Nhiều khu vực của tỉnh Bình Định chìm trong nước lũ.
Courtesy of tintuc24h
Miền Trung hứng chịu nhiều trận lũ lụt lớn bất thường
00:00/00:00
Những cơn mưa lớn cộng thêm với nước xả lũ từ 14 đập thủy điện ơ thượng nguồn khiến nhiều nơi ở miền Trung bị ngập nặng, khiến nhiều người chết, giao thông tắc nghẽn, trường học công sở phải đóng cửa, lúa và hoa màu bị hư hại.
Nước ngập khắp nơi
Liên tiếp trong mấy ngày qua, các tỉnh miền Trung từ Thừa Thiên Huế đến Khánh Hòa, Phú Yên, Gia Lai bị ngập sâu nghiêm trọng trên diện rộng.
Và đến ngày 14/12 vừa qua, các hồ chứa của các đập thủy điện miền Trung đạt dung tích nước 80 đến 100%. Báo chí trong nước đưa tin 14 hồ thủy điện ở Quảng Trị , Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngải, Bình Định đang đồng loạt tháo nước khiến nhiều khu vực ở hạ lưu bị ngập nặng.
Mưa lớn kéo dài trong đêm 14/12 cũng làm quốc lộ 40B đoạn qua huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam bị sạt lở nghiêm trọng, đời sống cư dân bị đe dọa.
Ban chỉ huy Phòng chống Thiên tai và Tìm kiếm Cứu nạn khu vực miền Trung – Tây Nguyên cho biết mưa lũ từ ngày 11/12 đến nay đã khiến ít nhất 9 người chết.
Bước sang ngày 15/12, dự báo khí tượng và thủy văn khuyến cáo mưa lớn vẫn tiếp tục. Tại Bình Định, Ban Chỉ huy Phòng chống Thiên tai huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã có cuộc họp khẩn, yêu cầu các địa phương triển khai phương án chuyển dân ra khỏi vùng nguy hiểm.
Thời gian di đời được chỉ thị phải kết thúc trước 7 giờ tối cùng ngày.
Trả lời Đài Á Châu Tự Do về tình hình tại chỗ, một nông dân ở Bình Sơn, Quảng Ngãi, nói rằng nơi nào cũng ngập nước:
“Các xã đều ngập hết, ngập nhiều, chết người cũng có, hoa màu ngập rất nhiều. Hiện giờ nước ở mức báo động 3, từ Nghĩa Hành, Mộ Đức chỗ nào cũng bị ảnh hưởng lụt.”
Một cư dân khác ở Quảng Trị so sánh mức độ ngập sâu, ngập nông như sau:
“Ở Quảng Trị đợt này mưa cũng khá nhiều, các tỉnh khác thì có xả lũ nhưng Quảng Trị đợt này không xả lũ thanh không bị ngập lụt, chỉ các tỉnh phía Trung Bộ mới bị tình trạng vừa mưa mà vừa xả lũ.
Tại Quảng Trị nước bây giờ là nước ứ chứ nó không hẳn là nước lũ, chỉ sâm sấp mặt ruộng thôi, ruộng đã khái thác đó. Tình trạng nặng như vào trong Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Nha Trang. Ở Huế thì thành phố cũng bị ngập luôn, hai bên bờ sông Hương đều ngập cả. Nếu tình hình mưa cứ giữa mức cao như vậy thì có lẽ các đập sẽ tiếp tục xả lũ.”
Đồng loạt xả lũ
Việc 14 đập thủy điện miền Trung đồng loạt xả lũ càng khiến cho lũ lụt thêm nặng nề, người dân các vùng ngập lụt ở hạ du thêm khốn khổ. Theo người dân địa phương, mực nước đang tiếp tục dâng cao tại Bình Định, Quảng Ngãi và Quảng Nam, hậu quả là thời vụ trồng trọt cũng như chăn nuôi mùa Đông của bà còn bị mất trắng.
Nước từ các cập thủy điện ở thượng nguồn xả lũ, cuồn cuộn đổ về hạ lưu gây ngập nặng. Courtesy of NLD
Một viên chức ở Quảng Nam, không muốn nêu tên, cho Đài Á Châu Tự Do biết:
“Xả đập trên sông Vu Gia tới 9 thủy điện luôn, từ A Vương, Sông Tranh 1, Sông Tranh 2, Sông Bung 1, Sông Bung 2, Đak Min 1, Đak Min 2. Đủ các loại thủy điện hết nên dân bị nặng, mất trắng hết giống, khổ lắm.”
Đối phó cùng lúc với mưa lũ và lượng nước xả ra từ các đập thủy điện không phải là vấn đề của riêng Việt Nam mà của nhiều nước trên thế giới, là giải thích của Giáo sư Tiến sĩ khoa học Phạm Hồng Giang, nguyên thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chủ tịch Hội đập lớn Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đập lớn thế giới, giảng viên Đại Học Thủy Lợi Hà Nội:
“Trân website của Hội Đập Lớn tôi đã có trao đổi một số lần, chỉ nói thêm rằng đối với các hồ, nhất là các hồ lớn, đều đã có qui trình vận hành trong mùa mưa lũ. Khi vận hành phải đảm bảo làm sao giảm nhẹ mức lũ dưới hạ du khi một con nước về, đồng thời cũng phải đảm bảo được lượng nước sử dụng trong mùa khô, thì qui trình đó đã có.
Thế thì giữ nước rồi xả nước như thế nào thì theo qui trình, đồng thời có thông báo và có dự báo của khí tượng thủy văn, để biết trong thời gian sắp tới mưa lũ như thế nào.
Như vậy mình phải theo qui trình đó để vận hành cái đập. Thế còn việc kiểm tra trong thời gian vừa qua chặc chẻ đến đâu thì cũng phải chờ có thông tin hay số liệu đầu đủ đã.”
Đối với các đập thủy điện lớn có hồ chứa lớn, Giáo sư Tiến sĩ Phạm Hồng Giang nhấn mạnh, quan trọng nhất là phải có dự báo tốt, phải có sự tính toán xả lũ trong hồ trước để có dung tích trống cho đợt lũ tiếp theo:
“Theo đánh giá chủ quan của tôi lượng lũ lớn và dồn đập cũng là ảnh hưởng nhất định của sự thay đổi khí hậu. Nhưng dù sao sự an toàn của hồ cũng là quan trọng, có những biểu hiện không an toàn thì phải xả. Đập mà không an toàn sẽ là thảm họa lớn ở hạ du.”
Theo dự báo từ Trung tâm Khí tượng Thủy văn Trung ương, từ nay đến ngày mai 17/12, các tỉnh miền Trung từ Quảng Bình đến Ninh Thuận sẽ còn có mưa vừa và to, nhưng từ Đà Nẵng đến Phú Yên sẽ có mưa rất to khiến mực nước dâng cao trên các con sông những nơi này và gây ra lũ quét cũng như đất truồi.
Hiện mức nước trên các sông ở Thừa Thiên Huế và Phú Yên cũng đang lên nhanh.
Đúng ngày này 30 năm trước – 15/12/1986* – Đại hội Đảng VI chính thức khai mạc, mở ra vận hội đổi mới cho đất nước. Ngẫm lại thời đó, rào cản đổi mới chủ yếu nằm ở nhận thức giáo điều – giáo điều về “con đường đi lên CNXH”, về “làm chủ tập thể”, về “cải tạo công thương nghiệp” v.v. Vì vậy, đổi mới thời đó hay được quy giản thành “đổi mới tư duy”.
Ngày nay, cụm từ “đổi mới” vẫn thường xuyên được nhắc đi nhắc lại. Đến hẹn lại lên, cứ vào các năm chẵn chục, người dân lại nghe mỏi tai về thành tựu “mười năm đổi mới”, “hai mươi năm đổi mới”, “ba mươi năm đổi mới”. Song tinh thần đổi mới thực sự đã đi vào dĩ vãng. Cứ “đổi mới” theo kiểu phong trào và hô khẩu hiệu như hiện nay chỉ càng khiến “đổi mới” trở nên cũ kỹ, thậm chí phản tác dụng.
Cũng cần nói thêm rằng cải cách ở Việt Nam giờ đây rất khó vì nhất định sẽ phải trả giá – có cuộc đại phẫu nào mà lại không khó khăn, đau đớn. Nếu như trước đây khó khăn chủ yếu nằm ở thay đổi tư duy thì ngày nay, khó khăn còn nằm ở sự trỗi dậy càng ngày càng mạnh mẽ của các nhóm lợi ích bất chính hùng hậu, được hưởng đặc quyền và đua nhau tranh giành đặc lợi, với cái giá phải trả của đa số dân chúng và toàn nền kinh tế; và rồi không thể không kể đến những can thiệp và uy hiếp khôn lường của người láng giềng phương Bắc, kiên trì mục tiêu vì một nước Việt Nam nghèo hèn và nhược tiểu.
Cải cách chắc chắn sẽ rất gian truân, song cái giá phải trả cho sự trì hoãn cải cách còn lớn hơn gấp bội. Những tuyên bố cải cách đã có, không những thế còn khá đồ sộ. Vấn đề còn lại là hành động, là cải cách một cách thực chất, chỉ như vậy mới có thể khôi phục niềm tin của xã hội và củng cố tính chính đáng vốn đang bị xói mòn.
*Ghi chú: Đại hội đã họp trù bị từ ngày 5 đến 14/12/1986.
“Có 1 thời như thế” là chuyên mục của Thời Báo Đại Kỷ Nguyên phác họa lại một giai đoạn lịch sử đặc biệt của Việt Nam: thời bao cấp, với mong muốn thế hệ trẻ có cái nhìn sinh động và chân thực về quá khứ của nước nhà và cùng thế hệ trung niên, lão niên ôn lại thời dĩ vãng không thể quên của mình…
Thời bao cấp với niềm mơ ước sinh tồn “Ăn no mặc ấm” thay vì “Ăn ngon mặc đẹp”
Ở thời nay, ăn mặc “sành điệu”, ăn uống “sành điệu”, chọn nhà hàng nào, thời trang nào… là thứ mà mọi người phải đau đầu suy nghĩ, người đơn giản hơn một chút thì phải là “ăn ngon mặc đẹp”…
Nhưng cách đây 30, 40 năm, vào những năm 70, 80 của thế kỷ 20, các thế hệ người Việt chỉ ước ao đủ ăn đủ mặc. Cái đói trường kỳ gặm nhấm tâm can và dạ dày khiến mọi suy nghĩ của một ngày chỉ xoay quanh vấn đề miếng ăn.
Thế nào là thời bao cấp?
(Ảnh: internet)
Thời bao cấp, với cách gọi nôm na trong người dân là “thời đặt gạch xếp hàng”, diễn ra từ năm 1957 tại miền Bắc, tới sau 4/1975 thì triển khai trên toàn quốc, mãi tới 4/1989 mới thực sự kết thúc. Giai đoạn này nằm trong ký ức không thể quên của thế hệ đầu 8X, 7X, 6X… Đây là một giai đoạn mà hầu hết hoạt động kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa do nhà nước kiểm soát, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ nghĩa cộng sản, không chấp nhận kinh doanh tự do.
Câu thơ lảy Kiều thời đó là một mô tả sinh động về thời bao cấp:
Bắt ở trần phải ở trần
Cho may-ô mới được phần may-ô
Áo may ô thời bao cấp đây! Mỗi năm được 2 chiếc!
Đối với các bạn trẻ hiện nay, làm sao có thể tưởng tượng được áo may-ô, một loại áo lót dùng cho nam giới, cũng thuộc loại hàng hóa cung cấp cho “nhân dân”. Vì thế mới gọi là… bao cấp.
Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê giải thích về định nghĩa “bao cấp”: “Bao cấp là cấp phát phân phối, trả công bằng hiện vật và tiền mà không tính toán hoặc không đòi hỏi hiệu quả kinh tế tương ứng”.
Đối với người dân, định nghĩa này đơn giản là:
Bao cấp là tất cả đều do nhà nước đứng ra bao hết, từ cây kim, sợi chỉ, que diêm cho đến lương thực hằng ngày… Lương hàng tháng của công chức nhà nước chỉ nhận được một phần tiền rất nhỏ, còn lại quy vào hiện vật thông qua chế độ cấp phát tem phiếu và sổ gạo.
Tất cả mọi hình thức kinh doanh đều được quản lý theo ‘mô hình xã hội chủ nghĩa’, hoàn toàn do nhà nước nắm giữ.
Nhà nước phân phối vài chục mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống như gạo, thực phẩm, chất đốt, vải vóc, pin, cho đến các tiêu chuẩn phân phối được mua bổ sung như xà phòng giặt, giấy dầu, xi măng, khung, săm, lốp xe đạp…
Cái đói đến “mờ mắt” thời bao cấp
Vì sao được nhà nước lo cho toàn bộ mà lại đói?
Toàn bộ nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm và nhu thiết yếu cuộc sống là thông qua chế độ tiêu chuẩn tem phiếu có định mức cho từng đối tượng. Điểm đặc biệt là định mức này chỉ đáp ứng một phần cực nhỏ nhu cầu sinh tồn của 1 con người, cho nên mới tạo thành cái đói dai dẳng và trường kỳ tháng này qua năm khác.
Điển hình là một người dân tự do được tiêu chuẩn 1,5 lạng (150gr) thịt/tháng, tương đương với mức tiêu thụ thịt trung bình trong 1 ngày hiện nay của người trưởng thành.
Các cấp bậc cán bộ nhà nước được tiêu chuẩn cao hơn, từ 3-5 lạng/tháng (300gr-500gr), tùy cấp bậc.
Thông thường nếu chọn thịt thì thôi mỡ, vì chỉ được chọn 1 trong 2. Thời đó không có dầu ăn, phải dùng mỡ để xào, nấu nên mỡ rất quý. Các gia đình vì vậy thường hay chọn “mỡ” thay vì “thịt”, như vậy sẽ có tích cóp được 1 hũ mỡ dùng để chiên xào nấu một thời gian dài hơn là 3 lạng thịt tiêu chuẩn trong tháng.
Tuy nhiên, cán bộ cao cấp lại có tiêu chuẩn gấp 40 lần “nhân dân”: 6kg thịt/tháng. Nhiều người cũng thắc mắc vì sự chênh lệch quá lớn này.
Rau có tiêu chuẩn 3-5kg/người/tháng, trong khi nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể cần từ 300gr-500gr/ngày.
Em bé dưới 1 tuổi cũng đói, vì tiêu chuẩn của em tất cả là 4 lon sữa đặc có đường “Ông Thọ” trong 1 tháng. Nên mới có cảnh các em bú “nước đường”, một điều mà thời nay dường như không thể tin nổi. Nếu mẹ của các em có giấy tờ chứng minh mất sữa hoàn toàn, thì em bé có khả năng sẽ nhận được 8 lon.
4 lon 1 tháng thôi các bé nhé! Mẹ muốn pha sữa cho em sao thì pha…
Thậm chí có tiền vẫn phải chịu đói… vì không ai dám bán để mà mua!
Hàng hóa thời đó không được mua bán tự do trên thị trường như bây giờ, không được phép vận chuyển tự do hàng hoá từ địa phương này sang địa phương khác.
Trao đổi bằng tiền mặt bị hạn chế, nên có người thậm chí có tiền vẫn đói, vì không ai được phép “kinh doanh”. Không có những cái tên mỹ miều như bây giờ là “doanh nhân”, “hộ kinh doanh”, mà chỉ là “phe phẩy” hay “tư thương”, “chợ đen” … những từ mang hàm nghĩa rất tiêu cực và khinh miệt, nếu bị phát hiện sẽ bị công an bắt và tịch thu toàn bộ hàng hóa. “Siêu thị” hay “chợ” là những khái niệm gần như không tồn tại.
Câu nói “Có tiền mua tiên cũng được” ít nhất cũng không thể đúng ở thời bao cấp. Thời này, sổ gạo mới là thứ quan trọng nhất.
Từ sau 30/4/1975 – khi nền kinh tế đặc thù này áp dụng trên toàn quốc, những ai sống ở khu vực phía nam vốn quen với nền kinh tế tự do, chưa quen với cái “đói” trường kỳ của nền kinh tế bao cấp như ngoài bắc, bỗng đột ngột chịu “đói” đến hoảng hốt!
Sự thiếu thốn đi kèm chất lượng “thê thảm”
Sự thiếu thốn cũng đi kèm chất lượng “thê thảm”: gạo mốc xanh đen, gạo hẩm, bột mỳ mốc, rau vàng héo, thịt “bèo nhèo” (phần thịt “ngon” đã được chia chác cho mậu dịch viên và những “mối quan hệ” quen thân của mậu dịch viên).
Gạo thiếu, gạo mốc đen nên cơm thường xuyên là những bữa cơm độn mỳ sợi mốc, bột mì tồn kho (viện trợ từ Liên Xô), sắn khô xắt lát, ngô (bắp), bo bo (hạt lúa mì) hay gạo vỡ (gạo tấm)
Thịt quá ít, có cũng như không, nên thường đổi thành mỡ, để có cái xào nấu rau ăn dần. (Thời đó không có dầu ăn như bây giờ, thi thoảng cũng chỉ có chút dầu lạc (dầu đậu phộng) hôi khét).
Những câu vè thời đó nói lên giá trị của những mặt hàng trong thời bao cấp:
Nhất gạo nhì rau
Tam dầu tứ muối
Thịt thì đuôi đuối
Cá biển mất mùa
Đậu phụ chua chua
Nước chấm nhạt thếch
Mì chính có “đếch”
Vải sợi chưa về
Săm lốp thiếu ghê
Cái gì cũng thiếu…
Thảm họa “mất sổ gạo”
Tuy “phàn nàn” thiếu thốn như vậy, nhưng thời đó nếu để mất tem phiếu sẽ là thảm họa, so thảm họa này với cảnh thiếu thốn thường nhật thì thiếu thốn vẫn còn là “thiên đường”. Các thế hệ thời đó sẽ đứng trước nguy cơ nhịn đói cả tháng, đi xin, đi vay mượn lương thực, hoặc mua chui lại của “phe tem phiếu” (người tích trữ đầu cơ trái phép tem phiếu).
Vì vậy thành ngữ “Mặt như mất sổ gạo” trở nên vô cùng nổi tiếng thời bấy giờ, dùng để mô tả một khuôn mặt ủ ê não nề không thể đau khổ hơn. Bởi vì thời đó, mất sổ gạo là cầm chắc nhịn đói! Nhịn đói không phải là một ngày hay một tháng mà có khi đến vài ba tháng. Bởi hành trình, thủ tục xin cấp lại cuốn “bảo bối quý giá” này khổ sở vô cùng. Suốt những ngày còn lại sẽ chạy vạy, vay mượn khắp nơi để sống sót qua ngày đoạn tháng.
Nạn ăn cắp diễn ra phổ biến và rất tinh vi, cũng khiến việc mất tem phiếu, mất sổ gạo diễn ra lại càng thường xuyên hơn.
Cảnh xếp hàng như chơi trò rồng rắn lên mây….
Muốn mua được lương thực thực phẩm, các thế hệ thời đó cần đi xếp hàng 3, 4 giờ sáng để giữ chỗ, phòng khi cửa hàng bán nửa chừng hết lương thực, thực phẩm. Người ta dùng những cục gạch, chiếc dép, mảnh gỗ để ‘xí chỗ’ khi cửa hàng chưa mở cửa và người thật sẽ đứng vào hàng khi mở cửa.
Thậm chí nếu xếp hàng đầu, nhưng cũng không bảo đảm là sẽ được mua trước, bởi vì nếu có những sổ thuộc dạng ‘ưu tiên’ hoặc ‘chen ngang’ do có móc ngoặc với nhân viên thương nghiệp, hoặc đơn giản là xếp hàng tới nơi mới biết đã bị ăn cắp tem phiếu hay sổ rồi.
Rất nhiều khi, mỏi mệt rã rời vì xếp hàng cả đêm, nhưng tới gần lượt, thì cánh cửa hàng mậu dịch sẽ sập xuống phũ phàng trước mặt cùng với câu nói lạnh băng của cô mậu dịch viên “HẾT HÀNG”… Vậy là lê bước về nhà để hôm sau đi xếp hàng tiếp…
Sáng kiến vĩ đại thời bao cấp: nuôi lợn trong nhà tắm hoặc 1 góc bếp căn hộ tập thể 20m2. Mậu dịch viên thời bao cấp- nghề đáng mơ ước nhất thời bấy giờ, vì đảm bảo có đủ miếng ngon cho nhu cầu sinh tồn của gia đình, và có thể mang “quyền lực” phân phát này để làm mưa làm gió….
Bụng đói cật rét: Không những đói mà còn rét, bụng càng đói thì lại càng rét
Không những đói, các thế hệ thời đó còn chịu rét, vì một năm tiêu chuẩn của một người được 5-7m vải để may quần áo, tương đương với định mức 2-3 bộ quần áo/năm. Nên cảnh mặc quần áo vá chằng vá đụp là điều hết sức thông thường.
Hạnh phúc chờ đợi để được phân phát vải…
Đây được coi như một giai đoạn thất bại, yếu kém và tù đọng nhất của nền kinh tế Việt Nam trong thế kỷ 20
Chiếc xe đạp Favorit – niềm tự hào thời bao cấp. Bà mẹ và em bé thời bao cấp.Bám thành tàu điện thời bao cấp, khỏi mất tiền mua vé.
“Cái nghèo” sinh ra “cái hèn”: Cái đói gặm nhấm mất lương tri và những điểm sáng sót lại của tình người thời nghèo đói..
Thế hệ trẻ thời nay sẽ không thể tưởng tượng nổi cảnh thìa nhôm ở cửa hàng mậu dịch ngày xưa của ông cha mình phải bị đục lỗ, và đĩa nhôm ở cửa hàng cũng phải bắt vít chết xuống bàn chứ không thể để tự do. Vì sao vậy?
Ở thời đó, người ta đã phải chấp nhận một nghịch cảnh của xã hội là: Cái đói dai dẳng, thật tàn nhẫn, đã gặm nhấm mất lương tri của nhiều người. Nạn ăn cắp vặt trở nên phổ biến toàn dân, nên các cửa hàng mậu dịch chỉ còn cách đó để tránh bị mất mát đồ đạc.
Ăn cắp thời đó đã trở nên rất tinh vi, tới nỗi hình thành nên một khái niệm là “nghệ thuật móc túi siêu đẳng”… Rất nhiều kẻ cắp lão luyện thường xuyên trà trộn vào các dãy xếp hàng rồng rắn lên mây, vờ như xô đẩy người khác hay bị xô đẩy, để rồi lợi dụng lúc xô đẩy đó mà áp sát đối tượng để “móc túi” một cách “nghệ thuật”. Có quá nhiều người thời đó xếp hàng, mặc dù rất cẩn thận giữ chặt phiếu rồi, mà tới khi đến lượt mua hàng thì phiếu đã không cánh mà bay… Khuôn mặt đầy nước mắt của họ vào thời khắc đó khốn khổ đáng thương hơn bất cứ điều gì… nhịn đói rồi…
Căn bệnh ganh tỵ và kèn cựa cũng trở nên trầm kha hơn ở các cơ quan đoàn thể vì sống theo chế độ tập thể khiến ai cũng coi sự công bằng tuyệt đối là một chân lý, họ bị méo mó tính cách vì tin vào điều đó.
Nhưng một điểm sáng của thời đó so với thời nay mà người ta vẫn nhận thấy đó là tình người, tuy có ganh tỵ và kèn cựa nhau vì miếng cơm manh áo, nhưng người với người cũng vẫn thường hay đối xử tốt bụng, nâng đỡ nhau, sẵn lòng giúp đỡ nhau và “coi việc của bạn như việc của mình…” Nhờ giữ chỗ xếp hàng, nhờ đặt gạch, nhờ bơm xe vá xe đạp, nhờ trông hộ nhà, nhờ trông con nhỏ …vv, nhiều cái nhờ vả thời bao cấp mà không còn tồn tại ở thời nay trong cuộc sống hiện đại mà ai cũng quay cuồng với các vấn đề riêng của cá nhân….
Cặp lồng cơm- vật bất ly thân phổ biến của các công chức khi đi làm.
Những câu chuyện không thể tin nhưng có thật thời bao cấp về cái đói: Xin lỗi lợn!
Các câu chuyện bi hài có thực 100% về cái đói thời bao cấp do bác Trần Thị Thúy Nga ở Hà Nội kể lại cho phóng viên Đại Kỷ Nguyên:
Ở một đơn vị quân đội, giống như mọi đơn vị khác, có tình trạng nuôi lợn để tăng gia thời bao cấp. Thời đó chưa có cám công nghiệp, toàn bộ thức ăn cho lợn phải dựa vào nguồn cơm thừa canh cặn của bếp ăn tập thể. Thông lệ là phần “cơm cháy” ở đáy nồi cơm của bếp ăn tập thể là để dành cho lợn. (Thời đó không có nồi cơm điện chống dính, nên nồi cơm luôn có cháy)
Nhiều lần nhà bếp bỗng thấy cháy nồi cơm cứ bị “biến mất”, nên đã quyết định “điều tra”, “rình” để bắt kẻ tội phạm.
Cuối cùng kẻ tội phạm là một anh lính trẻ đã bị bắt. Vì quá đói trường kỳ, nên anh đã làm liều, đi ăn vụng cháy dành cho lợn hết lần này đến lần khác.
Hình thức kỷ luật áp dụng cho anh là: Tới chuồng lợn và xin lỗi lợn nhiều lần..
1 con vịt cỏ 7 lạng cho 200 người ăn và phương châm “Sống cùng sống, chết cùng chết” thời bao cấp
Đó là câu chuyện thời sinh viên của bác Nga. Bếp ăn tập thể sinh viên thời đó lâu lâu có bữa gọi là “cải thiện”, tức là có “thịt” chứ không chỉ rau và muối như thường lệ. Các sinh viên năng động phải tham gia vào công tác hậu trường nhà bếp. Lần ấy bài toán nhà trường đưa ra quá khó khăn cho bác. Món cải thiện cho bếp ăn của trường là một chú vịt cỏ bảy lạng gồm cả xương sau khi bỏ lông. Bài toán là số thịt này nhất định phải được chia đều cho các suất ăn của 200 sinh viên. Làm thế nào đây để đạt được sự công bằng? Các phương án luộc, xào, nấu… đều không thể khả thi.
Vắt óc mãi không thể tìm ra phương án phân chia công bằng, cuối cùng 1 tia sáng cũng phải lóe lên: băm (bằm) toàn bộ con vịt cỏ nhỏ bé đó, bằm cả xương, tới mức li ti như vụn bột, sau đó cho vào nấu canh toàn bộ. Cuối cùng các sinh viên không thể nào nhận ra một dấu tích gì của món “Thịt vịt cải thiện” của nhà trường trong suất ăn tập thể, vì đã bị bằm quá li ti và tan biến mất trong một nồi canh quá lớn cho 200 người ăn… Các sinh viên không phải tranh giành hay kèn cựa, kiện cáo nhau nữa…
Mời độc giả cùng Đại Kỷ Nguyên ôn lại những kỷ niệm khó quên thời bao cấp, bằng cách chia sẻ với chúng tôi những câu chuyện bi hài của mình qua hòm thư: contact@daikynguyenvn.com
Loạt ảnh về cửa hàng và tem phiếu thời bao cấp
Xếp hàng gửi xe trước khi vào mua hàng.Cảnh mua bán tại một quầy hàng mậu dịch Nhà nước.Các mậu dịch viên chuẩn bị hàng hóa, giá cả trước khi phục vụ người dân.Mua đồ gia dụng.Quầy bán vải.Khu vực bán dép, guốc nhựa.
Tiền mặt hạn chế sử dụng ở thời kỳ này, thay vào đó là hình thức tem phiếu.Đài phát thanh là một thứ hàng xa xỉ ngày đó.Phiếu mua thịt.Phiếu mua vải. Mức mua giới hạn nhiều nhất là 1 mét, và tối thiểu là 10 cm.Tem lương thực có thể đổi lấy các loại lương thực như: gạo, sắn, ngô, khoai tây, hạt lúa mỳ… với trọng lượng tương đương ghi trên tem.
Có thể mua các phụ tùng xe đạp bằng tấm phiếu này.Tem lương thực trị giá mua cho 25 gram lương thực.
Phiếu mua chất đốt và tem đường. Với phiếu mua chất đốt thì có thể sử dụng để mua: dầu hỏa, củi, than… Mỗi lần sử dụng, mậu dịch viên sẽ cắt bỏ một ô trên tờ phiếu tương ứng với số lượng mua.Sổ mua lương thực hay còn gọi là sổ gạo, thời kỳ này viên chức Nhà nước chỉ được mua 13,5kg/1 tháng. Thuật ngữ ‘buồn như mất sổ gạo’ xuất hiện từ đây: Mất sổ gạo còn quan trọng hơn cả việc mất tiền vì có tiền cũng không mua được gạo, dù là gạo đỏ, đầy thóc và sạn!
Quy định của Nhà nước trong việc dùng tem phiếu.Một bài báo về chỉ dẫn mua hàng tết bằng tem phiếu.
WASHINGTON, DC (NV) – Các giới chức tình báo Mỹ bây giờ tin tưởng khá chắc chắn là Tổng Thống Vladimir Putin của Nga can dự vào chiến dịch bí mật nhằm làm ảnh hưởng tới cuộc bầu cử tổng thống Mỹ ngày 8 Tháng Mười Một.
Hai giới chức cao cấp nói với CNN rằng thông tin tình báo mới nhất cho biết Tổng Thống Putin trực tiếp chỉ thị bằng cách nào xâm nhập và sử dụng tài liệu bị tiết lộ của đảng Dân Chủ.
Theo NBC News, ông Putin nhắm nhiều mục tiêu. Khởi đầu từ ý muốn trả thù bà Hillary Clinton, chiến dịch này diễn biến đi tới nỗ lực chứng tỏ sự hư hỏng của chính trị Mỹ và “nước Mỹ không còn là cường quốc lãnh đạo toàn cầu đáng tin cậy nữa.”
CIA đánh giá chính quyền Nga muốn ứng cử viên Donald Trump thắng. FBI và những cơ quan tình báo khác không hoàn toàn tán đồng nhận định ấy, nhưng ít ai nghi ngờ là chiến dịch phá hoại của Nga cố ý làm hại ứng cử viên Clinton bằng cách tiết lộ các email nội bộ của đảng Dân Chủ.
Báo cáo tình báo mới nhất nói là sự can dự của ông Putin đi xa hơn là tin tức mà Mỹ đã thâu nhận hồi Tháng Mười, khi toàn thể 17 cơ quan tình báo Mỹ ký chung một tuyên bố xác định là Đại Hội Toàn Quốc Đảng Dân Chủ bị tin tặc Nga xâm nhập.
Người ta biết rằng trong hệ thống chính trị Nga, Tổng Thống Putin nắm quyền lực tuyệt đối trong mọi việc. Bây giờ, khi các giới chức tình báo Mỹ nói là “tin tưởng với mức độ cao” sự can sự của ông Putin có nghĩa là kết luận trên những tình báo thâu thập được là không thể bàn cãi.
Để trả đũa, các cơ quan tình báo Mỹ đẩy mạnh điều tra về “đế quốc tài sản” thuộc cá nhân ông Putin, mạng lưới ông nắm quyền kiểm soát trị giá khoảng $85 tỷ.
CIA và Trung Tâm Tình Báo Quốc Gia không bình luận về những tin tức này.
Một cựu viên chức CIA nói với NBC News là không rõ Mỹ có thể nào gây khó khăn cho ông Putin hay không, bởi vì từ trước đến nay dân Nga được nghe nói nhiều và đã quen với sự tham nhũng, sự trừ khử đối lập, để ông Putin và giới thân cận ông trở nên giầu có.
Tuy nhiên, một viên chức tình báo Mỹ còn đang hoạt động cho rằng ông Putin cũng có những chỗ nhạy cảm, trong số có thể kể tới điều gì làm cho ông có vẻ yếu.
Một cựu viên chức CIA cho rằng chính quyền Tổng Thống Barack Obama có thể buộc phải có phản ứng trước khi mãn nhiệm vì mọi chuyện đã trở nên quá “nóng.” (HC)
“Hiện cũng đã có ít nhất gần 30 xã ở Bình Định bị lũ cô lập. Do phải chống chọi với bốn đợt lũ lớn liên tiếp nên người dân các vùng này đang hết sức khó khăn, cần sự cứu trợ khẩn cấp về lương thực, thực phẩm”.
Ngày 16/12, theo thông tin từ Chi cục phòng chống thiên tai khu vực miền Trung – Tây Nguyên, mưa lớn cộng với việc các thủy điện tăng cường xả lũ đã khiến cho nhiều địa bàn trong tỉnh Quảng Nam ngập sâu.
(Baoquangngai.vn)- Hồ chứa nước Nước Trong (Sơn Hà) và thủy điện ĐăkĐrinh (Sơn Tây) đồng loạt xả lũ điều tiết nước, thế nên đến khoảng 14h chiều nay, nước tràn qua cầu sông Rin khiến huyện miền núi Sơn Tây hoàn toàn bị cô lập.
Sốt xuất huyết bùng phát mạnh tại Sài Gòn. (Hình: báo VNExpress)
SÀI GÒN (NV) – Bên cạnh dịch bệnh Zika đang lan rộng, nhiều bệnh truyền nhiễm phức tạp khác đang cùng lúc phát tán gia tăng mạnh ở thành phố Sài Gòn.
Chiều 15 tháng 12, truyền thông Việt Nam dẫn lời bà Lê Hồng Nga, trưởng Khoa Kiểm Soát Bệnh Truyền Nhiễm, Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Sài Gòn cho biết, các loại bệnh truyền nhiễm như: Tay chân miệng (TCM) sốt xuất huyết (SXH) và Zika có dấu hiệu diễn biến phức tạp.
Theo bà Hồng Nga, từ đầu năm 2016 đến nay đã có tới 5,334 ca mắc TCM. Mặc dù không có người chết, nhưng bệnh có diễn tiến phức tạp và tăng mạnh. Tuy nhiên, lo nhất là SXH đang vào mùa. Chỉ riêng 14 ngày đầu tháng 12 này đã có 1,418 ca mắc SXH mới phải nhập viện và đến nay đã vào đỉnh dịch hàng năm, với 19,021 ca mắc bệnh phải nhập viện điều trị.
Riêng bệnh Zika, tính đến chiều 15 tháng 12, Sài Gòn có 133 người tại 23/24 quận, huyện, được xác định mắc bệnh, trong đó có 17 thai phụ đang được theo dõi.
Bà Hồng Nga cho biết thêm, vào cuối tháng 11, năm 2016 vừa qua, thành phố cũng đã phát hiện ổ dịch bệnh quai bị tại trường Tiểu Học Tân Xuân, huyện Hóc Môn với 30 ca trong 10 lớp.
Nói với báo điện tử VNExpress, bà Nga than phiền, trước tình hình dịch bệnh như trên, nhưng nhiều nơi người dân thiếu ý thức diệt lăng quăng, phòng chống dịch bệnh. Do vậy khả năng bùng phát các dịch bệnh nói trên rất dễ xảy ra và khó lường hậu quả. (Tr.N)
Sự tỉnh lại của Jan sau 19 năm sống đời thực vật đã khiến giới y học chấn động. Câu chuyện tình nghĩa vợ chồng vượt qua hoạn nạn của họ cũng khiến người đọc không khỏi rơi lệ.
Jan Grzebski sinh tháng 12 năm 1942. Là một công nhân ngành đường sắt Ba Lan, sau khi gặp tai nạn, ông rơi vào tình trạng hôn mê năm 1988. Ông tỉnh dậy vào năm 2007 sau 19 năm sống đời thực vật. Tin tức ông tỉnh lại đã khiến cả thế giới chấn động và lời ông nói khi ấy đã làm rung động giới y học.
Điều thực sự sốc chính là, sau khi tỉnh lại, Jan Grzebski đã nói những lời này: “Đầu não tôi rất tỉnh táo và nó vẫn đang làm việc, tôi nghe được mọi chuyện, còn có thể suy nghĩ và ghi nhớ giống như lúc bình thường, chỉ có điều nó không điều khiển được thân thể, điều này khiến tôi rất lo lắng.”
Năm 1988, khi đang làm việc trên tuyến đường sắt, ông đã không may gặp tai nạn và bị chấn thương ở đầu. Ông đã rơi vào tình trạng sống đời thực vật từ thời điểm đó. Bác sĩ nói rằng ông không còn hi vọng tỉnh lại, nhưng sau 19 năm hôn mê, ông đã thức dậy vào ngày 12 tháng 4 năng 2007. Sau khi tỉnh lại, ông vẫn có thể nói chuyện như một người bình thường. Về vấn đề này, bà Gertrude, vợ của ông Grzebski cho biết: “Việc ông ấy tỉnh lại không phải là một phép lạ, nhưng cũng không dễ dàng, và tôi chưa bao giờ từ bỏ hy vọng.”
Gertrude vừa khóc vừa nghĩ lại cảnh ông Jan sống cảnh thực vật. Suốt 19 năm ấy, bà không biết mình đã làm thế nào mà bước qua được. Bà nói: “Khi biết ông ấy phải sống đời thực vật, từ thời điểm đó, tôi cũng cảm thấy trời đất như sụp đổ. Nhưng tôi cũng tin tưởng ông ấy sẽ không rời bỏ mẹ con tôi sớm như thế, ông sẽ vẫn luôn ở bên cạnh mẹ con tôi. Tôi vừa chăm ông ấy trên giường bệnh, vừa nuôi dưỡng 4 đứa con thơ. Không có tiền, nhưng tôi biết mình cần phải chống đỡ mọi thứ.” Nỗi thống khổ mà bà đã vượt qua không phải ai cũng cảm nhận được. Những lúc cảm thấy cơ cực, bà chỉ có thể khóc thầm một mình mà không dám khóc trước mặt chồng con.
Mặc dù gặp phải hoàn cảnh khó khăn như vậy nhưng bà Gertrude chưa từng cầu xin sự giúp đỡ của người khác. Bà chăm sóc chồng mình không kể ngày đêm, mỗi ngày đều nói chuyện cùng với ông. Mặc kệ ông Jan có thể nghe thấy hay không, bà cứ một mực kể mọi chuyện. Lúc bà giận, lúc bà cười, ông Jan cũng chỉ nhìn với ánh mắt vô hồn. Sau mỗi buổi học, các con lại đến bên ông kể chuyện sinh hoạt học tập ở trường.
Mỗi khi ra ngoài, bà Gertrude luôn mở camera để quan sát chồng mình. Mặc dù khuôn mặt của ông không có phản ứng gì, nhưng bà cảm thấy rằng, nghe được tiếng nói thì ông Jan sẽ không thấy cô đơn. Bà cũng chia sẻ rằng, ông ăn uống rất ít, mỗi lần đưa thức ăn vào miệng thì lại thấy miệng ông nhai một cách nhẹ nhàng. Do đó bà tin tưởng, nhất định ông sẽ tỉnh lại vào một ngày nào đó. Trời xanh quả không phụ lòng người, với sự kiên nhẫn chăm sóc của bà Gertrude, cuối cùng ông Jan đã tỉnh lại sau 19 năm sống đời thực vật.
Thật khó có thể tin, bà luôn mỉm cười chăm sóc ông như chăm chút một bảo vật, giúp ông nhúc nhích vận động. Khi ông tỉnh lại, bà đã không nhịn được mà khóc trước mặt ông, những giọt nước mắt của sự hạnh phúc. Ông Jan nhớ lại, trong lúc nằm trên giường, thực tế đầu óc vẫn đang suy nghĩ, mắt vẫn nhìn thấy mọi thứ và tai vẫn nghe được mọi chuyện.
Ông Jan tâm sự: “Khi đó, tôi biết rõ mọi chuyện xảy ra bên cạnh mình, chỉ là không thể cử động, không thể nói, ngày nào cũng chỉ biết nằm im một chỗ. Tôi đã rất lo lắng. Khi thấy vợ không quản vất vả ngày đêm chăm sóc tôi, khi thấy những đứa trẻ từ trường về lại chạy đến bên tôi lúc ẩn lúc hiện, nghe thấy âm thanh vui đùa khắp nhà khi con lập gia đinh, khi thấy dáng vẻ thật đáng yêu của cô cháu gái, tôi đã vô cùng sốt ruột trong tâm bởi vì không cách nào biểu lộ cảm xúc của mình đối với họ. Bây giờ, tôi có thể từ từ nhớ lại những ngày đã qua và biểu đạt cảm xúc của mình rồi.”
Sau khi tỉnh lại, ông đã từ từ nhận thức thấy sự thay đổi của thế giới này thông qua việc đi siêu thị cùng vợ. Ông thấy, vợ mình vừa vào cửa hàng đã vội lấy chiếc giỏ và nhặt đồ cần dùng bỏ vào. Ông vô cùng ngạc nhiên mà thốt lên: “Em muốn làm gì vậy? Bởi vì, trong ký ức của ông, người đến bách hóa mua đồ phải xếp hàng rất dài rất dài, đến lượt mình mới được mua đồ và thanh toán tiền.
Đối với Jan mà nói, mặc dù biết được sự thay đổi của thế giới thông qua chiếc Tivi nhưng lần cảm nhận thực tế này vẫn khiến ông không khỏi kinh ngạc mà thán phục. Ông nói: “Tôi biết rõ Đông u đã xảy ra biến cố, tôi biết rõ Ba Lan có thay đổi lớn, theo trên Tivi, tôi biết đất nước này thực hiện bầu cử tổng thống, vị tổng thống hiện tại là ông Kaczynski.” Mỗi một lời ông nói ra đều biểu lộ cảm xúc vui mừng khôn tả. Khi vợ nói với ông: “Chúc ngủ ngon!” Ông đã nỉ non: “Em đến nằm bên cạnh anh, nói chuyện cùng anh đi.”
Mỗi ngày, Jan đều cười vui vẻ, giống như muốn bù lại sự tổn thất niềm vui gần 20 năm qua. Ông hào hứng nói với các phóng viên: “Tôi phải cảm ơn vợ tôi cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời này. Bởi vì, bà ấy đã một lòng giúp tôi, làm cho tôi hết thảy mọi thứ. Thật không ai có thể cố gắng được như vậy.”
Giới y học vẫn cho rằng, người sống đời thực vật thì sẽ không có nhận thức, không có ý nghĩ, không có cảm xúc, không biết tư duy, không ghi nhớ được chuyện gì. Sự tỉnh lại sau 19 năm sống đời thực vật của ông Jan đã khiến giới y học phải xem xét lại quan điểm này.
Truyện Cô Bé Bán Diêm của văn hào người Đan Mạch – Andersen được rất nhiều người biết đến. Song ít người biết rằng cô bé ấy thật sự đã có mặt trên đời này và đã từng đi qua cuộc đời Andersen.
Vào một buổi tối mùa thu, tại một khu phố thuộc thành phố Copenhagne – Danmark.
– Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm!
Một tiếng nói khàn khàn, mệt mỏi chợt vọng đến tai Andersen. Đằng kia, trước mặt chàng hơn mươi bước là một người đang ngồi co ro trên thềm của một ngôi nhà cao ráo.
Ánh sáng đèn từ trong nhà chiếu ra cho chàng thấy đó chỉ là một đứa bé con.
Hẳn nó đã phát ra những lời vừa rồi.
– Tối lắm rồi sao cháu còn chưa về nhà ngủ?
Andersen bước đến, ái ngại. Đấy là một cô bé khoảng hơn 10 tuổi, run rẩy trong bộ quần áo vá víu bẩn thỉu.
Vai áo rách để lộ đôi vai gày còm. Nhìn gương mặt hốc hác của nó, có thể đoán nó đang chịu cảnh thiếu ăn, thiếu uống từ lâu.
– Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm!
– Tay cầm bao diêm, cô bé chỉ vào chiếc túi con căng phồng bên cạnh, khẩn nài – Cả ngày cháu chẳng bán được gì, cũng chẳng ai bố thí cho cháu đồng nào.
Cô bé rơm rớm nước mắt. Thân hình tiều tụy ốm yếu của em run lên khi gió lạnh thổi qua.
– Thế sao? Andersen động lòng.
Chàng khẽ vuốt mái tóc dài xoăn thành từng búp trên lưng cô bé.
– Gia đình cháu đâu cả rồi? Không ai lo cho cháu sao?
Cô bé buồn bã lắc đầu. Em bùi ngùi kể lại những năm xưa khi còn sống trong ngôi nhà xinh đẹp với những dây trường xuân leo quanh.
Từ khi bà em qua đời, gia sản lụn bại, gia đình em phải lìa bỏ mái nhà thân yêu đó để chui rúc trong một xó xỉnh lụp xụp, tối tăm.
– Không có tiền cháu đâu dám về nhà vì bố sẽ đánh chết thôi!
Cô bé nhìn Andersen, đôi mắt cầu khẩn.
Thực vậy, em có một người cha ác nghiệt. Hơn nữa về nhà cũng chẳng hơn gì.
Hai cha con chen với nhau trên một gác xếp tồi tàn, gió rét vẫn lùa vào được dù đã bít kín những lỗ thủng trên vách.
Lúc này, đôi chân cô bé đã lạnh cóng, em mang đôi giầy vải mòn cũ do mẹ em để lại.
– Cháu đừng lo!
Andersen cho tay vào túi lấy ra một số tiền đặt vào bàn tay bé bỏng của em
– Còn bấy nhiêu chú cho cháu cả. Cháu về nhà mau kẻo chết cóng mất. Ôi, lạy Chúa!
Vẻ đầy mừng rỡ, cô bé hôn tíu tít lên tay chàng – Từ ngày bà cháu mất đi, chú là người thương cháu nhất trên đời này. Với món tiền này, bố con cháu sẽ được nhiều bữa no.
Nhưng… cô bé bỗng đăm chiêu… Nếu chú cho cháu hết thì tiền đâu chú sống, hở chú?
– Sao cháu khéo lo thế?
Chàng mỉm cười, nụ cười đầy hiền dịu – Chú sẽ còn cho cháu nhiều thứ nữa. Chú sắp đi xa, đầu năm tới mới trở lại nơi này, khi ấy chú sẽ tặng cháu một món quà đặc biệt.
Ồ, thích quá! Còn cháu, cháu cũng sẽ tặng chú một món quà. Mà chú tên gì nhỉ ?
– Chú là Andersen
– Chàng âu yếm nắm đôi vai gầy của cô bé – Có bao giờ cháu nghe đến tên ấy chưa?
– Tên chú nghe quen lắm – Cô bé nhìn đăm đăm gương mặt trầm tư có chiếc mũi khoằm của chàng
– Chú có phải là thợ mộc không?
– Không phải! Andersen mỉm cười lắc đầu.
– Thợ may?
– Cũng không.
– Hay chú là bác sĩ?
– Ồ, không phải đâu. Thế này này…
Chàng đưa ngón tay trỏ viết viêt vào không khí, vẻ hơi đùa cợt.
A! Cô bé reo lên.
– Cháu hiểu rồi, chú làm nghề bán bút!
Andersen chỉ tủm tỉm cười. Chàng thấy yêu cô bé quá. Em khiến chàng, một nhà văn thề suốt đời gắn bó với tuổi thơ, nhớ đến thời thơ ấu của mình và thành phố Odense cổ kính, nơi tuổi thơ của chàng êm ả trôi qua.
Là con một trong gia đình nên dù cha chỉ là một bác thợ giày nghèo, cậu bé Andersen hầu như chẳng phải mó tay đến bất cứ một việc gì ngoài mỗi việc là mơ mộng liên miên.
Cậu bé lắm khi chỉ thích bầu bạn với chiếc cối xay già nua đứng run rẩy trên bờ sông hiền lành của thành phố quê hương. …
Sau đó Andersen đi du lịch đâu đó… và chàng đã quên luôn lời hứa với cô bé bán diêm.
Khi về thăm lại khu phố năm nào, chàng tự trách mình đã quá mải mê với chuyến viễn du đến nỗi quên khuấy đi lời hứa với cô bé bất hạnh mà giờ này hẳn đang lang thang đâu đó với chiếc túi đựng đầy diêm.
Phải mua ngay cho em một chiếc áo len, một chiếc áo lông cừu dày và thật ấm để em qua được cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông…
Và Andersen sau những lần dò hỏi tin tức của em bé bán diêm, được ông chủ hiệu quần áo cho biết:
– Con bé chết rồi còn đâu. Ngày đầu năm mới người ta nhìn thấy em bé chết cóng tự lúc nào ở một góc đường giữa hai ngôi nhà.
Cái chết cứng đờ của nó ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn.
Có lẽ nó muốn sưởi cho ấm. Có điều lạ là hai mà nó vẫn hồng và miệng nó như đang mỉm cười.
– À này, ông ta tiếp tục trước khuôn mặt chết lặng của Andersen, khi mang xác nó đi người ta thấy trong túi nó rơi ra vật gì giống như một chiếc quản bút làm bằng những bao diêm.
Hẳn nó để dành tặng ai, vì trên chiếc quản bút có ghi dòng chữ: tặng chú Andersen.
Andersen quên khuấy món quà ông định tặng cho cô bé bán diêm. Nhưng cô bé, cô bé vẫn nhớ tới lời hứa của mình với vị khách tốt bụng của buổi tối mùa thu.
Hơn nửa thế kỷ qua, hàng triệu con người trên trái đất đã nghe tim mình thổn thức mỗi khi đọc câu chuyện về cô bé đáng thương của văn hào Đan Mạch.
Phải chăng Andersen đã viết câu chuyện ấy như một món quà để tặng hương hồn cô bé bán diêm?
BẤT HẠNH VÀ XÓT XA NHẤT CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM HÔM NAY LÀ……
THÀNH QUẢ LỚN NHẤT CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM
Biến con người Việt thành những con người không còn tử tế, không còn liêm sỉ, càng lúc càng tham lam, tàn bạo, thủ đoạn;
– biến xã hội Việt Nam thành xã hội suy đồi và giả dối đến mức chưa từng có từ trước tới nay trong văn hoá Việt;
– biến nước Việt thành một nơi chất độc huỷ hoại không những đến thứ để ăn, để uống, để hít thở mà còn huỷ hoại đến tận ý chí, tinh thần và đạo làm người; một nơi không còn một chút nội lực, một nơi con người thờ ơ với hiểm hoạ diệt vong ngay trước mắt;
TÁN TẬN LƯƠNG TÂM
Có lẽ chưa bao giờ sự tha hóa trong cung cách làm ăn, buôn bán của người Việt ta lại xuống cấp như ngày nay. Chưa bao giờ vì mưu sinh, vì làm giàu mà người ta bất chấp thủ đoạn, quên đi đạo đức, lương tâm, sẵn sàng đẩy nguy hại cho đồng loại đến như vậy.
Ra đường, chạy xe thì dính phải đinh do đinh tặc rải, dắt xe vào vá thì bị cắt ruột xe, phải thay với giá cắt cổ. Đổ xăng tại không ít cây xăng thì không chỉ bị gian lận số lượng mà còn gặp phải xăng dỏm, gây hỏng xe. Ra chợ thì mua phải thực phẩm thiếu an toàn; không ít quán ăn chế biến thực phẩm bẩn bán cho thực khách. Báo chí mấy ngày qua đưa tin nhiều người chết vì uống nhầm rượu dỏm làm từ men của Trung Quốc hay áo ngực từ Trung Quốc có chứa chất độc… Thật khó kể hết những chuyện tương tự bởi đầy rẫy. Đó là sự táng tận lương tâm đến mức đáng báo động, làm nhói đau lương tri; cuộc sống với những ý nghĩa tốt đẹp nhất của nó đã bị những con người tha hóa làm cho vẩn đục… Đó là sự gian dối thắng thế hoặc mặc nhiên được chấp nhận, là người ngay phải sợ kẻ gian. Phẫn nộ biết bao khi thấy kẻ trộm đến nhà hàng xóm khiêng đồ mà không dám kêu bởi sợ chúng quay lại trả thù. Xót xa biết bao nhiêu khi người làm ra rượu lại không dám uống, rau nhà trồng không dám ăn mà bán cho người khác bởi đó là rượu độc, rau bẩn…
Từ xa xưa, cha ông ta đã để lại cho con cháu câu chuyện cái cân thủy ngân đầy ý nghĩa. Đôi vợ chồng chế ra cái cân cán rỗng, trong đổ thủy ngân để mua bán gian lận, bao giờ phần lợi cũng về mình. Khi họ hồi tâm phá bỏ cái cân thì chẻ cân ra, trong cán cân đọng một cục máu đỏ và không lâu sau hai con đều chết. Lại thêm một thời gian dài làm ăn lương thiện và điều phúc đức, họ mới có lại hai con trai và sau này các con lớn lên đều thành đạt. Ngày nay, ai dám chắc mình mãi giàu có và an lành khi bản thân làm điều sai quấy với đồng loại. Bàn tay không nắm lại được cả ngày, sẽ có lúc lo âu vì làm điều ác và không trả giá cách này thì cũng cách khác mà thôi.(MVFB)
Quốc hội Mỹ ngày 8/12 thông qua một dự luật nhân quyền ‘bước ngoặt’ nhắm vào những cá nhân vi phạm nhân quyền và những giới chức tham nhũng trên toàn cầu.
Luật Magnitsky quy trách nhiệm nhân quyền toàn cầu do Thượng nghị sĩ John McCain và Ben Cardin giới thiệu tại Thượng viện được thông qua chưa tới một tuần sau khi dự luật tương tự do dân biểu Chris Smith và Jim McGovern ra mắt tại Hạ viện được chuẩn thuận với tỷ lệ áp đảo.
Giới hoạt động nhân quyền xem đây là một thành công lớn, một trợ lực quan trọng cho công cuộc cổ súy dân chủ-nhân quyền tại các nước lâu nay bị chỉ trích vi phạm nhân quyền như Việt Nam.
Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, một trong những nhà hoạt động trong 6 năm qua đã tích cực vận động cho dự luật này được thông qua Quốc hội Mỹ, chia sẻ với VOA Việt ngữ về nội dung và ảnh hưởng của dự luật trừng trị các cá nhân vi phạm nhân quyền trên thế giới đang chờ được Tổng thống ký ban hành, dự kiến trước cuối năm nay.
TS Nguyễn Đình Thắng: Luật này được thông qua ở Hạ lẫn Thượng viện với tỷ số quá bán 2/3, cho nên nếu bị Tổng thống phủ quyết, Quốc hội có thể phủ nhận phủ quyết đó rồi bỏ phiếu lại, cuối cùng cũng phải thông qua. Thứ hai, luật này kèm trong luật chi ngân sách quốc phòng trên 600 tỷ Mỹ. Cho nên, nếu phủ quyết luật này thì các chương trình quốc phòng sẽ bị đình trệ.
Thượng nghị sĩ John McCain.
VOA: Tầm quan trọng của luật này ra sao?
TS Nguyễn Đình Thắng: Rất quan trọng vì nó hoàn toàn là phương thức mới trong việc chế tài. Trước đây, việc chế tài gắn vào cả quốc gia, nên các nước, kể cả Hoa Kỳ, rất ngần ngại. Chế tài cả quốc gia khó khăn, ảnh hưởng nhiều chính sách khác như hợp tác quốc phòng hay mậu dịch..v..v.v. Ngoài ra, còn có quan ngại rằng chính người dân bị đàn áp ở quốc gia bị chế tài lại chịu ảnh hưởng nhiều hơn trong khi kẻ vi phạm lại phây phây. Bây giờ, luật chế tài này nhắm trực tiếp từng cá nhân các giới chức chính quyền vi phạm nhân quyền trầm trọng.
VOA: Những biện pháp chế tài thấy rõ nhất trong luật này?
TS Nguyễn Đình Thắng: Gồm hai điểm chính. Thứ nhất, cấm nhập cảnh Hoa Kỳ kể cả đi công vụ. Nếu muốn được bãi miễn lệnh cấm này thì Tổng thống phải có sự bãi miễn đặc biệt và phải giải thích với Quốc hội. Thứ hai, chính phủ Mỹ đóng băng tất cả các tài sản của những cá nhân vi phạm nhân quyền, cho dù họ che dấu bằng bất kỳ hình thức nào hay gửi gắm ai đứng tên. Vì sao? Vì trong rất nhiều các nước độc tài, kẻ vi phạm nhân quyền cũng chính là những tay tham nhũng lớn, dấu của cải ở các nước phương Tây. Quan trọng hơn, luật áp dụng với tất cả các loại nhân quyền được quốc tế công nhận. Theo luật này, những người cưỡng đoạt tài sản của nhân dân cũng bị xem là những kẻ vi phạm nhân quyền trầm trọng. Chúng ta biết rằng tình trạng dân oan bị mất đất ở Việt Nam rất phổ biến. Thứ ba, những giới chức tham nhũng mà đi trừng trị những người tố cáo tham nhũng cũng bị xem là vi phạm nhân quyền trầm trọng.
VOA: Những kẻ vi phạm đó làm thế nào lọt vào danh sách chế tài?
TS Nguyễn Đình Thắng: Con đường thứ nhất, một số Ủy ban của Hạ và Thượng viện Hoa Kỳ có quyền đề cử danh sách lên Tổng thống. Tổng thống có 120 ngày để ra quyết định chế tài hay không. Nếu Tổng thống từ chối không chế tài thì phải giải thích cho Quốc hội biết lý do. Vai trò của xã hội dân sự trong vấn đề này rất quan trọng vì các tổ chức theo dõi nhân quyền trên thế giới cũng có quyền đóng góp ý kiến cho Quốc hội và cho hành pháp Mỹ. Con đường thứ hai, khâu phụ trách Lao động-Nhân quyền-Dân chủ trong Bộ Ngoại giao Mỹ cũng có quyền nộp danh sách lên Tòa Bạch Ốc đề nghị chế tài.
VOA: Mối quan hệ Việt-Mỹ lâu nay dựa trên nền tảng nhân quyền làm điều kiện tiên quyết. Luật này ra đời, quan hệ Việt-Mỹ có thể bị tác động thế nào?
TS Nguyễn Đình Thắng: Chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. Ngay cả khi hành pháp Mỹ muốn che chắn bớt cho chính phủ Việt Nam vì những lợi ích khác ngoài nhân quyền thì cũng sẽ khó hơn. Khi Quốc hội Mỹ có hồ sơ rõ ràng rằng những giới chức này đã vi phạm nhân quyền trầm trọng theo đúng định nghĩa của luật thì rất khó để bên hành pháp có thể lờ đi.
VOA: Liệu luật này sẽ làm mối quan hệ Việt-Mỹ chùn lại hay là chất xúc tác để thăng tiến hơn?
TS Nguyễn Đình Thắng: Trên nguyên tắc, nó không ảnh hưởng mọi vấn đề đối tác về quốc phòng, mậu dịch, viện trợ…v…v..Thế nhưng, khi các giới chức lãnh đạo Việt Nam nằm trong danh sách chế tài này không qua được Mỹ để công vụ thì sẽ là một sự lúng túng ngoại giao. Luật này đang lan ra rất nhiều nước. Cùng ngày Quốc hội Mỹ thông qua, Quốc hội Estonia cũng thông qua và Tổng thống đã ban hành luật. Hiện cũng có đề nghị luật này ở Canada, Anh quốc, và sắp sửa được đưa ra ở Quốc hội Na-uy.
VOA: Với tình hình nhân quyền Việt Nam, luật này đóng vai trò thế nào?
TS Nguyễn Đình Thắng: Sẽ rất quan trọng nếu chúng ta làm đúng việc, đúng cách. Chẳng hạn trong thời gian qua, chúng tôi có cách thức ‘kết nghĩa’. Cứ mỗi cộng đồng trong nước bị đàn áp như Hòa Hảo, Cao Đài, Tin lành, hay Công giáo…v.v.., chúng tôi lại kèm một nhóm ‘kết nghĩa’ để kết nối, cập nhật thông tin với nhau, liên tục theo dõi. Nếu có một dấu hiệu nào bị đàn áp thì họ lập tức thu thập thông tin và chuyển cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ lập báo cáo nộp cho Liên hiệp quốc hay Bộ Ngoại giao Mỹ. Đó là trước đây. Bây giờ, với luật mới, chúng ta có thể dùng những thông tin đó để đề nghị chế tài những giới chức can dự hay chỉ thị đàn áp người dân. Thành ra, đây là biện pháp để bảo vệ trực tiếp cho người dân bằng sự răn đe rằng người vi phạm sẽ bị chế tài.
VOA: Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi này.
Xe container nghi chở tiền dừng ở cổng sau Ngân hàng Nhà nước ở Sài Gòn
CTV Danlambao – Ít nhất 9 chiếc xe container nghi chở tiền mới in đã được vận chuyển vào Sài Gòn giữa lúc người dân cả nước vẫn còn chưa hết hoang mang về tin đồn đổi tiền.
Nguồn tin gửi đến Danlambao từ Sài Gòn cho biết, bắt đầu từ rạng sáng ngày 14/12/2016, người ta nhận thấy các hoạt động khá bất thường quanh khu vực trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chi nhánh Tp. HCM (số 17 Võ Văn Kiệt, P. Nguyễn Thái Bình, Q.1)
Từ sáng đến tối, ít nhất 9 chiếc xe container được thấy đã di chuyển vào cổng sau và bên hông Ngân hàng Nhà nước nằm trên đường Nguyễn Công Trứ và Pasteur.
Một nhân chứng có mặt tại hiện trường cho biết, toàn bộ khu vực đã bị phong toả bằng hàng rào nghiêm ngặt, xe cộ bị cấm lưu thông, trong khi bên trong công việc bốc dỡ diễn ra nhộn nhịp.
Những container này đều được bốc xuống đất bằng xe cẩu P&H, sau đó, nhân viên vận chuyển dùng tay để khiêng những bao tải được niêm phong kỹ lưỡng và mang vào bên trong ngân hàng.
Theo ghi nhận, việc bốc dỡ diễn ra suốt trong đêm 14/12 và kéo dài sang đến tận sáng ngày 15/12 vẫn chưa hoàn tất. Hiện không rõ đây là tiền mệnh giá cũ hay là tiền mệnh giá mới theo như tin đồn đổi tiền đang gây xôn xao dư luận gần đây.
Ít nhất 9 chiếc xe container chở tiền đã được trông thấy trong ngày 14/12/2016
Theo một thương gia hoạt động lâu năm trong lãnh vực vận tải, nhiều khả năng đây là đợt nhập kho tiền mới in của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên xảy ra đợt vận chuyển tiền với số lượng lớn và quy mô như vậy.
Điều này có thể lý giải về hiện tượng xuất hiện số lượng lớn tiền mới in trong thời gian gần đây, hầu hết người dân khi rút tiền từ ATM, hoặc lãnh lương từ ngân hàng đều nhận được những tờ tiền mệnh giá lớn vừa được in mới cáu, cùng số seri.
Hàng năm, Ngân hàng Nhà nước vẫn thường hay phát hành tiền mới vào mỗi cuối năm, nhưng chưa bao giờ người ta thấy số lượng tiền mới lại nhiều như năm nay. Cho đến thời điểm hiện tại, Ngân hàng Nhà nước chưa công bố số liệu về lượng tiền vừa mới được in thêm.
Có ý kiến cho rằng, nếu để xảy ra hiện tượng in tiền một cách vô tội vạ như trên thì chắc chắn sẽ khó tránh khỏi tình trạng siêu lạm phát vào năm 2017.
Một chiếc tàu của người Việt được cứu trên vùng biển Đông ngày 5 tháng 1 năm 2005. Ảnh minh họa.
AFP photo
Những cuộc trốn chạy trong thời bình
00:22/07:46
Hàng loạt các quan chức cấp cao của Việt Nam lợi dụng hình thức đi nước ngoài khám bệnh hoặc đi du học để rời khỏi Việt Nam ngay sau khi có quyết định truy tố trước pháp luật do những sai phạm trong quá trình làm việc. Sự việc này cùng với những phiên toà vừa diễn ra cũng ở Việt Nam để xét xử nhóm người vượt biên sang Úc và New Zealand nhưng bị chính phủ bắt giữ và trả về nói lên điều gì trong xã hội Việt Nam hiện tại?
Cuộc di dân thứ ba?
Lịch sử Việt Nam ghi dấu hai cuộc di tản được cho là vĩ đại nhất chưa từng có trong lịch sử thế giới: Cuộc tản cư 1954 kéo dài gần 3 tháng sau ngày ký Hiệp định Geneva chia cắt hai miền Nam, Bắc; và cuộc di tản diễn ra từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 kéo dài cho đến hơn mười năm sau đó.
Theo tôi, đó chỉ là điểm khởi đầu cho cuộc di dân thứ ba. Cuộc di dân này đang còn tiếp diễn cho đến ngày hôm nay và chưa có dấu hiệu chấm dứt.
– Vũ Cao Đàm
Bài viết của tác giả Vũ Cao Đàm trên trang Bauxite Việt Nam vào ngày 22 tháng 4 năm 2015 cho rằng “cuộc di tản sau 1975 thường được nói đến sau khi chế độ Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ.” Và cũng chính tác giả này đã đưa ra nhận định: “Theo tôi, đó chỉ là điểm khởi đầu cho cuộc di dân thứ ba. Cuộc di dân này đang còn tiếp diễn cho đến ngày hôm nay và chưa có dấu hiệu chấm dứt.”
Những diễn biến trong nước trong năm nay có thể xem như là minh chứng cho nhận định trên của tác giả Vũ Cao Đàm.
Cuộc trốn chạy mưu cầu hạnh phúc
Toà án La Gi, tỉnh Bình Thuận vào tháng 5 năm 2016 đã xét xử vụ án 46 người, trong đó có cả trẻ em mà cháu nhỏ nhất là 4 tuổi, vào đầu tháng 7 năm 2015 đã dùng thuyền để vượt biên đến Australia nhằm tìm qui chế tỵ nạn. Thế nhưng tàu của họ bị hải quân Australia chặn bắt ngoài biển và sau đó bị đưa về Việt Nam. Cho dù thủ phủ Canberra có được cam kết từ Hà Nội sẽ không trả thù những người ra đi, thế nhưng cuối cùng toà án tỉnh Bình Thuận vẫn tuyên án tù bốn người trong số họ.
Bốn người bị kết tội tổ chức vượt biên tại phiên sơ thẩm, TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu hôm 13/12/2016 Photo courtesy of plo.vn
Một phiên toà khác diễn ra vào ngày 13 tháng 12 vừa qua ở toà án tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, tuyên án nhóm người dùng thuyền đưa người vượt biên đến New Zealand nhưng bị lực lượng chức năng Australia bắt và trả về Việt Nam vào tháng 6 năm 2016. Hai trong số bốn bị cáo với tội danh “vượt biên” này bị kết án tù giam và hai người còn lại hưởng án treo.
Luật sư Võ An Đôn, người nhận bào chữa miễn phí cho bị cáo của cả hai phiên toà cho biết lý do những người này phải chọn con đường mà cách đây hơn 40 năm, hàng ngàn người Việt Nam đã phải chọn, đó là họ mong muốn có việc làm và cuộc sống tốt hơn.
“Với tư cách là luật sư bào chữa cho những người vượt biên thì tôi cũng rất thông cảm cho hoàn cảnh của họ. Bởi vì người ta chỉ mong muốn điều tốt cho gia đình và bản thân của người ta. Mong muốn có việc làm, có thu nhập, con cái được học hành tốt hơn cho cuộc sống tốt hơn. nhưng hiện tại thì ở xã hội Việt Nam không đáp ứng được nhu cầu đó nên người ta tìm cách vượt biên sang các nước khác có điều kiện tốt hơn. Đó là một nhu cầu của con người thôi.”
Cái nhu cầu được mưu cầu hạnh phúc tưởng chừng như rất cơ bản này, hơn 40 năm trước, hàng ngàn người Việt Nam phải đi tìm bằng cách ít nhất 1 lần bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, “khấn nguyện mười phương tám hướng” (Nguyễn Đình Toàn), xin được đổi lấy bằng chính mạng sống của họ.
Bà Trần Thị Thanh Loan, bị cáo trong phiên toà tỉnh Bình Thuận tháng 5 vừa qua bày tỏ nguyên nhân mà bà cùng chồng và 4 người con trong đó đứa nhỏ nhất mới 4 tuổi, phải tìm cách vượt biển là vì khó khăn trong cuộc sống:
Lúc đó tụi em hoàn cảnh khó khăn, nhà cửa không có. Trước đó làm lên cái nhà thì bị bên cưỡng chế người ta đập phá hết rồi, rồi làm ăn cũng khó khăn nữa.
– Bà Trần Thị Thanh Loan
“Lúc đó tụi em hoàn cảnh khó khăn, nhà cửa không có. Trước đó làm lên cái nhà thì bị bên cưỡng chế người ta đập phá hết rồi, rồi làm ăn cũng khó khăn nữa. Em thấy vậy thì em đi lúc đó cũng không suy nghĩ gì nữa.”
Bà Trần Thị Lụa, cũng là bị cáo trong phiên toà đó cho biết:
“Ở đây khổ quá thì mới đi. Làm ở đây khổ quá không đủ để nuôi con, sống không có đủ cho nên muốn qua làm có đồng tiền, đời sống con cái khác hẳn ở Việt Nam.”
Những cuộc vượt biên với mục đích nhằm tìm đến cái nhu cầu cơ bản của con người ấy đều thất bại. Tất cả những người vì đời sống tốt đẹp hơn cho thế hệ con cháu đời sau đều trở thành bị cáo của những phiên toà diễn ra nơi chính mảnh đất họ dứt áo ra đi vì không còn hy vọng tìm thấy hạnh phúc.
Ở cuộc di dân thứ 3 họ phải chịu những bản án tù giam.
Cuộc tháo chạy sau khi bị cáo buộc tội
Hoà vào dòng người vượt biên chạy trốn khỏi chế độ là một cuộc tháo chạy khác từ những quan chức từng cai trị và gián tiếp xua đuổi họ khỏi đất nước Việt Nam.
Đó là cuộc tháo chạy của Trịnh Xuân Thanh, nguyên phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, nguyên Chủ tịch hội đồng quảng trị Tổng công ty cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam; củaVũ Đình Duy, nguyên Tổng giám đốc công ty Cổ phần Hoá dầu và Xơ sợi dầu khí; của Lê Chung Dũng, nguyên Phó Tổng Giám đốc công ty điện lực dầu khí Việt Nam. Đây là những quan chức cấp cao từng nắm giữ quyền và trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế của đất nước.
Tập đoàn dầu khí Việt Nam, nơi đã có hai cán bộ bỏ trốn khi bị cáo buộc tội tham nhũng. Photo courtesy of pvn.vn
Tại phiên chất vấn quốc hội ngày 16 tháng 11 vừa qua, đại biểu Ngô Văn Minh đặt câu hỏi với Bộ trưởng Bộ Nội vụ về vấn đề của Trịnh Xuân Thanh, bị cáo buộc làm trái các nguyên tắc gây hậu quả nặng nề, “Đề nghị cho biết có bao nhiêu cán bộ luân chuyển theo đường ‘tiểu ngạch’ như Trịnh Xuân Thanh?”
Sự việc của Trịnh Xuân Thanh là diễn biến được Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, người từng ngồi tù ở Việt Nam hơn 20 năm, từ Washington D.C cho là “mở đường” cho những cuộc chạy trốn bằng hình thức ra nước ngoài chữa bệnh hoặc du học hoặc…mất tích.
Ông cho chúng tôi biết, việc bỏ chạy của cả quan chức lẫn người dân trong thời đại này là báo động một chế độ không thể tồn tại lâu dài được. Nói về những cuộc “di dân” trong thế kỷ 20 này, ông nhận xét có một điểm chung:
Cái đất nước đã đến cái giai đoạn mà cả những người cầm quyền lẫn người dân đã không còn có thể yên ổn ở trong nước được.
– Giáo sư Đoàn Viết Hoạt
“Nó nói lên thực trạng của đất nước sau hơn nửa thế kỷ nằm dưới sự cai trị của chế độ cộng sản. Đó là đất nước đã vào tình trạng mà người dân không tìm thấy tự do và hạnh phúc ngay trên đất nước của mình, họ chỉ có thể tìm thấy tự do và hạnh phúc ở ngoài đất nước Việt Nam. Đó là tình trạng bi thảm và tình trạng đó không thể nào tiếp tục tồn tại được.”
Không chỉ riêng người dân ở mọi thành phần, mà cả những diễn biến đang xảy ra trong bộ máy nhà nước Việt Nam cho thấy ngay cả những người quan chức trong ban lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản vẫn không cảm thấy yên.
“Vấn đề là cơ chế đó đã tạo ra sự rạn nứt và sự rạn nứt đó, để được an toàn và tự do thì họ không còn có thể ở trong nước được nữa. điều đó không xảy ra cách đây 30 năm hay 20 năm đối với cán bộ và Đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản.
Cái đất nước đã đến cái giai đoạn mà cả những người cầm quyền lẫn người dân đã không còn có thể yên ổn ở trong nước được. Vì thế tôi nghĩ là nó có tính chất tương đối giống nhau là vậy.”
Sự khác biệt
Cùng mang hình thức giống nhau là trốn chạy khỏi đất nước, thế nhưng tính chất của hai hình thức này hoàn toàn khác nhau.
Giáo sư Đoàn Viết Hoạt nhận định:
“Có khác nhau. Một bên là do tham nhũng hối lộ, một bên là do vì thiếu sự tự do hạnh phúc.”
Quan chức tháo chạy khỏi đất nước vì lý do bị cáo buộc tội tham nhũng hối lộ. Người dân trốn chạy khỏi đất nước vì không tìm thấy tự do hạnh phúc và cuộc sống tốt đẹp.
Người Việt ra đi, bị bắt, bị giam hãm trở lại từ nơi phát xuất. Riêng nhóm người đang được chính quyền Việt Nam cho là tội phạm bỏ chạy khỏi nước rồi phải trả lời ra sao khi có người hỏi họ về lý do khiến phải rời bỏ quê cha đất tổ?
Trên chuyến xe xuôi miền lục tỉnh, người ta chuyển đến tôi một cuốn truyện cũ đã mất bìa để đọc cho quên đường dài. Truyện kể lại mối tình giữa một chàng trai là con sĩ quan học tập và một cô gái là con cán bộ chức quyền. Họ thương nhau và muốn kết hôn với nhau, nhưng khi công khai ý định ấy, họ đã gặp phải những lực cản từ hai phía gia đình. Đã có nhiều nghi ngờ từ phía cha chàng trai và cũng có lắm nghi ngại từ phía cha cô gái. Giải pháp phải chọn là chia xa đôi lứa.
Đành lòng làm thế, nhưng họ vẫn âm thầm chờ đợi nhau, cho đến khi cha chàng trai mãn hạn học tập về nhà và cha cô gái đã đến tuổi về hưu. Hai người cha có dịp gần gũi cảm thông làm chất keo thân ái cho tình yêu đôi trẻ có điều kiện gắn hàn. Kết truyện là đám cưới.
Truyện có hậu và có nét hấp dẫn riêng của thể loại, nhưng điều hấp dẫn hơn hết đối với tôi không phải là cốt truyện cho bằng chính tựa đề “Tình yêu trong veo”: trong veo giữa hai người cha biết xoá tan ngờ vực để thêm gần gũi; trong veo giữa hai bạn trẻ biết vượt qua thử thách để giữ vững tình yêu. Xin mượn tựa đề “Tình yêu trong veo” ấy để gọi tên Mùa Vọng là mùa trong veo một tình yêu.
1) Bằng tình yêu trong veo, Thiên Chúa trao thân cho con người.
Trong khi người Do Thái còn đang mải miết với một vì Chúa ở trên cao và dường như say sưa về một Đấng ở xa con người, đến nỗi trong quan hệ nguyện cầu, thay vì xin những biểu tỏ gần gũi để dễ dàng nắm bắt, họ lại chỉ dám xin một dấu lạ điềm thiêng mãi tận trời cao vượt quá tầm nhìn; và trong niềm mong chờ Đấng Cứu Thế, vốn là mạch sống hy vọng cho cả dân tộc, họ những tưởng nghĩ rằng Người sẽ đến, nhưng là đến trong cung cách của một vị Chúa oai phong lẫm liệt, cho muôn dân nếu không phải cúi đầu sợ hãi thì cũng phải bái phục tôn thờ. Có ngờ đâu, khi Chúa đến, Người lại chọn cho mình một cách đến rất khác lạ.
Người đến thật gần: trong thân phận của một con người để làm người giữa muôn người trần thế. Người đến thật thấp: thấp đến nỗi chọn cho mình cách sống của một người cùng khổ dưới đáy xã hội. Người yêu thương con người để sẵn sàng trao thân cho họ, chấp nhận phải điều đình, chấp nhận được cưu mang, chấp nhận được sinh hạ, chấp nhận được làm người: “Ngôi Lời đã làm người và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14).
Phải chăng khi trao thân cho con người như thế, Thiên Chúa sẽ được thêm vinh quang? Phải chăng nếu không trao thân cho nhân loại, Thiên Chúa vẫn là Chúa, nhưng là một vị Chúa không được ai biết đến hay là một vị Chúa bị kết án phải cô đơn? Thưa không phải thế. Chính khi trao thân cho con người trong mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa không còn úp mở như trong thời Cựu Ước nữa, Người đã dứt khoát cho thấy mình là Đấng giải cứu con người và sẵn sàng làm hết cách để thực hiện bằng được chương trình của Người mà không đợi chờ mảy may vinh quang nào ngoài lợi ích cứu độ cho người trần gian. Để độ thế, Thiên Chúa đã nhập thể; để cứu người, Thiên Chúa đã làm người.
Chính hai Danh xưng được nêu lên trong phần Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay đã nói lên tất cả. Danh xưng Emmanuel khẳng định “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, Danh xưng Giêsu bộc lộ “Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ” (Mt 1,23-25). Nối kết hai Danh xưng ấy nơi Đấng Cứu Thế, ta sẽ thấy một tình yêu trong veo Thiên Chúa dành cho con người: Người là Thiên Chúa ở cùng ta để cho ta ơn cứu rỗi, và Người là Thiên Chúa cứu độ ta bằng cách ở cùng ta.
2) Bằng tình yêu trong veo, con người gửi phận cho Thiên Chúa.
Nếu bằng tình yêu trong veo cứu độ, Thiên Chúa trao thân cho con người, thì Chúa Nhật thứ tư Mùa Vọng cho thấy những nhân vật gần gũi với mầu nhiệm Giáng Sinh nhất là Đức Maria và thánh Giuse đã bằng tình yêu trong veo tự nhiên gửi phận mình cho Thiên Chúa.
Đối với Đức Maria, tình yêu trong veo đã rõ qua tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội, mà Phụng Vụ hữu ý mừng kính ở đầu Mùa Vọng. Tình yêu ấy đã rõ trong việc Mẹ dâng mình vào Đền Thánh, nhưng tình yêu ấy còn rõ ràng hơn khi tiếp cận với mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa. Ngày Truyền Tin, mới gặp sứ thần, Đức Maria đã bối rối, thứ bối rối của một tình yêu trong sạch buổi đầu gặp gỡ. Rồi, lúc được đề xuất làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria đã băn khoăn, thứ băn khoăn của một tình yêu trong sáng muốn được giải thích đôi câu. Và chính lúc thưa “Xin vâng” (Lc 1,38) là cả một tình yêu trong veo như chưa bao giờ trong đến thế, Đức Maria đã gửi trọn phận mình vào tay Thiên Chúa, bất chấp đó là một mạo hiểm chết người: trinh nữ mà lại mang thai, phải ăn nói ra sao với thánh Giuse? Mới đính hôn thôi mà sắp thành mẹ, phải dàn xếp thế nào cho hợp luật pháp?
Còn thánh Giuse, con người lặng thầm nhất của Mùa Vọng, đã được đặt vào một tình huống khó xử đến độ ray rứt, nhất là trong những ngày trước lúc Đấng Cứu Thế giáng sinh như Phúc Âm hôm nay mô tả. Nhưng chính ở đây ông đã chứng minh bằng những nét đẹp kín đáo hào hùng về một tình yêu trong veo từ lâu đã dệt nên đời sống qua những lựa chọn xé lòng. Là người công chính, dù ghi nhận ít nhiều dấu hiệu chuyển biến nơi Đức Maria, ông cũng chẳng dám nghi ngờ mà chỉ một thoáng băn khoăn, để rồi định chọn cho mình giải pháp âm thầm rút lui. “Đào vi thượng sách” là giải pháp an toàn nhất. Nhưng chính lúc ấy, được tỏ nguồn cơn, ông đã tiếp nhận ý Chúa và tiếp đón Đức Maria về nhà mình bằng một tình yêu trong veo, mà người trần mắt thịt dẫu có bản lĩnh cách mấy cũng khó mà dám xâm mình mạo hiểm (Mt 1,24).
Nhìn như thế, tình yêu trong veo đã liên kết Đức Maria và thánh Giuse, để mái nhà chung sống không chỉ là nơi che nắng trú mưa cho qua ngày đoạn tháng, mà đã trở thành một mái ấm của những tấm lòng biết mở ra cưu mang Con Thiên Chúa và sẵn sàng để sinh Người ra cho dương thế, cho dẫu tình yêu trong veo ấy trên đường cứu độ như một bản trường ca sẽ không thiếu những quãng nghịch, mà việc khó xử hôm nay trong Phúc Âm mới chỉ là những nốt nhạc mở đầu.
3) Cũng bằng tình yêu trong veo, ta đón mừng lễ Giáng Sinh.
Hiểu như trên, Chúa Nhật thứ tư Mùa Vọng rõ ràng là một tình yêu hai chiều trao gửi: Thiên Chúa trao thân cho con người để con người biết gửi phận mình cho Thiên Chúa. Đồng thời cũng là Chúa Nhật trong veo của những tấm lòng biết gửi trao tấm lòng trong ơn cứu độ.
Trên nền tảng ấy, tình yêu trong veo đã trở nên tinh thần phải có để đón Chúa Giáng Sinh. Trong những ngày này, đi ra phố xá, đã nghe vang lên những bài ca Giáng Sinh quen thuộc; ngang qua nhà thờ, đã thấy trưng bày những bộ Noel với hang đá, cây thông, đèn sao đẹp mắt; và đi tới chỗ nào cũng thấy thấp thoáng Giáng Sinh với muôn màu lấp lánh. Nhưng có một màu được xem là không thể quên hay không bao giờ quên đối với mọi tín hữu mừng lễ Giáng Sinh, màu đó không ở trên áo quần giầy dép, môi mép tóc tai, hoa cài áo khoác, mà là ở trong tấm lòng kìa! Đó là màu trong veo của những tâm hồn trinh trong biết cưu mang ý Chúa và biết sinh hoa kết trái trong cuộc sống công minh chính trực của mình.
Nếu ngày xưa trong khúc hát quan họ Sion, câu xướng “Ai được lên Núi Chúa?” đã nhận được lời đáp “Chỉ những người thật thà ngay chính tay sạch lòng thanh mới được bước tới Thánh Cung” (Tv 23,3-4), thì hôm nay cũng thế, trong bài ca cuộc sống ai cũng nôn nao xôn xao ồn ào huyên náo tiếp cận lễ Giáng Sinh cả, kẻ tiếp thị, người tiếp tân; nhưng chỉ có những tấm lòng trinh trong mới xứng đáng trở nên Hang đá tiếp đón Chúa sinh vào. Chúa chỉ một lần đến sinh ra trên trần thế là đủ để cứu chuộc muôn người, nhưng giả như Người có đến sinh ra nhiều lần hơn nữa cũng vẫn thiếu, nếu lòng người chưa sẵn sàng một tình yêu trong veo mở ra đón nhận. Liệu ta hôm nay đã sẵn có một tâm hồn như thế trước lễ Giáng Sinh?
Hơn nữa, tình yêu trong veo cũng là tiếng nói cuối cùng của Mùa Vọng thúc đẩy ta đến với những người xung quanh. Không thể có Mùa Vọng đầy đủ nếu bỏ quên chiều kích tha nhân trong tình yêu của mình, và cũng chẳng tiếp đón Chúa cho đủ nếu từ chối tiếp nhận anh chị em gần gũi với mình trong những sinh hoạt hằng ngày.
Trong Phúc Âm, Giuse biết tiếp nhận ý Chúa “qua giấc mơ”, để rồi sau đó “tỉnh dậy” ông mau mắn đón Đức Maria nên bạn đường bạn đời của mình, cho dẫu hậu thế có kẻ điều ong tiếng ve xem ông như kẻ “vô tư”. Nhưng đó lại là bước đột phá của một tình yêu trong veo biết nhận ra rằng: Thiên Chúa đã ân cần trao thân cho mình qua mầu nhiệm Nhập Thể, thì mình cũng tín thác gửi phận mình trong mầu nhiệm quan phòng của Thiên Chúa. Đó là hai chiều gặp gỡ của tình yêu Giáng Sinh.
Tóm lại, tình yêu trong veo là động lực khiến Chúa đến với con người và là nguồn lực thúc đẩy con người tiếp đón Chúa, để trong cuộc sống cụ thể trở thành nỗ lực của mọi tín hữu đón lễ Giáng Sinh. Trong khi còn chuẩn bị và chưa thực sự được tiếp đón Chúa, hãy bắt đầu bằng cách thực tập tiếp đón những hình ảnh sống động của Chúa là những người ta gặp hoặc những người gặp ta bằng một tình yêu trong veo luôn thăng tiến. “Nếu không gặp Ngài trong nghèo khổ, sẽ chẳng gặp Ngài giữa cao sang. Nếu không gặp Ngài ở dưới đất, sẽ chẳng gặp Ngài chốn Thiên Đàng” (thơ Xuân Ly Băng).
Đến đây, xin được khép lại những chia sẻ Mùa Vọng năm nay. Xin cám ơn Mùa Vọng đã đem đến những ý nghĩ đẹp màu. Xin cám ơn cộng đoàn đã vui lòng lắng nghe. Hy vọng những tâm tình chia sẻ cũng cung cấp chút ý tưởng giúp mỗi người hình thành được Máng Cỏ tâm hồn. Và cám ơn đứa cháu nhỏ đã tình cờ viết lộn chữ Mùa Vọng thành chữ “Màu Vọng” để có được bốn sắc màu chia sẻ nơi đây. Qua xanh đến tím gặp hồng, dìu ta đón Chúa với lòng trong veo.