NGƯỜI KHÔNG VẤP NGÃ

  NGƯỜI KHÔNG VẤP NGÃ

“Ông Gio-an lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng:3 “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? “4 Đức Giê-su trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe:5 Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng,6 và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.” (Mt 11, 1-6)

Nỗi hoài nghi của Gioan Tẩy Giả về Đức Giêsu đã lóe lên trong tâm trí tôi một nhân vật khá nổi tiếng trong thời đại ngày nay: Sir [ngài, tước danh giá ở Anh quốc] Alec Guinness là một trong những diễn viên danh giá nhất của thế kỷ XX. Dù xuất hiện trong nhiều phim suốt bao nhiêu năm và nhận nhiều giải thưởng, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là vai Obi Wan Kenobi trong phim “Chiến tranh giữa các vì sao” [Star Wars]

Sir Alec Guinness sinh năm 1914 tại Luân Đôn, trong một gia đình tan vỡ. Ông chưa bao giờ biết mặt cha mình và lớn lên trong cảnh nghèo. Dù được nhận phép thêm sức trong đức tin Anh giáo ở tuổi 16, nhưng ông vẫn không thực sự chắc về niềm tin của mình nơi đạo. Qua những năm về sau, ông đi quanh khắp từ Giáo hội Trưởng lão, chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa Marx, Phật giáo, và thậm chí còn dự vài buổi hội của phái Quaker. Nhưng là một công dân Anh mẫu mực của những năm đầu thế kỷ XX, ông không màng đến Công giáo. Khi ông đang tập vai trong vở Hamlet, một linh mục Anh giáo đến gần giải thích với ông rằng ông đang lầm đường, và chỉ cho ông con đường đúng đắn. Cuộc gặp gỡ này có một tác động trên tâm hồn ông, và ông lấy lại được lòng ham thích nơi Anh giáo. Ông còn đi xa hơn trong đức tin Anh giáo, giữa cuộc biến loạn của Thế chiến II. Nhưng đến năm 1945, ở tuổi 40, ông có một cảm nghiệm khác mở ông ra với Công giáo.

Lúc đó ông đang ở Pháp để quay bộ phim Cha Brown, tác phẩm dựa trên nhân vật linh mục có tài phá án của G. K. Chesterton. Ông đang đóng một vai phụ, và ăn mặc như một linh mục Công giáo. Khi bước ra đường trong bộ áo linh mục, một em bé thấy ông và tưởng nhầm ông là linh mục Công giáo thiệt. Bé chạy đến, nắm lấy tay ông đầy tin tưởng, và đi với ông hết đoạn đường. Sự tin tưởng và tình cảm của đứa trẻ dành cho vị linh mục Công giáo, đã có tác động sâu sắc nơi ông, và khiến ông bắt đầu nghiêm túc nghĩ đến Công giáo. Về sau ông giải thích: ‘Cứ tiếp tục đi, tôi suy ngẫm rằng một Giáo hội có thể khiến cho một đứa trẻ tin tưởng đến thế, có thể tạo ra các linh mục dù chưa quen biết nhưng dễ gần đến thế, thì hẳn không phải là một giáo hội mưu đồ như người ta thường nói. Và tôi bắt đầu đánh sập dần dần những định kiến mà tôi đã được dạy, đã được hấp thụ từ lâu nay.’ (phanxico.vn)

Có lẽ ngày hôm nay Chúa cũng không trả lời trực tiếp mỗi khi chúng ta chất vấn về sự hiện diện của Người. Tại sao con vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh hằng ngày, vẫn giữ luật của Chúa, vẫn yêu thương người cùng khổ mà sao con vẫn gặp bao sóng gió vùi dập trong khi những kẻ sống gian lận, gian xảo thì vẫn cứ giầu có, phây phây sung sướng…? Chúa có phải là Chúa mà con vẫn tin tưởng cầu xin hay không? Chúa có hiện diện nữa hay không mà sao không thấy Chúa ra tay cứu giúp giải thoát? Chúa làm cho con hoài nghi và rồi tự an ủi mình bằng cách tìm đến với một Đấng linh thiêng nào khác?

nhan-chung-song-1

Cũng chính vì sự hoài nghi này mà Sir Alec Guinness đã đi quanh khắp từ Giáo hội Trưởng lão, chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa Marx, Phật giáo, và thậm chí còn dự vài buổi hội của phái Quaker. Điều này cũng vẫn thường xẩy ra với nhiều tin hữu khi cầu xin hoài mà vẫn không được đáp ứng theo nhu cầu, đành tìm đến với vị thần khác nơi chùa chiền hoặc những địa danh linh thiêng khác. Nhưng rất mừng là ông Alec Guinness đã không vấp ngã vì niềm tin trong tâm hồn của ông nhờ vào một nhân chứng rất đơn sơ của một cậu bé. Và ông bắt đầu đánh sập dần dần những định kiến mà ông đã được dạy, đã được hấp thụ từ lâu nay. Như vậy Chúa biểu lộ quyền năng ngang qua sự nhỏ bé và yếu đuối của hài nhi nằm trong máng cỏ và ngang qua cái chết trần trụi của một kẻ tử tội là những điều mà không một ai chờ đợi và muốn đón nhận, Thế nhưng, nơi đó lại có sức mạnh để giải thoát con người khỏi sự thống trị của sự dữ, của tội lỗi và của cái chết.

gioantay-gia

Lạy Chúa, đôi lần con đã ngờ vực về tình yêu của Chúa khi gặp sóng gió, khó khăn trong cuộc sống như thánh Gioan Tẩy Giả đã trải qua, khi phải ở trong lao tù. Nhưng con tin rằng một khi cảm nghiệm được cũng như lắng nghe được tiếng Chúa mời gọi qua những trao ban thầm lặng, những tha thứ cảm thông yêu thương giữa con người với nhau, chắc rằng con sẽ không bao giờ vấp ngã vì chính niềm trông đợi của mình như Sir Alec Guinness đã cảm nghiệm được trong đời sống của chính mình. Amen.

Peter Vũ văn Quí gởi

Cứ 2 phút, có một người trẻ nhiễm bệnh HIV

Cứ 2 phút, có một người trẻ nhiễm bệnh HIV

Thứ năm 01.12 vừa qua là ngày thế giới chong bệnh liệt kháng, hay còn gọi là SIDA theo tiếng Pháp, AIDS theo tiếng Anh. Nhân dịp này, tổ chức UNICEF Nhi Đồng thế giới, đã cho công bố một báo cáo theo đó, con số bệnh nhân nhiễm vi trùng HIV có thể gia tăng 60% trong vòng năm 2030 tới đây nếu không có những biện pháp mới, nhất là đối với giới trẻ.

Báo cáo của UNICEF khẳng định rằng hiện nay, cứ mỗi 2 phút đồng hồ, có thêm một người trẻ nhiễm bệnh liệt kháng, rất thường khi là một thiếu nữ. Nếu không ngăn chặn kịp thời, con số người trẻ nhiễm bệnh mới có thể gia tăng lên 400 ngàn trường hợp mỗi năm, so với 250 ngàn trong suốt năm 2015 vừa qua trên toàn thế giới.

Bệnh liệt kháng cho đến nay, vẫn là một trong các nguyên do chính gây ra cái chết cho giới trẻ. Trong năm ngoái 2015 đã có 41 ngàn người chết vì bệnh này ở trong lớp tuổi từ 10 đến 19. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ đã đạt được trong lãnh vực phòng ngừa, nhất là ngăn ngừa sự truyền bệnh từ mẹ sang con cái. Vẫn trong năm 2015, có khoảng 1,1 triệu người nhiễm bệnh HIV là phụ nữ, thiếu niên và trẻ em. Những em từ 0 đến 4 tuổi bị nhiễm bệnh dễ bị chết nhất và thường khi khám phá ra bệnh rất trễ vì chúng sống tại các nước nghèo Phi châu nam sa mạc Sahara.

Tổng giám đốc UNICEF ông Anthony Lake, nói: Thế giới đã thực hiện những bước tiến khổng lồ để ngăn chặn bệnh liệt kháng. Thế nhưng cuộc chiến vẫn còn dài, vẫn chưa kết thúc, nhất là đối với người trẻ và trẻ em. Mỗi 2 phút đồng hồ, có một người trẻ nhất là các thiếu nữ, có khả năng nhiễm bệnh HIV. Nếu chúng ta muốn đánh bại bệnh liệt kháng, chúng ta phải duy trì tính cách khẩn trương của vấn đề này và gia tăng gấp đôi nỗ lực quảng bá thông tin tức về căn bệnh này đến với mọi người trẻ và thanh niên thiếu nữ.

Các nỗ lực này phải tập trung vào bốn tiêu điểm là đầu tư vao cố gắng tìm các tiến bộ ngăn ngừa mới, nhất là đối với người trẻ và trên lãnh vực địa phương, củng cố công trình thu thập dữ liệu, chấm dứt mọi kỳ thị, bao gồm cả những hành vi bạo lực, bảo đảm các hệ thống ngăn ngừa, thông tin và giáo dục toàn diện về tính dục cho người trẻ. Theo UNICEF, từ năm 2014, ngân khoản tài trợ cuộc chiến chống liệt kháng đã giảm thiểu nhiều. (ANSA/AGI 01.12.2016)

Mai Anh

Do Tan Hung & Nguyễn Kim Bằng  gởi

Chuyện đời Vua Doughnuts …

Chuyện đời Vua Doughnuts …

  Sưu tầm- từ LA Times        ted-ngoy

Ted Ngoy ham mê bài bạc. Nay bỏ đạo Phật
theo Tin Lành và chấp nhận Chúa phạt
vì đã phản bội vợ con. (Ảnh Gary Friedman/ LAT)
Dưới mái hiên của một mobile home ở Long Beach, vua Doughnuts Cambốt, ngả lưng nằm suy gẫm sự đời. Một thời được hưởng giầu sang và sự nể trọng của cộng đồng; Một chú bé nghèo rớt mùng tơi, lấy được con gái người danh gia vọng tộc nhất Cambốt; Triệu phú, đã gặp mặt và tài trợ cho 3 vị Tổng thống Hoa kỳ.

Ted Ngoy tạo sự nghiệp bằng nghề làm doughnuts. Qua nhiều năm ông hướng dẫn hàng ngàn đồng bào ông vào thương trường. Nhờ doughnuts, nhiều người Cambốt đã thoát khỏi hoàn cảnh cô lập đi vào dòng sinh hoạt chính của người Mỹ. Tạo dựng hình ảnh nơi thương trường: “Những chủ nhân ông doughnuts, người Cambốt.”

Ngày nay, ở tuổi 62, vua doughnuts đã phá sản, vô gia cư và sống nhờ vào sự bố thí của vài người bạn còn lại.

Ông James Dok, Chủ tịch Liên Hiệp Cộng Ðồng Cambodge, cán sự xã hội ở Long Beach nói: “Ông ta đã mất hết mọi tiệm doughnuts, giờ đây ông mới bắt đầu một đời sống mới.”

Với cái tên cúng cơm Bun Tek Ngoy, mẹ nuôi Ngoy tại một làng nhà quê sát biên giới Thái Miên. Anh thuộc giống Miên gốc Hoa, thành phần bần dân ở xứ Chùa Tháp.

Năm 1967, mẹ gởi anh lên học ở thủ đô Nam Vang. Anh phải lòng một cô gái đẹp và kiêu sa. Tên cô Suganthini Khoeun. Bố cô là một viên chức cao cấp trong chính phủ. Anh rể cô, Sutsakhan Sak, là cảnh sát trưởng, đã một thời gian thật ngắn, trong những biến động chính trị của Cam Bốt đã hành sử quyền làm tổng thống trong vài ngày ngắn ngủi.

Cha mẹ nàng mong muốn con mình sẽ nên duyên chỗ xứng đôi vừa lứa. Lúc bấy giờ, ở tuổi 16, Suganthini bị kín cổng cao tường, không bạn bè, không được nói chuyện với con trai và hoàn toàn cấm ra khỏi nhà một mình.

Ngoy sống trên gác xép, một căn nhà thuê, cách căn phố lầu của nhà nàng mấy con đường. Là con trai một anh phu xích lô chắc hẳn không có chút hy vọng nào được lọt vào mắt nàng, không có cả quyền mơ đến chuyện yêu cô. Nhưng một đêm anh đã nghĩ ra cách. Giống như truyện Trương Chi, Ngoy leo lên nóc nhà ngồi thổi ống sáo, tiếng sáo lánh lót vang xa khắp xóm. Suganthini và mẹ cô nghe được tiếng sáo thiên thai ấy. Mẹ cô nói đó là loại âm thanh của người con trai đang yêu.

Ngoy viết thơ cho nàng, nhận là người thổi sáo ấy, và nhờ cô sen của nàng đem thơ trao nàng. Tuần sau, Suganthini hồi âm, từ đó cô cậu bắt đầu bí mật trao đổi thư tín. Và rồi, Ngoy xin được gặp mặt.

Nàng viết, “Em nghĩ anh không dám vào phòng em đâu, nhà em đầy lính gác và có nhiều chó dữ.” Một đêm mưa tầm tã, Ngoy chui qua rào kẽm gai bị xước da rách thịt, leo cây dừa chung quanh nhà nàng. Ðu cây dừa nhẩy lên mái nhà rồi lẻn chui qua một cửa sổ. Ướt như chuột, máu me tùm lum, Ngoy rón rén ngoài hành lang mà cũng không biết phòng nào là phòng nàng. Hé mở cửa và lại trúng ngay chóc phòng Suganthini.

Cô nàng kinh hoàng, nhưng cũng cho anh ở lại. Suốt 45 ngày, anh trốn trong phòng nàng. Ngủ dưới gầm giường và phải trốn khi gia nhân vào phòng dọn dẹp. Ðêm đêm, Ngoy cõng nàng trên lưng leo cây dừa xuống đường, đạp xe đưa nàng ra dạo phố Nam Vang. Gần sáng lại phải đưa nàng về phòng. Một đêm, dưới ánh trăng rằm, hai người quì gối bên nhau, chích máu ngón tay, nặn vào ly nước, cùng uống, thề trọn đời chung thủy.

Bất thần, bố mẹ nàng khám phá chuyện bí mật tống cổ Ngoy ra khỏi nhà. Họ dàn cảnh cho Ngoy hẹn gặp nàng tại nhà một người quen, ép Ngoy phải nói anh chỉ đùa với nàng mà thôi. Bố mẹ cô và người nhà ngồi nấp phía trong theo dõi.

Thoạt đầu, Ngoy nói không yêu cô; Anh chỉ giả bộ vậy thôi. Nhưng sau đó Ngoy rút dao ra đâm vào bụng mình và thú thật, anh nói theo lời ép của bố mẹ em. Máu me lênh láng, buộc lòng bố cô phải kêu xe cứu thương chở đi bác sĩ.

Sau biến cố ấy, Suganthini bị nhốt trong phòng nhiều ngày. Bất mãn, đau khổ, cô uống thuốc ngủ tự tử. Nhờ phát giác kịp Suganthini chỉ bị coma. Sau khi cả hai bình phục, buộc lòng bố mẹ nàng phải chấp thuận cho họ lấy nhau. Chiến tranh bùng nổ, năm 1970, Ngoy nhập ngũ. Ðược người anh rể nàng nâng đỡ, Ngoy leo lên đến cấp thiếu tá và được bổ đi làm tại lãnh sự quán bên Thái Lan.

1975, Pol Pot và Khờ Me đỏ cướp chính quyền, cuộc diệt chủng Cam Bốt mở màn. Ngoy sang Mỹ khởi nghiệp trong thế giới doughnuts.

Họ thuộc đợt dân Cambốt đầu tiên đến tị nạn ở Mỹ. Hai vợ chồng, ba người con đến trại Pendleton không một xu dính túi. Nhà thờ Lutheran Peace ở Tustin thuê Ngoy làm hốt rác, quét dọn. Anh xin được việc làm thứ hai tại cây xăng. Gần cây xăng có một tiệm donut. Hàng đêm anh quan sát khách ra vào tiệm. Hăm hở muốn học việc buôn bán, Ngoy tìm gặp ông chủ tiệm. Họ nói Winchells Donut có chương trình huấn luyện và thuê làm quản lý. Ngoy xin vào học nghề rồi nhận tiệm Winchell donut ở Newport Beach. Anh thuê vợ và đứa cháu vào làm. Mấy người nhà làm 17 giờ mỗi ngày và dành dụm nhiều năm.

Ngoy mua tiệm donut đầu tiên của một cặp vợ chồng về hưu, tiệm xìu xìu ễn ễn. Từ ngày đổi tên là Christys Doughnuts ở La Habra bắt đầu sung túc. Từ đó bất cứ tiệm donut nào Ngoy mở cũng mang tên Christys Doughnuts.

Trong vòng năm sau Ngoy mua các tiệm ở Fullerton, Anaheim, Anaheim Hills và Buena Park. Anh còn muốn mua thêm tiệm nữa, nhưng đã thấm mệt với 5 tiệm đầu tiên này. Ngoy nẩy ra sáng kiến. Dân Cambốt tị nạn đến California khá đông. Tiệm doughnuts rất dễ điều hành. Chủ nhân có thể thuê mướn toàn người nhà. Ngoy mua và mở thêm nhiều tiệm và cho người đồng hương sang lại. Ngoy gật gù: “Tôi vui và mọi người đều vui vẻ cả làng.”

Ngoy lái xe motorhome, xe đủ tiện nghi đi vòng quanh California, mở tiệm ở Los Angeles, Modesto, Fresno, San Jose, vùng vịnh Brisbane, Sacramento và San Diego. Tại mỗi địa phương anh dựng tiệm và huấn nghệ cho gia đình rồi sang lại cho chủ nhà. Ngoy dạy họ cách làm bánh và tính sổ sách. Anh dạy họ tên từng loại bánh: Old fashion, Jelly-Filled, Glazed. Anh giúp họ xin giấy phép. Anh cùng đứng tên với chủ vay tiền mua dụng cụ và hàng hóa. Ngoy giúp cho hàng trăm dân Cămbốt tị nạn xin nhà ở và thẻ An sinh xã hội. Cũng nhờ Ngoy mà nhiều người Cambốt khai nghề nghiệp đầu tiên của họ ở Mỹ là làm Donut.

Doughnuts giúp cho nhiều ngàn người thoát khỏi gánh nặng Welfare. Nhiều gia đình đã đi theo bước chân của Ngoy học buôn bán, làm ăn và học Anh ngữ. Lợi tức từ tiệm donut đưa con cái họ vào đại học. Ðến bấy giờ Ngoy không nhớ nổi đã làm chủ bao nhiêu tiệm donut, 40 ? 50 ? 60 ?

Ngoy thường nói: “Tôi muốn mở càng nhiều tiệm càng tốt. Chẳng biết rồi sẽ ra sao, nhưng tôi vẫn cứ tiếp tục mở thêm tiệm.” Cũng như Ngoy, nhiều người Cambốt gốc Hoa sang tiệm của ông. Họ sang tiệm và giao dịch bán buôn chỉ cần một cái bắt tay. Ông nói hầu như mọi người đều sòng phẳng với ông.

Khoảng giữa thập niên 1980 Ngoy đã thành triệu phú. Nhưng, hơn cả tiền tài, ông được sự kính nể của mọi người. Năm 1985, ông và Suganthini trở thành công dân Mỹ. Họ thay tên Mỹ. Ông là Ted bà là Christy. Vợ chồng ông mua căn nhà 3 tầng, 7,000 square-feet, trị giá $1 triệu đô, garage 3 xe ở Lake Mission Viejo, Quận Cam. Ted thích chơi xe Cadillac và bà vợ khoái Mercedes-Benz mui trần. Họ có một căn nhà mát ở Big Bear, và phần nhà chung nghỉ hè ở Acapulco, Mexico. Họ đã đi du lịch sang Âu Châu hai lần.

Ted Ngoy gia nhập đảng Cộng Hòa, tổ chức tiệc gây quĩ cho tổng thống Bush bố, đã diện kiến tổng thống Reagan và Nixon.Ông luôn luôn cổ động đồng hương gốc Á Châu ủng hộ đảng Cộng Hòa.

tedngoy-h-2Năm 1991 Ted Ngoy gia nhập Ðảng Cộng Hòa,
giúp gây quỹ tuyển cử cho Tổng Thống George Bush.
(Ảnh Gary Friedman/ LAT)

Dân Cambốt theo kiểu Ted Ngoy làm thương mại. Khách hàng của Ted mở thêm tiệm và cho đồng hương sang lại. Khoảng đầu thập niên 1990 con số tiệm Doughnuts, do người Cambốt làm chủ tại California lên đến 2400 tiệm.

Ngoy mãn nguyện: “Mọi người đã tìm được mỏ vàng.”

Thế nhưng, dù với những thành công ấy, Ted Ngoy vẫn cảm thấy không hạnh phúc và bị cô lập. “Thiếu chính trị, thiếu tôn giáo, chỉ có làm và làm;” “Tất cả chỉ thấy tiền, đonut rồi ngủ.”

Ông sẵn sàng đi vào một thứ đam mê khác. Ngoy cảm nhận hương vị đam mê mấy năm trước đó. Gia đình ông Ngoy đi Las Vegas lần đầu năm 1977. Họ coi Elvis Presley trình diễn, và Ted chơi vài ván “Zì Zách.” Mấy năm sau, Ted trở lại Vegas hàng tháng, coi show Tom Jones, Diana Ross và Wayne Newton, và cũng đánh bài nhiều hơn.

Các sòng bài Caesars Palace, MGM Grand và Mirage đón rước Doughnuts King rất phải phép. Họ cho phòng free, đồ ăn, vé máy bay hạng nhất, ngồi hàng đầu xem show và boxing. Ngược lại, Ted cúng cho sòng bài hàng ngàn, hàng ngàn đô la.

Ted Ngoy tâm sự: “Las Vegas là thế giới mới, bên cạnh tiền và Donut.” Vợ Ngoy rất ghét tánh cờ bạc của ông. Chị thấy những khoản tiền thua bạc khổng lồ rồi họ cãi cọ liên miên. Nhiều lần bà tha thứ khi ông hứa bỏ, nhưng ít lâu sau, chứng nào tật ấy. Bà nói: “Tôi đã tin lời hứa của ổng cả ngàn lần rồi.”

Rồi Ngoy lén bay đi Las Vegas không cho vợ biết, nhiều khi đi cả tuần không về. Bà lái xe, chở đứa con út, kiếm ổng từ sòng bài này tới casino khác. Ngoy ký giả tên vợ, check vợ. Ngoy mượn tiền của các chủ thuê tiệm. Mượn nhiều quá ổng gán tiệm luôn cho họ.

Ngoy tâm sự: “Khi ngồi vào bàn bạc, ta thấy hứng khởi, ma lực trong cơ thể sai khiến ta, không thể cưỡng lại nổi.”

Tiếng đồn lan ra. Người tị nạn vẫn đến nhờ ông cố vấn bắt đầu xa lánh, họ sợ bị ông vay tiền. Trong lớp hướng dẫn tránh bài bạc Gamblers Anonumous, Ngoy than: “Tôi khóc, mọi người thề thốt, nhưng sau đó chúng tôi vẫn trở lại với thần đỏ đen.” Ngoy còn cá độ với những tay bookies Cambốt đủ đồ chơi: football, basketball. Nhiều Chua nhật ông thua cả 50 ngàn đô.

Năm 1990, Sau cuộc khủng hoảng bài bạc ở Las Vegas, ông Ngoy bay lên Washington DC xin vào chùa, cạo đầu, mặc áo cà sa. Ông vua Donut tu tâm trọn tháng. Sau đó ông còn bay sang chùa ở miền quê bên Thái Lan. Sáng sáng ôm bình bát, đi chân không, trên nhiều khúc đường sỏi đá xin ăn với các khất sĩ khác.

Sau chuyến khổ tu, trở lại quận Cam, ông lại cờ bạc hơn trước. Ngoy than: “Sư sãi, không giúp được tôi, Phật cũng chẳng cứu nổi tôi.”

Cambodge có chương trình bầu cử lần đầu năm 1993, nhà nước kêu gọi công dân về tham chánh. Ngoy là một trong số những người nghe theo. Tài sản Doughnuts của ông cũng gần tiêu tan hết. Ông bán luôn mấy tiệm còn lại. Nhà băng tịch thu căn nhà ở Mission Viejo.

Trở về Cambốt, Ngoy lập đảng Cộng Hòa Tự Do Phát Triển. Ông Ngoy tin sẽ giúp tạo cơ hội cho mọi người phát triển đi đến phồn vinh.

Ông cũng hy vọng với việc tham gia sinh hoạt chính trị sẽ giúp ông lánh xa bài bạc.. “Khi thành một nhân vật lớn, tôi không thể bài bạc được nữa vì cử tri sẽ không bỏ phiếu cho tôi. Họ không tin kẻ bạc bài.”

Ðảng của ông thảm bại cả hai cuộc bầu vào quốc hội 1993 và 1998. Nhưng thủ tướng Hun Sen mời ông Ted Ngoy làm cố vấn về thương mại và nông nghiệp.

Dùng ảnh hưởng thân cận với đảng Cộng Hòa, ông Ngoy thành công trong việc vận động Hoa kỳ ban qui chế Tối Huệ Quốc cho Cam bốt, năm 1995, giúp cho kỹ nghệ may mặc phát triển mạnh tạo hàng ngàn việc làm.

Khi Christy trở về California dự sinh nhật cháu ngoại năm 1999, Ngoy cặp một thiếu nữ, ông mang về sống trong nhà. Ðối với Christy, đó là sự phản bội sau cùng. Bà ly dị và không trở lại Cambốt nữa.

Ông Ngoy rời chính trường bất ngờ năm 2002, khi chống lại hai người đồng minh lớn, bộ trưởng thương mại và Chủ tịch phòng Thương mại Cambodge. Trong một cuộc họp báo ông Ngoy tuyên bố giải tán đảng và tố cáo chính quyền tham nhũng. Ngày hôm sao ông bay trở lại Los Angeles, bỏ sau lưng bà vợ mới và hai đứa con với bà.

Ông vua doughnuts một thời đến phi trường LAX chỉ còn $50 đô trong túi.

Ông trở lại với cộng đồng tỵ nạn ngày xưa. Trong khi ấy 30 tiệm Doughnuts của bà Christy vẫn còn hoạt động cũng như hàng trăm tiệm của những chủ nhân Cambodge khác. Người Cambodge cũng đang bắt đầu bỏ dần nghề đô nut, vì quá mệt mỏi với cách làm việc 17 giờ mỗi ngày mà chỉ kiếm được 13 xu lợi tức từ mỗi chiếc bách bán ra 65 xu. Họ bắt đầu tiến lên, đầu tư vào tiệm liquor, chợ và nhà hàng.

Không một người nào đã được ông Ngoy giúp đỡ ngày xưa cứu vớt ông. Ông Ngoy trách: “Tôi dạy cho họ, chia xẻ tình yêu với họ, bằng con tim trí óc. Và bây giờ họ đâu hết rồi?”

Ông nói tật bài bạc của ông đã kiểm soát được rồi – hoặc chẳng còn tiền bạc để thử nữa. Hiện giờ ông Ngoy sống nhờ vào lòng từ bi của vài người bạn bố thí cho. Ông từ chối làm gác dan, vì: “Còn sức đâu mà đứng ngày 8 tiếng.” Ông có học lớp địa ốc nhưng than không thể nhớ nổi nhiều chi tiết.

Ông Ngoy đã tin Chúa Jesus, cho biết ông cầu nguyện mỗi ngày, xin Thiên Chúa cứu giúp ông. Chua Nhật ông thường dự Thánh lễ tại nhà thờ Parkcrest Christian ở Long Beach, rồi trầm tư mỗi chiều, một mình, ngồi đọc Thánh Kinh.

tedngoy-h-3Ted Ngoy nhờ một mái hiên, mobile home ở Long Beach, CA
làm nhà trọ lúc cuối đời, sau khi đã lên voi, xuống chó vì phản bội vợ con và tính cờ bạc. (Ảnh Gary Friedman/ LAT)
Một tín hữu cùng Hội thánh cho ông ngủ nhờ ở mái hiên có lưới, bên ngoài cái mobile home của bà. Ông thu vén lại thành chỗ ngả lưng, gia tài còn lại là mấy cái áo và vài cái quần máng trên dây phơi.

Ông Ngoy tự xét mình, đang chịu hình phạt của Thiên Chúa, phạt ông về tội bội lời thề uống máu của ông và Suganthini dưới ánh trăng rằm ở Nam Vang năm nào!

Bà Christy Ngoy hiện giờ làm chủ một nhà hàng đặc sản Peru ở Irvine. Một người con trai của họ làm cố vấn tài chánh, người kia làm Computer Networking. Con gái bà làm chủ tiệm Hamburger kiểu cổ điển cũng ở quận Cam.

Bà Christy nói về người chồng cũ: “Ðã có lần tôi tưởng, chắc tôi chết nếu có chuyện gì xẩy đến với anh ấy. Nhưng cuộc tình lãng mạn ấy giờ đây đã quá xa, tôi thấy dường như đã xẩy ra cho một người nào khác. Người đàn ông lạ đột nhập vào phòng ngủ của tôi cách đây 35 năm là một người xa lạ với tôi rồi.”

Ted Ngoy cũng trở thành người xa lạ với chính ông ta. Ông nói: “Tôi không biết bây giờ tôi là ai. Tôi tự hỏi: Ted, Ông là Ai? Tôi cũng không biết luôn.”

Source: CNN viết theo Sam Quinones, Los Angeles Times

Lời Chúa chúa nhật III mùa vọng ngày 11-12

Đức Giêsu trả lời: “ Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.”

Mt 11, câu 4-6

LHQ kêu gọi mọi người lên tiếng vì nhân quyền

LHQ kêu gọi mọi người lên tiếng vì nhân quyền

VOA

Người dân tập trung tại công viên Tự do để kỷ niệm Ngày Nhân quyền tại Phnom Penh, Campuchia, ngày 10 Tháng 12 2016.

Người dân tập trung tại công viên Tự do để kỷ niệm Ngày Nhân quyền tại Phnom Penh, Campuchia, ngày 10 Tháng 12 2016.

Các quốc gia trên thế giới kỷ niệm Ngày Quốc tế Nhân quyền hôm nay, 10/12.

Liên hiệp quốc kêu gọi tất cả mọi người phải đứng lên bảo vệ quyền phổ quát giữa lúc các nhân quyền căn bản vẫn chưa được tôn trọng tại nhiều nơi trên thế giới.

Tổng thư ký Liên hiệp quốc, Ban Ki-moon phát biểu: “Phát huy quyền con người là lợi ích của tất cả mọi người. Tôn trọng quyền con người thăng tiến hạnh phúc cho mỗi cá nhân, ổn định cho mọi xã hội, và sự hài hòa cho thế giới liên kết của chúng ta”.

Người đứng đầu Cao ủy Nhân Quyền Liên hiệp quốc Zeid Ra’ad Al Hussein nói: “Đã đến lúc mỗi chúng ta phải đứng lên vì nhân quyền. Không một việc làm nào là không đáng kể, cho dù bạn đang ở đâu, bạn đều có thể tạo nên sự khác biệt. Chúng ta hãy cùng nhau lên tiếng cho quyền con người nhiều hơn.”

Hoa Kỳ và Liên hiệp Châu Âu đặc biệt kêu gọi Trung Quốc phóng thích các tù nhân chính trị, trong đó có Khôi nguyên Nobel Hòa bình và nhà hoạt động dân chủ Lưu Hiểu Ba, người bị tù đày từ năm 2008 đến nay. Mỹ và EU nêu lên tình trạng nhân quyền tuột dốc của Trung Quốc, nơi hàng trăm luật sư và nhà hoạt động đã bị giam cầm trong năm qua.

“Tôi vẫn hết sức quan ngại về tình trạng tiếp tục giam cầm các luật sư tại Trung Quốc,” đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, Max Baucus nói trong một thông cáo. “Cách Trung Quốc đối xử với các luật sư này và những nhà hoạt động khiến người ta nghi vấn cam kết của Bắc Kinh về nhà nước pháp quyền.”

Thông cáo của EU viết rằng: “Chúng tôi kêu gọi Trung Quốc ngay lập tức phóng thích bất kỳ cá nhân nào đã bị giam giữ vì tìm cách thực hành, bảo vệ, hay cổ súy cho quyền của chính họ và của những người khác.”

Liên minh Bảo vệ Tự do (ADF), một tổ chức cổ súy các giá trị thân Cơ đốc giáo, kêu gọi bảo vệ những người bị bức hại ở Trung Đông, đặc biệt là các Kitô hữu.

Ngày Quốc tế Nhân quyền đánh dấu ngày 10 tháng 12 năm 1948 khi Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền, một văn kiện quan trọng phác thảo các chuẩn mực nhân quyền quốc tế căn bản.

Anh vuốt tóc em, anh vuốt tóc em,

Một Lần Cuối – Khánh Ly

httpv://www.youtube.com/watch?v=Oq7LWMIM_kA

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 3 mùa Vọng Năm A 11/12/2016

 “Anh vuốt tóc em, anh vuốt tóc em,”

một lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi….
Anh hốt trăng thanh, trên áo em xanh,

một lần cuối, như những lần đó xa xôi….
Anh nắm tay em,

anh nắm tay em,

một lần cuối, một lần cuối,

một lần cuối cùng,

để còn thấy đời êm lần cuối.
Một lần cuối cùng, thôi em ơi!”

(Hoàng Thi Thơ – Một Lần Cuối!)

 (1Cor 14: 14-16)

 Trần Ngọc Mười Hai

Vuốt tóc em, chỉ một hay nhiều lần, thì đã sao! Hà cớ gì, anh lại cứ phải bảo đấy “lần cuối, lần cuối cùng thôi em ơi” để làm gì? Thôi thì, anh muốn bảo: lần đó là lần thứ mấy cũng được, miễn là anh đừng hù doạ như các “ông thần/bà thánh” ở nhà Đạo cứ giở Tin Vui/Tin Mừng ngày của Chúa ra mà doạ đám “trẻ người non dạ”, nay không còn hợp thời nữa.

Không tin ư? Thì đây, mời bạn nghe tiếp lời bàn của đấng bậc Đức Thày “lờ mờ” ở Sydney hẳn sẽ rõ. Nhưng, trước khi nghe lời “đức ngài” phán, ta hãy nghe thêm câu ca rất “héo hắt” như sau:

“Thế là héo hắt cho nhau!
Thế là nước mắt đêm thâu!
Thế là mãi mãi, và mãi mãi tình sầu
Thế là tiếng khóc thiên thâu!
Thế là mãi mãi thương đau!
Thế là mãi mãi, và mãi mãi xa nhau

Anh hát cho em nghe, anh hát cho em nghe,

một lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi.
Anh chết trong mắt em!
Anh chết trong mắt em, một lần cuối! như những lần đó … xa xôi.
Anh khóc trên vai em, anh khóc trên vai em, một lần cuối,

một lần cuối, một lần cuối cùng, để còn thấy lòng run lần cuối.

Một lần cuối cùng thôi, em ơi !

Anh khóc trên vai em, anh khóc trên vai em,

một lần cuối, một lần cuối, một lần cuối cùng,

để nhìn thấy tình yêu lần cuối.
Một lần cuối cùng thôi, em ơi
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !

(Hoàng Thi Thơ ­- bđd)

Đấy thấy chưa, hỡi bạn và tôi là các cụ thân thương, trìu mến! Người ngoài đời có hát gì thì cứ việc hát, nhưng sao lại ỷ ôi, mềm ngọt như đấng bậc nhà Đạo cứ rao-truyền những câu hỏi/đáp rất “phán bảo” ở bên dưới:

“Thưa Cha. Con đây vẫn luôn thắc mắc chuyện của Giáo-hội thời tiên-khởi lần đầu tiên thiết-lập luật Đạo buộc con dân phải đến nhà thờ dự thánh-lễ mỗi ngày Chúa Nhật. Câu hỏi của con hôm nay, là: có chuyện ấy vào năm tháng ngày giờ ở thế-kỷ đầu-tiên không?”

 Lại một câu hỏi về giáo-luật và giáo-sử, được chuyển đến Tuần Báo Công giáo Sydney , đã có lời đáp như sau:

“Đây là câu hỏi rất hay khiến tôi phải trả lời ngay rằng: Không! Hội thánh Chúa khi xưa chưa có luật buộc đi lễ nhà thờ vào mỗi Chúa Nhật, ở các thế kỷ đầu có bao giờ cần như thế hết. Kitô-hữu thời đầu từng coi Thánh lễ ngày Chúa Nhật là việc hệ-trọng, nên họ vẫn quyết-tâm tham-dự dù đôi lúc cũng kéo theo nhiều hiểm-nguy, hệ-luỵ.

 Tưởng cũng nên nhớ rằng: vào các thế-kỷ đầu đời, ngày Chúa Nhật ở đế quốc La Mã không hề là ngày nghỉ ngơi bao giờ, thế nên các Kitô-hữu vào thế kỷ đầu đã phải dậy thật rất sớm, để đi Lễ.

 Ta biết được điều này là nhờ bức thư của Pliny Người Trẻ Tuổi là viên thống-đốc người La Mã đã trị vì vùng Pontus-Bithynia, viết vào năm 112 cho hoàng đế Trajan xin ý-kiến về việc bách-hại người theo Đạo Chúa. Ông viết thư bảo rằng: người đi Đạo thường gặp nhau vào một ngày nhất-định trước khi mặt trời mọc…”

 Ông còn nói: sau khi tụ tập gặp nhau vào sáng sớm, những người đi Đạo nói ở đây đã tản mác ngay lập tức, sau đó mới quay trở lại cùng san sẻ hưởng thụ phần thức ăn bình thường trong ngày”, có lẽ ông đề-cập đến Tiệc Lòng Mến Agapè, là bữa ăn thân-thiện được mọi tín-hữu thời đó san-sẻ cho nhau vào thế kỷ đầu.

 Dù có bị theo dõi, bách-hại đến thế nào đi nữa, các Kitô-hữu lúc ấy vẫn gia-tăng lòng đạo và con số các vị này cũng tăng đều. Thống-đốc Pliny Người Trẻ Tuổi còn viết thêm, rằng: “dân-chúng thuộc đủ mọi thành-phần, mọi lứa tuổi, trai hoặc gái đều đã và sẽ can dự vào cuộc lùng bắt rất cần-thiết. Bởi lẽ, lối dị-đoan mê tín này rất lây lan không chỉ tại các thành-phố lớn mà thôi, nhưng còn lan rộng sang các làng mạc và quận huyện ở vùng quê nữa…”

 Lời chứng về lòng tin và việc hiến-tế hy-sinh của các tín-hữu quyết tham-dự thánh lễ Ngày Chúa Nhật xảy đến trong cuộc bách-hại do hoàng-đế Diocletian lập vào năm 303. Tại Abitene thuộc Tunisia khi ấy có một nhóm tín-hữu gồm 49 người đã tụ tập tại nhà riêng của người trong nhóm vào mỗi Chúa Nhật để dự thánh-lễ cho đến một ngày kia họ bị bắt giữ và giải cho vị Phó Lãnh Sự là người La Mã.

 Khi một trong các vị này hỏi các vị này rằng: tại sao họ để cho tín-hữu Đạo Chúa đến nhà mình để dự thánh-lễ, thì ông trả lời: “Chúng tôi không thể sống, mà không có thánh-lễ.” Sách Công vụ Các Thánh Tử Đạo có viết:

 “Ôi khùng điên, ôi khờ dại là những câu hỏi của quan án! Cứ như thể tín-hữu Đức Kitô lại có thể sống mà không có Thánh-lễ ngày Chúa Nhật được sao? Hoặc, thánh lễ Chúa Nhật mà lại không có giáo-dân tham-dự sao có thể cử-hành được. Kìa Satan loài quỷ dữ, người không biết rằng: chính thánh-lễ Ngày Chúa Nhật làm nên Kitô-hữu và Kitô-hữu là những người làm nên thánh-lễ sao? Bởi thế nên, người ta không thể sống được mà lại không có thánh-lễ ngày của Chúa, được.”

Hội thánh không ra luật lệ bắt buộc mọi người phải tham-dự thánh-lễ vào thời đó. Đó là thành-phần cuộc sống của tín-hữu Đức Kitô mặc dù họ bị nguy-cơ sống chết gì cũng không sợ.

Trong Tông-thư Dies Domini (Ngày của Chúa), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có bình-luận: “Hội-thánh ta, dù thời-gian đầu không coi việc này là cần-thiết đi nữa, Hội-thánh vẫn không ngừng xác-nhận rằng đây là sự bó buộc của lương-tâm dấy lên từ nhu-cầu nội-tâm của các tín-hữu vào các thế-kỷ đầu tiên, là như thế.

 Mãi sau này, khi thấy tín-hữu của ta bắt đầu lơ-là hoặc ít hăng-say như trước, Hội-thánh mới nói rõ bổn phận phải tham-dự thánh lễ Chúa Nhật. Thường thì, đây là sự khích-lệ hơn là bắt buộc; nhưng, vào những lúc khiến Hội-thánh phải tiến đến các lý-lẽ mang tính cách giáo-luật đặc-biệt.

 Đây là trường-hợp của các công-hội địa phương có từ thế kỷ thứ tư  trở về sau. Đặc biệt là Công-hội Elvira vào năm 300 khi đó có nói đến luật buộc dự lễ nhưng không đề-cập đến việc đền tội sau khi bỏ lễ những ba lần.

 Đặc biệt hơn cả, là từ thế-kỷ thứ 6 trở đi (như ở Công-hội Agde vào năm 506) quyết-định của các Công-hội như thế đã dẫn đến việc thực-hành trên toàn thế-giới, và tính bó buộc đã trở-thành chuyện bình thường mà thôi.” (X. Dies Domini đoạn 47)

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã giải-thích rằng: trong Điều luật trong Giáo-luật năm 1917 có nói là Hội-thánh lần đầu tiên ban hành việc bó buộc dự lễ ngày Chúa Nhật theo hình-thức một điều luật. Và Giáo luật hiện-hành đã ban hành từ năm 1983 lặp lại cũng một luật buộc như thế vẫn bảo rằng: Vào ngày Chúa Nhật và và các ngày lễ khác, mọi tín-hữu đều được yêu-cầu đến dự thánh-lễ như một luật buộc.” (Giáo luật số 1247 và Tông Thư Dies Domini đoạn 47)

Hỏi rằng mọi tín-hữu ngày nay có được lòng tin như các Kitô-hữu thời tiên-khởi và có tham-dự thánh-lễ ngày Chúa Nhật do động-lực của tình thương-yêu thúc đẩy hay không, đôi khi còn kèm theo một vài sự hy-sinh nữa không đấy? Đó là câu hỏi đặt ra cho mỗi người và mọi người chúng ta.” (X. Lm John Flader, Did the early Church have a law about Mass on Sunday? The Catholic Weekley 08/5/2016 tr. 22)

Thật ra, “Đức ngài” có phán và có bảo cũng vẫn là những lời bảo ban và chuyện phán bảo “xưa rồi Diễm” ở giáo-triều nhiều triết-học, triết-lý rất nhân duyên.

Quả thật, anh cứ “vuốt tóc em” rồi em lại “vuốt tóc anh” như thế mãi rồi lại hỏi những câu/những điều như thế về thánh-lễ rất “Misa”, nghe cũng hơi lạ. Lạ hơn nữa, là khi đức thày còn bảo rằng: chuyện lễ lạy nhà thờ vẫn có luật và lệ đấy chứ!

Thật ra thì, luật và lệ là những điều/những chuyện làm nức lòng người nghe và chịu đi lễ để khỏi thắc mắc những tháng ngày còn lại trong đời, rất rối bời chuyện đạo đức.

Thật ra thì, suy tư đến thế nào đi nữa, giờ đây vẫn xin mời bạn/mời tôi, ta tiến lên thêm bước nữa vào chốn dân-gian Lời Vàng có những điều vẫn được đấng thánh-hiền nhắc nhở rằng:

“Thật vậy, nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ

thì lòng tôi cầu nguyện,

nhưng trí tôi chẳng thu được kết quả gì.

Vậy, phải làm sao?

Tôi sẽ cầu nguyện với tấm lòng,

nhưng cũng cầu nguyện với trí khôn nữa.

Tôi sẽ ca hát với tấm lòng,

nhưng cũng ca hát với trí khôn nữa.

Quả thế, nếu bạn chỉ chúc tụng với tấm lòng thôi,

thì làm sao hạng người ngoài cuộc có thể thưa “A-men”

lúc bạn dâng lời tạ ơn,

vì người đó không biết bạn nói gì?”

(1Cor 14: 14-16)

Thật sự, thì nếu suy tư/tụng niệm nhiều hơn nữa về thánh-lễ Misa hay Tiệc Lòng Mến  ở nhà Đạo, ta cũng thấy nảy ra nhiều ý-tưởng từng nghe biết từ các đấng bậc khác, rất như sau:

“Những ai cho rằng mình là kẻ bước theo chân Chúa, vẫn tham dự đều Tiệc Thánh, một cách năng động hay thụ động, mà lại không tha thiết làm thành viên cộng đoàn tình thương của Chúa, ắt chỉ hưởng lợi ích của Bí tích Thánh Thể, rất ít.

 Tham dự Tiệc Thánh, còn là hành vi cảm tạ. Bởi, nếu tầm nguyên ngôn ngữ, ta sẽ thấy cụm từ “Thánh Thể” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, mang ý nghĩa của một cảm tạ. Nên nhớ là, trong mọi việc, Thiên Chúa thể hiện tình thương cho ta qua sự sống của Đức Giê-su, và Lời Ngài dạy. Qua nỗi đau, cái chết và sự sống lại của Ngài, mà thôi.

 Bởi thế nên, khi tham dự Tiệc Thánh, ta nhớ đến Đức Chúa của Tình Yêu. Nhớ, để cảm tạ. Nhớ, để yêu thương. Cảm tạ, vì ta đã được Tình yêu Chúa đánh động, và đi vào cuộc sống của ta. Đánh động, qua kinh nghiệm bản thân, của mỗi người. Dự Tiệc Thánh, là đi vào với chiêm ngắm và cảm tạ mọi phúc lành, Ngài ban cho sự sống.

 Dự Tiệc Thánh, còn là cử hành sự kiện mình trở nên thành viên đích thực của cộng đoàn. Vì thế, ta sẽ cử hành trong vui tươi, đậm nét thân thương tình bằng hữu. Vui tươi, vì Tiệc Thánh Thể, tự bản chất, không tạo ra cộng đoàn.

 Nhưng, khi dự Tiệc Thánh, ta biết rõ ràng cộng đoàn có mặt ở đó, đang quây quần tề tựu, rất tươi và rất vui. Tham dự Tiệc Thánh, không chỉ có nghĩa là “xem lễ”, bước đến nhà thờ để “đi lễ”, rất cá thể. Dự Tiệc Thánh, cũng chẳng cốt để giữ điều răn Hội thánh, là: “Hãy giữ ngày Chúa Nhật”.  Dự Tiệc Thánh, hay giữ ngày Chúa Nhật, không thể là như đi xem hát/diễn kịch, để giải trí. Không phải để ta lãnh nhận điều gì có lợi, dù vật chất hay tinh thần. Nhưng tham dự Tiệc, là cho đi. Cho rất nhiều. Cho toàn bộ con người mình, hầu liên kết hiệp thông.

 Tiệc Thánh là một Bí tích, điều này có ý nghĩa còn lớn hơn cả ý nghĩa đến dự chỉ để dâng lên đồ cúng kiến, tế thần. Tiệc Thánh, là thước đo chất lượng của tình bằng hữu, nơi cộng đoàn. Đo, là đo cả bản chất và tình trạng của cộng đoàn, nữa. Cộng đoàn nào sinh động, ắt không thể cử hành Tiệc Thánh theo cách lê thê, đáng chán. Nơi nào, không có tinh thần cộng đoàn theo đúng cách thì nơi ấy không thể có Tiệc theo đúng nghĩa. Dù nguyện đường có hoành tráng. Phẩm phục có uy nghi. Ban hợp xướng có tiếng hát thanh trong thiên thần đi nữa, thì Tiệc Thánh ta dự vẫn không mang ý nghĩa đích thực được.

 Có giáo-dân nọ đến dự Tiệc Thánh rất thường nhưng vẫn tự hỏi: sao ta cứ phải “đi lễ”, mà không thể cầu-nguyện ở nhà được nhỉ? Đúng thế. Ai cũng có thể ở tại nhà, mà nguyện cầu. Nhiều khi, nhà là chốn ấm nguyện cầu, rất tốt.

 Nhưng, Tiệc Thánh đâu chỉ là thời gian để nguyện cầu. Thánh lễ chính là Bữa Tiệc. Là, mảng thời gian để ta vui mừng với cộng đoàn thân thương, ta lui tới. Và tiệc vui thánh, không thể thực hiện một cách riêng lẻ, ở tại nhà. Mà, chỉ có thể thực hiện trong chung vui, với nhau. Chung cộng đoàn. Cùng cộng đoàn…”(X. Lm Frank Doyle, Suy Niệm Lời Ngài Chúa Nhật Lễ Mình Máu Chúa, nxb Tôn Giáo 2013 tr. 107-108)

Thật ra thì, nhiều người-đi-Đạo sống trong đời, đôi lúc vẫn lẫn lộn sự Đạo với chuyện đời đến độ họ-và-tôi không nắm bắt được cốt cách cùng ý chính việc tham-dự Tiệc Lòng Mến/Thánh Thể còn mang nặng ý-nghĩa chính-yếu của những tương-quan mật thiết giữa người với người, như đấng bậc ở trên còn nói tiếp:

“Bởi thế, những gì ta cử hành khi tham dự Tiệc Thánh, vẫn nói lên kinh nghiệm sẻ san, cùng đem cho nhau tư cách vui tươi, của cộng đoàn. Và khi bắt đầu phần rước Chúa vào lòng, cộng đoàn ta cùng nhau dâng lên lời nguyện cầu mà Đức Giê-su đã chỉ dạy. Đó chính là lúc, ta ngỏ lời với vị Cha Chung của ta ở trên cao, chứ không phải với người cha riêng của một ai. Qua ngỏ lời, ta cầu Chúa ban cho mọi người có đủ cơm bánh hằng ngày.

 Cầu mong cho nhau, được ơn tha thứ, biết làm hoà. Làm hoà, bằng cử chỉ tay trong tay nắm thành vòng. Và làm hoà, bằng lời chúc bình an cho nhau. Tức, cử chỉ của sự thân thương tình bằng hữu. Của tình an hoà biết thứ tha hết mọi người, trước khi bước lên bàn thánh đón Chúa vào ngự trong cung lòng của chúng ta.     

 Thực hiện động tác an bình hài hoà, tất cả chúng ta sẽ nhớ lại Lời Ngài ở Núi thánh: “Vậy, khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ người anh em đang có chuyện bất bình với anh, hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh/em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. (Mt 5: 23-24).

 Nói cho cùng, nếu không chuẩn bị, ta không thể có được tình an hoà bằng hữu, khi đến với cộng đoàn, ở nhà thờ. Đến dự Tiệc, là ta đã sẵn sàng mang niềm vui tặng trao mọi người. Giáo xứ nào, nếu chỉ lo tổ chức thánh lễ rềnh rang cho có mà chẳng thiết tha gì chuyện buồn/vui xảy đến, với người xứ mình.

 Thì nơi ấy, sẽ trở thành giáo xứ khô cằn, rẫy chết. Tiệc Thánh lúc đó, chỉ là thói quen nhàm chán, đáng từ bỏ. Tiệc Thánh, phải là Tiệc sinh động của cộng đoàn. Cho cộng đoàn. Và do cộng đoàn thực hiện.

 Giáo xứ năng động, không chỉ là toà kiến trúc, nguy nga có thánh lễ, có bài giảng và có đàn hát, rất hăng say. Nhưng, là cộng đoàn tươi vui, biết dựng xây tình yêu thương con cái Chúa, trong hiệp nhất.

 Và, Tiệc Thánh, là dấu chỉ của cộng đoàn vui tươi sinh động, ở giáo xứ . Ở nơi đây, Đức Kitô đang hiện diện sống động trong mọi người. Qua mọi người. Ngài hiện diện, như một tổng thể có Thân Mình rất Thánh, hiệp thông. Liên kết. Hiểu được ý nghĩa đích thực của Tiệc, ta sẽ nhận ra Lời Ngài vẫn chờ và vẫn đợi mọi người. Cả vào lễ Mình Máu Chúa, rất hôm nay.” (X. Lm Frank Doyle, sj sđd tr. 109)

 Thế mới biết, nhiều lúc bầy tôi đây hay bạn bè đó vẫn hay quên sót hoặc hiều lầm ý-nghĩa của Bữa Tiệc Lòng Mến của nhà Đạo, đến độ cứ “đi và làm” như cỗ máy. Chứ, chẳng hiểu rõ mục đích của “đi-và-làm” theo hiệu-lệnh của Đức-Chúa-Tình-Yêu của tôi và của bạn, muôn đời là thế.

Thế mới hiểu, rằng: nhà thơ nọ bị tiếng là “ngớ-ngẩn” hoặc “lẩn-thẩn” sao đó, nhưng vẫn có những nhận-định rất ư là “trải-nghiệm đời” về nhiều thứ như bài thơ “Đừng Tưởng” sau đây:

“Đừng tưởng cứ núi là cao.. Cứ sông là chảy, cứ ao là tù,

Đừng tưởng cứ dưới là ngu.. Cứ trên là sáng cứ tu là hiền,

Đừng tưởng cứ đẹp là tiên.. Cứ nhiều là được cứ tiền là xong,

Đừng tưởng không nói là câm.. Không nghe là điếc không trông là mù.

Đừng tưởng cứ trọc là sư.. Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan
Đừng tưởng có của đã sang.. Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây
Đừng tưởng cứ uống là say.. Cứ chân là bước cứ tay là sờ
Đừng tưởng cứ đợi là chờ.. Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần.

Đừng tưởng cứ mới là tân.. Cứ hứa là chắc cứ ân là tình
Đừng tưởng cứ thấp là khinh.. Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to
Đừng tưởng cứ quyết là nên.. Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua
Đừng tưởng cứ lớn là khôn… Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng

Đừng tưởng giàu hết cô đơn.. Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo
Đừng tưởng cứ gió là mưa.. Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè
Đừng tưởng cứ hạ là ve.. Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…
Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn.. Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.

Đừng tưởng cứ thích là yêu.. Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay
Đừng tưởng vua là anh minh.. Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than.
Đừng tưởng đời mãi êm đềm.. Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.
Đừng tưởng cười nói ân cần.. Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.

Đừng tưởng trong lưỡi có đường.. Nói lời ngon ngọt mười phương chết người
Đừng tưởng cứ chọc là cười.. Nhiều khi nói móc biết cười làm sao
Đừng tưởng khó nhọc gian lao.. Vượt qua thử thách tự hào lắm thay
Đừng tưởng cứ giỏi là hay.. Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần

Đừng tưởng nắng gió êm đềm.. Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng
Đừng tưởng góp sức là chung.. Chỉ là lợi dụng lòng tin của người
Đừng tưởng cứ tiến là lên.. Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm
Đừng tưởng rằm sẽ có trăng.. Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

Đừng tưởng cứ khóc là sầu.. Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng
Đừng tưởng cứ nghèo là hèn.. Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.
Đừng tưởng quan chức là rồng
Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.

Đời người lúc thịnh, lúc suy
Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.
Bên nhau chua ngọt đã từng
Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

 Ở đời nhân nghĩa làm đầu
Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.
Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!”

(Thơ Đừng Tưởng của Bùi Giáng nhận được từ điện-thư vi-tính, mới vừa đây)

Đừng tưởng” hay “cứ tưởng rằng ” cuộc đời có tương-quan giữa người người, là như thế. Đừng tưởng rằng: đời người đi Đạo đôi khi cũng như thế. Như thế, tức mãi mãi tưởng lầm chuyện nhà thờ/nhà thánh chỉ là chuyên-chăm kinh-kệ, mới đáng sống.

Đời người có đáng sống hay không, đâu chỉ vì chuyện “Đừng tưởng” của nhà thơ mà làm mục-tiêu ta của sự sống đi tới. Mục tiêu sự sống hay mục đích của cuộc-đời-người, vẫn là kiếm tìm một hạnh-phúc cũng rất cần nhưng hay tưởng lầm, như nhận định của ai đó đã phóng đi được bầy tôi đây dùng làm kết-đoạn cho câu chuyện phiếm sau đây:

“Đến hôm nay, khi đã thành đạt, vợ đẹp, con ngoan. Cuộc sống hối hả, vô thường vô tận. Nó cũng chẳng bao giờ đóai hoài đến cái đầu, hay miếng xương con cá. Vì những thứ đó đã được vợ nó bỏ đi, chỉ mang phần thịt lên mâm cơm.

Cha mẹ nó lớn tuổi mới cưới nhau. Hồi đó, gia đình nghèo khó. Mẹ mất sớm, cha tần tảo nuôi 3 anh em nó nên người. Nhà gần sông, nhưng cha đau yếu, ít khi có được con cá mà ăn, mà có được bữa cá đã là thịnh soạn lắm với anh em nó rồi. Nó còn nhớ, mỗi lúc ăn cá, cha thường bảo: -Để tao ăn đầu và xương.

Nó nhanh nhẩu hỏi:

-Tại sao thế hả cha?

Cha nó nói vẻ mặt nghiêm nghị, kiểu răn dạy:

-Vì cha già rồi, hay đau đầu, nên ăn đầu thì nó sẽ bớt đau – cái này gọi là ăn óc bổ óc, hiểu không? Xương yếu, ăn xương thì sẽ cứng cáp hơn. Có vậy mà cũng không hiểu hả?”

Tâm hồn trẻ con, nó và hai đứa em đinh ninh là cha nói thật. Mỗi lúc đến bữa ăn, nó còn nhanh nhẩu sẻ ra từng phần. Bỏ đầu và xương qua cho cha nó. Ba anh em tranh nhau phần thịt. Có những lúc nó cũng phân vân, những khi như thế, cha nó lại bảo: “Hồi nhỏ, ông bà nội cho tao ăn thịt suốt, giờ nhìn thịt là cha thấy ớn quá, sau này lớn các con cũng như cha thôi.”

Thấm thoắt thoi đưa, anh em nó lớn lên, và cha nó già đi. Sau này, khi nó đủ hiểu biết mới nhận ra những lời cha nó nói trước đây là nói dối, thì cũng là lúc đời sống của gia đình nó khấm khá hơn. Anh em nó có thể thay cha đi đò, đi sông, mò cua, thả cá.

 Vì thế mà cha nó cũng thỉnh thoảng ăn thịt, hay ăn thường xuyên nó cũng chẳng nhớ. Vì tuổi trẻ bồng bột, không dám – không ngẫm nghĩ nhiều về yêu thương, hay vì cha nó cố tìm cách cho “lời nói dối” được anh em nó chấp nhận hơn, nó cũng chẳng còn nhớ.

Để đến hôm nay, khi đã thành đạt, vợ đẹp, con ngoan. Cuộc sống hối hả, vô thường vô tận. Nó cũng chẳng bao giờ đóai hoài đến cái đầu, hay miếng xương con cá. Vì những thứ đó đã được vợ nó bỏ đi, chỉ mang phần thịt lên mâm cơm.

Hôm nay là ngày giỗ lần thứ 10 của cha nó. Nhìn di ảnh ba gầy còm, nhưng nở một nụ cười tươi sáng. Nhìn con cá chiên to đùng, lấp lánh mỡ mà vợ đặt lên bàn thờ, nó chợt bất giác rơi lệ. Một cơn đau từ đâu hiện về nhói lòng vô tận. Nó phải quay mặt đi để lau hàng lệ, để giấu vợ con. Nhưng nó không thể xóa đi được hình dáng cha già còm cõi, xiêu vẹo bước đi bên sông, “cha đi thả cá mùa nước nổi”.

 Rồi sau đó là những trận thương hàn triền miên hành hạ ông. Nó không thể xóa đi được cái ý nghĩ “nếu cha ăn nhiều thịt hơn, thì đã không già yếu như thế”. Vừa khấn vái, nó lại bất giác kêu lên những tiếng “cha” từ trong cổ họng.

Đến lúc ra bàn ăn. Nhìn vợ đang xẻ thịt con cá, để bỏ đi phần đầu và xương. Nó giữ tay vợ lại: -Em, để anh ăn đầu, đừng bỏ đi”.

Vợ hiểu. Vợ nó bỏ đầu cá qua cho chồng. Chỉ có cô con gái nhỏ là thắc mắc:

-Sao hôm nay ba lại ăn đầu, nó lắm xương, nó sẽ làm đau ba đấy?

Nó xoa đầu con gái, nuốt tiếng nấc đang chầu chực nơi cổ họng vào trong, rồi bảo:

-Dạo này ba hay đau đầu, nên ăn đầu sẽ hết đau con gái à, cái này gọi là ăn đầu bổ đầu đấy con yêu”.

 Nó vừa ăn vừa cố cho những giọt nước mắt không tràn xuống bát cơm.” (truyện ngắn do Cù Lú kể)

 Nghe kể rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta cứ hãnh tiến hước về phía trước mà ra đi miệng ngâm nga những lời hát “vuốt tóc em” tuy buồn bã nhưng vẫn cứ hát “một lần cuối”, rằng:

“Anh hát cho em nghe,

anh hát cho em nghe,

một lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi.
Anh chết trong mắt em!
Anh chết trong mắt em,

một lần cuối! như những lần đó … xa xôi.

Anh khóc trên vai em,

anh khóc trên vai em, một lần cuối,

một lần cuối, một lần cuối cùng,

để còn thấy lòng run lần cuối.

Một lần cuối cùng thôi, em ơi !

Anh khóc trên vai em,

anh khóc trên vai em,

một lần cuối, một lần cuối,

một lần cuối cùng,

để nhìn thấy tình yêu lần cuối.
Một lần cuối cùng thôi, em ơi
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !

(Hoàng Thi Thơ ­- bđd)

Cứ hát và cứ khóc “trên vai em” một lần cuối đến như thế, anh và em rồi sẽ “nhìn thấy tình-yêu lần cuối”, dù Tình-yêu ấy, dù người đời ở đây, hôm nay vẫn cảm-nghiệm một cuộc đời cũng rất “người”, nơi mọi người. Ở muôn nơi.

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng là người

như mọi người

Nên không thể không có

những cảm xúc

đến như thế. 

Gió lùa ánh sáng vô trong bãi

 Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 3 mùa Vọng năm A 11/12/2016

Tin Mừng (Mt  11: 2-11)

Ông Gioan lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Kitô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” Đức Giêsu trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.”

Họ đi rồi, Đức Giêsu bắt đầu nói với đám đông về ông Gioan rằng: “Anh em ra xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Thế thì anh em ra xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến.

“Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông.”

  •      *      *      *      *

 “Gió lùa ánh sáng vô trong bãi”

Trăng ngậm đầy song, chảy láng lai.

Buồm trắng phất phơ như cuống lá,

Lòng tôi bát ngát rộng bằng hai.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mai Tá lược dịch

Trình thuật mùa đợi chờ hôm nay, làm phấn chấn hết mọi người. Người người hôm nay, được dặn dò: Hãy vui lên!. Vui, không vì “Nắng tươi đẹp, khung trời rồi rực sáng”. Mà vì, Đức Chúa Quang Lâm nay gần đến, sao vẫn buồn?

Với phụng vụ thời xưa, Mùa Vọng là mùa đền tội, khá nghiêm ngặt. Theo đó, con dân nhà Đạo tuần này được khuyên nên giữ chay lòng, khiết tịnh ít nhất ba ngày. Với Công Đồng Vatican II, Phụng vụ đã bắt đầu cho sử dụng mầu Hồng cho áo lễ. Mầu phấn khởi, nhắc nhở về lời khuyên của ngôn sứ Isaia:

“Vui lên đi, này đồng hoang cỏ cháy.” (Is 35: 1).

Hãy cứ vui, mà chào đón Đấng Nhân danh Chúa ngự đến” (Is 35: 2).

Ngài ngự đến, cứu chuộc hết anh em.” (Is 35: 4).

 Cứu rỗi hay cứu chuộc, là ơn chữa lành. Là, những trọn vẹn – lành thánh, đến với cuộc đời mỗi người và mọi người. Mọi người tuy được cứu rỗi, cũng đừng nên coi việc chữa lành đây mang tính xác phàm, thôi. Nhưng, còn mang cảm tính, ý nghĩa xã hội và tâm linh, nữa. Quả là, ta chỉ được kiến tạo thành người trọn vẹn, khi hạnh phúc hài hoà tuôn chảy vào chính con người mình, thôi.

Tin Mừng hôm nay, còn minh xác thêm một điều, là: ta tìm ra chính mình ngay trong cuộc đời của Đức Kitô. Điều này, được thánh Gio-an Tiền Hô công bố qua việc thánh nhân sai môn đệ mình đến hỏi Chúa:

“Thầy có thật là Đấng phải đến hay không?” (Mt 11: 3).

Câu hỏi, bao hàm hai việc: bản thân thánh nhân muốn biết về Đức Kitô; hoặc, chính thánh nhân muốn cho môn đệ mình hiểu về Chúa. Điều này hạ hồi sẽ rõ. Nhưng sau đó, thánh nhân lại đã công bố:

“Đấng đến sau tôi, quyền thế hơn tôi…

Ngài sẽ thanh tẩy anh em trong Thánh Thần và lửa” (Mt 3: 11).

Và lúc đó, câu trả lời của Đức Chúa nói lên tính cách Thiên Sai của Ngài:

“Hãy về mà thuật lại với Gioan,

những điều mắt thấy tai nghe…” 

Câu trả lời của Đức Giê-su, ăn khớp với ý nghĩa bài đọc thứ nhất: công nhận Đức Kitô là Đấng Thiên Sai. Đấng “đến cứu anh em” (Is 35:4).

Tin mừng thánh Mátthêu lại cũng thực sự nói lên tính Thiên sai của Chúa. Và như thế, lời xác minh này ăn khớp với tinh thần của Mùa Vọng, mùa chờ đợi. Ta chờ ngày Chúa đến lại. Ngài đến lại, là đến một cách đầy đặn, trọn vẹn cho cuộc sống của ta. Như Kinh Nhập Lễ vừa nói rõ, ta vẫn cần “kinh nghiệm sống về niềm hân hoan Đấng cứu chuộc.”

 Cần ở đây, là cần Chúa mang đến cho mỗi người ơn cứu chữa rất trọn vẹn, lành thánh. Và, đây chính là điều mỗi người chúng ta cần làm. Cần, là làm sao để mỗi người đều có kinh nghiệm trở nên toàn vẹn trong Đức Kitô. Cần là bởi, nhiều người trong chúng ta vẫn chưa thực sự biến đổi chính mình, để trở thành “một Kitô” khác. Một Kitô đích thực, như Ngài muốn. Và, thời gian cứ kéo dài. Cứ chờ đợi ta.

Nhằm giúp ta làm được như thế, bài đọc thứ hai trích dẫn lời của thánh Gia-cô-bê, khuyên bảo:

 “Hãy kiên nhẫn, như nhà nông chờ đất trổ sinh hoa mầu.

Chờ cơn mưa đầu mùa. Mưa cuối vụ.”

(Gc 5: 8).

Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng giới thiệu thánh Gioan Tiền Hô như vị thánh lớn, chưa từng thấy. Và, thánh nhân còn được thêm ưu điểm là được sinh ra cùng thời với Đức Chúa. Ưu điểm này, Đức Kitô cũng đã ban cho mỗi một người,chúng ta. Được ưu điểm ấy, ta cố gắng làm sao để Đức Kitô trở nên thành phần trong cuộc sống của mỗi người.

Thật ra, thánh Gioan Tiền Hô là nhân vật dũng mãnh, vẹn toàn. Thánh nhân không giàu có. Cũng chẳng tiếng tăm. Lại không là bậc siêu sao, thượng thặng. Nhưng, mọi người vẫn bước theo chân mềm của thánh nhân bước vào chốn hoang vu vắng lặng nơi sỏi đá khô cằn, để được nghe thánh nhân những giảng và dạy. Lời dạy rất thách-thức để đổi thay.

Cũng một kiểu tương tự, lời mời gọi vào chốn hoang vu, nay được gửi đến mỗi kẻ tin vào Đức Kitô, từ nhiều năm. Vẫn từ bao giờ, tín đồ của Chúa được kêu mời hãy dọn đường, và cũng dọn lòng, để Chúa đến với tâm can mỗi người. Hãy sửa soạn con tim của mọi người. Để rồi, mỗi người và mọi người đều hân hạnh có kinh nghiệm về “niềm vui cứu rỗi”. Niềm vui được ơn chữa lành, rất lành thánh, trọn vẹn. Có như thế, cuộc sống của chúng ta mới có ý nghĩa và đáng sống.

Giáng Sinh là thời của ân huệ/quà tặng, của hành động cho đi lẫn tiếp nhận. Hãy đảm bảo là các quà tặng ta trao nhau, bao gồm cả niềm vui đi Đạo, mọi người đang nhận lãnh. 

Lm Frank Doyle sj biên-soạn

Mai Tá lược dịch

Trích Hồi Ký Tống Văn Công: CUỘC TRANH LUẬN VỀ TƯ PHÁP TRÊN BÁO SỰ THẬT

Trích Hồi Ký Tống Văn Công: CUỘC TRANH LUẬN VỀ TƯ PHÁP TRÊN BÁO SỰ THẬT

Viet-studies

9-12-2016

tong-v-cong
Ảnh bìa, Hồi ký Tống Văn Công. Nguồn: Người Việt Books
Tôi gởi đơn xin tòng quân, nhưng được phân công về Phòng Bình dân Học vụ, Nha Giáo dục Nam Bộ, do thạc sĩ Hoàng Xuân Nhị làm giám đốc. Phòng này mới thành lập do nhà giáo Nguyễn Hậu Lạc làm trưởng phòng. Đã có một vài người tới trước tôi như Ca Lê con cả của giáo sư Ca văn Thỉnh, Đặng Minh Trang con giáo sư Đặng Minh Trứ… Chưa có công việc gì làm, chúng tôi thường đến hai nơi: một là, văn phòng của Nha Giáo dục để gửi thư và nhận thư; hai là tới Thư viện đọc sách báo.

Thư viện của Nha Giáo dục có khá nhiều sách. Ở đây tôi được đọc hai bộ sách lớn củả chủ nghĩa cộng sản: “Lịch sử Đảng cộng sản Liên xô” và “Những nguyên lý chủ nghĩa Lê Nin của Stalin”. Cũng ở đây tôi đọc quyển “Sửa đổi lề lối làm việc” của X.Y.Z. Giám đốc Hoàng Xuân Nhị giới thiệu “quyển này là một tác phẩm lớn của Hồ Chủ tịch”. Quyển sách khiến tôi tha thiết mong muốn được trở thành đảng viên cộng sản bởi câu này: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Trong sách này, Cụ Hồ cảnh báo cán bộ đảng viên chớ có làm “quan cách mạng”, cậy quyền, cậy thế, hũ hóa, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo… Bài “ Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, đẩy mạnh phê bình tự phê bình” của Cụ Hồ tôi đọc như nuốt từng lời đã góp phần cho tôi được… “ngu lâu”.

Đặc biệt tại thư viện của Nha Giáo dục, tôi được đọc về cuộc tranh luận hồi năm 1948 trên báo Sự Thật của Đảng cộng sản Đông Dương (với danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác) và báo Độc lập của Đảng Dân Chủ “Về vai trò của Tư pháp trong Nhà nước cách mạng Việt Nam”. Một bên là Quang Đạm biên tập viên của báo Sự Thật do Trường Chinh làm Tổng biên tập và bên kia là luật gia Vũ Trọng Khánh nguyên Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với sự hỗ trợ của luật gia Vũ Đình Hòe đương kim Bộ trưởng Tư pháp. Dù rất ham đọc, tôi không hiểu bao nhiêu. Tuy nhiên vấn đề gai góc đó buộc tôi tiếp tục tìm hiểu mãi. Còn hồi đó khi biết Cụ Hồ có quan điểm giống như Quang Đạm thì tôi ngờ rằng Vũ Trọng Khánh đã bị lý thuyết của bọn thực dân phương Tây đầu độc!

Quang Đạm viết “Tư pháp với Nhà nước” trên số báo 91 ngày 15–4–1948, sau đó bài “Tính chất chuyên môn trong Tư pháp” trên số báo 93 ra ngày 19–5–1948. Ông cho rằng: Trong xã hội có giai cấp không có gì nằm trên cuộc đấu tranh giai cấp. Tư pháp là mộtbộ phận của nhà nước được phân công vận hành để cùng với chính quyền phục vụ lợi ích giai cấp. Độc lập Tư pháp, Tam quyền Phân lập chỉ là huyền thoại nhằm che đậy bản chất áp bức của chế độ tư bản. Ở nước ta trước đây, chính quyền thực dân cũng đưa ra huyền thoại đó, nhưng tòa án của nó chưa bao giờ mang lại công lý cho nhân dân ta. Ông kêu gọi Tư pháp không nên “độc lập” mà nên “kết hợp” với chính quyền và phối hợp với tập quyền. Tức là Tư pháp phụ trách về chuyên môn, nhưng chịu sự lãnh đạo chung.(Hồi đó chưa nói là chịu sự lãnh đạo của Đảng). Ông cho rằng Tư pháp độc lập dễ trở thành đối lập.

Vũ Trọng Khánh, nhân danh một số “anh em có trách nhiệm về Tư pháp” trả lời Quang Đạm. Ông cho rằng luật cao hơn đấu tranh giai cấp. Luật không chỉ là công cụ của giai cấp thống trị mà còn là công cụ bảo vệ kẻ yếu chống lại kẻ mạnh và kẻ có quyền lực. Ông đặt câu hỏi cho Quang Đạm: “Khi điều 712 Dân luật bắt kẻ nào làm thiệt hại đến người khác thì phải bồi thường cho người ấy, và bộ Hình luật làm tội những kẻ đánh nhau hay giết người không vì cớ chính trị thì đó là bảo vệ ai và đàn áp giai cấp nào”?

Trả lời Quang Đạm về “Trạng thái độc lập Tư pháp sẽ chuyển thành đối lập”, ông Vũ Trọng Khánh viết: “Khi một người nào đó ra lệnh cho Tòa án phải xử thế này thế khác mà Tòa án không nghe theo thì chúng tôi cho rằng đấy là giữ quyền độc lập. Nếu ông Quang Đạm cho như thế là đối lập thì tôi muốn hỏi ông, khi các thẩm phán can thiệp vào việc hành chính hay chính trị thì các ủy ban hành chính sẽ cư xử thế nào để cho khỏi thành ra ‘đối lập’”? Ông Quang Đạm khuyên rằng: “Tư pháp phải kết hợp với nhà nước mà đối lập với các lực lượng phá hoại chính quyền. Không một bộ phận nào được tách mình ra khỏi khối đoàn kết”. Đáp lại những lời kỳ quặc ấy, tôi chỉ hỏi: “Các thẩm phán đứng trong hàng ngũ kháng chiến từ trước tới nay thì gọi là ở trong hay ở ngoài khối đoàn kết? Khi Tư pháp trừng trị kẻ bắt người trái phép, tha bổng cho những kẻ bị bắt vô chứng cứ thì đó là phá hoại chính quyền hay củng cố chính quyền”?

Ông Vũ Đình Hòe kế nhiệm ông Vũ Trọng Khánh làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã viết bài “Tư pháp trong chế độ dân chủ mới” (báo Độc lập tháng 7 năm 1948) cho rằng, nước ta từ thời cổ đại cho tới thời thuộc địa chưa bao giờ có nền Tư pháp độc lập. Chính Cách mạng Tháng Tám, có Hiến pháp 1946, nhân dân ta mới được hưởng hệ thống luật tiến bộ này. Ông nhắc rằng Tam quyền phân lập, Tư pháp độc lập đang là thể chế hiện tồn của nhà nước cách mạng chúng ta”.

Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc hồi tháng 2 năm 1948, tức là 2 tháng trước khi xảy ra cuộc tranh luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tư pháp làmột cơ quan trọng yếu của chính quyền, cho nên càng phải đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì quyền lợi nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung cho cả tư pháp và hành chính”. Như vậy là từ năm 1948, Cụ Hồ đã dứt khoát đặt “đoàn kết, hợp tác” lên trên “độc lập tư pháp”! Hai năm sau, trong thư gửi Hội nghị Học tập của cán bộ ngành Tư pháp (từ ngày 2 tháng 5 đến 23 tháng 7 năm 1950) để cải cách tư pháp phục vụ tình hình mới, Cụ Hồ lại viết hoàn toàn giống những điều Quang Đạm đã viết trong cuộc tranh luận hồi năm 1948: “ Luật pháp là vũ khí của một giai cấp thống trị, dùng để trừng trị giai cấp chống lại mình; luật pháp cũ là ý chí của thực dân Pháp, không phải là ý chí chung của nhân dân ta. Luật pháp cũ đặt ra để giữ gìn trật tự xã hội thật, nhưng trật tự xã hội ấy chỉ có lợi cho thực dân phong kiến, không phải có lợi cho toàn thể nhân dân đâu. Luật pháp đặt ra trước hết là để trừng trị áp bức. Phong kiến đặt ra luật pháp để trị nông dân. Tư bản đặtra luật pháp để trị công nhân và nhân dân lao động. Luật pháp của ta hiện nay là ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng. Một điều nữa các chú cần nhớ là giai cấp thống trị sử dụng luật pháp kết hợp với những cái khác. Luật pháp của các giai cấp bóc lột đặt ra để áp bức các giai cấp bị bóc lột. Nếu nó đứng một mình thì bộ mặt áp bức của nó lộ rõ quá. Cho nên giai cấp phong kiến cho nó dựa vào cái khác. Cái ấy là cái gì? – Phong kiến cho luậtpháp dựa vào đạo đức của nó. Đạo đức phong kiến chủ yếu là cương thường: Tôn vua, kính thầy, yêu cha…”

Mặc dù luật gia Vũ Đình Hòe vẫn là Bộ trưởng Tư pháp, nhưng cuộc học tập rất quan trọng nói trên lại do ông Trần Công Tường, Thứ trưởng, bí thư Đảng đoàn Đảng cộng sản trực tiếp lãnh đạo! Đến năm 1960 nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xóa bỏ Bộ Tư pháp và các Trường luật. Từ đây, công dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sống trong thể chế Đảng công khai đứng trên pháp luật. Ông Vũ Đình Hòe khôn ngoan đã lùi dần để sinh tồn, đến cuối đời ông viết quyển sách có tựa đề “Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh” đề ra 5 yếu tố: 1– Yếu tố pháp quyền dân tộc và ảnh hưởng Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ; 2– Yếu tố pháp quyền quân chủ lập hiến của Vương quốc Anh qua các cuộc cách mạng dân chủ; 3– Yếu tố pháp quyền của Cách mạng Pháp dưới lá cờ Tự do, Bình đẳng, Bác ái; 4– Yếu tố pháp quyền công nông của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với chuyên chính vô sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa; 5– Yếu tố pháp quyền dân tộc dân chủ của cách mạng Trung Hoa trải qua hai lần Quốc Cộng hợp tác.

Bị tha hóa tệ hại, Vũ Đình Hòe nhìn chế độ toàn trị là chế độ pháp quyền nhân nghĩa và tìm cho nó “5 yếu tố” hết sức oái oăm! Ông Vũ Trọng Khánh là người dũng cảm bảo vệ những điều mình tin là đúng, ông đã bị dìm năm này sang năm khác, từ Bộ trưởng Bộ Tư pháp, xuống Chưởng lý tòa Thượng thẩm, Giám đốc tư pháp Liên khu 10, Trưởng ban nghiên cứu pháp lý, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP Hải Phòng, rồi Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Hải Phòng, cuối cùng là chuyên viên trong một phòng thuộc cấp Sở, của thành phố Hải Phòng.

Không chấp nhận tư pháp độc lập, quyết liệt chống nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Quang Đạm cho đến Đại hội 12 của Đảng cộng sản năm 2016 là nhằm bảo vệ Đảng đứng trên nhân dân, đứng trên Hiến pháp và luật pháp.

Việt Nam: Nếu chịu dở dang thì sinh hoạt tôn giáo rất ‘tự do’!

 Việt Nam: Nếu chịu dở dang thì sinh hoạt tôn giáo rất ‘tự do’!

Nguoi-viet.com

Công trình xây dựng nhà thờ Tam Tòa chụp khi có lệnh tạm ngưng vì thiếu phần sau của giấy phép. (Hình: http://dcctvn.org/)

VIỆT NAM – Giáo xứ Tam Tòa vừa được lệnh tạm ngưng xây dựng nhà thờ để chờ… phần sau của giấy phép xây dựng. Hồ sơ xin phép xây dựng công trình này mới chỉ được duyệt… phần móng.

Ðể tăng “hiệu lực thực thi” lệnh tạm ngưng xây dựng, chính quyền tỉnh Quảng Bình đã yêu cầu công ty điện lực, công ty cấp nước cắt toàn bộ điện, nước và công an thì đã rải người, chặn tất cả các phương tiện vận chuyển vật liệu đến nhà thờ Tam Tòa.

Có nhiều dấu hiệu cho thấy chính quyền Việt Nam lại khiêu khích giáo phận Vinh thông qua câu chuyện về nhà thờ Tam Tòa.

Nhà thờ Tam Tòa tọa lạc tại thành phố Ðồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Ngôi nhà thờ này nổi tiếng vì nằm trong nhóm rất nhỏ những nhà thờ cổ kính và đẹp nhất Việt Nam (xây dựng năm 1886 theo kiến trúc của Bồ Ðào Nha).

Giáo xứ Tam Tòa là một trong những xứ đạo đầu tiên của Công Giáo Việt Nam (1631). Sau Hiệp Ðịnh Geneve (1954), giáo dân Tam Tòa di cư vào Nam. Nhà thờ Tam Tòa bị chiếm dụng rồi trở thành nơi đồn trú của một đơn vị phòng không của quân đội CSVN. Ðó cũng là lý do, trong chiến tranh Việt Nam (1954-1975), nhà thờ trúng bom của không lực Hoa Kỳ (1965), chỉ còn lại tháp chuông và trở thành phế tích.

Sau Tháng Tư năm 1975, chính quyền Việt Nam không cho xây dựng lại nhà thờ Tam Tòa với lý do đó là “di tích lịch sử cấp tỉnh,” một “chứng tích tội ác chiến tranh.” Ðể chứng tỏ thiện chí, Công giáo Việt Nam đồng ý sẽ đổi thửa đất có nhà thờ Tam Tòa lấy một mảnh đất khác để xây dựng lại nhà thờ Tam Tòa. Thỏa thuận này giữa giáo phận Vinh với chính quyền tỉnh Quảng Bình được lập từ 2008 nhưng chính quyền tỉnh Quảng Bình không giao đất.

Giáo xứ Tam Tòa trở thành một xứ đạo không có nhà thờ trong nhiều thập niên. Tháng Bảy năm 2009, khoảng 200 giáo dân Giáo xứ Tam Tòa đổ đến khuôn viên nhà thờ Tam Tòa để dựng một cái lán để có nơi sinh hoạt tôn giáo. Lực lượng vũ trang (gồm cả quân đội lẫn công an) đổ đến giật sập cái lán này. Có 19 người bị bắt.

Tuần sau, hàng trăm ngàn giáo dân của Giáo phận Vinh đổ về các nhà thờ trong giáo hạt của họ, thắp nến cầu nguyện cho công lý trong vụ nhà thờ Tam Tòa. Những buổi thắp nến cầu nguyện như thế hun nóng không khí ở khu vực phía Bắc miền Trung.

Ngày 14 Tháng Tám năm 2009, 200,000 giáo dân của Giáo phận Vinh đổ về nhà thờ Xã Ðoài (nhà thờ chính tòa của giáo phận Vinh) tiếp tục cầu nguyện cho công lý trong vụ nhà thờ Tam Tòa. Chính quyền Việt Nam nhượng bộ bằng cách phóng thích 12/19 người đã bị bắt. Khởi tố bảy người còn lại vì “gây rối trật tự công cộng” và hứa sẽ đẩy nhanh việc cấp đất để giáo dân Tam Tòa xây nhà thờ của họ. Tuy nhiên bốn năm sau (2013), Giáo xứ Tam Tòa mới nhận được đất, mảnh đất để xây nhà thờ mới nằm cách thửa đất có nhà thờ cũ gần ba cây số, song cây chuyện về nhà thờ Tam Tòa chưa kết thúc. Giáo dân Tam Tòa vẫn phải dự lễ và tham dự các sinh hoạt của xứ đạo tại tư gia một số đồng đạo của mình vì muốn xây dựng nhà thờ mới phải có giấy phép xây dựng mà hồ sơ xin phép xây dựng nhà thờ Tam Tòa mới thì lại được chính quyền tỉnh Quảng Bình xem là rất quan trọng.

Thêm vài năm chờ đợi hồ sơ xin phép xây dựng nhà thờ Tam Tòa mới được phê duyệt, cuối cùng giáo xứ Tam Tòa cũng nhận được quyết định cho phép làm… móng và tầng hầm của nhà thờ!

Tại sao lại chỉ mới cho phép làm… móng và tầng hầm của nhà thờ thì chính quyền chưa thèm giải thích. Khi giáo xứ Tam Tòa hoàn tất móng và tầng hầm rồi tiếp tục xây dựng phần phía trên theo hồ sơ và thiết kế đã nộp thì họ nhận được quyết định phạt 30 triệu đồng vì “vi phạm các qui định về xây dựng.” Mới nhất là lệnh tạm ngưng thi công. Lệnh này có thể là sự khởi đầu của một đợt xung đột mới giữa giáo phận Vinh với chính quyền Việt Nam và chắc chắn hàng giáo phẩm của giáo phận này sẽ bị cáo buộc thêm một lần nữa vì “thiếu thiện chí,” “kích động gây rối”! (G.Ð)