Thà nghèo
Anh Phạm Đăng Toàn, nạn nhân mới nhất được cho là bị công an đánh chết đêm 2/1. Nguồn: Facebook
nhưng vẫn không bình yên.

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Phạm Đình Trọng
Anh Phạm Đăng Toàn, nạn nhân mới nhất được cho là bị công an đánh chết đêm 2/1. Nguồn: Facebook
Trên thế giới có ở đâu như ở Việt Nam công an được hưởng lương cao, bổng hậu từ tiền thuế của dân lại chỉ biết có đảng, ngang nhiên phũ phàng, bội bạc, vô ơn với dân trong lời nói, trong ngôn từ, trong nhận thức: “Công an nhân dân chỉ biết còn đảng, còn mình”! Ngang nhiên coi dân như cỏ rác, giết dân như giết kiến, đánh, giết dân như đánh, giết kẻ thù trong hành động.
Công an đánh chết dân trong trại tạm giam. Công an đánh chết dân ở đồn công an. Công an đánh chết dân giữa phố đông. Công an đánh chết dân trên đường làng. Chết dưới tay công an rồi lại chính công an điều tra, công an làm án để rồi những cái chết đó trở thành vụ tự sát, vụ bị bạn tù đánh chết, vụ chạy quá sức mà chết!
Đứa trẻ 13 tuổi bị chết trong trại tạm giam của công an với những vết thâm tím phù nề khắp người. Dấu tích của những trận đòn diễn ra liên tiếp, dai dẳng nhiều ngày bởi công cụ bạo lực cầm tay. Dấu tích trận đòn của quyền lực mà kẻ chịu đòn chỉ biết cam chịu, không thể tự vệ, không được phản kháng. Công an điều tra làm án và phiên tòa lập ra chỉ để tuyên bản án theo kết quả điều tra của công an: Đứa trẻ bị tạm giam trong phiên trực phải rửa bát đã rửa bát không sạch bị bạn tù đánh chết và công an ngoại phạm trong cái chết đó! Cùng là bạn tù thì bình đẳng, bị đánh phải đánh lại. Đánh nhau tay đôi, không ai có công cụ bạo lực hỗ trợ làm sao lại chỉ một người dính đòn đến chết, còn người kia không hề hấn gì!
Báo chí của cả nhà nước công an trị đồng loạt đưa tin về bản án được tuyên ở phiên tòa nhưng những người còn chút lương tri thì chẳng ai còn tin những phiên tòa như vậy. Họ chỉ càng ngậm ngùi cho thân phận dân đen trong nhà nước độc tài đảng trị, pháp luật chỉ để bảo vệ đảng. Không được pháp luật bảo vệ, thân phận người dân quá mong manh, bèo bọt, người dân có thể bị công an bắt giam, công an đánh chết bất cứ lúc nào công an muốn bắt, bất cứ lúc nào công an muốn đánh.
Những vụ công an đánh chết dân không thể xí xóa được thì viên công an giết người dân lương thiện phải đứng trước vành móng ngựa cũng chỉ phải nhận bản án tượng trưng, một bản án diễu cợt pháp luật, thách thức người dân. Viên trung tá công an đánh gãy cổ dân dẫn đến cái chết đau đớn cho ông Trịnh Xuân Tùng chỉ phải nhận bản án nhẹ hều 4 năm tù. Những phiên tòa như vậy không chỉ làm cho người dân nhận ra một nền tư pháp bất minh, không vì công lí, không vì lẽ phải, nền tư pháp mà đảng cầm quyền đứng ngoài và đứng trên pháp luật và bản án không được phán quyết bằng tranh tụng tìm ra sự thật ở phiên tòa mà phán quyết theo nghị quyết của cấp ủy đảng đã có từ trước phiên tòa. Những phiên tòa bao che cho tội ác của quyền lực giết dân lành còn là nỗi ô nhục của cả nền tư pháp mang tên nền tư pháp xã hội chủ nghĩa.
Ở những nước văn minh, có dân quyền, quyền lực của người dân quyết định sự hình thành và tồn tại bộ máy nhà nước vì thế một vụ tai nạn xe lửa làm thiệt mạng chỉ một người dân, lập tức bộ trưởng bộ Giao thông nhận trách nhiệm về mình, liền xin từ chức.
Quyền lực của người dân Việt Nam đã bị đảng hữu hóa bằng điều 4 Hiến pháp: “Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”. Trắng tay về quyền làm người, quyền công dân và trần trụi trước pháp luật, người dân không quyền lực, không được pháp luật bảo vệ trở nên quá bé nhỏ và tội nghiệp như thân phận của con vật nuôi trong trại gia súc. Người dân bị gạt ra bên lề trong đời sống chính trị đất nước. Việc sắp đặt quan chức trong bộ máy nhà nước, việc đưa người của đảng ra nắm giữ các vị trí trong bộ máy đó hoàn toàn là chuyện nội bộ của đảng cộng sản cầm quyền. Người dân cầm lá phiếu bầu quốc hội, bầu hội đồng hàng tỉnh, hàng quận, huyện chỉ là những rô bốt làm thủ tục hợp thức hóa việc chia ghế, chia quyền của đảng. Những chiếc ghế quyền lực trong bộ máy nhà nước đã được đảng phân chia xong cho những cán bộ của đảng trước khi người dân cầm lá phiếu bầu quốc hội và các hội đồng hàng tỉnh, hàng quận huyện. Những chiếc ghế quyền lực của dân của nước đã bị đảng chiếm đoạt và giao cho cán bộ của đảng trước khi quốc hội và các hội đồng hàng tỉnh, hàng quận huyện thực hiện màn diễn bầu cử các chức danh đó!
Ở đất nước có dân quyền, ngành giao thông chỉ để xảy ta tai nạn làm chết một người dân, ngài bộ trưởng Giao thông lập tức xin từ chức để nhận trách nhiệm với dân. Ở Việt Nam, công an vô cớ đánh chết hàng trăm dân lành thì đồng chí bộ trưởng bộ công an không những không chịu trách nhiệm, không từ chức mà còn được đảng vinh thăng đưa lên chức cao chót vót: Chủ tịch nước. Hóa ra tội ác công an vô cớ đánh chết dân lành là tội lớn với dân, với nước, với lương tâm con người và với đạo đức xã hội nhưng với đảng lại là thành tích, là công trạng!
Pháp luật của đảng nương nhẹ, bao che cho tội ác công an đánh chết dân. Tội ác công an đánh chết dân diễn ra từ năm này qua năm khác, diễn ra trên khắp đất nước Việt Nam đau thương nhưng bộ trưởng bộ công an lại được đảng ghi nhận công trạng, được tin cậy trao cho trọng trách đứng đầu nhà nước độc tài đảng trị để phát huy mô hình trị dân, duy trì nhà nước cộng sản bằng bạo lực ở mức cao hơn, rộng hơn và triệt để hơn!
Và dân lành bị công an đánh chết cứ tiếp diễn cùng sự tồn tại của nhà nước cộng sản Việt Nam. Theo thú nhận của ngành công an với cơ quan thường vụ quốc hội thời ông tướng công an Trần Đại Quang làm bộ trưởng bộ công an, chỉ trong ba năm, từ 10. 2011 đến 9. 2014 đã có 226 người dân chết trong nhà giam của công an. Công an chỉ dám công khai thú nhận số người dân chết trong trại giam do công an quan lí chứ công an không dám thống kê và công bố số dân lành bị công an đánh chết mà số dân lành chết dưới tay công an cũng không ít hơn ba hàng số, cũng phải tính tới hàng trăm. Và cái chết của người đàn ông 29 tuổi đang tràn trề sức lực Phạm Đăng Toàn ở Tuy Phước, Bình Định đêm 3.1.2017 là cái chết thứ mấy trăm dưới tay công an nhà nước cộng sản?
Người dân Việt Nam hôm nay phải nhận những cái chết đột ngột, bất thần, mau lẹ, dễ dàng dưới tay công an như cái chết của con vật nuôi trong trại gia súc dưới tay chủ trại. Và người dân Việt Nam cứ cam phận chấp nhận mãi nỗi đau, nỗi nhục của thân phận con vật nuôi trong trại gia súc cộng sản sao?
Một nhà nghiên cứu lâu năm về chính trị Việt Nam vừa có bài viết tiếng Anh cho rằng đã có mâu thuẫn trong đảng và tranh đua vị trí tại Việt Nam, chưa đầy một năm sau Đại hội Đảng 12.
Đăng trên trang The Diplomat hôm 23/12/2016, Giáo sư Zachary Abuza, Học viện Quân sự Quốc gia (National War College), Hoa Kỳ, dự đoán có thể Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ nghỉ giữa nhiệm kỳ, và ông Đinh Thế Huynh, Thường trực Ban Bí thư, là ứng viên thay thế hàng đầu.
Ông cũng cho rằng ba vụ điều tra gần đây – liên quan cựu Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng, Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đức Thuận, là cách gián tiếp là suy yếu vị thế Bí thư Thành ủy TP. HCM Đinh La Thăng.
BBC có cuộc phỏng vấn với Giáo sư Zachary Abuza về những điều ông đề cập trong bài viết.
BBC: Trong bài viết mới nhất của ông, ông cho rằng ông Đinh Thế Huynh đang có nhiều cơ hội nhất để trở thành Tổng Bí thư kế tiếp tại Việt Nam. Có phải quá sớm để nhận định như vậy?
Có thể còn sớm, và tôi có thể sai, nhưng theo tôi, tình hình đang diễn biến theo chiều hướng này.
Ông Nguyễn Phú Trọng được bầu lại thêm một nhiệm kỳ, nhưng quan điểm đồng thuận dường như cho rằng ông ấy sẽ chỉ ở lại nửa nhiệm kỳ.
Khó thấy còn ai khác đang rất nhiều cơ hội để thay ông Trọng giữa nhiệm kỳ. Tôi đoán là ông Trần Đại Quang đang chờ đến Đại hội Đảng 13. Tôi không nghĩ rằng có ai đó dành nỗ lực chính trị để ngăn ông Huynh lúc này.
BBC: Bằng chứng nào để ông nghĩ rằng ông Nguyễn Phú Trọng sẽ nghỉ giữa nhiệm kỳ?
Không hoàn toàn chắc chắn, nhưng có lẽ ông ấy sẽ nghỉ. Ông Trọng sinh năm 1944, tương đối già hơn so với người nhiều tuổi thứ hai trong Bộ Chính trị. Đảng Cộng sản có lý do khi họ đề ra mức giới hạn tuổi khi chọn nhân sự.
BBC: Bài viết của ông có đề cập đến Chủ tịch nước Trần Đại Quang, mà một số người cũng đồn đoán là ứng cử viên cho chức Tổng bí thư. Đánh giá của ông?
Tôi đồng ý là ông Quang có nhiều triển vọng. Ông đã mở rộng kinh nghiệm công tác, ra ngoài Bộ Công an. Ông sẽ là ứng viên rất mạnh. Tôi dự trù ông có thể là Tổng bí thư tại Đại hội 13.
Nếu có sự chuyển giao giữa nhiệm kỳ, và có đủ sự phản đối ông Huynh, thì ông Quang cũng sẽ là ứng viên rất mạnh.
BBC: Bài báo của ông tập trung nói về mâu thuẫn nội bộ trong Đảng sau Đại hội 12. Ông có thể giải thích rõ hơn?
Trước các kỳ Đại hội Đảng, luôn có nhiều đấu tranh phe phái. Nhưng sau đó, thường là giai đoạn “trăng mật”, hay tương đối bình yên khi mà chính phủ và cán bộ mới hòa nhập vào vị trí mới. Nhưng một số bạn bè và tôi bắt đầu chứng kiến các dấu hiệu mâu thuẫn nội bộ chỉ trong vòng một năm.
BBC: Ông viết rằng các cuộc điều tra và bắt giữ gần đây dường như là cách nhắm vào Bí thư Thành ủy TP. HCM Đinh La Thăng. Ông có vẻ cho rằng ông Thăng thuộc nhóm cải cách, bị những người bảo thủ tấn công. Trong khi đó, một vài tiếng nói hiếm hoi ở bên trong Việt Nam cũng đã có bài trên mạng xã hội xem ông Thăng là đối tượng cần điều tra. Ông có xem xét quan điểm của họ không?
Đáng tiếc là nền chính trị Việt Nam vốn vô cùng bí hiểm. Vì thế phần lớn quan tâm là chỉ về các bê bối tham nhũng. Chính trị Việt Nam bị chi phối bởi quan hệ người bảo trợ – đồ đệ, theo cùng vây cánh, vì thế khi có điều tra ai đó, nó có thể không hẳn là vì nghi ngờ tội phạm kinh tế mà thường là nhắm gián tiếp vào người bảo trợ. Nó khiến các đối thủ chính trị phải lo lắng, làm yếu đi nền tảng ủng hộ họ, mà điều này rất quan trọng trong một hệ thống chính trị chú trọng đến sự đồng thuận.
Cần khẳng định chống tham nhũng và chống đối thủ chính trị không hẳn là loại trừ nhau. Nhưng cũng cần thấy vì sao chỉ một số người bị điều tra về tham nhũng, còn những cán bộ làm điều tương tự lại không bị. Khả năng có hạn của nhà nước có thể là câu giải đáp, nhưng câu trả lời thuyết phục hơn thường liên quan chính trị.
Ta cũng cần thừa nhận có nhiều tham nhũng trong chính trị cấp cao ở Việt Nam, vì không có báo chí tự do kiểm tra, đảng cộng sản nói chung đứng trên luật pháp, kiểm soát tòa án và công tố. Quan trọng hơn cả, trong hệ thống hỗn hợp của Việt Nam, là nơi nhà nước vẫn kiểm soát rất nhiều (như vốn, đất đai), khu vực công sở hữu quá nhiều tài nguyên và nguồn lợi thì cơ hội tham ô là ở bên trong nhà nước. Một số ít người lại kiểm soát việc phân bổ hàng hóa, dịch vụ, vốn trong khi lại có quá ít sự kiểm tra và minh bạch.
BBC: Trong bài, ông viết nếu ông Đinh Thế Huynh lên làm Tổng bí thư, sẽ không tốt cho Việt Nam vì ông ấy có vẻ là người bảo thủ. Ông cũng nghĩ ông Đinh La Thăng là nhà cải cách. Nhưng chính trị Việt Nam rất bí mật. Liệu có ổn khi quy trách nhiệm hay chê trách cho một số cá nhân, ca ngợi một số nhà “cải cách”, mặc dù ít ai biết thực sự điều gì xảy ra trong các cuộc họp của Bộ Chính trị?
Tôi đồng ý rằng sự phê phán này là công bằng. Tôi biết một số người hoàn toàn bất đồng với tôi khi tôi cho rằng ông Đinh Thế Huynh là người bảo thủ. Có một người nói ông Huynh là người “trung dung”, nhưng tôi không thấy có bằng chứng. Rõ ràng là ông ấy có rất ít tiếp xúc với bên ngoài. Toàn bộ sự nghiệp của ông Huynh là ở trong bộ máy Đảng như một nhà lý luận, ít kinh nghiệm thực tiễn.
Có thể nếu ông Đinh Thế Huynh trở thành Tổng bí thư, những hạn chế và thực tế của việc lãnh đạo sẽ hạn chế những gì ông có thể làm. Nhưng tôi cảm giác ông ấy rất lo lắng quyền uy và quyền quyết định của Đảng bị kéo trôi về phía các nhà kỹ trị trong chính phủ. Ông muốn tái xác lập sự lãnh đạo tối cao của Đảng, đây là việc không tốt cho nền kinh tế ngày càng phức tạp và hiện đại của Việt Nam.
Bài ‘The Fault Lines in Vietnam’s Next Political Struggle; Infighting ahead of the next mid-term Congress is already visible’ được đăng trên trang The Diplomat 23/12/2016.
Lễ Mẹ Thiên Chúa
TIẾN TRÌNH TÍN ĐIỀU MẸ THIÊN CHÚA
Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa vì Con của Mẹ là Thiên Chúa. Mẹ chỉ là Mẹ trong trật tự sản sinh nhân loại, nhưng Con mà Mẹ thụ thai và hạ sinh là Thiên Chúa, nên Mẹ phải được gọi là Mẹ Thiên Chúa. Tín lý này đã được Phúc âm thánh Luca minh hoạ rõ ràng, và từ thế kỷ II đã được các thánh Giáo phụ Inhaxiô Antiokia, Irênêô, Cyrillô Alexandria, Augustinô, Epiphanô diễn giải sâu rộng để đối phó với lạc thuyết của các bè rối Gnosticism, Docetism. Thánh Gioan Tông đồ loan báo chứng thực rõ ràng rằng ngài đã từng mắt thấy, tai nghe và đụng chạm tới Chúa Giêsu là Ngôi Lời hằng sống đã xuất hiện , vậy mà các bè rối đó vẫn nói Chúa Giêsu chỉ là ảo tượng. Lạc thuyết này muốn phá đổ tự nền tảng công cuộc Cứu chuộc của Chúa Kitô. Vì thế, các Giáo phụ dựa trên tín lý phẩm chức Thiên mẫu của Mẹ Maria để phá tan lạc thuyết này rằng Đức Trinh Nữ không thể là Mẹ nếu không có Con. Và Người không có Con, nếu Chúa Giêsu chỉ là một bóng ma. Giáo phụ Tertulianô bác bỏ Marcion người lạc giáo: “Mục đích phủ nhận thân xác Chúa Kitô, ông chối bỏ việc Người sinh ra. Hay là để chối bỏ việc Người sinh ra, ông phủ nhận thân xác Chúa. Thân xác và sự đản sinh làm chứng lẫn nhau: Không có sự đản sinh thì cũng không có thân xác. Hoặc là không có thân xác thì không có sự đản sinh.
Khi thấy Chúa đi trên mặt biển và khi thấy Chúa hiện ra sau khi Người sống lại, các tông đồ tưởng Người là ma. Nhưng Người đã quả quyết: “Chính Thầy đây!” Như vậy Chúa Giêsu có thân xác thực sự sống động. Mà nếu thân xác Người là thân xác của Thiên Chúa bởi trinh huyết Đức Trinh Nữ Maria, thì Đức Maria phải được gọi là Mẹ Thiên Chúa. Một thân xác là thân xác của Thiên Chúa lúc hiệp với ngôi Con Thiên Chúa là Thiên Chúa thật như Chúa Cha.
Sang thế kỷ III và thế kỷ IV, các thánh Giáo phụ đều đồng thanh cao rao chúc tụng Mẹ Thiên Chúa. Năm 325, Công đồng Nicêa I (nay là Iznik, bắc Thổ nhĩ kỳ) lên án lạc giáo Ariô, đồng thời định tín Ngôi Lời đồng bản thể với Đức Chúa Cha, và đặt kinh Tin kính (gọi là kinh Tin kính Nicêa đọc trong thánh lễ). Tín điều này chứng minh Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật, cùng với tín lý Mẹ Thiên Chúa của các thánh Giáo phụ sẽ mở đường cho tín điều Mẹ Thiên Chúa của Công đồng Ephêsô sau này.
Đến thế kỷ V, trong khi tín lý Mẹ Thiên Chúa đang được các Giáo phụ rao giảng rất minh bạch và phấn khởi, thì Nestoriô, thượng phụ giáo chủ thành Constantinopôli lên tiếng trong các bài giảng phản đối, vì ông chủ trương rằng: Chúa Giêsu có hai bản tính nên có hai ngôi vị. Đức Maria chỉ là Mẹ ngôi vị nhân tính của Chúa Giêsu, nên không phải là Mẹ Thiên Chúa. Năm 430, một hội đồng tại Rôma lên án lạc giáo Nestôriô, và Đức Thánh Celestinô I viết một bức thư khuyến cáo Nestôriô. Nestôriô tâu xin hoàng đế Thêôdôsiô I triệu tập Công đồng Êphêsô năm 431. Nhưng Thánh Cyrillô, Thượng phụ giáo chủ thành Alexandria, được Đức Thánh Celestinô uỷ nhiệm chủ toạ công đồng gồm khoảng 250 giám mục Đông phương, một giám mục Tây phương và một phó tế thành Carthage cùng với ba đặc sứ của Đức Celestinô. Mặc dù sự phản kháng của 68 giám mục tán đồng lạc giáo Nestôriô và sự cản ngăn của Candidianô, sứ giả của hoàng đế Thêôdôsiô, Công đồng vẫn khai mạc ngày 22 tháng 6 tại đền thờ Đức Mẹ tại Êphêsô. Công đồng minh định Chúa Giêsu có hai bản tính nhưng chỉ có một ngôi vị duy nhất là Thiên Chúa. Mẹ Maria là Mẹ thật của Chúa Giêsu nên Mẹ thật là Mẹ Thiên Chúa. Rồi Công đồng long trọng tuyên tín: “Nếu ai không tuyên xưng Emmanuel là Thiên Chúa thật, và do đó Rất Thánh Trinh Nữ là Mẹ Thiên Chúa, vì Mẹ sinh ra xác phàm của Ngôi Lời nhập thể, thì mắc vạ tuyệt thông”. Đồng thời, các Nghị phụ ký giấy ra vạ cho Nestôriô: “Vì Chúa Giêsu Kitô bị Nestôriô xỉ nhục, Thánh Công Đồng này đã tuyên bố Nestôriô bị loại trừ khỏi chức phẩm giám mục và khỏi mọi hiệp thông linh mục”.
Tại Công đồng, Thánh Proclô thẳng thắn chống lạc giáo Nestôriô. Và Nghị phụ Giám mục Thêôdôtê Ancyre (446) triệt để ủng hộ Thánh Cyrillô và gắt gao tố cáo buộc tội Nestôriô rối đạo. Trong khi Công đồng đang diễn tiến, Thánh Cyrillô viết cho Giám mục Acaciô Beroea có nói đến năm giáo phụ cũng lên án Nestôriô: Đó là hai Thượng phụ Alexandria là Athanasiô và Thêôphilê, hai Thượng phụ Constantinopôli là Grêgôriô và Atticô. Và vị thứ năm là Thánh Basiliô. Sau này, Nestôriô bị đày vào đan viện Euprépia gần Antiôkia, rồi tại một ốc đảo bắc Aicập cho tới chết trong sự cố chấp và buồn bực.
Ngay chiều hôm đó, toàn dân thành Êphêsô phấn khởi nô nức thắp đuốc tưng bừng, rực sáng, tổ chức một cuộc rước đuốc vĩ đại reo mừng sự vinh thắng của Mẹ Thiên Chúa, và hoan hô các Nghị phụ Công đồng Êphêsô. Họ cũng đem đuốc hộ tống các ngài về đến tận nhà.
Tín điều Mẹ Thiên Chúa do Công đồng Êphêsô long trọng tuyên tín, như một luồng gió xuân tươi mát dịu dàng trào thổi từ Êphêsô sang khắp các miền Alexandria, Constantinopôli, Antiôkia, sang Rôma, khắp Âu châu rồi dần dần ra khắp hoàn cầu. Lòng sùng kính mến yêu Mẹ Maria thêm muôn phần phấn khởi đã được biểu hiện ra nhiều việc sùng mến Mẹ Thiên Chúa: Nhà thờ Đức Mẹ nơi diễn tiến Công đồng Êphêsô đã trở thành Vương cung thánh đường Mẹ Thiên Chúa.
Năm 432, Đức Sixtô III xây cất lại và cung hiến Đền thờ Đức Bà Cả trên đồi Esquilinô tại Rôma mà Đức Liberiô xây cất năm 352 cho Mẹ Thiên Chúa, và nâng lên bậc Vương cung thánh đường.
Năm 451, Công đồng Chalceđônia cũng tuyên xưng Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa. Đồng thời, Thánh Pulcheria nữ hoàng Byzantin, kiến thiết hai đền thờ Mẹ Thiên Chúa tại Constantinopôli. Năm 534, Đức Gioan II tuyên nhận Mẹ Maria là Mẹ thật của Thiên Chúa. Năm 553, Công đồng Constantinopôli II tái tuyên nhận tín lý chức phẩm Thiên Mẫu. Từ đó nhiều nhà thờ dâng kính Mẹ Thiên Chúa được xây cất tại Thụy sĩ, Hoà lan, Đức, Anh, và Pháp. Riêng Pháp có năm đền thờ Mẹ Thiên Chúa ở Reims, Coutances, Tours, Poitiers, và Toulouse. Ảnh tượng Mẹ Thiên Chúa cũng được phổ biến khắp nơi, đặc biệt là ảnh Mẹ Thiên Chúa do Thánh Luca minh hoạ. Tới nay rất nhiều hoạ sĩ vẽ ảnh hay nghệ sĩ tạc tượng Mẹ Thiên Chúa với nhiều kiểu, theo nhiều văn hoá dân tộc tuyệt đẹp. Và các Thánh tiến sĩ các nhà thần học, các Đức Giáo hoàng liên tiếp rao giảng và chúc tụng Mẹ Thiên Chúa.
Năm 1215, Công đồng Lateranô IV tuyên nhận Chức phẩm trinh trong Mẹ Thiên Chúa. Năm 1427 trong một bài giảng, Thánh Bênađinô đọc lời cầu nguyện: “Ave Maria Jesus, Sancta Maria, Mater Dei, ora pro nobis”. Câu “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử” được đưa vào kinh do các nữ tu Dòng Đức Bà Tình Thương (Our Lady of Mercy) năm 1514, các đan sĩ Dòng Camaldolesia năm 1515 và Dòng Phanxicô năm 1525. Năm 1568, Đức Thánh Piô V chính thức xác định như chúng ta thường đọc ngày nay.
Công đồng Vatican II (1962-1965) dạy: “Từ muôn đời, Đức Trinh Nữ đã được tiền định làm Mẹ Thiên Chúa cùng một lúc với việc Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa… Đức Trinh Nữ nhờ ơn huệ và vai trò làm Mẹ Thiên Chúa, Mẹ được hợp nhất với Con Mẹ là Đấng Cứu Chuộc và hiệp nhất với Giáo hội.. Mẹ Thiên Chúa là mẫu mực của Giáo hội trên bình diện đức tin, đức ái và hoàn toàn hiệp nhất với Chúa Kitô”.
Nhờ Giáo huấn của Giáo hội và lời giảng dạy của các Thánh Giáo phụ, các Thánh tiến sĩ và các nhà thần học, giáo dân trong khắp Giáo hội mỗi ngày thêm vững tin tín điều Mẹ Thiên Chúa và sốt sắng sùng mến Mẹ.
Bên Đông phương, lễ Mẹ Thiên Chúa được mừng đầu tiên tại Giêrusalem ngày 15 tháng 8, quãng năm 428, rồi lan sang Armenia và Gethsemania năm 458. Giáo hội Byzantin mừng vào ngày 26 tháng 12, và Giáo hội Coptic mừng vào ngày 16 tháng Giêng.
Bên Tây phương, tại Rôma, thoạt tiên lễ Giáng sinh cũng là lễ Đức Trinh Nữ là Mẹ Thiên Chúa, vì khi hạ sinh Con Thiên Chúa trong xác thể, Đức Trinh Nữ cộng tác vào việc Thiên Chúa sinh ra Con Một Người từ muôn thuở. Bởi vậy thế kỷ XII, lễ Giáng sinh ban ngày được mừng trọng thể tại đền thờ Đức Bà Cả ở Rôma. Theo Dom Botte, khoảng từ năm 600, lễ Đức Mẹ đầu tiên chính thức trong Phụng vụ Rôma là lễ ngày mồng một tháng Giêng là ngày tuần tám lễ Giáng sinh, nên Đức Bênêđictô XIV ấn định mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép cắt bì. Và lễ Đức Mẹ được dời vào tháng Tám. Nhiều nơi mừng vào Chúa nhật IV mùa Vọng hay ngày 18 tháng 12.
Thế kỷ VII, Giáo hội Tây Ban Nha theo sắc lệnh Công đồng Toleđô năm 656 mừng lễ Mẹ Thiên Chúa ngày 18 tháng 12 trước lễ Giáng sinh tám ngày. Giáo hội Milan mừng Mẹ Maria chịu thai trinh vẹn vào ngày thứ tư bốn mùa tháng 12. Năm 1751, tại Bồ Đào Nha, lễ Mẹ Thiên Chúa được Đức Bênêđictô XIV ban phép mừng vào Chúa nhật thứ nhất tháng 5. Năm 1914, nhiều giáo phận và nhiều dòng tu được mừng vào ngày 11 tháng 10.
Năm 1931, để kỷ niệm 15 thế kỷ Công đồng Êphêsô tuyên tín Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa, Đức Piô XI ban hành thông điệp “Lux Veritatis” diễn giải tín lý Nhập Thể, do đó Đức Trinh Nữ Maria trở nên Mẹ Thiên Chúa. Đức Piô XI còn truyền dạy mừng lễ Mẹ Thiên Chúa trong khắp Giáo hội vào ngày 11 tháng 10.
Năm 1962, Đức Gioan XXIII khai mạc Công đồng Vatican II vào chính lễ Mẹ Thiên Chúa ngày 11 tháng 10 để trao phó công cuộc đại sự này trong tay Thiên Mẫu vạn năng của Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ Giáo hội. Trước năm 1969 ngày mồng một tháng Giêng kính Chúa Giêsu chịu phép cắt bì. Năm 1969 trong chiều hướng canh tân Phụng vụ, Đức Phaolô VI đã đổi lễ Mẹ Thiên Chúa sang ngày 1 tháng Giêng.
III. Ý NGHĨA PHỤNG VỤ
Đức Phaolô VI đặt lễ Mẹ Thiên Chúa vào ngày mồng một tháng Giêng đầu năm dương lịch, để tôn vinh Mẹ là Nữ Vương thời gian, cũng như Đức Piô XII đã đặt lễ Mẹ Nữ Vương vào ngày 22 tháng 8 để tôn vinh Mẹ là Nữ Vương không gian.
* Về không gian, Mẹ Maria là ngôi sao sáng soi khắp vũ trụ, làm bừng sáng các tầng trời và chiếu toả các âm phủ (Thánh Bênađô), vì Mẹ cao sang giáp giới tuyến vô biên Thiên Chúa (Thánh Tôma). Là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ được tham dự quyền thống trị với Chúa. Là Mẹ Chúa Kitô Vua vũ trụ, Mẹ được thông phần vương quyền của Người để được tôn phong là Nữ Vương vũ trụ. Mẹ hấp thụ tất cả các ơn Chúa. Ân sủng không nhỏ giọt trên Mẹ, nhưng trào đổ trên Mẹ như một trận mưa dạt dào (Thánh Tôma). Do đó, Mẹ Maria thật là Nữ Vương không gian.
* Về thời gian, Vương quyền của Mẹ Maria đã có trong thánh lệnh muôn đời của Thiên Chúa trước khi đất trời được tạo thành (xem Cn 8:22-29). Trong thời gian, Vương quyền của Mẹ bừng sáng ngay từ thuở ban sơ, qua lời Thiên Chúa tuyên án con Rắn già hoả ngục: “Người Nữ sẽ đạp giập nát đầu mày” (St 3:15). Qua các thời đại, Mẹ vẫn giao chiến chống lại các bè rối, và Mẹ sẽ chiến thắng con Rồng đỏ trong ngày thế mạt (xem Kh 12:1-17). Vương quyền Mẹ sẽ kéo dài vô cùng tận, vì là Mẹ Chúa Kitô, Mẹ được tham dự vương quyền vô tận của Ngài (Lc 1:33) và tham dự thế lực cầu bầu của Ngài . Do đó, Mẹ Maria thật là Nữ Vương thời gian.
Thiên Chúa hằng hữu vô biên siêu thời gian. Ngài nâng Mẹ Maria là một thụ tạo hữu hạn lên, thông ban ưu phẩm siêu thời gian của Ngài để đem thánh lệnh cứu rỗi muôn thuở của Ngài vào thời gian, và do đó, đem Chúa Ngôi Hai hằng hữu siêu thời gian vào thời gian. Thiên Chúa thông ban cho Mẹ ưu phẩm siêu thời gian của Ngài, cho Mẹ được thông phần bản tính phong phú của Ngài, để Mẹ trở nên Mẹ Chúa Kitô, được thông phần bản tính tình yêu của Ngài và trở nên Mẹ các chi thể Chúa Kitô là chính chúng ta (Đức GM Bossuet). Mẹ Maria được Thiên Chúa vô biên ban cho chức phẩm Thiên Mẫu hầu như vô biên, để Mẹ kéo thiên tính vô biên xuống kết hợp với nhân tính hữu hạn. Mẹ trao nhân tính cho Chúa Ngôi Hai siêu thời gian để Người trở thành Con của Mẹ trong thời gian, và để Người thông ban cho Mẹ ưu phẩm siêu thời gian của Người. Thánh Tôma nói: “Vì là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Maria được chức phẩm như vô cùng do sự kiện Chúa là Thiên Chúa vô biên”.
Được tham dự vào ưu phẩm siêu thời gian của Thiên Chúa, Mẹ Maria đã đưa Chúa Ngôi Hai siêu thời gian vào thời gian là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, để Người cứu chuộc chúng ta, làm cho chúng ta được thông phần ưu phẩm siêu thời gian của Người, được trở nên con cái Thiên Chúa, trở nên em Chúa Giêsu và trở nên con của Mẹ.
Lạy Mẹ Maria yêu dấu! Phẩm chức Thiên Mẫu của Mẹ thật cao quí vì là do tác động của tình yêu: Tình yêu vô biên của Thiên Chúa đã tiền định Mẹ là Mẹ Người, một chức phẩm rất mực cao sang. Thánh Bonaventura nói “Chức phẩm Mẹ Thiên Chúa là một ơn lớn lao nhất được ban cho một thụ tạo. Thiên Chúa có thể dựng nên một thế giới lớn hơn, một thiên đàng lớn hơn, nhưng không thể nâng một thụ tạo cao hơn Mẹ Người”. Tình yêu nồng cháy của Chúa Thánh Linh đã làm cho Chúa Ngôi Hai hiện hoá hữu hình trở nên Con của Mẹ để yêu mến và được mến yêu. Tình yêu đặc biệt của Chúa Con đối với Mẹ là tình yêu thảo hiền từ muôn thuở và sẽ vô cùng tận: Chúa Giêsu luôn luôn là Con của Mẹ, và Mẹ mãi mãi là Mẹ của Chúa. Tình yêu duy nhất của Mẹ qua lời “tuân vâng” đã khiến Mẹ lãnh nhận làm Mẹ Chúa Cứu Thế và Mẹ loài người chúng con. Do đó, Mẹ yêu mến Chúa và yêu thương chúng con với tấm lòng Hiền Mẫu luôn luôn nồng thắm dịu êm và đậm đà, và khuyến khích chúng con phải hết tình thiết tha ngoan thảo yêu mến Chúa và Mẹ.
Chức phẩm Thiên Mẫu của Mẹ quả thật do tình yêu, vì tình yêu, và cho tình yêu, từ các tầng trời xuống khắp trái đất, từ muôn thuở tới muôn thế hệ. Do vậy, Mẹ rất xứng đáng được tuyên phong là Nữ Vương không gian và thời gian.
Trong bài giảng khai mạc ba năm chuẩn bị Đại Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II nói: “Khi làm người, Con Thiên Chúa, Ngôi Lời đồng bản thể với Chúa Cha, đã nhận lấy thời gian của chúng ta trong mọi chiều kích và Ngài hướng thời gian về vĩnh cửu. Thực vậy, vĩnh cửu là chiều kích của Thiên Chúa. Khi nhập thể làm người, Con Thiên Chúa cũng chấp nhận trọn vẹn thời gian của nhân loại, với nhân tính của Ngài, để dẫn con người qua mọi chiều kích của thời gian này hướng về vĩnh cửu, và cho con người được tham dự vào cuộc sống thần linh vốn là gia sản đích thực của Chúa Cha, Chúa Con, và Thánh Linh”.
Bài đọc I: Dân số 6:22-27.
Sách này được chọn làm Bài đọc I lễ Mẹ Thiên Chúa vì hai lý do:
1. a) Nhờ mầu nhiệm Nhập Thể, chúng ta được ba lời chúc lành của Chúa Cha (Ds 24, 25, 26);
Bài đọc II: Galata 4:4-7.
Thánh Phaolô trực tiếp nói về Đức Mẹ Maria. Câu 4: “Con Thiên Chúa được sai đến và sinh bởi người nữ” lược tóm lịch sử Cứu rỗi. Lý do là:
Phúc âm: Luca 2:16-21.
Phúc âm trình chiếu cảnh Bêlem trong đêm Giáng sinh để cho thấy Đức Maria là Mẹ Đức Kitô là Thiên Chúa: Được các thiên thần hiện ra loan báo tin mừng Chúa Giáng sinh, các mục đồng hối hả đi tìm gặp Maria và Giuse cùng Hài Nhi nằm trong máng cỏ (2:16). Các mục đồng được loan áo tin mừng đầu tiên vì họ là hạng người hèn kém trong xã hội Do thái thời đó, nhưng tâm hồn họ đơn thật an vui. Họ đã đến, đã gặp gỡ Chúa Hài Nhi, Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse. Họ hiểu được lời thiên thần loan báo. Họ đã loan báo tin mừng cho mọi người và vui mừng tôn vinh Thiên Chúa vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe (2:17-21).
L.m. Phêrô, CMC
Anh chị Thụ & Mai gởi
5 Tháng Giêng
Thánh Gioan Neumann
(1811 – 1860)
Thánh Gioan Neumann sinh trưởng ở Bohemia. Vào năm 1835, ngài trông đợi để được thụ phong linh mục nhưng đức giám mục sở tại quyết định không phong chức thêm. Thật khó để ngày nay chúng ta tưởng tượng rằng Bohemia dư thừa linh mục, nhưng thực sự là như vậy. Gioan viết thư cho các giám mục khắp Âu Châu, nhưng câu trả lời ở đâu đâu cũng giống nhau. Tin rằng mình có ơn thiên triệu nhưng mọi cơ hội dẫn đến sứ vụ ấy dường như đều đóng kín.
Không nản chí, và nhờ biết tiếng Anh khi làm việc trong xưởng thợ của người Anh, ngài viết thư cho các giám mục ở Mỹ Châu. Sau cùng, vị giám mục ở Nữu Ước đồng ý truyền chức linh mục cho ngài. Ðể theo tiếng Chúa gọi, ngài phải từ giã quê nhà vĩnh viễn và vượt đại dương ngàn trùng để đến một vùng đất thật mới mẻ và xa lạ.
Ở Nữu Ước, Cha Gioan là một trong 36 linh mục trông coi 200,000 người Công Giáo. Giáo xứ của ngài ở phía tây Nữu Ước, kéo dài từ Hồ Ontario đến Pennsylvania. Nhà thờ của ngài không có tháp chuông nhưng điều đó không quan trọng, vì hầu như lúc nào Cha Gioan cũng di chuyển, từ làng này sang làng khác, lúc thì lên núi để thăm bệnh nhân, lúc thì trong quán trọ hoặc gác xếp để giảng dạy, và cử hành Thánh Lễ ngay trên bàn ăn.
Vì sự nặng nhọc của công việc và vì sự đơn độc của giáo xứ, Cha Gioan khao khát có một cộng đoàn, và đã ngài gia nhập dòng Chúa Cứu Thế, là một tu hội chuyên giúp người nghèo và những người bị bỏ rơi.
Vào năm 1852, Cha Gioan được bổ nhiệm làm giám mục Philadelphia. Việc đầu tiên khi làm giám mục là ngài tổ chức trường Công Giáo trong giáo phận. Là một nhà tiên phong trong việc giáo dục, ngài nâng số trường Công Giáo từ con số đơn vị lên đến 100 trường.
Ðức Giám Mục Gioan không bao giờ lãng quên dân chúng — đó là điều làm giới trưởng giả ở Philadelphia khó chịu. Trong một chuyến thăm viếng giáo xứ ở thôn quê, cha xứ thấy ngài ngồi trên chiếc xe bò chở phân hôi hám. Ngất ngưởng ngồi trên mảnh ván bắc ngang trên xe, Ðức Gioan khôi hài, “Có bao giờ cha thấy đoàn tùy tùng của một giám mục như vậy chưa!”
Khả năng biết tiếng ngoại quốc đã đưa ngài đến Hoa Kỳ thì nay lại giúp Ðức Gioan học tiếng Tây Ban Nha, Pháp, Ý, và Ðức để nghe giải tội bằng sáu thứ tiếng. Khi phong trào di dân người Ái Nhĩ Lan bắt đầu, ngài lại học tiếng Gaelic và sành sõi đến nỗi một bà Ái Nhĩ Lan cũng phải lầm, “Thật tuyệt chừng nào khi chúng ta có được vị giám mục là người đồng hương!”
Trong chuyến công tác mục vụ sang nước Ðức, đến nơi ngài ướt đẫm dưới cơn mưa tầm tã. Khi gia chủ đề nghị ngài thay đôi giầy sũng nước, ngài trả lời, “Tôi chỉ có cách đổi giầy từ chân trái sang chân phải thôi. Chứ có một đôi giầy thì làm gì được.”
Ðức Gioan từ trần ngày 5-1-1860 khi mới 48 tuổi. Ngài nổi tiếng về sự thánh thiện và sở học cũng như các trước tác tôn giáo và bài giảng, do đó ngài được phong chân phước ngày 13-10-1963, và ngày 19-6-1977 ngài được phong thánh.
Lời Bàn
Thánh Neumann coi trọng lời Chúa là “Hãy đi rao giảng cho muôn dân.” Từ Ðức Kitô, ngài nhận được các huấn lệnh và cũng nhờ Ðức Kitô mà ngài có thể thi hành sứ mệnh ấy. Vì Ðức Kitô không chỉ trao cho chúng ta sứ mệnh mà còn cung cấp phương tiện để hoàn thành. Ơn sủng mà Thiên Chúa ban cho Thánh Gioan Neumann là biệt tài tổ chức của ngài để qua đó ngài loan truyền Tin Mừng.
Giáo Hội ngày nay rất cần đến sự hy sinh của mọi người trong công cuộc rao giảng Tin Mừng. Những trở ngại và những bất tiện thì có thật và tốn kém. Tuy nhiên, nếu chúng ta biết chạy đến Ðức Kitô, Ngài sẽ cung cấp cho chúng ta những khả năng cần thiết để đáp ứng với các nhu cầu ngày nay. Thần Khí Ðức Kitô tiếp tục hoạt động qua các trung gian là sự quảng đại của Kitô Hữu.
Lời Trích
“Vì mọi người thuộc bất cứ chủng tộc nào, điều kiện nào và thế hệ nào đều có phẩm giá của một con người, nên họ có quyền được giáo dục tùy theo số phận của họ và thích hợp với khả năng bẩm sinh, với phái tính, với văn hóa và di sản của tổ tiên họ để lại. Ðồng thời, việc giáo dục này phải dẫn đến tình huynh đệ với các dân tộc khác, để sự bình an và sự hợp nhất đích thực có thể thực hiện được ở trần gian. Vì sự giáo dục đích thực nhắm đến việc đào tạo con người đối với lợi ích của xã hội mà trong đó họ là một phần tử, và họ phải chia sẻ trách nhiệm của phần tử ấy như một người trưởng thành” (Tuyên Ngôn Về Giáo Dục Kitô Giáo, 1).
Trích từ NguoiTinHuu.com
Anh chị Thụ & Mai gởi
Là một người may mắn được ăn học ở Phương Tây, tôi cũng đã ít nhiều học được nhiều thứ mà tôi nghĩ ở Việt Nam sẽ chẳng bao giờ dạy. Trước đây có một bài báo mang tên “2 tỷ đồng du học có mua được một người văn minh không?” Theo tôi, văn minh không phải là một cái gì đó có thể mua được, vì tôi thấy có nhiều bạn du học mà vẫn xấu tính như thường. Văn minh là một thứ gì đó chúng ta phải tiếp thu và truyền lại cho người khác. Chúng ta không cần phải bỏ ra 2 tỷ để mua một con người văn minh. Sau đây là 10 điều mà tôi đã Phương Tây đã dạy tôi.
1-Nụ cười.
Người Phương Tây rất thích cười. Thậm chí, đó là điều bạn sẽ trông thấy đầu tiên từ người quen cho đến người ngoài đường. Khi bạn đi bộ và thấy một người lạ nào đi đối diện, họ sẽ nhìn bạn và nở một nụ cười, và thậm chí hỏi “bạn khỏe không?”
2-Cảm ơn và xin lỗi.
Đây là 2 câu cửa miệng của người Phương Tây mà tôi nghĩ còn xa lạ đối với đại đa số người Việt. Không phải vì chúng ta kém văn minh hơn mà chúng ta có cái suy nghĩ khác về việc sử dụng 2 từ này. Nếu bạn vô tình va chạm một ai đó cho dù lỗi là bạn, nhưng họ cũng sẽ nói “I’m sorry.” Và khi bạn làm gì đó cho họ, họ sẽ đáp lại với câu “thank you.” Nhiều bạn sống lâu năm ở Phương Tây khi trở về Việt Nam sinh sống và làm việc cảm thấy rất khó chịu vì môi trường Việt Nam thiếu đi điều này.
3-Tư duy cá nhân.
Trường lớp Phương Tây khuyến khích tư duy cá nhân, khác với tư duy tập thể của văn hóa Đông Á. Thậm chí, tư duy cá nhân là nền tảng của giáo dục Phương Tây. Mỗi cá nhân là một cái gì đó đặc biệt và không thể gom chung vào với nhau được.
4-Văn hóa đọc sách.
Trung bình, một người Tây sẽ đọc tầm 4-7 cuốn sách trong một năm. Còn ở Việt Nam thì con số là 0.7. Bạn sẽ hỏi “rồi sao? Đọc sách thì liên quan gì?” Sách là kho tàng kiến thức, là nơi một người tìm đến để mở mang tầm nhìn của mình. Ngành xuất bản ở Phương Tây rất phát triển, khác hoàn toàn đối với ở Việt Nam. Một đất nước mà trung bình một người dân chỉ đọc 0.7 cuốn sách thì bạn nghĩ đất nước đó có đủ kiến thức để phát triển không? Tôi nghĩ là không.
5-Không soi mói đời tư cá nhân.
Người Phương Tây chỉ tập trung vào chuyên môn của bạn, họ không quan tâm bạn là ai, từ đâu đến, giàu hay nghèo, lai lịch nhân thân ra sao. Điều quan trọng nhất vẫn là năng lực của bạn. Ngược lại, người Việt Nam thường hay soi mói đời tư cá nhân và những thứ chẳng liên quan gì.
6-Tư duy chỉ trích những lãnh đạo chính trị.
Cái này mình xin không nói nhiều nhé…..Nói tóm lại là người Phương Tây coi lãnh đạo của họ ở bất cứ cấp nào cũng chỉ là những viên chức ăn lương bình thường như bao nhiêu người khác, không hơn không kém. Họ đã nhận lương từ người dân thì họ phải làm tốt công việc của mình. Còn ở Việt Nam thì sao? khỏi nói ai cũng biết !
7-Tầm nhìn dài hạn.
Người Phương Tây khi đã lên kế hoạch và xây dựng cái gì thì họ sẽ có tầm nhìn dài hạn, ít nhất là 20 năm trở lên. Các doanh nghiệp Tây không bao giờ làm ăn chụp giật để kiếm lời trong ngắn hạn như Đông Á. Họ luôn có cái nhìn lâu dài và bền vững.
8-Tôn trọng và nâng niu phụ nữ.
Ở Phương Tây, quy luật tất yếu là “phụ nữ là nhất.” Phụ nữ luôn được đàn ông tôn trọng. Ở Việt Nam thì khi đàn ông nhìn phụ nữ tôi cá rằng họ chỉ muốn …..ngủ .Cách tán gái của đàn ông Việt vì vậy mà thô tục không kém, lại còn chướng mắt hơn nữa đối với những gả học làm sang ! Xà bần,chẳng có văn hóa và đẳng cấp chút nào.
9-Tôn trọng sự khác biệt của người khác, đừng bao giờ ép người khác phải theo mình.
Đây cũng là một phần của “chủ nghĩa cá nhân.” Mỗi cá nhân là một món quá đặc biệt của Thượng Đế. Nên đừng bao giờ ép, dụ người khác phải nghe theo mình, làm theo ý mình, trừ khi họ thoải mái tự nguyện.
10- Và cuối cùng, tôi nghĩ cái này là quan trọng nhất, đó là “tư duy thắc mắc” hoặc cái mà tôi gọi là “văn hóa tại sao?”
Người Phương Tây luôn luôn hỏi, luôn tìm hiểu và luôn hỏi tại sao. Họ không bao giờ ngừng suy nghĩ hay tự cao về bản thân. Cũng hiếm khi nào lấy bằng cấp mình đem ra khoe và coi đó là sự thể hiện rằng mình hơn người khác. Họ không bao giờ ngừng học hỏi. Ở đây không phải tôi so sánh, mà hình như người Việt Nam không có cái tư duy này. Trong mắt người Việt luôn có cái nhìn “kệ nó” hay “tại vì xứ mình nó thế.”
Đó là 10 điều trong vô số điều mà tôi đã học được từ Phương Tây. Người Việt Nam là một dân tộc rất đẹp, nhưng tôi nghĩ chúng ta cần phải học hỏi nhiều từ Phương Tây. Không phải vì chúng ta thấp hơn hay họ cao hơn, mà vì những thứ trên là những yếu tốt giúp họ trở thành những nước phát triển. Hy vọng các bạn đọc và hiểu.
S.T.
Có 3 điều mà khi cận kề cái chết người ta mới nhận ra.
Hãy cùng đọc câu chuyện sau đây:
Có một tỷ phú sống trong căn biệt thư xa hoa. Nhưng một ngày kia mắc bệnh hiểm nghèo, ông chợt nhận ra rằng tất cả những gì là danh vọng, tiền tài và vật chất, thực ra đều hư vô như mây khói.
Vì lo sợ sẽ không sống được bao lâu nữa, ông bèn tìm đến một vị danh y để xin lời khuyên. Sau khi bắt mạch, danh y nói với ông rằng: “Bệnh của ông ngoài cách này ra thì không thuốc nào có thể chữa khỏi. Tôi sẽ kê cho ông ba đơn thuốc, ông cứ theo đó mà làm, hết đơn thứ nhất thì chuyển sang đơn tiếp theo.”
Vị tỷ phú về nhà, trong lòng phấp phỏng hy vọng. Ông lấy đơn thuốc đầu tiên ra và đọc: “Hãy đến một bãi biển và nằm đó khoảng 30 phút, làm liên tục như vậy 21 ngày.” Mặc dù thấy khó hiểu, nhưng ông vẫn quyết định ra bờ biển. Ông lang thang một vòng rồi ngả lưng nằm trên bãi cát. Bất chợt một cảm giác nhẹ nhàng và khoan khoái vô cùng bao trọn thân thể ông. Vì trước đây công việc bận rộn nên ông không có cơ hội nghỉ ngơi. Nay ông có thể tĩnh tâm lại để lắng nghe tiếng gió thổi vi vu, tiếng sóng biển rì rào hòa lẫn với tiếng kêu thánh thót của đàn hải âu gọi bầy… Trái tim ông bỗng thổn thức, chưa bao giờ ông có được cảm giác thoải mái như bây giờ.
Ngày thứ 22, ông mở đơn thuốc thứ hai, trong đó viết: “Hãy tìm 5 con cá hoặc tôm rồi thả chúng xuống biển, liên tục như vậy trong 21 ngày.” Trong lòng ông đầy rẫy những băn khoăn, nhưng vẫn cặm cụi đi mua tôm cá rồi thả chúng ra biển. Ngắm nhìn từng con vật bé nhỏ được trở về với biển khơi, trong lòng ông không nén nổi nỗi xúc động.
Ngày thứ 43, ông đọc đơn thuốc thứ ba: “Tìm một cành cây và viết những điều khiến ông cảm thấy không hài lòng lên bãi cát.” Nhưng khi ông vừa viết xong, thủy triều lại cuốn tất cả xuống biển. Ông lại viết, sóng lại cuốn đi, lại viết, lại cuốn đi, rồi lại viết, và lại cuốn đi… Người đàn ông bỗng bật khóc nức nở vì chợt hiểu ra tất cả.
Khi về nhà ông cảm thấy toàn thân nhẹ nhàng, tinh thần chưa bao giờ thoải mái và tự tại đến thế, thậm chí ông cũng không còn sợ cái chết nữa.
Thì ra con người ta chỉ cần học được 3 điều trên thì sẽ vui vẻ hạnh phúc:
Thứ nhất: Nghỉ ngơi
Thứ hai: Cho đi
Thứ ba: Buông xuống
Là người nhất định phải biết NGHỈ NGƠI
Trong xã hội này có hai loại người. Một là quá tham lam, mong muốn và theo đuổi sự thành công, mong muốn kiếm tiền, ham muốn sao cho mình không ngừng vươn xa hơn nữa. Còn loại người thứ hai sống không có mục đích, không có chí tiến thủ.
Nhưng chúng ta cần nhận thức rõ rằng: có người mới được chút ít thì đã thấy đủ nên không muốn làm thêm gì cả; có người biết sao là vừa đủ và cảm thấy vui vẻ, đây là hai dạng người không giống nhau. Người mới được chút ít mà đã thấy đủ là người lười biếng không nhiều muốn bỏ công sức lao động; còn người biết đủ và cảm thấy vui vẻ chính là người chịu khó làm việc, nhưng có nhiều cũng cảm thấy đủ, có ít cũng cảm thấy đủ, có được nhiều thì càng tốt, có được ít cũng không sao, họ không để mình cảm thấy đau khổ khi có ít, không vì tham tiền tham việc mà gây tổn hại đến người khác, đó chính là biết đủ thì sẽ cảm thấy vui vẻ – tri túc.
Nếu một người lao đầu vào kiếm tiền, không chừa thủ đoạn nào để theo đuổi thành công và tài lộc mà không biết dừng nghỉ sẽ có ngày cảm thấy vô cùng mỏi mệt. Theo đuổi những chân trời viễn mộng khiến ta rất đau khổ, rất căng thẳng, bởi vì khi đã giành được nó ta lại sợ sẽ mất đi, sau khi mất đi thì lại muốn giành được nó, cũng gần giống như việc đánh bạc, mong muốn tất cả những đồng tiền ở túi kẻ khác là tiền của mình, bị thua lại mong thắng, thắng được rồi lại muốn thắng nữa, không bao giờ biết thỏa mãn.
Người thông minh là người biết làm việc và biết nghỉ ngơi hợp lý. Có như thế mới cân bằng cuộc sống và an nhiên, tự tại.
Đồng thời, con người sống cũng phải biết CHO ĐI
Trong cuộc sống này, những gì ta cho đi bằng tình người mới thật sự đúng nghĩa là cho mà không phải là sự trao đổi hay mua bán dưới nhiều hình thức. Tuy nhiên, nếu ta biết cho đi những giá trị vật chất để giúp đỡ hoặc chia sẻ khó khăn cho người khác thì đây chính là cách giúp ta có thể nhận lại được niềm vui và hạnh phúc bởi trong ta không có sự toan tính. Khi cho đi mà chúng ta không kèm theo bất cứ một điều kiện hay sự mong cầu nào thì chính ngay khi ấy chúng ta đã nuôi dưỡng được lòng từ bi vô hạn. Khi ta cho mà không có sự tính toán thì sự cho ấy mới là cao thượng nên ta sẽ nhận được sự an lạc, hạnh phúc.
Còn một điều nữa, đó là phải học cách BUÔNG XUỐNG
Nếu như con người biết buông xả trong đời sống hiện tại. Buông đi những lợi danh, buông đi những hận thù chấp nhặt. Đồng thời xả đi những mưu cầu tính toán cho bản thân, xả đi những “tham – sân – si” trong cuộc sống thường nhật thì sẽ tự tìm thấy cho mình niềm an vui vẻ thanh thản trong tâm hồn.
Bởi khi biết buông xả thì tâm ta mới trong sáng để vượt qua những cám dỗ của tham, sân, si, của mạn nghi ác kiến để rồi nhìn thấy niềm vui xung quanh ta.
Có buông xả được thì lòng ta mới rộng mở, ai nói gì không vừa ý cũng bỏ qua mà không chấp. Nếu ai có làm điều gì xúc phạm cũng dễ dàng tha thứ, mà nếu có giận có buồn thì chỉ một vài phút hoặc một vài giờ, cùng lắm qua một đêm rồi quên hết đi cho đời mình được an vui.
Tham lam là một liều thuốc độc, và dục vọng là con dao hai lưỡi; có một cuộc sống ổn định rồi vẫn muốn theo đuổi sự thoải mái; có cuộc sống thoải mái rồi lại muốn hưởng thụ những vật chất xa hoa… Nếu dục vọng không có điểm dừng thì con người vĩnh viễn không bao giờ cảm thấy đủ, không bao giờ cảm thấy thỏa mãn, và cũng không bao giờ tìm kiếm được niềm vui.
Hãy trân trọng những gì bạn đang có, bạn sẽ thấy rằng bản thân mình là người giàu có nhất trên cõi đời này.
Đuổi và đánh
Một đoạn video nhanh chóng được lan truyền khắp cộng đồng mạng vào rạng sáng ngày 2 tháng 1 cho thấy hình ảnh hai người mặc sắc phục công an bị người dân địa phương bắt giữ và hành hung 2 thành viên trong tổ tuần tra, bắt hai người này quỳ gối xin lỗi trước thi thể một thanh niên đã tử vong.
Sự việc này được cho là liên quan đến công an tỉnh Bình Định trong lúc thực hiện công tác tuần tra, truy bắt một nhóm người chơi bầu cua ở xã Phước Quang, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Người tử vong là Phạm Đặng Toàn, 24 tuổi.
Theo lời của ông Phạm Đặng Tiến, anh trai nạn nhân thuật lại là nhóm người này không phải tụ tập để đánh bạc lớn, chỉ là hình thức trò chơi “bầu cua cá cọp”
Theo tôi được biết, cảm nhận cá nhân cũng như quá trình làm việc, kinh nghiệm cho thấy những vụ việc này đa số là bên phía nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng không khởi tố, bưng bít thông tin, bao che.
– Luật sư Võ An Đôn
“Đại khái không phải là đánh bạc gì lớn, mà là đánh bầu cua nhỏ nhỏ, 10 ngàn, 20 ngàn. Khi công an ập vô, nó (người thiệt mạng) có tiền nhiều, nó sợ công an bắt nó nên nó chạy trốn. công an rượt theo đánh nó.”
Nhiều báo chí trong nước ngay sau đó loan tin này, cùng với tường trình sự việc là Tổ công tác Công an Huyện Tuy Phước đi tuần tra trên các đoạn đường thuộc địa bàn huyện. Đến 22 giờ 15 phút cùng ngày, Tổ tuần tra phát hiện một nhóm thanh niên khoảng 20 – 30 người đang tụ tập tại khu vực chợ Định Thiện đang đánh bầu cua.
Trong một diễn tiến khác xảy ra ngay ngày đầu năm mới được cộng đồng mạng truyền nhau nhanh chóng, vào lúc 0 giờ 24 phút ngày 1/1/2017, tại cổng B trường đại học Cần Thơ đường 3/2; phường Xuân Khánh; Quận Ninh Kiều; thành phố Cần Thơ, một thanh niên bị cho là ngừng xe trên đường gây lấn chiếm lòng lề đường bị 2 cảnh sát cơ động đánh gây tổn thương nặng.
Bao che, bưng bít
Sự việc trên hoàn toàn không được báo chí trong nước nhắc đến.
Còn đối với cái chết của nạn nhân Phạm Đặng Toàn thì cách truyền tin của báo chí trong nước về sự việc này đã đẩy sự phẫn nộ của người dân lên đến tột đỉnh.
Thiếu tướng Nguyễn Bá Nhiên, giám đốc Công an tỉnh Bình Định được trích dẫn bởi những truyền thông chính thống nói rằng, Trung tâm Pháp y tỉnh đã khám nghiệm tử thi để điều tra nguyên nhân cái chết của anh Toàn. Và theo kết quả mới nhất được loan đi ngày 4 tháng 1 kết luận rằng, nạn nhân Phạm Đặng Toàn chết do chạy quá sức.
Anh của nạn nhân Toàn kể lại:
“Sáng nay khám nghiệm tử thi xong rồi thì công an tỉnh Bình Định nói là đem về tỉnh để xét xử nhưng mà có xét xử hay không cũng không biết rõ được.”

Luật sư Võ An Đôn cho biết gia đình nạn nhân ngay sau xảy sự việc có liên lạc với ông để trình bày, và ông sẽ sẵn sàng hỗ trợ pháp lý miễn phí cho gia đình nếu cần thiết.
Tuy nhiên, ông không nghĩ rằng pháp luật sẽ đứng về phía gia đình nạn nhân, cho dù theo ông, trong suốt thời gian qua đã xảy ra rất nhiều vụ việc công an đánh chết dân ở nhiều nơi:
“Nhưng khi báo chí đăng rồi, trang mạng lên thì không thấy các cơ quan nhà nước vào cuộc. Mà đã vào cuộc rồi thì cũng im xuôi. Theo tôi được biết, cảm nhận cá nhân cũng như quá trình làm việc, kinh nghiệm cho thấy những vụ việc này đa số là bên phía nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng không khởi tố, bưng bít thông tin, bao che. Và chính tình trạng bao che này nên xảy ra tình trạng đánh chết dân là tất nhiên rồi.”
Ngày sau khi câu chuyện nghi án công an Bình Định đánh chết người được lan truyền khắp mạng xã hội cùng với phản ứng mạnh mẽ của người dân, bà Nguyễn Thị Thắm, người đưa đoạn phim lên trang facebook cá nhân đã lên tiếng xin lỗi cộng đồng mạng với lý do đưa tin sai sự thật. Bà Thắm thừa nhận mình là người quay và đăng tải 2 đoạn phim ngắn cảnh 2 công an huyện Tuy Phước bị hành hung.
Tuy nhiên, điều này lại một lần nữa làm cộng đồng mạng nổi giận với hàng loạt những chia sẻ cho thấy họ không tin đây là hành động được thực hiện bởi chủ ý cá nhân của bà Thắm.
Khó giải quyết
Những lý do khác khiến người dân ngày càng bức xúc là những câu chuyện liên quan đến hành xử của công an trong lúc thực hiện việc được gọi là “thi hành công vụ” hoặc người dân tử vong sau khi ra khỏi phường, nhập viện sau khi lên phường làm việc đã không được điều tra và có câu trả lời thoả đáng. Hầu như tất cả nghi án đều đi đến một kết luận là vụ việc đang được tiến hành điều tra, hoặc người bị tố thực hiện hành vi đó bị đình chỉ công tác.
Anh Võ Hướng, người bị công an huyện Tuy Đức đánh liệt nửa người vì cho là có liên quan đến vụ ghi số đề tại nhà vào ngày 8 tháng 11 năm 2016 cho biết, sau 3 tháng, chính quyền địa phương vẫn đang điều tra, chưa thấy thông báo gì cho gia đình.
“Cách đây khoảng 1 tuần 10 ngày, người ta có mời người nhà ra làm việc, hỏi thì người ta nói là đang trong quá trình điều tra, chưa có hồ sơ gì cả.”
Nhưng sau khi lý luận một hồi, tôi vẫn cứ đi thì họ xô vào và nói tao là côn đồ đây, mày không được đi. Đi ra là đánh.
– Luật sư Lê Quốc Quân
Luật sư, tù nhân lương tâm Lê Quốc Quân nói rằng ông rất lo ngại khi những câu chuyện tương tự như thế diễn ra ngày càng phức tạp hơn.
“Bất cứ nơi đâu còn việc đánh thì nó đánh, nó đánh cả luật sư Nam, luật sư Quân. Nhiều thứ nó gây chìm xuồng lắm.”
Ông nhận xét về những hành vi của lực lượng công an là “sự ngang nhiên không có pháp quyền và vô pháp luật.”
Luật sư Quân cho biết rất khó để mà giải quyết vì trong con người đó và chính lời của họ nói ra, họ đã thừa nhận mình đang phục vụ cho một hệ thống không có pháp luật. Trong hệ thống đó, công an và côn đồ, không phân biệt được.
Kể lại một sự việc đã xảy ra khi ông nhận lời mời đến buổi chiêu đãi ở Đại sứ quán Mỹ, ông đã bị ngăn chặn bởi lực lượng công an. Lúc đầu là những lời lẽ rất lịch sự bởi những người xưng là công an. Nhưng sau đó:
“Nhưng sau khi lý luận một hồi, tôi vẫn cứ đi thì họ xô vào và nói tao là côn đồ đây, mày không được đi. Đi ra là đánh.”
Cho đến giờ phút này, chưa có kết luận nào khác do cơ quan chức năng đưa về vụ việc của nạn nhân Phạm Đặng Toàn ngoài kết quả “chết vì chạy quá sức.” Trong khi đó, rất nhiều ý kiến tiếp tục chia sẻ truyền nhau trên cộng đồng mạng cho biết họ đang chờ Bộ trưởng Bộ công an có câu trả lời thoả đáng cho sự việc này.

Các đảng viên quèn hãy mở mắt ra mà nhìn nè! Đừng làm con chó bảo vệ cho bọn chóp bu vơ vét nữa.
“Trước Đại hội ĐCSTQ lần thứ 18, Phó Chủ tịch nước Trung Quốc – ông Lý Nguyên Triều đã làm một cuộc điều tra cho thấy, người nhà con cái của Ủy viên Hội ủy viên Trung ương, Ủy viên Dự khuyết, Ủy viên Ban Kỷ luật Trung ương khóa 17 đều đã định cư, mua nhà ở nước ngoài, chuẩn bị vứt bỏ chức quan chạy trốn sang nước ngoài chiếm trên 85%.
Từ sau ‘sự kiện Lục Tứ’, có thể nói là ĐCSTQ dưới ảnh hưởng tham nhũng trị quốc của Giang Trạch Dân đã xuống dốc mau chóng, số lượng quan chức hủ bại sa ngã ngày càng nhiều, hơn nữa còn đảm nhiệm chức vụ cấp cao khiến người ta trố mắt không nói nên lời! Vậy nên ông Tập Cận Bình trong một lần Hội nghị đã nói, cần phải thừa nhận rằng đảng của chúng ta đã đi đến bờ vực vong đảng”.
Báo cáo nội bộ ĐCS Trung Quốc: 2,2% Đảng viên đạt chỉ tiêu, nguy cơ vong Đảng đã cận kề.
Trang tạp chí “Động Hướng” của Hồng Kông năm 2012 đã từng trích dẫn thống kê được thực hiện trong cơ cấu giới chức cao cấp nội bộ nhà nước Trung Quốc, kết quả điều tra phát hiện, 90% Ủy viên Trung ương đều đã có họ hàng di dân ra nước ngoài.
Theo số liệu trong “Báo cáo của điều tra nghiên cứu giám sát ‘lõa quan’” trong nhà nước Trung Quốc, có 38,9% nhân viên công chức thừa nhận vợ (hoặc chồng) có quốc tịch nước ngoài hoặc quyền tạm trú lâu dài ở nước ngoài, ngoài ra 46,7% nhân viên công chức cho rằng con cái họ có thể có được quốc tịch nước ngoài hoặc quyền tạm trú lâu dài, trong đó cấp bộ tỉnh, cấp bộ sở, cấp bộ huyện đều vượt trên phân nửa (53,3%, 53,4%, 51,7%), hơn nữa chức quan càng cao, càng công nhận điều này.
4-1-2017
Người thanh niên này không thể chạy một cách liên tục tới 42.6km như ông Marathon năm xưa khi đưa thư báo tin chiến thắng quân Ba Tư mà lăn ra chết tức tưởi như thế được.
Tính mạng con người đâu phải như cái kim sợi chỉ hay loài vật để mà vội vàng kết luận chỉ trong một vài tiếng đồng hồ với lý do chạy quá sức dẫn đến tử vong?
Nếu chúng ta có lực lượng nhà báo điều tra độc lập, lực lượng thám tử hay thanh tra, lực lượng cảnh sát quốc gia không đảng phái thì đây chính là lúc phát huy giá trị của họ.
Luật pháp muốn được thượng tôn thì bắt buộc phải có những cơ chế/thiết chế độc lập với đảng phái để giám sát và thực thi nghiêm minh trên thực tế. Công an và quân đội đã thề luôn trung thành với tôn chỉ “còn đảng còn mình”, mà đảng thì lại với cương vị lãnh đạo toàn diện nhà nước và xã hội, không một cơ quan quyền lực, truyền thông hay hội đoàn nào độc lập với đảng, thì chính điều đó đã làm cho những thiết chế đang tồn tại trở nên khó lòng mà khách quan trong nhiệm vụ và chức trách của mình.
Mạng người, cần được bảo vệ trong bất kể hoàn cảnh nào, ngay cả khi họ đang là bị can, bị cáo với các cáo buộc phạm tội thì vẫn cần được bảo đảm những quyền căn bản nhất của một con người, đó là quyền sống và không bị xâm hại về tính mạng, sức khoẻ, không bị ngược đãi hay xúc phạm nhân phẩm, danh dự. Đó là các quyền tự nhiên tối thiểu được Hiến định chứ không chỉ là những nhu cầu mơ hồ của một con người trước một nhà nước mà được chính nhân dân của mình thiết lập nên và nuôi sống.
Cần có cuộc điều tra độc lập vụ việc này để đảm bảo cả hai thứ:
1. Để làm rõ có hành vi phạm tội hay chỉ là hành vi mang tính sự biến tự nhiên;
2. Bảo vệ hình ảnh lực lượng công an và cũng làm rõ sự thật để không làm suy giảm niềm tin của dân chúng.
_____
4-1-2017
Anh Phạm Đăng Toàn chết đêm 2/1 (ảnh cắt từ clip).
Người dân ở huyện Tuy Phước, Bình Định, vây đánh hai công an viên vì nghi họ làm chết một thanh niên địa phương nhưng công an nói anh này chạy quá sức chết.
Sự việc xảy ra hôm 2/1 đang gây tranh cãi trong dư luận mấy ngày nay.
Theo truyền thông trong nước, vào tối 2/1 tổ công tác của công an huyện Tuy Phước gồm sáu người đi tuần tra trên các đoạn đường thuộc địa bàn huyện theo “kế hoạch bảo đảm an ninh trật tự trong dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán”.
Tổ công tác này phát hiện thấy một nhóm người đang đánh bầu cua (một hình thức cờ bạc), khi thấy công an thì bỏ chạy.
Một trong những người tham gia đánh bạc, anh Phạm Đăng Toàn, 29 tuổi, sau đó bị phát hiện đã chết trong tình trạng tím tái.
Báo Thanh Niên dẫn lời ông Phạm Đặng Tiến, anh ruột của anh Toàn, cho hay “khi thấy công an triệt phá sòng bầu cua, anh Toàn có bỏ chạy nhưng bị bắt lại và sau đó tử vong”.
Nghi anh Toàn bị công an đánh, người dân đã vây đuổi và đánh hai công an viên bị thương.
Clip mà một người dân quay tại hiện trường sau đó đăng lên Facebook và YouTube trước khi gỡ đi cho thấy công an đang bị người dân tấn công.
Ngày 4/1, cơ quan pháp y tỉnh Bình Định công bố kết quả khám nghiệm tử thi anh Phạm Đăng Toàn, kết luận anh này tử vong là “do chạy quá sức dẫn đến không đủ oxy cung cấp cho phổi… dẫn đến phù phổi, phù não; hoàn toàn không có dấu vết của tác động ngoại lực”.
Người quay clip công an bị dân đánh, chị Nguyễn Thị Thắm ở huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, cũng lên mạng “xin lỗi bà con quê hương và toàn bộ những người tham gia Facebook” về việc đã đăng clip gây hiểu nhầm là công an đánh chết anh Toàn.
Tuy nhiên kết luận pháp y và lời xin lỗi này không đủ dập tắt nghi vấn anh Phạm Đăng Toàn bị đánh chết vì thanh niên này được biết còn trẻ, khỏe, không có tiền sử bệnh tật và quãng đường được cho là đã chạy trốn công an từ nơi có sòng bầu cua tới nơi được phát hiện ngã gục quá ngắn (trên 100m) để bị quá sức.
Một yếu tố thêm vào đó là dư luận lâu nay khá bức xúc về tình trạng bạo hành của công an.
Phúc trình hồi tháng 9/2014 của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) nói có “bốn nạn nhân mất mạng và bốn người chết không rõ nguyên do, sáu người được cho là ‘tự tử’ và bốn người nữa chết ‘vì bệnh’” trong các trại giam và đồn công an.
Kính mời Bà con đọc bài viết giá trị dưới đây. Xin chú ý đoạn: “Mười viên chức cao cấp thuộc Đảng CSVN chủ trương đàn áp Nhân quyền mạnh mẽ nhất là (1) Nguyễn Tấn Dũng (Thủ tướng 2006-2016); (2) Trần Đại Quang (Bộ trưởng Công an 2011-2016, Chủ tịch nước từ 2016); (3) Lê Hồng Anh (Bộ trưởng Công an 2002-2011); (4) Tô Lâm (Bộ trưởng Công an từ 2016); (5) Nguyễn Văn Hưởng (Thứ trưởng Công an, Phái viên Tư vấn cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về an ninh và tôn giáo 2001-2013. Bạn gái của Nguyễn Văn Hưởng là Hồ Thị Thu Hồng, còn gọi là Hồng Beo, bị cách chức Tổng biên tập báo Thể Thao TP Hồ Chí Minh do tham nhũng, được Hưởng bố trí cho sang Mỹ, hiện mở quán ăn tại California); (6) Trương Hòa Bình (Chánh án Tòa án Tối cao 2007-2016, Phó Thủ tướng từ 2016); (7) Nông Đức Mạnh (Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam 2001-2011); (8) Nguyễn Phú Trọng (Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam từ 2011); (9) Lê Thanh Hải (Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam TP Hồ Chí Minh 2006-2015); (10) Phạm Quang Nghị (Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam TP Hà Nội 2006-2016)”
