Vũ Quang Thuận & Mặt Trận Truyền Thông – S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

  Vũ Quang Thuận & Mặt Trận Truyền Thông –

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

“Một đêm Vũ Thư Hiên ngủ ở nhà tôi. Sáng hôm sau, tung chăn dậy, nhìn ra cửa sổ, nghe tiếng loa từ Ngã Sáu vọng vào, Hiên nhíu mày bảo:

– Hình như tao đã gặp buổi sáng như thế này ở đâu rồi.

Đúng là tiếng loa đã có từ lâu lắm rồi. Nó đã ngấm vào máu thịt, như là tiền kiếp vậy. Bao nhiêu năm chúng tôi đã nghe những bản nhạc hiệu ấy, những giọng nói đanh thép mở đầu ấy và cả những giọng điệu trong nội dung người viết người đọc nữa. Nó đã biến thành một phần của chúng tôi.” (Bùi Ngọc Tấn. Viết Về Bè Bạn. Hà Nội: Nhã Nam & NXB Hội Nhà Văn, 2012).

Cứ nghe ra rả cả ngày lẫn đêm (đảng ta, nhà nước ta, xã hội ta, nhân dân ta, quốc hội ta, bộ đội ta, sứ quán ta, người phát ngôn của bộ ngoại giao ta…) suốt “bao nhiêu năm” nên “nó biến thành một phần của chúng tôi” là … phải. Tất nhiên, đây không phải là chuyện ngẫu nhiên hoặc tình cờ – theo nhận xét của nhà bình luận La Thành:

“Trải qua nhiều chục năm thực hành và thực hành rất thành công, ngành tuyên truyền của Đảng Cộng sản đã đạt đến trình độ chuyên nghiệp và tinh vi vượt xa mọi lĩnh vực còn lại của thực tiễn cầm quyền. Để thí dụ, trong khi đã cân nhắc loại bỏ đi các thuật ngữ ‘nguỵ quyền’, ‘nguỵ quân’ trong sách giáo khoa lịch sử, các sử gia của chế độ vẫn tiếp tục sử dụng các thuật ngữ ‘Đảng ta’, ‘Nhà nước ta’, ‘quân và dân ta’, v.v. với dụng ý đánh đồng các thành phần trong hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản với toàn thể quốc dân và xã hội – một phép nguỵ biện về lô-gích và một sự trâng tráo về hành xử.”

Tuy “trâng tráo” nhưng hiệu quả. Nạn nhân của cách tuyên truyền lì lợm và thô bạo này, với thời gian, có thể biến thành … thủ phạm (dễ) như chơi. Thử nghe đạo diễn Nguyễn Đình Nghi, trưởng nam của thi sĩ Thế Lữ, nói về bằng hữu của thân phụ ông (trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn) nha:

  • Ta ngặt lắm… Khái Hưng là ta… thịt mà. Bác Tam không trốn kịp thì cũng bị.” (Trần Đĩnh. Đèn Cù IIWestminster, CA: Người Việt, 2014).

Cũng trong tác phẩm thượng dẫn, chương 44, tác giả viết tiếp:

  • .. Nguyễn Sinh, xưa phóng viên thường trú Vĩnh Linh, Vĩnh Mốc lên nói … anh đã chứng kiến những người ở phía bên Nam kiabị ta bắt sang chôn sống kêu rất lâu dưới huyệt, tôi lại thấy mọi người lạnh mặt lại.”

Ta thịt người này, ta chôn sống kẻ khác … nhưng chả ai áy náy hay phải chịu trách nhiệm gì ráo trọi về những việc làm tàn bạo đến độ vô nhân tính như thế vì đây là sự tàn ác của cả tập thể mà. Vô số người dân Việt đã vô tình dùng chung căn cước với Đảng CSVN (cái tập đoàn hiếu sát, hiếu chiến, bất nhân, tham lam, ác độc, giảo hoạt …) một cách hết sức hồn nhiên và vô tư: Đảng ta, nhà nước ta, quốc hội ta, bộ đội ta, sứ quán ta, người phát ngôn của bộ ngoại giao ta … Cũng không ít kẻ hễ mở miệng ra là cũng ba hoa (“ta/ta”) cứ y như loa đài của Nhà Nước vậy.

Dù vậy, Nhà Nước vẫn chưa yên tâm nên cả hệ thống truyền thông – gần trăm năm qua – luôn luôn nhắc nhở cho mọi người nhớ “con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã chọn!” Kiểu đánh đồng rất mất dậy và vô cùng trắng trợn này, tuy thế, hầu như đã không gặp phải bất cứ một sự chống đối công khai nào ráo.

Mãi cho đến đầu thế kỷ XXI, vào hôm 24 tháng 7 năm 2016, mới có một công dân Việt Nam – Trần Thị Thảo – đứng giữa phố phường, nói rõ (và nói to, to hơn cả tiếng loa phường) rằng mình hoàn toàn và tuyệt đối không có liên hệ chi với với tập đoàn lãnh đạo của chế độ hiện hành: “Tiên sư cha chúng mày chứ! Lịch sử sẽ lên án chúng mày, cả một chế độ thối nát, từ trên xuống dưới!

Vài tuần sau nữa, vào ngày 17 tháng 9, trong một cuộc phỏng vấn dành cho biên tập viên Mặc Lâm (RFA) giáo sư Tương Lai cho biết thêm là cái “chế độ thối nát” mà bà Trần Thị Thảo vừa đề cập đến (theo thứ tự từ dưới lên trên) gồm những “thằng” sau:

Từ ông thôn ông ấy bảo thằng xã nó ăn được thì tại sao tao không ăn được? Thằng xã bảo thằng huyện nó ăn được thì tại sao tao không ăn được? Thằng huyện bảo thằng tỉnh nó ăn được thì tại sao tao không ăn được? Thằng tỉnh bảo Bộ chính trị nó còn ăn, thằng Tổng bí thư nó còn ăn tại sao tao không ăn…

Giáo sư Tương Lai thản nhiên gọi TBT của Đảng Cộng Sản Việt Nam Quang Vinh bằng “thằng” khiến không ít người phải lấy làm ái ngại. Họ quan ngại rằng (cũng như bà Trần Thị Thảo) ông đã đi hơi xa trong việc biện biệt giữa “chúng ta” và “chúng nó.”

Nỗi lo ngại chính đáng này (bỗng) trở thành viển vông khi một công dân Việt Nam khác, ông Vũ Quang Thuận, đột nhiên xuất hiện như một “dàn đại bác” – theo lời tiên tri của blogger Bà Đầm Xoè:

Với tôi, dù Vũ Quang Thuận là ai thì sự lên tiếng của anh có giá trị khai sáng rất cao cho dân trí Việt Nam. Nó đã như một dàn đại bác liên tục nả vào đầu giới chóp bu cộng sản Việt Nam không trừ một ai, kể cả “linh hồn bất khả xâm phạm” Hồ Chí Minh. Với tôi, những gì Vũ Quang Thuận đã “bắn ra” đã đưa anh vào thế anh có thể biến mất bất kỳ lúc nào trước họng súng của chế độ CSVN đã bủa vây anh từ bốn phía.”

Vũ Quang Thuận. Ảnh: youtube

Quả nhiên, Vũ Quang Thuận và thân hữu của ông trong Phong Trào Chấn Hưng Nước Việt đã bị bắt giam vào hôm 3 tháng 3 năm 2017 vừa qua. Theo blogger Huỳnh Ngọc Chênh  thì “việc bắt giữ hai công dân Vũ Quang Thuận và Nguyễn Văn Điển là vi phạm nhân quyền, là dùng biện pháp bạo lực để dập tắt và chà đạp lên quyền tự do ngôn luận của công dân.” Ông bạn đồng nghiệp của tôi nói không sai nhưng e chỉ đúng  phân nửa mà thôi.

Quả thực là nhà đương cuộc Hà Nội đã “dùng bạo lực chà đạp lên quyền tự do ngôn luận của công dân” nhưng “dập tắt” được công luận thì vô phương, hay nói chính xác hơn là vô vọng. Trên mặt trận truyền thông, ĐCSVN đang phải đối mặt với một cuộc chiến tranh nhân dân mà Vũ Quang Thuận (và Nguyễn Văn Điển) chỉ là hai cảm tử quân ở tuyến đầu thôi!

NHẠC KỊCH TÌNH CHA:

———————————————————

Hiển Phượng xin được chia sẻ với quí Anh Chị nhạc kịch Tình Cha (Người con hoang đàng) do Vi Phương biên soạn dựa theo Tin Mừng Thánh Luca 15. 11-32 nói về Tình Cha, hay Người con hoang đàng. Đây là tâm tình của Phượng đã ấp ủ từ hơn 25 năm nay. Tạ ơn Chúa, Nhạc kịch này xong đúng vào cuối năm bế mạc Năm Thánh 2016. Ước mơ của Phượng là nhạc kịch này sẽ được diễn tả trên sân khấu. Nhưng mơ ước này lại quá lớn, khả năng lại hạn hẹp, nên đã thu hẹp lại trên youtube. Những nhân vật nói trong nhạc kịch này không ai khác hơn là những bạn bè, không một chút kinh nghiệm, đã thương mến khuyến khích và hy sinh thời giờ của mình để giúp cho hoàn tất. 

Nhạc kịch dài hơn 2 tiếng rưỡi và được chia ra làm 4 màn. Thơ của Vi Phương. Phổ nhạc Nguyễn Văn Hiển.

Xin chân thành chia sẻ đến Cả Nhà trong Mùa Chay Thánh này và xin cầu cho nhau,

Thật quí mến,

Hiển Phượng

NHẠC KỊCH TÌNH CHA:

httpv://www.youtube.com/watch?v=mTmpIRd9H7E&list=PLsJUg7bASmQqqCXPlo86Alr2RLLLf8c0L&index=1

NHẠC KỊCH: TÌNH CHA – MÀN I – VI PHƯƠNG & NGUYỄN VĂN HIỂN

httpv://www.youtube.com/watch?v=zRho603JHoY&list=PLsJUg7bASmQqqCXPlo86Alr2RLLLf8c0L&index=2

NHẠC KỊCH: TÌNH CHA – MÀN II – VI PHƯƠNG & NGUYỄN VĂN HIỂN

ĐI VÀO MÙA CHAY

ĐI VÀO MÙA CHAY

Biết căn nguyên của một từ đôi khi rất hữu ích.  Theo ngôn ngữ học, trong tiếng Anh cổ, mùa chay có nghĩa là mùa xuân.  Theo tiếng La-Tinh, mùa chay có nghĩa là chầm chậm.  Như vậy, theo từ nguyên học, mùa chay báo gọi mùa xuân đến và mời gọi chúng ta giảm nhịp sống để nhìn lại cuộc đời mình.

Dù qua cách nghĩ thông thường, mùa chay mang một vài nét cổ truyền nhưng mùa chay chính là thời gian kêu gọi chúng ta chay tịnh, gạt qua những thú vui thông thường và lành mạnh nào đó để chuẩn bị tốt hơn cho đại lễ Phục Sinh.

Một trong những hình ảnh giúp ích cho điều này là ý niệm về Sa Mạc trong Kinh Thánh.  Qua Kinh Thánh chúng ta biết rằng, để chuẩn bị cho việc rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đi vào sa mạc bốn mươi đêm ngày để chay tịnh và, theo Phúc Âm thánh Mác-cô, Đức Giêsu còn chịu Xa-tan cám dỗ, sống với thú hoang, và được các thiên thần che chở.

Mùa Chay luôn được hiểu là thời gian chúng ta noi theo Đức Giêsu, một cách ẩn dụ Đức Giêsu trải qua bốn mươi ngày trong sa mạc, không sống bằng thực phẩm thông thường, để có thể đối diện với “Xa-tan,” “thú hoang” và thấy “các thiên thần” hiện đến, che chở khi chúng ta không còn tự lo cho mình được nữa.

Mua chay

“Xa-tan” và “thú hoang” ám chỉ đặc biệt đến các xáo trộn trong tâm hồn mà chúng ta thường hay phủ nhận hoặc đơn giản không dám đối diện – đó là các chứng hoang tưởng, nổi giận, ghen tương, xa lánh mọi người, ảo tưởng, tự kiêu, ham muốn, những tổn thương chưa lành, rắc rối trong đời sống tình dục, không có khả năng cầu nguyện, kém lòng tin, và các che giấu về mặt đạo đức.  Thực phẩm thông thường làm sao nhãng cuộc sống, nó che không cho chúng ta đối diện với các xáo trộn sâu kín núp bóng dưới bề mặt cuộc sống.

Mùa chay kêu gọi chúng ta ngưng dùng các thực phẩm này, các thực phẩm ngăn không cho chúng ta đối diện với cô tịch trong tâm hồn.  Mùa Chay kêu gọi chúng ta đối diện với bé mọn, yếu mềm, e sợ của mình, và mở lòng để thấy cái xáo trộn của sa mạc, để các thiên thần có dịp nuôi sống chúng ta.  Đó là lý tưởng Ki-tô giáo về mùa chay, đối diện với chính những xáo trộn của mình.

Để bổ sung, tôi đề nghị ba hình ảnh đầy tính thần thoại, mỗi hình ảnh giúp giải thích một khía cạnh của mùa chay và việc giữ chay:
Trong mỗi nền văn hóa đều có các câu chuyện cổ, các huyền thoại dạy chúng ta lúc này lúc kia trong đời, phải biết ngồi giữa tro tàn.  Chẳng hạn, ai cũng biết chuyện Cô Bé Lọ Lem.  Theo nghĩa đen Cinderella có nghĩa là cô bé (puella) ngồi trong tro tàn (cinders).  Bài học rất rõ ở đây là: Trước khi trở nên xinh đẹp, trước khi có thể kết hôn với hoàng tử hay công chúa, trước khi đi dự tiệc, trước hết bạn phải nếm trải thời gian ở một mình giữa tro tàn nhem nhuốc, hèn mọn, quay về với với bụi đất và chờ đợi.  Mùa chay là mùa dành thời gian ngồi trong tro tàn.  Không ngẫu nhiên khi chúng ta bắt đầu Mùa Chay bằng việc xức tro lên trán.

Thứ hai là hình ảnh ngồi dưới sao Thổ, làm đứa con của sao Thổ.  Người xưa tin rằng sao Thổ là sao của buồn chán, u sầu.  Do đó không ngạc nhiên khi thấy ai đó rơi vào bùa mê của nó, chính xác khi họ cảm thấy buồn và thất vọng.  Thật vậy, người xưa tin rằng trong đời, ai cũng phải trải qua một khoảng thời gian nào đó làm đứa con của sao Thổ, nghĩa là, ngồi trong buồn chán, nặng nề, kiên nhẫn chờ đợi để một điều quan trọng nào đó tự biến chuyển trong tâm hồn mình.  Thỉnh thoảng những người lớn tuổi hay các vị Thánh cũng tự nguyện đặt mình ngồi dưới sao Thổ, như Đức Giêsu đi vào sa mạc, họ sẽ ngồi trong tình trạng buồn chán, nặng nề, hi vọng rằng, nỗi u sầu này có một ý nghĩa đưa họ đến một chiều sâu nội tâm mới mẻ nào đó.  Đó cũng là chức năng của mùa chay.

Cuối cùng một hình ảnh quý giá, lưu truyền trong những thần thoại cổ xưa, hình ảnh các giọt nước mắt nối kết chúng ta lại với dòng chảy cuộc đời, với nguồn mạch sự sống.  Nước mắt, như chúng ta biết, là nước muối mặn.  Không phải không có ý nghĩa sâu sắc.  Đại dương là nước muối mặn và, như chúng ta biết, tất cả sự sống đều bắt nguồn từ đó.  Vì vậy, trong ý tưởng nhiệm mầu và nên thơ, nước mắt nối kết chúng ta lại với nguồn mạch sự sống, nước mắt tái sinh, thanh lọc chúng ta trong sự tận hiến cuộc đời, và nước mắt làm tâm hồn sâu đậm, để tâm hồn nếm trải nguồn mạch sự sống.  Với sự thật đó, và khi tất cả chúng ta đều trải nghiệm sự thật đó, nước mắt chính là đi vào sa mạc để chay tịnh, là vật dẫn truyền đến chiều sâu mới mẻ của tâm hồn.

Sự cần thiết của mùa chay được trải nghiệm khắp nơi: Nếu không được thăng hoa thì có thể chúng ta sẽ không bao giờ đạt được cái siêu phàm.  Để thật sự đi vào đại tiệc trước hết phải có chay tịnh.  Để đi vào Phục Sinh một cách đúng đắn trước hết phải có một khoảng thời gian của sa mạc, tro tàn, buồn chán và nước mắt.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Dân vây bắt một nghi can xâm hại bé gái 4 tuổi

Dân vây bắt một nghi can xâm hại bé gái 4 tuổi

14/03/2017 

TTO – Ngay khi phát hiện vụ việc, nhiều người dân địa phương đã lập tức tổ chức vây bắt, đồng thời thông báo cho lực lượng công an địa phương.

​Sự việc xảy ra vào khoảng 20g ngày 13-3, tại khu vực xóm Tân Trào, xã Minh Đài, huyện Tân Sơn, Phú Thọ. Nạn nhân là một bé gái 4 tuổi trú ở xã Minh Đài.

Thông tin ban đầu vào khoảng thời gian trên bé gái tên T. đi cùng mẹ đến sân đánh bóng chuyền sau đó bị ông H., người cùng xã đưa ra khu vực sân sau nhà văn hóa để giở trò đồi bại.

Ngay sau đó nhiều người dân địa phương phát hiện nên đã tổ chức vây bắt, đồng thời thông báo cho lực lượng công an địa phương.

Tối 14-3 trao đổi với báo chí lãnh đạo xã Minh Đài cho biết sau khi sự việc xảy ra cháu bé đã được đưa lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ để kiểm tra sức khỏe, giám định vùng kín.

Ông H. bị cơ quan chức năng điều tra.

Fatima, nơi Ðức Mẹ hiển linh

Fatima, nơi Ðức Mẹ hiển linh

Trần Nguyên Thắng/ATNT Tours & Travel

Thánh Lễ tại Fatima. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Năm nay Fatima kỷ niệm đúng 100 năm (1917-2017), năm Ðức Mẹ Maria hiển linh ở ngôi làng nhỏ của đất nước Bồ Ðào Nha để nói chuyện với ba đứa trẻ chăn cừu vào ngày 13 Tháng Năm.

Sẽ có rất nhiều tín đồ Thiên Chúa Giáo và du khách từ khắp mọi nơi đổ dồn về Thánh Ðịa Fatima vào ngày này. Fatima chỉ cách Lisbon, thành phố lớn nhất và là thủ đô của Bồ Ðào Nha, khoảng 120 km về hướng Bắc và bây giờ không còn là một ngôi làng nhỏ vùng quê nữa.

Câu chuyện kể, vào ngày 13 Tháng Năm, 1917, ba đứa trẻ chăn cừu tên Lucia, Francisco, và Jacinta có cơ duyên được gặp Ðức Mẹ tại ngôi làng Fatima. Chúng đã gặp một “bà mặc áo trắng, tay cầm chuỗi hạt” hiện ra bên trên cây sồi và được Lucia mô tả “hình ảnh bà trông chói sáng hơn cả mặt trời.”

Cả ba đứa trẻ không phải chỉ có duyên gặp Ðức Mẹ một lần mà chúng đã gặp bà tất cả đến sáu lần. Năm lần chúng đều gặp “bà áo trắng” đúng vào ngày 13 của các Tháng Sáu, Bảy, Chín, Mười và một lần duy nhất chúng gặp bà vào ngày 19 Tháng Tám. Qua lời kể của ba đứa trẻ sau các lần gặp gỡ, Ðức Mẹ đã gửi thông điệp và những lời tiên tri đến nhân loại.

Những điều tiên tri đó đúng như thế nào thì cũng tùy theo suy tư và đức tin của từng người. Nhưng riêng tôi thầm nghĩ một điều là ba đứa trẻ, đứa lớn nhất là Lucia cũng chỉ mới 10 tuổi, Francisco 9 tuổi và đứa nhỏ nhất Jacinta mới 7 tuổi. Chúng đều ở một cái tuổi (vào thời đó) con nít chưa biết nói dối. Việt Nam mình có câu “Ði hỏi già, về nhà hỏi trẻ” nên tôi tin là chúng “nói thật,” nghĩa là tôi tin vào những thông điệp và những tiên tri của “bà áo trắng hiện trên cây sồi” đã nói với các đứa trẻ chăn cừu đó.

Fatima, nơi Ðức Mẹ hiển linh
Tượng “Bà áo trắng, tay cầm tràng hạt, chói sáng hơn cả mặt trời” được đặt ngay nơi Ðức Mẹ hiển linh. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Nhưng hai đứa trẻ Francisco và Jacinta chết sớm hai năm sau đó vì bệnh. Riêng cô bé Lucia thì sau này trở thành nữ tu của Religious Sister of Saint Dorothy. Bà mất năm 2005 thọ 97 tuổi. Theo những thông tin của Fatima thì sau này cô bé Lucia vẫn còn gặp Ðức Mẹ thêm ba lần nữa, một vào Tháng Mười, 1925, một vào ngày 15 Tháng Hai, 1926, và lần cuối vào đêm 13 rạng sáng 14 Tháng Sáu, 1929.

Những gì “bà áo trắng, chói sáng hơn cả mặt trời” đã nói với các đứa trẻ chăn cừu trở thành ba điều tiên tri bí mật Fatima. Hai điều bí mật đầu đã được Lucia nói ra sớm, nhưng điều thứ ba thì mãi đến năm 1944 Lucia mới tiết lộ cho Tòa Thánh Vatican.

Ðiều bí mật thứ nhất nói về sự chấm dứt Thế Chiến Thứ I và sự khởi đầu của Thế Chiến Thứ II. Ðiều bí mật thứ hai nói về sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Cộng Sản trên toàn thế giới. Ðiều “bí mật thứ ba Fatima” thì lại bị Tòa Thánh Vatican giữ kín cho đến ngày 13 Tháng Năm, 2000, mới được Ðức Giáo Hoàng John Paul II công bố. Ðó là lời tiên tri về sự việc Ðức Giáo Hoàng bị ám sát và sự ăn năn thống hối trở về lại niềm tin Thiên Chúa của Liên Bang Nga.

Câu chuyện về các điều bí mật Fatima cũng đã ít nhiều được nhân loại biết đến, mức độ tin như thế nào thì cũng tùy theo đức tin của mỗi người. Nhưng những biến động của con người vào thế kỷ 20 (1900-2000) đã để lộ ra những gì Ðức Mẹ đã thông tri cho nhân loại biết trước.

Fatima, nơi Ðức Mẹ hiển linh
Tượng Ðức Giáo Hoàng John Paul II tại quảng trường Fatima. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Hằng năm vào trước ngày 13 Tháng Năm các tín đồ Thiên Chúa Giáo từ khắp nơi đổ về ngôi làng Fatima nhỏ bé để tham dự buổi Thánh Lễ ngày Ðức Mẹ hiển linh. Nhiều đoàn người đến cắm lều tạm trú chung quanh quảng trường Fatima vì vào tuần lễ này không dễ dàng tìm được khách sạn tại Fatima. Cả thành phố nhỏ bé Fatima chỉ có vào khoảng 10,000 phòng trong khi số lượng người đến đây có khi đến hàng trăm ngàn người tham dự buổi Thánh Lễ.

Người ta ước lượng khoảng hơn 200,000 người từ khắp nơi trên thế giới tụ hội về đây tham dự Thánh Lễ. Ðiểm đặc biệt là mọi người đã tụ hội với một thái độ thân thiện cởi mở cho dù không cùng màu da, không phân biệt dân tộc, không phân biệt tuổi tác.

Người hướng dẫn địa phương cho biết năm 2000 khi Ðức Giáo Hoàng John Paul II đến Fatima thì con số người tham dự lên đến nửa triệu người, một con số không thể hình dung được ở không gian quảng trường Fatima.

Bên ngoài quảng trường những ai không có chỗ đứng, đành phải đi dạo quanh hoặc ngồi đợi hết Thánh Lễ rồi mới đi vào khu nhà nguyện, hướng về tượng Ðức Mẹ tìm một chỗ đứng đọc kinh. Buổi Thánh Lễ khá dài, suốt từ 10 giờ sáng mãi đến gần 1 giờ trưa thì các tín đồ mới hát chào và vẫy khăn chia tay với Ðức Mẹ.

Tháng Năm, Fatima tuy có mát vào buổi chiều tối nhưng lại khá nóng vào buổi trưa, sức nóng lên đến hơn 90 độ F.

Fatima mang những thông điệp từ một tôn giáo tạo thành một niềm tin, một đức tin tạo cho con người sống trong tình thương yêu đùm bọc, thân thiện và nhân nhượng lẫn nhau. Có những đức tin mình chỉ học được khi nhìn thấy những người khác biểu lộ đức tin đó.

Một trăm năm trôi qua, các bí mật Fatima không còn là bí mật nữa. Nhưng thông tri Fatima giúp đức tin con người mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Fatima, nơi Ðức Mẹ hiển linh
Tượng điêu khắc đoàn người hành hương đến làng Fatima. (Hình: ATNT Tours & Travel)

CỔ TÍCH TRÊN ĐỈNH MỒ CÔI – KỲ CUỐI

CỔ TÍCH TRÊN ĐỈNH MỒ CÔI – KỲ CUỐI

From Võ Đắc Danh CỔ TÍCH TRÊN ĐỈNH MỒ CÔI – KỲ CUỐI

VO DAC DANH

 

 

 

 

 

 

 

 

VÕ ĐẮC DANH GẶP LÊ MINH TRIỂN TẠI SAN DIEGO NĂM 2010

Kể xong câu chuyện Cổ Tích Trên Đỉnh Mồ Côi, tôi vẫn còn ray rứt trước hai câu hỏi không tìm ra lời đáp: Thứ nhất, liệu anh Bông có lấy vợ được không ở cái tuổi bốn lăm ? Người phụ nữ, dù có rộng lượng đến đâu cũng không thể ưng một người chồng đang nuôi 11 đứa con nheo nhóc. Thứ hai, chuyện học hành của 11 đứa trẻ ấy rồi sẽ ra sao giữa đỉnh núi cao hoang vu, heo hút, đường đến trường quanh co, năm ba cây số, dốc núi dựng đứng, trập trùng ?
Tôi đã gởi vào đoạn kết câu chuyện một nỗi lo cùng với một niềm tinmong manh, rằng : ” Khi bà Tiên qua đời, liệu anh tiều phu có lo cho những thiên thần bé nhỏ ấy học hành đỗ đạt hay không ? Những câu chuyện cổ tích bao giờ cũng đi đến một kết thúc có hậu. Nhưng dân gian thường hay lý giải sự bế tắt bằng những phép màu. Và tôi hy vọng trong câu chuyện nầy, sẽ có một phép màu nào đó đến với anh Bông. Phép màu ấy chính là cái tâm, là lòng nhân ái đang ẩn chứa đâu đây, trên cõi đời nầy”.

Và, cái phép màu ấy đã đến với anh Bông và những đứa trẻ mồ côi sau khi câu chuyện được kể trên Sài Gòn Tiếp Thị.

Một buổi tối, Dì Ba gọi điện cho tôi, nói như nửa đùa nửa thật: “Con biết không, mấy ngày qua có nhiều cô từ miền Trung đến miền Tây, rồi cả bên Mỹ gọi điện cho thằng Bông để chia sẻ, bày tỏ tình cảm, nhã ý muốn lên đây làm mẹ của mấy đứa nhỏ, giờ con tính sao ?”

Gần một năm sau tôi trở lại Đỉnh Mồ Côi thì Câu Chuyện Cổ Tích đã có nhiều thay đổi đến không ngờ. Con đường lên đỉnh núi đã được tráng xi măng để xe gắn máy dễ dàng lên xuống, anh Bông cho biết, ngay tuần đầu sau khi câu chuyện được lên báo, nhiều tổ chức, cá nhân đã mang tiền lên giúp sức, kẽ ít người nhiều, trước hết là giúp anh làm con đường bê tông để giảm bớt nỗi nhọc nhằn khi lên xuống núi. Mới đây, một nhóm thanh niên gọi là nhóm chim gồm 36 người do dược sĩ Trần Anh Tuấn dẫn đầu từ Đồng Nai lên chơi , chở lên ba tấm nệm Kim Đan, mấy thùng đồ chơi trẻ em và 14 triệu đồng tặng cho đám trẻ.Có một câu chuyện rất cảm động mà dì Ba nói rằng dì sẽ giữ bí mật cho đến khi nào tôi trở lại để dì dành cho tôi một sự ngạc nhiên.
Hôm ấy, có một chàng trai tên là Minh Triển từ Mỹ trở về, một thân một mình trèo lên đỉnh núi, khi tới nơi, anh ôm những đứa trẻ vào lòng rồi bật khóc. Anh nói, đọc câu chuyện trên mạng tưởng người ta hư cấu, không ngờ sự thật là như vậy. Minh Triển cũng không nói gì thêm, trước khi ra về, anh gởi cho dì Ba 300USD cùng với lời hứa sẽ tìm cách giúp dì với anh Bông lo cho mấy đứa nhỏ học hành.

Mấy tuần sau, Triển gọi điện qua nói với dì Ba: “Con xin phép được làm con nuôi của má, làm em của anh Bông, làm chú của 11 đứa trẻ để con được góp sức chăm lo cho tụi nó”. Thì ra, trong chuyến đến thăm lần ấy, Triển đã khảo sát dưới chân núi Cấm có trường học dạy từ lớp một đến lớp 12. Anh đề nghị anh Bông xuống chân núi mua đất xây nhà cho các cháu có chỗ ở gần trường để học hành, công việc tiến hành tới đâu Triển gởi tiền về tới đó.
Đến nay, ngôi nhà đã được hoàn tất, chiều ngang 9 mét, chiều dài 20 mét, một trệt một lầu, phía sau có 1.000 mét vuông đất vườn. Anh Bông cho biết, Triển gởi về tổng cộng 45.000USD. Ngôi nhà 360 mét vuông, mỗi đứa một phòng ngủ riêng, đó là ý tưởng của Minh Triển vừa tập cho các cháu sinh hoạt độc lập, vừa dự phòng khi chúng lớn lên có đủ không gian để sinh hoạt cá nhân.

 LE MINH TRIÊN
LÊ MINH TRIỂN VỚI GIA ĐÌNH DÌ BA TRONG NGÔI NHÀ MỚI XÂY DƯỚI CHÂN NÚI CẤM

Minh Triển là ai ? Tôi gởi lại địa chỉ mail cho anh Bông với hy vọng sẽ liên lạc với con người khá bí ẩn nầy.

Anh Bông lấy ra cho chúng tôi xem hơn mười lá thư của các chị, các cô gởi về, không chỉ từ mọi miền đất nước mà cả những lá thư cách nửa vòng trái đất. Mỗi người kể một hoàn cảnh, một tâm sự khác nhau. Nhưng thật đáng trân trọng vì hầu hết những lá thư đều bày tỏ lòng trân trọng với anh Bông. Ai cũng muốn chung vai gánh vác với anh một phần trách nhiệm. Một chị ở Hà Nội tâm sự rằng, chị lấy chồng gần năm năm nhưng không có khả năng sinh con, bị chồng bỏ đi lấy vợ khác, chị sống trong những ngày tuyệt vọng thì tình cờ đọc được câu chuyện về anh, bỗng dưng chị khát khao muốn được làm mẹ của những đứa con anh, được bồng ẵm, được chăm sóc chúng như con ruột của mình. Một chị ở Cali thì đặt thẳng vấn đề kết hôn với anh và bảo lãnh cho những đứa con anh du học. Tôi hỏi Bông tính sao, anh cười hiền: “Mình chẳng biết tính sao cả, đã thề sống độc thân để nuôi tụi nó rồi, giờ lấy vợ, liệu người ta có thương tụi nó bằng mình không, nói thì nói vậy chớ chạm vào thực tế mới biết, không khéo sẽ đỗ vỡ hết, sẽ nát bét hết . . .”
*
Mấy ngày sau, tình cớ tôi nhận được mail của Minh Triển, anh tâm sự khá dài. Ngoài những điều như dì Ba và anh Bông kể, Triển còn cho biết tuổi thơ của anh ở Trà Vinh đã trải qua những tháng ngày cơ cực, mồ côi cha từ bé, phải nghỉ học sớm để mưu sinh.
Năm 15 tuổi, Triển theo một chiếc tàu đánh cá ra khơi và không ngờ rằng mình đặt chân lên đất Mỹ. Tuổi thơ lưu lạc, khao khát tình thương. Khi lên tới Đỉnh Mồ Côi, Triển như thấy bóng dáng thân phận mình qua từng đứa trẻ. Về Mỹ, anh quyết định gom đến đồng bạc cuối cùng của mình dành dụm bao nhiêu năm để làm một điều gì đó nhằm giảm bớt nỗi bất hạnh cho những đứa trẻ ấy, Triển cảm thấy như được bù đắp cho những mất mát của chính tuổi thơ mình.
*
Tháng 5 năm 2010, tôi sang Mỹ và gởi mail báo tin cho Triển. Một sáng sớm, Triển đến đón tôi từ Fullerton về San Diego, nơi anh đang ở. Những ngày ở đây, tôi lại được sống trong câu chuyện cổ tích và những phép màu:

Em mồ côi cha từ nhỏ, năm 15 tuổi, em theo một chiếc ghe biển làm thuê kiếm tiền nuôi mẹ và hai đứa em. Một hôm, em thấy lạ, chiếc ghe cứ đi mãi, đi mãi không đánh cá mà cũng không về, và em đã hiểu ra rằng họ đi vượt biên. Cuộc đời em bắt đầu sang trang từ đó. Những ngày đầu sống trên đảo Bidong, em tìm đến xin việc ở một lò bánh mì của một người Việt tỵ nạn, người ta không nhận, em tìm gặp ông chủ để năn nỉ:” Xin ông cho con được làm công, không cần trả lương, chỉ cần ông cho con mỗi ngày hai ổ bánh mì thôi”. Ông nhận em vào làm và được trả công mỗi ngày hai ổ bánh mì. Được vài tháng em nói với ông chủ: ” Con muốn đi bán bánh mì nhưng không có vốn, xin ông cho con lấy bánh trước, chiều về con trả tiền”. Ngày đầu em lấy mười ổ đi bán trong các trại tỵ nạn, ngày sau mười lăm ổ, rồi hai mươi ổ . . . con số cứ tăng dần. Không biết từ lúc nào, ông chủ lò bánh mì thương em như con ruột. Một hôm ông gọi em đến nói: ” Tao được xét đi Úc rồi, cái lò bánh mì có nhiều người mua nhưng tao không bán, tao tặng lại cho mầy . . .”. Những ngày trước khi đi, ông chỉ dạy cho em cách làm bánh. Bỗng dưng em trở thành ông chủ nhỏ như một giấc mơ. Vài tháng sau em có tiền, em tiếp tục mua thêm một lò bánh mì nữa của một người được xét đi Mỹ. Khoảng sáu tháng sau, trên đảo xảy ra sự cố: Một người tỵ nạn say rượu nổi loạn bắn chết một nhân viên của Cao ủy. Họ nỗi giận, họ trừng phạt bằng cách cắt trợ cấp lương thực. Hàng ngàn người tỵ nạn rơi vào tình trạng đói khát. Lúc ấy, hai lò bánh của em không kinh doanh nữa mà chuyển sang cứu đói, mỗi ngày làm ra bao nhiêu bánh mì em đem phát không cho họ. Nhiều người mắng chửi em ngu dại, đây là thời cơ hốt bạc mà không biết nắm bắt để kinh doanh. Em nghĩ đã đến đây, đã lâm vào tình cảnh nầy thì ai sao mình vậy. Bao nhiêu vốn liếng em tiếp tục bỏ ra mua bột làm bánh cứu đói đến đồng bạc cuối cùng, đến hai lò bánh mì đóng cửa. Sau sáu tháng trừng phạt, Cao ủy họ tiếp tục cứu trợ lương thực cho người tỵ nạn. Một người quen tới rủ em: ” Mầy có lò bánh, có nghề, tao có ít vốn, mình hợp tác làm ăn”. Hai lò bánh mì hoạt động trở lại cho đến ngày em đi Mỹ.

Sang Mỹ, em lại gặp một sự cố đáng buồn. Lúc làm hồ sơ đi Mỹ, theo quy định thì những người dưới 18 tuổi phải có người đỡ đầu, tối thiểu phải là họ hàng thân thuộc, em nhờ một người quen nhận em là cháu. Nhưng khi tới Mỹ thì họ lấy hết tiền trợ cấp, mỗi tuần chỉ đưa lại cho em 10USD. Em với mấy người bạn Việt cùng cảnh ngộ se phòng trọ để đi học, đi nhặt rác và đi giao báo để kiếm sống. Mỗi tuần kiếm được năm bảy chục đô, cứ lây lất như thế cho đến khi vào đại học. Và, cuộc đời em sẽ không biết ra sao nếu không có một “phép màu”, em cho rằng đó là một phép màu.

Hôm ấy một thằng bạn rủ em tới nhà cha nuôi của nó chơi. Ông nầy là một người Mỹ, trước đây là một tiểu thương đã nghỉ hưu, sống độc thân và khá giả, ông đã nhận bốn sinh viên Việt Nam làm con nuôi. Sau cuộc gặp gỡ ấy, ông lại nhận thêm em, là đứa con nuôi thứ năm. Từ đó, thỉnh thoảng ông gọi em tới chơi, làm thức ăn đãi em, rồi hỏi thăm, dạy bảo. Dần dà, em cảm nhận ở ông một tình cảm rất lạ, rất đầm ấm, rất chân thành. Có hôm trời mưa, ông gọi điện hỏi em đang ở đâu, em nói đang ở ngoài đường. Giọng ông tỏ ra lo lắng: ” Tao đã bảo mầy trời mưa không được ra ngoài !”.

Một hôm ông gọi em tới và ôn tồn nói:” Tao thấy mầy học ngành điện không ổn, ở đây có nhiều kỹ sư điện thất nghiệp, còn nếu có việc làm thì cũng chỉ đủ sống. Mầy nghỉ học đi, mở cái công ty cắt cỏ, tao giúp cho”. Ở Mỹ, trừ khu trung tâm thành phố, mỗi nhà đều bắt buộc phải có khu đất trồng cỏ, nếu không trồng thì bị phạt, còn trồng mà hàng tháng không cắt theo quy cách cũng bị phạt. Ông tư vấn cho em từ việc thành lập công ty, cách quản lý, cách tiếp thị, quảng cáo . . .

Dạo quanh thành phố San Diego, thấy những chiếc xe bán tải với mấy người Mễ chở máy móc đi cắt cỏ cho các sân vườn, Triển nói công nhân của em đó, rồi kể tiếp:

Sau chuyến về Việt Nam gặp anh Bông và những đứa trẻ trên núi Cấm, em quyết định chuyển toàn bộ số tiền trong tài khoản về cho anh ấy mua đất và cất nhà dưới chân núi. Nhưng rồi em nghĩ, đó chỉ là việc khởi đầu cho một tương lai dài đăng đẳng của mười một đứa bé. Làm sao cho chúng học hành tới nơi tới chốn, có một cuộc sống đàng hoàng, đó là khát vọng lớn nhất của em. Em đem chuyện ấy bàn với ba nuôi và ngỏ ý muốn lập một hội từ thiện. Ông nói, trong mấy đứa con nuôi, ngay từ đầu tao thấy mầy là đứa có tấm lòng, sống phải biết vì quê hương, vì đồng bào mầy ạ. Mầy lập hội từ thiện đi, tao đứng ra giúp đỡ, mầy quyên góp được một đồng, tao cho thêm một đồng . . . Em cũng không ngờ, năm đầu tiên em vận động được 37 ngàn USD, ổng góp vô 37 ngàn nữa. Vậy là, ngoài việc chu cấp cho mười một đứa con nuôi, số tiền quỹ từ thiện hàng năm em mang về giúp đỡ trẻ em nghèo các tỉnh.

Một hôm, ba nuôi gọi em đến, ông nói tao bây giờ già rồi, không biết ra đi ngày nào, tao đã nhờ luật sư làm di chúc, giao lại toàn bộ tài sản và tiền bạc trong nhà băng cho mầy. Em cầm tờ di chúc mà bủn rủn tay chân, số tiền quá lớn, tài sản cũng quá lớn. Và lớn lao hơn hết là tấm lòng của một người cha không cùng màu da sắc tộc.

LÊ MINH TRIỂN TẠI XẺO LÁ NĂM 2012

Tôi hỏi Triển dự định thế nào với tờ di chúc ấy, anh nói:

Mong muốn trước tiên của em là cho mười một đứa con nuôi du học, tiếp theo, em sẽ về quê xây thêm trại mồ côi theo cách làm của anh Bông, tức là những đứa trẻ vô thừa nhận khi vừa mới chào đời.

CỔ TÍCH TRÊN ĐỈNH MỒ CÔI

CỔ TÍCH TRÊN ĐỈNH MỒ CÔI

Võ Đắc Danh

Bà Võ Thị Ba, bảy mươi tuổi, tóc trắng như một bà Tiên; con trai bà, anh NguyễnTấn Bông, 42 tuổi, người gân guốc, đen sạm và mạnh khoẻ như anh tiều phu; mườimột đứa trẻ, chín trai, hai gái, đứa lớn năm tuổi, đứa nhỏ nhất một tuổi, đứanào cũng trắng trẻo, khôi ngô như những thiên thần.

Đó là một gia đình sống trên đỉnh Mồ Côi hoang vắng, thuộc quần thể Núi Cấm,giữa vùng núi Thất Sơn, An Giang. Người ta cho rằng đó là một gia đình lạ, cómột không hai trên đất nước nầy, nếu không muốn nói là có một không hai trênthế gian.

Dì Ba kể rằng, quê dì ở Bình Thủy, Cần Thơ. Ngày xưa dì từng là chủ xe đò. Năm1980, có lần dì theo xe đưa nghĩa vụ quân sự qua Thất Sơn, bỗng dưng dì mê núi.Từ đó, thỉnh thoảng là dì “đi núi”, không phải viếng chùa cúng miễugì cả, dì không theo đạo nào, nhưng trong nhà dì, đạo nào dì cũng thờ, thờchung một bàn, không sợ họ “nghịch” nhau.

Dì nói, tôi không học giáo lý của tôn giáo nào cả, nhưng tôi thờ tất cả vì đạonào cuối cùng cũng là hướng thiện, mà con người luôn cần có cái tâm. Trở lạichuyện đi núi, dì nói không hiểu sau mỗi lần đi là không muốn quay về. Núi Cấmhồi ấy hùng vĩ, mênh mông, hoang vu và cô tịch. Vậy mà dì cảm thấy mê.

Một hôm, dì nói với các con: “Tao bán nhà lên lên Núi Cấm ở”. AnhNguyễn Tấn Bông, con trai út của dì lúc bấy giờ mới hai sáu tuổi, nói:”Nếu má đi thì con đi theo má”. Cuối năm 1991, dì bán căn nhà được balượng vàng, dẫn anh Bông lên xe đò đi Núi Cấm. Anh Bông kể: “Đầu tiên khiđến đây, hai mẹ con tôi mua một căn nhà nhỏ dưới chân núi để mở quán cà phê.Được một năm, má tôi nói ở đây xe cộ ồn ào, những ngày lễ chùa, khách hànhhương đông nghẹt. Bán quán thì cần khách, nhưng khách đông thì bà cảm thấy khóchịu. Biết tính má tôi muốn sống yên tĩnh một mình, không thích gần ai nên tôitìm đường lên đỉnh Mồ Côi mua đất. Gọi là mua nhưng thật ra hồi ấy, ba mẫu đấtchỉ có hai chỉ vàng.

Từ chân núi lên tới đỉnh Mồ Côi, hồi ấy không có đường xe, chỉ có con đường mònlen lỏi theo con suối Thanh Long. Độ cao của Núi Cấm chỉ trên dưới bảy trăm métnhưng đường lên đỉnh quanh co gần mười cây số, lên xuống nhiều con dốc, lởmchởm đất đá, đầy nguy hiểm, nhọc nhằn. Cách một hai cây số mới có một ngôi nhà.Rừng núi hoang vu buồn đứt ruột.Vậy mà má tôi kiên quyết ở đây”.

Hỏi, lúc mới lên sống bằng gì ? Anh Bông nói, cái may mắn của anh là, từ chiếntrường Campuchia vừa xuất ngũ trở về, đôi chân và cả phần tâm linh còn quen vớinúi rừng bên ấy. Ban đầu, anh đi gánh mướn các loại đồ rẫy cho những gia đìnhtrên núi. Nào su, nào chuối, nào xoài, nào mít, nào măng . . ., mỗi gánh bảymươi ký, mỗi ký hai trăm đồng, mỗi ngày anh gánh hai chuyến từ đỉnh xuống chânnúi, có khi chuyến lên gánh thêm gạo, cát, đá, xi măng, gạch ngói. Bông vừagánh thuê, vừa học nghề làm rẫy. Mấy năm sau, ba mẫu đất của anh đã thành mộtkhu vườn. Từ đó Bông không còn đi gánh hàng thuê nữa mà gánh thành quả củachính mình. Cứ ba ngày đi một chuyến, mỗi chuyến kiếm ba bốn trăm ngàn. Thấyanh làm giỏi, chi cục kiểm lâm giao cho anh quản lý thêm 12 mẫu, cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất năm mươi năm.

Mười năm sau kể từ ngày lên Núi Cấm, “chàng tiều phu” Nguyễn Tấn Bôngđã tích lũy được vài chục cây vàng. Dì Ba giục anh đi cưới vợ. Tuổi đã sắp bốnmươi rồi. Bông cũng từng ước mơ trong căn nhà có thêm người phụ nữ, có tiếngcười tiếng khóc của trẻ thơ. Nhiều lúc trong chiêm bao, Bông thấy thấp thoángmột người vợ trẻ, tay ẳm con đứng chờ anh sau mỗi chuyến đi rừng. Nhưng ngườiphụ nữ ấy là ai ? Mười năm sống ở đây, Bông chưa hề quen được một người bạngái.

Thế rồi bỗng dưng năm năm qua, ông trời cho Bông liên tục mười hai đứa con,mười trai hai gái, thành một bầy trẻ trong nhà. Câu chuyện như một huyền thoạilan truyền khắp rừng núi Thất Sơn. Và, qua mỗi ngọn núi, nó được thêu dệt thêmđôi chút.

Khi chúng tôi lần mò lên tận đỉnh Mồ Côi, chứng kiến tận mắt, nghe kể tận taimới biết rõ ngọn nguồn sự thật. Năm 2002, dì Ba với anh Bông về Cần Thơ thămđứa cháu gái trong bệnh viện đa khoa. Tình cờ, dì nghe được câu chuyện kháthương tâm: có một thai phụ nghèo không có tiền nhập viện, chị ôm bụng ngồikhóc quằn quại trên ghế đá trước sân khoa sản. Anh Bông đưa dì Ba vào thăm, chotiền và làm thủ tục cho chị ta nhập viện với tấm lòng thành, giúp người vượtcạn trong cảnh nghèo khó neo đơn. Sau khi thằng bé ra đời, người sản phụ kiaquỳ lạy tạ ơn và nói ra sự thật: “Cháu ở trong quê, chồng chết, nhà nghèophải đi làm phụ hồ để nuôi một đứa con. Nhưng vì nhẹ dạ nên cháu bị tay thợ hồlường gạt. Giờ nếu ẳm con về thì không biết lấy gì nuôi . . .”. “Đâylà năm chỉ vàng, đây là tám trăm ngàn, tôi giúp cô làm vốn mua bán kiếm sống.Còn thằng bé, tôi mang nó về đỉnh Mồ Côi trên Núi Cấm. Sau nầy nếu cô muốn nhậncon thì cứ lên đó, tôi giao lại. Điện thoại của tôi là 0986544323”.

Trước khi ẵm thằng bé ra về, dì Ba để lại số điện thoại cho các bác sĩ và hộ lýcủa khoa sản cùng với lời căn dặn: “Từ nay về sau, nếu có trường hợp tươngtự như vậy, các cô gọi điện cho mẹ con tôi. Trước hết là mình giúp người ta mẹtròn con vuông, sau đó, nếu người ta vì lý do gì mà không nuôi được thì mình đemvề nuôi giúp”.

Câu chuyện bắt đầu là như vậy. Mỗi lần nghe điện thoại từ bệnh viện đa khoa,anh Bông, dù đang cuốc đất trồng khoai giữa rừng sâu cũng bỏ việc chạy về. Gọiđứa cháu qua giữ nhà, hai mẹ con lăn xăn xuống núi. Từ chân núi đi xe lôi quathị trấn Tịnh Biên, từ Tịnh Biên đi xe đò lên Long Xuyên, rồi từ Long Xuyên lạiđi xe đò qua Cần Thơ, một cuộc hành trình không đơn giản để làm một công việcđộc nhất vô nhị trên đời. Cứ thế, sau mỗi cú điện thoại: “Em ở khoa sản, bệnhviện đa khoa cần Thơ. . .” là trong nhà anh Bông thêm một tiếng khóc trẻsơ sinh. Anh Bông vừa cười vừa nói: “Trời khiến thế nào mấy ông ạ, năm2005, tôi ẵm về năm đứa, mà năm ấy má tôi lại bệnh. Ôi trời đất ôi, khuấy sữa,thay tã, tắm rửa, ca hát suốt ngày. Lại phải lên rừng hái măng, hai su gánhxuống núi, rồi mua tã giấy, mua sữa gánh lên. Nhưng vậy mà vui, đứa nào đứa nấybụ bẫm ngon lành, không bệnh hoạn gì hết.”

Anh Bông kéo đám trẻ vào lòng, vừa xoa đầu, vừa kể về hoàn cảnh ra đời của từngđứa một: “Đây là thằng Nguyễn Sơn Giàu, đứa đầu tiên con của chị phụ hồđây, nó đẻ bọc điều đó, thằng nầy không thành tỷ phú thì cũng làm quan. Còn đâylà thằng Nguyễn Sơn Thanh, đẻ được hai ngày thì mắc bệnh phổi. Tôi với má tôilên giúp một triệu đồng, nhưng không ngờ mẹ nó cầm một triệu đồng rồi bỏ trốn.Thằng nhỏ mới hai ngày tuổi mà phải thở oxy, ngậm ống sữa và truyền nước biển.Tôi với má tôi phải ở lại bệnh viện nuôi nó hai mươi ngày. Khi ẵm nó về, bác sĩdặn mỗi tháng phải lên tái khám. Nhưng năm năm nay có tái khám lần nào đâu, mànó cứ sân sẩn. Còn đây là thằng Nguyễn Sơn Hà, mẹ nó là một cô gái nghèo đi mótlúa ở Vị Thanh, phải lòng một thằng chăn vịt, mang thai lúc mới mười bảy tuổi,sợ bị phát hiện nên dùng dây thun nịt bụng rồi trốn sang ở nhà bà ngoại. Khichúng tôi đến bệnh viện thì nghe nói nó bị đứt tim thai, phải mổ bỏ con để cứumẹ. Nhưng không ngờ nó được cứu sống. Nó sống, nhưng mẹ nó không dám mang nó vềnhà . . .

Mười hai đứa trẻ trong căn nhà nầy là mười hai câu chuyện khác nhau, nhưng đềugiống nhau ở chổ, chúng là sản phẩm của những cuộc tình vụn trộm từ trong nhàtrọ đến màn trời chiếu đất ngoài đồng. Anh Bông kết thúc câu chuyện thứ mườihai bằng một nỗi buồn: “Nó là Nguyễn Sơn Thành, đang nằm trên núi. Khi tôivới má tôi đến thì mẹ nó đã bỏ đi, nó nằm trong phòng cấp cứu suốt hai mươingày với chứng bệnh não úng thủy, một chứng bệnh ngặt nghèo. Tôi với má tôi rấtđắn đo, cuối cùng thì không thể quay lưng trước một hài nhi vô tội. Nhưng suốtba tháng, thằng bé cứ khóc ngày khóc đêm, đầu to dần, mắt đờ đẩn. Tôi ẵm nó trởlại bệnh viện, nơi nó cất tiếng khóc chào đời, bác sĩ nói ở đây không có khảnăng điều trị, tôi đưa nó lên bênh viện nhi đồng II, người ta nói phải phẫuthuật để đặt ống dẫn, sẽ rất tốn tiền nhưng không khả thi. Và đúng là như vậy,tôi đã bán miếng đất lấy mấy chục triệu đồng để mong nó sống, nhưng hơn hai nămsau thì nó đã ra đi”.

Qua câu chuyện buồn ấy, Bông lại ôm mấy đứa nhỏ vào lòng: “Tôi còn mườimột đứa, chín trai, hai gái. Nhưng năm rồi, nhỏ em ở Cần Thơ lên chơi, thấy béCẩm Như đẹp quá, nó nói cho mượn về chơi mấy tháng, nói vậy rồi nó giựt luônkhông trả, giờ con nhỏ đang học mẫu giáo ở dưới, lâu lâu gọi điện lên than nhớcha, nhớ nội nhưng cô Út không cho về”. Sau mỗi câu nói như vậy là mộttràng cười, tiếng cười nắc nẻ, hồn nhiên. Tôi hỏi anh định bao giờ cưới vợ,Bông lại cười: “Một bầy con như thế nầy, ai dám ưng tôi mới nể. Nói thìnói vậy thôi, chớ tôi biết chắc, giả dụ người ta có ưng mình đi chăng nữa thìlàm sao người ta có thể thương con mình như mình được. Tụi nó đã khổ từ trongbào thai rồi, tôi không muốn tụi nó phải khổ vì mẹ ghẻ”.

Hỏi anh có định nuôi thêm nữa không, Bông trầm ngâm: “Má tôi năm nay bệnhnhiều quá, sắp gần đất xa trời rồi. Tôi muốn dành thời gian cho má”. Hỏi,chuyện học hành của mấy đứa nhỏ, anh tính sao. Bông lại trầm ngâm: “ThằngSơn Ngọc năm nay lẽ ra phải lên lớp lá, thằng Sơn Thanh phải là lớp chồi, thằngSơn Giàu phải là lớp mầm. Nhưng đây là đỉnh núi. Hồi ẵm chúng nó lên đây, mìnhcứ nghĩ cứu sống một hài nhi, không để chúng nó lăn lóc ở vỉa hè hay đầu đườngxoá chợ. Nhưng bây giờ, nhìn mặt mày đứa nào đứa nấy sáng sủa, khôi ngô, nhữngánh mắt cứ như luôn nói với mình rằng, cha đừng để cho con dốt. Tôi đã tâmnguyện phải cho chúng nó học tới cùng. Tiền bạc thì tôi không lo, trước mắt,nguồn lợi từ mười lăm mẫu đất cũng đủ để trang trải, sau nầy, khi chúng nó họclên cao thì mình bán đất. Nhưng, cái khó là chỗ ở. Thằng Sơn Ngọc năm tới sẽtạm thời gởi cho nhỏ em ở Cần Thơ. Nhưng không thể gởi hết cả mười đứa. Còn muanhà ở dưới đó thì ai chăm sóc, mà tôi đi thì ai ở đây lo vườn tược, cây tráicho mình. Càng nghĩ càng thấy rối . . .”
Thưa bạn đọc !
Câu chuyện cổ tích trên đỉnh Mồ Côi xin tạm dừng ở đây, bởi người kể chuyệnchưa trả lời được câu hỏi sau cùng rằng: Khi bà Tiên qua đời, anh tiều phu cólo cho những thiên thần bé nhỏ ấy học hành đỗ đạt hay không. Những câu chuyệncổ tích bao giờ cũng đi đến một kết thúc có hậu. Nhưng dân gian thường hay lýgiải sự bế tắt bằng những phép màu. Và tôi hy vọng trong câu chuyện nầy, sẽ cómột phép màu nào đó đến với anh Bông. Phép màu ấy chính là cái tâm, lòng nhânái đang ẩn chứa đâu đây, trên cõi đời nầy.

( Còn tiếp )

Võ Đắc Danh

SỐNG

HOA 1

 

 

 

 

HOA 2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

SONG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Anh chị Thụ & Mai gởi

Chủ nghĩa Cộng sản – Tai họa Trăm năm

Chủ nghĩa Cộng sản – Tai họa Trăm năm

Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA
2017-03-15
Chân dung của Karl Marx, Vladimir Lenin và Vladimir Putin trên mặt tiền một ngôi nhà riêng ở làng Severnaya Griva, quận Shatura, khu vực Moscow chụp hôm 5/8/2011.

Chân dung của Karl Marx, Vladimir Lenin và Vladimir Putin trên mặt tiền một ngôi nhà riêng ở làng Severnaya Griva, quận Shatura, khu vực Moscow chụp hôm 5/8/2011.

AFP photo

Ngày 15 Tháng Ba này, Liên bang Nga chính thức kỷ niệm 100 năm việc Sa hoàng Nicolai Đệ nhị thoái vị, mở đầu cho một chuỗi biến động dẫn tới cái gọi là “Cách mạng Tháng 10” là khi chế độ cộng sản lần đầu tiên thành hình trên mặt địa cầu vào năm 1917. Từ đó, nhân loại đã gặp tai họa mà nhiều thế hệ ngày nay lại không biết. Diễn đàn Kinh tế xin trở lại biến cố mà người ta không thể quên được….

Nguyên Lam: Nguyên Lam và Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, hàng năm, người Nga vẫn kỷ niệm ngày Sa hoàng Nicôlai Đệ nhị thoái vị, vào ngày 15 Tháng Ba năm 1917. Biến cố đó kết thúc hơn 300 năm cầm quyền của dòng Romanov và mở đầu cho những biến động dồn dập dẫn tới cuộc Cách mạng Tháng 10 và sự ra đời của Liên bang Xô viết dưới chế độ Cộng sản, cách nay đúng trăm năm.

Vì vậy, năm nay Liên bang Nga mới tổ chức lễ kỷ niệm đặc biệt long trọng, nhưng có lẽ vẫn chưa biết giải thích sự thể một cách khách quan vì khó nói về những tai họa do chủ nghĩa cộng sản gây ra tại nước Nga và trên toàn thế giới. Vì các thế hệ trẻ tại Việt Nam không được biết về những gì đang xảy ra trong đất nước mình, huống hồ nhiều biến cố đau thương khác trong lịch sử nhân loại, kỳ này, chúng tôi xin đề nghị ông nhắc lại trăm năm đó… Ông nghĩ sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Đến thế kỷ 21 nhân loại đã tiến tới một trạng thái khá phổ biến dù chưa toàn cầu, là không ai được độc quyền chân lý, để áp đặt một sự thật nào đó mà mọi người phải theo. Trạng thái ấy được gọi là “sự cởi mở” là điều kiện tiên quyết của nền dân chủ, nơi mà người ta chấp nhận tinh thần đa nguyên về văn hóa, đa đảng về chính trị và là nơi mà người dân có quyền sống và suy nghĩ tự do. Tuy nhiên, nhiều xã hội chưa có được sự tiến hóa ấy khi nhà nước độc tài vẫn giữ độc quyền về tư tưởng chẳng những cho tương lai mà còn về những gì xảy ra trong quá khứ. Thí dụ như tương lai nhân loại tất yếu phải dẫn tới xã hội chủ nghĩa và quá khứ là những thành tựu chói lọi của chủ nghĩa cộng sản, vốn dĩ là một tai họa lịch sử!

Trở lại chuyện nước Nga, nơi chủ nghĩa cộng sản đã lần đầu tiên ngự trị từ Tháng 11 năm 1917 đến Tháng 12 năm 1991, chế độ đương quyền ngày nay đang lúng túng tường thuật những gì đã xảy ra từ trăm năm trước, khi Đế quốc Nga tiêu vong, Đế quốc Xô viết ra đời và cai trị trong hơn 70 năm với một số thành tựu và rất nhiều thảm họa cho người dân và cả thế giới. Chế độ chính trị của Liên bang Nga vẫn duy trì ách độc tài bên dưới hình thức bầu bán dân chủ và biết rằng xã hội đã đổi thay nên không thể áp đặt một chân lý khiên cưỡng sai lệch nhưng vẫn cố loay hoay nói về quá khứ hay lịch sử một cách thiên lệch méo mó. Trường hợp Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn hay Cuba cũng thế thôi. Họ đều có nét chung là cái chất cộng sản!

Nguyên Lam: Như vậy, chúng ta sẽ bắt đầu từ nước Nga, rồi qua nước Tầu, nước Ta, để nhớ lại chuyện trăm năm về trước. Xin mời ông khởi đầu….

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Chúng ta khởi đầu cái chuyện nhức đầu từ Âu Châu vì lục địa này đi trước trong nhiều lĩnh vực và chi phối thế giới từ mấy trăm năm. Trước hết, cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 xuất phát từ một cuộc cách mạng khai phóng về tư tưởng trước đó hai trăm năm đã tiến dần tới một chế độ dân chủ hơn, là người dân có nhiều quyền hạn hơn nhờ hiểu biết nhiều hơn. Nối tiếp, sự hiểu biết mở rộng dẫn tới cuộc cách mạng về công nghiệp vào cuối thế kỷ 19, nó đảo lộn trật tự sản xuất cũ với một hình thái mới. Vào buổi bình minh của nền sản xuất kỹ nghệ và sinh hoạt kinh tế mới lạ, tất nhiên nhiều sự bất toàn đã xảy ra khiến người ta tìm hiểu, nghiên cứu và mỗi người hay mỗi trường phái lại tìm ra một cách giải thích. Nếu được cởi mở và có dân chủ thì xã hội có thể áp dụng giải pháp này hay giải pháp khác hầu tránh được sự bất công trong tiến trình phát triển. Đấy là quy luật chung cho mọi xã hội.

Trong buổi bình minh của nền sản xuất công nghiệp, Karl Marx và nhiều nhà lý luận khác đã nghiên cứu và tìm hiểu về hình thái sản xuất mới để giải thích và đề nghị. Cách giải thích của Marx có vài điểm mới lạ nhưng cũng có đầy mâu thuẫn và sai lầm như nhiều học thuyết khác. Điều tai hại là nước Nga khi đó lại có một trí thức xuất sắc và chiến lược gia đại tài là Lenin. Ông áp dụng học thuyết của Marx có chọn lọc và đảo lộn nhiều lý luận để cướp chính quyền và thiết lập bộ máy độc tài với nền độc quyền chân lý đi ngược với sự tiến hóa chung. Vụ cướp chính quyền ấy được gọi là “Cách mạng Tháng Mười” và đánh dấu một tai họa mới. Marx chỉ là kẻ mơ ngủ, Lenin mới là có công và có tội khi đặt ra chủ nghĩa Mác-Lenin đầy thảm khốc!

Vai trò của Lê Nin

033_3041368-400.jpg

Nguyên Lam: Khi nhắc lại chuyện trăm năm bao trùm lên nhiều lĩnh vực sinh hoạt từ kinh tế đến tư tưởng, ông cố tóm lược nhiều vấn đề khá phức tạp của lịch sử. Nhưng thưa ông, liệu chúng ta có thể hiểu sự thể đã diễn biến ra sao không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Chính diễn biến đó mới làm nhà cầm quyền Liên bang Nga lúng túng, như nhiều chế độ cộng sản độc tài còn lại trên mặt địa cầu khi giải thích lại quá khứ. Chế độ quân chủ của Sa hoàng, là Hoàng đế Nga, bó tay trước nhiều đổi thay của xã hội và lâm khủng hoảng khi người dân bị đói và công nhân biểu tình. Chế độ ấy tiêu vong với việc Sa hoàng thoái vị và một chính quyền mới ra đời từ cuộc Cách mạng Tháng Hai.

Chính quyền non yếu này, nói theo người cộng sản thì thuộc giai cấp tư sản với lý luận cải lương, đang vất vả giải quyết bài toán mới thì bị Lenin và hạt nhân cộng sản cướp chính quyền mà gọi là cách mạng, hàm ý là tiến bộ và triệt để hơn giải pháp cải lương. Sau đó là năm năm khủng hoảng và nội chiến lồng trong Thế chiến thứ nhất.

Hiện tượng này cũng được thấy bên Tầu và nhất là tại Việt Nam sau cái gọi là “Cách mạng Tháng Tám” năm 1945 khi Chính phủ Trần Trọng Kim bị lật đổ, chương trình cải cách bị tiêu diệt để dẫn tới hỗn loạn và chiến tranh cho tới 1975. Sau đó, tàn dư tai hại của chủ nghĩa cộng sản vẫn còn làm các quốc gia này điêu đứng. Kẻ chủ chốt của thảm họa chính là Lenin.

Nguyên Lam: Thế hệ trẻ về sau như Nguyên Lam thật ra cũng không nắm vững sự thể ấy và chẳng hiểu gì nhiều về vai trò của Lenin. Xin đề nghị ông  giải thích thêm cho đoạn này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Vào giai đoạn đen tối ấy, cống hiến của Lenin gồm hai phần. Thứ nhất là kỹ thuật tổ chức và cướp chính quyền từ một chế độ non yếu mới ra đời. Thứ hai là đảo lộn lý luận của Marx để kiểm soát tư tưởng hầu bảo vệ ách độc tài. Về đại thể, Marx lý luận rằng kinh tế dưới hạ tầng chi phối thượng tầng chính trị ở trên và mọi chế độ tư bản đều tiến bộ hơn chế độ nông nghiệp đi trước nhưng cũng tất nhiên bị chế độ cộng sản thay thế như một quy luật lịch sử. Lý luận ấy sai vì thời trước đó nước Nga còn lạc hậu so với Âu Châu như nước Đức là quê hương của Marx, vậy mà cách mạng cộng sản lại xuất hiện tại Nga chứ không tại Đức, là nhờ  tài tổ chức và lũng đoạn của Lenin. Sau đó, Lenin đảo ngược quy luật tiến hóa của Marx khi quy định rằng tư tưởng ở trên mới chi phối chính trị và kinh tế ở dưới nên nhà nước phải giữ độc quyền chân lý về tư tưởng, bất cứ ai nghĩ sai nói khác đều là kẻ có tội phải bị diệt trừ. Về văn bản thì đấy là cốt lõi của tài liệu “Chủ nghĩa Duy vật và Chủ nghĩa Kinh nghiệm Phê phán”.

Chính là lý luận đó của Lenin mới làm chủ nghĩa cộng sản lụn bại và tiêu vong. Ngày nay, chế độ độc tài của Tổng thống Vladimir Putin tại Liên bang Nga chỉ cho nhấn mạnh đến sự thành tựu và ổn định của Liên bang Xô viết mà xóa bỏ những trang sử đen tối và không cho thấy là cả trăm triệu người đã chết trong thế kỷ 20 vì chủ nghĩa cộng sản, là một kỷ lục lịch sử. Thật ra, họ vẫn mặc nhiên duy trì chế độ độc quyền chân lý! Cái khác là Putin châm thêm chủ nghĩa ái quốc của dân tộc Nga vào chân lý nhà nước để bảo vệ quyền lực của mình, chứ nước Nga của ông đã lụn bại vì 74 năm cai trị của chủ nghĩa cộng sản.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh”

000_Hkg4085563-400.jpg
Một cửa hàng bán các mặt hàng tuyên truyền cho đảng cộng sản với chân dung Karl Marx và Vladimir Lenin ở Hà Nội hôm 29/9/2010. AFP photo

Nguyên Lam: Thế thì ông giải thích thế nào về những thành tựu kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc trong những thập niên gần đây?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Chủ nghĩa cộng sản dẫn tới khủng hoảng là điều đã có tại Trung Quốc sau khi Mao Trạch Đông chiến thắng tại Hoa lục vào năm 1949, và tại Việt Nam sau khi người cộng sản chiến thắng và thống nhất Việt Nam từ 1975. Khi bị khủng hoảng thì chế độ độc tài quăng lý luận của Marx của Mao của Hồ Chí Minh vào sọt rác mà áp dụng lý luận kinh tế thị trường. Nhờ vậy kinh tế có tăng trưởng so với thời trước, nhưng thật ra chưa có phát triển như các quốc gia khác. Lý do là chế độ vẫn duy trì ách độc tài và tai họa độc quyền chân lý với các trò ma như học thuyết Mác-Lenin, chủ nghĩa Mao hay “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, v.v…. Vì vậy hai xứ này bị khủng hoảng về văn hóa và đạo đức với hậu quả nghiêm trọng cho tương lai.

Nhưng điều tai hại nhất là lãnh đạo Bắc Kinh châm vào chân lý nhà nước cho thần dân của họ nuốt chửng một số lý luận về chủ nghĩa dân tộc của người Hán. Tức là họ trở lại bài toán xa xưa về chủ nghĩa quốc gia dân tộc của thế kỷ 19 để vuốt ve tự ái người dân. Trong khi đó, lãnh đạo Hà Nội lại triệt phá chủ nghĩa quốc gia dân tộc của người Việt để khỏi xúc phạm Bắc Kinh. Phê phán chế độ độc tài đã là có tội và có thể bị đàn áp, chứ chống lại chính sách bành trướng của Bắc Kinh là chắc chắn vào tù.

Cũng do chế độ độc quyền chân lý và tư tưởng, Việt Nam không có tự do báo chí và đa số người dân không hề biết gì về những thảm họa đang xảy ra tại nơi này nơi khác bên trong. Đã vậy, người ta còn không được biết hết về sự thật của thế giới bên ngoài vì báo chí tường thuật có chọn lọc với lý luận sai lạc. Báo chí trở thành công cụ độc tài về tư tưởng và kiến thức khi làm cho người dân hiểu sai về thực tế đang thay đổi.

Nguyên Lam: Thưa ông, chắc chắn là suốt năm nay, cả thế giới sẽ còn nói về thảm họa trăm năm của chủ nghĩa cộng sản nhưng trong một chương trình có thời lượng nhất định, xin đề nghị ông tạm nêu ra một số kết luận cho thính giả của chúng ta.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Có lẽ chúng ta cần một cuốn sách! Đầu tiên thì đã có bộ sách tên là “Hắc thư về Chủ nghĩa Cộng sản” do bốn học giả Pháp thu thập và xuất bản cách nay đúng 20 năm. Dù chưa đủ và thiếu hẳn nhiều tai họa cộng sản tại Châu Á thì bộ sách dầy 840 trang này cũng đáng tham khảo và thật ra đã được nhà báo Hồ Văn Đồng dịch ra Việt ngữ thành hai cuốn 1.200 trang trước khi tạ thế mươi năm về trước tại tiểu bang Virginia. Chuyện thứ hai đáng nhớ và vẫn có giá trị cho ngày nay là nếu xuất phát từ cộng sản chủ nghĩa thì xã hội chủ nghĩa cũng tất yếu dẫn đến nạn độc tài làm cho xứ sở lụn bại vì thu hẹp khả năng hiểu biết và quyết định của người dân, là chuyện đang thấy ngày nay tại Việt Nam.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ ông về cuộc phỏng vấn kỳ này.

Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng.

From facebook:  Hoang Le Thanh added 3 new photos — with Phan Thị Hồng and 5 others.
MỘT PHÓNG VIÊN NGƯỜI ĐỨC VIẾT VỀ VIỆT NAM

Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng.

Tác giả: Uwe Siemon-Netto (Đức quốc).

– “Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa.

– “Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra”.
Uwe Siemon-Netto.

Cuốn sách Đức: “A reporter’s love for a wounded people” của tác giả Uwe Siemon-Netto đã được viết xong và đang chờ một số người viết “foreword” và endorsements.

Bản dịch cũng đã xong, được phép của tác giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở lại với quê hương khốn khổ của chúng ta:

Đoạn kết

Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng

Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày “giải phóng.”

Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài.

Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất.

Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?

Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt.

Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.

Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc “giải phóng.” Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai?

Có phải miền Nam đã được “giải phóng” khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí?

Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?

Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?

Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc “chiến tranh nhân dân.” Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì “chiến tranh nhân dân” phải được hiểu là cuộc “chiến tranh của nhân dân.”

Thực tế không phải như vậy. Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.

Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là “vắng mặt không phép,” câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?

Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.

Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là “I have no dog in this fight” (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách “Lời nguyện của nhà báo”, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.

Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).

Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.

Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ?

Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Sưllner tội nghiệp mà “tội ác” duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu?

Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội?

Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?

Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ.

Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012).

Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.

Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau:
Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!”

Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi… cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố.”

Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.

Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là:

Khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận.

Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do.

Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử.

Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.

Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng?

Ảnh 1: Tháng Tư gợi lại cho hàng triệu người cảnh hoảng loạn tại miền Nam, nhiều gia đình ly tán, dòng người đổ ra biển trong những tháng, năm sau đó lên tới cả triệu. Hàng trăm ngàn người làm mồi cho cá.

Ảnh 2: Theo Wikipedia: “Sau năm 1975 ở miền Nam có hơn 1.000.000 người thuộc diện phải ra trình diện. Riêng ở Sài Gòn có 443.360 người ra trình diện, trong số đó có 28 viên tướng, 362 đại tá, 1.806 trung tá, 3.978 thiếu tá, 39.304 sĩ quan cấp uý, 35.564 cảnh sát, 1.932 nhân viên tình báo, 1.469 viên chức cao cấp trong chính quyền, và 9.306 người trong các đảng phái “phản động”.

Theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard (Hoa Kỳ) dẫn đầu: Có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn.

Ảnh 3: Xe tăng cộng sản chiếm Dinh Độc Lập vào lúc 11g30 sáng ngày 30/4/1975. Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: one or more people, crowd and outdoor
Image may contain: outdoor

Hệ thống pháp quyền Việt Nam hiện nay

Hệ thống pháp quyền Việt Nam hiện nay

Cát Linh, phóng viên RFA
2017-03-14
Hình ảnh công an tấn công phụ nữ được lan truyền trên mạng xã hội.

Hình ảnh công an tấn công phụ nữ được lan truyền trên mạng xã hội.

Photo: facebook
Những ngày vừa qua, hai tấm ảnh được lan truyền mạnh trên mạng xã hội, cho thấy cảnh một một phụ nữ trong tư thế một tay bị khoá vào khung cửa sổ, gương mặt biểu lộ sự đau đớn vì bị một người mặc sắc phục công an không rõ mặt đạp một chân vào vai, tay ghì chặt cổ.

Vì sao dư luận phản ứng mạnh mẽ về một tấm ảnh truyền trên mạng xã hội?

Hình ảnh đó có liên quan đến những cái chết gần đây được cho là “tự tử trong đồn công an” hoặc những bản án oan sai hay không?

Photoshop hay không photoshop?

Bất kỳ ai nhìn thoáng qua hai tấm ảnh cũng có chung một nhận định, đó là người phụ nữ trong hình đang bị tra tấn và đang chịu đau đớn qua những biểu lộ trên gương mặt.

Như đã nói ở trên, hai tấm ảnh này được lan truyền qua các trang mạng xã hội. Nguồn gốc người gửi ảnh không được nêu ra. Sau đó, cư dân mạng xã hội nhanh chóng đưa ra thông tin người mặc sắc phục công an trong tấm ảnh là một cảnh sát viên công tác tại huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Cũng từ nguồn tin của mạng xã hội, hình ảnh cả khuôn mặt lẫn lúc hành hung hung tra tấn người phụ nữ đều được chụp tại trụ sở Công An Huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Chúng tôi cố gắng liên lạc với trụ sở này nhưng người trực điện thoại từ chối tiếp chuyện.

Tuy đối tượng cũng như sự việc trong hai tấm ảnh chưa được làm rõ, nhưng những người từng bị bắt/mời về đồn công an đều cho rằng họ tin những gì diễn ra trong tấm ảnh trên là hoàn toàn có khả năng xảy ra.

Chị Thu Nguyệt, người từng bị bắt về Trung tâm bảo trợ xã hội khi chị tham gia cuộc biểu tình ngày 5 tháng 6 năm 2016 kể lại sự việc xảy ra trong thời gian ba ngày chị bị bắt giữ.

Hai tấm ảnh đó mình nghĩ là có thật. Mình đi trong con đường này mình thấy công an thật sự có đánh người chứ không phải là không.
– Chị Thu Nguyệt

“Tôi không thể nào vùng vẫy được. Đến 6 người, 2 người mặc sắc phục và 4 người mặc thường phục. Họ bật ngửa tôi ra, đè tay chân tôi, giữ tôi, lục trong người tôi để lấy điện thoại của tôi.”

Do đó, chị nói rằng chị tin những gì chị thấy trên hai tấm ảnh đó là có thật.

“Hai tấm ảnh đó mình nghĩ là có thật. Mình đi trong con đường này mình thấy công an thật sự có đánh người chứ không phải là không. Có nghĩa là những người dân họ chưa hiểu luật, chỉ là một người dân đen rồi bị bắt vì một vấn đề gì đó, rồi “nó” trù dập và đánh khi cãi lại. Có chứ không phải là không có.”

Bùi Vĩnh, một bạn trẻ sống ở Lâm Đồng, từng bị công an  huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng bắt về đồn năm 2011 kể lại qua email với chúng tôi.

“Lúc 12 giờ đêm công an xuống còng tay em về đồn. Em mới bước xuống xe là có ông mặc sắc phục tát em mấy bạt tai sau đó người ta nhốt em cả đêm.”

Chính vì đã gặp phải trường hợp như thế nên Bùi Vĩnh tin rằng hai tấm ảnh đang gây bức xúc trong dư luận là có thật.

“Bản thân em bị rồi nên em dám khẳng định 2 tấn hình đang lan truyền trên mạng không phải photoshop mà đó là sự thật.”

Đó là những nhận định của người dân từng ít nhất một lần bị bắt về đồn công an. Còn đối với những người làm luật như Luật sư Ngô Ngọc Trai, ông cho biết không phải ngẫu nhiên mà người dân bức xúc hoặc hồ nghi. Ông cho biết ý kiến sau nhiều lần tận mắt chứng kiến.

“Việc người dân bị bắt vào đồn, bị đánh là có. Bị đánh đập trong đồn công an là có. Tôi tận mắt chứng kiến rồi. Cũng như nhiều trường hợp trao đổi với luật sư cho biết là đã bị đánh đập.”

Tuy nhiên, ông cũng đưa ra lời khuyên trên cương vị của người hành pháp.

“Phải thận trọng đánh giá hai bức ảnh ấy có phản ánh trung thực chính xác hay không? Dù sao thì nó cũng phản ánh thực tế trong đời sống, là cái có thật.”

Nếu tấm ảnh có thật…

Theo lời kể lại của những người đấu tranh từng bị bị bắt bị đánh ở đồn công an, thì tấm ảnh trên chỉ là một phần nhỏ trong thực trạng xã hội hiện tại. Nếu những gì mọi người thấy trong bức hình ấy là có thật thì có thể thấy rằng quyền hạn của một lực lượng thực thi pháp luật ở Việt Nam vô cùng to lớn. Người mặc sắc phục công an hoàn toàn có quyền xâm phạm lên cơ thể của người công dân, và cuối cùng một bản án, hay một cái chết được cho là “tự tử”.

Phải kể đến những vụ án chấn động dư luận trong vài năm qua. Đó là vụ án ông Hàn Đức Long, 57 tuổi, từng 4 lần bị các tòa ở Việt Nam tuyên án tử hình với các cáo buộc giết người, hiếp dâm trẻ em. Cuối tháng 12 năm 2016, ông được tha sau 11 năm tù oan.

Bản thân em bị rồi nên em dám khẳng định 2 tấn hình đang lan truyền trên mạng không phải photoshop mà đó là sự thật.
– Bùi Vĩnh

Đó là vụ người tù thế kỷ Huỳnh Văn Nén, bị tù hơn 17 năm về hai bản án giết người mà ông không hề liên quan. Ông được trả tự do hồi đầu tháng 12 năm ngoái, sau khi cơ quan điều tra xác nhận ông không phải là thủ phạm của cả hai vụ án.

Luật sư Ngô Ngọc Trai, người tham gia bào chữa cho vụ án Hàn Đức Long cho biết việc một người đã bốn lần bị kêu án tử và ngồi tù suốt 11 năm bất ngờ được trả tự do là liên quan đến rất nhiều vấn đề, trong đó có cả hệ thống cơ quan pháp lý. Đặc biệt, ông nhấn mạnh đến nguyên nhân 11 năm tù của ông Huỳnh Văn Nén.

“Cái vụ đấy, tình trạng bức cung nhục hình tôi cũng nói nhiều rồi. Ông Hàn Đức Long đã được trả tự do và minh oan xin lỗi, thì rõ ràng ông ấy bị oan sai. Tại sao trước đây ông ấy nhận tội cũng như tự viết đơn nhận tội thì ông ấy có nói là nhiều lần bị đánh đập và bị bắt ép viết đơn nhận tội.”

000_D28R1-400.jpg
Nhà hoạt động Lã Việt Dũng bị côn đồ đánh sau khi tham gia một trận bóng của đội bóng No-U tại Hà Nội hôm 10/7/2016. AFP photo

Bùi Vĩnh, thanh niên bị bắt về đồn công an Lâm Đồng năm 2011 kể lại anh đã bị đánh đập để ép nhận tội như thế nào.

“Sáng hôm sau là điều tra viên hỏi cung có cầm dùi cui đập vào tay nói em nhận tội đồng lõa với thằng trộm xe. Trong khi hỏi người ta tìm mọi cách hù dọa bắt ép em nhận nhưng em nhất quyết không nhận. Công an còn lấy dùi cui điện chích vào người để ép em nhận.”

“Hầu như ai bị tình nghi là tội phạm đều bị ép để nhận tội bằng cách tra tấn rất dã man.”

Trong những diễn tiến khác là hàng loạt những cái chết được cho là “tự tử” trong đồn công an.

Vụ việc mới nhất là ngày 6 tháng 2 vừa qua, một người tên Nguyễn Thành Ngôn được trưởng công an xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An thông báo đã tự tử bằng dây giày sau khi người này được mời về trụ sở để làm việc.

Qua những thực tế của chính bản thân mình, bà Thu Nguyệt hoàn toàn phản đối việc chính quyền cho rằng đó là những cái chết do tự tử.

“Đây hoàn toàn là bịa đặt nói là người ta tự tử trong tù. Tôi nghĩ có những bàn tay muốn bịt miệng những người đó để họ không nói ra bên ngoài được.”

Không thể tố cáo

Theo hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam, tra tấn, dùng nhục hình, ép cung nhận tội không được xem là biện pháp nghiệp vụ, trái với luật pháp. Thế nhưng, cho dù người dân dám đứng ra tố cáo, hay bằng cách nói thẳng với luật sư như luật sư Ngô Ngọc Trai từng chia sẻ, thì hy vọng đòi lại công bằng cũng khó được thực hiện, bởi chính sự bất cập của hệ thống pháp luật Việt Nam.

“Trong phạm vi tố tụng giải quyết vụ án hình sự thì người ta không giải quyết việc tố cáo ấy. Hoặc cơ quan giải quyết tố cáo ấy cũng chính là cơ quan để xảy ra những việc như vậy. Đối với những người sau khi bị bắt về đồn bị đánh đập rồi được trả ra ngoài thì người ta vẫn khiếu nại tố cáo. Nhưng thực tế cơ quan tố cáo cũng chính là cơ quan để xảy ra sự việc.”

Đối với những người sau khi bị bắt về đồn bị đánh đập rồi được trả ra ngoài thì người ta vẫn khiếu nại tố cáo. Nhưng thực tế cơ quan tố cáo cũng chính là cơ quan để xảy ra sự việc.
– Luật sư Ngô Ngọc Trai

Một nhận định khác từ Trịnh Bá Tư, con trai của bà Cấn Thị Thêu, một dân oan Dương Nội đang chịu án 20 tháng tù giam vì đấu tranh đòi quyền lợi cho người nông dân bị mất đất, từng bị bắt vào đồn công an và bị đánh đập nhiều lần trong cuộc đấu tranh chống cưỡng chế đất.

“Với những gì mà gia đình và bản thân tôi đã trả qua thì tôi thấy hiện nay rất nhiều công an coi thường sức khoẻ và tính mạng của người dân khi họ ra tay đánh đập người dân. Rất nhiều người biểu tình ôn hoà bị công an đánh đập. Những hình ảnh đấy đều được người dân ghi lại. Tuy nhiên những viên công an ấy không bị xử lý theo đúng pháp luật vì hiện nay họ đang được bao che bởi một chế độ cộng sản độc tài, công an trị.”

Chính quyền phải làm gì?

Trước những thực trạng được xác nhận là có thật, luật sư Ngô Ngọc Trai đề nghị sự sửa đổi từ chính cơ quan chức năng là Bộ Công an.

“Cơ quan chức năng ở đây là Bộ Công an cần phải nghiêm túc nhận diện được vấn đề nghiêm trọng và có những chính sách chấn chỉnh các biện pháp nghiệp vụ, hạn chế tình trạng bạo hành bạo quyền của các đơn vị công an đi.Để tồn tại như thế làm mất đi sự tín nhiệm và sự công minh của cơ quan công quyền.”

Bên cạnh đó, theo ông, các tổ chức xã hội dân sự, người dân, phóng viên báo chí, truyền thông xã hội cần phải phản ánh mạnh mẽ hơn các tệ trạng trong hoạt động của cơ quan công quyền, tạo áp lực cho cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm và chấn chỉnh.