Những người tù trở về báo hiệu bình minh của nền dân chủ
Những người tù trở về báo hiệu bình minh của nền dân chủ
112-2-2017
Ngày 11.02.2017, bà Bùi Thị Minh Hằng, một người đấu tranh kiên cường cho tự do, dân chủ và quyền con người đã được tự do sau 3 năm tù giam. Ngày trở về của bà Hằng là một sự chiến thắng hết sức lớn lao không chỉ cho riêng cá nhân của bà mà cho cả công cuộc đấu tranh của người dân Việt Nam. Sự chiến thắng của lý tưởng, niềm tin và lòng yêu nước đối với sự bắt bớ, giam cầm, nhu nhược khiếp sợ của nhà cầm quyền Hà Nội.
Theo dõi cuộc tiếp đón long trọng của người dân khi bà Hằng bước ra khỏi cổng trại giam cho ta thấy một bức tranh sáng láng, đầy hi vọng của dân chủ và tự do. Hàng trăm người từ khắp mọi nơi đến tận cổng trại giam Gia Trung, Gia Lai và tại Sài Gòn dang rộng vòng tay đón chào bà Hằng. Các hội đoàn, tổ chức xã hội dân sự hiện diện để chúc mừng và nghênh tiếp một người tù trở về.
Những giọt nước mắt của hạnh phúc, niềm vui, sự hi vọng được tỏ lộ một cách sinh động trên từng khuôn mặt của người tù trở về lẫn những người đón chào. Bắt bớ và giam cầm những người yêu nước, nhà cầm quyền Hà Nội được gì và mất gì? Có ngăn cản, trù dập, giam hãm được tinh thần yêu nước và lý tưởng cho một nền hòa bình, dân chủ, tự do thực sự của họ? Có lẽ là không, chắc chắn không.
Bà Bùi Thị Minh Hằng nói gì khi bước ra khỏi cổng trại giam sau ba năm tù? “Tôi vừa tốt nghiệp loại ưu trường đào tạo những người đấu tranh do nhà cầm quyền cộng sản tổ chức”. Ồ, hóa ra, với người đấu tranh coi chính nơi tù đày, đau khổ đó là nơi rèn rủa ý chí chiến đấu mãnh liệt hơn cho họ mà thôi.
Bắt giam và bỏ tù người yêu nước có ngăn chặn được hàng hàng lớp lớp những người khác tiếp bước trên con đường đấu tranh không vậy? Mục tiêu này của nhà cầm quyền Hà Nội lại thất bại. Mỗi khi có một ai đó bị bắt giam, hàng trăm ngàn người lên tiếng phản đối và tố cáo sự vi phạm nhân quyền của Hà Nội. Hàng chục, hàng trăm người lên tiếng yêu cầu đi tù thay hoặc bắt giam họ.
Những năm gần đây, các tù nhân lương tâm trở về sau những năm tháng bị giam cầm được hân hoan đón chào như những người hùng dân tộc, người dân đã có cái nhìn rộng mở hơn, những câu hỏi được đặt ra sắc bén hơn: “Tại sao những người tù này lại được đón chào như một vị anh hùng vậy? Họ bị nhà nước nói là phản động cơ mà, tại sao họ lại hãnh diện, mạnh mẽ, kiên cường, can đảm hơn sau những năm tháng tù tội vậy?”.
Có người lại nói: “Đi tù về mà được đón chào long trọng thế này tôi cũng muốn làm ‘phản động’, cũng muốn đấu tranh, cũng muốn hòa cùng nhịp bước với họ”.
Rõ ràng, người dân nhận chân được thực tại xã hội ngày càng nhiều hơn, người dân biết và hiểu nhiều hơn về quyền con người, về tự do dân chủ. Từ biết, hiểu dẫn đến yêu và dấn thân đấu tranh thật là dễ dàng, nhẹ nhàng.
Nhận thức xã hội theo quá trình thời gian, từ những sự kiện, bối cảnh hiện tại cuộc sống nó tác động mạnh mẽ vào trí não con người. Qua đó từ thờ ơ, vô cảm họ dần được cảm thụ và hình thành nên lý tưởng, từ lý tưởng chuyển bước sang hành động sẽ nhanh chóng hơn qua những cú hích.
Những cuộc bắt bớ giam cầm người yêu nước, những trải nghiệm đau thương và sự can đảm, kiên cường trong lý tưởng, những cuộc trả tự do và được đón tiếp nồng hậu, long trọng và đầy tình yêu thương của xã hội đối với các tù nhân lương tâm nó cũng giống như những cú hích thúc đẩy con người và xã hội vậy.
Chúng ta tin rằng, những tù nhân lương tâm là một nét vẽ đẹp, điểm nhấn quan trọng trong bức tranh tổng thể của công cuộc đấu tranh cho một nền hòa bình, tự do, dân chủ, công chính, bác ái của đất nước Việt Nam.
MỘT CHIẾC QUAN TÀI… ĐẦY YÊU THƯƠNG!!
MỘT CHIẾC QUAN TÀI… ĐẦY YÊU THƯƠNG!!

Sáng nay đưa một người bạn từ Thái Lan về lại USA, tự nhiên bỗng thấy thương bạn mình, thương lắm… về lại Hotel Lobby ngồi uống coffee, mở laptop ra đọc tin tức, đọc tài liệu và sẵn viết tiếp tục những bài viết trong mục “Ly coffee đầu ngay và bài bình luận” mà 6 ngày nay “bận đi chơi nên gián đoạn”, để chia sẻ với đồng nghiệp, đồng hương, thân hữu và nhất là bạn đọc trên FaceBook và website…
Một bản tin thật xúc động không nói nên lời, đọc đi đọc lại nhiều lần vẫn thấy “đau”. Tống thống Donald Trump đi cùng con gái ra phi trường đón nhận chiếc quan tài của một quân nhân Hoa Kỳ vừa làm xong nhiệm vụ… “không thành”. Đều đáng ghi nhận ở lúc này là một việc làm đơn giản nhưng nói lên được người tổng tư lệnh “mới toanh” của Hoa Kỳ, ông Donald Trump chưa từng làm chính trị, và cũng chẳng bao giờ giao du với giới quân đội trước khi ông ứng cử, và bên cạnh hiện tại biết bao nhiêu công việc đang đè nặng trên vai ông, trên vai chính quyền ông, nhưng ông cảm nhận được sự mất mát của gia đình người quân nhân, mất mát một đứa con của quốc dân Hoa Kỳ và chính bản thân ông. Tổng thống Trump ra lệnh ngưng lại hết tất cả, để đi đón “chiếc quan tài” của một người lính Navy Seal đang chiến đấu thì phải “bỏ cuộc” để mặc chiếc áo gỗ trở về Hoa kỳ. Hình ảnh này chưa từng thấy ở bất cứ vị tổng thống tiền nhiệm “nhiều kinh nghiệm” chính trị, quân sự nào… thường chúng ta chỉ thấy các tổng thống tiền nhiệm đợi đến ngày “cựu chiến binh” mới xuất hiện hoặc đọc bài “điếu văn”, hay khi nhận hung tin cả toán quân, cả đoàn quân, và cả “hàng hàng” quan tài trở về từ chiến trường , thì “may đâu” mới có Tổng thống ra tận máy bay đón chào, chứ không chỉ có một quan tài của một người quân nhân Mỹ… Nhưng, rất tiếc những việc làm thiện tâm của tân tổng thống Donald Trump thực hiện thì giới truyền thông bao chí Hoa Kỳ rất thích “tịnh khẩu”… ngộ nhỉ!!
Qua bài viết “đánh biệt kích” của nhà bỉnh bút Nguyễn Đạt Thịnh, ông cũng nói lên ít nhiều hình ảnh vị tân tổng thống Hoa Kỳ đã làm một điều rất đẹp… đó là sự đáng kính mến của ông dưới con mắt của quốc dân (mặc dù, lúc nào nhà bỉnh bút gốc Việt này cũng viết bài chống báng ông Trump nói riêng và đảng cộng hòa nói chung một cách triệt để)…
“Đánh biệt kích” là sử dụng một đơn vị nhỏ, vô cùng thiện chiến và được huấn luyện đặc biệt về kỹ thuật đột ngột tấn công địch quân, đánh nhanh, đánh tàn khốc ngay từ những phút đầu để đạt tối đa kết quả, rồi cũng nhanh chóng rút lui, trước khi địch kịp phản ứng.
Năm ngày sau khi nhậm chức, và trong bữa ăn tối thứ Tư, 25 tháng Giêng, 2017 với tân Bộ Trưởng Quốc Phòng -Đại tướng về hưu James Mattis- Tổng Tư Lệnh Donald Trump đã chuẩn thuận cho thực hiện cuộc đột kích ngày 28 tháng 1, vào một căn cứ của Qaeda tại Yemen. Cuộc tấn công biệt kích này mang danh xưng nguỵ trang Yakla raid.
Tham dự bữa dạ tiệc còn có Phó Tổng Thống Mike Pence, cố vấn an ninh Michael T. Flynn, Đại Tướng Joseph F. Dunford Jr. tổng tham mưu trưởng quân lực Hoa Kỳ, và hai cố vấn Jared Kushner, Stephen K. Bannon -những nhân vật tạo thành “bộ tham mưu quân sự” của Bạch Cung.
Trực thăng đưa họ vào triền núi Yakla để tấn công căn nhà của lãnh tụ Al-Qaeda Abdul Rauf al-Dhahab; trên đường bay vào mục tiêu toán biệt kích nhận được tin là địch đã được báo động và đang bố trí phòng thủ.
Mất yếu tố bất ngờ, đáng lẽ cấp chỉ huy hành quân phải ra lệnh hủy bỏ cuộc đột kích, nhưng họ chỉ thông báo trên máy truyền tin cho toán biệt kích biết, rồi để mặc cuộc hành quân diễn tiến.
Do đó, ngay khi nhảy ra khỏi trực thăng, người lính biệt kích đã bị địch quân chào đón bằng nhiều loạt đạn AK47. Trực thăng võ trang bắn tới tấp vào quân Al Qaeda, trợ chiến cho người chiến sĩ biệt kích. Một chiếc Bell Boeing V-22 Osprey bị hư hại trong lúc đáp xuống đổ quân, gây thương tích cho ba chiến sĩ biệt kích, chiếc trực thăng V-22 Osprey đó -trị giá $75 triệu phải phá hủy bằng bom.
Anh Chief Petty Officer William Owens tử trận trong 50 phút kịch chiến với quân Al Qaeda; không quân trợ chiến gây nhiều tổn thất cho thường dân Yakla; trong số thường dân tử nạn có cô bé 8 tuổi, con của nhà tu chống Mỹ Anwar al-Awlaki.
Ông này bị drone giết ngày 30 tháng Chín, 2011, tại Al Jawf Governorate, Yemen.
Trong một thông cáo, tướng Mattis xác nhận người chiến sĩ tử trận là Chief Petty Officer William “Ryan” Owens, 36 tuổi, và ca tụng Owens đã “dâng hiến trọn vẹn cuộc đời cho đất nước, và bảo vệ truyền thống cao thượng của người lính Mỹ.”
Bản thông cáo còn viết là cuộc đột kích giết 14 địch quân, trong số này có ba lãnh tụ Al Qaeda. Owens nhập ngũ vào tháng Tám 1998, anh được thăng cấp “chief” tháng Chạp 2009; anh được tưởng thưởng ba huy chương đồng, hai trong ba huy chương này có kèm theo chữ V -có nghĩa là combat valor -anh dũng trên chiến trường.
Anh tử trận trong trận đánh biệt kích vào xào huyệt địch, ngoài anh, lực lượng hành quân còn có sáu người bị thương.
Hôm thứ Tư mùng 1 tháng Hai, Tổng Thống Donald Trump đã cùng ái nữ Ivanka Trump đến căn cứ Không Quân Dover, Tiểu bang Delaware để đón thi hài anh “Ryan” Owens. Anh là tử sĩ đầu tiên chết trong lúc phục vụ dưới quyền Tổng tư lệnh Trump.
(hình: biệt ký Navy Seal -William Owens)
Đánh biệt kích là lối đánh duy nhất có tiềm năng giúp Hoa Kỳ chiến thắng quân khủng bố IS và Al Qaeda mà không phải trả cái giá quá đắt của chiến thuật cổ điển. Người lính Hoa Kỳ vô cùng can trường lại được trang bị hùng mạnh, được yểm trợ bằng một hỏa lực khiếp đảm, giúp họ tạo ra nhiều chiến công thần thoại.
Thành công nhất trong chiến thuật “đánh biệt kích” là cuộc hành quân Operation Neptune Spear thực hiện ngày mùng 2 tháng 5, 2011, tấn công xào huyệt ẩn trốn của trùm khủng bố Osama bin Laden, người sáng lập ra lực lượng Al Qaeda.
Lực lượng tấn công là Toán Sáu, Người Nhái. Trách nhiệm tổ chức cuộc tấn công là CIA, cộng tác với JSOC (Joint Special Operations Command-Bộ Chỉ Huy Phối Hợp Chiến Tranh Đặc Biệt).
Hai tiếng đồng hồ trước phút khởi diễn hành quân, bộ tham mưu chiến tranh của chính phủ đã tụ họp tại Bạch Cung để chứng kiến trận đánh được trực tiếp truyền hình.
Tổng cộng lính biệt kích Mỹ giết 5 tên khủng bố trong xào huyệt Pakistan của bin Laden và bắt sống 18 tên khác. Chiến tranh chống khủng bố Hồi Giáo không gây cho Mỹ những tổn thất quá đáng như vậy, nhưng lại dài hơn, đòi hỏi nhiều kiên nhẫn và học hỏi hơn.
Bất cứ người quân nhân nào của Hoa Kỳ cũng được kính mến và được biết ơn. Họ là những người con yêu quý của quốc dân siêu cường này. Họ được đón tiếp trong vinh dự, hùng hồn sau những cuộc chiến trở về, và bên cạnh họ luôn được đón nhận một cách trân trọng, kính thương khi họ trở về nằm trong chiếc quan tài. Đặc biệt, lần này chính đích thân tổng thống Donald Trump và ái nữ Ivanka Trump ra tận phi trường đón nhận một chiếc quan tài người lính Biệt Kích Seal mang tên William “Ryan” Owens. Anh đã hy sinh cho tổ quốc, anh nằm xuống trong vinh quang mặc dù công việc chưa hoàn thanh. Tân tổng thống Trump đầu tiên đón nhận anh về với một tấm lòng biết ơn bằng trái tim của một công dân Hoa Kỳ…
Thật cảm động !!
PHAN NGUYÊN LUÂN
CHUYỆN BUỒN: ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM
CHUYỆN BUỒN: ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM
Mời các Bạn đọc đoạn kết cuốn sách của tác giả người Đức này, quá hay, khi nào sách in ra, mỗi người chúng ta phải mua một vài cuốn để dành cho con cháu, chắt chung ta đọc để chúng hiểu sự thật lịch sử.
MC Người Đức … nhưng anh nầy có vẻ hiểu chuyện VN hơn rất nhiều người .Cuốn sách Đức: “A reporter’s love for a wounded people” của tác giả Uwe Siemon-Netto đã được viết xong và đang chờ một số người viết “foreword” và endorsements.Bản dịch cũng đã xong, được phép của tác giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở lại với quê hương khốn khổ của chúng ta:
Đoạn kết
Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng
Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày “giải phóng.”
Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài.
Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất.
Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?
Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt.
Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.
Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc “giải phóng.” Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai?
Có phải miền Nam đã được “giải phóng” khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí?
Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?
Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?
Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc “chiến tranh nhân dân.” Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì “chiến tranh nhân dân” phải được hiểu là cuộc “chiến tranh của nhân dân.”
Thực tế không phải như vậy. Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.
Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là “vắng mặt không phép,” câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?
Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.
Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là “I have no dog in this fight” (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách “Lời nguyện của nhà báo”, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.
Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).
Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.
Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ?
Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà “tội ác” duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu?
Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội?
Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?
Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ.
Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012).
Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.
Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau:
Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!”
Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi… cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố.”
Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.
Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là:
khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận.
Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do.
Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử.
Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bảnđoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.
Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng?
Anh Thiệu Van An gởi
Tết của nguời già ở Mỹ
Tết của nguời già ở Mỹ
Theo một thống kê của Cơ quan an sinh xã hội bang California, Mỹ, trong tổng số 400 nghìn người Việt hiện đang sinh sống ở miền Nam California, có khoảng 15 nghìn người trên 65 tuổi. 1/3 ở chung với con cháu. Số còn lại, ở trong các viện dưỡng lão (nursing home).
Vẫn theo thống kê này, những người Việt già trên đất Mỹ rất sợ bị đưa vào nursing home!
- Xế chiều 29 tháng Chạp, tôi lái xe đến Viện Dưỡng lão thành phố Westminster, Orange County. Đây là cơ sở được xem như khá nhất trong số những viện dưỡng lão tại miền Nam Cali. Vì là ngày giáp tết nên quang cảnh khá lặng lẽ. Ở các lối đi trong khu vực dành cho người Việt, trên những băng ghế đặt rải rác dưới những tàn cây, không có cụ nào tản bộ hay ngồi nghỉ chân, trò chuyện. Bãi đậu xe cũng chỉ thấy lác đác vài chiếc của nhân viên trực. Nhìn qua khu dành cho người Mỹ, người Hàn Quốc và khu dành cho người Mexico thì đông người hơn. Có lẽ họ không biết hôm nay là giao thừa của người Việt.
Vào trong, tất cả đều vắng vẻ. Một lát, tôi mới thấy một y tá đẩy chiếc xe lăn, trên đó là một cụ ngoẹo đầu, mắt nhắm nghiền, rớt dãi chảy dài xuống khóe miệng. Trước cửa phòng số 6, một bà ngồi im lìm trên chiếc ghế nhựa, nét mặt thẫn thờ. Tôi hỏi: “Bà có con cháu vào thăm chưa?”. Nhìn tôi một lát, bà lắc đầu kèm theo tiếng thở dài mệt mỏi.
Tên bà là Trần Thị Nghị, 74 tuổi. Bà sang đây theo diện bảo lãnh của đứa con trai. Bà kể: “Hồi đầu, mọi sự tốt đẹp lắm. Nhưng được vài năm, con dâu tôi nói tôi ở dơ vì lúc đứa cháu nội bị sổ mũi, tôi lấy tay bóp mũi, vắt nước mũi cho nó. Bực mình quá, tôi nói hồi nhỏ tao cũng hay vắt nước mũi cho chồng mày vậy, mà có sao đâu! Thế là nó cấm tôi không được đụng đến con nó nữa. 3 tháng sau, chồng nó nghe lời nó, đưa tôi vào đây”.
Ở một phòng khác, cụ ông Nguyễn Văn Đức, 71 tuổi, nằm co quắp trên giường. Hỏi ra mới biết cụ bị bệnh suyễn. Đưa tay chỉ một hộp bánh, 2 hộp mứt, 2 hộp kẹo nằm chỏng chơ trên bàn, cụ phều phào: “Cái này con tôi cho, cái kia là của hội thiện nguyện, còn hộp đó là quà tặng của nhà chùa”.
Theo tập quán người Việt, một gia đình mà 2, 3 thế hệ gồm ông bà, cha mẹ, con cháu cùng ở chung với nhau thì được xem như gia đình hạnh phúc, ăn ở có đức, có hiếu. Nhưng người Mỹ nói riêng và người phương Tây nói chung, với bản tính thực tế thì họ lại không nghĩ vậy bởi lẽ ngay từ khi còn trẻ, họ đã được học tính tự lập – và điều này đã tác động rất lớn đến thế hệ người Việt thứ 2, thứ 3 – là những người sang Mỹ từ khi còn bé, hoặc sinh ra trên đất Mỹ. Họ hầu như ít nói tiếng Việt mà chỉ dùng tiếng Mỹ – ngay cả khi về nhà.
Phần lớn họ chịu ảnh hưởng nặng của lối sống Mỹ: 18 tuổi là ra ở riêng, cha mẹ già thì đưa vào viện dưỡng lão. Sự thành công về mặt học vấn, tài chính đã khiến họ chẳng còn quan tâm nhiều đến quá khứ của cha ông. Nếu như ở Việt Nam, con cái thường ngồi im nghe cha mẹ giáo huấn – dù ngồi một cách miễn cưỡng – thì ở Mỹ, phần lớn người Việt thế hệ thứ 2, thứ 3 lại chọn cách bỏ đi ra ngoài, không cần quan tâm đến những gì cha mẹ mình đang nói, dẫn đến xung đột… Sự xung đột lắm khi chỉ bắt nguồn từ một nguyên nhân nhỏ nhoi nhưng không được giải quyết thấu đáo, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.
Bà Lý Thị Vân, 69 tuổi, nằm tại phòng số 3, nói: “Có những điều ở Việt Nam coi là bình thường thì qua đây lại trở thành bất bình thường. Trong một bữa ăn chẳng hạn, lúc tôi dùng cái muỗng của tôi để múc canh trong tô canh thì thằng con rể tôi trợn mắt nhìn tôi rồi từ đó đến cuối bữa, nó không đụng vào tô canh đó nữa!”.
Vì vậy, với những người Việt cao tuổi ở miền Nam Cali, ba chữ “viện dưỡng lão” từ lâu đã là cơn ác mộng. Nó đánh thốc vào tim tạo thành những cơn kinh hãi, đến độ đã có một cụ quỳ sụp xuống ngay trước cổng vào viện dưỡng lão, chắp tay vái con ruột mình: “Ba lạy con, con cho ba về nhà, ba trải ghế bố nằm trong gara cũng được chứ con đừng bắt ba vô đây”. Ông Trần Ngọc Lâm chẳng hạn, khi tôi hỏi vợ con ông ra sao, có thường xuyên vào thăm ông không thì ông bực bội: “Làm ơn đừng nhắc đến vợ, đến con tôi nữa. Vợ, con mà để tôi sống như thế này à?”.
Ông Lê Cẩm, ở phòng số 9 trong viện dưỡng lão, kể: “Năm tui 68 tuổi, đi đứng bắt đầu yếu, mắt mờ, tay run, con trai tui nói mai đưa ba vô nursing home. Tưởng nó giỡn chơi, ai dè sáng hôm sau nó đưa tui vô thiệt. Tui hỏi nó sao con nỡ lòng nào mà làm vậy. Nó nói tỉnh bơ: Già rồi thì vô viện dưỡng lão chứ làm vậy là làm sao!”. Hỏi ông có biết mai là tết âm lịch cổ truyền không? Ông nói biết vì ba bữa trước, con ông vô thăm, có đem cho mấy hộp mứt. Trên gò má nhăn nheo của ông bỗng lăn dài những giọt nước mắt: “Tết nhất là ngày sum họp gia đình. Vậy mà…”.
- Công bằng mà nói, sự sợ hãi viện dưỡng lão của các cụ cao niên người Việt – ngoài việc bị tách ra khỏi môi trường gia đình quen thuộc – mà hầu hết các cụ đều nghĩ rằng mình bị bỏ rơi, bị con cháu hắt hủi, thì còn một nguyên nhân nữa. Đó là khi tuổi tác đã cao, sức khỏe các cụ cũng sẽ xuống và bệnh tật ắt phải tới. Chuyện không thể tự chăm sóc cho mình là lẽ đương nhiên khi bệnh trạng các cụ tới thời kỳ nghiêm trọng, và cách giải quyết duy nhất là đưa các cụ vào viện dưỡng lão.
Anh Kevin Nguyen, có người mẹ 72 tuổi, hiện đã ở viện dưỡng lão, nói: “Tôi và vợ tôi đều phải đi làm, hai đứa con đi học nên không lấy đâu ra thời giờ chăm sóc mẹ tôi. Còn nếu mướn y tá hay điều dưỡng đến nhà ăn ở, nấu nướng và chăm sóc mẹ tôi thì tôi không đủ tiền”.
Một trong những nguyên nhân nữa dẫn đến việc các cụ buộc phải vào viện dưỡng lão. Đó là về già, các cụ thường bị lẫn, mất trí nhớ, thậm chí không nhận ra vợ (hoặc chồng) hay con cái, không cho họ tới gần. Anh Kevin Nguyen, nói tiếp: “Mẹ tôi đổi tính, trở nên khó chịu. Cụ luôn gắt gỏng, nghi ngờ tất cả mọi người”.
Chị Lam Hương, có mẹ cũng ở viện dưỡng lão tâm sự: “Cụ nhà tôi lúc nào cũng nghi ngờ có người ăn cắp tiền của cụ mặc dù tiền đó là của con, cháu cho. Ngày nào cũng vậy, cụ lôi túi tiền ra đếm vài chục lần rồi cũng không dưới chục lần, cụ chửi um lên, bỏ ăn, thậm chí cuốn quần cuốn áo đòi ra khỏi nhà vì “nhà này toàn quân ăn cắp”. Riết rồi không ai chịu nổi nữa, chúng tôi đành đưa cụ vào viện”.
Nỗi sợ phải vào viện dưỡng lão còn có một lý do khác: Đó là nhân viên của nhiều viện dưỡng lão thiếu khả năng chuyên môn, thiếu sự nhiệt tâm và không được huấn luyện kỹ lưỡng, cộng với sự cắt giảm tài trợ của chính quyền do thiếu hụt ngân quỹ dẫn đến số người bị ngược đãi, bị bỏ mặc trên cả hai phương diện sinh lý lẫn tâm lý càng ngày càng tăng, chưa kể có cụ còn bị bắt phải nín lặng, không được phép than phiền, kêu cứu khi lên cơn đau dạ dày hay đau khớp.
Cụ ông Trần Văn Sinh, trước khi sang Mỹ là y tá ở Bệnh viện Bình Dân, TP HCM, nói: “Một thời gian dài, tôi bị trầm cảm vì tuyệt vọng, và tôi được cho uống thuốc an thần một cách rất thản nhiên. Khi tôi báo cáo việc này với ban quản trị, thì con tôi lúc vào thăm đã bị ngăn chặn với lý do là làm trở ngại việc điều hành”.
Theo tìm hiểu của tôi, Viện Dưỡng lão thành phố Westminster có khoảng 90% là người già trên 65 tuổi. Số còn lại là từ 80 tuổi trở lên. Cũng xin nói thêm là ở Orange County, các viện dưỡng lão đều do người Mỹ làm chủ và điều hành. Nó thường được chia làm hai khu chính là nội trú và bán trú cùng nhiều khu phụ. Khu nội trú dành cho các cụ ở thường trực. Khu bán trú dành cho những bệnh nhân sau khi điều trị ở bệnh viện nhưng không đủ tiền để nằm lại vì viện phí rất cao, nên phải chuyển vào viện dưỡng lão để nằm chờ, lúc bình phục họ sẽ về nhà.
Thường thì nhân viên quản lý sắp xếp các khu theo sắc tộc, như khu dành cho người da trắng, khu cho người Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan v.v… Nếu thiếu phòng, các cụ phải nằm bất cứ khu nào còn trống. Chả thế mà cụ bà Lê Thị Lài, 67 tuổi, sau hơn 2 tháng ở chung với khu người Mỹ da đen rồi lúc được chuyển sang khu người Việt, cụ ngơ ngác như người tâm thần, hỏi gì cũng ú ớ. Nếu người Việt vào đông, các cụ được nhà bếp nấu riêng món ăn Việt nhưng chỉ vào buổi trưa và buổi tối, còn bữa sáng vẫn phải ăn món ăn Mỹ. Hầu hết những trường hợp được đưa vào đây là do bệnh lý, đòi hỏi phải có sự trợ giúp thường trực của nhân viên y tế cùng các thiết bị mà chỉ các viện dưỡng lão mới có khả năng cung cấp. Những người này thường mắc phải những bệnh gây mất năng lực về thể chất lẫn tinh thần, hoặc họ yếu đến nỗi không thể di chuyển, tự tắm rửa hay tự ăn uống được.
Trao đổi với tôi, phóng viên Vince Gonzales thuộc Đài CBS, người đã làm những phóng sự về vấn đề ngược đãi người già ở các viện dưỡng lão cho biết: “Nhiều người trong số họ cần có sự chăm sóc suốt đời vì họ không bao giờ có thể hồi phục để có thể tự chăm sóc cho mình, chứ đừng nói là cho về nhà. Tương lai của họ một là sẽ chết trong viện dưỡng lão, hai là chuyển vào bệnh viện nếu bệnh nặng rồi chết ở đó và ba là bệnh viện trả về để chờ chết…”.
- Đã đến bữa cơm chiều. Những cụ còn khỏe thì chậm chạp lê bước, hoặc tự mình lăn xe xuống nhà ăn. Yếu quá thì nằm trong phòng, chờ điều dưỡng mang thức ăn đến. Cô Jenny Pham, một điều dưỡng người Việt ở đây, cho biết: “Viện có rất ít điều dưỡng Việt Nam nên tụi em thường bị điều đi phục vụ toàn khu, chứ không cứ gì khu người Việt”. Theo luật riêng của tiểu bang California, mỗi viện dưỡng lão phải có đủ nhân viên săn sóc cho bệnh nhân, nhất là các dịch vụ khẩn cấp, mỗi bệnh nhân phải được y tá săn sóc ít nhất 3 hoặc 2 tiếng mỗi ngày.
Jenny Pham nói tiếp: “Khi có đoàn kiểm tra, viện dưỡng lão thuê mướn thêm điều dưỡng cho đông đủ, đồng thời sắp xếp cứ 1 điều dưỡng chăm sóc cho 10 người theo luật định để che mắt. Khi đoàn kiểm tra đi, mỗi đứa tụi em lại phải chăm sóc cho 19, 20 người…”. Tôi hỏi: “Mấy hôm nay, gia đình các cụ vào thăm có nhiều không?”. Jenny Pham đáp: “Cũng ít thôi, chủ yếu là các hội đoàn thiện nguyện, các tổ chức tôn giáo. Em biết có 26 cụ từ ngày vào đây, có cụ ở đã 5 năm nhưng chưa thấy ai đến thăm lần nào”.
Tôi hỏi: “Đêm giao thừa có tổ chức gì không?”. Jenny Pham lắc đầu: “Dạ không, mấy cụ còn khỏe, còn minh mẫn thì tụ họp nhau lại uống trà, nói chuyện hồi xưa. Còn hầu hết đều nằm trên giường. Nhiều cụ khi em hỏi ngày mai là mùng 1 tết rồi, biết không? Có cụ nhe răng cười, chẳng biết gì hết”.
Tôi ra về và lúc bước ngang phòng số 7, một đôi vợ chồng trẻ cùng hai đứa con đang đứng cạnh một cụ già ngồi trên xe lăn. Người phụ nữ nói: “Chào ông nội đi rồi về con”. Ông cụ miệng méo xệch: “Bay cho nó ở chơi thêm chút nữa, vừa mới vô mà”. Anh con trai đỡ lời: “Con đưa các cháu vào chúc tết ba, bây giờ dẫn tụi nó đi coi xiếc cá heo. Vé mua rồi, sắp tới giờ diễn rồi…”.
Dẫu biết ở bầu thì tròn, ở ống thì dài, sống đâu theo đó, nhưng sao tôi vẫn thấy nao lòng vì ở quê nhà giờ này, gia đình nào chắc cũng đang quây quần, sum họp…
Sưu tầm
Chúng ta chiến thắng trong chiến tranh để trờ thành NGƯỜI THUA CUỘC
Bài cũ nhưng vẫn còn đúng, còn giá trị
Chúng ta chiến thắng trong chiến tranh để trờ thành NGƯỜI THUA CUỘC
9-2-2016
Có thể đối với nhân dân VN, ngày 30/4/1975 là mốc lịch sử thống nhất tổ quốc. Thống nhất đất nước, hết tiếng bom đạn, hết lo âu về cuộc chiến đều là giấc mơ của mỗi người dân VN nói riêng và những người yêu hòa bình trên thế giới nói chung. Tôi ko đề cập đến chế độ cộng sản hay cộng hòa ở đây, bài viết này tôi chỉ đề cập duy nhất đến 1 thứ. Đó là người Việt, sự tự cường dân tộc.
Một dân tộc lớn mạnh thì phần lớn nằm ở sự tự cường của dân tộc đó. Không thể phủ nhận sự tự cường dân tộc ở chính “người anh em láng giềng” Trung Quốc. Tuy họ mang nhiều cái nhìn tiêu cực từ chúng ta như đồ ăn bẩn, chất độc, hàng nhái v.v.. Nhưng nhiêu đó chỉ là 1 phần nhỏ, cái mà chúng ta phải nhìn nhận lại mình là họ dám làm được những thứ họ cần. Vậy VN mình sao lại không như vậy? Hãy quay trở lại quá khứ 1 chút, chúng ta sẽ biết nguyên nhân.
Sáng 11/9/1975 quyết định số 111/CP chính thức áp dụng lên 17 tỉnh thành miền Nam và nó mang tên “Đánh tư Sản”. Sự kiện này chính thức loại bỏ dần tính tự cường dân tộc của VN theo khái niệm kinh tế. Nội dung chính của sự kiện này như sau: Tịch thu nhà và cưỡng chế toàn bộ những nạn nhân phải đi về vùng Kinh Tế Mới sống. Cưỡng chế giải tán toàn bộ các công ty doanh nghiệp tư nhân, tiểu thương, các thành phần sản xuất nhỏ vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, khuyến khích hậu thuẫn cho quốc dân từ bấy lâu.
Nền công nghiệp nhẹ, sản xuất đồ gia dụng trong nhà của Việt Nam đã hoàn toàn chính thức bị phá hũy. Người dân Việt Nam sẽ không còn thấy các sản phẩm tự hào của dân tộc như nồi nhôm hiệu Ba Cây Dừa , xà bông hiệu cô Ba, xe hơi hiệu La Đalat, hiệu đèn trang trí Nguyễn Văn Mạnh .v.v… Không những thế, các nhà máy nhỏ sản xuất nhu yếu phẩm như đường, bột giặt, giấy cũng bị tê liệt vì chủ nhân bị quốc hữu hóa. Các nhà sách về khoa học kỹ thuật cũng như các tác phẩm văn học thế giới cũng bị tịch thu tiêu hủy với 1 lý do chung “văn hóa phẩm đồi trụy”.
Hiển nhiên cánh cửa kết nối khoa học kỹ thuật hiện đại đến VN đã bị chặn lại. Kế đó là đường lối quốc hữu hóa toàn bộ đất đai của nhân dân qua hình thức “Tập đoàn sản xuất” là một sai lầm nghiêm trọng dẫn đến nạn đói năm 1979 ngay liền sau đó vì lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp bị sút giảm toàn diện tại miền Nam.
Khai tử công nghiệp, nông nghiệp thất bại, văn hóa đóng cửa. Mới nghe đến đây tôi cũng không tin rằng VN sẽ thoát ra khỏi chốn tăm tối mịt mù ấy. May thay chính phủ họ cũng đã biết sửa sai, đó là hàn gắn dân tộc sau chiến tranh. Sự kiện tập trung tại Sài Gòn, hàng ngàn gia đình cán bộ miền Bắc đã vào Sài gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu.
Theo thừa nhận ngắn ngủi từ báo SGGP và báo Công An khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan ức vào tháng 9 năm 1989, ước tính lên đến khoảng 150.000 người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu. Trong chiến dịch này, số lượng người Sài Gòn phải bị mất hết tài sản và bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI là khoảng 600.000 người, tạo ra một sự hoảng sợ hoang man chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại.
Ghi nhận của Hà Nội là có khoảng 950 ngàn người Sài Gòn bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra là 1,2 triệu người. Sau sự hàn gắn dân tộc này tôi hiểu được chữ Nam Kỳ – Bắc Kỳ. Nó thật đay nghiệt.
Tất cả những ai tại Sài Gòn bị Đảng tịch thu nhà , tài sản đều phải đi về vùng KINH TẾ MỚI, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sinh hoạt chưa được xây dựng, trong đó có cả điện nước, trường học và bệnh xá. HƠN SÁU TRĂM NGÀN nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng KINH TẾ MỚI và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng quản lý. Thế là cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả thù hữu hiệu của Đảng đối với những người bị liệt vào thành phần không phải “Cách Mạng”, ngụy quân ngụy quyền và tiểu tư sản. Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này.
Nhân dân miền Nam- cả triệu người đang sống sung túc bỗng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà trước thảm cảnh. Hậu quả của nó là Việt Nam tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế vì các chính sách đánh tư sản này của Đảng lên đầu người dân miền Nam. Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới vào năm 1985.
Cho đến năm 1994 VN thoát khỏi cấm vận và có những tiến bộ cải thiện khi World Bank và USAID tăng tốc trợ giúp, cùng với chính sách thay đổi nền kinh tế đến hiện tại chúng ta có gì. Chúng ta vẫn chẳng có gì ngoài 1 đất nước làm nhân công cho thế giới, chuyên lắp ráp mà ko có dây chuyền sản xuất của riêng mình. Các chỉ tiêu đặt ra như đưa bao nhiêu ngàn nhân công xuất khẩu lao động cho nước A, B ,C ..v..v.
Các bạn có đau đớn như tôi khi nhìn thấy Campuchia tự hào họ có thể tự chế tạo xe hơi không? Bạn có cảm thấy buồn khi công nghệ Lào đã sử dụng rộng rãi 4G trước VN ko. Hay bạn vẫn đang tự hào VN ta đánh đuổi được thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Hay bạn vẫn đang tự hào về 1 VN đầy ung nhọt, đầy chia rẽ trong chính những người dân. Tôi chỉ tự hào về VN khi nào nó tìm lại được sự tự cường dân tộc.
Hàng trăm thanh niên đánh nhau tại hội Phết Hiền Quan

PHÚ THỌ (NV) – Chiều 9 Tháng Hai (13 Tháng Giêng Âm Lịch), lễ hội Phết Hiền Quan (huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ) diễn ra. Tuy nhiên, quả phết chưa được tung ra, nhưng hàng trăm thanh niên đã phá rào, nháo nhào lao vào tranh cướp phết cầu may.
Hội Phết Hiền Quan là lễ hội dân gian được tổ chức ngày 12 đến 13 Tháng Giêng Âm Lịch tại xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Lễ hội được tổ chức để tưởng nhớ và tôn vinh công lao của nữ tướng Thiều Hoa Công Chúa-Ðức Thánh Mẫu Ðại Vương, người giúp hai Bà Trưng đánh giặc Hán cứu nước.
Cướp phết là điểm chính của hội Phết Hiền Quan. Có sáu quả phết và ba quả chúi để những người tham gia lễ hội cùng giành lấy.
Quả phết và quả chúi thường được làm từ gốc tre già hoặc gỗ. Quả chúi nhỏ hơn, đường kính từ 4-5 cm, quả phết đường kính từ 6-7 cm. Người dân quan niệm rằng nếu ai giành được quả phết và chúi hay chỉ chạm được tay vào là cả năm sẽ rất may mắn.

Theo ghi nhận của phóng viên báo Tuổi Trẻ, tình trạng bạo lực, ẩu đả tại hội Phết Hiền Quan năm 2017 vẫn xảy ra, dù ông chủ tế cầm quả phết từ đền ra bãi phết có sự hộ tống của cảnh sát cơ động và người dân địa phương.
Và dù ban tổ chức hội Phết chỉ chọn 100 người chia làm hai đội thi đấu với nhau, mỗi đội sẽ được phân biệt bằng đai xanh đai đỏ. Tuy nhiên ý tưởng này đã trở thành “bất khả thi” khi hàng trăm người lao xuống bãi phết để cướp phết cầu may.
Tin cho biết, phạm vi của bãi phết năm nay có đường kính khoảng 1,500 mét vuông, được đóng cọc và quây dây bốn góc, xung quanh có lực lượng an ninh túc trực và sẵn sàng can thiệp khi có dấu hiệu ẩu đả.
Tuy nhiên do máu ăn thua nên nhiều nhiều đội chơi mặc dù đã đưa quả phết về đích nhưng vẫn bị đội đối phương giành giật dẫn đến ẩu đả. Nhiều người đã phải nhảy xuống ao để trốn khỏi sự truy đuổi gắt gao của đối phương.

Nói với phóng viên báo Tuổi Trẻ, ông Bùi Văn Thanh, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân xã Hiền Quan, trưởng ban tổ chức lễ hội Phết Hiền Quan năm 2017, cho biết: “Trước khi lễ hội Phết được diễn ra, chúng tôi đã đến các khu dân cư để thông báo với người dân về thể lệ mới và đề nghị mọi người tham gia lễ hội với tinh thần lịch sự có văn hóa và tránh ẩu đả, lợi dụng hội Phết để trả thù cá nhân. Tuy nhiên do lực lượng an ninh quá mỏng và số lượng người đến cướp phết quá lớn nên mong muốn ban đầu của ban tổ chức đã không thể trở thành hiện thực.”

Một thanh niên nằm sõng soài sau khi thoát ra khỏi đám đông. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)
Ông Thanh cũng cho biết lực lượng an ninh tham gia bảo vệ hội Phết năm nay khoảng 100 người, bao gồm công an tỉnh Phú Thọ, công an huyện Tam Nông và công an xã Hiền Quan.(Tr.N)
Gia đình người Việt vượt biên bị tạm giữ ở Indonesia
Gia đình người Việt vượt biên bị tạm giữ ở Indonesia
2017-02-10
Chiếc tàu chở gia đình bà Trần Thị Lụa và Trần Thị Thanh Loan vượt biên lần thứ 2 đã bị cảnh sát Indonesia tạm giữ vào 6 giờ chiều hôm nay, thứ Sáu ngày 10 tháng 2.
Tin chúng tôi nhận được từ Luật sư Võ An Đôn vào tối nay cho biết như vừa nói.
Gia đình bà Trần Thị Lụa và Trần Thị Thanh Loan trước đây đã một lần vượt biên qua Úc, bị trả về Việt Nam vào tháng 7/2015.Tòa án tỉnh Bình Thuận phạt tổng cộng hơn 6 năm tù giam về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép”.
Sáng mùng 4 Tết âm lịch vừa qua, gia đình bà Trần Thị Lụa và Trần Thị Thanh Loan đã quyết định vượt biên lần thứ hai. Cho đến chiều mùng 4, luật sư Đôn nhận được điện thoại từ bà Trần Thị Lụa cho biết họ đã vào hải phận Indonesia. Bà nói rằng nếu lần vượt biên này không thành, chính phủ Úc trả về nước, thì hai người sẽ nhảy xuống biển tự tử, chứ không bao giờ chịu trở về Việt Nam chịu án tù.
Vào lúc 9 giờ tối cùng ngày Ban Việt Ngữ RFA có cuộc phỏng vấn với chị Trần Thị Lụa khi chị cùng 17 người khác đang được cảnh sát Indonesia giúp chờ làm thủ tục.
Việt Nam ngăn chặn “tự diễn biến”
Việt Nam ngăn chặn “tự diễn biến”
2017-02-10
Truyền thông trong nước loan tin cho biết chính phủ Hà Nội giao cho Bộ Công an, quốc phòng thực hiện và triển khai nghị quyết vừa nêu. Đây được cho là chương trình hành động của chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII.
Theo nghị quyết vừa ban hành thì Bộ Công an chủ trì nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, phối hợp và làm tốt công tác quản lý chấn chỉnh hoạt động của báo chí, xuất bản.
Nghị quyết nêu rõ sẽ có biện pháp, hình thức xử lý phù hợp đối với những trường hợp cán bộ, công chức, viên chức bị cho là suy thoái, ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’.
Ngoài ra theo Nghị quyết 25 thì sẽ xử lý kịp thời, dứt điểm đơn thư kiến nghị , phản ánh, khiếu nại, tố cáo liên quan đến các biểu hiện ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’ để thông báo ra công chúng.
Trong những năm gần đây có nhiều đảng viên nằm trong hệ thống bộ máy nhà nước Việt Nam công khai ra khỏi đảng vì nhận ra nhiều sai phạm của đảng và nhà nước.
CHUYỆN CỦA TÔI… MƯU SINH .
From facebook: Nguyen Thi Kim Hong
Vậy là , sau 3 năm vất vả chăn nuôi , trồng tỉa chính tại khu vườn thơ mộng của mình thuở nhỏ , tôi đành chào thua quay lưng trở về SG , quay lưng với những con người khô cứng , vênh váo đến phát bực mỗi khi có dịp lại gần , những cái đầu ấu trỉ mà cứ cho là mình tài giỏi .
Tháng 12 .1979 , lúc nầy SG vẫn còn nhộn nhịp chuyện mua bán đồ cũ . Ông xã vừa phụ tôi bán cà phê , vừa bán đồ điện tử cho Bộ Đội . Lần nọ , hai anh Bộ Đội còn khá trẻ , vừa mua đồ vừa lấm lét đưa ra một gói nhỏ , mở ra thấy một cục đen xì , anh ta bảo vàng đấy ạ , anh giúp bán hộ . Ông xã nói được rồi , một người ở nhà còn một người theo tôi . Anh ấy chở ra chợ Bến Thành , sau khi thử cân xong bán được số tiền lớn , anh ta trả công cho ông xã hậu hỉ rồi về Bắc . Bộ Đội năm đó ai đi Campuchia về đều giàu hết . Họ mua thật nhiều đồ , cả xe gắn máy và xe đạp nữa .
Trước năm 1975 , nơi tàu anh ấy neo đậu , phía trên là một chành chứa hàng hóa , chủ nhà có một người con trai , sau ngày giải phóng thì bặt tin nhau , cho mãi đến năm 1979 mới gặp lại . Người nầy mừng lắm vì biết ông xã tôi rành rẻ đường biển dọc dài đất nước . Năm 1980 , vào khoảng tháng 10 khi trời bắt đầu vào mùa mưa bão , người nầy gặp ông xã bàn chuyện ra đi , anh xuống bến đò Cầu Dầu Mỹ Tho , tới địa điểm nầy sẽ có người đưa anh ra ghe nhỏ . Trời mưa , anh đưa 3 mẹ con tới điểm đã hẹn . Tới nhà người lạ , tôi hơi lo trong bụng vì trời đã tối lại mưa . Chờ một lúc lâu , có người tới nói nhỏ với chủ nhà điều gì đó , họ cho biết chuyện không thành vì ghe dầu không tới chỗ hẹn được . Chúng tôi quày quả trở lại SG thì trời đã khuya . Hôm sau mới biết do ghe dầu bị theo dõi , sợ bị bể nên không tới điểm hẹn được . Cuối năm 1980 , Ba tôi qua thưa chuyện với nhà chồng , cho hai vợ chồng về nhà tôi ở . Cha Mẹ chồng đồng ý , vậy là tôi được trở về mái nhà xưa của mình .
Về lại nhà của mình , tôi thấy yên ổn trong lòng hơn . Anh lại tiếp tục bán hàng điện tử , còn tôi ; tính không thích ngồi không từ nhỏ , tôi nói với anh , hay là em sẽ làm bánh bông lan bán nha anh , chỉ cần anh giúp em đánh trứng , và làm cho em hai khuôn điện trở thôi . Tôi thử làm chậu bánh đầu tiên , 1 ký rưởi trứng gà , anh đánh bằng tay đổ mồ hôi hột , nướng bằng khuôn điện trở bánh nở đẹp , tôi đi chào hàng ngoài Chợ Lớn , có cặp vợ chồng người Hoa ăn thử thấy ngon , giá lại phải chăng nữa , anh ta bảo làm được bao nhiêu , anh ta sẽ mua hết . Tôi mừng vô cùng , tội nghiệp anh tôi ham quá nên làm hết ” công suất ” , tôi dậy từ 5 giờ sáng đi Chợ Lớn mua nguyên liệu bột , chợ Xóm Củi mua trứng gà , 6 giờ sáng là anh bắt đầu đánh trứng cho tôi , mỗi chậu 1 ký rưởi trứng , anh đánh như vậy tổng cộng 7 chậu trứng mỗi ngày . Tôi đổ hai khuôn một lần , từ sáng suốt đến 10 giờ đêm , hai bàn chân sưng to như chân voi , anh nóng ruột nói làm ít thôi em , tôi nói không được , mình còn trẻ phải chóp lấy cơ hội thôi anh à . Hơn 6000 cái bánh mỗi ngày , đều đặn như vậy vẫn không đủ cung cấp cho anh người Hoa nầy . Tôi không thể làm hơn được vì… hết sức !
Với số lời kiếm được từ việc làm bánh , anh mở rộng thêm chuyện của mình ; thời gian trống là anh đi tìm mua TV , tủ lạnh , cả xe gắn máy về đăng lên báo Sài Gòn Giải Phóng bán . Cuộc sống dần khá hơn , anh nói thôi em nghỉ làm bánh đi , em cực quá vừa lo cho chồng con vừa làm bánh , hai bàn chân em sưng to quá , anh sợ lắm . Vậy là tôi nghỉ ngang , không làm bánh nữa , anh người Hoa la làng , nhưng ông xã nói sức khỏe vợ tôi yếu quá , anh thông cảm .
Tôi bắt đầu chuyển qua theo ông xã , anh có nhiều thời gian ra ngoài săn lùng hàng về bán hơn . Tôi ở nhà vừa chăm con , vừa đứng ra bán hàng . Cũng ngộ là tôi hình như có số mua bán hay sao , cứ đăng xong là bán được ngay . Cuộc sống đang yên lành , thì một ngày nọ ; người đàn ông năm trước tới nhỏ to với ông xã tôi , lại ra đi lần nữa . Lần nầy , điểm đón là dưới dạ cầu Hiệp Ân , tối đó , hai vợ chồng cùng hai đứa con tới dưới dạ cầu Hiệp Ân , thấy người lạ mấy con chó sủa rân trời . Thằng con trai lớn không biết do sợ hay sao , tự nhiên lên cơn sốt , người nóng hổi , Ba ơi con đái hỏng ra ; tôi nói không được đâu anh , con như vầy lở ra biển có chuyện gì thì làm sao , phải đưa con về thôi . Lại một lần nữa ra đi không thành , anh có vẻ buồn , tôi nói hay là anh đi một mình , em và con ở lại từ từ rồi sẽ tính . Anh nói không thể bỏ em và con ở lại được , em sẽ vất vả lắm , em đâu thì anh đó . Thôi rồi , thương anh làm sao , vì tình yêu vợ con anh đành tiếp tục cuộc sống khổ cực . Anh nói rằng rồi sẽ có ngày mình sẽ có cuộc sống tốt hơn bây giờ….
Tôi và anh lại tiếp tục nung nấu một cuộc ra đi khác , tiếp tục tranh đua với cuộc đời vốn dĩ chẳng mấy bình yên…..
Tân Phú 10.02.2017
Gần 6.000 người đánh nhau nhập viện dịp Tết: ‘Người Việt ngày càng hung hăng, bê tha, bệ rạc’
Gần 6.000 người đánh nhau nhập viện dịp Tết: ‘Người Việt ngày càng hung hăng, bê tha, bệ rạc’
Tính riêng 7 ngày Tết Nguyên đán 2017, có 230 người chết vì tai nạn giao thông, gần 6.000 trường hợp đến khám, cấp cứu do đánh nhau.
ĐTC – Sứ Điệp Mùa Chay 2017
ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ – SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2017
“Lời Chúa là một tặng ân, Những Con Người Khác cũng là một tặng ân”
Anh Chị Em thân mến,
Mùa Chay là một khởi đầu mới, là một đường lối dẫn đến đích điểm chắc chắn Phục Sinh, cuộc vinh thắng của Chúa Kitô trên sự chết. Mùa này khẩn thiết kêu gọi chúng ta hãy ăn năn hoán cải. Kitô hữu được kêu xin hãy trở về cùng Thiên Chúa “bằng tất cả tấm lòng của họ” (Joel 2:12), hãy đừng an phận với những gì là tầm thường và hãy gia tăng mối liên hệ thân tình với Chúa. Chúa Giêsu là người bạn trung thành không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Ngay cả khi chúng ta vấp phạm tội lỗi, Người vẫn nhẫn nại đợi chờ chúng ta trở về; bằng niềm trông đợi nhẫn nại ấy Người cho chúng ta thấy rằng Người sẵn sàng thứ tha cho chúng ta (xem bài giảng ngày 8/1/2016).
Mùa Chay là một thời điểm thuận lợi để đi sâu vào đời sống thiêng liêng của chúng ta bằng phương tiện thánh hóa được Giáo Hội cống hiến cho chúng ta, đó là chay tịnh, cầu nguyện và làm phúc. Căn bản của hết mọi sự là lời Chúa, mà trong mùa này chúng ta được mời gọi để nghe và suy niệm một cách sâu xa hơn. Giờ đây chúng ta hãy lưu ý tới dụ ngôn về người phú hộ và Lazarô (xem Luca 16:19-31). Chúng ta hãy tìm thấy cái cảm hứng nơi câu chuyện ý nghĩa này, vì nó cống hiến cho chúng ta cái then chốt để hiểu được những gì chúng ta cần phải làm hầu đạt tới hạnh phúc chân thực và sự sống đời đời. Nó khuyên chúng ta hãy thành tâm hoán cải.
1- Người khác là một tặng ân
Dụ ngôn này mở đầu bằng việc giới thiệu hai nhân vật chính. Con người nghèo được diễn tả một cách chi tiết hơn: người ấy là một con người quá tệ thậm chí không còn sức mà đứng lên được nữa. Nằm ở trước cửa nhà của người phú hộ, người này sống bằng các mảnh vụn rơi xuống từ bàn của người phú hộ. Thân thể của người ấy đầy những ghẻ lở và bị các con chó đến liếm các vết thương trên mình (xem các câu 20-21). Hình ảnh này là hình ảnh về một tình trạng thật là cùng khốn bất hạnh; nó phác tả cho thấy một con người khổ nhục và đáng khinh.
Cảnh tượng này lại càng thế thảm hơn nữa nếu chúng ta lưu ý tới con người nghèo này được gọi là Lazarô: một cái tên đầy hứa hẹn, theo nghĩa đen là Thiên Chúa phù giúp. Nhân vật này không phải là một con người vô danh. Các đặc tính của con người ấy được miêu tả một cách rõ ràng và tỏ ra như là một cá nhân sống câu chuyện đời tư của mình. Trong khi con người này thực tế trở thành vô hình đối với nhà phú hộ thì chúng ta lại thấy được và biết được con người ấy như là một ai đó quen thuộc. Con người này trở thành một khuôn mặt, và như thế, là một tặng ân, một kho tàng vô giá, một con người được Thiên Chúa yêu thương và chăm sóc, bất chấp thân phận thực tế của con người này như là một kẻ bị loại trừ (xem bài giảng ngày 8/1/2016).
Nhân vật Lazarô dạy chúng ta rằng những con người khác là một tặng ân. Mối liên hệ đúng đắn với con người ta là ở chỗ ưu ái nhìn nhận giá trị của họ. Ngay cả con người nghèo khổ ở ngay cửa nhà của nhà phú hộ này không phải là những gì rầy rà phiền toái mà là lời hiệu triệu hoán cải cùng đổi thay. Dụ ngôn này trước hết mời gọi chúng ta hãy mở cửa lòng mình ra cho người khác, vì mỗi một người là một tặng ân, dù là người hàng xóm láng giếng của chúng ta hay là một kẻ ăn xin vô danh tiểu tốt. Mùa Chay là một thời điểm thuận lợi cho việc mở cửa ra cho tất cả những ai đang thiếu thốn và nhận biết nơi họ dung nhan của Đức Kitô. Mỗi người chúng ta gặp gỡ con người ta hằng ngày như thế. Mỗi một cuộc sống chúng ta gặp gỡ là một tặng ân đáng chấp nhận, trân trọng và yêu thương. Lời Chúa giúp chúng ta mở mắt của chúng ta ra để đón nhận và yêu thương sự sống, nhất là khi sự sống đó yếu đuối và mỏng dòn dễ bị tổn thương. Thế nhưng, để làm điều ấy, chúng ta cần phải cẩn trọng lưu ý tới những gì Phúc Âm nói với chúng ta về nhà phú hộ.
2- Tội lỗi làm chúng ta mù quáng
Dụ ngôn này không tiếc lời diễn tả về những cái đối nghịch liên quan đến nhà phú hộ (xem câu 19). Không giống như Lazarô nghèo khổ, nhà phú hộ không có tên gọi; mà chỉ được gọi là “một người giầu có”. Cái giầu sang phú quí của nhà phú hộ này được thấy nơi những chiếc áo quá ư là mắc tiền của mình. Vải điều thậm chí còn quí hơn cả bạc và vàng, và vì thế được giành cho các bậc thần thánh (xem Giêrêmia 10:9) và vua chúa (xem Quan Án 8:26), trong khi vải lanh tốt cống hiến cho người ta một tính chất hết sức linh thánh. Con người này rõ ràng là muốn phô trương cái giầu sang phú quí của mình, và tỏ bày nó ra hằng ngày theo thói quen: “Hằng ngày yến tiệc linh đình” (câu 19). Nơi con người ấy chúng ta có thể thấy ngay được cái thê thảm của tình trạng băng hoại tội lỗi là tình trạng tiến triển theo 3 giai đoạn liên tục là yêu thích tiền của, phù du và kiêu kỳ (xem bài giảng ngày 20/9/2016).Tông Đồ Phaolô đã nói với chúng ta rằng “lòng yêu thích tiền của là nguồn gốc của tất cả mọi sự dữ” (1Timôthêu 6:10). Nó là nguyên do chính yếu của tình trạng băng hoại và là nguồn gốc của ghen tị, xung đột và ngờ vực. Tiền của có thể đi đến chỗ thống trị chúng ta, thậm chí cho đến độ trở thành một thứ ngẫu tượng chuyên chế tàn bạo (xem Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm, 55). Thay vì là một phương tiện giúp chúng ta làm lành và tỏ tình đoàn kết với những người khác thì nó có thể trói buộc chúng ta và toàn thế giới vào cái lý lẽ vị kỷ không còn chừa chỗ cho yêu thương và trở thành cản trở hòa bình.
Vậy dụ ngôn này cho thấy rằng lòng tham lam của nhà phú hộ biến con người này thành hư ảo. Nhân cách của con người ấy ở nơi các dáng vẻ bề ngoài, nơi việc tỏ cho người khác thấy những gì con người ấy có thể làm. Thế nhưng, cái dáng vẻ bề ngoài ấy là những gì che đậy một thứ trống rỗng nội tâm. Đời sống của con người này là một tù nhân cho những dáng vẻ bề ngoài, cho những khía cạnh hiện hữu nông nổi và mau qua nhất (xem Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm, 62).
Cái thanh ngang thấp nhất của tình trạng thoái hóa về luân lý này là tính kiêu hãnh. Nhà phú hộ phục sức như là một ông vua và tác hành như một vị thần, quên rằng mình chỉ là loài chết chóc. Đối với những ai bị băng hoại bởi lòng yêu thích giầu sang, thì không có gì hiện hữu ngoài bản ngã của họ. Những gì ở chung quanh họ đều không ở trong tầm nhìn của họ. Hậu quả của việc gắn bó với tiền của là một thứ mù lòa. Nhà phú hộ đã không nhìn thấy con người nghèo đang đói khổ, đớn đau, nằm ngay ở cửa nhà của mình.
Khi nhìn vào nhân vật này chúng ta có thể hiểu tại sao Phúc Âm đã rất ư là thẳng thừng lên án lòng yêu thích tiền của: “Không ai có thể làm tôi hai chủ: họ một là ghét chủ này mà thương chủ nọ, hay gắn bó với chủ này mà khinh thường chủ kia. Các con không thể làm tôi cho cả Thiên Chúa lẫn tiền của được” (Mathêu 6:24).
3- Lời Chúa là một tặng ân
Phúc Âm về nhà phú hộ và Lazarô giúp chúng ta thực hiện việc sửa soạn tốt đẹp để tiến tới Lễ Phục Sinh. Phụng vụ của Thứ Tư Lễ Tro mời gọi chúng ta đến với một cảm nghiệm rất giống với cái cảm nghiệm của nhà phú hộ. Khi vị linh mục xức tro trên đầu chúng ta thì ngài lập lại những lời: “Hãy nhớ rằng mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro”. Cuối cùng thì nhà phú hộ và con người nghèo khổ đều chết, và phần quan trọng hơn của dụ ngôn xẩy ra ở đời sau. Cả hai nhân vật đều đột nhiên khám phá ra rằng “chúng ta chẳng mang gì vào thế gian và chúng ta cũng không thể nào mang gì ra khỏi đó” (1Timôthêu 6:7).
Chúng ta cũng thấy cả những gì xẩy ra ở đời sau nữa. Ở đó người giầu nói dài dòng với tổ phụ Abraham, vị mà người này gọi là “cha” (Luca 16:24,27), như một dấu hiệu chứng tỏ con người ấy thuộc về dân Chúa vậy. Chi tiết này lại càng khiến cho đời sống của người này lại càng tỏ ra hoàn toàn trái ngược, vì cho đến lúc ấy vẫn chẳng có chuyện đề cập đến mối liên hệ của mình với Thiên Chúa. Thật vậy, chẳng có chỗ nào cho Thiên Chúa trong đời sống của con người ấy. Vị thiên chúa duy nhất của con người này là chính bản thân mình.
Nhà phú hộ chỉ nhận ra Lazarô khi ở giữa những cực hình đời sau. Con người ấy muốn con người nghèo kia làm giảm bớt cái khổ đau của mình bằng một giọt nước. Những gì con người ấy xin Lazarô giống như những gì con người này có thể làm được nhưng lại chẳng bao giờ làm. Abraham bảo con người ấy rằng: “Trong đời sống của mình nhà ngươi đã được đầy những cái may lành, còn Lazarô thì đầy những cái tồi tệ. Giờ đây nó được an ủi ở nơi đây trong khi ngươi đang phải chịu thống khổ” (câu 25). Ở đời sau sự công bằng sẽ được phục hồi và những cái xấu trong đời sống sẽ được quân bằng lại bằng sự thiện.
Dụ ngôn này tiếp tục cống hiến cho tất cả mọi Kitô hữu một sứ điệp. Nhà phú hộ xin Abraham sai Lazarô về cảnh báo cho anh em của mình là những kẻ còn đang sống. Thế nhưng Abraham đã trả lời rằng: “Họ đã có Moisen cùng các vị tiên tri, họ hãy lắng nghe các vị ấy” (câu 29). Đụng phải những kháng cự của nhà phú hộ, Abraham nói thêm rằng: “Nếu họ không lắng nghe Moisen hay các vị tiên tri thì họ cũng sẽ chẳng tin cho dù có ai sống lại từ kẻ chết” (câu 31).
Như thế thì cái vấn đề thực sự của nhà phú hộ đã hiện lộ. Ở căn gốc về tất cả mọi thứ bệnh hoạn của con người này là không nghe lời Chúa. Do đó con người này đã không còn kính mến Thiên Chúa và gia tăng việc khinh khi tha nhân của mình. Lời Chúa là những gì tồn tại và quyền năng, có thể hoán cải các tấm lòng và dẫn chúng về với thiên Chúa. Khi chúng ta khép lòng mình lại trước tặng ân lời Chúa thì chúng ta đi đến chỗ khép mình lại trước tặng ân anh chị em của chúng ta.
Các bạn thân mến, Mùa Chay là thời điểm thuận lợi để tái tấu việc chúng ta gặp gỡ Chúa Kitô đang sống động nơi lời của Người, nơi các Bí Tích cũng như nơi tha nhân của chúng ta. Lạy Chúa, Đấng đã chiến thắng các mưu mô lừa đảo của Tên Cám dỗ trong 40 ngày ở sa mạc, xin cho chúng con thấy đường lối chúng con phải theo. Xin Thánh Linh dẫn chúng con thực hiện cuộc hành trình hoán cải thực sự, nhờ đó chúng con có thể tái khám phá ra tặng ân lời Chúa, có thể được thanh tẩy khỏi tội lỗi làm cho chúng con bị mù quáng, và có thể phục vụ Chúa Kitô hiện diện trong anh chị em thiếu thốn của chúng con. Tôi khuyến khích tất cả mọi tín hữu hãy thể hiện cuộc canh tân thiêng liêng này bằng cả việc tham dự vào các Chiến Dịch Mùa Chay được nhiều tổ chức Giáo Hội phát động ở các phần đất khác nhau trên thế giới, và như thế hướng về nền văn hóa gặp gỡ trong gia đình nhân loại duy nhất của chúng ta. Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau để, nhờ được tham dự vào cuộc vinh thắng của Chúa kitô, chúng ta có thể mở cửa của chúng ta ra cho thành phần yếu kém và nghèo khổ. Để rồi chúng ta mới có thể cảm nghiệm thấy và chia sẻ trọn vẹn niềm vui Phục Sinh.
Tại Vatican ngày 18/10/2016
Phanxicô
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo những chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu
Anh chị Thụ & Mai gởi












