng cũng bao nhiêu tự ái, tủi thân ấy chấp cánh bay đi vào một lễ Tạ ơn để tôi an nhiên sống, thậm chí thích nghề giao pizza tận nhà từ món quà của thượng đế ban cho.

Hôm đó gần lễ Tạ ơn, trời đổ nước đá bào chứ không phải tuyết, những hạt mưa đá nhỏ tí teo tung tăng trên đường theo gió. Tôi trợt chân trước cửa nhà một khách hàng, không bị thương nhưng gãy mất cái kính.

Bà chủ nhà là một bà cụ Mỹ trắng rất phúc hậu. Bà lo lắng và thương cảm cho tôi đến cảm động. Tôi đã ngồi xuống sofa nhà bà, uống tách trà nóng do bà mời. Tôi đã làm một việc sai trái với nội quy cho người đi giao pizza là không được phép làm như thế, không được bước vào trong cánh cửa nhà của khách hàng. Nhưng trước thịnh tình của người bản xứ thì phải biết xử sự sao cho ra một người Việt Nam?

Tôi quên hết nỗi lo sợ có thể mất việc nếu ông quản lý ở tiệm pizza biết được. Tôi cảm ơn bà cụ đã vỗ về tự ti mặc cảm trong lòng tôi vào một đêm đông. Tôi chỉ cái bảng tên đường gắn trên khung cửa cách biệt phòng khách với nhà sau trong nhà bà. Tôi hỏi: “Bà thích Elvis Presley lắm hả?” Vì tôi thấy trên khung cửa ấy là tấm bảng màu xanh lá cây, chữ trắng, và ghi là “Elvis Presley. Blvd”

Bà cụ như trẻ lại tới thời bà còn con gái, bà huyên thuyên kể về kỷ niệm. Tôi chỉ hiểu được đó là món quà của người bạn trai đầu tiên đã tặng bà khi hai người đi xem buổi ca nhạc của Elvis Presley. Đó là lúc ông cụ đã đói bụng nên mò từ trên lầu xuống, hỏi: “Pizza tới chưa?”

Mọi chuyện cứ diễn ra như theo ý Chúa. Sáng hôm sau tôi đi làm. Nhà tôi nhờ đem trả đồ mà má xấp nhỏ đã mua ở Trung tâm thương mại Collin Creek mà người Việt quen gọi là Collin Creek Mall. Sao tôi lại thấy một khách hàng khác cũng đi trả đồ như tôi. Cô ta trả lại hai cái đồng hồ treo tường be bé, xinh xinh, trên mặt đồng hồ có in hình Elvis mờ mờ, có cả chữ ký của Elvis nữa.

Tôi đợi cô trả xong thì xin mua. Cả hai cái đồng hồ có sáu mươi đô la, vị chi có ba mươi đồng một cái. Tôi cần một cái để thay cái đồng hồ Toyota ở nhà, hồi mua xe người ta cho quà. Nhưng nó đã rơi và vỡ kính. Tôi nghĩ đến bà cụ nên mua hai để tặng bà một. Tôi nghĩ thầm, chắc bà cụ vui lắm vì cái đồng hồ này độc đáo là mỗi giờ Elvis lại hát một câu trong những bản nhạc ngày xưa ông hát. Món quà tặng này biết đâu có thể làm bà cụ mỗi giờ mỗi trẻ lại khi hoài niệm và yêu mến Elvis Presley.

Đâu ngờ ý Chúa đã an bày, tới hôm lễ Tạ ơn năm ấy. Tôi không có cơ hội đi giao pizza đến nhà bà nên đợi hết giờ làm thì lái xe đến nhà bà. Bấm chuông để tặng bà cái đồng hồ. Bà vui đến ứa nước mắt với một người Việt nam vô danh, tôi thì khóc được với một người bản xứ đã tặng tôi cái kính mới vào lễ Tạ ơn năm ấy. Bà nói với tôi, “Cái kính gãy của anh đã rơi khỏi túi áo lạnh của anh nửa cái. Sáng hôm sau tôi thấy trên sofa, nên tôi đi đặt làm cái kính mới cho anh, theo độ của cái kính gãy. Anh thử lại xem có vừa mắt không…?”

Chúng tôi thành bạn vong niên với nhau cho tới lúc bà mất. Tôi thành bạn nhậu của ông nhà sau khi bà mất đến lúc ông phải vô viện dưỡng lão…

Từ đó tôi cảm nhận về ngày lễ Tạ ơn qua lăng kính mới. Nếu cứ nhìn cuộc sống qua bảng giá, cộng thuế ở Mỹ này thì cuộc đời khô xảm lắm! Mỗi người chỉ còn là cái máy in tiền để đi mua và trả thuế. Tôi hiểu thêm ý nghĩa của lễ Tạ ơn là sự cho đi và nhận lại; dù chỉ một câu chúc mừng nhau, món quà mọn, nhưng làm ấm lòng nhau cho cuộc sống thăng hoa tới người người cảm nhận được hạnh phúc quanh mình. Nên tôi hiểu được một người bạn đã trò chuyện với tôi trước lễ Tạ ơn gần đây, cô ấy nói, “Ngày xưa em cũng hay ăn gà vào dịp lễ này với gia đình, nhưng từ ngày quy y, em không ăn thịt gà nữa. Cứ lễ giết gà về là em ráng làm những việc tốt, lớn nhỏ gì cũng hồi hướng công đức cho tất cả những con gà sẽ bị giết trong dịp lễ này, cầu mong cho chúng thoát khỏi kiếp súc sanh và được đầu thai vào một kiếp sống mới, tốt đẹp và an lành hơn…”

Có phải lễ Tạ ơn đã cứu rỗi một người, rồi ý nghĩa ngày lễ thấm sâu thêm vào lòng người để mỗi người hướng thiện theo cách riêng? Để mỗi năm lễ Tạ ơn về, ai cũng ráng sắp xếp công việc để có thể tham gia vào những bữa ăn miễn phí tổ chức bởi các Hội Từ Thiện, nhằm giúp bữa ăn cho những người không nhà. Ai từng đến với những bữa ăn này, thường sang năm lại đến vì thôi thúc của lòng từ bi đã thức dậy trong tâm khi nhìn những người nghèo đứng xếp hàng trong gió lạnh để nhận một phần ăn từ những người thiệm tâm. Ai có thể đứng ngoài tình người dửng dưng cho được. Phải đứng về một phía, nếu ta không là người cho thì ta sẽ là người nhận. Chẳng ai đứng ngoài xã hội mình đang sống được cả.

Với lễ về năm nay, tôi vừa gãy cái kính do bất cẩn. Ta thán với người bạn xa,“sao tôi xui dữ vầy nè?” Bạn tôi gợi ý, đi tìm cái kính cũ xài đỡ đi, rồi tính sau. Tôi chỉ tìm ra cái kính của bà cụ năm xưa cho, cũng đã gãy… Tôi hỏi tại sao những người cho không cung cấp đủ kính cho tôi dùng – là ý nghĩ trong mùa Tạ ơn này! Nhưng nhờ không có kính nên tôi chẳng nhìn xa được nên nhìn vào lòng mình là khỏi cần kính. Tôi thấy rõ ra mình cứ đứng mãi bên phía người nhận nên bên cho hụt người! Tôi gọi cô bạn đã quy y, “Cho anh đóng góp chút đỉnh vô bữa ăn cho người không nhà mà nhóm con lai của các em tổ chức. Nếu hôm đó anh có thời gian thì anh sẽ góp một bàn tay với anh chị em…”

Một trong những ý nghĩa của lễ Tạ ơn là sự cho và nhận. Ở đâu cũng nhiều người rộng lòng nên ở đâu cũng có rất nhiều người đang cần những tấm lòng nhân ái của mọi người. Nếu Tạ ơn chỉ gói ghém với những người mà ta từng thọ ơn thì danh sách những người ta phải mang ơn, đền ơn sẽ dài hơn trí nhớ chúng ta nhiều bởi không ai tồn tại trên đời mà không từng mang ơn người khác. Chúng ta được sinh ra làm người, đã là một ân sủng của Tạo hoá. Tôi không biết xuất thân của ai, nhưng bản thân thì tôi rõ. Từ đứa bé đủ cơm no áo ấm, mỗi ngày đến trường. Rồi lớn lên trong mù mịt tương lai vì lịch sử sang trang. Rồi vượt thoát đến miền đất hứa, trải qua bao nhiêu hoàn cảnh khi hưng lúc khó… Tôi không thể một mình vượt qua tất cả để tồn tại đến bây giờ mà ơn thọ từ cái kính của người bản xứ đã tặng tôi, làm thay đổi cái nhìn của một người di dân theo hướng thiện tâm và tích cực hơn…

Mùa Tạ ơn về, lễ Tạ ơn cận kề với bao tấp nập ngoài phố thị, trên môi cười trẻ nhỏ, lo toan trong ánh mắt những người lớn còn khó khăn… Tôi đã đủ cơm ăn áo mặc, một việc làm ổn định, một chỗ ở không phải sợ nắng mưa. Tôi Tạ ơn xứ sở này đã cho tôi biết bao nuôi dưỡng và dung thứ để tôi có hiện tại. Tạ ơn quê nhà đã đón nhận tôi từ một sinh linh bé bỏng, cho tôi thật nhiều kỷ niệm tuổi thơ, cả nỗi nhớ thương quê dạt dào trong lòng người viễn xứ khi lễ Tạ ơn về.

Tạ ơn cha mẹ đã sinh thành dưỡng dục. Tạ ơn thầy cô đã dạy dỗ cho tôi từ vỡ lòng tới khai trí. Tạ ơn anh chị em trong nhà đã chia cay xẻ đắng với nhau khi vận nước đổi thay, cha tù mẹ bệnh… Tạ ơn bạn bè đã lắng nghe và chia sẻ cùng tôi. Tạ ơn em mùa về khơi gợi biết bao nỗi niềm. Tạ ơn cả lời thơ dòng nhạc đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi theo năm tháng…

Tạ ơn đời khoan thứ bao dung…

Thanksgiving 2016

Phan

From: nguyenkimchuc & Anh chi Th ụ  Mai gởi

LUYỆN NGỤC LẦN ĐẦU TIÊN CON MỞ MẮT CHO TRỌN

LUYỆN NGỤC LẦN ĐẦU TIÊN CON MỞ MẮT CHO TRỌN

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Bạn hãy tưởng tượng, khi bạn sinh ra cho đến khi lớn lên, bạn chưa từng thấy ánh sáng hay màu sắc.  Rồi với khoa học kỳ diệu, các bác sĩ chữa cho bạn được thấy.  Bạn cảm nhận điều gì ngay lập tức khi bạn mở mắt ra?  Kinh ngạc?  Hoang mang?  Say sưa?  Đau đớn?  Hay là tổng hợp các cảm xúc khó tả này?

Bây giờ thì chúng ta biết câu trả lời này.  Loại giải phẫu này đã được thực hiện và chúng ta đã được nghe một vài phản ứng của các bệnh nhân khi họ được mở mắt và được thấy ánh sáng, màu sắc lần đầu tiên trong đời.  Những cảm giác của họ lúc đó sẽ làm chúng ta vô cùng ngạc nhiên.  Tôi đưa ra đây lời của J.Z Young, một chuyên gia trong ngành chức năng não bộ mô tả như sau:

lyen-nguc

“Khi được mở mắt, bệnh nhân chỉ rất ít hoặc hoàn toàn không vui thú gì, thật vậy, họ đối diện với cảm nghiệm đầu tiên này trong đau đớn.  Trước mắt họ chỉ là một đống hỗn độn ánh sáng và màu sắc quay vòng vòng.  Rõ ràng là với thị giác, họ gần như không thể cầm nắm đồ vật, nhận diện và gọi tên chúng.  Họ không có khái niệm về không gian và vật thể, cho dù họ đã biết và xác định được tất cả mọi vật này bằng xúc giác.   Có thể bạn sẽ nói: “Tất nhiên, họ phải mất chút thì giờ để học cách nhận biết chúng bằng thị giác.”  Nhưng cái thì giờ đó không phải là một chút, mà là rất dài, có khi mất cả hàng nhiều năm.  Bộ não của họ không được huấn luyện để tuân theo nguyên lý của thị giác.  Chúng ta không ý thức được là có những nguyên lý như vậy, chúng ta nghĩ, chúng ta thấy, chúng ta nói là chuyện tự nhiên.  Nhưng sự thật là suốt thời thơ ấu, chúng ta đã được học một loạt những nguyên lý như vậy.” (Xem: Emilie Griffin, Souls in Full Flight, p. 143-144)

Có lẽ những gì tôi vừa nói ở trên sẽ cho chúng ta một hình ảnh hữu ích tương đương với luyện ngục của Đạo Công giáo La Mã.  Có thể nào chúng ta hiểu được luyện ngục chúng ta chịu sau khi chết theo cách này hay không, cụ thể là xem luyện ngục như việc mở mắt và mở lòng chúng ta với ánh sáng và tình yêu quá toàn vẹn khiến chúng ta phải tái tiếp thu và tái nhận thức trong đau đớn hệt như người được chữa sáng ở trên, hay không?  Luyện ngục chính là lúc chúng ta được Thiên Chúa ôm trọn và trong hơi ấm cùng ánh sáng của Ngài, tất cả những khái niệm trần tục về tình yêu và hiểu biết của chúng ta trở nên quá tầm thường bé nhỏ, hệt như người mù bẩm sinh được mở mắt nhìn đời, chúng ta phải đau đớn đấu tranh trong ánh sáng quá đỗi huyền diệu đó để đập tan đến tận nền móng và xây dựng lại một cách sống động toàn bộ lối suy nghĩ và yêu thương của chúng ta, có thể hiểu như vậy hay không?  Liệu có thể hiểu luyện ngục không phải là sự thiếu vắng Thiên Chúa hay một dạng trừng phạt và trả nợ cho tội chúng ta phạm, mà là những gì xảy đến khi chúng ta được ôm trọn say sưa trong vòng tay Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu trọn hảo và Chân lý toàn vẹn, hay không?

Quả thật, có phải là ba nhân đức đối thần, tin, cậy, mến, đã cố để đưa chúng ta đến đời sống như thế hay sao?  Có phải đức tin là một nhận thức vượt trên những gì chúng ta có thể xác định được hay không?  Có phải đức cậy là neo giữ chúng ta vào một sự vượt ngoài những gì chúng ta có thể tự mình điều khiển và bảo đảm hay không?  Và chẳng phải đức mến là vươn mình ra ngoài những gì vốn nâng đỡ chúng ta hay không?

Khi mô tả về thân phận con người trên trần thế, thánh Phaolô đã nói rằng, ở đây, trong đời này, chúng ta chỉ nhìn thấy “qua một tấm gương mờ tối”nhưng ở đời sau, chúng ta sẽ được thấy “mặt đối mặt.”  Khi mô tả tình trạng trần thế hiện thời của chúng ta, rõ ràng ngài đã nhấn mạnh một sự mù tối nhất định, một bóng đêm thời còn phôi thai, và sự bất lực không thể thực sự nhìn thấy mọi vật như chính bản chất thực của chúng.  Và một điểm quan trọng nữa phải lưu ý đó là những lời trên, ngài đã nói trong văn cảnh muốn chỉ cho chúng ta rằng ngay trong đời này, đức tin, đức cậy, đức mến giúp chúng ta dần dần khai mở khởi tấm mạng mù tối đó.

Dĩ nhiên chỉ có những nghi vấn, gây bối rối cho cả Tin Lành lẫn Công giáo.  Nhiều người Tin Lành và phái Phúc Âm bác bỏ hoàn toàn khái niệm luyện ngục, vì theo Kinh Thánh thì chỉ có hai nơi bất diệt là thiên đàng và địa ngục.  Ngược lại, nhiều người Công giáo La Mã lại thấy không ổn khi người ta không nhìn nhận luyện ngục là một nơi hay một tình trạng tách biệt với thiên đàng.  Nhưng khi nhận thức luyện ngục như một cách mở ra toàn vẹn cho đôi mắt và tâm hồn, đến đỗi làm cho chúng ta tái nhận thức vạn vật trong đau đớn, khi đó chúng ta có thể có được một khái niệm dễ chấp nhận hơn đối với cả Tin Lành và phái Phúc Âm, đồng thời cũng giúp thay đổi quan điểm phần nào sai lầm về luyện ngục của các tín hữu Công giáo La Mã.  Luyện ngục thực sự chỉ có được nhờ tình yêu, vì chỉ khi nào chúng ta cảm nhận được vòng tay ôm trọn thực sự của tình yêu, lúc đó chúng ta mới nhận ra được tội lỗi của mình, và lần đầu tiên trong đời, dấn mình vào trong năng quyền để thắng vượt khỏi tội lỗi đó. Duy chỉ ánh sáng mới xua tan bóng đêm và chỉ có tình yêu mới xóa bỏ tội lỗi.
Thánh nữ Têrêxa thành Lisieux đã cầu nguyện như thế này: “Xin hãy phạt con bằng một nụ hôn!”  Chỉ có vòng tay ôm trọn của tình yêu hoàn hảo mới là luyện ngục đích thực của tội lỗi, vì chỉ khi được nằm trọn trong tình yêu, chúng ta mới thực sự nhận thức được tội của mình, và chỉ khi đó chúng ta mới có được khát mong, năng thị, và sức mạnh để sống trong tình yêu và chân lý.  Nhưng khi thả mình vào trong tình yêu và ánh sáng đó, thì luôn luôn, chúng ta sẽ cảm nhận được cùng lúc say mê và hoang mang, ngây ngất và rối bời, thần kỳ và tận khổ, hân hoan và đau đớn.  Thật vậy, chính đó mới là luyện ngục.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trung Quốc: Ông Trump vẫn ôm mộng ‘bá chủ’ ở Biển Đông

Trung Quốc: Ông Trump vẫn ôm mộng ‘bá chủ’ ở Biển Đông

VOA

Ông Trump hiếm khi nhắc đến Biển Đông trong chiến dịch vận động tranh cử, nhưng tập trung vào quan hệ kinh tế với Bắc Kinh.

Ông Trump hiếm khi nhắc đến Biển Đông trong chiến dịch vận động tranh cử, nhưng tập trung vào quan hệ kinh tế với Bắc Kinh.

Một nhiệm kỳ tổng thống của ông Donald Trump không có nghĩa là Mỹ sẽ rút ra khỏi Biển Đông, nhưng sẽ tiếp tục theo đuổi giấc mộng “bá chủ khu vực”, các học giả Trung Quốc, những người đã soạn thảo một phúc trình cho một viện nghiên cứu có ảnh hưởng của chính phủ, bình luận hôm thứ Sáu.

Đảm bảo việc “kiểm soát tuyệt đối” ở Biển Đông là điểm mấu chốt của chiến lược quân sự Hoa Kỳ ở châu Á-Thái Bình Dương, theo bản báo cáo được các tác giả cho biết là lần đầu tiên công khai đánh giá về sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ trong khu vực, được công bố hôm thứ Sáu ở Bắc Kinh.

“Sẽ không có sự thay đổi đột ngột chính sách của Mỹ ở biển Đông”, ông Ngô Sĩ Tồn, người đứng đầu Viện Nghiên cứu Quốc gia về biển Đông của Trung Quốc, nói. Viện có ảnh hưởng nằm ở Hải Nam này là nơi soạn ra phúc trình trên.

Ông Trump hiếm khi nhắc đến Biển Đông trong chiến dịch vận động tranh cử, nhưng tập trung vào quan hệ kinh tế với Bắc Kinh, đe dọa sẽ coi Trung Quốc là nước thao túng tiền tệ và đánh thuế nhập khẩu lên hàng hóa Trung Quốc.

Ông Ngô nói thêm rằng các cam kết của Hoa Kỳ đối với đồng minh cũng như lập trường bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông sẽ không thay đổi. Ông còn cho rằng căng thẳng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về vấn đề Biển Đông có khả năng gia tăng đồng thời với sự phát triển quân sự của Trung Quốc.

Nỗ lực gần đây của Hoa Kỳ nhằm đối phó với việc hạn chế tự do hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông đã khiến Bắc Kinh nổi giận và làm dấy lên lo ngại xung đột quân sự.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã gọi một cuộc tuần tra của tàu chiến Hoa Kỳ hồi tháng 10 là “bất hợp pháp” và “khiêu khích”.

Báo cáo cho biết “Theo quan điểm của Hoa Kỳ, các hoạt động xây dựng bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông đã khẳng định sự nghi ngờ của Hoa Kỳ rằng Trung Quốc có ý định thực hiện chiến lược ngăn tiếp cận đối với vùng biển này”.

Sẽ có “sự tiếp diễn hơn là thay đổi” trong chính sách quân sự của ông Trump ở châu Á-Thái Bình Dương, ông Chu Phong, giám đốc Trung tâm Biển Đông thuộc Đại học Nam Kinh, cho biết tại buổi ra mắt báo cáo.

Ông Trump có thể không dùng thuật ngữ “tái cân bằng” khu vực nhưng có thể ông sẽ giữ lại hầu hết các chính sách, ông Chu cho biết thêm.

Các học giả đều nhất trí rằng có khả năng cao trong việc gia tăng cho tiêu quân sự của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương dưới thời tổng thống Trump.

Chính quyền của ông Trump sẽ “không phải là ngoại lệ” so với các chính quyền thuộc Đảng Cộng hòa khác và sẽ gia tăng chi tiêu quân sự, ông Chu nói.

3 câu chuyện khiến bạn phải xem tới 3 lần và trầm ngâm tới 3 tiếng…

3 câu chuyện khiến bạn phải xem tới 3 lần và trầm ngâm tới 3 tiếng…

Trong việc đối nhân xử thế, chúng ta hãy cố gắng học cách lắng nghe, nên cho người khác có cơ hội để giải thích. Có như vậy, mới giúp chúng ta tránh được nhiều điều khiến ta phải hối tiếc sau này.

1. Sự khoan dung.

Câu chuyện kể về một người lính Mỹ, cuối cùng đã được trở về nhà sau trận chiến đấu vô cùng ác liệt ở Việt Nam…
Từ San Francisco, anh gọi điện cho cha mẹ mình: “Ba mẹ ơi, con đã trở về nhà này, nhưng con có một chuyện muốn nhờ ba mẹ. Con có một người bạn, con muốn đưa anh ấy về nhà cùng con”. “Chắc chắn rồi, con trai yêu quý“, cha mẹ anh vui vẻ trả lời: “Ba mẹ rất muốn gặp bạn con”.
“Nhưng có một điều con muốn nói trước với ba mẹ”, chàng trai tiếp tục, “anh bạn con đã bị thương khá nặng trong chiến tranh. Anh ấy đã hơi bị đãng trí và còn bị mất một cánh tay và một chân. Anh ấy không có nơi nào để về, và con muốn anh ấy đến sống với chúng ta…”
“Ồ, ba mẹ xin lỗi con, con trai… Nhưng có lẽ chúng ta có thể giúp anh ấy tìm một nơi nào khác để sống…”
“Không, ba mẹ ơi, con muốn anh ấy tới sống với chúng ta”.
“Con à“, người cha nói, “con có biết con đang yêu cầu cha mẹ điều gì không? Một người tàn tật đến như vậy sẽ là một gánh nặng khủng khiếp cho ba mẹ. Ba mẹ còn có cuộc sống riêng của mình chứ, ba mẹ không thể để một điều như vậy làm ảnh hưởng tới cuộc sống riêng. Ba nghĩ rằng con hãy về nhà đi và quên anh bạn đó của con đi. Anh ấy rồi sẽ tìm được cách lo liệu cho cuộc sống của mình thôi…”
Lúc đó, người con trai gác điện thoại. Cha mẹ anh không còn nghe thấy điều gì từ đầu dây bên kia nữa. Song, một vài ngày sau đó, họ đột nhiên nhận được một cú điện thoại từ đồn cảnh sát San Francisco. Con trai của họ đã qua đời sau khi ngã từ trên một tòa nhà xuống, cảnh sát đã thông báo như vậy cho họ. Cảnh sát San Francisco nhận định rằng đó là một vụ tự sát.

Cha mẹ người lính, trong đau đớn tột cùng, đã vội vã bay tới San Francisco và được đưa tới nhà xác thành phố để nhận diện thi thể của con trai. Họ nhận ra anh, người con trai yêu quý của mình. Nhưng đột nhiên họ khiếp hãi không thốt nên lời khi nhìn thấy một điều mà trước đó họ không hề hay biết, đó là con trai của họ chỉ còn một cánh tay và một chân.
Những giọt nước mắt ân hận rơi xuống, nhưng tất cả đã quá muộn màng.

Cảm ngộ: Đừng bao giờ đối xử phân biệt với người khác, bạn sẽ không biết được người thực sự bị gây tổn thương là ai? Hãy bao dung rộng lượng với mọi người và tự nghiêm khắc với bản thân mình! Nếu mỗi người chúng ta đều có thể dành sự bao dung và nhân ái cho những người lạ như cho chính người thân của mình, thì thế giới này sẽ tốt đẹp biết bao.
Bởi vì với sự từ bi, bao dung chúng ta sẽ đủ sức mài mòn bất kỳ hòn đá vô tri vô giác nào để trở thành một viên ngọc lung linh tỏa sáng, đủ sức biến điều khó khăn trở nên dễ dàng, đủ sức biến một người tầm thường hay tàn khuyết thành một vĩ nhân.  Đừng lãng phí tình yêu thương mà những người thân yêu dành cho bạn, bởi vì điều này đối với họ lại là một sự tổn thương lớn.

Đừng lãng phí tình yêu thương mà những người thân yêu dành cho bạn, bởi vì điều này đối với họ lại là một sự tổn thương lớn.

2. Sự hiểu lầm:

Tại Alaska có một cặp vợ chồng trẻ mới kết hôn. Đến thời kỳ người vợ sinh nở nhưng do sinh khó nên đã qua đời để lại đứa con.

Người cha vì mải cuộc sống bận rộn, nên con không có ai chăm sóc. Vì vậy người cha đã đào tạo một con chó. Con chó này rất thông minh và biết nghe lời, có thể chăm sóc em bé được. Nó còn mang được bình sữa mang đến cho em bé uống.

Một hôm người cha để con chó ở nhà trông chừng đứa bé, khi ông trở về nhà bỗng thấy khắp miệng con chó toàn là máu, nguyên nhân là vì……
Người đàn ông ra ngoài có việc, để con chó ở nhà trông đứa bé. Khi ông trở về, nhìn thấy khắp sàn nhà toàn là máu, nhưng lại không thấy đứa bé đâu cả. Còn con chó thì vừa liếm máu tươi ở khóe miệng, vừa vẫy vẫy cái đuôi vui vẻ nhìn ông.

Người đàn ông nổi giận, liền rút con dao đâm mạnh vào bụng con chó. Con chó kêu thảm một tiếng, làm cho đứa trẻ đang ngủ say dưới tấm thảm loang lổ vết máu giật mình tỉnh dậy. Lúc này, người đàn ông kia mới phát hiện xác chết của một con cho sói đang nằm bên cạnh góc tường.

Cảm ngộ: Có rất nhiều sự việc mà bạn nhìn thấy tận mắt, nghe thấy tận tai, nhưng nó chưa chắc đã đúng như những gì bạn nghĩ.
Trong việc đối nhân xử thế, chúng ta hãy cố gắng học cách lắng nghe, nên cho người khác có cơ hội để giải thích. Có như vậy, mới giúp chúng ta tránh được nhiều điều khiến ta phải hối tiếc sau này.
Ngược lại nếu chúng ta không hỏi, không nói, không giải thích mà đã vội vã hành động hay phán xét thì đây không phải là thể hiện sự mạnh mẽ, cá tính mà nó chính là sự bất công, không có trách nhiệm với chính mình và những người khác.

3. Sự nóng giận

Một cậu bé có tính xấu rất hay nổi nóng. Một hôm cha cậu bé đưa cho cậu một túi đinh và nói với cậu bé rằng mỗi khi cậu nổi nóng thì hãy chạy ra đằng sau nhà đóng một cái đinh lên hàng rào gỗ.
Ngày đầu tiên, cậu bé đã đóng 37 cái đinh lên hàng rào. Nhưng sau vài tuần cậu bé đã tập kiềm chế cơn giận của mình và số lượng đinh cậu đóng lên hàng rào mỗi ngày một ít đi. Cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình thì dễ hơn là phải đóng cây đinh lên hàng rào.

Một ngày kia, cậu đã không nổi giận một lần nào suốt cả ngày. Cậu nói với cha và ông bảo cậu hãy nhổ một cái đinh ra khỏi hàng rào mỗi một ngày mà cậu không hề nổi giận với ai dù chỉ một lần.

Đừng lãng phí tình yêu thương mà những người thân yêu dành cho bạn, bởi vì điều này đối với họ lại là một sự tổn thương lớn.

Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một bữa cậu bé tìm cha mình báo rằng đã không còn một cái đinh nào trên hàng rào nữa. Cha cậu đã cùng cậu đến bên hàng rào. Ở đó ông nói với cậu rằng:

“Con đã làm rất tốt, nhưng hãy nhìn những lỗ đinh trên hàng rào. Hàng rào đã không thể giống như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều gì trong cơn giận dữ, những lời nói đó cũng giống như những lỗ đinh này, để lại những vết sẹo trong lòng người khác. Dù sau đó con có nói xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa, vết thương đó vẫn còn ở lại. Vết thương tinh thần cũng đau đớn như những vết thương thể xác vậy. Những người xung quanh ta, bạn bè ta là những viên đá quý. Họ giúp con cười và giúp con trong mọi chuyện. Họ nghe con nói khi con gặp khó khăn, cổ vũ con và luôn sẵn sàng mở rộng tấm lòng mình cho con. Hãy nhớ lấy lời cha…”

Cảm ngộ: Con người khi cáu giận thường trút giận dữ lên những người thân yêu ở quanh mình, bởi vì họ biết những người thân yêu của chúng ta sẽ luôn bao dung và tha thứ cho chúng ta. Nhưng những lời nói khi tức giận luôn giống như những chiếc đinh làm tổn thương người khác. Có thể bạn chỉ là vag lãng phí tình yêu thương mà những người thân yêu dành cho bạn, bởi vì điều này đối với họ lại là một sự tổn thương lớn.

Anh chị Thụ & Mai gởi

Không Qúa Muộn Ðể Nên Thánh

Không Qúa Muộn Ðể Nên Thánh

Người Nhựt Bản có kể một câu chuyện như sau:

Zenkai là một thanh niên con của một hiệp sĩ Samourai. Anh được tuyển vào phục dịch cho một viên chức cao cấp trong triều đình. Không mấy chốc, Zenkai đem lòng say mê người vợ của chủ mình. Anh lập mưu giết người chủ và đem người đàn bà trốn sang một vùng đất lạ.

Anh tưởng có thể ăn đời ở kiếp với người đàn bà. Nhưng không mấy chốc, người đàn bà đã để lộ nguyên hình của một con người ích kỷ, đê tiện. Zenkai đành bỏ người đàn bà và ra đi đến một vùng đất khác, ở đó anh sống qua ngày bằng nghề hành khất.

Trong cảnh bần cùng khốn khổ, Zenkai đã bắt đầu hồi tâm để nhớ lại những hành động tội lỗi của mình. Anh quyết định làm một việc thiện để đền bù cho quá khứ nhơ nhớp của mình.

Anh đi về một vùng núi hiểm trở, nơi mà nhiều người đã bỏ mình vì khí hậu khắc nghiệt cũng như vì công việc nặng nhọc. Zenkai đem hết sức lực của mình để khai phá một con đường xuyên qua vùng núi ấy.

Ban ngày đi khất thực, ban đêm đào đường xuyên qua núi. Zenkai cặm cụi làm công việc ấy ròng rã trong 30 năm trời.

Hai năm trước khi Zenkai hoàn thành công trình của mình, thì người con của viên chức triều đình mà anh đã sát hại trước kia bỗng tìm ra tung tích của anh. Người thanh niên thề sẽ giết Zenkai để trả thù cho cha mình. Biết trước mình không thoát khỏi án phạt vì tội ác mình đã gây ra mấy chục năm trước, Zenkai phủ phục dưới chân người thanh niên và van xin:

“Tôi xin sẵn sàng chịu chết. Nhưng cậu hãy cho phép tôi được hoàn thành công việc tôi đang làm dở. Khi mọi sự đã hoàn tất, cậu hãy giết tôi”.

Người thanh niên ở lại để chờ cho đến ngày trả được mối thù cho cha. Nhưng trong khi chờ đợi, không biết làm gì, người thanh niên đành phải bắt tay vào việc đào đường với Zenkai mà vẫn nuôi chí báo thù cha.

Nhưng chỉ một năm sau cùng làm việc với kẻ đã giết cha mình, người thanh niên cảm thấy mọi ý muốn báo thù đều tan biến trong anh. Thay vào đó, anh lại thấy dậy lên trong lòng sự cảm phục và thương mến đối với sự nhẫn nhục, chịu đựng của Zenkai.

Con đường đã được hoàn thành trước dự định. Giờ đây dân chúng có thể qua lại vùng núi hiểm trở một cách dễ dàng.

Giữ đúng lời hứa, Zenkai đến phủ phục trước mặt người thanh niên để chấp nhận sự trừng phạt. Nhưng người thanh niên vừa đỡ Zenkai dậy vừa nói trong tiếng khóc:

“Làm sao tôi có thể chém đầu được thầy của tôi?”

Câu chuyện trên đây hẳn hàm chứa được nhiều bài học. Ngạn ngữ Latinh thường nói:” Sai lầm, vấp ngã là chuyện thường tình của con người, nhưng ngoan cố trong sai lầm là bản chất của ma quỉ”. Nét đẹp quí phái nhất nơi lòng người đó là còn biết hồi tâm, còn biết nhận ra lỗi lầm và từ đó quyết tâm xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Trong câu chuyện trên đây hẳn phải là hình ảnh của sự phục thiện mà Thiên Chúa vẫn luôn khơi dậy trong lòng người.

Nhưng bài học đáng chú ý hơn trong câu chuyện trên đây có lẽ là: tình liên đới xóa tan được hận thù trong lòng người. Người thanh niên đã khám phá ra giá trị ấy khi bắt tay làm việc với Zenkai, con người mà trước đó anh đã quyết tâm tiêu diệt cho bằng được. Quả thực, tình liên đới, sự đồng lao cộng khổ, sự hiện diện bên nhau có sức tiêu diệt được hận thù trong lòng người.

    Trích sách Lẽ Sống

From: hnkimnga & Anh chị Thụ Mai gởi

Lại Phải Chửi Thề

Lại Phải Chửi Thề

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Nhật báo Người Việt phát hành từ Orange County, California (số ra ngày 29 tháng 10 năm 2016) vừa “hân hoan” cho biết:

Tổng Thống Philippines, Rodrigo Duterte, nói rằng ông vừa hứa với Chúa là sẽ thôi không phát ngôn tục tằn nữa.

Ghé đến thành phố nhà Davao sau chuyến công du sang Nhật, ông Duterte cho biết, Chúa đưa ra tối hậu thư này với ông khi ông đang ngồi trên máy bay.

Trước mặt báo chí tại phi trường, ông Duterte nói: “Tôi nghe một tiếng nói bảo tôi hãy ngưng chửi thề, nếu không thì máy bay sẽ rơi từ trên không xuống, và thế là tôi hứa chấm dứt.

Đ…mẹ, tưởng gì chớ bỏ chửi thề thì dễ ợt. Dù chưa bị Chúa “hỏi chuyện” bao giờ, tui cũng đã thôi được cả ngàn lần rồi. Lần cuối, cách đây đã hơn tuần. Tui chỉ vừa tái phạm sau khi đọc một bài viết ngắn (“Cán Bộ Cướp Tang Vật Tiêu Hủy – Gian Dối Đến Thế Là Cùng”) của blogger Lã Yên trên trang Dân Luận:

Nhớ có lần tôi đến chơi nhà một người bạn – làm phóng viên đài truyền hình. Thấy nó nuôi một cặp vẹt rất đẹp. Tôi hỏi, tao nhớ là mày đâu có thú chơi chim, nay đổi gu rồi à? Nó cười, đâu có, chả là hôm vừa rồi đi đưa tin về vụ thả động vật hoang dã về tự nhiên, thấy có cặp vẹt đẹp nên đem về nuôi. Tôi hỏi tiếp, thế số còn lại thì sao? Chia nhau thôi, con thì nhậu, con thì bán lại cho nhà hàng. Thấy tôi có vẻ nghi ngờ, nó vỗ vai tôi, chuyện khó tin, nhưng đó là sự thật.

Và hôm nay, việc tranh cướp hàng chuẩn bị tiêu hủy tại Bộ Khoa học và Công nghệ, tôi chẳng lấy gì ngạc nhiên. Chỉ tiếc sự việc tương tự như thế này tồn tại từ lâu rồi, nhưng đến nay mới mới bị phanh phui. Quá muộn.”

Theo thông tin báo pháp luật, vào ngày 21-10, Thanh tra Bộ KH&CN phối hợp với Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (PC46), Công an TP Hà Nội tổ chức tiêu hủy tang vật vi phạm hành chính là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đang được bảo hộ – Cụ thể: 726 chiếc túi xách, 1.057 chiếc ví da, 39 chiếc dây lưng, 06 chiếc đồng hồ đeo tay, 19 chiếc vòng đeo tay, 290 logo, 210 mặt dây lưng và 02 bán thành phẩm túi xách.Tuy nhiên, một clip vừa được tung lên mạng cho thấy tại buổi tiêu hủy có rất đông người xông vào săm soi, lựa chọn và lấy đi nhiều tang vật thu được.

Có lẽ không có ngôn từ nào có thể diễn tả sự tệ hại của một cơ quan công quyền – cấp bộ. Theo luật định, tất cả hàng hóa được kết luận là vi phạm sở hữu công nghiệp như nhái nhãn mác, giả xuất xứ… đều phải bị tiêu hủy. Nhưng ơ đây họ làm gì ? sự thật đã được phơi bầy trong Clip. Thật xấu hổ cho cái gọi là chống hàng giải, hàng nhái.

Ảnh:vietnamnet

Đ…mẹ, mấy con vẹt hay mớ hàng nhái, hàng giả thì ăn nhằm (cái con cặc) gì! Chúng còn tịch thu và chia chác nguyên cả gia sản của hàng chục triệu lương dân, kể cả “ân nhân cách mạng” ấy chứ.

Coi nè:

– Những gì mà Cách mạng lấy được của “nhà giàu” trên toàn miền Nam được liệt kê: “Về tiền mặt ta thu được 918,4 triệu đồng tiền miền Nam; 134.578 Mỹ Kim [trong đó có 55.370 USD gửi ở ngân hàng]; 61.121 đồng tiền miền Bắc; 1.200 đồng phrăng (tiền Pháp)…; vàng: 7.691 lượng; hạt xoàn: 4.040 hột; kim cương: 40 hột; cẩm thạch: 97 hột; nữ trang: 167 thứ; đồng hồ các loại: 701 cái. Trong các kho tàng ta thu được: 60 nghìn tấn phân; 8.000 tấn hoá chất; 3 triệu mét vải; 229 tấn nhôm; 2.500 tấn sắt vụn; 1.295 cặp vỏ ruột xe; 27.460 bao xi măng; 644 ô tô; 2 cao ốc; 96.604 chai rượu; 13.500 ký trà; 1000 máy cole; 20 tấn bánh qui; 24 tấn bơ; 2.000 kiếng đeo mắt; 457 căn nhà phố; 4 trại gà khoảng 30.000 con và một trại gà giá 800 triệu; 4.150 con heo; 10 con bò, 1.475.000 USD thiết bị tiêu dùng; 19 công ty; 6 kho; 65 xí nghiệp sản xuất; 4 rạp hát; 1 đồn điền cà phê, nho, táo rộng 170 hecta ở Đà Lạt” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

     –  “Tại Sài Gòn, 28.787 hộ tư sản bị cải tạo, phần lớn bị “đánh” ngay trong bốn ngày đầu với 6.129 hộ “tư sản thương nghiệp”, 13.923 hộ “trung thương”. Những tháng sau đó có thêm 835 “con phe”, 3.300 “tiểu thương ba ngành hàng”, 4.600 “tiểu thương và trung thương chợ trời” bị truy quét tiếp. Theo ông Huỳnh Bửu Sơn, người trông coi kho vàng của Ngân hàng, trong đợt đánh tư sản này, Cách mạng thu thêm khoảng hơn năm tấn vàng, chưa kể hạt xoàn và các loại đá quý. Có những gia đình tư sản giấu vàng không kỹ, lực lượng cải tạo tìm được, khui ra, vàng chất đầy trên chiếu.” (Sđd, trang 90).

Chỉ riêng về số lượng bị coi như là thất thu (vì cán bộ thu rồi bỏ túi) đã được ghi nhận như sau, tại một số những địa phương có tổ chức vượt biên chính thức – bán bãi thu vàng – hồi cuối thập niên 1970:

 Hậu Giang, 4.866 lượng; Minh Hải, 48.195 lượng; Bến Tre, 3.789 lượng; Cửu Long, 27.000 lượng; Nghĩa Bình, 27.000 lượng; Phú Khánh, 10.987 lượng; Thuận Hải, 1.220 lượng; An Giang, 1.445 lượng”. (Sđd, trang 129).

Và những vụ  cướp ngày (trắng trợn) tương tự  đâu phải chờ đến năm 1975 mới xẩy ra, ở miền Nam:

Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước. Bà Trịnh Văn Bô lại được kêu gọi “làm gương”, đưa xưởng dệt của bà vào “công tư hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tư sản được cho học tập để nhận rõ, tài sản mà họ có được là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân đạo cho làm phó giám đốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ riêng bà Bô, các nhà tư sản từng nuôi Việt Minh như chủ hãng nước mắm Cát Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cũng chấp nhận hợp doanh và làm phó…

Cả gia đình ông Trịnh Văn Bô, sau khi về Hà Nội đã phải ở nhà thuê. Năm 1954, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái có làm giấy mượn căn nhà số 34 Hoàng Diệu của ông với thời hạn 2 năm. Nhưng cho đến khi ông Trịnh Văn Bô qua đời, gia đình ông vẫn không đòi lại được. (Sđd, tập II, trang 204 – 206).

Ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang của ông bà Trịnh Văn Bô.

Ảnh: hanoimoi

Thiệt là mặt dầy mày dạn. Vậy mà ông Bùi Thế Duy, Chánh Văn Phòng Bộ Khoa Học và Công nghệ (KH&CN) tuy thừa nhận là có chuyện hôi của nhưng vẫn “ráng” nói thêm: “… đây là lần đầu tiên xảy ra sự cố nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của việc thực thi pháp luật về sở hữu công nghiệp, gây ra dư luận xấu trong xã hội.”

Ông Duy, rõ ràng, muốn lấy thúng úp voi. Cướp giựt vài cái ví da, túi xách, thắt lưng … thì có (đéo) gì đáng gọi là “sự cố nghiêm trọng.” Đảng của ông cướp bóc không ngừng, từ hơn nửa thế kỷ qua, bộ tưởng là không ai biết hoặc thiên hạ đã quên ráo rồi chăng?