“Hương xông lên lời ca ngợi sum hòa”

Ave Maria! Như Song Lộc Triều Nguyên – Thơ: Hàn Mạc Tử, Nhạc: Hải Linh

Video 

httpv://www.youtube.com/watch?v=YUTwJDYzYNc

Suy tư tuần thứ 4 mùa thương niên năm nay, lại đã thấy giòng thi-ca những chảy dài rằng:

 “Hương xông lên lời ca ngợi sum hòa”

Người có nghe xôn xao muôn tinh tú

Người có nghe náo động cả muôn trời?

Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời

Để ca tụng , bằng hương hoa sáng láng.”

Thơ ngâm rồi, người tìm đến với âm-nhạc, mà ca/hát những lời như:

“Vầng trăng từ độ lên ngôi”
năm năm bến cũ em ngồi quay tơ
em ngồi quay tơ
Quay đều..quay đều..quay đều..”

Thế nghĩa là, có ngâm thơ và ca hát lời gì đi nữa, cũng chỉ để gửi đến bà con ta trong thánh hội Nước Trời một niềm vui ẩn tàng một dáng dấp rất “quay đều” của thơ và “tơ” cứ quay hoài và quay mãi đến hết đời.

Thế nghĩa là, dù bạn và tôi, ta có “quay đều” niềm vui Tin Mừng đến thế nào đi nữa, thì đời người và đời mình cũng theo đó mà nhận lãnh những tâm-can hoặc nỗi niềm của nhà Đạo, rất nên thơ.

Thế đó, lại là tâm tình của người đang lặn l65i miền sâu miền xa đất Úc, gửi về bà con thân thương còn ở nhà đang vui sống.

Mai Tá

Từ miền xa bên Tây Úc xin được trân trọng gửi những tâm-tình như thế đó.

www.giadinhanphong.com
Suy Tư Tin Mừng Trong tuần thứ 4 thường niên năm A 29/01/2017

Tin Mừng: (Mt 5: 1-12a)

Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Ngài ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Ngài mở miệng dạy họ rằng:
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành,
vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ,
vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính,
vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
Phúc thay ai xót thương người,
vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hoà bình,
vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,
vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại
và vu khống đủ điều xấu xa.
Anh em hãy vui mừng hớn hở,
vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

 +      +      +      +

“Hương xông lên lời ca ngợi sum hòa”

Người có nghe xôn xao muôn tinh tú

Người có nghe náo động cả muôn trời?

Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời

Để ca tụng , bằng hương hoa sáng láng.

(dẫn nhập từ thơ Hàn Mặc Tử)

 Thơ mầu nhiệm ra đời, nghe xôn xao náo động muôn tinh tú. Náo động, phải chăng người thi sĩ muốn nói đến mầu nhiệm cứu chuộc dân gian nơi trần thế? Bằng Hiến Chương/Cương Lĩnh Nước Trời?

Trình thuật Cương Lĩnh hôm nay, là những chương đoạn về hạnh phúc ở trần gian. Nơi đất miền thân thương, dẫy đầy phúc đức có chen lẫn những cực hình. Hiến chương/Cương lĩnh Nước Trời mà thánh sử lược ghi, là để người người được thấy dung mạo Đức Chúa, một Mô-sê rất mới.

Giống hệt như Môsê thời buổi trước, Đức Giê-su nay khởi đầu cuộc đời Ngài giảng rao bằng 5 bài giảng thuyết có những đề xuất, rất nghịch thường. Giống hệt như sách Ngũ Thư của Cựu Ước, Hiến chương Hạnh phúc Chúa ban hành trên non cao chốn núi vắng, là để tỏ bày cho người Do thái biết về đường lối Chúa dạy. Tức, những điều Ngài muốn ta thực hiện, trong cuộc sống.

Bài thuyết giảng đầu đời Chúa tuyên bố, không là băng hình đậm nét về những sự kiện vừa xảy ra trên núi thánh. Mà, là sưu tập tóm tắt những lời vàng Thầy gửi đến với đồ đệ rất thân thương. Lời Thầy khuyên dạy sẽ giúp những ai dấn bước theo Thầy, biết đường nghe theo mà sống những chuỗi ngày hạnh phúc, với anh em. Núi thánh ở đây, là địa điểm Thầy ban hành Hiến Chương mới. Là, điểm mốc lịch sử nơi diễn tiến mọi sự kiện đổi đời, có từ Thầy.

Vị thế Thầy ngồi khi tuyên bố Hiến Chương Hạnh Phúc, nói lên quyền uy rất mực của Đấng Vị Vọng, rất Tối Cao. Cách Chúa ngồi giảng rao, còn diễn tả quyền uy thế thượng mà các vị cha chung trong Giáo hội, vẫn đương làm khi có phán quyết quan trọng, gửi đến con dân. Phán quyết quan trọng, là quyết định có liên quan đến cuộc sống hạnh phúc của mỗi người, cho mọi người.

Phán quyết Chúa ban, là Hiến Chương còn hệ trọng hơn cả Mười Điều Giáo Lệnh Mô-sê rao truyền, vào thuở trước. Các giáo Lệnh Mô-sê chuyển giao, là luật sống cho con dân Do Thái để thi hành, không mấy khó. Không khó, vì luật là luật chẳng cần đến tình thương, chẳng cần phải tôn trọng. Cứ theo phương cách vị kỷ, tập trung vào chính mình. Hệt như thái độ chàng thanh niên rất giàu mà Tin Mừng từng nhắc đến: anh giữ trọn đủ 10 điều, từ hồi nhỏ. Giữ, nhưng chẳng cần tình thương yêu tha thứ. Anh là công dân tốt, nhưng không thể là đồ đệ đúng nghĩa của Chúa.

Hiến chương Thầy công bố, không là giới lệnh rất dễ làm. Tuy rằng, mỗi điều khoản bắt đầu bằng cụm từ “Phúc thay!”. Cụm từ này, xuất xứ từ tiếng Hy Lạp makarios, hoặc felix, tiếng La-tinh, cả hai bao hàm ý niệm hạnh phúc, rất cao trọng. Muốn am hiểu niềm hạnh phúc Chúa tuyên ban, có lẽ cũng nên am tường bối cảnh Nước Trời, Ngài tỏ bày. Tức, cần có tương quan tốt đẹp giữa ta và Đức Chúa. Cần chấp nhận Ngài là Chúa, Đấng hướng dẫn cuộc đời mà mọi người nên giữ.

Về bối cảnh Nước Trời, không chỉ người giàu sang, thành đạt hoặc quyền uy mới là người cao trọng, nhiều hạnh phúc. Trái lại, chỉ người hiền biết chấp nhận khổ đau mới đích thực là người được Chúa chúc phúc. Đây, không hẳn là hiến chương bình thường, cho muôn nước. Nhưng là Hiến Chương Hạnh Phúc Nước Trời Chúa đã ban. Hiến chương Hạnh Phúc Ngài ban, chú trọng nhiều đến nhu cầu thiết thực đổi thay cách sống. Đổi cả quan niệm về giá trị cuộc đời. Giá trị, nơi uy lực của kẻ yếu mềm, bị bỏ rơi.

Tìm hiểu ý nghĩa đích thực của Hiến Chương Hạnh Phúc, mọi người sẽ nhận ra điều Chúa thách thức lối suy tư bình thường, theo qui ước. Có tìm và có hiểu, ta mới thấy được ý nghĩa Ngài đưa ra:

*Hạnh phúc thay, người có tinh thần khó nghèo vì Nước Trời là của họ: người có tinh thần khó nghèo chính là người biết phó mặc hoàn toàn cho Đức Chúa. Có thái độ như thế, người người mới thực sự bước vào triều đại của Ngài. Không ỷ vào những gì mình đang có.

*Hạnh phúc thay cho người sầu khổ, vì họ sẽ được ủi an: sầu buồn và khổ đau nói ở đây, không là tâm trạng của người vừa có mất mát. Mất bạn bè. Mất người thân. Nhưng, còn vì ác thần/sự dữ cứ xảy đến với thế giới nhân trần. Nên, sầu buồn và khổ đau vẫn cứ đến. Hạnh phúc, là bởi họ vẫn cùng với mọi người đã giáp mặt khổ đau. Giáp mặt và sẻ san, chứ không bỏ chạy.

*Hạnh phúc thay cho người mềm yếu, vì họ sẽ thừa hưởng trái đất này: cụm từ “mềm yếu” trong Tin Mừng thánh Mat-thêu xuất từ tiếng Hy Lạp praus có nghĩa là: từ bi, bác ái. Trái ngược hẳn tính kiêu căng trịch thượng, chèn ép hoặc bạo tàn. Điều Chúa nói, ám chỉ sự tôn kính, tính hiền hoà phải có, với mọi người. Đây, còn là thái độ lùng kiếm bản chất thiện căn hầu tỏa sáng khắp nơi. Điều này trái với tính nhút nhát, đớn hèn mà người Do Thái đương thời thường lây nhiễm.

 *Hạnh phúc thay, những ai đói khát sự công chính, vì họ sẽ được no đầy: điều Thầy Chí Thánh muốn nói, là: những ai sống ở đất miền ứ tràn những của ăn cùng thức uống, sẽ chẳng bao giờ có được kinh nghiệm về sự đói khát người dân vùng sa mạc, vẫn hứng chịu. Người đói khát sự công chính mà Chúa nói, từng hiến trọn công sức và cuộc đời ngõ hầu tái tạo công bằng và bình an ở xã hội, họ đang sống. Những người như thế, chắc chắn thuộc về Triều đại Nước Trời. Làm Chúa yên vui.

 *Hạnh phúc thay,những ai có lòng thương xót vì sẽ được xót thương: đây không cốt ý chỉ sự thương hại hoặc cảm xúc hời hợt, nhưng là tâm tình thương cảm sẻ san. Tâm tình bước vào với nỗi niềm buồn đau, nơi người khác. Những người như thế, chắc chắn sẽ được Chúa đoái thương. Ở đoạn khác trong Tin Mừng, Đức Giê-su cũng khuyên môn đệ mình bắt chước lòng thương yêu của Đức Chúa. Điều này có nghĩa: ta hãy bỏ qua một bên mọi thành kiến lẫn ác cảm. Bỏ mọi ghét ghen miệt thị trong giao tiếp, đối xử.              

 *Hạnh phúc thay, những ai có tâm hồn trong trắng vì họ sẽ được diện kiến Đức Chúa: trong trắng ở đây không là sự trinh trong xác thịt. Nhưng, nhìn sự vật với cặp mắt không thành kiến, méo mó. Không kỳ thị hoặc có đầu óc hẹp hòi như các luật sĩ đầy xung khắc, vị kỷ. Có tâm hồn trong trắng, là người nhận ra tình yêu Đức Chúa đang ở với họ. Người như thế quả thật họ đang có phúc.

 *Hạnh phúc thay, những người biết dựng xây hòa bình, vì họ được gọi là con Thiên Chúa. Hạnh phúc là phúc cho ai hoạt động cho việc hòa giải, hòa hợp ở khắp nơi. Hòa giải – hòa hợp, không chỉ bãi bỏ tâm tình kình chống mà thôi. Nhưng còn là, đến với nhau. Chữa lành cho nhau. Cùng nhau kiến tạo sự hòa hoãn trong gia đình. Nơi phố chợ. Tại công sở. Ở chốn thị thành. Bình an trong chung sống, không để cho bất cứ ác tậm sự xấu được tồn đọng với nội tâm. Sự xấu, chính là thành kiến, xung khắc, kỳ thị; và cả đến những khai thác, bóc lột nữa. Tóm lại, có dựng xây hòa bình, mới tự nhận mình là dân con Đức Chúa.

 *Hạnh phúc thay, những người bị bách hại vì sự công chính, bởi Nước Trời thuộc về họ: ở đây, có lẽ có người sẽ hỏi: tại sao kẻ đau buồn cực khổ lại được Chúa chúc phúc? Lý do, những gì khiến họ đau buồn cực khổ là vì Tin Mừng. Do sự công bình và lành thánh, Tin Mừng Ngài đem đến. Người chịu đựng khổ đau, là cốt đem chân lý và bình an đến với thế giới nhân trần. Làm thế, họ đem niềm an vui hạnh phúc đến cho ta. Niềm vui ta có được, khi đã hoàn thành mục đích Ngài giảng rao. Lịch sử nhân loại dẫy đầy gương sáng của những người như thế. Ở Ấn Độ, Trung và Nam Mỹ, và khắp nơi. Đâu đâu cũng thấy những gương lành thánh những người như thế. Thế kỷ 20 là thế kỷ sản sinh nhiều gương lành tử đạo hơn các thế kỷ trước. Các vị, đã chấp nhận tử đạo vì niềm tin. Vì bình an và công bình. Ngày nay, nhiều người vẫn chấp nhận hy sinh thân xác cho lý tưởng cao đẹp, hơn bao giờ.

Hiến Chương Nước Trời, quả thật sâu sắc. Rất cao đẹp. Hiến chương vẫn kêu mời mọi người kiến tạo tương quan mật thiết, giữa ta với Chúa, với mọi người. Hiến chương cũng đòi ta quan tâm sâu sắc, tham gia dựng xây thế giới đương đại cho tốt đẹp. Và, kêu gọi mọi người hãy tìm cách biến đổi thế giới thành nơi ngập tràn tình yêu thương. Ngập tràn chân lý công bình và lòng xót thương. Đầy ngập sự tự do và hài hòa giữa mọi người. Đó là ý nghĩa của Hiến Chương Hạnh Phúc. Của Cương Lĩnh Nước Trời. Là mục tiêu của cuộc sống. Sống hạnh phúc đích thật.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cầu cho mỗi người và mọi người sẵn sàng tham gia dựng xây Nước Trời đầy hạnh phúc, ở nơi đây. Nơi ta chung sống, chốn gian trần. Trong tinh thần ấy, ta cùng cất tiếng hát lên bài ca tạ ơn khi xưa:

“Ôi ơn đời chói vói, nhớ khi thân tròn ôm gối

Ba trăm ngày trong gói, ngóng trông ra đời góp mối chung vui

Ôi ơn đời mãi mãi, thoát theo đời vun sới

Bao nhân tình thế giới, lớn lên trong vườn ân ái muôn đời.”

(Phạm Duy-Tạ ơn đời)

Tạ ơn đời. Nhưng, đích thực là tạ ơn Người. Tạ ơn Thầy đã ban cho mọi người Hiến Chương Hạnh Phúc Nước Trời. Hiến Chương “xông lên lời ca ngợi sum hoà”. Rất yêu thương.

 Frank Doyle sj biên-soạn – 

Mai Tá lược dịch 

“Vầng trăng từ độ lên ngôi”

Chuyện Phiệm Đọc Trong Tuần thứ 4 mùa Thường niên năm A 29/01/2017

 “Vầng trăng từ độ lên ngôi”
năm năm bến cũ em ngồi quay tơ
em ngồi quay tơ
Quay đều..quay đều..quay đều..”

(Nhạc: Phạm Duy/Thơ: Lưu Trọng Lư – Vầng Trăng Sầu Rụng)

 (Cv 3: 25-26)

 Trăng sầu nên trăng rụng, phải thế không anh? Và, khi trăng đã rụng rời hay rụng rồi, thì đâu còn sầu với đau nữa, phải vậy không em? “Năm năm bến cũ”, chắc em vẫn còn quay tơ hay quay cuồng một đời người, đấy chứ nhỉ? Quay cuồng cả một đời, vẫn là chuyện bạn và tôi nên lưu tâm/chú ý đến độ rụng rời cả mùa trăng, thôi!

Rụng thì rụng, nay mời bạn/mời tôi, ta nghe thêm câu hát nữa, rồi sẽ tính. Nghe, thế này đây:

“Để tóc rối vần câu thơ sầu rụng,
mái tóc cũng buồn theo thơ.
Cũng buồn theo thơ.
Quay đều..quay đều..quay đều..

Năm năm tiếng lụa se đều,
trong cây gió lạnh đưa vèo.
Hằng năm tiếng lụa đưa theo,
đêm đêm gió rét đưa vèo trong cây,
đưa vèo trong cây.
Quay đều..quay đều..quay đều..

Nhẹ tay nhè nhẹ đôi tay,
hương thơm lối xóm bay đầy thinh không,
bay đầy thinh không.
Quay đều..quay đều..quay đều..

Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng.
Quay đều..quay đều..quay đều..
thời gian lặng rót một giòng buồn tênh.
một dòng buồn tênh.
Quay đều..quay đều..quay đều…”

(Phạm Duy – bđd)

“Thời-gian lặng rót một giòng buồn tênh”. Ôi thôi là buồn. Dù có bảo, đó chỉ là thơ và nhạc cùng những ý/từ của nhiều văn thơ/nhạc bản ở đời, khiến con người thêm “hỷ, nộ, ái, ố, ai hoan lạc” đủ bảy thứ tình. Duy, có một thứ tình-tự vẫn linh-tinh tạo nỗi “buồn đời người”, được một tác-giả khác đưa vào truyện kể, như sau:

Bà vợ trẻ lúc nào cũng áy náy lo âu sợ chồng không yêu thương săn sóc, bà bị tư tưỡng tiêu cực lúc nào cũng ám ảnh đưa đến bệnh nặng phải vào viện. Tại bệnh viện sau nhiều xét nghiệm , bác sỉ cho chồng bà biết rằng: “ Ông ko tìm ra bất cứ triệu chứng bệnh gì!

 Thể xác bà khỏe mạnh không có dấu hiệu bệnh nào cả “ Bệnh của bà thuộc loại tâm thần. Giữa 2 người đã nghĩ ra một cách bí mật. Họ mời một cô y tá rất trẻ đẹp săn sóc cho bà. Sau đó ông chồng thử ý bà vợ và nói rằng:

Em yêu, em luôn trăn trối với anh rằng: – Để cho anh được hạnh phúc nếu không may mà em có mệnh hệ gì. Em à, anh đã suy nghĩ k, anh đã tìm được một người mà người đó s thay cho em được để làm cho anh hạnh phúc . Anh tin tưởng rằng cô y tá trẻ đẹp săn sóc cho em đó có thể trở thành người làm cho anh hạnh phúc.

 Sau một thời gian ngắn ngủi thôi, phép lạ đã xy ra, vợ anh bình phục và đòi xuất viện ngay về nhà!

 Chuyện “phép lạ xảy ra” cho bạn và cho tôi, vẫn là chuyện đời thường hoặc chuyện bên lề cuộc đời của mọi người. Thế nhưng, có một “sự-kiện lạ” ít xảy ra ở nhà Đạo, mà quan-viên các cấp cứ là hay thắc mắc/nghĩ-ngợi về chuyện “4 hồng-y giáo-chủ của Đạo đã tỏ ý bất đồng với Đức Giáo Tông về thông-điệp Amoris Laetitia” cách đây không lâu. Nay, Đức Thày John Flader ở Sydney đặt câu hỏi/đáp rất như sau:

“Thưa, hôm rồi có bài viết trên báo nói rằng: 4 hồng y nọ viết thư yêu-cầu Đức Giáo Hoàng làm sáng tỏ những điều ngài viết trong thông-điệp Amoris Laetitia về hôn-nhân và gia-đình, khiến nhiều vị hết sức ngỡ ngàng. Xin hỏi, phải chăng đây là dấu hiệu khá khiếm-nhã đối với Đức Giáo-hoàng hoặc vẫn là chuyện bình thường trong Đạo?

 Và, Đức thày Flader, đã trả lời như sau:

“Nhiều vị đã luận-bình về vấn-đề này, ở đây đó, nên tôi nghĩ: ta cũng nên làm sáng-tỏ sự-kiện vừa xảy ra để có một lập-trường chính-xác hơn.

 4 hồng-y nói đây, lâu nay vẫn được mọi người trong Đạo kính-nể, đó là: Hồng y Walter Brandmũller, nguyên Chủ-tịch Uỷ-Ban Giáo-hoàng về Khoa-học Lịch-sử; Hồng y Raymond Burke, nguyên là niên-trưởng Toà Án Tối Cao của Vatican gọi là Signatura, Hồng y Carlo Caffara, Tổng Giám-Mực hồi-hưu của Bologna và Hồng y Joachim Meisner Tổng Giám-mục Cologne nay hưu-dưỡng. Trong buổi phỏng vấn trên mạng, dành cho cơ-quan có tên là Ban Hành-Động Công Giáo về Niềm Tin và Gia Đình hôm 14/11/2016, Hồng y Burke có giải-thích lý-do tại sao các hồng-y như ngài lại đã yêu cầu Đức Giáo Hoàng làm sáng-tỏ sự việc nói ở đây.

 Hồng y Burke từng giải-thích rằng: khi có ai nghi-ngờ hoặc quan-ngại điều gì về một số vấn-đề niềm tin hoặc luân-lý; hoặc đặc-biệt hơn, về ý-nghĩa xác-đáng ở văn-bản nào đó trong các tài-liệu của Toà Thánh, thì thông thường là: các giám-mục, linh-mục hoặc ngay đến giáo-dân cũng nên yêu-cầu Đức Giáo Hoàng giải-thích cho rõ. Đây là mộng-ước bình-thường của giáo-dân thường-tình không theo cách “sách mé”, thiếu tôn-kính.

 Thật ra thì, Đức Giáo Hoàng từng có những lời phát-biểu đưa ra, là để đáp trả những thắc-mắc tương-tự. Những năm về trước, các phát-biểu tương-tự đều từ các nhóm hội/ ban ngành hoặc đoàn-thể như: Uỷ-Ban Kinh-Thánh về ý-nghĩa các đoạn-văn trong thánh kinh, Uỷ-ban Giáo Hoàng về Văn-bản Luật-Pháp có trọng-trách giải-thích các điều-khoản của Giáo-luật và Thánh-bộ Tín-Lý Đức Tin cũng có trách-nhiệm về các vấn-đề về niềm tin của mọi người.

 Hồng y Burke có nói: Thông-điệp Amoris Laetitia từng nêu lên một số thắc mắc và nghi-ngại có trong đầu các Giám mục, linh-mục và giáo-dân, mà một số những điều như thế từng đệ-đạt lên Đức Giáo Hoàng và được công-khai bàn-bạc. Trường-hợp nói ở đây, bốn hồng-y đã chính-thức trình-bày lên Đức Giáo-hoàng 5 câu hỏi nền-tảng hoặc còn gọi là mối nghi-ngại về tín-điều và luân-lý đặt nền-tảng trên việc đọc thông-điệp “Amoris Laetitia” như thế nào. Đức Hồng-y công-nhận rằng: ngay bên trong Giám-mục-đoàn cũng có nhiều vị bất-đồng với nhau về cách giải-thích chương 8 của thông điệpAmoris Laetitia và vì thế, các vị này mới cần đến Đấng Bản-quyền làm sáng-tỏ cách chính-thức. Nên, các ngài mới chính-thức gửi một bản sao bức thư đến Hồng Y Gerard Mũller, Bổ trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin.

 Nhiều ngày trôi qua mà không thấy có câu trả lời, các Hồng-y mới quyết-định để cho quần-chúng biết sự việc này để họ có thể bàn-luận với mọi tín-hữu Công-giáo, đặc-biệt là các Giám-mục. Các Hồng-y đây cũng đã sử-dụng từ-vựng chính-xác về thần-học qui-chiếu về các tài-liệu trước đó của Giáo-hội. Ta có thể tóm tắt như bên dưới:

 Thứ nhất, có thể nào Giáo hội ta cho phép xá-giải bằng bí tích Hoà-giải và cho phép những người từng ly-dị và có gia-thất mới và đang có tương-quan hôn-phối với nhau được rước lễ chứ?

 Thứ hai, là: có phải các điều-luật về luân-lý chặt-chẽ vẫn cấm-đoán các hành-động của sự ác ngấm-ngầm bên trong và đang ràng buộc mọi sự không biệt-lệ?

 Thứ ba nữa, có thể nào khẳng-định rằng người nào đó vẫn có thói quen sống chống lại lại giới răn của Chúa, chẳng hạn như luật cấm ngoại tình, vẫn ở vào đối-tượng của tội trọng?                            

 Thứ tư, phải chăng vẫn là trường-hợp cảnh-huống hoặc ý-định không bao giờ có thể thay-đổi một hành-động ngấm-ngầm tội-ác như việc “đối-đế” đã là đối-tượng của hành-động chủ-quan là tốt hoặc có thể biện-hộ được như một chọn lựa được?

 Thứ năm, phải chăng vẫn là chuyện đúng bảo rằng lương-tâm không bao giờ cho phép có luật trừ để xá-giải các luật-lệ về luân-lý khiến cấm ngặt hành-động nào ngấm-ngầm là tội ác do có tác-dụng là đối-tượng của họ được chăng? 

Các hồng-y nói trên cảm thấy rằng lời lẽ trong thông-điệp Amoris Laetitia đã bỏ qua những nguyên-tắc căn-bản của nền luân-lý Công-giáo vẫn dạy phải cởi mở đối với vấn-đề này; chính vì vậy, các ngài mới cần câu đáp trả của giới chức có thẩm-quyền. Không phải là Đức Giáo Hoàng đã công khai chối bỏ bất cứ nguyên-tắc nào trong đó nhưng là vì có một số các giám-mục và thần-học-gia đã giải-thích tài-liệu của ngài theo cách sao đó khiếm có người hiểu là ngài đề-xuất rằng những điều đó đã được mở rộng cho dư-luận thắc mắc.

 Xin mọi người cầu nguyện để vấn-đề nêu trên được giải-quyết theo cách nào đó để rồi không còn ai tỏ ra thắc mắc điều gì nữa.” (X. Lm John Flader, What on earth is going on with the pope and those cardinals?, The Catholic Weekly Question Time, 11/12/2016 tr. 24)  

Chuyện giải-đáp thắc mắc cùng khiếu nại, bao giờ cũng không đơn giản khiến người thường ở huyện có thể hả hê, hiểu mọi chữ. Chuyện thế-gian hay đạo hạnh trong luồng đôi khi cũng không dễ hiểu hoặc dễ theo như các đấng bậc mình kỳ vọng.

Chuyện mình và chuyện mọi người sống ở đời, nhiều lúc sẽ dễ hiểu và dễ theo hơn, nếu được kể bằng truyện kể có đính kèm nhiều phẩm-bình khá xác đáng mỗi khi nói về hạnh-phúc của nhiều người, rất ở đời, như câu nói: “Hạnh phúc không nằm trong thành-tựu hay đổi đời, nó không nằm ở bên ngoài mà nằm trong sự xác tín của chúng ta.

 Tựa như lời bàn về hạnh phúc của con người là thứ phúc hạnh giữa vợ và chồng, lại được quan-niệm một cách khác, như sau: 

“Tình cảm lớn nhất của một người là tình cảm vợ chồng, và sự kết nối ý nghĩa nhất cũng chính là sợi dây kết nối giữa vợ và chồng.

 Lòng khoan dung vô bờ bến nhất là lòng khoan dung mà vợ chồng dành cho chau; sự nhường nhịn ân cần nhất cũng là sự nhường nhịn giữa hai vợ chồng; và sự quan tâm không thể thiếu của một người cũng chính là sự quan tâm giữa vợ và chồng.

 Người ta ví hôn nhân giống như một tách trà. Khi vợ chồng êm ấm thuận hòa thì tách trà mang vị ngọt, khi bền lòng vượt qua bão tố thì tách trà nồng đượm hương thơm…Ngay cả những tách trà đắng thì cuối cùng vẫn để lại vị ngọt trên môi. Khi vợ chồng cùng nắm tay bước đến cuối con đường, thì hết thảy những khổ đau trong đời đều tỏa ra hương vị!

 Sau khi kết hôn, vì những điều vụn vặt trong cuộc sống mà vợ chồng không thể tránh khỏi ma sát hay va chạm. Khi chung sống lâu dài, người chồng có thể thấy vợ mình không còn xinh đẹp bằng những cô gái khác, còn người vợ cũng nhận ra rằng chồng mình không còn lịch lãm như xưa…

Cũng có một số người, khi đã có trong tay tiền tài và địa vị sẽ đi tìm cho mình một bến đỗ mới mẻ hơn. Nhưng bạn đã bao giờ nhìn lại? Vợ mình khi xưa cũng là cô gái xinh đẹp trẻ trung, nhưng vì toàn tâm toàn ý với gia đình mới trở thành đóa hoa tàn úa?

 – Là người chồng, đừng bao giờ hỏi dáng vẻ yểu điệu thục nữ của vợ mình đã đi đâu mất?… Xin hãy quay đầu nhìn về phía các con, bởi vì cô ấy giờ đây đã là mẹ của các con mình rồi.

 – Là người chồng, cũng xin đừng bao giờ hỏi dung nhan xinh đẹp của vợ khi xưa đã đi đâu mất?… Là bởi vì cô ấy đã dốc sức chăm lo cho gia đình để bạn yên tâm gây dựng sự nghiệp lâu dài !

– Là người chồng, xin đừng trách vợ tại sao không thích đi dạo phố như xưa? Tại sao không thường xuyên mua quần áo đẹp như xưa?

– Cũng đừng trách cô ấy vì sao không được gọn gàng, chỉnh tề như thuở còn hò hẹn? … Đó là bởi vì người vợ giờ đây đã là người phụ nữ toàn tâm toàn ý cho chồng, cho con, cho gia đình,  không còn thời gian cho bản thân nhiều như xưa nữa!

 Một người vợ tốt luôn vì gia đình, vì người chồng mà cam tâm tình nguyện làm hết thảy, không cần báo đáp. Đó chẳng phải là vì người chồng chính là người mà cô ấy yêu nhất trên đời, là người cô ấy coi trọng nhất hay sao?

 Người vợ, người chồng luôn là người mà đêm khuya nóng ruột chờ đợi khi bạn chưa trở về, là người không ghét bỏ và rời xa khi bạn nghèo khó, luôn lặng lẽ ở bên bạn, cổ vũ khích lệ bạn, hỗ trợ bạn cho đến khi công thành danh toại. Khi bạn sinh bệnh, họ sẽ là người thời thời khắc khắc ở bên để chăm sóc bạn không quản ngày đêm.

 Đó chẳng phải đã đủ là ân nhân của nhau rồi sao?

Người vợ là con thuyền mang đến sự ấm áp cho chồng.

Người chồng là bến cảng mang đến sự bình an cho vợ.

Cho nên, bất kể một loại tình cảm nam nữ nào khác trên thế gian này đều không thể so sánh được với tình cảm giữa vợ và chồng!

 Hãy luôn yêu thương và trân quý người vợ, người chồng của mình,

Hãy cho họ một khoảng không gian và thời gian, đừng xem nhẹ hết thảy những gì họ đã làm cho bạn!

Yêu thương là phải trân quý, đừng để đến khi mất đi mới nhận ra những điều tốt đẹp của họ, lúc ấy hối hận cũng đã muộn màng!

 Thế đó, là lời lẽ cùng ý-niệm của người đời về chuyện đời, thật rõ nét. Thế nhưng, nhà Đạo mình nói thế nào về những chuyện như thế ấy? Trả lời cho câu hỏi này, thật không phải là chuyện đơn giản.

Thông thường thì, người người đều giải-quyết các khó-khăn/khúc mắc trong đời của mình và của người bằng những lý-luận hoặc lời giảng-giải này khác. Hôm nay đây, tôi mời bạn và cả tôi nữa, ta nghe câu truyện kể cũnt rất nhẹ, để xem sao. May ra cũng vui được một vài giây phút, dù chẳng giải-quyết được chuyện gì trong đời người và đời mình.

Truyện kể, đôi khi cũng là những giòng chữ nghe giống như truyện người khác từng kể cho mình, nhưng mình lại không tin. Truyện ấy nó nhẹ đến thế này đây:

“Truyện rằng:

Chiều đi làm về, trời nóng, anh tạt vào quán ngay gần công ty làm cốc café, chờ lát cho vãn người rồi về cho đỡ đông. Nhìn người ta chen chúc nhau mồ hôi nhễ nhại cũng ngán, lè lưỡi lắc đầu. Thế nên là thôi, nghỉ, làm hớp đã, đang khát! 

-Chú ơi đánh giầy không chú? 

-ưmmm… Anh vừa cúi ngậm uống hút vừa lắc đầu. 

-Rẻ mà chú, con chỉ xin cái bánh mỳ ăn cho đỡ đói thôi… 

-Giầy chú sắp cho vào bảo tàng đến nơi rồi, thử hỏi người khác xem nhé!

Anh cười nhìn nó, nó xị mặt nhìn anh, buông thõng 2 vai có vẻ mệt mỏi rồi thất thểu đi ra mé cửa ngồi. 

Mụ chủ quán ngồi ngay đó cất giọng chua ngoa: 

– Đi chỗ khác kiếm ăn đi 2 cái thằng kia! Chúng mày ngồi đó án ngữ thì ai dám vào hàng nhà tao nữa. Hãm vừa chứ!!!

Đúng là cái miệng xinh không đồng nghĩa với những lời nói đẹp. Nó hắt hủi thân phận của đồng loại. Anh với tay lấy chùm chìa khoá trên bàn gọi thanh toán, mình cũng đếch thèm ngồi ở cái quán này lần nào nữa luôn. Hãm!!!

Lao xe theo hướng 2 đứa nhỏ đi để tìm mà mãi không thấy. Quái! vừa thấy ở đây xong ngoắt cái đã không thấy đâu, bọn này nó bay đi chắc?? Anh tự hỏi. 

-Chú ơi… 

Anh giật mình, quay lại thấy thằng bé con đang ngồi sát ngay sau vách tường lúc nãy chìa tay ra.
-Sao lại ngồi đây? Anh cháu đâu? 

-Anh đi kiếm đồ ăn rồi, chú ơi …đói…!!!

Tội nghiệp, thằng bé còm nhom, chắc chỉ tầm 3-4 tuổi, bằng đứa cháu con ông anh trai anh là cùng. Đáng lẽ ra bây giờ nó phải đang được chăm sóc ăn uống đầy đủ, được đi mẫu giáo, có bố và có mẹ bên cạnh như bao đứa trẻ khác. Thế mà…

Anh lần túi quần ra được hơn 30k đưa cho nó: 

-Này cháu, cầm bảo anh đi mua đồ ăn cho nhé! 

-KHÔNG!!!

Chưa kịp đưa đến tay thằng bé thì thằng anh từ đâu chạy lại giật tay thằng em vào. 

-Con cám ơn chú nhưng anh em con không dám nhận đâu ạ. Bọn con đâu phải ăn xin. Chú có lòng tốt thì để con đánh giầy cho chú. Giọng nó có vẻ dứt khoát.

-Thế mày định để cho em nó đói chết à thằng kia?

Nó cúi gằm mặt xuống không nói gì. Thằng em thì cứ cầm lấy tay anh giật giật. Anh bước gần đến ấn tiền vào tay thì nó lại hẩy ra, xong quay ra ôm lấy thằng bé. 

-Thôi được rồi, Âyz, thế qua quán nước mía kia ngồi, chú trả công đánh giầy và mời 2 thằng nước mía. Được chưa?

Nó lí nhí: 

-Vâng, thế thì được ạ.

Vừa đặt cốc nước mía xuống bàn 2 đứa nó hút 1 mạch hết sạch, còn toàn đá. Anh quay qua chị bán nước giơ 2 ngón tay ý ra hiệu thêm 2 cốc nữa, chị hiểu ý ngay, gật lia lịa.

Đợi 2 cốc nước nữa đến, anh bắt chuyện. 

-Uống từ từ thôi không lạnh cổ, về đau họng đấy. Ngon không? 

-Dạ. Ngon ạ! Thằng bé con mút chùn chụt rồi quay sang anh. 

-Nước mía ngon quá anh hai, thế mà hôm trước anh bảo đắng lắm!

Nó cười hề hề rồi xoa đầu em. Thấy cốc thằng em đã gần hết, nó lấy cốc của mình đổ sang cho em.
-Ơ, anh hai không uống à? 

-Không, anh không thích uống nước mía. Em uống nốt đi.

Nó nhìn xuống chân anh. 

-Giầy chú bẩn quá rồi, con đánh giầy cho chú nha. 

-Ok! Hy vọng nó còn đánh được. Không cần sạch quá đâu.

Anh vừa tụt đôi giầy vừa xỏ đôi dép tổ ong nó đưa. Mặt nó đen nhẻm, nhưng nhìn kỹ khá sáng sủa.
– Cháu bao tuổi? 

-Tám chú ạ. 

-Tám?
-Dạ
-Quá nhỏ! 

Nó cười trừ – Con lớn rồi mà. 

-Mà sao cháu cứ xưng con với chú thế? Chú đâu quen cháu nhỉ. 

-Mẹ con bảo ra đường gặp người lớn phải xưng con hết, phải lễ phép với người lớn tuổi, mình không có gì thì cũng không để người ta coi thường được. Xưng con để thấy con người gần gũi nhau hơn chú ạ.

Anh tay chống cằm thở dài. Mình còn cố chấp hơn 1 đứa con nít. 

-Thế mẹ cháu… à con đâu? nhà ở đâu? 

-Mẹ con mất rồi ạ, gần 2 năm nay rồi. Nhà con ở đằng kia, nhưng bị phá rồi chú ơi. Người ta giải toả rồi, giờ tụi con ngủ ở sau chợ. 

-Thế bố? bố đâu? 

-Con không có bố. Lúc sinh ra đến giờ con chỉ biết có mẹ thôi. Con không được đến trường, mẹ dạy con viết, dạy con làm toán, cái gì mẹ cũng dạy con hết.

Nó vừa nói, 1 tay luồn vào trong giầy, 1 tay quệt xi thoăn thoắt, mặt trùng xuống. Anh cũng thôi, chẳng hỏi thêm nữa, quá khứ của mẹ nó chắc nó cũng chẳng biết đâu mà hỏi làm gì, nhưng trong đầu anh thì hiện lên cả đống giả thiết: nào là mẹ nó bị gã nào lừa xong không chịu cưới, bị nhà chồng hắt hủi hay cũng có thể người nhà ruồng bỏ… Nhưng có điều, anh chắc chắn đó là một bà mẹ tốt. Cứ nhìn cách thằng bé ăn nói và đối xử với người khác thì biết, hẳn nó phải bị ảnh hưởng rất nhiều từ mẹ. Anh bế thằng bé con lên cho ngồi lên đùi, nó cười, nụ cười như chưa từng được một lần như thế. Nó còn bé quá, còn chưa biết gì đang ở phía trước đợi chờ nó.

-Con định tích góp tiền để bữa nào nó lớn cho nó đến trường chú ạ, con không muốn nó giống như con. Nhưng mà sao giờ người ta khó quá, trước 1 ngày con đánh được hai chục đôi mà giờ chỉ được năm, sáu… Hôm mưa thì có khi chẳng đôi nào. Không có cái cho nó ăn nên nó còm nhom chú ạ.

-Ây za…Mà sao nhìn 2 đứa chả giống nhau nhỉ? 

-Dạ, con nhặt được nó ở góc chợ, nó khóc to lắm, con không biết ai để nó ở đấy nữa. 

-Sao không đem nó trả lại, con có nuôi nổi nó đâu. 

-Biết người ta ở đâu mà trả hở chú? Người ta đâu có thương nó, bỏ nó giữa chợ thế kia còn gì. Ít ra con còn có chỗ ngủ, kiếm được cái ăn cho nó. Nó chẳng có gì.

-Xong rồi chú. Có mấy chỗ con chà mãi không sạch. 

-Ừ, nó nát rồi thì sạch sao được, thế này là tốt lắm rồi, chú cảm ơn. Hết bao nhiêu chú gửi tiền

nào?
Dạ,7 ngàn chú. Nhưng thôi ạ, chú cho anh em con uống nước mía coi như hoà rồi ạ. 

-Hoà là hoà thế nào, nước mía là chú mời bọn mày. Đây, ví chú còn có ngần này, cầm lấy đưa em đi ăn cơm đi. Tối rồi. 

-Sao nhiều thế chú, con không dám cầm đâu. Mẹ con mắng đấy! 

-Sao con bảo mẹ con mất rồi? Không được nói dối nha, xấu lắm đấy. 

-Con không nói dối, mẹ con vẫn ở đây mà.

Nói rồi nó thò tay vào túi áo lôi ra cái ảnh be bé đen trắng có hình người phụ nữ tóc dài, đôi mắt buồn nhìn rất hiền. Lần đầu tiên anh thấy những tia nắng vàng cuối ngày nó nặng trĩu trên khoé mắt đến thế…

Anh xoa đầu nó:

-Cầm lấy, coi như chú đặt trước cả tháng, mai lại đánh giầy cho chú nhé.

Nó lưỡng lự một hồi, cuối cùng cũng chịu cầm rồi lí nhí: 

-Thế mai con sẽ đánh giầy cho chú nữa. Con cám ơn chú! 

-Ừ…

Thằng anh cầm tay thằng em lũng cũng đi theo. 

-Bữa nào kiếm được tiền mình đi uống nước mía nữa nha anh hai, ngon lắm!!!

 Anh nghe mà chẳng nhấc chân được lên. Giá mà ngay lúc này chú có thể làm được điều gì đó tốt hơn cho 2 đứa. Cảm ơn con, hôm nay là ngày may mắn của chú, con đã chỉ lại cho chú một con đường mà chú dường như đang mất dần niềm tin vào cái xã hội này. Chú vẫn tin là có điều kỳ diệu trên thế giới này, và con là một ví dụ. Cố gắng lên nhé! Mọi chuyện rồi sẽ ổn cả thôi.”(Theo benh.vn (st))

Vâng. Các truyện kể nhè nhẹ ở trên chỉ để phiếm cho vui, chứ không có ý thuyết-phục một ai ở huyện nhà, hết. Và, có kể truyện cũng chỉ để nhắc nhở người đọc cũng như bạn và tôi, rằng thì là: đời mình còn rất nhiều chuyện để kể và để nghe, cho quên buồn. Chứ không để giảng hoặc dạy bất cứ ai trong đời, mỗi thế thôi.

Nghĩ thế rồi, nay ta hãy về với Lời Vàng hiển thánh mà ngâm-nga suy-nghĩ, rồi cứ thế mà “quay đều” cuộc đời mình, cho đúng cách như đã được dạy rằng:

“Phần anh em,

anh em là con cháu của các ngôn sứ

và của giao ước mà Thiên Chúa đã lập với cha ông anh em,

khi Ngài phán với ông Abraham:

Nhờ dòng dõi ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.

Thiên Chúa đã cho Tôi Trung của Ngài trỗi dậy

để giúp anh em trước tiên,

và sai đi chúc phúc cho anh em,

bằng cách làm cho mỗi người trong anh em

lìa bỏ những tội ác của mình.”

(Cv 3: 26-28)

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ quay tròn

cuộc đời mình

cũng rất đều.

Ba Nhân cách LỚN của Cụ Trần Văn Hương

Ba Nhân cách LỚN của Cụ Trần Văn Hương

1 – Ngày 29 tháng 4 năm 1975, Đại sứ Hoa Kỳ, ông Martin đến tư dinh đường Công Lý với một tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp. Đại khái Đại sứ Martin nói:

– Thưa Tổng Thống, tình trạng hiện nay rất nguy hiểm. Nhân danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời Tổng Thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào mà Tổng Thống muốn. Chính phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng Thống cho đến ngày TT “trăm tuổi già”.

Tổng Thống Trần Văn Hương mỉm cười trả lời:

Cu Tran V Huong

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn Ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết cộng Sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.

Khi nghe câu “Les États-Unis ont aussi leur part de responsabilités (Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó), đại sứ Martin giật mình nhìn trân trân Cụ Trần Văn Hương. Năm 1980, Cụ Hương thuật lại: Dứt câu chuyện, “on se sépare sans même se serrer la main” (GS Nguyễn Ngọc An. Cụ Trần Văn Hương, đăng trên Thời Luận không rõ ngày).

2 – Vào năm 1978, khi việt cộng trả lại “quyền công dân” cho ông Dương Văn Minh, các anh em đang bị tù “học tập cải tạo” đều bị đi xem hình ảnh và phim chiếu lại cảnh cựu “Tổng Thống” Dương Văn Minh đang “hồ hỡi phấn khởi” đi bầu quốc hội “đảng cử dân bầu” của cộng sản.

Cụ Trần Văn Hương cũng được cộng sản trả lại “quyền công dân” nhưng Cụ đã từ chối. Cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương đã gửi bức thư sau đây đến các cấp lãnh đạo chính quyền cộng sản:

“…hiện nay vẫn còn có mấy trăm ngàn nhân viên chế độ cũ, cả văn lẫn võ, từ Phó Thủ Tướng, Tổng Bộ Trưởng, các Tướng Lãnh, Quân Nhân Công Chức các cấp các Chính Trị Gia, các vị Lãnh Đạo Tôn Giáo, Đảng Phái đang bị tập trung cải tạo, rĩ tai thì ngắn hạn mà cho đến nay vẫn chưa thấy được được về. Tôi là người đứng đầu hàng lãnh đạo Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, xin lãnh hết trách nhiệm một mình. Tôi xin chính phủ mới thả họ về hết vì họ là những người chỉ biết thừa hành mệnh lệnh cấp trên, họ không có tội gì cả. Tôi xin chính phủ mới tha họ về sum họp với vợ con, còn lo làm ăn xây dựng đất nước. Chừng nào những người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi.”

3 – Sau cùng, trong hoàn cảnh cơ cực của thời đất nước bị đô hộ bởi miền bắc xã hội chủ nghĩa, các Ðại sứ của các nước Pháp, Úc cho người đến thăm Cụ và cho biết họ có thể can thiệp với cộng sản cho Cụ ra khỏi nước với lý do đi trị bệnh, nhưng cụ tiếp tục từ chối, cương quyết ở lại chia sẻ cùng dân quân Miền Nam sự tủi nhục và nghèo đói dưới gông cùm cộng sản

Xin nghiêng mình trước tiết tháo của một nhân sĩ miền Nam Việt Nam!

Khi Cụ qua đời, đám tang được tổ chức tại nhà do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp trong hẻm 210 đường Phan Thanh Giản, bên cạnh trường Marie Curie. Có một sự kiện thú vị cũng cần nên kể ra nơi đây là anh con trai trưởng của Cụ là Trần Văn Dõi đi ra phường để xin phép mua một cái hòm quốc doanh, nhưng bị người tài xế trung thành của Cụ chận ngang, và anh này chạy vào Chợ Lớn mua một cổ quan tài gỗ với giá 10.000 Ðồng (tiền việt cộng bấy giờ). Anh Tàu nghe nói là mua cho Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa nên bớt xuống còn 5.000 đồng mà thôi.

Một trong những ước nguyện của Cụ là khi chết được chôn ở Nghĩa trang Quân Ðội với lễ nghi quân cách của một binh nhì; nhưng việc nầy cũng không thành. Tuy nhiên một an ủi cho Cụ là được hỏa táng tại Lò thiêu Thủ Ðức, xéo bên cạnh bức tượng Tiếc Thương, trước sự hiện diện đông đủ của học trò cùng hầu hết thân hào nhân sĩ miền Nam không quản ngại mạng lưới công an chằng chịt chung quanh lò thiêu.

Hôm nay, nhân ngày giỗ Cụ Trần Văn Hương, cúi xin đốt nén hương lòng tưởng niệm một người con Việt chân chính miền Nam với niềm tin chắc chắn rằng Tuổi trẻ Việt Nam sẽ tiếp nối bước đường Cụ đi và chắc chắn sẽ thành công trong công cuộc dành lại quê hương từ tay bạo quyền Cộng sản.

Thành kính xin Cụ phò hộ cho Tuổi Trẻ Việt Nam trong công cuộc giành lại Quê Hương.
Tết Đinh Dậu – 2017

Người con Việt miền Nam

NẺO VỀ HẠNH PHÚC

NẺO VỀ HẠNH PHÚC

Thi đàn Trung Quốc từ cổ chí kim nổi lên một tên tuổi lớn, đó là nhà thơ Lý Bạch, thời Thịnh Đường (701 – 762).  Ông tự xem mình như tiên ông bị lưu đày xuống thế.  Ông ưa sống kiếp lãng du, say mê vẻ đẹp đất trời, vẻ đẹp sông núi, trăng sao…

 Theo truyền tụng nhân gian, vào một đêm trăng tỏ, Lý Bạch buông thuyền xuôi theo giòng sông Thái Trạch lấp lánh ánh trăng đêm.  Ông đàn hát ngâm vịnh và uống rượu thưởng thức trăng.  Càng về khuya, men rượu nồng bốc lên càng làm ngây ngất lòng thi sĩ.  Sông nước, cảnh vật lúc ấy càng huyền ảo nên thơ.  Thi nhân cảm thấy mình như đang lạc vào bồng lai tiên cảnh.  Mảnh trăng diệu huyền in hình dưới làn nước lung linh như đang gọi mời ông tao ngộ.  Trong hơi men chếnh choáng, ông nhoài mình qua mạn thuyền, cúi thật sâu xuống nước để ôm lấy vầng trăng mà ông say đắm lâu nay.

 Than ôi! Ông đã bỏ hình bắt bóng và giòng sông oan nghiệt đã kết liễu đời ông.  Trên cao, vầng trăng thật như đang mỉm cười chế giễu ông.

Câu chuyện của nhà thơ họ Lý cũng là câu chuyện thời sự của thế kỷ chúng ta.  Nhân loại hôm nay đang kêu gào hạnh phúc, đang khao khát kiếm tìm hạnh phúc.  Nhưng họ đâu biết rằng Thiên Chúa là Cội Nguồn của hạnh phúc.

Một vầng trăng thật in thành hàng tỷ bóng trăng trên các ao hồ khe suối.  Một Cội Nguồn Hạnh Phúc (là Thiên Chúa) tỏa xuống vô vàn mảnh vụn hạnh phúc trong các sự vật phù du ở đời.  Thay vì tìm về Cội Nguồn hạnh phúc là Thiên Chúa, người ta dại dột đâm đầu vào những chiếc bóng của hạnh phúc nơi những tạo vật chóng tàn.  Quả thế, người ta tưởng hạnh phúc nằm nơi bạc tiền, của cải, nơi lạc thú vật chất… rồi người ta đâm đầu vào đó như những những con thiêu thân lao vào lửa, như Lý Bạch nhào xuống nước tìm trăng.

Thiên Chúa là Cội Nguồn hạnh phúc, Thiên Chúa là nguồn mạch của hoan lạc và an bình, Thiên Chúa là Tình Yêu.  Tất cả những ai đang khao khát tình yêu, an bình, hạnh phúc là đang khao khát Chúa.  Nhưng tiếc thay, người ta đã bỏ hình bắt bóng.  Người ta săn đuổi ảo ảnh của hạnh phúc mà không chịu tìm đến cội nguồn hạnh phúc là Chúa Cả trên trời.

Thời thanh xuân, Augustino là con người khao khát hạnh phúc cách mãnh liệt.  Anh bôn ba kiếm tìm hạnh phúc trong văn chương và triết lý, trong dục vọng và lạc thú trần gian… nhưng anh đã thất vọng ê chề và cảm thấy tâm hồn chất đầy sầu đau khắc khoải.  Mãi đến năm ba mươi tuổi, Augustino mới cảm thấy tất cả những gì Anh đạt được chỉ là ảo ảnh của hạnh phúc, chẳng khác chi bóng trăng in hình đáy nước và chỉ có Thiên Chúa mới là “Vầng Trăng” thật, là Hạnh Phúc thật mà thôi.  Bấy giờ, với tâm hồn tràn đầy hoan lạc, Augustino thưa với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Ngài nên hồn con thổn thức khôn nguôi cho đến khi được an nghỉ trong Ngài.”

Thiên Chúa mới là nguồn Hạnh Phúc đích thật mà loài người luôn vươn tới, luôn khát khao.  Chính Thiên Chúa đã đặt vào cõi lòng mỗi người chúng ta một khát vọng vô biên hướng về hạnh phúc mà không gì trên đời nầy có thể khoả lấp được, và để lòng khao khát đó luôn thôi thúc chúng ta kiếm tìm, kiếm tìm không mệt mỏi cho đến khi gặp được Ngài là Hạnh Phúc đích thật.

Qua trích đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta tám nẻo đường đưa nhân loại về cội nguồn hạnh phúc mà ta quen gọi là tám mối phúc thật.  Ai bước theo tám nẻo đường nầy chắc chắn sẽ đi đến Cội Nguồn Hạnh Phúc là Thiên Chúa, là Nước Trời, là Đất hứa:

* Tinh thần nghèo khó: biết nhận ra sự nghèo nàn của nội tâm mình, nhận biết rằng mình không là gì cả, tất cả những gì ta có là của Chúa ban…

* Cư xử hiền lành, biết nhường biết nhịn và mềm mỏng với mọi người…

* Chấp nhận sầu khổ hơn là gây khổ đau cho người khác…

* Khao khát trở nên người công chính,

* Đầy lòng xót thương, đối xử nhân ái với mọi người…

* Tâm hồn trong sạch, không chất chứa điều tà, điều gian ác, điều bất công…

* Chung tay xây dựng hoà bình, sống hoà thuận với mọi người cũng như làm cho mọi người hoà thuận với nhau…

* Sẵn lòng chịu bách hại vì sống công chính thanh liêm…

Nẻo về Hạnh Phúc đã rộng mở.  Bí quyết vào Nước Trời đã được giải bày.  Vấn đề còn lại là chúng ta hôm nay có đủ khôn ngoan và bản lãnh để chọn cho mình con đường mà Chúa đã đề nghị với chúng ta hay không.

LM Ignatiô Trần Ngà (trích từ “Cùng Đọc Tin Mừng”)

From: langthangchieutim

LỄ TANG KHÔNG MỘT VÀNH KHĂN TRẮNG

LỄ TANG KHÔNG MỘT VÀNH KHĂN TRẮNG
 

Thân phụ tôi cũng đã bước vào cái tuổi thất thập cổ lai hy và trong người đầy bệnh tật để rồi chúng tôi sẵn sàng đón nhận cái ngày sau chót của Cha trên cõi tạm. Hình dung ra cái ngày đau đớn ấy chắc có lẽ chỉ vài mảnh khăn tang bởi gia đình đơn chiếc lắm. Thế nhưng, chiều hôm nay, tôi lại tham dự một Lễ tang không vành khăn trắng. Lễ tang ấy của một nữ tu đang ở cái tuổi mọng chín của cuộc đời.

Lúc 9 giờ 30 sáng ngày thứ Hai, 16 tháng 1 năm 2017 chị Matta Nguyễn Thị My đã trở về nhà Cha sau nhiều ngày tháng đớn đau với bệnh tật. Chị ra đi không tránh khỏi bàng hoàng cho kẻ thân người thiết và nhất là Hội Dòng.

Hoàn cảnh của chị Matta ai nào đó nghe đến không khỏi phải chạnh lòng !

Trong một chuyến ghe định mệnh để tìm kế sinh nhai, thân phụ mẫu của Chị đã ra đi vĩnh viễn. Nỗi đau đớn không thể nào bù đắp nỗi lại dồn dập đến đời chị với những vành khăn tang thật đau đớn chít lên đầu chị với những người thân.

Phận mồ côi chua xót đã đẩy đưa chị đến nương nhờ nơi gia đình ông bà ngoại. Rồi một ngày nào đó ông bà ngoại cũng đã xuôi tay và chị về với ông bà nội. Và, cũng chẳng bao lâu sau đó ông bà nội cũng chẳng còn.

Sau những biến cố bi thương ấy, chị bước vào tìm hiểu và dấn thân trong con đường ơn gọi.

Và với 10 năm khấn dòng làm một nữ tu Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn và chỉ với 42 năm làm con Chúa nay chị đã được Chúa gọi về.

15 giờ 00 chiều nay, 17 tháng 1 năm 2017, Hội Dòng và những người quenbiết đã ngậm ngùi đưa tiễn Chị nữ tu Matta về nơi an nghỉ sau cùng chờ ngày Phục Sinh với Chúa.

Thánh Lễ của chị hết sức đặc biệt bởi lẽ chẳng có một vành khăn tang.

Bày tỏ lòng hiệp thông sâu sắc, chủ tế Thánh Lễ an táng cho chị Matta là Cha Gioan Baotixita Lê Đình Bạch – Cha Sở họ đạo Cái Mơn. Cùng đồng tế với Cha G.B. có 16 Cha trong và ngoài giáo phận, trong đó có 2 cha thuộc Dòng Chúa Cứu Thế đang phục vụ tại họ đạo Giồng Trôm và TTHH La Mã.

Trong tâm tình chia sẻ, Cha Gioan Baotixita Lê Đình Bạch gợi lên hình ảnh của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu với 24 tuổi đời cho cộng đoàn phụng vụ. Cha G.B. nhắc đến hình ảnh của chị nữ tu Matta đã ở thế gian này 42 năm với nhiều bệnh tật theo đuổi và chị đã chuẩn bị thật chu đáo để trở về với Chúa … Chúng ta nhìn chiếc quan tài với thân phận con người chúng ta cầu xin Chúa ban ơn tha thứ cho Chị và cho Chị mau hưởng Nhan Thánh Chúa.

Cha G.B. cũng không quên nhắc đến tấm lòng của vị Cha Chung Phêrô Huỳnh Văn Hai đang dâng Thánh Lễ cử hành Bí Tích Thêm Sức nên không hiện diện trong Thánh Lễ này. Đức Cha Phêrô vẫn nhớ đến chị Matta bởi lẽ mão, áo Giám Mục của Đức Cha do chính bàn tay của chị Matta may cho Đức Cha.

Lời nguyện Hiệp Lễ kết thúc, Cha Phanxicô Xaviê Lê Quang Dũng đã chủ sự nghi thức tiễn biện chị Matta.

Sau đó, Chị Matta được đưa ra trước núi Đức Mẹ để chào Đức Mẹ lần cuối trước khi ra đất Thánh của Hội Dòng.

Đặc biệt, Cha Giuse Nguyễn Hữu Trí – người con của họ đạo Cái Mơn hiện là phó họ Cái Nhum đã đưa Chị Matta đến mộ phần.

Nhiều và nhiều người ngậm ngùi đưa tiễn người thân yêu trong ơn gọi, trong mối thân tình vào lòng đất Mẹ. Xin gửi thân xác chị trong lòng đất này để chờ đợi ngày chị được phục sinh. Xin Chúa là Cha giàu lòng thương xót đón nhận chị Matta vào và cho Chị mau được hưởng Nhan Thánh Chúa như lòng Chị hằng mong ước.

Tác giả:  Người Giồng Trôm

Hoa Tết ế ẩm, nông dân lỗ nặng

Hoa Tết ế ẩm, nông dân lỗ nặng

RFA
2017-01-26
Một nông dân chở hoa đào bán Tết ở Hà Nội hôm 23/1/2017.

Một nông dân chở hoa đào bán Tết ở Hà Nội hôm 23/1/2017.

AFP photo
Những ngày trước tết Đinh Dậu, những người bán hoa tết gặp phải tình cảnh hoa ế ẩm, lỗ nặng.

Tại nhiều địa phương, người bán hoa tết gặp phải tình cảnh người mua thưa thớt khiến một số tiểu thương phải bán tống bán tháo các loại hoa cây cảnh trước tết để thu hồi vốn.

Tại Đà Nẵng, mưa liên tục được cho là nguyên nhân khiến cây cảnh tết ế ẩm. Vào sáng 28 tết, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Huỳnh Đức Thơ đã phải đi khảo sát chợ hoa Đà nẵng để tìm cách hỗ trợ người bán. Lãnh đạo địa phương cho biết sẽ tìm cách hỗ trợ tiền thuê mặt bằng cho các hộ bán hoa, cây cảnh ở chợ.

Trong khi đó, vào ngày 28 tết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi Trần Ngọc Căng cũng gửi thư kêu gọi người dân, công nhân viên chức trong tỉnh mua giúp dân. Ông Căng viết trong thư rằng người trồng hoa đã thiệt hại nặng nề, tỉnh đã dùng nhiều phương pháp hỗ trợ nhưng cuộc sống của người trồng hoa vẫn gặp nhiều khó khăn.

Tỉnh Phú Yên hôm nay cũng đã quyết định giảm 50% tiền thuê vị trí bán hoa tết vì trời mưa kéo dài. Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Tuy Hoa cho biết đến ngày 29 tết, cơ quan chức năng thành phố Tuy Hòa đã chi trả lại số tiền giảm giá cho người bán hoa tết là 220 triệu đồng.

RSF tố cáo việc bắt giữ ba blogger và nhà đấu tranh nhân quyền Việt Nam

RSF tố cáo việc bắt giữ ba blogger và nhà đấu tranh nhân quyền Việt Nam

Thụy My

h1Từ trái qua: Nguyễn Văn Oai, Trần Thị Nga và Nguyễn Văn Hóa, ba nạn nhân mới nhất trong các vụ bắt giữ gần đây. Ảnh: internet

Phóng viên Không biên giới (RSF) phẫn nộ trước làn sóng bắt bớ « dự phòng » của chính quyền Việt Nam đối với ba blogger và nhà báo công dân, xảy ra vài ngày trước Tết cổ truyền. RSF đòi hỏi trả tự do ngay lập tức cho ba blogger và hủy bỏ mọi cáo buộc đối với họ.

Blogger Trần Thị Nga (còn được biết với tên Thúy Nga) đã bị bắt hôm 21/01/2017 tại nhà ở tỉnh Hà Nam (miền bắc). Bị cáo buộc đã công bố các nội dung chống Nhà nước trên internet, Trần Thị Nga bị khởi tố theo điều 88 Luật hình sự Việt Nam, có khung hình phạt từ 3 đến 20 năm tù cho các hành động « tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ». Là mẹ của hai đứa con, bà Trần Thị Nga được biết tiếng vì bảo vệ những người lao động nhập cư, và nạn nhân các vụ cưỡng chế đất của chính quyền.

Nhà báo công dân Nguyễn Văn Oai bị bắt hai ngày trước đó tại tỉnh Nghệ An (miền trung) vì bị cho là chống người thi hành công vụ, và rời khỏi địa phương không xin phép khi đang còn trong thời gian thử thách. Nguyễn Văn Oai bị bắt năm 2011 và bị kết án bốn năm tù giam kèm theo ba năm quản chế, theo điều 79 Luật hình sự – một điều luật cùng với điều 88 thường được chính quyền sử dụng để làm im tiếng các blogger và nhà đấu tranh trên mạng. Ông Oai được trả tự do tháng 8/2015 sau khi đã thụ án.

Ông Nguyễn Văn Hóa, bị bắt hôm 11/1 và bị biệt giam hơn một tuần lễ. Gia đình ông chỉ được thông báo về vụ bắt giữ hôm 23/1. Nhà báo công dân này bị cáo buộc theo điều 258 Luật hình sự, quy định các bản án tù vì « lợi dụng tự do dân chủ xâm hại lợi ích Nhà nước ». Nguyễn Văn Hóa gần đây đã đưa tin về các vụ biểu tình của người dân chống lại nhà máy thép Formosa Ha Tinh Steel Corporation của Đài Loan, là thủ phạm gây ra nạn ô nhiễm công nghiệp làm chết hàng ngàn tấn cá hồi tháng 4/2016.

Ông Benjamin Ismaïl, phụ trách châu Á-Thái Bình Dương của Phóng viên Không biên giới tuyên bố : « Làn sóng bắt bớ trước dịp Tết Việt Nam chứng tỏ sức ép của chính quyền, mỗi khi xã hội dân sự có dịp bày tỏ một cách tự do về việc vi phạm các quyền của mình và nhân quyền nói chung. Các blogger và nhà báo công dân trên chỉ làm công việc đưa tin về các cuộc biểu tình của người dân, và phát biểu ý kiến về tình trạng vi phạm quyền của đồng bào mình. Tóm lại, các hoạt động của họ nhấn mạnh đến lợi ích công cộng, và thật đáng buồn khi nhận thấy ở Việt Nam, lợi ích chung và nhân quyền lại bị coi là tuyên truyền chống Nhà nước. Chúng tôi yêu cầu cộng đồng quốc tế gây sức ép để họ được trả tự do trong thời hạn sớm nhất ».

Các vụ bắt bớ dự phòng trước khi diễn ra các sự kiện tầm cỡ quốc gia, thường là dưới dạng ép buộc phải mất tích, và quấy nhiễu, đe dọa, tấn công các blogger cũng như người thân của họ, là cách thức mà đảng Cộng sản Việt Nam không ngần ngại sử dụng để dập tắt những tiếng nói độc lập, phê phán. Tháng 10/2016, RSF đã tố cáo chiến lược cô lập các nhà báo công dân và blogger của chính quyền, dẫn đến việc những ai dám tiếp xúc với người ngoại quốc đều có thể bị trả thù.

Việt Nam đứng thứ 175/180 nước trong bảng xếp hạng tự do báo chí thế giới năm 2016.

Quan chức đào tị Bắc Hàn nói chế độ Kim Jong Un sắp sụp đổ

VOA

Quan chức đào tị Bắc Hàn nói chế độ Kim Jong Un sắp sụp đổ

26-1-2017

h1Lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un kiểm tra một đơn vị quân đội. (Ảnh tư liệu / Thông tấn xã Trung ương Triều Tiên KCNA)

Một trong những quan chức Bắc Hàn cao cấp nhất từng đào tị sang Hàn Quốc tuyên bố rằng “vận mệnh của ông Kim Jong Un chỉ còn tính từng ngày”. Nhân vật đào tị đã chia sẻ những hiểu biết trực tiếp hiếm có và những nhận định sâu sắc về những gì mà ông mô tả là tình hình đang xấu đi của chế độ Kim Jong Un, một chế độ bưng bít và đàn áp.

Ông Thae Yong-ho, cựu Phó đại sứ Bắc Hàn tại London, đã đào thoát sang Hàn Quốc hồi tháng 7/2016. Ông nói: “Tầng lớp ưu tú lâu nay là trụ cột của xã hội Bắc Hàn giờ đã quay lưng lại với ông Kim Jong Un. Những cấu trúc truyền thống của hệ thống Bắc Hàn đang sụp đổ”.

Ông Thae bây giờ là một nhà phân tích tại Viện Chiến lược An ninh Quốc gia, một tổ chức nghiên cứu gắn với Vụ Tình báo Quốc gia của Hàn Quốc.

Phát biểu với các nhà báo tại Seoul vào hôm thứ Tư, ông Thae nói ông ngày càng tỉnh mộng về lãnh tụ trẻ của Bắc Hàn, người lên nắm quyền vào tháng 12/2011, và ông hoàn toàn không mơ hồ gì nữa vào năm ngoái, khi ông Kim đề ra một mục tiêu mà ông cho là “cuồng tín”, là tăng cường khả năng để có thể thực hiện một cuộc tấn công hạt nhân tầm xa vào năm 2017, trong bối cảnh Hoa Kỳ và Hàn Quốc trải qua một thời kỳ chuyển giao quyền lực chính trị.

Về tình hình bên trong Bắc Hàn, ông Thae cho biết ngày nay các chợ cóc bất hợp pháp mở ra ngày càng nhiều, tham nhũng tràn lan và các dòng thông tin bên ngoài đang làm sôi sục thêm sự bất bình của công chúng và làm suy yếu khả năng vốn có của chính phủ nhằm duy trì trật tự thông qua hăm dọa và gây sợ hãi.

Những khu chợ tư nhân mở ra làm cho mọi người càng bực tức về các hạn chế của nhà nước, đồng thời nỗi sợ hãi của họ đối với cảnh sát và nhân viên an ninh đã giảm bớt phần nào, vì thành phần này ngày càng quan tâm đến việc đòi hối lộ hơn là thực thi pháp luật.

Ông Thae đang cổ súy cho nỗ lực gia tăng phổ biến các thông tin bên ngoài vào Bắc Hàn. Ông nói làm như vậy cũng giống tưới thêm dầu vào ngọn lửa giận dữ, cuối cùng sẽ làm bùng lên một cuộc tổng khởi nghĩa để lật đổ chế độ gia đình trị họ Kim.

Nhà ngoại giao Bắc Hàn trước đây so sánh nỗi bất mãn ngày càng tăng trong nước ông với tình hình ở Liên Xô trước khi chế độ tại đó sụp đổ, ông hy vọng về một kết cục hòa bình dẫn đến một nước Triều Tiên thống nhất và dân chủ.

Tuy nhiên cũng có nguy cơ cao là giới lãnh đạo ở Bình Nhưỡng sẽ đáp trả các cuộc biểu tình bằng bạo lực chết người và đàn áp như Trung Quốc đã từng làm với các cuộc biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989.

Ông Thae cảnh cáo Hoa Kỳ và Hàn Quốc chớ tung ra bất kỳ cuộc tấn công phủ đầu nào nhắm vào Bắc Hàn. Ông cho rằng một hành động quân sự như vậy có thể bắt đầu một cuộc chiến tranh.

Ông Thae cũng cảnh báo không nên xoa dịu ông Kim Jong Un bằng cách lơ là lệnh trừng phạt hay ngừng cuộc tập trận chung giữa Hoa Kỳ-Hàn Quốc để đổi lấy việc đình chỉ hoạt động hạt nhân. Ông Thae nói đó là một “cái bẫy” mà cuối cùng sẽ hợp pháp hóa Bắc Hàn như một quốc gia hạt nhân, tương tự như đã diễn ra với Ấn Độ và Pakistan trước đây.

Ông nói khả năng xảy ra đảo chính quân sự bên trong Bắc Hàn còn xa vời vì giới lãnh đạo vẫn trung thành với ông Kim. Mặc dù vậy, ông lưu ý rằng nhiều người trong các lực lượng vũ trang cũng đang thất vọng với chính thể hiện nay.

Vẫn theo ông Thae thì các nhà lãnh đạo ở Bình Nhưỡng không sợ bị Trung Quốc trả đũa về chương trình hạt nhân của mình, bởi vì họ nghĩ rằng Bắc Kinh thà có một Bắc Hàn sở hữu vũ khí hạt nhân giáp với đường biên giới của họ, còn hơn phải đối mặt với một nước Triều Tiên thống nhất dân chủ, và là đồng minh của Hoa Kỳ.

Vụ Formosa: Kỷ luật bốn quan chức không lộ tên

Vụ Formosa: Kỷ luật bốn quan chức không lộ tên

Lãnh đạo Formosa Hà Tĩnh đã nhận lỗi về vụ cá chết, và cam kết bồi thường cho Việt Nam 500 triệu đô la
Bản quyền hình ảnhAFP
Lãnh đạo Formosa Hà Tĩnh nhận lỗi về vụ cá chết, và cam kết bồi thường cho Việt Nam 500 triệu đô la

Có bốn quan chức bị phạt liên quan tới thảm họa cá chết ở miền Trung, Việt Nam tuyên bố.

Đây là quyết định phạt đầu tiên được áp dụng với các quan chức chính phủ trong suốt chín tháng qua, sau sự cố môi trường xảy hồi tháng Tư 2016.

Một phó tổng cục trưởng của Bộ Tài nguyên Môi trường bị cách chức ủy viên Thường vụ Đảng ủy Tổng cục Môi trường nhiệm kỳ 2015-2020.

Quan chức này còn bị hạ chức và chuyển sang làm việc ở đơn vị khác.

Ngoài ra, có hai trưởng phòng và một phó phòng của Tổng cục bị khiển trách, cảnh cáo, đồng thời bị điều chuyển công tác.

Tên của bốn người này không được tiết lộ.

Trước đó, hồi tháng Mười Một, một cựu lãnh đạo Hà Tĩnh bị Đảng Cộng sản ‘kiểm tra sai phạm’.

Ông Võ Kim Cự, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh, khi đó bị cho là có những sai phạm liên quan tới việc chấp thuận thời hạn đầu tư của Formosa tại địa phương ‘không đúng thẩm quyền’.

Ông Võ Kim Cự bị ‘kiểm tra sai phạm’ vụ Formosa

Sau nhiều tháng cá chết một cách bí ẩn, gây giận dữ cho công chúng, chính phủ và một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất, Formosa Hà Tĩnh, hồi tháng Năm 2016 đã đạt thỏa thuận bồi thường 500 triệu đô la (tương đương khoảng 11 nghìn tỷ đồng).

Bắt đầu từ hồi tháng Mười, giới chức đã tiến hành bồi thường lần một cho các nạn nhân sự cố cá chết tại bốn tỉnh miền Trung.

Trang tin VietnamNet nói số được chi trong đợt này là 3 nghìn tỷ đồng.

Mới đây, trong những ngày giáp Tết, chính phủ chỉ đạo tạm cấp kinh phí bồi thường đợt hai, với tổng số tiền khoảng gần 1.700 tỷ đồng.

Sự cố cá chết hàng loạt đã làm dấy lên các cuộc biểu tình phản đối trong dân chúng tại nhiều nơi.

Hồi trung tuần tháng Mười Hai, một số ngư dân tại huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh đã biểu tình bằng cách chặn đường tại Quốc lộ 1.

Những người phản đối Formosa nói rằng tính đến thời điểm đó họ vẫn chưa nhận được tiền đền bù.

CẢM HẬN

From facebook:   Phạm Đăng Quỳnh‘s post.
Image may contain: 1 person, outdoor
Phạm Đăng Quỳnh with Quynh Pham.

CẢM HẬN

Đất nước tôi những tượng đài ngàn tỉ
Những công trình thế kỷ… bỏ hoang vu?
Những cuộc tiệc tiền chùa… vua chúa sợ?!
Mà sao em…liều sinh mạng đến trường?!
Đất nước tôi dư nhà thơ, nhà báo
Xúm tung hô ngụy tạo, xạo, lăng nhăng…
Có ai biết những mảnh đời bất hạnh
Mái tranh nghèo từng bữa ruột thiếu ăn?!
Đất nước tôi thừa giáo sư, tiến sĩ
Làm thầy đời hô khẩu hiệu… trăng sao!
Phòng máy lạnh, xe công xài…quý tộc
Những sinh linh nầy mạng sống tựa lông bay.
Đất nước tôi có lắm điều oan khuất
Bao người nghèo, nghèo đến chết thì thôi.
Hai ổ bánh mì thành phiên tòa quái gỡ
Vạn vạn tỉ đồng… rút kinh nghiệm trơn tru.
Ôi đất nước của ngàn năm văn vật
Có lẽ nào bọn thánh vật nhởn nhơ!?
Mạng các em thua con gà, con chó
Chưa biết cười đã đẫm lệ tuổi thơ.
(Tác giả : MAI CHIÊU SƯƠNG)
8/8/2016

VÔ THẦN HAY ĐA THẦN

From facebook:  Nguyễn Đức Minh

VÔ THẦN HAY ĐA THẦN

Nói không biết có đúng không chứ tôi thấy 90% người Việt trong nước là rất mê tín dị đoan. Điều này thật lạ vì 80 năm ở với cộng sản và hàng ngày bị nhồi sọ chủ nghĩa vô thần mà bệnh mê tín có mòi nặng hơn.

Nặng nhất là đám quan chức các cấp và đảng viên. Họ tin tướng số, họ tin thánh thần, họ tin cầu may giải hạn, cầu sang giàu thăng quan tiến chức.

Điều này cho thấy người dân có tâm lý bất an, mất lòng tin vào bản thân, mất lòng tin vào xã hội, đảng và chính quyền. Dĩ nhiên chỉ còn biết tin vào thánh thần. Do đó xa hội Việt Nam thật mĩa mai, đích thị là xã hội đa thần chứ không vô thần.

Ngược lại xã hội phương Tây càng lúc lại càng có khuynh hướng vô thần. Số người có tín ngưỡng tôn giáo càng lúc càng giảm. Thanh niên càng ít người đi tu.

Thế là bởi vì cuộc sống xã hội quá an ninh, quá bảo đảm, quá công bằng…cho nên người dân tin vào bản thân, tin vào xã hội, tin vào chính quyền và tin các công ty bảo hiểm hơn là tin vào may rủi và thánh thần.

Nhưng nói như thế không có nghĩa là người phương Tây hết tin Chúa. Chỉ có điều là người ta tin vào việc thực hành lời Chúa hơn là tin vào những phép lạ. Nếu người phương Tây không tin và thực hành lời Chúa dạy thì đất nước của họ đâu có như ngày hôm nay?

Fb Minh Đức Lê

NGƯ DÂN PHÁT HIỆN ỐNG XẢ THẢI FORMOSA GIỜ NÀY RA SAO?

NGƯ DÂN PHÁT HIỆN ỐNG XẢ THẢI FORMOSA GIỜ NÀY RA SAO?

Ngư dân Nguyễn Xuân Thành – người đầu tiên phát hiện ống xả thải ngầm của Formosa
đổ ra biển. Ảnh: Dân Trí
NGƯ DÂN PHÁT HIỆN ỐNG XẢ THẢI FORMOSA

GIỜ NÀY RA SAO???

Thảm Họa Formosa

Phạm Lê Vương Các
16-1-2017

Bài dự thi số 87

Nghe tin anh vừa trở về Kỳ Anh (Hà Tĩnh), tôi hẹn gặp anh tại giáo xứ Đông Yên, cách nhà anh khoảng 1 km vào độ tháng 8 năm 2016.

Anh là Nguyễn Xuân Thành – người thợ lặn đầu tiên phát hiện ra ống xả thải ngầm trái phép của Formosa.

Sau khi Formosa gây ra thảm họa môi trường, cũng như bao ngư dân khác ở Kỳ Anh, cuộc sống của anh hoàn toàn bị đảo lộn. Nhưng anh có phần đặc biệt hơn người khác, anh luôn bị báo chí vây quanh để xin phỏng vấn.

Anh mất tích một thời gian, nhiều lời đồn đoán nói rằng anh bị đe dọa, sợ hãi phải bỏ xứ ra đi.

Khi nói chuyện, anh cho tôi biết hoàn toàn không có điều đó. Vì công việc mưu sinh, ở Hà Tĩnh không còn đánh bắt được nữa, nên khi thảm họa cá chết đến, anh ra Nghệ An tiếp tục đánh bắt.

Nhưng hải sản đánh bắt vào không ai mua. Không còn đường mưu sinh, anh và bạn của mình mạo hiểm vượt đại dương, sang tận nước Úc để đánh bắt hải sâm bán cho thương lái Trung quốc.

Ngay chuyến đánh bắt nơi xứ người đầu tiên, anh bị nhà chức trách Úc bắt giữ vì đánh bắt trái phép trên vùng biển của họ.

Sau đó anh bị tạm giữ trên một hòn đảo của Úc.

Anh thuật lại cho tôi nghe về quãng thời gian anh bị bắt tại Úc và cách đối nhân xử thế ở xứ người.

“Tỵ nạn nghề nghiệp”

Anh kể, bắt đầu từ dạo ấy nhiều tàu kéo sang Úc đánh bắt. Những chuyến đánh bắt tại đây có thể nói một cách vắn tắt: “được ăn cả, ngã về không”.

Hải sâm bên Úc quá nhiều và giá trị cao. Chỉ cần lặn xuống, hốt vào giỏ, kéo lên bỏ vào đầy mỗi phuy, trốn cảnh sát tuần tra và chạy về lại Việt Nam.

Chỉ cần thoát được một chuyến (tức là tàu trở về được) là anh có thể đủ tiền trả hết nợ nần.

Nếu bị cảnh sát Úc bắt giữ thì mất luôn cả tàu.

Tàu nào cũng ý thức được sự rủi ro và khó khăn đó, nhưng họ không còn đường nào khác trong việc đeo bám nghề biển, ùn ùn kéo nhau sang lãnh hải của Úc.

Lợi nhuận một chuyến đánh bắt hải sâm bên Úc trong khoảng 20 ngày thu được 3-4 tỷ đồng (khoảng 150 ngàn Mỹ Kim) là bình thường.

Anh mô tả những chuyến đi đánh bắt như vậy như một giải đấu bóng đá Wold Cup. Hàng chục chiếc kéo tàu cùng nhau ra khơi, nhưng chỉ vài chiếc trở về, và bước lên vinh quang.

Nhưng anh không có được sự may mắn. Tàu anh đi bị nhà chức trách của Úc bắt giữ khi đang đánh bắt.

Họ tịch thu tàu và đưa anh cùng bạn thuyền về một hòn đảo của Úc.

“Bất ngờ trong đối xử”

Trên đảo, sau thủ tục đầu tiên là khai báo và khám sức khỏe. Anh và các bạn được đưa về nhận phòng ở. Anh cho biết dù bị giám sát nhưng cuộc sống trên đảo cũng thoải mái.

Tôi hỏi anh có bị đánh đập khi bị giam giữ ở đó không? Anh cho biết hoàn toàn không, mà trái lại, không ngờ họ lại được đối xử tốt với mình như vậy.

Anh vừa kể vừa cười, ngày đầu tiên bị bắt, họ phát cho mỗi người một cái phiếu, qua phiên dịch, họ nói ai muốn ăn gì thì ghi vào đó.

Sợ đồ ăn Úc ăn không quen, anh ghi vào thích ăn cơm với thịt bò và thịt gà, không ngờ tới bữa ăn, những anh gì ghi trong đó lại được đáp ứng đầy đủ và mỗi bữa ăn còn có thêm trái cây tráng miệng. Hôm nào thức ăn cũng phải đổ bỏ đi vì họ đưa cho quá nhiều.

Anh còn cho biết những người bị tạm giữ, tiêu chuẩn mỗi người mỗi tuần được phát cho 40 đô để tiêu vặt.

Anh kể, cái này mới lạ nữa: “Người giám sát thấy mình ngồi một chỗ, không nói chuyện với ai. Nó gọi bác sĩ lại kiểm tra, hỏi thăm xem mình có bị bệnh không. Mà mình có bệnh gì đâu, nhớ nhà mà buồn thôi”.

Anh cho biết, giới chức Úc nói, việc mình về lại Việt Nam sớm hay chậm phụ thuộc vào phía Việt Nam. Phía Úc cũng không muốn giữ mình ở lại lâu làm gì.

Vài ngày trước khi về, họ hỏi mình ở tỉnh nào, muốn về đâu để họ sắp xếp cho mình đi máy bay về Hà Nội hay Sài Gòn để thuận tiện nhất cho mình. Họ còn đưa tiền đi đường từ sân bay về nhà mình và tiền ăn uống dọc đường.

“Cuộc sống ở đó sướng lắm, chỉ có điều nhớ vợ con thôi”, anh nói.

Sau gần 2 tháng bị tạm giữ, anh được thả. Toàn bộ chi phí đi về Việt Nam đều do phía Úc chi trả.

Khi đặt chân về đất nước, anh và bạn bè bị hải quan sân bay Việt Nam giữ lại. Công an tiến hành thẩm vấn anh ngay tại sân bay. Một công an vừa hỏi vừa hất cái cằm: “Biển Việt Nam sao không đánh bắt lại đi qua biển của người ta bắt?”

Anh kể trong giận giữ: “Mấy ông không rước Formosa vô làm chết hết cá thì tui không phải đi đánh bắt ở nước người ta!”.

Chất giọng đặc sệt Hà Tĩnh của anh có vẻ làm cho người công an thẩm vấn ngộ ra vấn đề, thay đổi thái độ và nhanh chóng phóng thích anh.

Trước lúc chia tay, tôi hỏi anh sẽ dự định làm gì trong thời gian tới, anh cho biết: “Sẽ tiếp tục trở lại đánh bắt ở Úc!”

Và giờ này, sau gần 5 tháng, tôi cũng không biết anh đã trả được món nợ vay đóng tàu hay chưa, hay lại đang ở trên một hòn đảo xinh đẹp của nước Úc.

Phận ngư dân Việt như anh Thành, sau thảm họa Formosa như những chiếc tàu trôi dạt không bến đỗ trong tương lai.