Một số sự kiện nổi bật năm 2016 của Đức Thánh Cha Phanxicô

Một số sự kiện nổi bật năm 2016 của Đức Thánh Cha Phanxicô

1. Gặp gỡ giám đốc điều hành Google, Apple, Facebook

Năm 2016, Đức Thánh Cha đã có nhiều cuộc gặp gỡ với các ông lớn về công nghệ và mạng xã hội như:  Eric Schmidt, cựu giám đốc điều hành Google và chủ tịch đương nhiệm của Alphabet; Tim Cook, giám đốc điều hành của Apple; Mark Zuckerberg, giám đốc điều hành Facebook, ngoài ra ngài còn gặp gỡ nhiều nhân vật đặc biệt khác như: diễn viên Leonardo DiCaprio, tổng thống Iran…

2. Viếng thăm Mexicô và Cu Ba

Đức Thánh Cha đã có nhiều chuyến viếng thăm quan trọng, đặc biệt là chuyến viếng thăm đến Mêxicô và dừng chân tại Cuba. Tại sân bay Havana, ngài đã có cuộc gặp gỡ lịch sử lần đầu tiên với Thượng Phụ Moscow. Cả hai đã trao cho nhau những cái hôn truyền thống của người Nga.

3. Rửa chân cho những người tị nạn vào Thứ 5 Tuần Thánh

Vào Tuần Thánh trước Lễ Phục Sinh, Đức Thánh Cha có cuộc gặp gỡ hiệp thông với những người tị nạn. Vào thứ 5 tuần Thánh, ngài đã quỳ xuống, rửa chân cho những người tị nạn như Đức Kitô đã làm cho các tông đồ khi xưa.

4. Ra tông huấn Amoris Laetitia

Đức Thánh Cha đã ra Tông Huấn Amoris Laetitia. Tài liệu này là những đúc kết được rút ra từ hai Công Nghị về gia đình của Giáo hội.

5. Giải Thưởng Charlemagne

Vào tháng 5/2016, Đức Thánh Cha đã nhận được một trong những giải thưởng danh giá nhất Châu Âu, giải thưởng Charlemagne, tại Vatican. Trước những nhà lãnh đạo Châu Âu, Đức Thánh Cha đã nhắc lại thông điệp về con người của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

6. Viếng thăm đến Armenia và tỏ lòng tôn kính với Đức Benedict XVI.

Đức Thánh Cha có chuyến viếng thăm đến Armenia để cầu nguyện cho các nạn nhân trong cuộc diệt chủng tại Armenina cách đây gần 1 thế kỷ. Tháng 6/2016, nhân kỷ niệm 65 năm linh mục của Đức Benedictô XVI, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tỏ lòng tôn kính với vị tiền nhiệm của mình.

7. Tham dự Đại Hội Giới Trẻ tại Ba Lan

Tháng 7/2016, Đức Thánh Cha đã tham dự đại hội giới trẻ tại Ba Lan và có cuộc viếng thăm đến nhiều nơi như: Czestochova, trại giam Auschwitz…

8. Ăn trưa với những người tị nạn và thăm những phụ nữ được giải thoát khỏi nhà thổ

Vào tháng 8/2016, Đức Thánh Cha đã mời 21 người tị nạn Syria ăn trưa với Ngài. Cũng trong tháng này, ngài đã đến thăm 20 phụ nữ đã được giải thoát khỏi nhà thổ tại cộng đoàn Gioan XXIII. Đây các hoạt động của Đức Thánh Cha nhân dịp Năm Thánh Lòng Thương Xót.

9. Phong Thánh cho Mẹ Terêsa

Tháng 9/2016, Đức Thánh Cha đã phong thánh cho Mẹ Têrêsa, người nữ Công giáo có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ XX.

10. Đối thoại liên tôn với Tin Lành, Anh Giáo và Cơ đốc giáo

Trong năm nay, ĐTC có nhiều cuộc đối thoại liên tôn với các tôn giáo bạn, đặc biệt là cuộc gặp gỡ với các lãnh đạo tinh thần của Tin Lành, Anh Giáo và Cơ đốc giáo. Các cuộc gặp gỡ đã để lại ấn tượng tốt đẹp cho tất cả các bên.

Tổng hợp theo Romereports

Cuối năm nhớ thương một người!

From facebook:   Phan Thị Hồng with Hoang Le Thanh and Nguyễn Thúy Hạnh.
Cuối năm nhớ thương một người!

Bạn đã biết đến cô ấy chưa?

Người con gái xinh đẹp này, đang bị cầm tù 9 năm vì chụp ảnh các cuộc biểu tình của dân oan và biểu tình chống Trung Quốc..

NGUYỄN ĐẶNG MINH MẪN bị bắt giữ ngày 31/7/ 2011 vì chụp hình một cuộc biểu tình và bị kết án chín năm tù với tội danh lật đổ nhà nước. Vào ngày 28 tháng 11, cô bắt đầu tuyệt thực để phản đối sự ngược đãi trong tù.

Vào ngày 9 tháng Giêng năm 2013, tòa án nhân dân Nghệ An kết án Minh Mẫn cùng với 13 blogger và nhà hoạt động nhân quyền khác về tội danh âm mưu “lật đổ” nhà cầm quyền Việt Nam, mà giới báo chí cho là “vụ án lật đổ lớn nhất trong những năm gần đây”.

Tuy học làm nghề thẩm mỹ, cô gái 26 tuổi này là người nhiệt huyết cổ võ cho công bằng xã hội và nhân quyền, thể hiện qua việc làm của một ký giả nhiếp ảnh. Thay vì bị trói buộc trong khuôn khổ truyền thông nhà nước, Minh Mẫn đăng tải hình ảnh của cô chụp trên mạng. Cô đến những nơi nào có bất ổn xã hội, có biểu tình công cộng để chụp hình và tạo chú ý cho các sự kiện này. Một trong những sự kiện đó là cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Tp.HCM vào ngày 5 tháng 6 năm 2011.

Minh Mẫn bị bắt giữ vào ngày 31 tháng 7 năm 2011 cùng với người mẹ và em trai. Nhà của gia đình bị công an lục soát và tịch thu máy ảnh của Minh Mẫn và vẫn chưa trả lại cho cô.

Vụ xử diễn ra tại tòa án nhân dân Nghệ An, nơi mà từ lâu có những quyết định không cần bằng và thiếu vắng thủ tục pháp lý. Mặc dầu có một số đông các bị cáo hầu tòa, phiên tòa diễn ra có hai ngày. Các bị cáo chỉ được có năm phút để trình bày với chánh án, và chỉ có thể trả lời “có” hay “không”. Nhiều ký giả độc lập và các quan sát viên quốc tế không được phép vào dự phiên xử. Phiên tòa kết án Minh Mẫn chín năm tù giam và ba tháng quản chế tại gia. Mẹ của cô bị kết án ba năm tù giam và nay đã mãn hạn tù. Em trai của cô bị ba năm tù treo.

Bản án nặng nề của Tòa Án Nhân Dân không chỉ tác động vào Minh Mẫn, mẹ và em trai của cô. Ba của cô đã nhiều lần bị ép buộc, bị áp lực phi pháp và bị theo dõi bởi nhà cầm quyền tiếp theo sau vụ bắt giữ cả gia đình của ông. Một nhân viên công an còn can ngăn ông không tìm luật sư bào chữa cho Minh Mẫn, và bị ra lệnh phải nói là vợ và con gái ông đã lên Sài Gòn làm việc nếu có ai hỏi về vụ bắt giữ.

Minh Mẫn đã nhiều tuyệt thực để phản đối cách đối xử bất công; cô bị nhốt trong một buồn giam lạnh lùng với ba lớp bê tông.

Cô hiện thời đang thụ án tù chín năm tù. Điều kiện ở tù khắc nghiệt, và cô bị buộc phải lao động cực nhọc.

Hồng Thái Hoàng.

Mỗi lần nghĩ đến cô, tôi lại rưng rưng hai hàng nước mắt !!!
Phan Thị Hồng

Image may contain: 1 person, standing and outdoor

Lẽ Sống

Lẽ Sống

Ngày xưa có một ông vua, tuổi đã quá ngũ tuần mà vẫn chưa xem được một quyển sách nào. Bộ sách mà ông thèm khát được đọc nhất là bộ “Lịch sử loài người”. Nhưng khốn nỗi, cuộc đời của ông, từ mái đầu xanh cho đến tóc điểm bạc, không lúc nào được rảnh rang. Ðời ông luôn luôn sống trên lưng ngựa, nằm sương, gối tuyết trên bãi chiến trường. Nay chinh phục nước này, mai ngăn chặn nước kia xâm lăng. Mắt ông chỉ thấy có gươm giáo và máu lửa. Ông rất ân hận vì chưa đọc được một trang sách của thánh hiền… Nay nước nhà đã hòa bình, ông muốn dành thời giờ còn lại để đọc cho kỳ được bộ lịch sử loài người, để xem con người xưa nay sống để làm gì? Nhưng tuổi ông đã cao, mà bộ sách lại quá dày. Biết sức mình không thể đọc hết bộ sách, cho nên nhà vua mới ra lệnh cho viên sử thần làm hộ cho mình công việc ấy. Với sự giúp đỡ của một ban gồm 50 người, viên sử thần mới bắt tay ngày đêm miệt mài đọc sách.

Sau 10 năm cắm cúi đọc sách, viên sử thần đã có thể tóm tắt bộ lịch sử loài người thành 10 quyển sách, và cho mang vào trình lên nhà vua. Nhưng vừa nhìn thấy 10 quyển sách và đo lường tuổi tác của mình, nhà vua lại cảm thấy không đủ sức để đọc hết bộ sách đã được rút ngắn. Nhà vua mới đề nghị cho ủy ban làm việc thêm một thời gian nữa. Sau 5 năm làm việc thêm, ủy ban đã có thể tóm lược lịch sử loài người thành 5 quyển. Nhưng khi ủy ban mang 5 quyển sách vào ra mắt nhà vua, thì cũng chính là lúc nhà vua đang hấp hối trên giường bệnh. Biết mình không thể đọc được dù một trang, nhà vua mới thều thào nói với viên trưởng ban tu sử hãy tóm tắt bộ lịch sử loài người thành một câu mà thôi. Vị trưởng ban tu sử mới tâu với nhà vua như sau: “Hạ thần xin vâng mạng. Lịch sử loài người từ khai thiên lập địa đến giờ là: loài người sinh ra để khổ rồi chết”. Nhà vua gật đầu. Ðôi môi khô héo của nhà vua bỗng nở nụ cười mãn nguyện… rồi tắt thở. Và giữa lúc ấy, vị trưởng ban tu sử cũng nấc lên mấy tiếng rồi trút hơi thở cuối cùng.

Hôm nay là ngày cuối năm. Nhìn lại một năm qua với không biết bao đói khổ, chiến tranh, chết chóc cho nhân loại cũng như cho chính bản thân, có lẽ cũng có nhiều người đi đến kết luận bi quan như viên trưởng ban tu sử trong câu chuyện trên đây: “Loài người sinh ra để khổ rồi chết”.

Ði qua một đoạn đường trong cuộc lữ hành trần gian, Giáo Hội muốn chúng ta mặc lấy thái độ hân hoan và lạc quan. Bài ca trên môi miệng của chúng ta trong ngày hôm nay không phải là bài ca bi ai, tả oán, mà phải là bài ca “Te Deum”, ngợi khen Chúa, cảm tạ Chúa. Ngợi khen Chúa, cảm tạ Chúa bởi vì vinh quang của Ngài là con người được sống. Ngài là Thiên Chúa của kẻ sống chứ không phải của người chết.

Không chối bỏ thực tại của khổ đau, chết chóc, nhưng chúng ta luôn được mời gọi để không nhìn vào đó như tiếng nói cuối cùng, như ngõ cụt. Bởi vì vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống, cho nên hướng đi của lịch sử loài người không phải là ngõ cụt của sự chết, mà là Sự Sống. Bên kia khổ đau, chết chóc, cuộc sống vẫn còn tiếp tục có ý nghĩa và đáng sống.

Còn tâm tình nào xứng hợp trong ngày cuối năm cho bằng cảm tạ và phó thác. Cảm tạ và phó thác cho Chúa bởi vì Ngài vẫn luôn là Thiên Chúa của Tình Yêu, Thiên Chúa của Sự Sống. Cảm tạ và phó thác cho Chúa bởi vì Ngài là Ðường, là Sự Thật và là Lẽ Sống của chúng ta. Cảm tạ và phó thác cho Chúa vì cuộc sống này vẫn tiếp tục có ý nghĩa và đáng sống.

Trích sách Lẽ Sống

TÔI TẠ ƠN CHÚA

Bài cũ nhưng đọc vẫn thấy có ích

TÔI TẠ ƠN CHÚA
Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh.(1)

Tình cờ tìm được bài “ Tôi tạ ơn Chúa” , tôi thấy nhiều điều hữu ích, đáng suy gẫm, có thể đem áp dụng trong đời sống hàng ngày để tìm thấy niềm vui, hạnh phúc đơn sơ mà chúng ta nhiều khi không cảm nhận được. Có những chuyện nho nhỏ làm cho chúng ta bực mình, mất vui, mất bình an vì cái nhìn từ phía chúng ta, từ trong tấm lòng, từ sự suy nghĩ  của chúng ta.. Các bạn thử đọc lại bài này và áp dụng thử xem sao?

Tôi Tạ Ơn Chúa. . .
Tôi tạ ơn Chúa vì chồng tôi cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp, bởi lẽ chàng đang ở ngay bên cạnh tôi, chứ không phải bên ai khác.

Tôi tạ ơn Chúa vì con tôi cứ càu nhàu khi phải phụ rửa chén đĩa cho tôi, bởi lẽ thằng bé đang ở nhà chứ không lêu lổng ngoài đường

Tôi tạ ơn Chúa vì số thuế thu nhập mà tôi phải trả quá cao, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có một công việc tốt để làm.
Tôi tạ ơn Chúa vì có nhiều thứ phải dọp dẹp sau bữa tiệc nhỏ, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi luôn được bạn bè quý mến đến chơi.

Tôi tạ ơn Chúa vì  quần áo tôi bỗng trở nên hơi chật, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có đủ ăn.

Tôi tạ ơn Chúa vì cái bóng của tôi cứ nhìn tôi làm việc, bởi lẽ như thế có nghĩa là tôi đang sống tự do ngoài nắng.

Tôi tạ ơn Chúa vì sàn phòng cần quét, cửa sổ cần lau, máng xối cần sửa, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có một mái nhà để cư ngụ.

Tôi tạ ơn Chúa vì tất cả những lời than phiền về chánh phủ, bởi lẽ như thế nghĩa là chúng ta được tự do ngôn luận.

Tôi tạ ơn Chúa vì hoá đơn đóng tiền cho hệ thống sưởi thật cao, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang được ấm áp.

Tôi tạ ơn Chúa vì người phụ nữ ngồi phía sau tôi trong nhà thờ hát sai, bởi lẽ như thế nghĩa là tai tôi còn nghe được rất tinh tế.

Tôi tạ ơn Chúa vì đống đồ phải giặt ủi, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi có đầy đủ áo quần để ăn mặc tử tế.

Tôi tạ ơn Chúa vì các cơ bắp của mình thấy mỏi mệt vào cuối ngày, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi có sức để làm việc nhiều.

Tôi tạ ơn Chúa vì tiếng đồng hồ reo to thật sớm ban mai, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi còn đi lại, hít thở và cười nói, bởi lẽ như thế  nghĩa là tôi đang còn sống.

Và cuối cùng:

Tôi tạ ơn Chúa vì nhận quá nhiều thư từ gởi về, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi vẫn còn có nhiều bạn bè đang nhớ đến tôi…

Tôi gửi bài này để các bạn hiểu rằng:

 “Thiên Chúa luôn đến với con người bằng một quả tim yêu thương, cho dù chúng ta đang ở trong bất cứ tình trạng nào.” 

Cố G.S.Trần Duy Nhiên dịch

  • Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu .(1 TX 5 câu 18)

Thơ thứ nhứt của thánh Phao lô gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca một thành phố lớn và là thủ phủ của  miền  Ma-kê-đô-ni-a .

Sưu tầm

Câu Chuyện Thầy Lang: Muôn Người Hạnh Phúc Chan Hòa

Câu Chuyện Thầy Lang: Muôn Người Hạnh Phúc Chan Hòa

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

bs-nguyen-y-duc

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức.

Hàng năm, cùng với đại lễ Giáng Sinh rồi sửa soạn đón Tết, mừng Xuân thì những lời chúc tụng, những cánh thiệp nhiều màu xinh xinh được gửi cho nhau. Để chúc nhau khang an thịnh vượng và hạnh phúc.

Vâng, ai cũng mong cho nhau được “chan hòa hạnh phúc ”.

Vậy Hạnh Phúc là gì mà mọi người trân quý như vậy?!

Theo Tự Điển Tiếng Việt Nguyễn Như Ý, Hạnh phúc, là “Cuộc sống trong trạng thái sung sướng do đáp ứng được mọi ý nguyện”-.

Còn Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức định nghĩa Hạnh phúc là “Phước lành, điều may mắn cho đời mình”.

Chúng tôi xin cùng quý vị tìm hiểu thêm về ý nghĩa cùa Hạnh Phúc qua các nhận xét của người xưa nay.

Thực ra Hạnh phúc đã được con người chiêm nghiệm, tìm kiếm từ thuở lọt lòng, khi bé thơ lim dim hưởng hơi ấm hạnh phúc nơi ngực mẹ hiền, nuốt những giọt sữa non tinh khiết.

Rồi lớn lên, “Hạnh phúc là cái hướng đeo đuổi của con người”- J.B.H.Lacordaire.

Epicurus cũng nói: “Hạnh phúc là mục đích tối hậu trong đời sống của loài người. Sự yên bình và hợp lẽ phải là nền tảng của hạnh phúc”.

Aristote thêm: “Hạnh phúc là ý nghĩa và mục đích của cuộc đời, là mục tiêu cũng như sự tận cùng của hiện hữu con người”.

Có ý kiến cho rằng hạnh phúc do tiền tài, danh vọng, địa vị và học vấn tạo ra.

De Sivry khuyên nhủ “Nhầm lẫn giầu sang với hạnh phúc là lấy phương tiện làm chuẩn đích. Chẳng khác chi tưởng con dao và cái nĩa làm cho mình biết ăn ngon miệng”.

Nói rằng tiền tài không mua được hạnh phúc, nhưng Spike Miligan lại cho là nó mang cho ta một chút thoải mái khi chẳng may lâm vào cảnh khốn cùng. Nhưng có điều chắc rằng “Hạnh phúc nào mà chẳng phải mua với ít nhiều đau khổ”- Margaret Oliphant.

Cho nên De Tocqueville lại quan niệm rằng “Chấp nhận sự bất hạnh có lẽ còn ít đau khổ hơn là sự mưu cầu hạnh phúc”

Emile De Girardin lại cho là “Có hai thứ hạnh phúc: hạnh phúc trong địa vị và hạnh phúc tình cảm. Một thứ có thể nói là thuộc xã hội, thứ kia thì có tính cách nội tâm”.

John Stuart Mill đi xa hơn: “Tôi học được cách tìm thấy hạnh phúc của mình bằng sự giới hạn những dục vọng hơn là thỏa mãn chúng”.

Và nhớ rằng “Tạo hóa đã an bài hạnh phúc vừa đúng mức cho mọi người. Chỉ cần biết lựa chọn nó mà thôi” Lucrece.

Vì Chân hạnh phúc nằm ở trong ta. Chẳng nên phí thời gian, công sức đi tìm bình an, mãn nguyện, vui thú ở ngoài đời. Cũng nên nhớ rằng không thể có hạnh phúc chỉ bằng tiếp nhận mà ta có hạnh phúc nhiều hơn khi phân phát. Cho nên hãy vươn ra và chia sẻ.

“Hoa hạnh phúc mọc ngay bên cạnh chúng ta, chứ đâu cần phải đi hái ở vườn người”- Douglas Jerrold.

Ngay cả với người bạn đường thân ái thì Jean Pierre Florian có ý kiến:“Hạnh phúc không ở Thiên Đường; Ở ngay bên cạnh tình nương dịu hiền”

Kinh nghiệm của Socrates là “Hãy lấy vợ. Nếu bạn được người vợ hiền thì bạn có hạnh phúc. Chẳng may gặp người xấu thì bạn sẽ thành một triết gia”- Và Socrates là một triết gia.

Nên nhớ “Hạnh phúc rất hay lây lan. Khi ta hưởng ánh sáng hạnh phúc thì người chung quanh cũng tiếp nhận và họ trở nên vui hơn”-Jennifer Leese.

Vì “Hạnh phúc là nước hoa. Ta không thể xức cho người khác mà lại không hưởng được vài giọt cho chính mình”-Ralph Waldo Emerson.

Đức Phật Thích Ca cũng giảng: “Cả trăm ngọn nến có thể đốt lên từ một ngọn nhỏ nhoi, mà ngọn này không sớm tắt. Hạnh phúc chẳng bao giờ giảm bớt khi ta chia sẻ”.

Deni Diderot cho là “Người sung sướng nhất là kẻ đã tạo được hạnh phúc cho nhiều người khác”. Vì có một số người, “chỉ đạt đến mức sung sướng bằng cách trang trọng góp nhặt từng mảnh vụn của hạnh phúc vương vãi đó đây”, như Gustave Droz nhận xét.

Đôi khi một cánh cửa hạnh phúc khép, cánh kia mở. Nhưng ta chỉ chăm chú vào cánh cửa khép mà thôi, cho nên ta thấy bất hạnh.Ta không thể đuổi bắt hạnh phúc vì Hạnh phúc đến không ngờ khi ta giúp đỡ tha nhân.

Cách ngôn cổ Ấn độ có câu: “Hãy giúp thuyền người qua sông thì thuyền của ta cũng cập bến”

Nhưng “Hạnh phúc giống như thủy tinh. Càng rực rỡ bao nhiêu càng mỏng manh bấy nhiêu”-P. Surys.

Và Jeremy Taylor thì cho rằng “Chẳng có sung sướng trên trần gian này mà không mang theo những tai họa thừa trừ của nó; chẳng có hạnh phúc nào lên đến tột đỉnh mà không bổ nhào bởi tai ương”.

Cổ thi Sử Ký Trung Hoa có ghi: “Họa thì phúc nương theo đó, phúc thì họa nằm trong đó. Buồn và vui cùng ở một cửa, may với rủi cùng ở một nơi”.

Thì ra “Phúc không bao giờ đến đôi, họa thì xảy ra từng cặp” Khuất Nghi Cửu.

Nghiên cứu khoa học cho hay những căng thẳng, sầu não làm giảm khả năng miễn dịch, con người dễ suy nhược, bệnh hoạn.

Cho nên nhà y học kiêm triết gia Albert Schweitzer viết “Hạnh phúc không là gì ngoài sức khỏe tốt và trí nhớ xấu”. Phải chăng là để quên mọi khổ đau trần thế?.

George William Curtis quả quyết hơn khi nói: “Trước tất cả mọi sự, hạnh phúc nằm ở trong sức khỏe vậy”.

Bác sĩ chuyên trị đau nhức Paul Kelly tâm sự “Tôi may mắn là có vấn đề đau nhức nên rất thông cảm với những cơn đau của bệnh nhân mà tôi chăm sóc”

Mahatma Gandhi có ý kiến rằng “Hạnh phúc là khi ta nghĩ, ta nói, ta làm ăn nhịp với nhau”.

Harriet Meyerson nói “Hạnh phúc đến từ lúc ta hưởng cái mà ta hiện có. Ta cũng cảm thấy hạnh phúc khi nhận thức được sự khó khăn vì khó khăn giúp ta bồi bổ nghị lực”.

Một anh nọ bực mình vì con gà nhà bên cạnh gáy suốt ngày đêm khiến anh ta không ngủ, không làm việc được. Anh bèn sai gia nhân sang mua con gà về làm thịt. Anh mời bạn hiền tới cùng ăn. Trong khi chờ đợi món gà hấp dẫn, anh ta khoe là cảm thấy bình an hơn vì con gà không còn quấy rầy nữa.

Một lúc sau người nhà mang món ăn lên và cho biết hàng xóm không chịu bán gà nên phải mua ở chợ.

Thì ra con gà vẫn còn sống, vẫn còn gáy mà anh ta cho là gà đã được mua và đã bị làm im tiếng gáy.

Thành ra sự bực bội là do từ nội tâm chứ đâu vì ngoại cảnh. Như Abraham Lincoln đã nói “Chúng ta hạnh phúc vì tâm ta cảm thấy vậy”

Hạnh phúc đến từ những sự việc rất nhỏ: một nụ cười của bé thơ, một cánh thư từ người bạn thiết, tiếng chim hót líu lo trên cành cây, một tia sáng lọt qua khe cửa sổ, một chén cơm, manh áo cho sóng thần nạn nhân…

Tín đồ Thiên Chúa Giáo chắc là đều thuộc làm lòng nội dung “Bài Thuyết Giảng trên Đỉnh Đồi”.

Từ chương V tới chương VII, lời giảng đã nêu ra những phương thức thực tế để ta tìm ra sự hạnh phúc, bình an cho cả thể chất lẫn tâm hồn.

Rằng:

“Với mọi điều mà ta muốn người làm cho ta, thì ta hãy làm cho người”.

Rằng:

“Hãy đừng xét đoán khi không muốn bị phán xét. Vì khi xét đoán người thì người cũng xét đoán ta. Dùng thước nào để đo người thì người cũng dùng thước đó đo ta”.

Với quy tắc này mà Abhraham Lincoln đã có sức mạnh và niềm tin để kiến tạo Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ cũng như giải tỏa được những cảm nghĩ đắng cay.

Không những ta nên tránh lên án mà còn phải tha thứ. Với nhiều người, đây là một lời khuyên khó thực hiện. Nhưng nhiều thầy thuốc, nhiều tâm lý gia đã xác nhận tha thứ là điều cần làm để có một sức khỏe tốt.

“Các ngươi thường nghe nói: hãy yêu láng giềng và ghét kẻ thù. Nhưng ta khuyên các ngươi: Hãy thương yêu kẻ thù, tha thứ kẻ thóa mạ ngươi, làm điều tốt cho kẻ ghét ngươi và hãy cầu nguyện sự lành đến với người đã lợi dụng ngươi”.

Nhiều người có thể nghĩ rằng Lời Giảng khó áp dụng và đòi hỏi quá đáng nơi con người. Nhưng thực ra mỗi người mẹ, người cha đã từng giơ một bên má nhận đắng cay, rồi tha thứ cho con cái để sửa đổi chúng, tha thứ để yêu thương và giúp đỡ chúng. Cũng trong tinh thần thương yêu và hỗ trợ, lời giảng khích lệ ta hãy cố gắng tìm hiểu, cố gắng tha thứ, cố gắng thương yêu mọi người.

Để giúp ta tự chiến thắng, lời giảng cho ta một một khuyên răn rằng Thượng Đế chỉ tha thứ điều sai trái của ta nếu ta tha thứ điều sai trái người khác làm cho ta.

Bà Minh mới dọn đến ở khu gia cư dành cho người tuổi cao. Chỉ sau vài ngày bà đã thấy người hàng xóm tên Lan có những nhận xét không đúng về mình. Bà Minh cố dằn lòng khỏi gõ cửa bà Lan để phân bua đôi điều phải trái.

Mấy ngày sau, bà gặp một người bạn của bà Lan và tự giới thiệu. Đôi bên chuyện trò và bà Minh nhẹ nhàng nói: “Bà Lan cạnh nhà tôi thực là người tốt bụng. Tôi rất may mắn có người hàng xóm như bà Lan”.

Rồi một sáng đẹp trời, bà Lan tới gặp bà Minh. Mà nói: “Tôi thực tâm muốn là người hàng xóm tốt. Có thể tôi đã không tốt như bà nghĩ ”.

Từ đó không còn rỉ tai nói xấu và hai bà trở thành đôi bạn thân thiết. Họ đã tìm được hạnh phúc trong nhau.

Sự tha thứ, giải tỏa khỏi bực tức, hận thù như lời giảng cũng quan trọng cho sức khỏe. Trong những thập niên vừa qua, y giới đã khám phá ra rằng sư lo âu, sợ hãi, giận giữ, oán ghét là những chất độc có thể tiêu hủy thân xác và tâm hồn.

Thực ra, những lo lắng của người bình thường đều tập trung vào vấn đề của việc làm, với người cùng sở, với con cái; rồi nhu cầu được thương yêu, được coi như quan trọng, được là một phần của mọi công việc.

Vậy mà taị sao nhiều người trong chúng ta lại kéo dài cuộc đời trong sự tuyệt vọng thầm lặng! Phải chăng là ta đã rời bỏ một số ý niệm căn bản mà Lời Giảng đã nêu ra trong hành xử giữa người với người.

Và có hay không:

“Hạnh phúc ở đời phải là thứ phần thưởng chế tạo ra để riêng tặng cho những người đơn giản; hầu đền bù cho người ta những chỗ thiệt thòi khác”- Nguyễn Tuân.

Vì:

“Trời không lường trưa sớm nắng mưa,
Người đâu có biết hôm mai họa phúc”- Nguyễn Đình Chiểu.

Thôi thì, hãy cầu mong rằng:

“Mừng Tân Xuân trăm nhà Hạnh Phúc,
Cả nhơn sanh đồng nhìn nhận chung Cha,
Cả trần sinh là một ngôi nhà,
Vòng tay rộng, vạn dân tô điểm tốt.
Tân Xuân này, tình thương lên cao tột,
Tận Cung Diêu, Bạch Ngọc, Niết Bàn
Tình Thương len vào cõi Thiên Đàng
Đấng Christ hân hoan giáng thế” – Cao Quỳnh Tuệ Lâm.

Bác sĩ Nguyễn Ý-ĐỨC

Texas-Hoa Kỳ

Chỉ 20 phút, mắt phải cậu bé 8 tuổi bị ‘ăn mòn’. Thứ này hầu như nhà nào cũng có, cần cảnh giác

Chỉ 20 phút, mắt phải cậu bé 8 tuổi bị ‘ăn mòn’. Thứ này hầu như nhà nào cũng có, cần cảnh giác

mat-bi-an-mon

Con trai tôi năm nay 8 tuổi và đang học lớp 2. Một hôm đón cháu đi học về, tôi cảm thấy rất vui vì con trai được điểm tốt. Do đó, khi đi qua siêu thị, tôi đã mua một túi lớn đồ ăn nhẹ cho như là phần thưởng dành cho con. 

Khi về đến nhà, con trai ngồi trên ghế sofa ăn nhẹ và xem phim hoạt hình, tôi thì bận rộn vào bếp nấu nướng cho bữa tối. Khoảng 15 phút sau đó, tôi nghe thấy tiếng hét thất thanh từ ngoài phòng khách, liền vội chạy ra và trước mắt là cảnh tượng choáng váng. Tôi thấy cháu đang lấy một tay ôm mắt lăn trên mặt đất, một chiếc chai méo mó và sàn nhà vương vãi nước…

Không có thời gian để tìm hiểu nguyên nhân, tôi ngay lập tức xuống cầu thang, vẫy một xe taxi tới bệnh viện gần nhất, mất chừng 20 phút hoặc hơn.

Nhưng tôi không thể tưởng tượng rằng chỉ trong vòng 20 phút, một mắt của con trai tôi đã bị hỏng vĩnh viễn.

Sau khi kiểm tra, bác sỹ nói mắt phải của cháu bị tác động của chất lỏng có tính kiềm ăn mòn, con mắt bị hoại tử, giác mạc bị thủng, dẫn đến bị mù vĩnh viễn. Các y bác sỹ đều bó tay.

Lời nói của bác sỹ như tiếng sét ngang tai. Nhìn thấy tình trạng thảm thương của con trai, tôi ngồi thụp xuống đất và khóc…

Bác sỹ hỏi cháu rằng tại sao lại dẫn đến chuyện như vậy, cháu liền kể lại sự việc. Khi ăn bánh xong, cháu phát hiện trong túi có một gói nhỏ. Cháu không biết đây là cái gì nên tò mò lấy ra để nghịch chơi. Cháu cầm nó, đưa lên mũi ngửi ngửi. Sau đó, cháu hòa nó vào cốc nước, không ngờ chiếc cốc phát nổ, bắn mạnh ra xung quanh và bắn cả vào mắt của cháu. Cháu cảm nhận có vật gì đó bay vào mắt, sau đó đau đớn và mắt không nhìn được.

Bây giờ thì chúng ta đã biết nguyên nhân tại sao. Cái gói nhỏ mà con trai tôi nói đến chính là gói hút ẩm.

goi-hut-am

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Là một người mẹ, tôi vô cùng đau đớn và hối hận vì sự sơ suất của mình. Trước đây tôi chỉ biết gói hút ẩm không thể ăn, chứ không nghĩ rằng nó lại gây ra tác hại thật nghiêm trọng.

Tại sao gói hút ẩm lại nguy hiểm đến vậy?

Những gói hút ẩm mà chúng ta thường thấy được làm từ silica gel hoặc vôi bột. Silica gel tuy không hút ẩm tốt bằng vôi bột, nhưng an toàn hơn.

goi-ht-am-2

 

 

 

 

 

 

Vôi bột giá thành rẻ nhưng có tính nguy hiểm cao. Gói hút ẩm làm từ vôi bột được dùng nhiều trong quá khứ, hiện tại thì hiếm thấy.

Trên thực tế, khi tiếp xúc với nước, không phải các chất làm khô nào trong gói hút ẩm cũng đều phát nổ. Nhưng chúng sẽ có phản ứng hóa học, tỏa nhiệt lớn và có tính ăn mòn rất cao. Nếu không may để chất này tiếp xúc trực tiếp với da, mắt sẽ để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Nếu chẳng may nuốt phải hạt hút ẩm sẽ gây bỏng khoang miệng, loét họng,…

Vậy nên, để an toàn nhất cho trẻ nhỏ, các bậc cha mẹ nên kiểm tra và vứt bỏ gói hút ẩm sau khi mua bánh kẹo thực phẩm.

Hướng Dương biên dịch

Thương binh cụt 2 chân trở thành Thuong nghi si Hoa Kỳ

Thương binh cụt 2 chân trở thành Thuong nghi si Hoa Kỳ

                     Thương binh người Mỹ 36 tuổi phấn đấu học trường

                    Harvard và trở thành Nghị sỹ bang Florida

nghi-sy-brian-mast

Brian Mast, một cựu chiến binh bị mất hai chân ở Afganishtan, đã trở thành Nghị sỹ Mỹ. (Ảnh: Getty Images)

Tấm gương phấn đấu của Brian Mast, một cựu chiến binh 36 tuổi đã tốt nghiệp trường Harvard sau khi bị mất đôi chân tại chiến trường Afganishtan. Anh mới trở thành Nghị sỹ sau khi giành chiến thắng ở bang Florida.

Tuần trước, Brian Mast đã chiến thắng ở bang Florida để trở thành nghị sỹ Mỹ. Đặc biệt, nghị sỹ Brian là một cựu chiến binh bị mất cả hai chân trong cuộc chiến ở Afganishtan.

Cuộc đời của anh đã thay đổi vào tháng 9/2010 khi đang là chuyên gia phá bom trong Lực lượng đặc nhiệm Mỹ ở Afghnistan. Lúc đi qua một cây cầu để kiểm tra nghi vấn, một quả bom bên lề đường đã phát nổ khiến anh bị thương nặng.

brian-2

Brian bị mất hai chân và một phần của tay trái. Cuộc đời binh nghiệp của anh chấm dứt từ đó.

Brian nói: “Tôi là một người lính. Tôi xác định là phục vụ đất nước. Nhưng khi bị thương, tôi đã mất phương hướng”, theo Daily Mail.

Thay vì chìm trong đau khổ, Brian đã quyết định xem thương tật như là một chương mới trong cuộc đời của mình. Brian tâm sự: “Lúc đó tôi nghĩ, tôi phải tìm điều gì đó để làm trong cuộc đời còn lại”.

Brian quyết tâm không để khuyết tật ngăn cản cuộc sống

Nằm trên giường bệnh, xung quanh là vợ con, anh đã tự hứa với mình phải làm được điều phi thường. Nếu không thể tiếp tục phục vụ quân đội, anh sẽ phục vụ đất nước theo cách khác – tranh cử Nghị viện.

Brian nói: Tôi sẽ không để những kiến thức của tôi trở thành quá khứ. Tôi quyết định bước vào một trận đấu mới. Tôi biết tôi sẽ có mặt ở thủ đô Washington vào ngày nào đó”.

Sau nhiều tháng phục hồi khó khăn, anh đã học cách đi lại bằng chân giả. Chỉ 2 tháng sau vụ nổ, Brian đã có thể đi lại cùng gia đình.

Cuối cùng vào tháng 2/2012, anh đến Trung tâm Y khoa Quân đội và bắt đầu làm việc ở Phòng An ninh Nội địa.

Nhưng lúc đó anh đối mặt với thách thức khác.

Sau khi tốt nghiệp phổ thông, anh đã gia nhập quân ngũ theo bước chân người cha. Nhưng để thực hiện giấc mơ vào Nghị viện, anh cần có bằng đại học.

Như thường lệ, Brian đặt mục tiêu cao nhất cho bản thân mình, vào học trường Harvard.

Năm 2013, anh đăng ký một khóa học online về kinh tế học. Đến đầu năm nay, anh đã tốt nghiệp với bằng kinh tế của Harvard. Lúc đó anh cảm thấy sẵn sàng tham gia chính trị.

Và cũng chưa bao giờ chọn một trận đấu dễ dàng, anh đã quyết định tranh cử ở bang Florida với 11 ứng cử viên khác.

Một trận đấu không dễ dàng, bởi vì anh là cựu chiến binh khuyết tật.

Anh đã gặp phải những câu hỏi khó như: “Tại sao anh luôn mặc quần lửng, có phải để mọi người biết về khuyết tật của anh?”. Brian nói lý do thực sự đơn giản hơn nhiều, vì chân giả của anh không thể mặc vào những chiếc quần dài.

nghi-sy-brian-3

Brian nói với hãng tin CBS12: “Bạn phải chạy đến đích. Bạn phải chiến đấu như thể là ngày cuối cùng của cuộc đời”

Ngày 8/11, Brian đứng cùng vợ con để đợi công bố kết quả bầu cử. Và anh đã đánh bại ứng cử viên đảng Dân chủ Randy Perkins để trở thành Nghị sỹ tiếp theo của bang Florida.

Brian nói trên trang web tranh cử: “Tôi tin vào trái tim mình, rằng khó khăn mà chúng ta đối mặt không quan trọng bằng cách mà chúng ta ứng xử với khó khăn đó”.

“Chúng ta sẽ không thu mình trong góc phòng và từ bỏ khi cuộc sống gặp khó khăn”

“Chúng ta làm chủ thách thức của mình. Chúng ta sử dụng những thách thức đó như công cụ để làm chúng ta trở lên mạnh mẽ nhất có thể. Tôi tin rằng đó là trạng thái chúng ta cần phấn đấu”

“Tại Quốc hội, tôi sẽ phục vụ người dân như tôi đã làm trên chiến trường, bất kể bản thân được gì hay mất gì”.

Hiện nay tại Hạ viện và Thượng viện Mỹ có khoảng 20% nghị sỹ đã từng phục vụ trong quân đội.

Dương Minh

Ôn cố tri tân – Năm 2016 – Một số biến cố, sự kiện quan trọng.

From facebook:  Phan Thị Hồng with Hoang Le Thanh.
Ôn cố tri tân – Năm 2016 – Một số biến cố, sự kiện quan trọng.

Một số biến cố, sự kiện quan trọng xãy ra trong năm 2016 đã gây xao động trong cộng đồng mạng do bạn Cao Đắc Tuấn (Dân Làm Báo) chọn và trình bày theo thứ tự thời gian.

Bạn Cao Đắc Tuấn đã cố gắng giữ khách quan khi chọn lựa các biến cố này, tính chất khách quan (có thể) không hoàn hảo và chắc chắn có những sai lầm hoặc thiếu sót.

Quan trọng nhất là thảm họa môi trường và sự đểu cáng của nhà cầm quyền trong việc bồi thường nạn nhân và bao che cho Formosa.

Thứ nhì là cuộc nổi dậy của dân Hà Tĩnh biểu tình chống đối Formosa, nói lên tinh thần bất khuất của dân Việt Nam.

Thứ ba là kết quả cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ với việc thắng cử bất ngờ của Donald Trump.

(Trình bày theo thứ tự thời gian).

27-1-2016: Bầu cử ban chấp hành trung ương.

30-3-2016: Blogger Nguyễn Ngọc Già bị kết án 4 năm tù giam.

28-4-2016: Bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” của cô giáo Trần Thị Lam.

23-5-2016: Cuộc thăm viếng Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, và cảnh tượng Nguyễn Thị Kim Ngân cho cá ăn.

31-5-2016: Nguyễn Xuân Phúc phát âm “Made in Vietnam” là “Ma dzê in Việt Nam.”

14-6-2016: Máy bay SU-30MK2 mất tích và máy bay CASA 212 gặp tai nạn.

29-6-2016: Thảm họa cá chết tại miền Trung và Formosa nhận lỗi.

8-8-2016: Nguyễn Xuân Phúc đại náo phố cổ Hội An.

12-9-2016: Xác người gói chiếu.

2-10-2016: Hà Tĩnh nổi dậy.

10-10-2016: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bị bắt.

9-11-2016: Cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ và kết quả Donald Trump đắc cử.

12-11-2016: Nữ giáo viên Hà Tĩnh bị ép đi tiếp đãi quan khách.

25-11-2016: Cái chết của Fidel Castro.

30-11-2016: Tin đồn đổi tiền.

Trong những biến cố sự kiện trên, có vài sự kiện khá quan trọng:
– Thảm họa môi trường do Formosa gây ra,
– Cuộc nổi dậy của dân Hà Tĩnh biểu tình chống đối Formosa.
– Cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ với việc thắng cử bất ngờ của Donald Trump.

Theo: Cao Đắc Tuấn (Dân Làm Báo).

Ảnh: Hà Tĩnh nổi dậy. Giáo sư Ngô Bảo Châu Chau Ngo chọn tấm ảnh cuộc biểu tình của nhân dân Hà Tĩnh ngày 2-10-2016 – Hà Tĩnh nổi dậy là: “Bức ảnh của năm 2016”.

Giáo sư chỉ mới đăng 3 tiếng đồng hồ mà đã có hơn 33.000 người Like (và tăng không ngớt) và gần 2.000 lượt chia sẻ.

Image may contain: one or more people, crowd and outdoor

Sự sụp đổ của các nước Cộng Sản Đông Âu

 Sự sụp đổ của các nước Cộng Sản Đông Âu

sup-do-dong-au

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phạm Văn Tuấn

Những sự kiện này bắt đầu từ Ba Lan vào năm 1989, và tiếp tục ở Hungary, Đông Đức, Bungary, Tiệp Khắc và România.

Romania là nước Đông Âu duy nhất lật đổ chế độ Cộng sản của mình bằng bạo lực

Nổi tiếng nhất là sự sụp đổ của Bức tường Berlin, biểu tượng của việc thống nhất nước Đức vào năm 1990.

Việc Liên Xô bị giải thể vào cuối năm 1991 dẫn đến kết quả là Nga và 14 quốc gia tuyên bố độc lập của khỏi Liên Xô

1- Ba Lan 

Ba Lan là một lãnh thổ bằng phẳng nằm tại miền trung của châu Âu, rộng bằng nước Mễ Tây Cơ và có dân số là 37 triệu người. Từ 1,000 năm về trước và qua thời Trung Cổ, Ba Lan đã là một vương quốc quan trọng cho tới cuối thế kỷ 18, xứ sở này đã bị xóa tên trên bản đồ, bị chia ba giữa ba cường quốc là Nga, Áo và Phổ. Nhưng rồi người dân Ba Lan đã vùng lên, giành độc lập vào năm 1918.

Vào tháng 9-1939, đất nước Ba Lan lại bị dẫm nát bởi quân đội nước ngoài: quân đội Quốc Xã Đức tiến vào từ hướng tây và quân đội Xô Viết từ hướng đông. Ba Lan đã là bãi chiến trường, là địa điểm của rất nhiều trại tập trung mà xấu xa nhất là trại Auschwitz, chuyên việc tận diệt các kẻ chống đối, các tù binh, các người Do Thái.

Sau Thế Chiến Thứ Hai, Ba Lan đã lấy lại được phần đất đã mất trước kia do Quốc Xã Đức chiếm, nhưng từ năm 1948, các người cộng sản đã nắm được chính quyền, tạo nên một thể chế cộng sản theo kiểu mẫu Liên Xô. Tới năm 1956, không lâu sau khi ông Nikita Khrushchev tố cáo các tội ác khủng khiếp của Stalin, do tinh thần quốc gia tiềm ẩn, do lòng bất khuất và do nỗi bất mãn về kinh tế, người dân Ba Lan đã nổi dậy tại tỉnh Poznan. Các bạo loạn trong xứ đã làm cho Bộ Chính Trị phải thay đổi và ông Wladyslaw Gomulka được đưa ra lãnh đạo Đảng. Ông Gomulka liền bỏ chương trình tập thể hóa các nông trại, cho nới lỏng một số luật lệ và cải thiện liên lạc với Nhà Thờ Công Giáo. Nhưng trong cuộc nổi dậy của các công nhân tại Gdansk vào tháng 12-1970, các công nhân này đã bị đàn áp một cách tàn nhẫn, ít nhất có 44 người bị giết. Ông Gomulka sau đó bị thay thế bởi ông Edward Gierek, một người tìm cách hòa hoãn với khối tây phương. Nhưng tình trạng kinh tế tuột dốc đã gây nên nhiều làn sóng phản đối mới vào năm 1976.

Năm 1978, người dân Ba Lan lại vui mừng vì vị Tổng Giám Mục miền Cracow trở nên Đức Giáo Hoàng John Paul II. Sự kiện này đã đóng một vai trò gián tiếp trong việc khai tử chế độ Cộng Sản tại Đông Âu bởi vì trong các năm dài sống dưới chế độ cộng sản, người dân Ba Lan vẫn duy trì niềm tin Công Giáo Catholic, họ lấy lại can đảm để đương đầu với các kẻ cầm quyền độc ác.

Ngày 14 tháng 8 năm 1980, Công Đoàn Đoàn Kết (Solidarity Trade Union) ra đời và ông Lech Walesa, một người thợ điện, là lãnh tụ của phong trào đòi Dân Chủ cho đất nước Ba Lan. Hoạt động của Công Đoàn kể trên đã chấm dứt sự nghiệp chính trị của ông Edward Gierek và ông Wojciech Jaruzelski thay thế. 15 tháng phát triển của Công Đoàn Đoàn Kết cũng là “điềm báo tử” cho chế độ Cộng Sản tại Ba Lan. Với số đoàn viên lên tới 10 triệu, Công Đoàn Đoàn Kết đã là một tổ chức có thực lực để đòi hỏi các cuộc bầu cử tự do và một chính quyền hợp pháp không cộng sản. Vào ngày 13-12-1981, dưới áp lực của Liên Xô lúc đó do ông Leonid Brezhnev lãnh đạo, Tướng Jaruzelski phải công bố tình trạng quân luật, giải tán Công Đoàn Đoàn Kết, bắt giam các lãnh tụ và các người hoạt động cho Công Đoàn, ra lệnh hủy bỏ mọi hình thức cởi mở mới được ban hành, tuy nhiên những mệnh lệnh này chưa thực sự tiêu diệt được Công Đoàn Đoàn Kết.

Khi ông Mikhail S. Gorbachev lên nắm quyền tại Liên Xô, khi các áp lực Xô Viết tại Ba Lan giảm đi, Công Đoàn Đoàn Kết đã lấy lại được khí thế cũ. Mùa xuân năm 1989, Công Đoàn đã được chính thức công nhận và đã thắng gần hết các ghế đại biểu trong các cuộc bầu cử.

Tháng 8-1989, Ba Lan là nước đầu tiên có một thủ tướng không cộng sản kể từ năm 1948, đó là ông Tadeusz Mazowiecki, một nhà trí thức Catholic và cũng là một người bạn thân của ông Lech Walesa. Chính phủ mới này tập trung vào việc cải tổ kinh tế nên đã đưa ra nhiều biện pháp khắc khổ để khắc phục nạn lạm phát và đưa đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường. Tới mùa hè năm 1990, sau khi các người cộng sản bị gạt sang một bên rồi, nội bộ của Công Đoàn Đoàn Kết lại bị tách ra làm hai: phe khuynh hữu với ông Lech Walesa và phe khuynh tả với ông Mazowiecki nhưng cuối cùng ông Lech Walesa đã thắng trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 1990.

Vào tháng 10 năm 1991 là cuộc bầu cử Quốc Hội tự do đầu tiên nhưng trong các năm sau, nước Ba Lan đã có rất nhiều đảng phái, có 5 thủ tướng, gặp nạn lạm phát và cảnh thất nghiệp cao, hàng ngàn nông trại trên bờ phá sản.

2- Đông Đức

Nước Đức là quốc gia giàu có và đông dân nhất châu Âu, hiện nay gồm 77.5 triệu người. Nước Đức có lịch sử chính trị từ thời Vua Charlemagne, giống như nước Pháp, nhưng các lãnh địa đã bị chia rẽ và chỉ hợp lại thành một quốc gia thống nhất vào năm 1871. Sau đó Thủ Tướng Otto Bismark và các nhà lãnh đạo khác đã cố công theo đuổi các chính sách bành trướng lãnh thổ, dẫn tới Thế Chiến Thứ Nhất vào năm 1914. Sau khi thất trận, nước Đức lại cố gắng vươn lên rồi dân tộc Đức vì bị thất vọng về kinh tế suy kém, đã trông nhờ vào nhà độc tài Adolf Hitler.

Vào năm 1945, nước Đức Quốc Xã thất trận nên lãnh thổ Đức bị phân chia thành bốn khu vực chiếm đóng bởi Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Liên Xô. Ba khu vực phia tây được phối hợp lại năm 1949 thành nước Cộng Hòa Liên Bang Đức hay nước Tây Đức rồi không lâu sau đó, Liên Xô cũng tạo nên nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức (the German Democratic Republic) hay còn gọi là nước Đông Đức.

Trong nửa thời gian đầu, Đông Đức ở dưới quyền cai trị cứng dắn của ông Walter Ulbricht, với đường lối thù nghịch Tây Đức và cao điểm của sự đối đầu là việc xây dựng nên Bức Tường Bá Linh. Vào nửa giai đoạn sau dưới quyền của ông Erich Honecker, Đông Đức đã dịu bớt sự căng thẳng vì chính sách hòa hoãn “Ostpolitik” giữa hai miền nước Đức của ông Willy Brandt.

Giống như nước Đức bị chia cắt vào năm 1949, thành phố Bá Linh cũng bị phân chia và một khu vực của thành phố này thuộc về Đông Đức. Tuy nhiên, đường ranh giữa hai khu vực Đông và Tây Bá Linh vẫn là khe hở của Tấm Màn Sắt và các người sống dưới chế độ cộng sản Đông Đức thường trốn qua Tây Đức bằng khe hở này. Ngày 13 tháng 8 năm 1961, để chặn đứng những người vượt biên, chính quyền Đông Đức đã cho dựng nên Bức Tường ngăn cách Đông và Tây thành phố Bá Linh. Tại bức tường cao xây bằng bê-tông trên có hàng rào kẽm gai này, binh lính Đông Đức được lệnh bắn bỏ những người tìm cách leo qua tường, tìm tự do. Theo ước lượng vào năm 1992, đã có hơn 200 người dân Đông Đức bị bắn chết.

Tại Đông Đức về kinh tế, người dân giàu có hơn tất cả các dân tộc theo xã hội chủ nghĩa khác, nhưng họ vẫn bất mãn khi so sánh với mức sống của người dân anh em Tây Đức, bất mãn khi không được phép đi ra nước ngoài. Vào mùa hè năm 1989, hàng ngàn người Đông Đức đã vượt sang nước Hungari và tràn vào các tòa đại sứ của Tây Đức tại hai thành phố Prague và Warsaw. Hàng triệu người trên thế giới đã chứng kiến cảnh tượng này trên màn ảnh vô tuyến truyền hình: đây là cảnh “bỏ phiếu bằng chân” của những người sống trong chế độ cộng sản! Tới tháng 9-1989, số người biểu tình tại các thành phố của Đông Đức đã gia tăng rất cao, họ hát câu “chúng tôi muốn ở lại” và đòi hỏi chính quyền cộng sản phải thay đổi đường lối cai trị. Ông Erich Honecker vì thế phải từ chức, thay thế bằng ông Egon Krenz và các nhà lãnh đạo Đông Đức phải ra lệnh mở Bức Tường Bá Linh. Trong vài ngày, hàng triệu người dân Đông Đức đã vượt qua khu Tây Bá Linh. Một câu chuyện vui kể lại rằng khi ông Erich Honecker tỉnh dậy, thấy khu Đông Bá Linh không còn bóng người nhưng vẫn còn thắp đèn sáng, ông bèn tới Bức Tường Bá Linh và thấy một mẩu giấy ghi rõ câu : “ai đi sau cùng nhớ tắt đèn”.

Kể từ khi ông Egon Krenz quản trị Đông Đức, xứ sở này trong nhiều tháng vẫn chìm vào trong các rối loạn chính trị. Tháng 3 năm 1990, đã có các cuộc bầu cử tự do đầu tiên và Công Đoàn Dân Chủ Thiên Chúa Giáo (the Christian Democratic Union), một đảng phái mới được thành lập của những người Dân Chủ Thiên Chúa Giáo Tây Đức, đã chiếm được 41% số phiếu. Trong khi đó tại Tây Đức, Thủ Tướng Helmut Kohl không ngừng theo đuổi chương trình thống nhất nước Đức vì vậy vào tháng 3-1990, tại thành phố Bonn đã diễn ra các cuộc thảo luận “Hai cộng Bốn”, gồm 2 nước Đông và Tây Đức với 4 nước chiến thắng trong Thế Chiến Thứ Hai là Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Liên Xô rồi vào ngày 12-9-1990, cả 6 nước kể trên đã ký tên vào “Hiệp Ước ổn định cuối cùng đối với nước Đức” (the Final Settlement with Respect to Germany) và sự kiện này chính thức chấm dứt Thế Chiến Thứ Hai.

Hiệp ước Ổn Định kể trên đã mở đường cho việc thống nhất nước Đức, và bắt đầu từ nửa đêm ngày 2-10-1990, nước Đông Đức không còn hiện hữu nữa mà trở thành 5 tiểu bang mới của Cộng Hòa Liên Bang Đức.

Kể từ ngày thành lập 7-10-1949, xứ sở cộng sản Đông Đức với dân số 16 triệu người và diện tích bằng tiểu bang Tennessee, với tên gọi là Cộng Hòa Dân Chủ Đức, đã cáo chung sau khi tồn tại được 40 năm và 360 ngày!

3- Tiệp Khắc

Tiệp Khắc là quốc gia nằm giữa châu Âu, gồm ba xứ hợp lại là Bohemia, Moravia và Slovakia. Từ nhiều thế kỷ, Tiệp Khắc vẫn theo đuổi nền dân chủ cho tới khi bị Đức Quốc Xã tấn công vào năm 1938. Sau khi nước Đức bị thua trận, một chính quyền Cộng sản theo Stalin được thiết lập tại Tiệp Khắc từ tháng 2-1948 tới đầu thập niên 1960. Vào lúc này và do nền kinh tế suy sụp, các người cầm quyền cộng sản đã tìm cách cải tổ kinh tế và nới lỏng các kiểm soát chính trị. Tiến trình cải cách đã đi tới cao điểm gọi là “Mùa Xuân Praha” (the Prague Spring) của năm 1968 do nhân vật cộng sản cải cách lãnh đạo tên là Alexander Dubcek.

Ông Alexander Dubcek (1921-92) chào đời vài tháng sau khi cha mẹ của ông từ thành phố Chicago, Hoa Kỳ, trở về xứ Slovakia. Ông Dubcek đã trải qua tuổi trẻ tại Liên Xô. Đầu năm 1968, ông Dubcek công bố một chương trình cải tiến gọi là “Xã Hội Chủ Nghĩa với bộ mặt con người” (Socialism with a human face). Trong thời gian 8 tháng dễ thở này, từ tháng 1 tới ngày 20-8-1968, ông Dubcek là hình ảnh của hy vọng cho người dân Tiệp Khắc. Liên Xô, dưới quyền lãnh đạo của ông Leonid Brezhnev, coi các cải tiến tại Tiệp Khắc là “quá nguy hiểm” cho thể chế cộng sản, nên đã đàn áp phong trào “Mùa Xuân Praha” bằng 500,000 quân thuộc Minh Ước Warsaw (the Warsaw Pact).

Warsaw là liên minh quân sự được thành lập năm 1955 để đối đầu với khối Nato. Các thành phần ban đầu của Minh Ước Warsaw gồm 8 nước: Tiệp Khắc, Đông Đức, Ba Lan, Hungari, Romania, Bulgaria, Albania và Liên Xô. Hành động quân sự duy nhất của liên minh này là cuộc xâm lăng Tiệp Khắc vào tháng 8-1968 trong đó Romania không tham gia. Vào đầu thập niên 1960, nước Albania không tham dự vào liên minh Warsaw rồi chính thức rút lui vào năm 1968. Minh Ước Warsaw bị giải thể vào tháng 7-1991.

Năm 1987, khi bị hỏi về sự khác biệt giữa “Mùa Xuân Praha” của ông Dubcek và các chương trình “Glasnost” và “Perestroika” của ông Gorbachev, người phát ngôn thuộc Bộ Ngoại Giao Liên Xô đã trả lời rằng: “19 năm”!

Sau khi ông Alexander Dubcek bị bắt về giam tại Liên Xô và phong trào “Mùa Xuân Praha” bị dẹp tan, một nhân vật cộng sản cứng dắn mới lên nắm quyền tại Tiệp Khắc, đó là ông Gustav Husak. Từ nay, tất cả những người có khuynh hướng cải tiến đều bị thanh trừng, hầu như mọi người dân Tiệp Khắc đều thu mình lại để được an toàn, thế nhưng vẫn còn một số ít người rất can đảm, cả nam lẫn nữ, đã tập hợp lại một cách lỏng lẻo để tạo nên một nhóm chống đối các kẻ đàn áp: “Nhóm Hiến Chương 77” (The Charter 77).

Vào khoảng đầu tháng 1 năm 1977, một nhóm 242 người bất đồng chính kiến gốc Tiệp và Slovak, đã họp lại và ký tên vào một bản Tuyên Ngôn (manifesto) qua đó họ liệt kê các đòi hỏi căn bản về Nhân Quyền (basic human rights). Mặc dù đã được viết bằng những từ ngữ thận trọng, bản Hiến Chương 77 đã gây nên các hành động giận dữ của chính quyền Cộng Sản Tiệp Khắc: các người ký tên trong đó có ông Vaclav Havel, đều bị bắt, bị lưu đầy, bị xách nhiễu nhưng những nhân vật anh hùng này đã là hạt nhân cho phong trào phản kháng 12 năm về sau tại Tiệp Khắc.

20 năm sau ngày quân đội của Hiệp Ước Warsaw xâm lăng Tiệp Khắc, đã có vào khoảng 20,000 người biểu tình đòi dân chủ, chống lại chế độ Cộng Sản vào ngày 21-8-1988 trước sự ngỡ ngàng của công an và đảng cộng sản cầm quyền. Đây là cuộc phản đối lớn nhất kể từ năm 1969 và cảnh sát đã phải dùng hơi cay để giải tán, 400 người bị bắt.

Tại thành phố Prague, cuộc biểu tình phản đối đã diễn ra từ ngày 15 tới ngày 20-1-1989 và cảnh sát cộng sản đã phải dùng dùi cui, hơi cay, vòi nước và chó dữ để dẹp biểu tình. Trong số người bị bắt lại có ông Vaclav Havel. Ngày 21-2, ông Havel bị tuyên án 8 tháng tù vì có hành vi “chống nhà nước và xã hội chủ nghĩa”. Nhiều người bất đồng chính kiến khác cũng bị tuyên án tương tự. Rồi 2,000 thanh niên đã tham gia biểu tình đòi dân chủ vào ngày 1-5-89, họ cũng bị đàn áp. Tới ngày 17-5-89, ông Havel được thả khỏi nhà tù vì đã “học tập tốt” theo lời của chính quyền cộng sản, nhưng thực ra là do sự chỉ trích của khối Tây Phương. Rồi 35,000 người bất đồng chính kiến, phản đối chế độ Cộng Sản, đòi hỏi Dân Chủ, đã ký tên vào một thỉnh nguyện thư yêu cầu phải “thay đổi tận gốc không khí xã hội và chính trị”.

Các biểu tình phản kháng vẫn tiếp tục diễn ra tại Prague vào các ngày 28-8, 17-11, 20-11, 27-11-1989 rồi tới ngày 29-11, chính quyền cộng sản phải công nhận hủy bỏ vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản. Ngày 10-12-1989, một chính quyền liên bang mới được thành lập và chủ tịch Husak từ chức. Ông Alexander Dubcek được bầu làm chủ tịch của Quốc Hội Liên Bang ngày 28-12 rồi ngày hôm sau, ông Vaclav Havel được bầu làm Tổng Thống của nước cộng hòa.

Ông Havel đã thăm viếng Moscow vào hai ngày 26, 27-2-1990 và ký với ông Gorbachev một thỏa ước theo đó 73,500 quân Xô Viết phải rút khỏi Tiệp Khắc vào tháng 7 năm 1991. Nước Tiệp Khắc vào giai đoạn này đã gặp rất nhiều vấn đề khó giải quyết, chẳng hạn làm sao loại bỏ “giới cầm quyền cũ Nomenclatura” (nhóm cựu đảng viên C.S.)  ra khỏi các chức vụ cao, làm sao tháo gỡ được hệ thống kinh tế chỉ huy phức tạp và nặng nề và làm sao giải quyết êm đẹp các căng thẳng quốc gia với xứ Slovakia, rồi cuối cùng, nước Tiệp Khắc bị chia làm hai xứ riêng rẽ vào tháng 1-1993: đó là hai nước cộng hòa Tiệp (Czech) và Slovak

4 . Hungari

Hungari là một quốc gia tại miền trung của châu Âu với diện tích nhỏ hơn tiểu bang Indiana và dân số 10 triệu người. Người Hungari có nguồn gốc từ bộ lạc du mục thiện chiến Magyar, từ châu Á tới châu Âu vào thế kỷ thứ 9 để rồi lập nên một vương quốc quan trọng. Khi đế quốc Áo-Hung bành trướng vào thế kỷ 19, Hungari là một miền đất tự trị, phát triển cho tới cuối Thế Chiến thứ nhất, khi đó hai phần ba diện tích bị cắt xén thành nước Tiệp Khắc, một phần của Nam Tư và một phần của Romania. Ngày nay, những người dân gốc Hungari vẫn còn sinh sống tại các quốc gia kể trên và đông đảo nhất tại vùng Transylvania thuộc nước Romania.

Vào thập niên 1930, nhà độc tài Adolf Hitler đã hứa sẽ trả lại các miền đất mà Hungari bị mất vì Hiệp Ước Trianon, cho nên vào năm 1941, Hungari đã giúp Hitler tấn công Nam Tư và tham gia vào khối Trục. Tới năm 1943, Hitler không coi Hungari là một nước đồng minh, đã chiếm đóng nước này vào tháng 3-1944 rồi sau đó, nửa triệu người Do Thái sinh sống tại Hungari đã bị chở tới các trại tập trung đặt trên nước Đức và bị giết trong các phòng hơi ngạt.

Sau khi Đức Quốc Xã thua trận, các người cộng sản Hungari đã chiếm chính quyền với sự giúp đỡ của quân đội Liên Xô. Ông Mathias Rakosi là lãnh tụ đảng Cộng Sản và cũng là người đứng đầu chính quyền Hungari, đã cai trị xứ sở này như một nhà độc tài. Chính sách cai trị khắc nghiệt của ông Rakosi đã khiến cho nền kinh tế Hungari đi dần tới chỗ kiệt quệ và dân chúng đều bất mãn.

Năm 1953, ông Imre Nagy làm Thủ Tướng, Rakosi làm chủ tịch đảng Cộng Sản. Ông Nagy đã nới lỏng các kiểm soát, cho dân chúng Hungari đôi phần tự do hơn để cải thiện đời sống nhưng các cải tiến này đã bị ông Rakosi và các đảng viên cộng sản khác chống đối. Ông Nagy bị loại khỏi chính quyền và bị khai trừ khỏi đảng vào năm 1955. Các chính sách khắc nghiệt của ông Rakosi một lần nữa lại được áp đặt lên xứ sở Hungari khiến cho các thanh niên, các nhà văn… đều phản đối, nhất là về phạm vi nhân quyền và tự do tư tưởng, vì thế ông Rakosi bị loại khỏi chức vụ chủ tịch đảng Cộng Sản vào giữa năm 1956 nhưng các chính sách khắc nghiệt vẫn còn được duy trì khiến cho đã xẩy ra một cuộc nổi dậy, chống đối, tại thành phố Budapest.

Cuộc cách mạng này đã lan ra khắp nước Hungari. Nhân dịp này nhiều tù nhân chính trị đã được trả tự do trong đó có cha Joseph Cardinal Mindszenty là người đứng đầu nhà thờ công giáo Catholic tại Hungari, đã bị giam cầm từ năm 1949. Cuộc nổi dậy của người dân Hungari đã khiến cho ông Imre Nagy lại trở nên Thủ Tướng và ông Nagy đã tuyên bố Hungari là một quốc gia trung lập, nhưng chính quyền này chỉ tồn tại được vài ngày, vì vào tháng 11 năm đó, quân đội Liên Xô đã tràn vào nước Hungari, đàn áp cuộc cách mạng. Số người bị giết trong cuộc tàn sát này từ 6,500 tới 32,000 người. Khoảng 250 người tích cực trong cuộc cách mạng kể trên, kể cả ông Imre Nagy, đã bị Liên Xô hành quyết vào năm 1958. 200,000 người Hungari đã bỏ xứ, chạy trốn.

Sau cuộc Cách Mạng năm 1956, Liên Xô đã kiểm soát chặt chẽ xứ Hungari và ông Janos Kadar là lãnh tụ đảng Cộng Sản mới, lãnh chức Thủ Tướng từ năm 1956 tới 1958 rồi từ năm 1961 tới 1965. Vào thập niên 1960, ông Kadar đã nới lỏng các kiểm soát về kinh tế, văn hóa và xã hội khiến cho chế độ cộng sản Hungari được coi là tiến bộ nhất. Năm 1987, ông Karoly Grosz được chọn làm Thủ Tướng rồi làm lãnh tụ đảng, thay thế ông Kadar. Vào cuối thập niên 1980 này, quyền lực của đảng Cộng Sản Hungari bị suy giảm, các đảng phái khác bắt đầu hoạt động trở lại. Vào tháng 6-1989, đảng Cộng Sản Hungari phải thảo luận với các đảng phái đối lập. Họ đã xét lại cuộc cách mạng năm 1956 và tuyên bố rằng vụ xét xử ông Imre Nagy và các đồng chí vào năm đó bị coi là bất hợp pháp và cuộc nổi dậy năm 1956 không bị coi là “phản cách mạng”. Ông Nagy và các đồng chí cũ được phục hồi danh dự và chôn cất long trọng vào tháng 6-1989.

Mùa hè năm 1989, Hungari đã mở cửa biên giới với nước Áo khiến cho hàng ngàn người Đông Đức đã tràn qua các nước tây phương. Ngày 10-3-1990, Hungari đã ký với Liên Xô một thỏa ước về rút toàn bộ 52,000 quân Xô Viết ra khỏi lãnh thổ Hungari vào tháng 7-1991và xứ sở này chuyển sang chính thể dân chủ đa đảng, có Quốc Hội và Tổng Thống. Đảng Cộng Sản Hungari mặc dù đã cải tổ nội bộ, kể từ tháng 4-1990 chỉ chiếm được 11 % số phiếu bầu. Cũng từ năm 1990, Hungari đã theo đuổi các chính sách cải tổ kinh tế, tư hữu các xí nghiệp và trả lại đất đai cho nông dân.

  1. Albania

Albania là quốc gia nghèo nhất của châu Âu, có diện tích vào khoảng tiểu bang Alabama với dân số hơn 3 triệu người. Albania tiếp giáp với các nước Nam Tư, Macedonia, Hy Lạp và biển Adriatic.

Qua nhiều thế kỷ bị nước ngoài đô hộ, người dân Albania vẫn giữ được bản tính dân tộc nên đã giành được độc lập vào năm 1920 rồi tới Thế Chiến Thứ Hai, quốc gia nhỏ bé này bị Phát Xít Ý xâm lăng vào tháng 4-1939, rồi bị sát nhập vào nước Ý. Trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai, có ba lực lượng kháng chiến chính trong xứ Albania: a) tổ chức Cộng Sản gọi là Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia NLF (the National Liberation Front) do Enver Hoxha lãnh đạo, b) lực lượng bảo hoàng gọi là Phong Trào Hợp Pháp (Legality) do Abas Kupi điều khiển, c) phong trào quốc gia gọi tên là Balli Kombetar do Midhat Frasheri chủ trương. Cả ba nhóm quân sự này vừa đánh quân đội Đức Quốc Xã chiếm đóng, vừa đánh lẫn nhau.

Năm 1944, lực lượng Đức Quốc Xã bị đánh bật ra khỏi Albania và các người Cộng Sản kiểm soát được đất nước. Ông Hoxha đã thiết lập nên tại Tirana một chính quyền cộng sản và lãnh đạo đất nước với chức vụ Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản từ năm 1953. Ông Enver Hoxha (1908-1985), đã cai trị xứ Albania cho tới khi chết. Ông ta ủng hộ các chính sách của Joseph Stalin, nhà độc tài của Liên Xô. Từ nay, mọi ruộng đất đều bị tập trung thành các nông trại tập thể, các người chống đối đều bị cầm tù, các tài sản tư nhân bị tịch thu, mọi cơ sở tôn giáo đều bị đóng cửa, các hoạt động văn hóa và trí thức đều phải theo đường lối xã hội chủ nghĩa. Ông Hoxha đã cô lập xứ Albania, không cho giao tiếp với các quốc gia khác. Chính sách giới hạn mọi tự do cá nhân tại Albania đã khiến cho xứ sở này trở thành quốc gia nghèo đói nhất châu Âu, trong khi đó các đảng viên cộng sản vẫn tự hào rằng Albania là quốc gia duy nhất trên thế giới theo đúng các giáo điều Mác Xít Lê Nin Nít!

Khi Albania giành được độc lập vào năm 1944, đảng Cộng Sản Nam Tư đã giúp đỡ các đảng viên cộng sản Albania tổ chức lại Mặt Trận Giải Phóng NLF nhưng tới năm 1948, sự rạn nứt đã xẩy ra giữa Nam Tư và Liên Xô khiến cho Nam Tư bị trục xuất khỏi Khối Cominform, một tổ chức gồm các đảng cộng sản châu Âu do Liên Xô lãnh đạo. Vào lúc này, Albania theo Liên Xô nên đã tuyệt giao với Nam Tư.

Vào đầu thập niên 1960, đã xẩy ra một dạn nứt khác giữa Liên xô và Trung Cộng do khác biệt về cách giảng giải các giáo điều Cộng sản. Trung Cộng đả phá Liên Xô vì đã tìm cách sống chung với các quốc gia tây phương và Albania ủng hộ lập trường của Trung Cộng. Vào năm 1961, Albania đoạn giao với Liên Xô. Từ đó Trung Cộng cung cấp mọi trợ giúp cho Albania kể cả trợ giúp kỹ thuật. Tới cuối thập niên 1970, các nhà lãnh đạo cộng sản Albania lại chỉ trích Trung Cộng là đã không theo đúng các giáo điều Cộng Sản, đã liên lạc với Nam Tư và Hoa Kỳ. Trung Cộng bèn phản ứng lại bằng cách cắt hết viện trợ cho Albania.

Năm 1985, ông Enver Hoxha chết sau khi đã cai trị Albania hơn 40 năm, đã bắt mọi người dân Albania phải thành kính tôn sùng lãnh tụ. Ông Ramiz Alia, nguyên là chủ tịch nước từ năm 1982, đã kế tiếp ông Hoxha làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản.

Từ năm 1989, vì các quốc gia cộng sản Đông Âu bắt đầu tan rã nên xứ Albania cũng bị ảnh hưởng. Các cuộc biểu tình đã xẩy ra tại thủ đô Tirana, một sự việc không hề có trong 46 năm trường, một phần là do sự giảm bớt bóp nghẹt của cơ quan công an mật vụ Sigurimi. Vào mùa xuân năm 1990, chủ tịch Ramiz Alia công bố một chương trình “dân chủ hóa”, cho phép nông dân được quyền canh tác trên các mảnh đất tư hữu, chấp nhận việc du lịch ra nước ngoài và cho phép dân chúng thực hành tôn giáo tại gia đình. Một cải tiến khác của Albania là trả tiền thưởng cho các công nhân làm việc chăm chỉ, để sản xuất ra nhiều mặt hàng hơn. Thế nhưng, những cải cách này chưa thực sự mang lại các kết quả tốt.

Vào tháng 7-1990, 5,000 người Albania đã xuống đường, phản đối chính quyền Cộng Sản, đập phá các tòa đại sứ để yêu cầu được ra các nước ngoài. Nhiều người liều mạng băng qua biên giới Nam Tư và Hy Lạp mà không có giấy tờ, để tìm tự do và tránh các hiểm nghèo kinh tế. Các xáo trộn vẫn tiếp tục tới cuối năm 1990 khiến cho đảng cộng sản cầm quyền phải đồng ý để các đảng phái chính trị khác tham gia vào các cuộc bầu cử đa đảng, diễn ra vào tháng 3-1991. Sau cuộc bầu cử này, đảng cộng sản thắng nhiều phiếu bởi vì các lực lượng đối lập đã không được tổ chức cẩn thận. Các bạo loạn chống cộng sản vẫn diễn ra tại Albania khiến cho một chính phủ mới được thành lập, bao gồm bên trong 9 nhân vật độc lập.

Cuộc bầu cử kế tiếp diễn ra vào tháng 3-1992 và lần này, Đảng Dân Chủ Albania đối lập (the Albanian Democratic Party) đã thắng lớn trên toàn quốc. Ông Sali Berisha, một y sĩ giải phẫu tim, 47 tuổi, trở nên Tổng Thống không cộng sản đầu tiên vào tháng 4-1992. Sau khi trở thành nhà lãnh đạo của xứ Albania, ông Sali Berisha đã thực hiện nhiều chuyến công du ra các nước ngoài để xin trợ giúp, ngõ hầu ổn định xứ sở Albania quá nghèo đói.

  1. Bulgaria

Bulgaria là một quốc gia thuộc vùng Balkan, lãnh thổ nhiều đồi núi này có diện tích vào khoảng tiểu bang Tennessee và dân số 9 triệu người, tiếp giáp với các nước Hy Lạp và Thổ Nhĩ kỳ ở phía nam, Nam Tư và Macedonia ở phía tây, Romania ở phía bắc và Biển Đen (the Black Sea) ở phía đông. Thủ đô của Bulgaria là thành phố Sofia, được người La Mã xây dựng nên vào thế kỷ thứ 2. Người Bulgaria có nguồn gốc pha trộn của các bộ lạc Slavic và Bulgars, và bộ lạc sau này từ Trung Á tới xâm chiếm bán đảo Balkan vào thế kỷ thứ 9. Bulgaria bị cai trị bởi các người nước khác và cuối cùng bị chinh phục bởi đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman. Năm 1878, nước Bulgaria giành được độc lập nhờ sự trợ giúp của người Nga vì thế người Bulgaria thường có thiện cảm với dân Nga.

Năm 1912, với hy vọng giành lại miền đất đã mất vì Hiệp Ước Berlin, Bulgaria cùng với các nước khác thuộc vùng Balkan tham gia vào trận chiến đánh đuổi quân đội Ottoman ra khỏi châu Âu và đây là Cuộc Chiến Balkan thứ nhất. Sau khi Thổ Nhĩ Kỳ thua trận, các nước chiến thắng lại tranh chấp nhau và vào năm 1913, Bulgaria tấn công Serbia và Hy Lạp trong Cuộc Chiến Balkan thứ hai. Vì bị thua trong cuộc chiến này, Bulgaria bị mất phần đất đã giành được trong cuộc chiến trước.

Trong Thế Chiến Thứ Nhất, Bulgaria đứng về phe Đức vì hy vọng chiếm lại các phần đất đã mất nhưng đã thất bại. Tới Thế Chiến Thứ Hai, Bulgaria là đồng minh của Đức và Ý. Ngày 8-9-1944, quân đội Liên Xô xâm chiếm Bulgaria và các người cộng sản đã giành được chính quyền. Từ đây, các người dân bị phe cộng sản coi là chống đối đã bị giết, bị gửi đi các trại tù cải tạo, quyền tư hữu của dân chúng bị hủy bỏ, mọi tự do trong xứ bị giới hạn. Năm 1946, lãnh tụ cộng sản Georgi Dimitrov trở nên nhà cai trị xứ Bulgaria. Năm 1947, Bulgaria phê chuẩn Hiến Pháp giống như Hiến Pháp của Liên Xô rồi tới năm sau, 1948, các người cộng sản kiểm soát được hoàn toàn đất nước này. Ông Dimitrov chết vào năm 1949, năm sau ông Vulko Chervenkov lên nắm quyền. Từ năm 1950, nền kỹ nghệ của Bulgaria đã gia tăng nhưng mực sống của người dân xuống thấp dần.

Năm 1954, ông Todor Zhivkov (1911-   ) trở nên lãnh tụ đảng Cộng Sản và đã cầm quyền từ năm này tới tháng 11-1989. Trong số các lãnh tụ cộng sản Đông Âu, ông Zhivkov là kẻ tham quyền cố vị lâu thứ hai, chỉ đứng sau ông Enver Hoxha của xứ Albania. Ông Zhivkov là lãnh tụ cộng sản đầu tiên bị xét xử công khai vào tháng 9-1992 vì lạm quyền và thâm lạm của công rồi bị kết án 7 năm tù quản thúc. Hai lãnh tụ khác là ông Nicolae Ceausescu bị xử bắn ngay sau một phiên tòa quân sự vào năm 1989 và ông Erich Honecker, cựu chủ tịch Đông Đức, bị kết án vào cuối năm 1992.

Vào năm 1962, ông Zhivkov trở nên chủ tịch nước Bulgaria, đã theo đường lối thân Liên Xô. Trong thời gian Bulgaria sống dưới chế độ cộng sản, người dân phải chịu đựng mọi thiếu thốn về các nhu yếu phẩm căn bản và các dịch vụ sơ đẳng, khiến cho một số nhân viên chính quyền cộng sản cũng phải căm hờn đường lối bóp nghẹt của Liên Xô. Năm 1965, ông Zhivkov thoát nạn sau một cuộc đảo chính quân sự không thành.

Tới cuối thập niên 1980, các chính sách cởi mở tại Liên Xô đã ảnh hưởng đến xứ Bulgaria. Vào tháng 10-1989, các nhóm phản đối chính quyền cộng sản đã xuất hiện tại thành phố Sofia nhân một cuộc hội nghị quốc tế về môi trường được tổ chức tại đây, bởi vì sự hiện diện của một số đại biểu ngoại quốc đã khiến cho giới cấm quyền cộng sản phải nhẹ tay trong việc đàn áp. Rồi tới ngày 3-11 năm đó, 4,000 người đã biểu tình trước Quốc Hội, đây là cuộc phản kháng lớn nhất kể từ năm 1947.

Người dân trong nước Bulgaria đã biểu tình phản đối chính quyền cộng sản Zhivkov, đòi hỏi dân chủ và một số tự do căn bản. Cuộc phản kháng đã bắt đầu từ bên trong nội bộ đảng Cộng Sản, do Bộ Trưởng Ngoại Giao là ông Petar Mladenov. Do áp lực từ Liên Xô, ông Zhivkov phải rút lui khỏi chính quyền vào tháng 11-1989 và ông Mladenov trở nên chủ tịch đảng và chủ tịch nước.

Từ tháng 1-1990, do các bất mãn từ dân chúng, đảng Cộng Sản bị bớt dần độc quyền và chịu chấp nhận hệ thống chính trị đa đảng. Tháng 4 năm đó, đảng Cộng Sản Bulgaria đổi tên thành Đảng Xã Hội rồi cũng vào tháng 4, Quốc Hội bầu lại ông Mladenov làm chủ tịch nước. Tháng 6-1990, các cuộc bầu cử tự do, đa đảng, được tổ chức lần đầu tiên tại Bulgaria sau 44 năm. Đảng Xã Hội đã chiếm được nhiều phiếu nhất, sau đó là đảng Liên Hiệp Các Lực Lượng Dân Chủ UDF (Union of Democratic Forces). Tới tháng 7, các sinh viên lại biểu tình, phản đối ông Mladenov, họ dựng nên các căn lều trong “Vùng Không Cộng Sản” (a Communist free zone) thuộc thành phố Sofia. Tháng 8-1990, ông Zhelyu Zhelev thuộc lực lượng UDF được Quốc Hội bầu làm Tổng Thống xứ Bulgaria và đây là vị nguyên thủ loại “không cộng sản” đầu tiên, kể từ năm 1944. Từ năm 1991, đảng Cộng Sản Bulgaria tự hủy diệt dần dần.

Sứ điệp Hoà bình 2017: Lắng nghe và suy nghĩ

Sứ điệp Hoà bình 2017: Lắng nghe và suy nghĩ

  1. Đã thành thông lệ, cứ vào ngày đầu năm dương lịch, Đức Giáo hoàng lại ban hành Sứ điệp Ngày Hoà bình Thế giới. Điều đặc biệt của Sứ điệp năm 2017: đây là dịp kỷ niệm 50 năm Hội Thánh Công giáo cử hành Ngày Hoà bình Thế giới, và Sứ điệp Hoà bình năm nay là Sứ điệp lần thứ 50.

Năm mươi năm trôi qua nhưng nội dung của Sứ điệp đầu tiên, năm 1967 của Chân phước Giáo hoàng Phaolô VI, vẫn còn nguyên tính thời sự: “Hoà bình là hướng đi duy nhất đích thực của sự phát triển con người – chứ không phải là những căng thẳng tạo ra do những thứ chủ nghĩa quốc gia đầy tham vọng, cũng như những cuộc chinh phục bằng bạo lực, hoặc những cuộc đàn áp nhân danh trật tự xã hội giả tạo” (Sứ điệp, số 1). Có lẽ được gợi hứng từ khẳng định căn bản này cũng như từ thực tế mà thế giới đang đối diện, chủ đề của Sứ điệp năm 2017 là: Bất bạo động, kiểu mẫu của nền chính trị phục vụ hoà bình.

  1. Nói đến bất bạo động, người ta dễ nghĩ đến những khuôn mặt nổi bật như Mahatma Gandhi và Khan Abdul Ghaffar Khan trong công cuộc giải phóng Ấn Độ, hoặc mục sư Martin Luther King trong phong trào chống phân biệt và kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ. Đúng thế, nhưng đừng quên rằng chính Đức Giêsu Kitô mới là đấng khơi nguồn cho chủ trương bất bạo động: “Khi Người ngăn cản những kẻ tố cáo định ném đá người phụ nữ bị bắt vì phạm tội ngoại tình (x. Ga 8,1-11), và trong đêm Người bị bắt, khi Người ra lệnh cho Phêrô xỏ gươm vào bao (x. Mt 26,52), Chúa Giêsu đã mở ra con đường bất bạo động. Người đã bước đi trên con đường đó đến cùng, đến tận thập giá, ở đó Người trở thành sự bình an và chấm dứt mọi hận thù (x. Eph 2,14-16)” (Sứ điệp, số 3).

Chính vì thế, tất cả những ai mang danh Kitô hữu phải là người thực hành bất bạo động: “Ngày nay, để là những môn đệ đích thực của Chúa Giêsu, phải ôm ấp giáo huấn của Chúa về bất bạo động… Với các Kitô hữu, bất bạo động không chỉ là một ứng xử mang tính chiến thuật nhưng là một lối sống, là thái độ của một người xác tín vào tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa đến nỗi không sợ hãi đối diện với sự ác bằng vũ khí của tình yêu và chân lý mà thôi… Mệnh lệnh ‘Hãy yêu thương kẻ thù’ (x. Lc 6,27) phải được xem như hiến chương của bất bạo động Kitô giáo. Điều đó không có nghĩa là bị khuất phục trước cái ác nhưng là lấy sự lành đáp lại điều ác (x. Rm 12,17-21) và do đó, bẻ gẫy dây chuyền của bất công” (Sứ điệp, số 3).

Cũng vì thế, trong thời điểm hiện nay, khi đang có những cuộc khủng bố được dán nhãn tôn giáo, Đức Giáo hoàng Phanxicô có những khẳng định thật mạnh mẽ trước toàn thế giới: “Không có tôn giáo nào là khủng bố cả”; “Không thể lấy Danh Chúa để biện minh cho bạo lực. Chỉ có hoà bình là thánh thiện. Chỉ có hoà bình mới được gọi là thánh, không có chiến tranh nào là thánh cả!” (Diễn văn tại Assisi, ngày 20-10-2016).

  1. Vì Chúa Giêsu là đấng khơi nguồn lối sống bất bạo động, nên để sống tinh thần bất bạo động cách đích thực, hãy lắng nghe giáo huấn và chiêm ngắm cách hành xử của Người. Theo Chúa Giêsu, bạo động hay hoà bình đều bắt nguồn từ trong lòng người: “Chính từ bên trong, từ lòng người, mà những ý định xấu xuất hiện” (Mc 7,21). Thế nên, phải bắt đầu xây dựng hoà bình từ bên trong. Phải gieo vãi và ươm trồng hạt giống hoà bình trong tâm hồn. Những phát minh và tiến bộ kỹ thuật, dù tinh vi đến đâu, cũng chỉ là phương tiện. Cội rễ chiến tranh hay hoà bình là ở trong lòng người: “Thật khó để biết rằng thế giới chúng ta hiện nay có nhiều hay ít bạo lực hơn quá khứ, hoặc những phương tiện truyền thông hiện đại và sự năng động ngày nay có làm cho chúng ta ý thức hơn về bạo lực không, hay ngược lại, còn làm gia tăng bạo lực” (Sứ điệp, số 2). Người ta vẫn nhắc đến câu châm ngôn “Muốn có hoà bình, hãy chuẩn bị chiến tranh”. Sẽ thật tuyệt vời nếu hiểu câu nói này từ góc nhìn nội tâm: hãy chiến đấu và chiến thắng những mầm mống tội lỗi trong tâm hồn, hoà bình sẽ xuất hiện trong mọi tương quan của đời sống xã hội.

Nếu bạo lực hay hoà bình đều bắt nguồn từ bên trong, và vì thế, phải gieo vãi và vun trồng hạt giống hoà bình trong tâm hồn từ tấm bé, vậy còn nơi nào lý tưởng hơn môi trường gia đình để làm công việc này? Vì gia đình là nơi vợ chồng, cha mẹ và con cái, anh chị em, học biết chia sẻ và quan tâm đến nhau. Gia đình là nơi những va chạm, kể cả xung đột, được giải quyết không phải bằng bạo lực nhưng bằng đối thoại, tôn trọng, thương xót và tha thứ (x. Sứ điệp, số 5). Một khi đã cảm nhận được tình yêu thương, mối quan tâm, lòng quảng đại và sự tha thứ trong bầu khí gia đình, người ta cũng sẽ bước vào đời với tâm hồn rộng mở, biết sẻ chia và nâng đỡ tha nhân hơn là chỉ hành động theo bản năng bạo lực.

Trong suốt ba năm 2017-2019, người Công giáo Việt Nam được mời gọi quan tâm đặc biệt đến đời sống gia đình. Ước gì mỗi gia đình Công giáo thực sự là cái nôi bình an và cống hiến cho đời những sứ giả hoà bình: “Trong gia đình, chúng ta không cần đến bom đạn để hủy hoại hay phục vụ hoà bình – chỉ cần ở với nhau, yêu thương nhau… Và chúng ta sẽ vượt qua mọi cái ác trong thế gian” (Mẹ Têrêxa Calcutta, Diễn văn nhận giải Nobel, 1979).

29/12/2016 

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Hãy về cùng em, lo phụ dưỡng gia đình

Suy Tư Tin Mừng Trong tuần có lễ mừng Thánh Gia năm A 31/12/201

Tin Mừng: (Mt 2: 13-15.19-23)

 

Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!” Ông Giuse liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Ngài trốn sang Ai-cập. Ông ở đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập.

 

Sau khi vua Hêrôđê băng hà, sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giuse bên Ai-cập, báo mộng cho ông rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Ngài về đất Israel, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi.” Ông liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Israel. Nhưng vì nghe biết Áckhêlaus đã kế vị vua cha là Hêrôđê, cai trị miền Giuđê, nên ông sợ không dám về đó. Rồi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Galilê, và đến ở tại một thành kia gọi là Nadarét, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng: Ngài sẽ được gọi là người Nadarét.”

 

“Hãy về cùng em, lo phụ dưỡng gia đình”

Anh em hãy  về đi, dựng từ đầu

Em đây sẽ đợi dẫu bao lâu

Mái ấm gia đình cửa luôn mở

Anh hãy về đi, dựng từ đầu.

( Dẫn nhập từ thơ Nguyên Đỗ)

 

Mai Tá lược dịch

 

 

“Anh hãy về đi, dựng từ đầu”, đúng là lời lẽ của nhà thơ. Lời ở đây , không chỉ là lời nhắn nhủ  những người em thân thương, ở quê nhà. Mà, là lời kêu mời mà Hội thánh xưa nay cứ nhắn gọi mọi người vào dịp lễ Thánh Gia.

Lễ Thánh Gia, ta không chỉ đứng ngắm mà khâm phục sự êm ấm bình an của gia đình rất thánh, Đức Giêsu. Nhưng là, mời gọi người người suy niệm về một Giáng Hạ, rất an bình có tình thương yêu/mến mộ gia đình thánh. Thương cho gia đình Ngài gặp ngày dậy sóng gió. Sóng ưu tư muộn phiền, ngày Chúa Con đi lạc. Sóng  buồn rầu, ngày Đức Chúa chấp nhận cái chết.

Là thành viên Gia Đình Lành Thánh, các Đấng cũng đã lo âu, ray rứt khi Giê-su Đức Chúa ở lại nơi đền thờ, giảng giải cho các nhà thông luật, thêm hiểu biết. Và, cả lúc về sau, khi Ngài nổi tiếng, cùng lúc trở thành đối tượng cho nhiều người khích bác.

Cử hành mừng kính Lễ Thánh Gia hôm nay, con dân chúng ta nguyện cầu Chúa chúc lành cho người người và gia đình mình. Chúc lành là bởi, dường như con cái trong gia đình hôm nay, thường hay gặp cảnh ưu tư, lo âu. Có gia đình còn phân rẽ, ghét bỏ/đấu đá lẫn nhau, chỉ vì tình thương trao ban không đều. Hoặc vì ghen ghét, đố kỵ. Có khi, chỉ vì tiến trình đổ vỡ mà nay vẫn chưa kịp hàn gắn.

Đã nhiều lần, Đức Chúa quả quyết: hễ anh em có hai, hoặc ba người ngồi lại vì Danh Ngài, Thầy sẽ đến ở cùng. Đến ở cùng, chính đó là hình ảnh của Gia Đình Rất Thánh, Đức Kitô. Gia Đình Lành Thánh, chính là cộng đoàn nền tảng của Đạo Chúa. Ở gia đình đó, Đức Kitô vẫn luôn hiện diện. Ngài hiện diện, để tỏ mình cho thế giới, biết thương yêu lẫn nhau như “ gà cùng một mẹ” trong gia đình. Gia đình lành thánh theo kiểu của Đức Kitô, không chỉ là đơn vị gia cư Giáo hội của Chúa, mà là mái ấm tình thương quyết sống đời yêu thương san sẻ, trong cộng đoàn.

Sống đời yêu thương trong gia đình, cộng đoàn không có nghĩa là mình chỉ sống cho riêng gia đình mình sống xa cách mọi người hoặc sống đời “Đèn nhà ai nấy sáng”, chẳng quan tâm đến một ai. Mà là, sống cùng và sống với thế giới quanh ta. Sống, mà không tìm lợi ích cho riêng mình. Trái lại, là sống kết hợp hài hoà, biết nâng đỡ và san sẻ tình thương trong cộng đoàn cần nâng đỡ. San sẻ cả niềm vui, lẫn nỗi buồn. San sẻ và nâng đỡ, để rồi sẽ trở nên thành phần của Giáo hội, rộng khắp. Từ đó, thực hiện sứ mệnh làm chứng cho sự hiện diện của Đức Chúa, ở chốn gian trần.

Thực hiện công tác ấy, mọi ngày trong cuộc sống thường nhật, ta quyết làm cho bằng được qua nhiều hình thức. Bằng nhiều phương cách, tựa như cách thức mà Hội đồng Giám mục Hoa kỳ đã đề nghị trong Thư Chung năm nào, nhấn mạnh đến điều mà các ngài gọi là “ Dõi Theo Con Đường Của Tình Yêu” . Dõi theo bằng cách:

*Tin tưởng nơi Chúa và thực sự xác tín rằng Ngài đang lo cho chúng ta

*Yêu thương và tin tưởng mãnh liệt vào giá trị của người khác. Hình ảnh Thiên Chúa phản ảnh nơi con cái Ngài là khi họ nhận biết rằng: người thân trong gia đình hằng yêu thương nhau. Bao lâu còn nghi kỵ lẫn nhau, tức là mình đang nghi ngờ Tình Yêu của Thiên Chúa.

*Kiến tạo và duy trì sự mật thiết hỗ tương, bắt đầu từ vợ chồng rồi cứ thế lan rộng đến các thành viên khác của tổ ấm gia đình.

*Sống chứng tá cho các giá trị Tin Mừng bằng gương mẫu sống động trong đời người tín hữu Đức Kitô.

*Đào tạo và giáo dục niềm tin yêu qua gương mẫu sống mật thiết yêu thương lẫn nhau qua vai trò làm cha, làm mẹ. Để rồi, con cái sẽ không thấy điều khác biệt giữa thực tế ở nhà và điều được dạy tại trường.

*Cùng nhau nguyện cầu. Cảm tạ Thiên Chúa về những hồng ân Ngài ban. Cũng không quên xin ngài hướng dẫn những bước chân mềm vào những lúc khó khăn, lầm lạc.

*Biết phục vụ và cho đi. Phục vụ người khác dù khác họ, khác dòng tộc. Cho đi những gì mình đã có, cho người có nhu cầu hơn mình.

*Sẵn sàng tha thứ và tìm kiếm sự hài hoà. Biết sám hối khi có lỡ lầm. Biết lắng nghe và ủi an, khi có người cần được giúp đỡ. Tán dương ca tụng sự sống mỗi khi có dịp như : mừng sinh nhật , hôn lễ , ngày kỷ niệm…

*Hợp tác với mọi người trong cộng đoàn mình hầu thăng tiến phẩm cách của mọi nhân vị .

*Tranh đấu chống thói bè phái, kỳ thị. Quyết cứu đói, giảm nghèo, ở mọi nơi.

*Biết tỏ ra nhạy bén với ơn mời gọi phục vụ Cộng đồng dân Chúa, và cộng đoàn rộng rãi, khắp nơi. Biết để thì giờ và công sức làm thiện nguyện, cải tiến cuộc sống của mọi gia đình, nơi chòm xóm, ngoài giáo xứ …

Đạt được lời khuyên nhủ ở trên, là việc làm thật lý tưởng. Đành rằng, chẳng thể nào có được gia đình hoặc giáo hội hoàn thiện, về mọi mặt. Nhưng ta vẫn luôn tin tưởng và cũng lạc quan, phấn khởi, để nếu cần, sẽ bảo nhau : “Anh hãy về đi, dựng từ đầu”.

Trong tinh thần phấn khởi “Dựng từ đầu”, ta hân hoan hát lên lời ca thân thương của người nghệ sĩ hôm nào đã viết nên giòng nhạc. Giòng nhạc vui, hát rằng:

“Anh viết cho em một bài ca mới

Khi nắng xụân sang, khi gió đông tàn

Nhịp đập rộn rang trong trái tim anh

Kết thành lời bài ca yêu thương

Gởi người em gái yêu thương

Gởi người em gái quê hương…

(Vũ Vĩnh Phúc- Bài ca cho em)

Bài ca vui mới viết cho em, cho anh. Cho những người anh, người chị trong gia đình, rất lành thánh ở khắp nơi. Gia đình yên vui đầm ấm, có cửa luôn mở rộng. Và luôn goi: “anh hãy về đi, về cùng em lo phụng dưỡng gia đình”, gia đình lành thánh, rất Kitô.

 Frank Doyle sj biên-soạn –

Mai Tá lược dịch

Đôi mắt anh đã trở thành tinh tú.

Chuyện phiếm đọc trong tuần sau lễ Thánh Gia Năm A 30/12/2016

“Đôi mắt anh đã trở thành tinh tú.” 
Đứng thật xa canh chừng giấc ngủ ngon.
Anh canh chừng con thuyền lạ đi ngang.
Sẽ chở em về quê hương thần thoại.”

(Nhạc: Anh Bằng/Thơ: Nguyên Sa – Kỳ Diệu)

(1Corintho6 2: 6-9)

 Trần Ngọc Mười Hai

 “Mắt anh đã trở thành tinh-tú”! Đó chính là điều kỳ-diệu nơi không-gian và thời-gian một đời người.

“Thuyền lạ đi ngang sẽ chở em về quê-hương thần-thoại”! Đây, lại là điều “diệu kỳ” của nhà Đạo chốn dân-gian/trần-thế, rất khó quên.

Điều khó quên hơn, lại vẫn là những câu ca ta hát tiếp, như sau:

“Khi áng mây cao dừng trên nếp trán.
Anh chợt nghe tình vỗ cánh bay.
Trái tim anh hờn dỗi trên vai.
Đêm hạnh phúc như hạt sương gầy

Bỗng mùa xuân về trên năm ngón.
Trên bàn tay lộc biếc lá non.
Anh đứng nghe âu yếm gọi tên em.
Khi em đến nằm ngoan trên cỏ biếc

Có bỡ ngỡ là mặt trời bỡ ngỡ.
Có xôn xao là sỏi đá xôn xao.
Cánh tay anh, anh đã dặn nằm im.
Để người yêu thả trôi suối tóc mềm.”

(Anh Bằng/Nguyên Sa – bđd)

“Mặt trời bỡ ngỡ”, “Sỏi đá xôn-xao”, vẫn là những “ngỡ ngàng” còn thấy được ở đâu đó, chốn thân-thương nhà Đạo, được tác-giả Bart D. Ehrman tỏ-bày ở bên dưới:

“Kinh thánh, cuốn sách được nhều người mua về đọc và sung-kính cách sâu-sắc hơn bất cứ cuốn nào hết trong lịch-sử văn-minh phương Tây. Nói theo giọng điệu dễ tranh-cãi, thì đây lại là cuốn sách ít được hiểu thấu-đáo, đặc-biệt là quần-chúng dân-gian rất giáo dân. 

Hơn 200 năm qua, các học-giả Kinh thánh đã tạo nhiều tiến-bộ đáng kể trong hiểu-biết Sách này, nhờ các khám-phá khảo-cổ vừa mới đây, đã tạo nhiều bước tiến khá đáng kể trong việc hiểu biết ngôn-ngữ cổ/xưa của Do-thái và Hy-Lạp, là tiếng mà Kinh Sách được viết ra ngay thời đầu; và từ đó, đi sâu vào địa-hạt phân-tách văn-chương lịch-sử cũng như nội-dung văn-bản. Đây là thành-tựu rất không nhỏ.

 Thành thật mà nói, dân-gian quần-chúng nói chung, hầu như không biết gì nhiều về Kinh thánh. Phần lớn là vì nhiều người trong chúng ta dù đã bỏ ra cả một đời người để chuyên-chăm học-hỏi về Kinh-thánh lại không hoàn-thành công việc này cho tốt đẹp, tức: không thông-chuyển cho quần-chúng nói chung những gì cần chuyển cho đúng. Và, cũng vì phần đông các linh-mục/mục-tử từng học-hỏi những điều này ở chủng-viện, vì nhiều lý-do khác nhau, lại không san-sẻ điều mình học hỏi với giáo-dân khi leo lên được chức vụ chánh-xứ hoặc quản-nhiệm xứ/họ ở địa phương.

 Dĩ nhiên, Giáo-xứ là nơi chính-thức để giáo-huấn/bàn-thảo về Kinh thánh         

 (Xem Bart D.Ehrman, Jesus, Interrupted Revealing the Hidden Contradictions in the Bible and Why We Don’t Know About Them, HarperOne 2009, tr.1-5)

Theo tác-giả Bart D Ehrman nói ở trên, thì: lâu nay giáo-dân Công-giáo (nhất là người Việt) tham-dự thánh-lễ ở bất cứ nơi đâu, cũng đều ngồi bất-động mà nghe vị Linh-mục cứ “băm xẻ” Lời của Chúa, chứ chẳng cho ai “chia sẻ” hết.

Gọi chữ “băm xẻ” là vì đấng bậc vị vọng trên toà giảng-giải có bao giờ chịu để cho dân con ngồi ở dưới được phép có ý-kiến gì đâu mà chia với sẻ. Với lại, nhiều vị chỉ biết “băm” Lời Chúa thành nhiều mảnh làm cho Tin Mừng càng khó hiểu thêm chứ nào có sẻ với san Lời của Chúa đâu mà giành.

Thành thử, càng nghe giảng-giải nhiều, giáo-dân/người nghe nếu không ngủ gật thì cũng rối trí, có bóp đầu bóp trán cũng chẳng biết cha/cố hôm ấy nói gì. Chi bằng ta cứ đọc những câu thưa cách gọn nhẹ, như: “Tạ ơn Chúa”, hoặc “Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa” tựa hồ như câu Amen, cho xong việc.

Dù gì đi nữa, lời giảng-giải cho giáo-dân nghe về Kinh Sách cũng giản-đơn và dễ hiểu như giảng và giải về tình thương-yêu giữa hai người hoặc mọi người. Tình thương và yêu tuyệt-diệu ấy đã nằm trong Kinh Sách từ thuở đầu đời xa xưa ấy, kh con người vừa chập-chững đã biết yêu là gì rồi.

Tình thương-yêu hoặc yêu-thương được kể nhiều ở Kinh Sách, rất có thể chỉ là thứ tình được diễn-tả ở nhiều nơi, trong cuộc đời, tự như câu truyện về tình chị em hay tình của người em đối với người chị ghi bên dưới, gọi là Câu chuyện hai chị em” vẫn êm nhẹ như sau:

 “Truyện rằng:

Tôi sinh ra tại một vùng quê hẻo lánh. Ngày qua ngày, cha mẹ tôi phải ra sức cày cấy trên mảnh ruộng khô cằn để nuôi hai chị em tôi ăn học.

 Một ngày kia tôi lén ăn cắp 15 đồng trong ngăn kéo của cha để mua một chiếc khăn tay mà những đứa con gái trong làng đều có. Cha tôi phát hiện, ông lấy chiếc roi tre treo trên vách xuống, bắt hai chị em tôi quỳ trước mặt và hỏi rằng ai đã lấy cắp.

 Vì sợ hãi, tôi đã không dám đứng lên nhận lỗi. Cha tức giận định đánh cả hai chị em, ông đưa chiếc roi lên. Em níu tay cha lại và nói:

-Thưa cha, con trót dại…

 Em nói loanh quanh, không giải thích được đã dùng số tiền ấy vào việc gì. Cha giận đến tái mặt nghĩ rằng em đã ăn chơi lêu lổng và quất liên hồi chiếc roi dài vào lưng em cho đến khi cha gần như không thở được nữa.

 Đêm ấy, mẹ và tôi đã dỗ dành em. Nhìn thân thể đầy những lằn roi của em, tôi oà khóc. Em vội vàng nói:

-Chị ơi đừng khóc, kẻo cha nghe thấy cha sẽ đánh đòn chị đấy!

Năm ấy em vừa lên 8 và tôi 11 tuổi.

 Năm em tôi được tuyển thẳng vào trường trung học thì tôi cũng trúng tuyển vào đại học. Chưa kịp vui với niềm mơ ước được chạm vào cánh cửa đại học thì tôi đã đối diện với nỗi lo lắng về học phí. Cha mẹ tôi không đủ tiền để cho hai chị em ăn học cùng một lúc.

 Em tôi quyết định bỏ học nhưng cha mẹ và cả tôi đều không đồng ý. Tôi nói:

-Em cần phải tiếp tục đi học để tìm cách thoát ra khỏi cảnh nghèo khó sau này. Chính chị mới là người không nên tiếp tục vào đại học.

 Nhưng em đã bỏ nhà ra đi với vài bộ quần áo cũ và một ít muối mè trong chiếc túi sách nhỏ. Em đã lén đến bên giường tôi và để lại một mảnh giấy bên gối tôi với lời nhắn nhủ: 

-Chị ơi, được vào đại học không phải là điều dễ dàng. Em sẽ tìm việc làm để gởi tiền về cho chị.

Tôi trào nước mắt, chẳng nói lên lời. Năm ấy em mới 17 và tôi tròn 20.

 Với số tiền ba tôi vay được trong làng cộng với số tiền gởi về của em, cuối cùng tôi cũng học xong năm thứ 3 đại học.

 Một hôm đang ngồi học trong phòng, một đứa bạn chạy vào gọi tôi và nói: 

-Có người cùng làng đợi cậu ngoài kia.

Tôi chạy ra và thấy em đứng từ xa, quần áo lấm lem dầu nhớt. Tôi hỏi em:

-Sao em không nói với bạn của chị, em là em trai chị chứ?

Em cười đáp lại: 

-Em sợ mọi người sẽ cười chị khi nhìn thấy bộ dạng nhếch nhác của em.

Tôi lặng người, nước mắt tuôn trào.

Em mỉm cười, đôi mắt ánh lên lấp lánh. Em đưa tay vào túi áo lấy ra một chiếc kẹp tóc hình con bướm và nói:

-Em thấy mọi cô gái đều cài nó trên tóc, vì thế em mua tặng chị!

Tôi không kềm được niềm xúc động, ôm chầm lấy em nức nở.

Năm ấy tôi đã 23 và em mới 20.

 Lần đầu, khi tôi đưa bạn trai về nhà ra mắt cha mẹ, mọi thứ trong nhà đều rất sạch sẽ và ngăn nắp, ngay cả miếng cửa sổ bị bể cũng đã được lắp lại. Mẹ cho tôi biết trong khi dọn dẹp và thay khung cửa sổ, em đã bị miếng kính đâm vào tay chảy máu. Tôi chạy vào tìm em. Nhìn vết thương trên tay em, tôi cảm thấy như có hàng ngàn mũi kim đâm vào tim mình. Tôi lấy thuốc và bông băng để băng lại vết thương cho em. Em cười rồi nói: 

-Em không muốn anh ấy chê nhà mình nghèo khổ!

Năm ấy em 23 và tôi 26.

 Sau khi lập gia đình, tôi về sống với chồng ở thành phố. Vài năm sau, chồng tôi trở thành giám đốc của một xí nghiệp. Vợ chồng tôi muốn đưa em vào làm nhưng em từ chối vì sợ mọi người sẽ xì xầm bàn tán những lời không hay về chồng tôi. 30 tuổi, em lập gia đình với một cô gái trong thôn.

 Năm tôi 40, cuộc hôn nhân tưởng chừng như mĩ mãn của tôi bị đỏ vỡ vì sự xuất hiện của một người phụ nữ khác. Em vứt hết chuyện gia đình đến chăm lo cho các con tôi, vực tôi dậy sau những đắng cay nghiệt ngã.

 Rồi một ngày cả hai chúng tôi đều già nua, tóc bạc gần hết mái đầu. Em ngồi bên tôi nhắc lại chuyện xưa. Ngày ấy, chị em tôi mỗi ngày phải lội bộ hơn hai tiếng mới có thể đến trường. Một hôm, em làm mất chiếc giày. Một phần sợ cha đánh em, một phần biết mẹ không có tiền mua giày mới, tôi đã nhường cho em đôi giày của mình.

 Và cứ thế, mỗi ngày hơn bốn tiếng đi rồi về, chân tôi phồng rộp lên và rướm máu vì những viên đá nhọn trên mặt đường nóng bỏng. Từ đó em hứa với lòng phải chăm sóc và đối xử với tôi thật tốt. Nước mắt tôi chợt ứa ra vì hạnh phúc. Năm ấy em chỉ vừa lên 5! Tóm lại, mọi thứ trên đời đều có thể mất đi, duy chỉ có tình yêu thương là mãi mãi! (Sưu tầm)

 Đọc truyện kể ở trên tiếp theo những điều được biết đến về Kinh Sách, còn để hiểu và biết những lời vang được đấng thánh-hiền trong Đạo vẫn từng bảo:

“Điều chúng tôi giảng dạy cho các tín hữu trưởng thành

cũng là một lẽ khôn ngoan,

nhưng không phải là lẽ khôn ngoan của thế gian,

cũng không phải của các thủ lãnh thế gian này,

là những kẻ sớm muộn gì cũng phải diệt vong.

Trái lại, chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa

đã được giữ bí mật,

lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời,

cho chúng ta được vinh hiển.

Không một ai trong các thủ lãnh thế gian này

đã được biết lẽ khôn ngoan ấy,

vì nếu biết,

họ đã chẳng đóng đinh Đức Chúa hiển vinh vào thập giá.

Nhưng, như đã chép:

Điều mắt chẳng hề thấy,

tai chẳng hề nghe,

lòng người không hề nghĩ tới,

đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn

cho những ai mến yêu Ngài.”

(1Cor 2: 6-9)

Giảng và giải lẽ khôn-ngoan tức tình thương-yêu “mà Thiên-Chúa đã tiền-định từ trước muôn đời”, với đấng thánh-hiền nhà Đạo thì như thế. Với người đời, nói lên nét đẹp của tình thương-yêu trong đời theo cung cách của thi-ca/âm-nhạc, là như người nghệ-sĩ vẫn hát rằng:

“Đôi mắt anh đã trở thành tinh tú.
Đứng thật xa canh chừng giấc ngủ ngon.
Anh canh chừng con thuyền lạ đi ngang.
Sẽ chở em về quê hương thần thoại

Khi áng mây cao dừng trên nếp trán.
Anh chợt nghe tình vỗ cánh bay.
Trái tim anh hờn dỗi trên vai.
Đêm hạnh phúc như hạt sương gầy

Bỗng mùa xuân về trên năm ngón.
Trên bàn tay lộc biếc lá non.
Anh đứng nghe âu yếm gọi tên em.
Khi em đến nằm ngoan trên cỏ biếc

Có bỡ ngỡ là mặt trời bỡ ngỡ.
Có xôn xao là sỏi đá xôn xao.
Cánh tay anh, anh đã dặn nằm im.
Để người yêu thả trôi suối tóc mềm.”

(Anh Bằng/Nguyên Sa – bđd)

 Đề cao tình thương-yêu ở đời đến như thế rồi, nay mời bạn/mời tôi ta cứ thế mà hướng về phía trước, quyết đi sâu vào cuộc đời người, để rồi sẽ còn đề-cao/tôn-dương tình yêu-thương, hơn thế nữa. Vì đó là Tình-Yêu, ảnh-hình của Thiên-Chúa. Vì đó là đời người, sản-phẩm đến từ tình-yêu, cũng rất người.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn mong được tâm-niệm

và tôn-dương Tình-Yêu 

đến như thế

suốt cuộc đời.