From facebook: Thiện Chung‘s post.

Xin các quý ông bên thắng cuộc hãy ngừng thủ dâm lấy một phút để nhìn lại chính những người mẹ của mình và tự hỏi : Có nơi nào trên trái đất mà các bà mẹ lại bất hạnh như các bà mẹ Việt nam ??? …

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)

Xin các quý ông bên thắng cuộc hãy ngừng thủ dâm lấy một phút để nhìn lại chính những người mẹ của mình và tự hỏi : Có nơi nào trên trái đất mà các bà mẹ lại bất hạnh như các bà mẹ Việt nam ??? …
(Đà Nẵng, DL) – Anh Nguyễn Anh Tuấn, một người hoạt động dân chủ, nhân quyền vừa bị cơ quan an ninh câu lưu tại sân bay Đà Nẵng sau 3 năm hoạt động ở nước ngoài.
Anh Tuấn đáp chuyến bay từ Siem Reap, Campuchia trở về Đà Nẵng lúc 22h30 tối 31/1/2015, nhưng hiện nay cha của anh cho biết anh đang bị câu lưu.
Nguyễn Anh Tuấn sinh năm 1990 tại Đà Nẵng.
Ngày 26/4/2011, Nguyễn Anh Tuấn lúc đó là sinh viên ngành Quản lý công – Học viện Hành chính quốc gia Hà Nội gởi tới Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao đơn tự thú rằng, anh đang lưu giữ một số tài liệu được VKSND Tối cao cho là có nội dung chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, giống như các tài liệu mà Viện này sử dụng để kết tội ông Cù Huy Hà Vũ.
(Nhắc lại: Ngày 5/11/2010, tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ bị bắt trong vụ án “Hai bao cao su đã qua sử dụng” sau đó chuyển qua tội về an ninh quốc gia).
Tháng 8/2013, anh Tuấn cùng các thành viên của Mạng lưới Blogger Việt Nam trao Tuyên bố 258 đến các đại diện của các tổ chức nhân quyền quốc tế tại Thái Lan, kể cả Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.
Tháng 2/2014, anh Tuấn cùng với phái đoàn người Việt Nam dự buổi Kiểm định định kỳ phổ quát về Nhân quyền của Việt Nam ở Geneva, Thuỵ Sĩ.
Tháng 9/2015, Nguyễn Anh Tuấn đến Úc để làm Thực tập sinh 3 tháng cho Văn phòng dân biểu Úc, ông Chris Hayes.
Ngày 29/1/2015, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) công bố phúc trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2015, cho thấy tình hình nhân quyền ở VN vẫn ảm đạm khi chính quyền tiếp tục bắt giữ những người bất đồng chính kiến. (L.N.T)
*Cập nhật lúc 2h45 ngày 1/2/2016:
Ông Nguyễn Văn Thi, cha của Nguyễn Anh Tuấn cho biết:
– “Hiện Tuấn bị di lý về công an Tp Đà Nẵng. Như vậy là bắt người trái phép, gia đình đã đến đòi thăm gặp, phía công an đã đề nghị gia đình hợp tác, để Tuấn được thả.
“Nhưng gia đình không biết hợp tác cái gì?
“Bây giờ Tuấn bị giam giữ tại Cơ quan công an Tp Đà Nẵng”.
Trong hình: Nguyễn Anh Tuấn ở Geneva tháng 2/2014. Ảnh: VietnamUPR.
– See more at:

Tôi nổi giận, và Ngài bảo: HÃY THỨ THA
Tôi run sợ, và Ngài bảo: CAN ĐẢM
Tôi nghi hoặc, và Ngài nói: HÃY TÍN THÁC
Tôi bồn chồn không ngơi, và Ngài nói: TĨNH LẶNG
Tôi thích đi con đường riêng của mình, và Ngài bảo: HÃY THEO TA
Tôi muốn lập kế hoạch riêng của mình, nhưng Ngài bảo: HÃY QUÊN ĐI
Tôi nhắm tìm của cải vật chất, và Ngài bảo: HÃY BỎ LẠI ĐẰNG SAU
Tôi muốn được bảo đảm, nhưng Ngài nói: TA CHẲNG HỨA HẸN GÌ
Tôi thích sống ̣đời riêng của mình, và Ngài nói: TỪ BỎ CHÍNH MÌNH
Tôi nghĩ mình tốt lành, nhưng Ngài bảo: TỐT LÀNH THÔI CHƯA ĐỦ
Tôi thích làm ông chủ, và Ngài nói: PHỤC VỤ
Tôi thích ra lệnh cho người khác, nhưng Ngài nói: HÃY HỌC VÂNG LỜI
Tôi kiếm tìm tri thức, và Ngài nói: HÃY TIN
Tôi thích sự rõ ràng, nhưng Ngài lại nói bằng: DỤ NGÔN
Tôi thích thi ca, Ngài lại nói CHUYỆN THỰC TẾ
Tôi yêu sự yên tĩnh của mình, còn Ngài lại muốn TÔI BỊ QUẤY RẦY
Tôi thích bạo lực, và Ngài bảo: BÌNH AN Ở CÙNG CHÚNG CON
Tôi rút gươm ra, nhưng Ngài bảo: NÉM ĐI
Tôi nghĩ đến trả thù, nhưng Ngài bảo: ĐƯA MÁ BÊN KIA
Tôi nói về trật tự, và Ngài bảo: TA ĐẾN ĐEM GƯƠM GIÁO
Tôi căm ghét, nhưng Ngài bảo: HÃY YÊU THƯƠNG KẺ THÙ
Tôi muốn gieo hoà hợp, và Ngài nói: TA ĐEM LỬA XUỐNG THẾ GIAN
Tôi thích làm người lớn nhất, nhưng Ngài bảo: HÃY HỌC LÀM TRẺ NHỎ
Tôi muốn ẩn thân, và Ngài nói: ÁNH SÁNG PHẢI CHIẾU SOI
Tôi kiếm tìm chỗ nhất, nhưng Ngài bảo: XUỐNG CHỖ CUỐI CÙNG
Tôi thích được quan tâm, và Ngài nói: ĐÓNG CỬA LẠI MÀ CẦU NGUYỆN
Không, tôi không hiểu Ông Giêsu này. Ngài khiêu khích tôi làm tôi bối rối.
Cũng giống như nhiều môn đệ khác, tôi muốn đi theo một ÔNG THẦY KHÁC, chắc chắn hơn và ít đòi hỏi hơn.
Nhưng tôi cảm nhận như Phêrô: “Tôi không biết ai khác có LỜI BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI”
Sưu tầm
NĂM MỚI và TÂM LINH
Trầm Thiên Thu
Năm 2017 là năm Con Gà. Đặc tính nổi bật của con gà là tiếng gáy của chú gà trống vào mỗi buổi sáng. Tiếng gáy đó báo thức để người ta biết giờ thức dậy, đặc biệt là dậy sớm. Thức khuya và dậy sớm là điều cần thiết, không chỉ với nông dân mà với mọi người.
Tiếng Gà báo thức cũng là tiếng cảnh báo chúng ta phải tỉnh thức về mọi thứ, cả xã hội và tâm linh. Mỗi dịp đón năm mới, nhiều người trong chúng ta tự hứa với nhiều điều quyết tâm cho Năm Mới – các điều này chủ yếu liên quan các mục đích như giảm cân hoặc tập thể dục nhiều. Nếu chúng ta thực sự cảm thấy có hứng thú, chúng ta có thể hứa viếng Thánh Thể hằng ngày hoặc đọc trọn bộ Kinh Thánh.
Không may thay, với đa số các quyết định năm mới, khả năng chịu đựng tinh thần chỉ kéo dài khoảng một tuần, và chúng ta thấy mình vẫn ở điểm bắt đầu, cảm thấy thất bại và thắc mắc: “Tôi có thể hứa cầu nguyện nhiều trong năm mới? Tôi có nên bỏ qua và bắt đầu lại?”
Kết hợp nhiều thời gian để cầu nguyện là điều không dễ thực hiện, để đến gần các mục đích tâm linh, đây là vài gợi ý thực tế có thể giúp bạn quyết định làm cho năm nay là năm tâm linh đặc biệt:
Bước thứ nhất này có thể mang vẻ hiển nhiên, nhưng chúng ta thường bỏ lỡ. Khi chúng ta nghĩ về việc cầu nguyện “nghiêm túc”, chúng ta thường có kiểu nói như thế này: “Tôi biết tôi sẽ thất bại, không thể làm được, vì tôi không thánh thiện đủ.” Nói thật, tư tưởng như vậy là lừa dối, nó ngăn cản bạn bắt đầu kế hoạch cầu nguyện. Nó thuyết phục bạn tin mình “chưa thánh thiện đủ” hoặc “quá bận” hoặc “không bao giờ theo đến cùng.” Satan có xu hướng ngăn cản bạn cầu nguyện hằng ngày và làm cho bạn tìm nhiều cách lừa dối xoay quanh ý tưởng rằng “bạn không thể đạt được điều bạn muốn.” Đừng nghe lời ma quỷ xúi giục!
Bạn là con cái của Thiên Chúa, và Ngài luôn ở bên bạn. Bạn có thể làm được điều đó! Nếu chúng ta mở lòng ra với Thiên Chúa, Ngài sẽ hướng dẫn chúng ta và ban cho chúng ta có sức mạnh cần thiết. Chúng ta cần phải tin rằng Thiên Chúa sẽ giúp chúng ta và chúng ta có thể làm được điều không thể. Hơn mọi thứ khác, đức tin là tặng phẩm do Thiên Chúa trao ban. Hãy cầu xin tặng phẩm đức tin! Hãy xin Ngài gia tăng lòng yêu mến.
Chúa Giêsu đã nói: “Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này “rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (Mt 17:20).
Trong đời sống tâm linh, chắc chắn có sự thăng trầm; có những lúc bạn cảm thấy rất sung mãn, cũng có những lúc bạn cảm thấy như trong ao tù. Hãy nhìn lại quá khứ, xem điều gì tác động và khi nào cảm thấy “sung mãn.” Bạn có thể chú ý các kiểu nào đó hữu ích hoặc bạn muốn tái tạo trong hiện tại.
Thêm vào đó, chúng ta còn có những thói quen khác nhau. Đây có thể là cách chúng ta sẵn sàng vào buổi sáng theo cách riêng là gấp quần áo. Cầu nguyện cũng cần trở thành một thói quen. Khi chúng ta nghĩ về các thói quen mà chúng ta có liên quan, điều gì là điểm chung? Rất có thể đó là điều bạn học biết khi còn nhỏ và tiếp tục vẫn làm điều đó hằng ngày. Rồi điều đó ăn sâu vào cuộc sống và bạn chỉ nghĩ về điều đó. Việc làm cho cầu nguyện trở thành thói quen là điều RẤT QUAN TRỌNG nếu bạn muốn cầu nguyện nhiều trong năm mới này.
Đừng sợ bắt đầu một điều nhỏ, thậm chí nhỏ như việc bắt đầu và kết thúc một ngày bằng Dấu Thánh Giá và Kinh Sáng Danh. Từ những điều nhỏ như vậy mà xuất hiện những vị thánh.
Đối với nhiều người, họ không thể kiểm soát cuộc sống trong khoảng từ 9 giờ sáng tới 5 giờ chiều. Dù chúng ta có thể đi làm công sở, ở nhà chăm sóc con cái, hoặc đã nghỉ hưu, ban ngày vẫn đầy khả năng.
Điều này cho chúng ta hai cách chọn lựa đối với thời gian cầu nguyện: buổi sáng hoặc buổi tối. Hai khoảng thời gian này thường là “khoảng” chúng ta có thể kiểm soát những gì xảy ra. Có thể chúng ta phải lo cho con nhỏ, phải ăn tối, phải lo việc lặt vặt trong gia đình, nhưng hằng ngày chúng ta vẫn có cách chọn lựa những gì cần làm sau khi con cái đi ngủ và đã xong việc nhà. Bạn có vô internet hoặc facebook tới 1 giờ sáng, hay là bỏ mọi thứ để cầu nguyện? Hãy chân thật với chính mình, và đặc biệt là chân thật với Thiên Chúa.
Mặt khác, chúng ta có thể có nhiều thời gian vào buổi sáng và mau mắn thức dậy lúc 5 giờ sáng để cầu nguyện khoảng 30 phút. Đây là điểm quan trọng: bạn là “người buổi sáng” hay “người ban đêm,” là “con gà trống” hay “con cú,” việc tự biết mình như vậy sẽ giúp chúng ta biết lúc nào là lúc tốt nhất để chúng ta dành thời gian cho việc cầu nguyện.
Tác giả Gary Jansen viết một cuốn sách có tựa là “The 15-Minute Prayer Solution: How One Percent of Your Day Can Transform Your Life” (Giải Pháp Cầu Nguyện 15 Phút: Một Phần Trăm Mỗi Ngày Sống Có Thể Biến Đổi Cuộc Đời Bạn), ông cho biết: “Bạn có biết rằng mỗi ngày có 1.440 phút? Đúng vậy. Tôi đã tính toán. Bạn có biết rằng 1% của số thời gian đó là 14 phút đối với 24 giờ? Điều gì xảy ra nếu hằng ngày bạn quyết định khôn ngoan để rèn luyện linh hồn bằng cách dành 15 phút cho Thiên Chúa? Chỉ 1% bé nhỏ của cuộc đời bạn mà thôi. Cuộc đời bạn có thay đổi không? Cuộc đời tôi đã thay đổi.”
Chúng ta thường có những mục đích cao ngất là làm một giờ thánh mỗi ngày, và rồi chúng ta thất bại, chúng ta cứ tưởng mình là người đáng thương. Thay vì đặt ra mục đích cao xa và thất bại, trước tiên chúng ta nên cố gắng áp dụng từng “bước nhỏ.” Nếu mỗi ngày chúng ta có thể dành 15 phút để cầu nguyện và kiên trì làm như vậy, chúng ta có thể tăng thêm thời gian và dần dần vượt qua những mục đích nhỏ để có thể đạt tới các mục đích cao hơn về sau.
Đầu óc của chúng ta đầy những thông tin nên dễ quên những gì “đã hứa” thực hiện. Đó là lý do chúng ta phải thận trọng và viết thời khóa biểu hằng ngày, quyết tâm làm cho việc cầu nguyện là việc chính. Chúng ta phải có khung thời gian hằng ngày. Hãy viết bằng CHỮ HOA, và có thể TÔ ĐẬM, để giúp củng cố trí nhớ. Nếu bạn có điện thoại thông minh, hãy dùng “chương trình nhắc nhớ” (Reminders App). Tóm lại, chúng ta phải cẩn trọng đối với việc dành thêm thời gian hằng ngày cho việc cầu nguyện.
Quả thật, cầu nguyện là việc rất cần thiết hằng ngày. Thánh Ephraem Syria xác định: “Các nhân đức thành hình nhờ cầu nguyện. Lời cầu nguyện duy trì sự điều độ, ngăn chặn sự tức giận, ngăn chặn sự kiêu ngạo và đố kỵ. Lời cầu nguyện đưa Chúa Thánh Thần vào linh hồn và nâng con người tới Thiên Đàng.”
Cuối cùng, làm trọn các mục đích tâm linh của bạn trong năm mới này sẽ không dễ dàng, mà cũng chẳng bao giờ dễ dàng. Hôn nhân cũng không hề dễ dàng, nhưng chúng ta có sự chọn lựa cẩn thận để quyết định chung sống với người bạn đời của mình “trong mọi hoàn cảnh, và cho đến chết.” Điều chúng ta cần làm là quyết định, nhận biết những gì liên quan và cố gắng hết sức để đạt tới thành công.
Philip Kosloski
Trầm Thiên Thu
(Chuyển Ngữ Từ Aleteia.Org)
Langthangchieutim gởi
Feedom House, một tổ chức giám sát độc lập ở Hoa Kỳ công bố phúc trình về tự do toàn cầu với 195 quốc gia trên thế giới, trong đó Việt Nam vẫn giữ nguyên vị trí một nước không có tự do và không có dấu hiệu cải thiện.
Trong số 195 quốc gia trên thế giới, 87 nước được công nhận là có tự do, 59 nước chỉ phần nào có tự do, 49 nước còn lại hoàn toàn không được tự do về nhiều mặt, trong đó Việt Nam là một.
Năm nay Việt Nam chẳng có thay đổi nào đáng kể so với năm ngoái, nhiều người đối lập vẫn bị bắt giữ, tiếng nói của các xã hội dân sự hay của những nhà hoạt động độc lập bị dập tắt.
– Bà Sarah Repucci
Đó là phần mở đầu phúc trình lần thứ 11 về tự do toàn cầu 2017 của Freedom House, tổ chức chuyên theo dõi và đánh giá mức độ tự do dân chủ của người dân tại từng quốc gia thuộc từng khu vực trên thế giới.
Trong phúc trình về tự do toàn cầu 2017, Freedom House sử dụng sơ đồ màu xanh lá cho những nước thực sự có tự do, màu vàng dành cho những nước phần nào có tự do, màu tím là những nước không có tự do. Năm nay, Việt Nam vẫn nằm trong khung màu tím.
Bà Sarah Repucci, giám đốc chuyên trách xuất bản toàn cầu của Freedom House, nói rằng tổ chức tiếp tục đặt Việt Nam vào tư thế một quốc gia thiếu tự do:
Chúng tôi nhận thấy năm nay Việt Nam chẳng có thay đổi nào đáng kể so với năm ngoái, nhiều người đối lập vẫn bị bắt giữ, tiếng nói của các xã hội dân sự hay của những nhà hoạt động độc lập bị dập tắt.
Đã có lúc chúng tôi cảm thấy phần khởi thấy một vài cá nhân hoặc thành viên các tổ chức dân sự độc lập ở Việt Nam gọi là được phép tự ra ứng cử vào quốc hội. Đáng tiếc là chưa đủ để có thể tin rằng đó là sự thay đổi tích cực và đó là Việt Nam muốn chấp nhận có sự đối lập về chính trị.
Theo đánh giá của Freedom House trong phúc trình về tự do toàn cầu 2017, 3 lãnh vực quan trọng nhất mà Việt Nam thiếu hẳn là tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin, tự do mạng. Sơ đổ về tự do toàn cầu của Freedom House năm 2017 cho thấy trong số 39 quốc gia thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Việt Nam ở nhóm 20% những nước đang theo đuổi chính sách kiểm soát và chi phối mọi quyền tự do căn bản của công dân. Bà Sarah Repucci:
Freedom House chưa bao giờ nhận được sự phản hồi từ phía Việt Nam, đối với những phúc trình thường niên mà tổ chức thực hiện hàng năm.
– Bà Sarah Repucci
Freedom House chưa bao giờ nhận được sự phản hồi từ phía Việt Nam, đối với những phúc trình thường niên mà tổ chức thực hiện hàng năm. Có vẻ như chính phủ Việt Nam không thực sự quan tâm một cách nghiêm túc đến những báo cáo như thế này và cũng không muốn cải thiện để trở thành một thể chế thông thoáng hơn.
Những điểm chính cần nhấn mạnh là qua đại hội đảng lần thứ XII cho đến bầu cử quốc hội thì rõ ràng Việt Nam đã và vẫn muốn giữ nguyên trạng một nhà nước toàn trị, người dân không được thông báo trước điều gì và cũng không có cơ hội được tham gia vào những sinh hoạt chính trị vốn đã rất giới hạn.
Điểm thứ nhì là đã có những cuộc biểu tình lớn ở Việt Nam hồi năm ngoái, chứng tỏ người dân mong muốn nói ra những suy nghĩ của họ và mong muốn được quyền tự do bày tỏ những suy nghĩ đó.
Việt Nam thường tuyên bố mình là một quốc gia tự do, dân chủ nhưng để trở thành một nước dân chủ đích thực thì Việt Nam phải tôn trọng và thực thi quyền tự do bày tỏ chính kiến, tự do truy cập mạng để trao đổi tin tức, tự do báo chí để người dân biết những điều gì đang xảy ra trên đất nước của mìn. Đó là kết luận của Freedom House.
Bị chồng đâm chết vì đòi về ăn Tết với cha mẹ
Nguoi-viet.com

Ông Đào Văn Cần cùng tang vật tại cơ quan điều tra. (Hình: Báo Tiền Phong)
TÂY NINH (NV) – Cãi lộn rồi đòi về nhà cha mẹ ruột đón giao thừa, ông chồng không cho nhưng bà vợ vẫn ra đi. Tức giận ông chồng đã ra tay sát hại vợ.
Truyền thông Việt Nam loan tin, chiều 31 Tháng Giêng, công an tỉnh Tây Ninh đã bắt giam ông Đào Văn Cần (34 tuổi), ngụ xã Đôn Thuận, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh do “Giết người.” Nạn nhân là bà Tô Thị Hồng Suyến (30 tuổi) vợ ông Cần.
Báo Tiền Phong dẫn lời nghi phạm khai rằng, do mâu thuẫn với vợ từ trước, nên đến khoảng 19 giờ ngày 27 Tháng Giêng, sau khi đi xịt thuốc lúa về nhà thì cả hai vợ chồng tiếp tục xảy ra cãi vã to tiếng. Buồn bực, bà Suyến đòi về nhà cha mẹ ruột đón giao thừa nhưng ông Cần không đồng ý.
Tuy nhiên, bà Suyến vẫn điện thoại cho người em ruột đến chở đi. Trong lúc bà Suyến lấy quần áo định ra xe đi thì bị ông Cần tức giận dùng dao đâm vào ngực. Do vết thương quá nặng, bà Suyến đã chết ngay sau đó. Sau khi gây án, ông Cần bị người dân bắt giữ cùng tang vật.
Cũng trong ngày 31 Tháng Giêng, công an tỉnh Vĩnh Long đã bắt giữ ông Kim Hòa (50 tuổi), ngụ phường Đông Thuận, thị xã Bình Minh, để điều tra về tội “Giết người.”
Theo cơ quan điều tra chiều 30 Tháng Giêng (mùng 3 Tết), ông Hòa đến nhà của ông Thạch Hiền, ngụ cùng xóm uống rượu. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày mới về nhà và xảy ra cự cãi với vợ là bà Kim Thị Sa Rên (49 tuổi).
Bị trách thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn không lo làm ăn, ông Hòa cãi lại thì bị bà Rên tát vào mặt. Sau đó ông Hòa bỏ đi vào nhà bếp ăn cơm. Tuy nhiên, bà Rên tiếp tục gây chiến. Tức giận, ông Hòa đã dùng dao đâm vào ngực vợ rồi bỏ đi.
Bà Sa Rên được người nhà đưa đi cấp cứu nhưng đã chết sau đó. Đến sáng hôm sau, ông Cần đã đến cơ quan công an đầu thú và khai nhận sự việc. (Tr.N)
From facebook: Trần Bang.

(Bài viết của tác giả Tiến Văn cho chuyên mục “NÓI VỚI NGƯỜI CỘNG SẢN” trên Đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi.)
Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới xảy ra vào năm 1991 đã tạo điều kiện cho nhiều tư liệu mật của cộng sản sau nhiều năm giấu kín được bạch hóa. Nhiều sự thật hoặc dối trá của cộng sản đang lần lần được trả lại đúng vị trí của nó. Trong đó có những sự thật về Hồ Chí Minh. Để khách quan nhất, chúng ta có thể dựa theo các tư liệu của khối cựu cộng sản hoặc của chính đảng cộng sản Việt Nam nói về hoạt động hay các quan hệ của Hồ Chí Minh để xác định lại cho đúng bản chất, con người thật của Hồ Chí Minh.
Gần đây, một nghiên cứu có tên “Về hai chuyến đi bí mật của Hồ Chí Minh đến Liên Sô năm 1950 và 1952”của tác giả Nguyễn Thị Mai Hoa thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho thấy Hồ Chí Minh luôn tỏ một thái độ hết sức hạ mình, khiếp nhược trước Xít Ta Lin – lãnh tụ cộng sản khét tiếng của Liên Sô và khối xã hội chủ nghĩa.
Trong chuyến đi bí mật thứ nhất vào năm 1950, Hồ Chí Minh đã bị Xít Ta Lin nghi ngờ, khinh thường tới mức cho nhân viên tới khách sạn lén lấy lại cuốn tạp chí trong đó có thủ bút của Xít Ta Lin. Nhưng khi trở về Việt Nam, Hồ Chí Minh vẫn viết thư cho Xít Ta Lin với lời lẽ thế này:
“Tôi hy vọng sẽ nhận được cuốn sách mà đồng chí đã hứa là sẽ viết riêng cho chúng tôi. Tôi sẽ thân chinh dịch cuốn sách đó. Đây sẽ là món quà hết sức quý báu mà đồng chí tặng cho chính Đảng còn non trẻ của chúng tôi”.
Trong chuyến đi bí mật thứ 2 vào đầu tháng 10 năm 1952, Hồ Chí Minh đã thỉnh cầu nhiều lần để được diện kiến Xít Ta Lin.
Đây là một đoạn thư Hồ Chí Minh viết gửi Xít Ta Lin:
“Tôi vẫn đợi ý kiến của đồng chí để có thể đến gặp, ôm hôn và chuyển tới đồng chí bản báo cáo về tình hình Việt Nam”.
Dường như vẫn chưa yên tâm, Hồ Chí Minh còn phải mượn thêm uy tín của lãnh đạo cộng sản Trung Cộng hầu được Xít Ta Lin cho gặp mặt:
“Trong cuộc gặp, khi tôi báo cáo tốt hơn cả nếu có mặt của đồng chí Lưu Thiếu Kỳ”.
Song rốt cuộc, sau hơn một tháng trú ngụ bí mật trên đất Liên Xô, Hồ Chí Minh vẫn không được Xít Ta Lin cho gặp để “báo cáo”. Đến tận ngày cuối cùng trước khi phải quay về Việt Nam, Hồ lại gửi cho Xít Ta Lin một bản tự hứa:
“Hôm nay tôi về nước. Nhiệt thành cám ơn về tất cả những gì đồng chí đã làm cho tôi. Xin hứa với đồng chí sẽ thực hiện tốt chương trình nông nghiệp và tiến hành tốt cuộc chiến tranh yêu nước. Hy vọng rằng, sau hai hoặc ba năm nữa tôi có thể trở lại và báo cáo về kết quả công việc“.
Quí vị, quí bạn thân mến, xem những những ngôn từ răm rắp tuân phục và hạ mình như thế, chẳng ai dám tin đó lại là ứng xử của một lãnh tụ quốc gia độc lập gửi tới lãnh tụ của một quốc gia khác. Nhưng đó chính là ngôn từ của Hồ Chí Minh – lãnh tụ cộng sản Bắc Việt đã dùng để thỉnh cầu tới lãnh tụ cộng sản Liên Xô.
Nhưng chưa hết. Sau khi Liên Sô sụp đổ, Phòng Lưu trữ của Tổng thống Liên bang Nga gần đây đã cho bạch hóa hai lá thư soạn bằng tiếng Nga do Hồ Chí Minh ký gửi trực tiếp Xít Ta Lin trong chuyến đi bí mật tới Liên Sô năm 1952.
Đây là trích dịch bức thư viết ngày 30 tháng 10 năm 1952:
Thưa đồng chí Xít Ta Lin kính mến,
Tôi đã bắt đầu soạn Dự thảo Cương lãnh Cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam, và nó sẽ được trình lên đồng chí trong vài ngày tới.
Tôi có một số thỉnh cầu dưới đây xin gửi tới đồng chí và cũng hi vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những yêu cầu này:
1. Xin cử tới Việt Nam một hoặc hai đồng chí Liên Sô để tìm hiểu và nghiên cứu tình hình ở đó. Nếu những đồng chí này thành thạo tiếng Pháp thì họ có thể giao tiếp với các tầng lớp nhân dân rộng rãi hơn. Từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi cần khoảng mười ngày.
…
Sau khi nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề đã nêu trên, tôi dự định sẽ rời Mạc tư khoa vào ngày mồng 8 hoặc mồng 9 tháng 11.
Xin gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và những lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
Hồ Chí Minh
Còn đây là bản dịch đầy đủ nội dung chính của lá thư ngày 31 tháng 10 năm 1952:
Thưa đồng chí Xít Ta Lin kính mến,
Tôi xin gửi tới đồng chí bản dự thảo Cương lãnh Cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam. Bản dự thảo Cương lãnh này do tôi soạn với sự giúp đỡ của các đồng chí Lưu Thiếu Kì và Vương Giá Tường. Xin đồng chí xem xét và cho chỉ thị về vấn đề này.
Gửi đồng chí lời chào cộng sản.
Ngày 31 tháng 10 năm 1952
Hồ Chí Minh
Nội dung và các ngôn từ của Hồ Chí Minh vừa trích dẫn cho thấy một sự thật không thể phủ nhận: Hồ Chí Minh chính là người đã chủ xướng tuân phục lãnh đạo cộng sản Liên Xô và Trung Cộng trong việc gây ra thảm họa “cải cách ruộng đất” vô cùng đau thương cho nhân dân ta cách đây hơn nửa thế kỉ.
Những bằng chứng xác thực này cũng xác nhận một sự thật không thể chối cãi: Hồ Chí Minh là con người rất thiếu tự trọng cá nhân và không biết đến liêm sỉ quốc gia, danh dự dân tộc.
Tâm Anh và Tiến Văn kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong chương trình tuần tới.
Tiến Văn.
httpv://www.youtube.com/watch?v=0rkX0xfW8UI&feature=youtu.be
Phim Công giáo: Thánh Don Bosco Tông đồ giới trẻ
31-1-2017
Chính sách dân tộc và chủ nghĩa bành trướng của Đảng cộng sản Trung Quốc hiện nay vừa là một nguy cơ sinh tồn nhưng cũng đồng thời là bình tiếp oxy hà hơi cho Đảng Cộng Sản Việt Nam. Điều này thoạt nghe có vẻ vô lý nhưng lại là sự thật.
Đất nước Trung Quốc quá lớn, quá đông dân và quá phức tạp. Trong nhiều thiên niên kỷ, người Trung Quốc tồn tại bằng các cuộc chiến tranh xâm lược nối tiếp nhau. Văn hoá của họ được xây dựng trên nền tảng của lối tư duy nô dịch. Vì thế hầu như khó có thể có cơ may nào cho Trung Quốc chuyển hoá sang một thể chế dân chủ trong hoà bình trong ít nhất 30 năm tới.
Những người cộng sản ở Trung Quốc hiện nay đối diện với nguy cơ bị tàn sát hàng loạt nếu họ để mất dây cương. Riêng cá nhân tôi cho rằng nếu biến động xã hội xảy ra ở Trung Quốc, nó sẽ khiến đất nước này bị chia nhỏ làm nhiều phần. Đó sẽ là câu chuyện trong một tương lai xa. Với tư cách là một đại cường, Đảng cộng sản Trung Quốc có nhiều giải pháp để duy trì sự tồn tại của mình hơn là Việt Nam. Nguy cơ Trung Quốc tiến hành các cuộc chiến tranh quy mô nhỏ trong khoảng 10 năm tới là rất cao, và nó sẽ là một công cụ mà Đảng Cộng Sản Trung Quốc vận dụng thường xuyên để đánh lạc hướng và xoa dịu các bất ổn chính trị trong nước.
Có thể thấy rõ điều đó qua các phát ngôn ngày càng kiên quyết của Tập Cận Bình về các vùng lãnh thổ tranh chấp. Đó không phải là vấn đề quyền lợi quốc gia, nó giống một chiếc phao cứu sinh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc trong bối cảnh ngày một mất dần tính chính danh trước xu thế thời đại. Chế độ cộng sản ở Trung Quốc rồi sẽ kết thúc, nhưng nó sẽ không chết một mình trước khi gây ra những tổn thương sâu sắc cho phần còn lại của thế giới và cho chính người dân Trung Quốc. Thế giới cần ý thức rất rõ về điều này.
Là một nước có đường biên hàng ngàn km với Trung Quốc và có một mối quan hệ lịch sử phức tạp với dấu ấn nổi trội là chiến tranh, quan hệ giữa hai chế độ cầm quyền hiện nay ở Trung Quốc và Việt Nam rất phức tạp. Một mặt, họ luôn giống nhau, trước đây là vì ý thức hệ cộng sản cổ điển, giờ đây là sự tương đồng về mô hình cái trị tham nhũng độc tài. Điều đó khiến chế độ cộng sản tại TQ và Việt Nam luôn có nhu cầu tìm đến nhau trong bối cảnh thế giới coi họ là những tồn tại khuyết tật của lịch sử. Mặt khác, do là những đại diện cầm quyền tại hai quốc gia giáp giới với những lợi ích đối kháng nhau về lãnh thổ, khiến hai chế độ cầm quyền này không thể không có những va chạm đôi khi đẫm máu. Tôi muốn dừng lại một chút để nói về những cuộc chiến tranh giành độc lập của Việt Nam trong thế kỷ trước mà Đảng Cộng Sản vẫn luôn dựa vào đó để đề cao tính chính danh của mình. Chính điều này sẽ giải thích đầy đủ cho mối liên kết bất thường giữa chế độ cộng sản tại Việt Nam và Trung Quốc.
Là người truyền bá các học thuyết cộng sản vào Việt Nam, nhưng ông Hồ Chí Minh chưa bao giờ là một người cộng sản đúng nghĩa. Tất cả các trước tác ông ta để lại đều khó có thể nói ông Hồ am hiểu sâu các tư tưởng của Marx và Engels. Tôi thậm chí tin rằng cả cuộc đời mình chưa bao giờ ông Hồ đọc hết bộ Tư Bản Luận. Trong hồi ức được thuật lại, chính ông Hồ thừa nhận rằng ông ta đến với chủ nghĩa cộng sản chỉ vì đọc được luận cương “Dân tộc và thuộc địa” của Lenin, trong đó có đề cập đến việc xây dựng một liên minh cộng sản để giải phóng giai cấp và giải phóng các nước thuộc địa. Chủ nghĩa yêu nước là thứ đã thôi thúc ông Hồ, cho đến khi ông ta tiếp cận các lý thuyết cộng sản.
Việt Nam có một lịch sử lập quốc hơn 2000 năm, trải qua vô số cuộc chiến tranh chống xâm lược. Chủ nghĩa yêu nước là một giá trị cốt lõi luôn hiện diện trong huyết quản người Việt. Sự tồn tại của lòng yêu nước vốn độc lập với các lý thuyết cộng sản. Những người lính đã chiến đấu ở miền Bắc và cả những người lính đã chiến đấu để bảo vệ miền Nam, tôi tin rằng họ đều được thôi thúc bởi lòng yêu nước, vốn được truyền đời qua nhiều thế hệ. Họ đứng ở hai phía khác nhau vì những giá trị quan khác nhau và do sự chi phối của những người cầm đầu. Cuộc chiến ấy miền Bắc đã thắng. Nguyên nhân đã được phân tích rất kỹ càng bởi giới sử gia đông tây, tôi sẽ không lặp lại. Nếu có một nhận xét về sự kiện thống nhất 30/04/1975, tôi có thể nói thế này: “Một xã hội văn minh hơn đã bị đè bẹp bởi một xã hội dã man hơn”.
Sức mạnh quân sự không phải lúc nào cũng đi kèm với trình độ văn minh, ví dụ cho điều đó trong lịch sử đã có rất nhiều. Ví dụ như cuộc xâm lược khắp Á Âu của đội quân du mục của Thành Cát Tư Hãn với những quốc gia có trình độ văn minh tiên tiến hơn nhiều. Riêng với Việt Nam, 30 năm sau ngày 30/04/1975, đất nước quay lại với những nền tảng căn bản mà người Việt Nam đã làm được ở miền Nam trước năm 1975, một sự tụt lùi sâu sắc của lịch sử.
Có 4 triệu người đã chết trong cuộc chiến giành độc lập và thống nhất ở Việt Nam. Hầu hết những người lính đã hy sinh ở Điện Biên Phủ, ở Khe Sanh, ở Nam Lào và ở những cung rừng hẻo lánh Trường Sơn đều không phải là đảng viên cộng sản. Họ chiến đấu thuần tuý vì lòng yêu nước. Thậm chí ngay cả những người được kết nạp Đảng tại mặt trận lúc đó, họ cũng chẳng dính dáng hay hiểu gì đến các tư tưởng cộng sản. Những người lính ấy đã chiến đấu và chết vì một lý do duy nhất là lòng yêu nước. Chính ở đây là một sự nhập nhèm của những người cộng sản. Lòng yêu nước đã làm nên chiến thắng 30/04/1975 chứ không phải chủ nghĩa cộng sản. Và bản thân lòng yêu nước thì đã luôn hiện diện ở Việt Nam trước, trong và sau khi những lý thuyết cộng sản đến đất nước này.
Tôi tin chắc rằng dù có hay không những người cộng sản ở Việt Nam thì đất nước cũng vẫn cứ giành được độc lập bằng cách này hay cách khác, dù là theo lối chiến tranh hay hoà bình, vì người Việt sẽ luôn không ngừng đòi hỏi nền độc lập. Trên thực tế, hầu hết các nước thuộc địa trên thế giới sau này đều đạt được độc lập mà chỉ số ít phải dùng tới chiến tranh. Và vấn đề chính ở đây là những người cộng sản đã tìm cách đánh đồng chủ nghĩa cộng sản (vốn là một thứ ngoại lai) với chủ nghĩa yêu nước (là thhứ luôn sẵn có), và quy toàn bộ công lao giải phóng đất nước cho chủ thuyết của họ.
Mượn sức mạnh của lòng yêu nước để đạt được quyền lực và thiết lập được chế độ cai trị, nhưng Đảng cộng sản Việt Nam đánh cắp luôn chiến thắng ấy bằng cách ghi quyền cai trị của họ vào hiến pháp. Xương máu và tổn thất thuộc về toàn bộ người Việt Nam, nhưng thắng lợi thì chỉ thuộc về mình Đảng Cộng Sản. Trên thế giới hiện nay, có lẽ cũng chỉ có Việt Nam và Trung Quốc là ghi áp đặt quyền cai trị của một Đảng cầm quyền vào hiến pháp. Người dân Việt Nam đã chiến đấu và hy sinh cho nền độc lập, đổi lại là một sự cai trị áp đặt của Đảng cộng sản. Hơn 40 năm qua, họ chẳng có cơ hội lựa chọn nào khác. Đây là một trong những bi kịch lịch sử cay đắng nhất của người Việt.
Tuy nhiên, chúng ta cần công bằng với lịch sử. Tôi tin rằng ông Hồ Chí Minh và những người cộng sản đời đầu đều là những người yêu nước. Chỉ có điều họ đã nhanh chóng đặt Đảng lên trên đất nước ngay khi giành được chiến thắng. Và di sản mà họ để lại đã gây tai họa cho lịch sử đất nước trong nhiều chục năm sau này.
Chế độ cầm quyền hiện nay kế thừa di sản của những người cộng sản đời đầu. Họ hiểu rất rõ là người dân Việt Nam sẽ không chấp nhận bất cứ một chế độ cai trị nào làm tổn hại độc lập hay chủ quyền quốc gia. Và chính đây là lý do dẫn đến mối quan hệ rất phức tạp giữa Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng cộng sản Trung Quốc. Một mặt thì Đảng cộng sản Việt Nam luôn có lý do để xích gần Trung Quốc, khi họ là những thứ tồn tại bị thế giới coi là dị dạng, họ có nhu cầu xiết chặt tay nhau. Đó là lý do ông Nguyễn Văn Linh tìm cách bắt tay với TQ bằng mọi giá ở hội nghị Thành Đô, khi hàng loạt chế độ cộng sản trên thế giới sụp đổ. Mặt khác, chế độ Việt Nam không thể không đối đầu với Trung Quốc khi chủ quyền quốc gia bị xâm phạm. Đây chính là lý do mà chủ quyền Việt Nam cứ từng bước bị tổn thất bởi Trung Quốc trong hơn 30 năm qua, khi bản thân Đảng cầm quyền luôn bị giằng xé giữa việc xích gần kẻ xâm lược và sức ép bảo vệ chủ quyền đến từ phía người dân.
Chủ nghĩa bành trướng hiện là một cứu cánh để kéo dài thời gian cai trị của chế độ cộng sản Trung Quốc, nó khiến chế độ cộng sản Việt Nam đối mặt với nguy cơ lớn nếu để mất chủ quyền. Tuy nhiên cũng chính sức ép này hiện là một trong những công cụ tuyên truyền của chế độ Việt Nam, theo đó quyền cai trị của họ cần được giữ nguyên nếu không đất nước sẽ bất ổn và bị thôn tính. Tôi sẽ quay trở lại câu chuyện về luận điệu tuyên truyền này ở phần kế tiếp.
Thánh Gioan Bosco
(1815 – 1888)
Chính nguyên tắc giáo dục của Thánh Gioan Bosco đã được sử dụng rộng rãi trong các trường học ngày nay. Ðó là một hệ thống ngăn ngừa, loại bỏ các hình phạt thể xác và đưa các học sinh vào một môi trường lành mạnh ít có cơ hội phạm tội. Ngài cổ võ việc thường xuyên lãnh nhận bí tích Hòa Giải và Thánh Thể. Ngài pha trộn phương cách dạy giáo lý và sự hướng dẫn của một người cha, nhằm kết hợp đời sống tâm linh và công việc, việc học và việc chơi đùa.
Ðược khuyến khích đi tu để có thể giúp cho các trẻ em, Gioan thụ phong linh mục năm 1841. Công việc phục vụ giới trẻ của ngài khởi sự khi ngài gặp một em mồ côi và giúp em chuẩn bị Rước Lễ lần đầu. Sau đó ngài quy tụ các người trẻ lại và chỉ dạy họ về giáo lý.
Sau thời gian làm tuyên uý cho một trại tế bần của các thiếu nữ, Cha Gioan mở nhà trường Thánh Phanxicô “de Sales” cho các em trai. Một vài người bảo trợ giầu có và quyền thế đã giúp đỡ tài chánh, nên ngài có thể mở hai trường dạy nghề cho các em trai, trường dạy đóng giầy và dạy may quần áo.
Vào năm 1856, số các em theo học tại hai trường đã lên đến 150 em, và có thêm một máy in để xuất bản các tài liệu giáo lý. Sự quan tâm của ngài đến việc giáo dục và xuất bản khiến ngài xứng đáng là quan thầy của các người tập sự trẻ tuổi và các nhà xuất bản Công Giáo.
Tiếng tăm của Cha Gioan ngày càng lan rộng và, vào năm 1850, ngài phải tự huấn luyện các người trẻ muốn theo đuổi con đường của ngài vì lúc ấy thật khó để duy trì ơn thiên triệu. Năm 1854, một cách bán chính thức, Cha Gioan và những người theo ngài đồng ý đứng dưới tên tổ chức Thánh Phanxicô “de Sales”.
Với sự hỗ trợ của Ðức Giáo Hoàng Piô IX, Cha Gioan quy tụ 17 người và thành lập dòng Salesian vào năm 1859. Hoạt động của dòng nhắm đến việc giáo dục và công cuộc truyền giáo. Sau này, ngài tổ chức dòng Salesian nữ để giúp đỡ các thiếu nữ.
Ngài từ trần năm 1888 lúc bảy mươi hai tuổi.
Lời Bàn
Thánh Gioan Bosco giáo dục toàn thể con người — thể xác và linh hồn. Ngài tin rằng tình yêu Ðức Kitô và sự tin tưởng của chúng ta vào tình yêu ấy phải thấm nhập vào tất cả sinh hoạt của chúng ta — học hành, chơi đùa, làm việc. Ðối với Thánh Gioan Bosco, là một Kitô Hữu có nghĩa phải luôn luôn nỗ lực, không chỉ một tuần một lần, xem lễ ngày Chúa Nhật là đủ. Chính khi tìm kiếm Thiên Chúa trong sinh hoạt hàng ngày, hãy để tình yêu ấy hướng dẫn chúng ta. Tuy nhiên, Thánh Gioan nhận ra được tầm quan trọng của sự huấn nghệ và giá trị con người cũng như sự tự trọng do bởi tài nghệ và khả năng làm việc, do đó ngài cũng huấn luyện các người trẻ trong các ngành nghề.
Lời Trích
“Mọi sự giáo dục đều dạy một triết lý sống; nếu không bởi lời nói thì bởi sự đề nghị, sự gợi ý, và bởi môi trường. Mỗi một phần của giáo dục đều có liên hệ với nhau. Nếu tất cả sự tổng hợp ấy không đem lại một cái nhìn tổng quát về đời sống, thì đó không phải là giáo dục” (G.K. Chesterton, The Common Man).
Trích từ NguoiTinHuu.com
30-1-2017
Tiếp theo phần 1: Đảng cộng sản Việt Nam, ngã ba đường lịch sử: Tồn tại và diệt vong?
Những người cộng sản ở hầu hết các nước đều giành được quyền cai trị theo những cách thức giống hệt nhau. Bằng những khẩu hiệu tuyên truyền về một xã hội ảo tưởng, họ đặt trước mặt những người nghèo và thất học một cái bánh vẽ và xúi họ vào lò lửa chiến tranh. Tuy nhiên cơn điên dại tập thể cuối cùng cũng qua đi và hầu hết người dân nhận ra mình đã bị lừa vì không hề thấy sự bình đẳng cũng như phồn thịnh ở đâu mà chỉ thấy những ông chủ mới. Cho đến khi hàng loạt chế độ cộng sản sụp đổ vào cuối những năm 1980, nhân loại và chính người dân các nước đó đã phải trả những cái giá quá mức nặng nề. Dẫu sao họ đã gặp may vì cuối cùng cũng thoát khỏi một thứ quái vật ghê sợ trong lịch sử.
Tôi không phủ nhận rằng đã có những lớp người cộng sản sống vì lý tưởng với niềm tin cuồng tín rằng mình duy nhất đúng. Họ sẵn sàng phạm những tội ác không ghê tay để tiêu diệt và buộc những người khác phải nghe mình. Giữa những người cộng sản cuồng tín thời kỳ đầu và những tay đao phủ của nhà nước hồi giáo IS hiện nay có sự tương đồng giống hệt nhau: Khi cắt cổ người, chúng đều cho rằng mình đang làm vì điều đúng.
Với thứ bùa thiêng về một xã hội ảo tưởng, nơi con người có thể hưởng thụ theo nhu cầu bất chấp năng lực tạo ra của cải, những người cộng sản thế hệ đầu đã rất thành công trong việc nhồi sọ và lôi kéo con người. Họ đặc biệt thành công ở những xã hội đói nghèo với nền tảng dân trí thấp. Nhưng có lẽ khả năng trại lính hoá xã hội, triệt hạ tri thức độc lập mới là thứ vũ khí siêu hạng của những người cộng sản. Lenin và những đệ tử của ông ta đã diệt không gớm tay những người Mensevich và Trotsky, dù họ cùng là những đệ tử của Marx. Tất nhiên là bằng chuyên chính vô sản, số phận của trí thức và những kẻ thù giai cấp còn lại thì cực kỳ thê thảm. Mao Trạch Đông diệt hàng chục triệu người và tận diệt mọi tri thức đối lập cũng như các đối thủ chính trị trong Đại Cách Mạng văn hoá. Ở Việt Nam, ông Hồ Chí Minh cũng dìm chết mọi tư tưởng độc lập bằng cuộc thanh trừng nhân văn giai phẩm. Họ hành động rất giống nhau dù quy mô khác biệt nhau và mục đích thì chỉ có một: Tạo ra một xã hội tê liệt về tư duy và chỉ biết cúi đầu. Ở đây có lẽ nên có một nhận xét công bằng, Hồ Chí Minh không tàn bạo như hai tiền bối của ông ta. Trong hầu hết trường hợp, Hồ Chí Minh luôn tìm cách nấp phía sau giật dây và đẩy thuộc cấp ra hứng chịu búa rìu (Trường Chinh với cải cách ruộng đất, Tố Hữu với nhân văn giai phẩm).
Tuy nhiên những xã hội cộng sản đời đầu nhanh chóng đối diện với thực tại mà họ không thể vượt qua. Do xuất phát từ một lý tưởng sai lầm, họ thất bại trong việc tạo ra đủ của cải vật chất nuôi sống xã hội. Mục tiêu về sự công bằng thì lại càng xa vời vì cách thức họ kiểm soát quyền lực độc tài tự thân nó là gốc rễ tạo ra bất bình đẳng. Cuối năm 1980, sự tan rã của hàng loạt nhà nước cộng sản đánh dấu sự cáo chung của phong trào cộng sản toàn cầu.
Trong lúc đó, những người cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam loay hoay tìm cách thay đổi để kéo dài thời gian cai trị. Họ thấy rằng có thể vay mượn nền kinh tế thị trường vốn có năng lực nổi trội để tạo ra của cải ở phương Tây, và dựa vào đó làm bầu sữa nuôi sống cho bộ máy cai trị độc tài của mình. Trung Quốc tiến hành những cải cách cho phép sự hiện diện của đầu tư nước ngoài và kinh tế tư nhân vào cuối những năm 1970. Việt nam nối gót chậm hơn, vào khoảng cuối những năm 1980. Cả hai chế độ cộng sản này đều gặp may, vì các nước phương Tây sau khi chứng kiến sự tan rã của hàng loạt nhà nước cộng sản đã cho rằng sớm muộn gì Trung Quốc hay Việt Nam cũng sẽ phải từ bỏ con đường bế tắc ấy. Vốn nước ngoài và công nghệ đổ vào những đất nước này và tạo ra những nguồn lực mới. Trong khi đó việc giành được quyền tồn tại cũng khiến các lực lượng tư nhân tham gia vào việc tạo ra của cải. Tuy nhiên đây cũng là lúc đánh dấu sự tuyệt chủng của những người cộng sản cuối cùng. Các lợi ích kinh tế được tạo ra cùng với quyền lực độc tài không được kiểm soát đã khiến toàn bộ đội ngũ cai trị tại Trung Quốc và Việt Nam nhanh chóng thoái hóa và đánh mất chút niềm tin lý tưởng cuối cùng. Kết quả là họ trở thành một tập đoàn tội phạm gắn kết với nhau bởi những khẩu hiệu chẳng ai còn tin và các món lời được tạo ra từ bòn rút ngân sách, từ việc lạm dụng quyền lực hoặc kiếm lợi từ lợi thế thông tin bất bình đẳng. Thực tế chế độ cộng sản đã chết từ lâu ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, còn lại chỉ là một tập đoàn cai trị độc tài tham nhũng dưới cái vỏ cộng sản.
Hai thứ bùa thiêng từng giúp những người cộng sản nắm quyền là cái bánh vẽ về một xã hội bình đẳng thì nay đã chẳng còn lừa gạt được ai khi chính họ đang là một đẳng cấp ưu tiên với mọi đặc quyền. Tuy nhiên, thứ vũ khí siêu hạng còn lại là kiểm soát thông tin và tiêu diệt mọi trí thức có năng lực tư duy độc lập thì họ vẫn đang làm rất tốt. Trung Quốc kiểm soát mạng xã hội cực kỳ ngặt nghèo và thanh trừng khốc liệt mọi trí thức đối lập. Việt Nam cũng đàn áp và triệt hạ không tiếc tay mọi trí thức phản biện với hàng loạt án tù. Bên cạnh đó, họ vẫn tiếp tục cố gắng duy trì hoạt động tuyên truyền để có thể lừa gạt càng lâu càng tốt những thành phần dân trí thấp nhằm kéo dài thời gian tồn tại. Tất nhiên đó là những nỗ lực không có ngày mai vì theo thời gian, khi chứng kiến tình trạng tham nhũng lan tràn, khi đối diện với sự tận diệt môi trường, những món nợ khổng lồ mà những tay cộng sản tham nhũng mang về cho đất nước, sự tuyên truyền của bộ máy cộng sản ngày một mất thiêng. Và cuộc cách mạng Internet đã bồi thêm những đòn trí mạng vào bức màn sắt kiểm duyệt tư tưởng và tuyên truyền của những chế độ cộng sản. Họ càng lúc càng mất khả năng kiểm duyệt và bóp nghẹt các luồng tư tưởng tự do. Bên cạnh đó chính nền kinh tế thị trường mà họ vay mượn từ các xã hội phát triển phương tây đã tạo ra sự hội nhập và giao lưu văn hoá mà họ không thể chặn lại được. Vấn đề mà tất cả các lãnh tụ cộng sản đều nhận ra: Không phải là có tồn tại được hay không mà là còn tồn tại được bao lâu nữa?
Những căn bệnh trầm kha mà Trung Quốc và Việt Nam đang mắc phải gần như giống hệt nhau. Một bộ máy tha hoá tham nhũng đến tận gốc rễ với hiệu năng cai trị ngày càng suy giảm. Các nguồn tài nguyên cạn kiệt và môi trường bị tàn phá nặng nề đến mức mất khả năng duy trì cuộc sống thông thường. Tình trạng bất công lan tràn với nạn lạm dụng quyền lực của bộ máy cai trị đã bị lưu manh hoá. Gánh nặng nợ công đè ngập cổ người dân cộng với mức thuế phí nặng nề trong khi các dịch vụ an sinh xã hội vô cùng tồi tệ.
Nhà lãnh đạo thuộc thế hệ thứ 5 của chế độ cộng sản Trung Quốc là Tập Cận Bình cố gắng tìm lối thoát bằng một cuộc đại thanh trừng với chiến dịch đả hổ diệt ruồi, nhắm mục tiêu vào những đối thủ chính trị của ông ta và những thành phần quan chức tham nhũng không nằm trong phe cánh của Tập. Nhưng hơn ai hết Tập Cận Bình hiểu rất rõ rằng ông ta đang dựa vào một phe cánh tham nhũng để triệt hạ phe cánh còn lại. Cái gọi là đấu tranh tham nhũng của Tập Cận Bình tự thân nó thất bại ngay từ đầu khi không giải quyết được sự cai trị độc tài: Quyền lực độc tài không được kiểm soát tự thân nó là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng. Tập triệt hạ được một phe nhưng nếu Tập tước đoạt quyền lợi hoặc chĩa mũi dùi vào phe cánh đang phò trợ ông ta thì khi đó cái gì sẽ bảo vệ được Tập?
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sau khi thanh trừng được đối thủ chính trị lớn nhất của mình tại đại hội XII có vẻ cũng muốn thừa thắng xông lên với một chiến dịch học theo Tập Cận Bình. Nền chính trị của Việt Nam có độ tản quyền cao hơn và do đó dù có học theo thì Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng chẳng diệt nổi muỗi, chưa nói gì đến ruồi hay hổ. Và mục đích chống tham nhũng tự thân nó mâu thuẫn ngay từ đầu với nền chính trị độc tài.
Lá bài nguy hiểm nhất của Tập Cận Bình nhằm kéo dài thời gian cai trị lại chẳng dính dáng gì đến bộ máy nhà nước hay các tư tưởng tự do. Nó chính là chủ nghĩa dân tộc cực đoan mà nhiều thế hệ lãnh đạo Trung Quốc đã nối tiếp nhau vun xới như một giải pháp dự phòng cho các bất ổn xã hội.