Những điều hối tiếc

 Những điều hối tiếc

Huy Phương

Chúng ta thường tiếc nuối những gì chúng ta đã đánh mất: thời gian, tuổi trẻ, sức khỏe, tiền bạc và tình yêu. Có lẽ, lúc về già người ta tiếc nuối nhiều hơn, vì thời gian đã trôi qua, không còn níu kéo lại được, cũng như những sự lỗi lầm không thể đảo ngược. Còn với tuổi trẻ, như ở độ tuổi 30, họ có nhiều cơ hội để “làm lại cuộc đời,” bổ túc những gì mình đã thiếu sót, sống và làm những gì mình yêu thích mà chưa có cơ hội thực hiện.

Chúng ta thử nhìn tổng quát qua một cuộc khảo sát do hệ thống truyền hình UKTV Gold Anh Quốc thực hiện trên 1,500 người 65 tuổi và 1,500 người tuổi từ 20 đến 30, lẽ cố nhiên đây là những điều hối tiếc của những thần dân của Nữ Hoàng Anh Quốc, khác với những điều hối tiếc của chúng ta, những người Việt Nam, nếu có. Vì “Gold” là một băng tần hài hước của nước Anh nên có thể quý vị sẽ cho những điều hối tiếc này, có lẽ có phần nhảm nhí!

Hầu hết những người về già ở Anh Quốc đều tỏ ra hối tiếc rằng mình đã không làm “chuyện ấy” nhiều hơn một tí, trong lúc còn trẻ trung. Bây giờ già rồi, có muốn làm cũng không được, vì “kho đạn Long Thành không bồi hoàn cấp số đạn không sử dụng đúng thời gian.” Nếu bây giờ cho những người này “đi lại từ đầu,” hơn 70% số người 65 tuổi cho biết sẽ dành nhiều thời gian hơn để ân ái.

Ít hơn sự tiếc nuối về tình dục, 57% số người được phỏng vấn, nghĩ rằng, trước kia, mình đã không dùng thời gian để đi du lịch thế giới nhiều hơn. Bây giờ mắt đã mờ, chân yếu. có khi phải chống gậy, đi xe lăn, mang tã lót, chuyện đi chơi xa chỉ còn là chuyện không bao giờ thực hiện được. Thôi xin giã từ những chuyến bay, những đêm vui, những bữa ăn bên bờ biển, hay những buổi leo núi, những phong cảnh tuyệt vời của thế giới.

43% tiếc rằng mình đã không đổi nghề. Theo thống kê của Văn Phòng Lao Động Úc, hơn 50% người đổi nghề sau 5 năm, 20% mỗi năm làm một nghề. Ở Mỹ, tính trung bình, trong cuộc đời của một người Mỹ, họ đổi nghề 11.7 lần. Một đời người làm việc, khoảng 40 năm, thì chưa đầy 4 năm, người Mỹ đã đổi qua một nghề khác. Thiên hạ đổi nghề xoành xoạch như vậy, thì còn gì nữa mà hối tiếc!

40% người già nuối tiếc tuổi trẻ tiêu pha xa xỉ, đã không dành dụm được chút tiền để lo cho tuổi già, bây giờ phải hối hận, (điều này có vẻ ngược lại với 19% đã hối tiếc mình đã không mạnh dạn chi tiêu cho những thứ xa xỉ.) Một năm tòa xử bao nhiêu vụ ly dị, xã hội xảy ra bao nhiều lần vợ chồng chém giết nhau, nhưng chỉ có 21% cho mình có lầm lẫn về hôn nhân!

Đối với những thanh niên tuổi từ 20 đến 30, khi các nhà nghiên cứu đặt những câu hỏi xem họ có mong muốn thay đổi điều gì từ những năm tháng trước đó hay không, kết quả cho thấy những người này quan tâm đến tài chính và chính trị hơn là những chuyện về sex hay là chuyện nghề nghiệp. Đứng đầu điều nuối tiếc của giới trẻ là nỗi lo về tài sản, 77% ước chi họ đã tích lũy tài sản sớm hơn. Hơn một nửa (56%) tiếc rằng mình đã lãng phí tiền bạc trong thời gian qua. Về chính trị, 45% hối hận mình đã bầu cho ông này, thay vì mình nên bầu cho vị khác. 44% nghĩ rằng mình phải được danh vọng hơn, 34% cho rằng mình chưa được đi nhiều nơi (còn nhiều thời gian để đi.) 32% nghĩ rằng mình đã sai lầm trong lần đầu nếm “trái cấm,” 30% hối hận đã không học tập chăm chỉ hơn, 29% cho rằng mình nhậu nhẹt hơi quá đà.

Đó là chuyện bên Anh.

Còn chúng ta, những người Việt thì sao?

Trong một đất nước Việt Nam mà chiến tranh, lưu lạc, đổi dời đã chia cuộc sống chúng ta ra làm trăm mảnh, và mỗi người có biết bao nhiêu điều hối tiếc. Nói về  những hối tiếc lớn trong cuộc đời thì trên thế giới này không ai có những nỗi hối tiếc khổ đau lớn lao như người Việt Nam, khiến cho những chuyện như đổi nghề, kế hoạch về tài chánh, học vấn, tình yêu… đều là quá nhỏ nhoi, trẻ con.

Tháng 4, 1975, nhiều người hối tiếc vì đã ngây thơ không hiểu gì về chế độ và con người Cộng Sản, đã ở lại đất nước, thay vì phải bỏ nước ra đi. Những người đã ra đi đến bến bờ tự do, nhưng 1,652 người đã quay lại Việt Nam trên con tàu Việt Nam Thương Tín, để cuối cùng bị còng tay đưa vào nhà tù, với niềm ân hận cay đắng dày vò, đeo đẳng suốt cuộc đời họ. Nhiều nhân vật đảng phái, quân đội hối hận đáng lẽ ra phải bỏ nước hay tự sát, còn hơn là bị giam cầm, bỏ đói và hạ nhục bởi những người thắng trận trong suốt một thời gian dài.

Hối tiếc vì lòng tin bị phản bội như Trần Độ, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Trọng Vĩnh, Tô Hải, Lê Hiếu Đằng… vì suốt đời đi theo Cộng Sản mà“cả cuộc đời bị lừa dối và đi dối lừa người khác một cách vô ý thức” (Hồi ký của một thằng hèn – trang 53).

Đau khổ và đắng cay của những trí thức miền Nam như Dương Quỳnh Hoa: “Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẻ thù tiềm ẩn.”

Trương Như Tảng tham gia sáng lập và giữ chức bộ trưởng Bộ Tư Pháp của chính phủ “bù nhìn” Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam: “Tôi đã là người Cộng Sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa Cộng Sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế,lý tưởng của tôi đã hết.”

Năm 1978, Trương Như Tảng xuống thuyền vượt biển và sinh sống ở Pháp. Tại đây ông đã viết cuốn hồi ký “Mémoire d’un Vietcong.”

Trí thức Nguyễn Mạnh Tường theo Cộng Sản từ năm 27 tuổi, đã từng “trải nghiệm gian khổ trong chiến tranh, trong cách mạng” suốt 40 năm. Nhưng rồi ông đau khổ nhận rằng: “Con cừu thì không thể lý luận với một con chó sói.”

Số phận ông đã được Việt Cộng quyết định: Bỏ cho chết đói giữa một sa mạc hận thù không lối thoát. Ông than thở: “Tôi đã là kẻ lữ hành trong chuyến đi qua sa mạc kéo dài từ năm 1958 đến năm 1990, hơn ba mươi năm dài đằng đẵng! Chìm trong vùng cát của sa mạc tuyệt vọng làm cạn khô dòng nước mắt, tôi đã lê tấm thân bị tra tấn bởi thiếu thốn cô đơn với quả tim rướm máu bởi nỗi buồn chua cay và vị đắng của mật!”

Cuối cùng, ông chết trong đói nghèo, bị dày vò, đau khổ vì sự lầm lẫn của mình.

Triết gia Trần Đức Thảo, cuối năm 1951, trở về Việt Nam tham gia kháng chiến, qua ngã London – Praha – Mạc Tư Khoa – Bắc Kinh – Tân Trào. Lúc đầu Trần Đức Thảo được trọng dụng theo chuyên môn, nhưng đến năm 1956, hai bài báo của ông trên hai tờ Nhân văn và Giai phẩm mùa Đông đã khiến ông phải ra khỏi “biên chế nhà nước,” nghĩa làbị đuổi việc, vợ bị Đảng sắp xếp cho kết hôn với người khác.Nhà triết học Trần Đức Thảo có thời gian đi lao động ở Tuyên Quang, chăn bò ở nông trường Ba Vì, coi như để “cải tạo tư tưởng.”Năm 1991, ông được Nguyễn Văn Linh cho đi Pháp, để bổ sung một số tư liệu khoa học và viết nốt mấy tác phẩm mà ông đã có đề cương. Sau khi hết trợ cấp, ông không về nước. Tại Paris, ông sống một cuộc đời cô đơn, nghèo khó, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ như bị người theo dõi.

Tối ngày 23 tháng 4, 1993 tại nhà khách của sứ quán Việt Nam, số 2 Le Verrier, quận 5, triết gia Trần Đức Thảo, có triệu chứng bệnh như bị đầu độc và đã qua đời vào sáng hôm sau. Tuy vậy khi mất, ông được chính phủ CSVN gắn cho một cái huân chương Độc Lập, và tuyên bố “đã được đại sứ quán của nước ta tại Pháp tận tình chăm sóc!” Và 10 năm sau, họ lại dựng thây ma ông lên, truy tặng thêm cho một cái giải thưởng Hồ Chí Minh, và ca tụng “tư tưởng ông giống tư tưởng Hồ Chí Minh.” Bình tro của ông được đem về Việt Nam, vứt nằm lăn lóc dưới chân cầu thang, trong một cái nhà quàn ở Hà Nội,về sau mới được chôn cất ở Nghĩa trang Văn Điển, mà không phải Mai Dịch, vì chính quyền cho rằng ông “chẳng có công trạng” gì!

Trong phần đầu của bài này, bạn đọc đã thấy những cái “hối tiếc” vớ vẩn của con người, nếu so với  những hối tiếc của những con người Việt Nam trong “thời đại Hồ Chí Minh,” không còn là những hối tiếc nữa, mà là những mối hận,“mang xuống tuyền đài chưa tan!”

Huy Phương

GS Nguyễn Ngọc Huy & Lm Cao Văn Luận tiết lộ Bí Ẩn 30.4.1975

GS Nguyễn Ngọc Huy & Lm Cao Văn Luận tiết lộ Bí Ẩn 30.4.1975

Như vậy biến cố 30.04.1975 đã xảy ra, nguyên nhân chính là Hoa Kỳ có chính sách bỏ rơi miền Nam VNCH và thế lực Do Thái thúc đẩy chính sách đó được thực hiện qua bè đảng Kissinger.
..Nhưng thực tế chính trị cho thấy thủ đoạn & tham vọng xâm chiếm đất đai láng giềng của Do Thái sau khi tái lập quốc, nên chính ông đã không ngần ngại lên tiếng chỉ trích nặng nề. Đó cũng là tâm trạng của chúng tôi khi biết qua Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận khám phá ra mưu sâu độc của thế lực Do Thái khiến xảy ra biến cố 30.4.1975 cho quê hương Việt Nam mà nay đang dẩn tới đại họa mất nước vào tay Trung Cộng.

GS Nguyễn Ngọc Huy & Lm Cao Văn Luận tiết lộ Bí Ẩn 30.4.1975

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đối với đa số người Việt đã từng sống trải qua, ngày 30.04.1975 là một biến cố khó quên nhứt của đời người. Trong khi đó dư luân quốc tế nhận định cho rằng sự sụp đổ của Bức Tường Bá Linh vào ngày 9.11.1989 là biến cố lịch sử quan trọng nhứt của thế kỷ 20. Thực ra cả hai biến cố lịch sử này đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến người Việt chúng ta. Cho nên cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy – một bình luận gia am tường mọi biến chuyển quốc tế, đã nổi tiếng với những bài nhận định thời cuộc “Tình hình thế giới trong tháng vừa qua” đăng tải trên nhiều tờ báo tại Âu Mỹ – từng đề cập công khai trực tiếp hoặc kín đáo gián tiếp trả lời những câu hỏi về hai biến cố lịch sử đặc biệt nêu trên.

 

 

 

 

 

 

 

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy / Khoa trưởng Đại Học Luật 

Từ hồi còn là sinh viên, chúng tôi được tiếp xúc đối thoại với Giáo sư Huy và đã may mắn ghi nhận được những chi tiết rất đặc biệt. Sau khi Giáo sư Huy qua đời vào ngày 28.07.1989, chúng tôi đã đảm trách nối tiếp Giáo sư Huy hàng tháng viết bài nhận định thời cuộc “Tình hình thế giới trong tháng vừa qua” kéo dài trên 5 năm trên nguyệt san Tự Do Dân Bản tại Hoa Kỳ. Nhân dịp đó, chúng tôi đã phải nghiên cứu các sáng tác của Giáo sư Huy để nắm vững thêm mọi chi tiết thời cuộc. Nhờ vậy, chúng tôi mới thấy được tầm kiến thức uyên bác & đa diện của Giáo sư Huy mà hiếm ai cùng thời có được. Nổi bật nhứt là những viễn kiến và phân tích độc đáo về các biến cố lịch sử trên thế giới.

1) Ai đã làm sụp đổ Bức Tường Bá Linh ? 

Trong dịp kỷ niệm 20 năm ngày Bức Tường Bá Linh sụp đổ, chúng tôi đã trình bày cái nhìn độc đáo của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy về vấn đề ” Ai đã làm sụp đổ Bức Tường Bá Linh ? ” 


 

 

 

 

 

 

Bức tường Berlin sụp đỗ ngày 9.11.1989

 Câu hỏi lịch sử này đã tranh cãi sôi nổi từ trên 20 năm qua và có nhiều câu trả lời chủ quan khác nhau tùy theo hoàn cảnh, trình độ hiểu biết và nhứt là lòng tự hào của những dân tộc liên hệ. 

  1. a) Phía Ba Lan cho rằng nhờ hai công dân của họ. Đó là lãnh tụ nghiệp đoàn Walesa và Đức Giáo Hoàng John Paul II đã dám dũng cảm đi hàng đầu tranh đấu chống độc tài cộng sản. 
  1. b) Phía Hung Gia Lợi cho rằng nhờ Cựu Thủ Tướng Nemeth đã sáng suốt dám cho mở cửa biên giới Áo Hung tạo cơ hội cho làn sóng người tị nạn cộng sản bùng nổ.
  1. c) Phía Đông Đức cho rằng nhờ lực lượng cải cách trong đảng cộng sản Đông Đức đã thành công lật đổ được nhà độc tài Honecker và tạo điều kiện cho lực lượng đối lập dễ dàng tranh đấu.
  1. d) Phía Tây Đức cho rằng nhờ chính sách hòa dịu của Cựu Thủ Tướng Brandt từ từ tạo được biến đổi ôn hòa trong chế độ cộng sản.
  1. e) Phía Liên Xô cho rằng chính Tổng Bí Thư Gorbachev với chính sách cởi mở tạo ra tình thế vuột ra khỏi vòng tay kiểm soát.
  1. f) Phía Hoa Kỳ cho rằng nhờ Cố Tổng Thống Reagan hành xử cứng rắn đối phó với Liên Xô và quan trọng nhứt tại Bức Tường Bá Linh vào ngày 12.6.1987 đã lên tiếng “khích tướng” kêu gọi Tân Tổng Bí Thư Gorbachev muốn chứng minh thực tâm cởi mở thì nên mở cửa và phá sụp bức tường này (nguyên văn: “Come here to this gate! Mr. Gorbachev, open this gate! Mr. Gorbachev, tear down this wall!“) Duy nhứt về phía Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã tiên đoán rất sớm và trình bày rất cặn kẽ ngay trong tác phẩm “Perestroika” ( viết bằng Anh ngữ, dày 402 trang với trên 200 dẫn chứng tài liệu ) cho rằng ông Gorbachev bắt buộc phải cởi mở thay đổi chính sách cai trị để đủ sức đối đầu với Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Reagan đang trên đà leo thang võ trang quân sự, điển hình là kế hoạch phòng thủ chống hỏa tiễn SDI ( Strategic Defense Initiative ). 

Chỉ trong lúc đi thuyết trình cho đồng bào Việt Nam, Giáo sư Huy mới kín đáo tiết lộ đưa ra một cái nhìn độc đáo rằng dân Nga có truyền thống chơi cờ vua ( Chess ) nên có thói quen suy nghĩ đa nghi nhiều, còn dân Mỹ thích chơi bài phé ( Poker ) nên thường phải ” tháu cáy “với cây bài xấu nhưng vẫn có thể ” tố ” cho địch thủ bỏ chạy. Theo Giáo sư Huy thì Tổng Thống Hoa Kỳ Reagan đang dùng kế hoạch SDI để ” hù ” Tổng Bí Thư Liên Xô Gorbachev với bản chất đa nghi buộc phải cải tổ nền tảng chính trị và kinh tế để có đủ thực lực đương đầu lại với Hoa Kỳ. Quả nhiên ông Gorbachev đã xúc tiến cải tổ, trước hết về kinh tế ( Perestroika ), và sau đó về chính trị ( Glasnost ). Nhưng chính vì sự cải tổ chính trị đã khiến làn sóng đòi hỏi tự do dân chủ dâng cao, kiểm soát không nổi và vuột ra khỏi tầm tay. Bức Tường Bá Linh sụp đổ, Đông Âu thoát khỏi sự chi phối của Mạc Tư Khoa và Liên Xô tan rã vào ngày 21.12.1991 là hậu quả tất nhiên đó. Chính vì vậy, bên ngoài Liên Xô ông Gorbachev được vinh danh là nhân vật có công với cuộc cách mạng dân chủ hóa Đông Âu, nhưng ở trong nước thì trái lại không có chút uy tín gì vì bị chỉ trích là không có khả năng lãnh đạo làm cho Liên Xô tan vỡ và nước Nga không còn sức mạnh gì trên bàn cờ thế giới. Cái nhìn độc đáo của Giáo sư Huy được chứng thực là rất đúng, vì kế hoạch SDI của Mỹ sau đó đã được Mỹ âm thầm hủy bỏ khi mục tiêu đã xí gạt được Liên Xô rồi. Tương tự về biến cố 30.04.1975 của Việt Nam chúng ta, Giáo sư Huy cũng có câu trả lời độc đáo với lời giải thích bất ngờ sau đây. 

2) Ai đã gây ra biến cố 30.04.1975 ? 

Câu hỏi lịch sử này cũng đã được bàn cãi sôi nổi từ trên 35 năm qua và chưa đi đến một kết luận nào hữu lý để được mọi khuynh hướng chấp thuận. Điển hình nhứt là ngay trong dịp Hội Thảo “Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại” ( “Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference” ) tại Washington D.C. vào ngày 9.4.2010 quy tụ gần 200 nhân vật với thành phần nổi tiếng như cựu Đại sứ Bùi Diễm, cựu Đại tá không quân Hoa Kỳ Tiến sĩ Stephen Randolph, Trung tá biệt cách dù Nguyễn Văn Lân, Thứ trưởng John Negroponte, Sử gia Dale Andrade, Tiến sĩ John Carland, Cựu Bộ trưởng Hoàng Đức Nhã, Đại tá Trần Minh Công, Đại tá Hoàng Ngọc Lung… cũng không đưa ra được câu trả lời thỏa mãn cho sự thắc mắc: Ai đã gây ra biến cố 30.04.1975? Nhìn trở lại, người ta có thể thấy rõ ràng trong thời gian đầu ngay sau 30.04.1975, phần lớn các khuynh hướng, từ chính trị đến tôn giáo, đều tìm cách đổ trách nhiệm lẫn cho nhau về tội đã làm mất miền Nam. Chỉ có Giáo sư Huy là sớm thấy rõ nguyên nhân chính nào đã khiến xảy ra biến cố 30.04.1975. 

Trong dịp tái ngộ cùng Giáo sư Huy vào năm 1982, chúng tôi có hỏi đến vấn đề nhức nhối này và được Giáo sư Huy trả lời cho biết nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch giải kết ( bỏ mọi cam kết bảo vệ miền Nam! ) để từng bước rời bỏ miền Nam VNCH. Về thế lực nào ở Hoa Kỳ đứng sau kế hoạch bỏ rơi miền Nam, Giáo sư Huy cho biết trên chính trường Mỹ có hai sắc tộc nổi bật nhứt. Đó là sắc tộc gốc Ái Nhĩ Lan ( Ireland ) và sắc tộc gốc Do Thái ( Israel ). 

– Trong dòng lịch sử, Cộng Đồng Người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan đã rất nhiều lần thắng cử chức vụ Tổng Thống. 

– Bên cạnh đó Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái chủ trương nắm giữ các cơ cấu quan trọng trong guồng máy điều khiển đất nước Hoa Kỳ. Họ gài được nhiều nhân sự vào bên hành pháp, lập pháp cũng như tư pháp. Trong các bộ quan trọng nhứt như ngoại giao, quốc phòng và tài chánh thường thấy đa số có nhân viên gốc Do Thái và nhiều lần cấp bộ trưởng cũng do người Mỹ gốc Do Thái nắm giữ. Trong Thượng Viện và Hạ Viện có khá nhiều nghị sĩ và dân biểu gốc Do Thái trong cả hai chính đảng. Vì vậy, thế lực của Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái rất lớn và đã khiến cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn luôn binh vực quyền lợi của Do Thái. 

Tham dự Hòa đàm Paris, Giáo sư Huy nhận xét rằng Kissinger ( một người Mỹ gốc Do Thái lúc đó còn làm Cố Vấn An Ninh cho Tổng Thống Nixon ) có thái độ đáng ngờ là cương quyết muốn thỏa hiệp riêng ( “đi đêm”! ) với CSVN bất cứ giá nào để quân đội Hoa Kỳ rời bỏ miền Nam, dù biết rằng sau đó miền Nam sẽ lọt vào tay Hà Nội. Theo kinh nghiệm chính trị thì các chính trị gia gốc Do Thái đều hành động có chủ đích với kế hoạch rõ rệt. Như vậy đằng sau Kissinger ắt phải là chủ trương của thế lực Do Thái. 

Thế lực Do Thái này phải hiểu là không phải chỉ thuần túy Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái, mà là sắc dân Do Thái trải dài trên thế giới từ Tel Aviv đến Washington D.C., Paris, London, Berlin, Moscow… với tổng số 13,1 triệu người, trong đó 5,4 triệu tại quốc gia Do Thái, 5,3 triệu tại Hoa Kỳ và 2,4 triệu rải rác tại 30 quốc gia khác. Thế lực này được điều khiển hữu hiệu từ Tel Aviv với 2 bộ phận đắc lực gồm cơ quan tình báo Mossad và Nghị Viện Do Thái Thế Giới ( – World Jewish Congress – từ năm 2007 đứng đầu là nhà tỷ phú nổi tiếng Ronald Stephen Lauder người Mỹ gốc Do Thái ) . Ngoài ra, Giáo sư Huy còn chỉ dẩn cho chúng tôi nhận biết được dân gốc Do Thái đặc biệt thường với mũi to loại diều hâu, điển hình như Ngoại trưởng Kissinger hoặc Nữ Ngoại trưởng Albright 

 

 

 

 

 

 

 

Nữ Ngoại trưởng Albright & Ngoại trưởng Kissinger

 Những tiết lộ tế nhị của Giáo Sư Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định của Linh Mục Cao văn Luận (1908 – 1986) nhân dịp tái bản tác phẩm Bên Giòng Lịch Sử cũng cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa Kỳ phải rút quân ra khỏi Việt Nam. 

 

 

 

 

 

 

 

Linh mục Cao Văn Luận / Viện trưởng Đại Học Huế 

Riêng dư luận báo chí quốc tế đã sớm nhìn thấy rõ Hoa Kỳ muốn rút lui bỏ rơi miền Nam từ khi bắt đầu chánh sách Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 ( mà họ phân tích là nhằm thay đổi màu da tử sĩ! ), nhứt là hòa đàm Paris (mà họ nhận định là nhằm bảo đảm Mỹ rút quân được an toàn!). 

Như vậy biến cố 30.04.1975 đã xảy ra, nguyên nhân chính là Hoa Kỳ có chính sách bỏ rơi miền Nam VNCH và thế lực Do Thái thúc đẩy chính sách đó được thực hiện qua bè đảng Kissinger. 

3) Tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam ? 

  1. a) Thế lực Do Thái tại Hoa Kỳ Đối với chúng tôi quả thực hoàn toàn mới mẻ và đầy ngạc nhiên khi được Giáo sư Huy vào năm 1982 cho biết đến vai trò thực sự của người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan và gốc Do Thái trên chính trường Hoa Kỳ. Sau này sinh hoạt lâu năm tại hải ngoại và qua nghiên cứu, chúng tôi công nhận thấy Giáo sư Huy hoàn toàn đúng. Điển hình là cho đến nay có ít nhứt 23 Tổng Thống Hoa Kỳ gốc Ái Nhĩ Lan (xem website: http://en.wikipedia. org/wiki/List_o f_Irish_ Americans) mà trong đó có Tổng Thống Washington và những Tổng Thống gần đây như Clinton, Reagan, Kennedy và kể cả Tổng Thống Obama (bên ngoại gốc Ái Nhĩ Lan) Cũng như hiện nay tại quốc hội có 15 Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ gốc Do Thái và 33 Dân Biểu Liên Bang gốc Do Thái (xem http://en.wikipedia.org/ wiki/List_of_Je wish_American_ politicians#Lis t). 

Thực sự nếu nghiên cứu sâu rộng thì sẽ thấy thế lực Do Thái tại Mỹ còn lớn hơn nhiều. Họ thành công trong việc gài được những nhân sự cấp lãnh đạo ở các bộ phận yết hầu của Hoa Kỳ. Thí dụ điển hình gần đây như:

– trong Thượng Viện và Hạ Viện hiện nay với tổng số 48 nghị sĩ và dân biểu gốc Do Thái ( so sánh trước đây chỉ có 1 dân biểu gốc Việt Nam là ông Cao Quang Ánh! ). – trong Bộ Ngoại Giao có Bộ trưởng Henry Kissinger dưới thời TT Nixon và Bộ trưởng Madeleine Albright dưới thời TT Clinton…

– trong Bộ Quốc Phòng có Bộ trưởng James Schlesinger dưới thời TT Nixon và thời TT Ford.

– trong Bộ Tài Chánh có Bộ trưởng Larry Summer và Bộ trưởng Robert Rubin dưới thời TT Clinton.

– trong CIA có Tổng giám đốc John M. Deutch dưới thời TT Reagan. 

– trong Ngân Hàng Trung Ương ( Fed ) cầm đầu bởi Tiến sĩ Alan Greenspan từ 1987 đến 2006 và Giáo sư Ben Bernanke từ 2006 đến nay. 

Họ còn chủ động nắm những lãnh vực ngân hàng, thị trường chứng khoán, báo chí, truyền thanh, truyền hình và điện ảnh… Đặc biệt, ngành truyền thông, quan trọng nhứt là điện ảnh Hollywood, nằm trong tay thế lực Do Thái. Tại Hollywood đa số nhân sự từ đạo diễn đến diễn viên đều có gốc Do Thái, nổi tiếng nhứt như Steven Spielberg, Liz Taylor, Kirk Douglas, Michael Douglas, Harrison Ford… (xem website: http://en.wikipedia. org/wiki/List_o f_Jewish_ American_entert ainers).

Họ biết rõ rằng nắm được truyền thông trong tay là hướng dẫn được dư luận quần chúng trong mục tiêu phục vụ quyền lợi cho nguời Do Thái. Họ còn điều khiển một phần lớn các viện nghiên cứu chiến lược nhằm đưa ra những đề nghị cho chính sách tương lai cho chánh phủ Mỹ và dĩ nhiên phải phù hợp với quyền lợi của người Do Thái. Ngoài ra tại các cường quốc Âu Châu, thế lực Do Thái có ảnh hưởng tuy âm thầm nhưng cũng mạnh mẽ lắm. Điển hình nhứt là Tổng Thống Sarkozy ( Pháp ) & Thủ Tướng Đức Schmidt ( Đức ) trước đây đều gốc Do Thái nên không bao giờ lên tiếng thực sự chống lại những vi phạm cam kết của Do Thái tại Trung Đông . Chính vì vậy đa số thành viên Liên Hiệp Quốc đã cho rằng thế lực Do Thái có ảnh hưởng quá lớn đến chính sách và biểu quyết về Trung Đông của các cường quốc Âu Mỹ . 

  1. b) Tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi tay bỏ miền Nam ? 

Muốn biết rõ, chúng ta phải tìm hiểu lịch sử mất nước và dựng lại nước của người Do Thái. Vào năm 135 dân tộc Do Thái chính thức bị mất nước và phải lưu vong khắp nơi vì đế quốc La Mã. Thảm họa mất nước đó thường được dư luận Thiên Chúa Giáo cho là sự trừng phạt dân Do Thái đã đóng đinh giết Chúa Jesus và kẻ phản bội Judas chính là một người Do Thái. Chính vì chuyện này đã làm cho dân Do Thái bị kỳ thị trên bước đường lưu vong. Nhưng cũng chính vì có niềm tin mãnh liệt vào Do Thái Giáo, họ đã đoàn kết nhau lại dưới sự lãnh đạo của học giả Theodor Herzl trong đại hội thế giới đầu tiên tại Basel ( Thụy sĩ ) vào năm 1897. Từ đó, từng đợt một họ lén lút trở về quê hương Palestine. Thế Chiến thứ 2 và với sự yểm trợ tích cực của Hoa Kỳ đã tạo cơ hội ngàn năm một thuở để họ dựng lại đất nước vào ngày 14.5.1948 sau gần 2,000 năm lưu vong. Chỉ 11 phút sau đó Tổng Thống Hoa Kỳ đã lên tiếng công nhân quốc gia mới này, bất chấp mọi chống đối của thế giới Ả Rập và đã yểm trợ hữu hiệu cho Do Thái chống lại cuộc tấn công ngay sau đó của các quốc gia Ả Rập láng giềng và trong các cuộc chiến xảy ra sau này. 

Như vậy, Do Thái còn tồn tại đến ngày nay là nhờ Hoa Kỳ làm “lá bùa hộ mạng”. Nhiều nghị quyết tại Liên Hiệp Quốc kết án Do Thái vi phạm cam kết tại Trung Đông chỉ vì duy nhứt Hoa Kỳ dùng quyền phủ quyết ( veto ) nên đành phải bỏ đi. Trong quá khứ, Hoa Kỳ từng giải kết ( phản bội! ) bỏ rơi đồng minh như Lào, Cam Bốt, Việt Nam, Đài Loan… , nhưng luôn luôn “sống chết” hết lòng với Do Thái, mặc dù quốc gia nhỏ bé này không mang lại lợi ích gì về tài nguyên hoặc vị trí chiến lược cho Hoa Kỳ, mà trái lại chính vì Do Thái, Hoa Kỳ còn gây rất nhiều hiềm khích (mang họa vào thân!) với thế giới Hồi Giáo dân số rất đông đảo ( 1,3 tỷ ) và rất quan trọng về năng lượng dầu hỏa . Tất cả cho thấy rõ ràng vì thế lực Do Thái nắm giữ được các bộ phận huyết mạch tại Mỹ nên chính sách của Hoa Kỳ phải luôn luôn không được đi trái ngược lại với quyền lợi của quốc gia Do Thái.

Từ đó, chúng ta mới hiểu rõ tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi tay bỏ miền Nam Việt Nam. Đó là vì họ sợ Hoa Kỳ sa lầy và sự tốn kém khổng lồ tại chiến trường Việt Nam có thể đưa tới hậu quả Hoa Kỳ không còn khả năng giúp đỡ một cách hiệu lực nước Do Thái tồn tại như trong quá khứ Hoa Kỳ đã từng làm. Cho nên họ chủ trương Hoa Kỳ phải giải kết bỏ rơi miền Nam để trở về chuyên tâm lo cho Do Thái. Để thực hiện mục tiêu này họ đã có kế hoạch rõ ràng từng bước một. 

  1. c) Kế hoạch Do Thái thúc đẩy Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam.

Khởi đầu giải quyết cuộc chiến Quốc Cộng tại Lào vào đầu thập niên 1960, ông Ngô Đình Nhu đã ngạc nhiên và bất mãn thấy thái độ nhượng bộ quá mức của ông Averell Harriman ( đặc trách bộ phận Viễn Đông của Bộ Ngoại Giao Mỹ ) trong lúc đàm phán. Nên biết ông Averell Harriman (1891 – 1986) là một nhà tư bản lớn nổi tiếng gốc Do Thái và cũng là một đảng viên cấp lãnh đạo của đảng Dân Chủ ở Mỹ. Rõ ràng phía thế lực Do Thái muốn ngăn chận không cho Hoa Kỳ can thiệp với nhiều tốn kém ở Viễn Đông. Sự nhượng bộ rút lui này đã khiến lực lượng miền Bắc kiểm soát được phần lớn các địa điểm chiến lược tại Lào và thiết lập đường mòn Hồ Chí Minh vận chuyển nhân lực và võ khí vào để đánh chiếm miền Nam vào 30.4.1975. 

Từ khi nhậm chức, Tổng Thống Johnson ( dân Texas ! ) cùng ban tham mưu luôn cứng rắn chủ chiến và không muốn Hoa Kỳ bị thua trận đầu tiên trong nhiệm kỳ của mình. Thế lực Do Thái lúc đó không có ảnh hưởng nhiều trong chánh phủ Tổng Thống Johnson để xoay đổi từ bên trong chính sách can thiệp quân sự của Tổng Thống Johnson, cho nên họ phải chờ đợi cơ hội thuận tiện để tấn công từ bên ngoài dư luận quần chúng. 

Đó là lúc cuộc chiến Việt Nam bùng nổ lớn bắt đầu từ cuối năm 1964 trở đi với các trận đánh dữ dội tại Bình Giã, Đồng Xoài, Đức Cơ… bắt đầu gây tử thương nhiều quân nhân Mỹ. Những hình ảnh quan tài phủ quốc kỳ kèm theo sau hình ảnh dã man và bất lợi ( thổi phồng vụ Mỹ Lai & vụ Tướng Nguyễn Ngọc Loan ! ) của chiến tranh được hệ thống truyền thông Hoa Kỳ -đa số gốc Do Thái quản trị- khai thác triệt để ngày đêm tạo một phong trào phản chiến lớn mạnh chưa từng thấy trên thế giới, không những tại Hoa Kỳ mà còn lan rộng khắp nơi trên nhiều quốc gia khác . Tướng độc nhởn Moshe Dayan -Bộ trưởng Quốc phòng của Do Thái- đột ngột tự qua Việt Nam 3 ngày ( từ 25 tới 27 tháng 7 năm 1966 ) và cho báo chí chụp bức hình biểu diễn đang đi hành quân với lực lượng Hải Quân Mỹ. 

Sau chuyến “hành quân” chớp nhoáng đó, Tướng độc nhởn Moshe Dayan viết ngay đề nghị Mỹ nên rút quân ra khỏi Việt Nam vì không thể thắng cuộc chiến này được ( rất là vô lý vì thực sự hiện diện xem xét chiến trường VN chỉ có 1 ngày , mà dám đưa ngay đề nghị khủng khiếp như vậy ! ) . Dĩ nhiên lời đề nghị chủ bại này càng được thổi phồng bởi phong trào phản chiến và làm mất uy tín Tổng Thống Johnson. Tiếc thay sau này vẫn còn có những ký giả và bình luận gia Việt Nam ca ngợi những phân tích và đề nghị của ông tướng một mắt này, mà không hiểu đó chính là một trong những thủ phạm đã góp phần “khai tử” miền Nam! 

 

 

 

 

 

 

 

Israeli General Moshe Dayan on Patrol with US Marines – South Vietnam 1966 

Phong trào phản chiến càng lên cao và đã khiến Tổng Thống Johnson vào tháng 3 năm 1968 phải quyết định không ra tái ứng cử. Sự xáo trộn tranh chấp kịch liệt trong đảng Dân Chủ đã tạo cơ hội hiếm có để cho ứng cử viên của đảng Cộng Hòa nắm chắc sự thắng cử. Vì vậy thế lực Do Thái đã gài được Kissinger từ năm 1957 làm cố vấn cho Nelson A. Rockefeller ( Thống đốc New York ) đang vận động ra tranh cử làm ứng cử viên Tổng Thống của đảng Cộng Hòa. Nhưng không ngờ Nixon thành công hơn và cuối cùng thắng cử làm Tổng Thống. Thấy vậy, Kissinger bèn trở cờ đầu quân theo Nixon và được trọng dụng làm Cố vấn An ninh. 

Thế lực Do Thái còn đưa được thêm nhân sự gốc Do Thái vào trong guồng máy cầm quyền Mỹ. Đáng kể nhứt là Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger, Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann ( 1925 – 1999 )… Với những chức vụ then chốt này, họ đã thành công bày mưu cho Nixon bỏ rơi miền Nam. Bắt đầu với chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 để từng bước giảm con số lính Mỹ tử vong và bớt dần sự hiện diện của Hoa Kỳ tại miền Nam. Đến năm 1971, Kissinger bí mật qua Trung Cộng tìm cách tái bang giao với chính quyền Bắc Kinh và đưa đến thỏa hiệp Thượng Hải 1972 giữa Mao Trạch Đông và Nixon. Trên bề mặt, thỏa hiệp này chỉ công nhận một nước Trung Hoa cho thấy Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan trên chính trường thế giới, nhưng bên trong thực tế Kissinger nhằm sửa soạn sự rút lui an toàn cho quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam với sự bảo đảm của Trung Cộng. 

Quả nhiên, chỉ sau đó chưa đầy một năm, Kissinger đã dùng đủ mọi mánh khóe, kể cả đe dọa tánh mạng các cấp lãnh đạo miền Nam, thành công trong việc ép buộc ký kết Hiệp Định Paris vào ngày 27.1.1973 để quân đội Hoa Kỳ được an toàn rời khỏi miền Nam. Phía dư luận báo chí quốc tế đã sớm thấy rõ âm mưu của Kissinger và đã ví bản hiệp định này giống như tờ khai tử cho miền Nam Việt Nam. Chính ngay Kissinger cũng đã tiết lộ bề trái của bản hiệp định cho Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichman của T.T Nixon như sau: 

“Tôi nghĩ rằng nếu họ ( chánh phủ miền Nam ) may mắn thì được 1 năm rưỡi mới mất”. Tương tự , Kissinger đã trấn an T.T Nixon là: “ Huê Kỳ phải tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm sau, sau đó thì …chẳng ai cần đếch gì nữa . Vì lúc ấy, Việt nam sẽ chỉ còn là bãi hoang vắng ”. 

Bởi vậy biến cố 30.4.1975 xảy ra là điều tất nhiên đúng như tính toán dự trù của Kissinger và thế lực Do Thái. 

Chỉ sau Hiệp Định Paris khoảng 9 tháng, cuộc chiến Jom Kippur vào ngày 6.10.1973 giữa Do Thái và các quốc gia Ả Rập láng giềng xảy ra. Lần đầu tiên trong lịch sử tái lập quốc, Do Thái bị thua trận và mất một số lớn phần đất chiếm đóng trước đây. Đáng lẽ Do Thái còn có thể bị thua nặng nề hơn nữa, nhưng giờ chót nhờ có Kissinger thuyết phục được Nixon nỗ lực can thiệp giúp Do Thái nên tình thế không còn bi đát nhiều. Tuy nhiên, sau đó Tướng độc nhỡn Moshe Dayan phải từ chức Bộ trưởng Quốc phòng vì chịu trách nhiệm bị thua trận. 

4) Kết luận 

Biến cố thua trận lần đầu tiên Jom Kippur năm 1973 cho thấy thế lực Do Thái nhìn rất xa và rất có lý với nỗi lo sợ Hoa Kỳ vì bị sa lầy ở chiến trường Việt Nam nên không còn có thể chuyên tâm giúp cho Do Thái thắng trận như trước đây. Cho nên không gì ngạc nhiên khi thế lực Do Thái phải vận dụng toàn diện từ trong lẫn ngoài để thúc đẩy và buộc giới lãnh đạo Hoa Kỳ phải bỏ rơi miền Nam. Bởi vậy mới xảy ra biến cố 30.4.1975 . Từ thời điểm đó đến nay Do Thái ung dung tồn tại được, vì không những ” độc quyền ” hưởng trọn vẹn sự yểm trợ hữu hiệu của Hoa Kỳ, mà còn khôn khéo tạo được mâu thuẩn chia rẻ để xô đẩy siêu cường số 1 này phải ra tay đối phó với kẻ thù Hồi Giáo của mình. 

Bí ẩn về lý do và động lực thúc đẩy Hoa Kỳ phải rút quân bỏ rơi miền Nam được che dấu tinh vi không đưa ra dư luận nổi , bởi vì phần lớn hệ thống truyền thống báo chí quan trọng nằm trong tay thế lực Do Thái hoặc bị họ ảnh hưởng kiểm soát không cho phép làm hoặc sợ bị mang tiếng bài Do Thái ( Anti-Semitism ) . Cho nên đến nay dư luận vẫn còn bị lường gạt . Điển hình , về phía dư luận ngoại quốc vẫn còn có những học giả ( thí dụ : Tiến sĩ Stephen Randolph trong Hội Thảo “Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại” (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”) tại Washington D.C. vào ngày 9.4.2010 ) lầm lẫn hoặc cố tình cho rằng Hoa Kỳ vào năm 1972 muốn tái lập bang giao với Trung Cộng nên phải rút quân ra khỏi miền Nam (chịu thua ! ) vì đang câu con cá to hơn ( “has bigger fish to fry” ) . Thực tế Hoa Kỳ đã có kế hoạch bỏ rơi miền Nam từ khi Kssinger bước vào Tòa Bạch Ốc năm 1969 với gia tăng Việt Nam Hóa Chiến Tranh . Về phía miền Bắc, họ không ngờ có được sự giúp đỡ hữu hiệu của thế lực Do Thái tạo ra phong trào phản chiến đưa tới tình trạng ” Đồng Minh tháo chạy ” ( từ ngữ theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng !) bỏ rơi miền Nam . Thực tế, nếu không có sự phản bội của thế lực Do Thái qua sự nắm quyền của ê kíp Kissinger thì chưa chắc gì miền Bắc sớm thắng trận. Như vậy miền Nam chỉ cần cầm cự được vài năm cho đến khi Tổng Thống Reagan nắm quyền và với tài lãnh đạo xuất sắc cương quyết nổi tiếng của ông này chắc chắn miền Nam sẽ được yểm trợ đầy đủ ( đã xảy ra như vậy tại Nam Mỹ và A Phú Hản ! ) để không thể dể dàng sụp đỗ như đã xảy ra trong ngày 30.4.1975. 

Đa số người Việt chúng ta đều có tâm tình thiện cảm với dân tộc Do Thái ( một phần ảnh hưởng qua tác phẩm lừng danh ” Về miền đất hứa / Exodus ” của tác giả Leon Uris ) vì ngưỡng mộ tinh thần đoàn kết và chiến đấu dũng cảm của họ sau 2000 năm lưu vong đã thành công trở về tái dựng lại quốc gia Do Thái nhỏ bé bất chấp trước mọi đe dọa của Khối Ả Rập khổng lồ . Cũng trong cảm tình nồng nàn đó , Học giả Nguyễn Hiến Lê vào năm 1968 mang sức ra viết tác phẩm ” Bài học Israel ( Do Thái ) ” .

Nhưng thực tế chính trị cho thấy thủ đoạn & tham vọng xâm chiếm đất đai láng giềng của Do Thái sau khi tái lập quốc, nên chính ông đã không ngần ngại lên tiếng chỉ trích nặng nề. Đó cũng là tâm trạng của chúng tôi khi biết qua Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận khám phá ra mưu sâu độc của thế lực Do Thái khiến xảy ra biến cố 30.4.1975 cho quê hương Việt Nam mà nay đang dẩn tới đại họa mất nước vào tay Trung Cộng. 

Chúng ta hy vọng rằng Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận đã đi bước tiên phong tiết lộ những bí ẩn về biến cố 30.4.1975 và trong tương lai sẽ được giới truyền thông báo chí chú tâm nghiên cứu khai triển tích cực để dư luận Việt Nam và thế giới mai sau không còn bị lường gạt nữa . 

Mong thay ! 

Phạm Trần Hoàng Việt

tháng tư 2010 & 2013

PHẢI TRẢ LẠI SỰ THẬT LỊCH SỮ, NẾU HỌ CÒN LIÊM SĨ

From facebook: Thuan Chau An Le added 8 new photos.

PHẢI TRẢ LẠI SỰ THẬT LỊCH SỮ, NẾU HỌ CÒN LIÊM SĨ

Anh hùng “đuốc sống” Lê Văn Tám – Một người hoàn toàn KHÔNG CÓ THẬT, được ông Giáo sư sử học Phan Huy Lê xác nhận.
Họ đã đầu độc không biết bao nhiêu thế hệ trẻ thơ trong trắng đáng yêu với những sự kiện và nhân vật hư cấu, phản khoa học. Họ đâu biết rằng “một lần bất tín vạn lần bất tin”.

Image may contain: text
Image may contain: outdoor
Image may contain: text
Image may contain: 1 person

Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh thăm hỏi cha Phêrô Phan Văn Lợi

Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh thăm hỏi cha Phêrô Phan Văn Lợi

|

 
 GNsP (07.04.2017) – Sáng 04-04, khoảng 9g, đang ngồi làm việc trong phòng, tôi bỗng nghe có tiếng ồn ở cổng. Chạy ra thì thấy hai tu sĩ đan viện Thiên An đang bị mấy tay côn đồ chính trị (tên gọi mới của anh Nguyễn Tường Thụy đối với những công an hành xử bạo lực vô luật pháp) mặc thường phục, chặn lại không cho vào.

Mở cổng đi ra, tôi thấy ngay một chiếc xe hơi bốn chỗ đậu gần nhà. Hai đan sĩ cho biết muốn mời tôi lên đan viện dùng cơm trưa nhưng công an không cho. Tôi hỏi chúng:

– Các anh chặn tôi có giấy tờ, có lệnh lạc gì không?

Tên mặt mày bặm trợn ngang nhiên đáp:

– Không cần giấy tờ, chỉ có lệnh miệng! (Như kiểu nói xưa rày của nhiều tay cán bộ và công an VC: “Miệng tao là luật pháp!). Ông từ lâu nay phản động, chống lại nhà nước, nên không được đi mô cả.

Tôi đáp:

– Nè, muốn quy kết phản động và quản thúc thì phải đúng luật pháp. Phải ra tòa, phải xét xử, phải có kết luận công minh của tòa. Chứ các anh chỉ nói miệng, lại không mặc sắc phục, không đeo bảng tên khi hành sự, dùng vũ lực với nhân dân, thì đúng là một bọn côn đồ! Về nói với cấp trên là phải làm việc đường hoàng, đúng pháp luật.

Hai đan sĩ cũng nói thêm vào:

– Pháp luật là phải có văn bản! Pháp luật là phải có văn bản!

Tên khi nãy dịu giọng:

– Lần này tôi cho phép các thầy vào thăm ông Lợi, nhưng chỉ được thăm thôi.

Tôi trừng mắt nhìn hắn:

– Này, anh có quyền chi mà cho phép hay không cho phép? Quyền của nắm đấm hả? Tôi nói cho các cậu hay nhé. Trong lòng các cậu biết rõ chuyện này là bất công, sai luật, nhưng chỉ vì phận sự mà làm thôi. Các cậu nên bỏ cái nghề thất đức này đi, kẻo để lại hậu quả tai hại cho con cái sau này.

Thấy đôi co với đám tiểu yêu chỉ biết mù quáng vâng lệnh cũng chỉ vô ích, cả ba chúng tôi vào nhà nói chuyện một lúc rồi hai thầy dòng đành phải từ giã.

Ban chiều, khoảng 3 giờ, có một thầy khác gọi điện từ đan viện Thiên An, báo cho tôi biết sắp được đón một vị khách đặc biệt: Đức Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh, nguyên chủ chăn Giáo phận Kontum, nay đã nghỉ hưu, và hiện đang ở thăm đan viện.

Tôi vừa vui mừng vừa hồi hộp được đón vị lãnh đạo tinh thần Công giáo mà lâu nay là một cái gai trước mắt nhà cầm quyền, và từ ngày xảy ra thảm họa Formosa, luôn có mặt tại các điểm nóng (y như Đức nguyên Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt), luôn đến vấn an các linh mục và giáo dân nạn nhân của Formosa và của nhà cầm quyền, chẳng hạn cha Đặng Hữu Nam, cha Trần Đình Thục, giáo dân Đông Yên… Nhưng tôi cũng lo là chẳng biết công an có chặn đường ngài không.

Khoảng 3g30, Đức Cha Oanh đi bộ từ ngoài đường và ung dung bước vào nhà tôi, có sự tháp tùng của cha Bề trên đan viện Thiên An, 3 thầy dòng và hai nhân viên một nam một nữ của Truyền thông Tin Mừng Cho Người Nghèo. Dĩ nhiên cũng có sự hiện diện của công an bên ngoài. Tôi thưa:

– Việc Đức Cha và các thầy đến thăm con hôm nay là một ơn Chúa lớn lao trong Mùa Chay này.

Chúng tôi nói chuyện thân tình vui vẻ với nhau trong nửa giờ đồng hồ. Tôi hỏi Đức Cha về các chuyến đi ủy lạo của ngài và nói đó là một tấm gương cho các vị chủ chăn khác. Tôi cũng hỏi cha Bề trên Thiên An (cuộc gặp giữa chúng tôi tại dòng hôm tháng 10-2016 có đăng trên trang FB này) về chuyện nhà cầm quyền tỉnh Thừa Thiên-Huế đang để cho người ta giết dần rừng thông của đan viện bằng cách rạch sâu vào thân cả ngàn cây thông để gọi là lấy mủ (lẽ ra chỉ được rạch vỏ thôi). Chuyện này đã bị tố cáo trên trang Tin Mừng Cho Người Nghèo hôm 14-03-2017. Đức Cha cũng hỏi tôi về hiện tình sức khỏe và công việc. Tôi cho biết là sau ngày viếng thăm Đan viện trở về, tôi bị canh phòng ngặt hơn và đã nhiều lần bị chặn không cho ra khỏi nhà. Chẳng biết Thứ Năm Tuần Thánh tới (13-04), công an có để cho tôi đến nhà thờ Phủ Cam để đồng tế Lễ Dầu với các linh mục khác không ?!?

17522559_10209164608537115_2127741216842384120_n

Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh và Bề trên Đan viện Thiên An, cha Antôn Nguyễn Văn Đức thăm hỏi và vấn an vị linh mục kiên cường – cha Phêrô Phan Văn Lợi, tại tư gia, vào ngày 04.04.2017.

Đức cha Micae, cha Bề trên Antôn và phái đoàn chụp hình lưu niệm với cha Phêrô Phan Văn Lợi.

Đức cha Micae, cha Bề trên Antôn và phái đoàn chụp hình lưu niệm với cha Phêrô Phan Văn Lợi.

Đưa Đức Cha và đoàn tùy tùng ra khỏi cổng, tôi đi thêm vài bước để tiễn ngài thì có hai công an đeo khẩu trang xông lại, đẩy tôi lui. Đây là lần đầu tiên tôi thấy chúng bịt mặt. Tôi liền “giới thiệu” chúng với Đức Cha và mọi người, rồi nói:

– Mấy cậu là công an thì phải công khai hành động. Đừng có chùng lén, làm nhục chế độ đó! Cất khẩu trang đi!

Thấy chúng cự nự, một tên còn nói đây là “quyền” của chúng, tôi xông tới giật được khẩu trang của một tên. Các điện thoại và iPad đã hoạt động nãy giờ liền chĩa vào nó. Hy vọng sẽ có người đưa lên mạng cho bà con thưởng lãm.

Tôi trở vào nhà, để Đức Cha và đoàn người ra đường cái.

Hai an ninh trẻ mặc thường phục đeo khẩu trang ngăn cản cha Phêrô tiễn Đức cha Micae, cha Bề trên Antôn và phái đoàn ra về.

Hai an ninh trẻ mặc thường phục đeo khẩu trang ngăn cản cha Phêrô tiễn Đức cha Micae, cha Bề trên Antôn và phái đoàn ra về.

Viên an ninh trẻ tính ra tay hành hung cha Phêrô khi ngài yêu cầu tháo bỏ khẩu trang, nhưng các Đan sĩ đã nhanh tay vồ lấy cánh tay của viên an ninh này.

Viên an ninh trẻ tính ra tay hành hung cha Phêrô khi ngài yêu cầu tháo bỏ khẩu trang, nhưng các Đan sĩ đã nhanh tay vồ lấy cánh tay của viên an ninh này.

Nửa giờ sau, từ nhà Hưu dưỡng (thuộc tòa Tổng giám mục Huế), cha Nguyễn Văn Lý điện thoại hỏi tôi xem Đức Cha có bị gì không. Tôi trả lời là an toàn. Cha Lý cho hay: ban sáng, sau khi không chở tôi được, các thầy Thiên An đã qua Tòa TGM mời và chở cha Lý cùng cha Giải lên dòng dùng bữa với Đức Cha cùng đan viện. Tiếc là cha Giải đang vắng mặt nên cha Lý đi một mình. Cha Lý còn cho biết thêm: Đức Cha trên đường xuống phi trường về lại Sài Gòn đã ghé thăm cha đó. Đúng là một tâm hồn mục tử!

Tôi biết từ nay mình sẽ bị chặn cổng dài dài, như đã bị chặn từ năm 2001 đến năm 2005.

Tường trình ngày 06-04-2017, Giỗ Tổ Hùng Vương (10-03 âm lịch), những vị đã mở con đường sống cho Dân tộc, và cũng là ngày kỷ niệm một năm thảm họa Formosa, biến cố mở đường chết cho toàn thể Đồng bào.

“Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng 10 tháng 3” (Ca dao xưa).

“Nhớ ngày mồng 6 tháng 4, “Fóc-mô” xả độc, ngất ngư dân mình” (Ca dao nay).

Lm Phê-rô Phan Văn Lợi

Đôi lời tâm sự kỹ niệm 5 năm ngày Website “Kẻ Đi Tìm” ra đời.

Đôi lời tâm sự kỹ niệm 5 năm ngày Website “Kẻ Đi Tìm” ra đời.(có sửa chữa)

Ngày 07 tháng 04 năm 2012 là ngày thành lập Website “Kẻ đi tìm”

5 năm đã thoát qua rất nhanh.

Website này đã có được 1,072,200 lần thăm viếng.

Ban biên tập chúng tôi cố gắng thường xuyên “post” bài vở mỗi ngày, do các nguồn từ bài vở hay, có ý nghĩa được thu thập từ các báo khác, hoặc từ các bạn bè thân yêu khắp nơi gởi đến.

Chúng tôi không có quảng cáo, không có nguồn tài trợ nào từ bất cứ nơi nào, phe nhóm nào, chúng tôi bỏ tiền túi ra làm vì:

1) Trong đời sống hàng ngày, chúng tôi muốn đem đến sự thực (thật) cho bà con độc giả vì “chỉ có sự thực (thật) mới giải thoát anh em. (thánh kinh). Với tuổi về hưu, chúng tôi còn muốn đóng góp sức lực yếu đuối, quá nhỏ bé còn lại này cho sự sống còn của đất nước Việt nam. Điều này quá lớn lao, nhưng sức yếu đuối, nhỏ bé của chúng tôi chỉ hy vọng đốt lên ngọn lửa nhỏ của sự thực biết đâu nhờ đó vài người có cơ duyên tìm thấy và đọc “Website” này “ngộ” ra được phần nào của sự thực chăng?

Nga sô đã tuyên truyền giả dối từ năm 1917, sau 74 năm lường gạt dân chúng, không còn tiếp tục dối trá được nữa, sự dối trá không còn tác dụng được nữa, đến năm 1991 phải tự giải tán đảng cộng sản Liên sô , trở về đúng sự thực của xã hội nước Nga.

Còn Việt nam cộng sản đã giả dối từ năm 1945, tiếp tục gian dối cho đến ngày hôm nay, may thay, nhờ internet, facebook, v.v…sự giả dối dần dần được phơi bày ra hết. Người dân đã thức tỉnh, thấy được bộ mặt thật của cộng sản Việt nam, biết đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình: các quyền tự do căn bản như quyền tự do đi lại, nghiệp đoàn, tôn giáo, tự do bầu cử và ứng cử, tự do ngôn luận (báo chí) v.v…

Sự dựng chuyện, bóp méo lịch sử, chuyện không nói thành có như chuyện Lê văn Tám, dần dần lộ ra là nhân vật tưởng tượng, nhân vật không có thực.

Vụ Formosa gần đây nhất không còn che dấu, bóp méo sự thực được nữa đành phải công nhận Formosa xả chất độc hại. Một năm trôi qua rồi, ngư dân vẫn chưa được bồi thường thoả đáng , nhà cầm quyền vẫn che dấu sự thực, tiếp tục bao che cho Formosa.

2) Đi tìm ý nghĩa đời sống tâm linh cho đời này và cho đời sau (sau khi mất)

a) Đời sống hiện tại:

Trong đời sống thường nhật, hàng ngày, chắc chắn không phải lúc nào cũng trôi chảy. Nếu làm ăn thất bại, thất nghiệp mất nhà cửa, xe cộ hay bị tai nạn, bịnh nặng, không giải quyết đi thì làm sao?. Không lẽ mỗi lần gặp khó khăn quá, con người chịu đựng không nổi rồi phải tự tử.? Cho nên tìm chỗ dựa trong đời sống tâm linh rất là quan trọng. Chỗ dựa đó là Thiên Chúa toàn năng.

b) Đời sống mai sau (sau khi chết).

Con người ngoài thể xác còn có linh hồn. Con người khác con vật (như con chó, con bò…) là vì con người có linh hồn. Sau khi chết, linh hồn sẽ đi về đâu?

Việc đóng góp của chúng tôi hiện tại cũng chỉ là góp công sức vô cùng nhỏ bé để cho linh hồn bất tử đời sau.

3) Kết: Chúng tôi đi tìm sự thực lịch sử đã qua và hiện tại. Chúng tôi đi tìm sự thực của con người Việt nam đau khổ, sức chịu đựng vô hạn của con người Việt nam bị áp bức, bất công trong 42 năm qua ở miền Nam và 63 năm ở miền Bắc.

Chúng tôi không đi tìm: “ cách nào để làm giàu, cách nào để có nhà cao, cửa rộng, hoặc danh vọng, tiếng tăm “ , nhưng chúng tôi đi tìm cách nào, để trong đời sống hiện tại có vui tươi, hạnh phúc (Thiên đàng đời nay) và sau này, sau khi chết, tìm được nước Thiên đàng hoan lạc, vĩnh cửu đời sau. Mong lắm thay.

Xin cám ơn bà con, độc giả xa gần yêu mến ủng hộ.

Ban Biên Tập

Kẻ Đi Tìm

Ngày 07 tháng 04 năm 2017

Giang hồ Tiền Giang vào tận nhà giết người vì mâu thuẫn

Giang hồ Tiền Giang vào tận nhà giết người vì mâu thuẫn

Công an điều tra hiện trường vụ án mạng. (Hình: Báo Pháp Luật Sài Gòn)

TIỀN GIANG (NV) – Đang nhậu cùng một nhóm bạn khoảng 10 người tại nhà mình ở xã Mỹ Phong, ông chủ nhà bị nhóm côn đồ 6 tên vào tận nhà truy sát chỉ vì mâu thuẫn trước đó.

Ngày 7 Tháng Tư, Phòng Cảnh sát hình sự, Công an tỉnh Tiền Giang cho biết, đang truy bắt nhóm người giết chết ông Đinh Văn Mén (34 tuổi), thợ hồ, ngụ xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho và làm một người khác bị thương nặng.

Theo báo Pháp luật Sài Gòn, ông Mén đang nhậu cùng chục người bạn tại nhà thì 6 thanh niên mang hung khí đến lao vào đâm chém loạn xạ khiến nhóm ông Mén bỏ chạy ra phía nhà sau, đóng cửa cố thủ.

Khi nhảy qua hàng rào chạy trốn, ông Mén bị té ngã thì liền bị một tên trong nhóm côn đồ chém vỡ sọ và chết sau khi được đưa đến bệnh viện cấp cứu. Ngoài ra, còn có ông Sơn một người trong nhóm bạn của ông Mén cũng bị chém đứt gân chân. Chém người xong, nhóm giang hồ này còn đập phá nhà ông Mén rồi lên xe bỏ đi.

Tại đồn công an, một người trong nhóm nhậu của ông Mén cho biết, khoảng 14 giờ cùng ngày, nhóm giang hồ trên và nhóm ông Mén có cãi nhau tại một quán ăn ở thành phố Mỹ Tho. Một lúc sau thì nhóm này mang hung khí tìm đến nhà ông Mén để trả thù. (Tr.N)

Chiếc khăn mu-soa

 Chiếc khăn mu-soa 

Tiểu Tử

“…Huê nói: “Khăn này cô thêu tặng cho ba của con, nhưng không có duyên nên khăn lại trở về. Bây giờ, cô tặng cho con để kỷ niệm ngày cô cháu mình gặp nhau.” … 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hôm đó, tôi nhận được một CD gởi từ Bruxelles, nước Bỉ, trên CD thấy đề: “À Monsieur Tiêu Tu ». Chữ viết bằng bút feutre rõ nét, nói lên người viết có trình độ. Tuy viết “Tiểu Tử » không có dấu, người gởi viết tên của mình lại có dấu đầy đủ: “Exp: Nguyễn Thị Sương”!
Vừa ngạc nhiên vừa thích thú, tôi vội vã đặt dĩa vào máy, nghe. Đó là giọng một người con gái miền Nam, trong trẻo, phát âm rõ ràng. Những gì cô ta nói đã làm tôi xúc động, có lúc tôi ứa nước mắt! Tôi đã nghe nhiều lần và cố gắng ghi chép lại đây. Dĩ nhiên là tôi đã viết để đọc cho suông sẻ chớ cô gái nói còn nhiều chỗ nghe sượng hay dùng chữ chưa chính xác…:

…Thưa ông,  Con tên Nguyễn Thị Sương, con của Nguyễn  Văn Cương, một trong những nhân vật trong truyện ngắn “Con Rạch Nhỏ Quê Mình » của ông.
Thưa ông. Con sanh ra và lớn lên ở Pháp, biết nói tiếng Việt nhưng đọc và viết tiếng Việt còn  rất yếu. Vì vậy, con phải dùng cách này để liên lạc với ông. Xin ông thông  cảm!

Hôm chúa nhựt rồi, chị Loan bà con bạn dì của con ghé nhà nói: “Sương ơi! Người ta nói về ba của Sương ở trong truyện ngắn đăng trên internet cả tuần nay nè! Chị in ra đem qua đây đọc cho em nghe.” Rồi chỉ đọc. Đó là truyện “Con Rạch Nhỏ Quê Mình”.

Thưa ông. Con chưa biết Việt Nam, nhưng những gì ông tả trong truyện làm như con đã thấy qua rồi! Bởi vì hồi con mới lớn ba con thường hay kể chuyện về cái làng Nhơn Hòa và con rạch Cồn Cỏ của ba con, về những người bạn của ba con hồi thời tuổi nhỏ, kể  tỉ mỉ đến nỗi con có cảm tưởng như ba con đang cầm tay con dẫn đi coi chỗ này  chỗ nọ (nói đến đây, giọng cô gái như  nghẹn lại vì xúc động. Ngừng mấy giây rồi mới nói tiếp… ) Mà ba cứ kể đi kể lại hoài làm như là những hình ảnh đó nó ám ảnh ba dữ lắm. Sau này thì con mới hiểu khi ba con nói: “Hồi đó, ba đi Pháp quá sớm, ở cái tuổi chưa biết gì nhiều.

Rồi qua đây, chóa mắt ngất ngây với những văn minh tiến bộ của xứ người làm ba quên đi cái làng nhà quê của ba. Điều ân hận lớn nhứt của ba là đã không viết  gởi về một chữ để hỏi thăm bạn bè hồi đó. Ba phải về thăm lại Nhơn Hòa Cồn Cỏ, con à!” Nói đến đó, ba ứa nước mắt nắm bàn tay con dặc dặc: “Mà con cũng phải về với ba nữa! Về để cho ba lên tinh thần! Về để thấy ba biết xin lỗi mọi người! Về để thấy ba biết nhìn lại cái quê hương của ba cho dầu nó có quê mùa xấu xí bao nhiêu đi nữa! Về để thấy ba chưa đến nỗi là thằng mất gốc!” (đến đây, không còn nghe gì nữa!) Xin lỗi ông! Con đã ngừng thâu để con khóc (rồi giọng cô lạc đi) Con thương ba con! (ngừng một lúc)

Thưa ông. Ba má con đều là giáo sư toán, dạy ở lycée. Má con mất hồi con mười tuổi. Bây giờ con làm chủ một tiệm sách ở Bruxelles, ba con dạy ở cách nhà không xa lắm.

Một hôm, ba nói: “Ba được một  thằng bạn học hồi ở đại học, người Phi Châu, mời qua xứ nó giúp tổ chức lại hệ  trung học. Ba đã OK”. Rồi ba đưa cho con một phong bì loại A4, nói: “Con rán  tìm cách về Nhơn Hòa Cồn Cỏ, trao cái này cho cô Hai Huê nói ba không quên ai hết! “Con nhìn thấy trên phong bì ba viết: “Mến trả lại Huê, kỷ vật của thời tuổi nhỏ. Cương.” Vậy rồi ba qua Phi Châu làm việc rồi mất ở bển trong mấy trận nội chiến (chắc ngừng thâu ở đây nên không nghe gì nữa).

Thưa ông. Nhờ nghe đọc “Con Rạch Nhỏ Quê Mình” mà con biết được mối  tình một chiều của cô Hai Huê, biết được cái khăn mu-soa mà cô Hai đã thêu tặng ba con thuở thiếu thời. Cái khăn đó, bây giờ thì con biết nó đang nằm trong phong bì A4 mà con đang giữ để trả lại cô Hai.

Và bây giờ thì con thấy thương cô Hai vô cùng và cũng thấy tội nghiệp ba con vô cùng (chỗ này giọng cô gái lệch đi, ngừng một  chút mới nói tiếp). Con nhờ ông giới thiệu con cho bác Sáu Lân, người đã kể chuyện để ông viết về Nhơn Hòa Cồn Cỏ. Con sẽ xin bác Sáu đưa con về đó để con làm theo lời dặn của ba con…

Địa chỉ và số phôn của con như sau:
Melle Nguyên
…… ……………………
Con cám ơn ông.
Con: Sương

*****

Nhớ lại, cách đây khá lâu, một thằng bạn ở Marseille, miền Nam nước Pháp, gọi điện thoại lên Paris cho tôi, nói: “Dưới này trời tốt, mầy xuống chơi,  đi câu với tao. Sẵn dịp, tao giới thiệu mầy cho một ông bạn mới từ Việt Nam qua  định cư ở đây. Tao có khoe với ổng là mầy viết lách khá lắm. Ổng nói ổng muốn  nhờ mầy viết một chuyện nhỏ ở dưới quê của ổng để ổng tìm một người bạn. Tao thấy coi bộ ngộ à! Xuống, đi!” Vậy rồi tôi đi Marseille. Sau đó, tôi viết “Con rạch nhỏ quê mình” với câu gởi gắm của ổng: “Tôi nhờ ông viết lại giùm. Biết đâu chừng thằng Cương sẽ đọc. Để nhắc nó đừng quên con rạch Cồn Cỏ, đừng quên thằng Đực Nhỏ, thằng Lân, con Huê…”
Sau khi nghe CD và ghi chép lại, tôi gọi điện thoại xuống Marseille thì thằng bạn tôi cho hay là ông Lân đã dọn về ở ngoại ô Paris, cách đây mấy  năm. Nó cho tôi địa chỉ và số điện thoại của ổng. Vậy rồi ổng và tôi gặp nhau. Tôi kể sơ câu chuyện và đưa cho ổng mượn cái CD. Tôi thấy ổng rơm rớm nước mắt  khi nghe tôi nói làm tôi cũng xúc động: người đàn ông hiên ngang, xông xáo trong  trận mạc, gan lỳ đến nỗi mang hỗn danh “thằng Lân ăn pháo”… vậy mà bây giờ cũng  biết ứa nước mắt khi nhận được tin thằng bạn không bao giờ gặp lại!

Khi chia tay, ổng nói: “Cám ơn ông! Nhờ có bài viết của ông mà hôm  nay tôi mới có tin của thằng Cương! Tôi sẽ thay nó, đưa con gái nó về thăm Cồn  Cỏ! Và thắp cho nó ba cây nhang ở đầu vàm để vong hồn nó nương theo đó mà tìm  lại con đường về…”

*****

Hơn một tháng sau, ông Lân gọi điện thoại cho tôi nói ổng vừa ở Việt  Nam về, muốn gặp tôi để trả cái CD và để ổng kể chuyến đi này của ổng. Vậy là chúng tôi đã gặp nhau và tôi đã ghi những lời ổng kể…

 … Nhờ cái CD ông cho tôi mượn mà tôi liên lạc được con Sương.
Tội  nghiệp! Biết được là tôi gọi, nó khóc ồ ồ ở đầu dây bên kia! Sau đó, nó kêu tôi  bằng “Bác Sáu “, ngọt như tôi là bác ruột của nó vậy! Thấy thương quá!

Vậy rồi hai bác cháu tôi bay về Việt Nam. Ở Sài Gòn chúng tôi mướn một chiếc xe hơi có tài xế để về Nhơn Hòa Cồn Cỏ. Trên xe, tôi nói với con  Sương: “Ở Cồn Cỏ, ba của con không còn bà con gì hết, họ đã dọn lên tỉnh ở mấy  chục năm nay. Bây giờ, ba con chỉ còn có một người bạn thân…” Con nhỏ nói: “Cô  Hai Huê!” Tôi gật đầu ờ. Nó nói tiếp: “Cô Hai là người ba nhắc thường nhứt và ba hay thở dài nói ba có lỗi với cô Hai nhiều lắm! Thấy ba con như vậy, con cũng  nghe đau lòng, bác Sáu à!”. Thấy thương quá, tôi cầm bàn tay nó bóp nhẹ. Con  Sương nhìn cảnh vật bên ngoài nhưng vẫn để bàn tay nó trong lòng bàn tay tôi.

Ông biết không? Tôi không có con, bây giờ, trong cái cầm tay này, tôi bỗng cảm  thấy như thằng Cương vừa đặt vào tay tôi một đứa con. Trời Đất! Sao tôi muốn nói: “Sương ơi! Từ nay, bác Sáu sẽ thay ba con mà lo lắng bảo vệ con như con là con của bác vậy!” Nhưng thấy có vẻ cải lương quá nên tôi làm thinh!

Xe ngừng ở chợ Cồn Cỏ. Bác cháu tôi vô chợ nhà lồng đến sạp vải của  con Huê thì thấy một cô gái lạ. Cổ nói cổ là cháu kêu con Huê bằng dì và đến đây phụ bán vải từ mấy năm nay. Cổ nói: “Dì Huê có ở nhà, ông bà vô chơi! “

Chúng tôi đi lần theo con đường nằm dọc bờ rạch. Đường này bây giờ  được tráng xi-măng sạch sẽ. Tôi nói: “Nhà cô Hai có cây mù u nằm trước nhà cạnh bờ rạch, dễ nhận ra lắm!” Đến nơi, thấy còn nguyên như cách đây mấy chục năm:  cũng hàng rào bông bụp thấp thấp, qua một cái sân nhỏ là ngôi nhà xưa ngói âm  dương, kèo cột gỗ, ba gian hai chái với hàng ba rộng, một bên hàng ba có một bộ  ván nhỏ… Tôi hơi xúc động vì bắt gặp lại những gì của thời cũ. Chỉ có bao nhiêu đó thôi – nhỏ xíu – vậy mà sao gợi lại được vô vàn kỷ niệm! Tôi gọi lớn: “Huê ơi  Huê! “. Trong nhà chạy ra một người đàn bà tóc bạc nhìn tôi rồi la lên: “Trời  Đất! Anh Lân!” Tuy cô ta đang nhăn mặt vì xúc động, tôi vẫn nhận ra là Huê! Không kềm được nữa, Huê và tôi cùng bước tới nắm tay nhau vừa dặc dặc vừa nói “Trời Đất! Trời Đất!” mà không cầm được nước mắt! Một phút sau, Huê buông tay tôi ra quay sang con Sương, hỏi: “Còn ai đây?” Tôi nói: “Con Sương! Con thằng Cương!” Nó hỏi: “Còn anh Cương đâu?”. Con Sương thả rơi ba-lô xuống đất, bước lại phía con Huê, nói: “Ba con chết rồi, cô Hai ơi!”. Con Huê chỉ nói được có một tiếng “Chết” rồi xiêu xiêu muốn quị xuống. 

Con Sương phóng tới đỡ con Huê, nói: “Cô Hai ơi!” Rồi hai cô cháu ôm nhau khóc nức nở. Tôi đứng tần ngần một lúc mới bước lại đặt tay lên vai Huê bóp nhẹ: “Tại cái số hết, Huê à! Thằng Cương đang dạy ở bên Bỉ, mắc gì mà qua Phi Châu làm việc để rồi chết mất xác trong chiến tranh ở bên đó. Tại cái số hết! Phải chịu vậy thôi!” Con Sương dìu Huê lại ngồi ở bực thềm, vói tay mở ba-lô lấy phong bì  A4, nói: “Ba con gởi cái này cho cô.” Huê cầm phong bì, nheo mắt đọc rồi lắc đầu  nhè nhẹ: “Chắc là cái khăn mu-soa!” Huê xé phong bì lấy khăn ra cầm hai góc khăn  đưa lên nhìn: khăn còn thẳng nếp, chưa có dấu hiệu sử dụng! Huê nhăn mặt, đưa khăn lau nước mắt của mình rồi sang qua lau nước mắt của con Sương làm nó cảm  động nấc lên khóc. Huê nói: “Khăn này cô thêu tặng cho ba của con, nhưng không có duyên nên khăn lại trở về. Bây giờ, cô tặng cho con để kỷ niệm ngày cô cháu mình gặp nhau.” Con Sương cầm lấy khăn rồi ngả đầu vào vai Huê, nói: “Con cám ơn  cô Hai.” Huê vừa gật đầu vừa choàng tay ôm con Sương lắc nhè nhẹ như vỗ về đứa con!

Tôi bước ra bờ rạch ngồi cạnh gốc cây mù u đốt thuốc hút. Tôi thấy trên thân cây có đóng một cây đinh dài đã rỉ sét đen thui, vắt lên cây đinh là một cuộn dây dừa cũ mèm như muốn mục. Tôi nghĩ chắc con Huê nó làm như vậy, nó vốn nhiều tình cảm và giàu tưởng tượng. Nó có ý nói con thuyền ngày xưa đã bỏ bờ đi mất, nếu một mai có trôi về được thì cũng có sẵn dây để cột con thuyền vào gốc cây mù u…

Tôi đốt thêm một điếu thuốc rồi đặt lên cuộn dây dừa, vái lâm râm: “Cương ơi! Mầy có linh thiêng thì về đây hút với tao một điếu thuốc!” Tự nhiên,  tôi ứa nước mắt! Khi tôi trở vô nhà thì cô cháu tụi nó ngồi cạnh nhau trên bộ ván, nói  chuyện coi bộ tương đắc! Thấy tôi, Huê nói để vô làm cơm cùng ăn. Tôi từ chối vì phải về trả xe. Huê xin cho con Sương ở lại chơi với nó mươi hôm, còn con Sương thì hớn hở: “Bác Sáu đừng lo! Con về một mình được!” Tôi bằng lòng nhưng  đề nghị cùng ra đầu vàm thắp ba cây nhang cho thằng Cương. Con Huê vô nhà lấy nhang và một tấm ni-lông để ra đó trải cho ba người ngồi. Khi đi ngang cây mù u, con Huê bước lại gốc cây lấy cuộn dây dừa liệng xuống rạch, rồi phủi tay, đi!

Sau khi cúng vái ở đầu vàm, cô cháu nó đưa tôi ra xe. Nhìn tụi nó cặp tay nhau mà thấy thương quá, ông ơi!

*****

… Bây giờ thì cô Sương đã đem cô Huê qua Bỉ ở với cổ. Nghe ông Lân  nói hai cô cháu rất “tâm đồng ý hợp.”
Còn chiếc khăn mu-soa thêu thì ông Lân nói cô Sương đã cho lộng vào một khuôn kiếng rất đẹp treo ở phòng khách, ở một vị trí mà ai bước vào cũng phải thấy!

Tiểu Tử

 Bác sĩ Phùng Văn Hạnh gởi

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của ông chủ Facebook.

Cuộc sống đáng ngưỡng mộ của ông chủ Facebook.


 

 

 

 

 

Nhắc đến tên tuổi những nhà Tỷ phú trẻ, cái tên Mark Zuckerberg, nhà Sáng lập ra mạng xã hội nổi tiếng toàn cầu Facebook là nhân vật nổi bật nhất. Theo như Forbes đánh giá: Năm 2016 anh lọt vào danh sách top 5 nhà Tỷ phú giàu nhất thế giới. Anh không chỉ khiến mọi người kinh ngạc, vì giá trị tài sản giàu lên một cách nhanh chóng, mà còn khiến mọi người ngạc nhiên hơn nữa bởi lối sống giản dị khác thường của mình. Anh mặc một bộ quần áo mỗi ngày, ở trong căn nhà, và lái chiếc xe thuộc tầng lớp trung lưu ở Mỹ.

Mark Zuckerberg thành lập Công ty mạng xã hội toàn cầu Facebook vào năm 2004, là một trong những Công ty có lợi nhuận cao nhất thế giới. Năm 2016, theo đánh giá của Tạp chí Forbes, giá trị tài sản mà Tỷ phú trẻ nhất thế giới có là 51,6 tỷ đô la.

Mặc dù có một khối tài sản khổng lồ như vậy, tiền đủ để anh chi tiêu trong 10 kiếp sống xa hoa, nhưng cuộc sống sinh hoạt của anh còn đơn giản, và đạm bạc hơn cả cuộc sống của những gia đình trung lưu ở Mỹ nữa.  Anh thường đi lại bằng chiếc xe bình dân Honda Fit trị giá 16.000 đô la thôi !.

 

 

 

 

 

 

Tuy nhiên, cũng giống như gia đình trung lưu ở Mỹ, Zuckerberg cũng có thêm hai chiếc xe khác, không phải là những chiếc xe siêu sang đắt tiền, mà là chiếc Acura TSX, có giá bán tại Mỹ là 30.000 đô la, và chiếc Volkswagen Golf có giá khoảng 18.000 đô la. Trước khi kết hôn, anh chỉ sống trong một căn chung cư nhỏ được thuê lại. Sau khi cưới Priscilla Chan vào năm 2012, anh và gia đình nhỏ của mình đã chuyển đến sống trong một căn biệt thự, nhưng thực tế nhiều gia đình trung lưu ở Mỹ còn sống trong những căn biệt thự xa hoa hơn của anh rất nhiều lần.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Anh không chỉ đi lại bằng chiếc xe bình dân, anh còn thường đến các trạm xăng tự phục vụ để đổ xăng cho chiếc xe hơi của mình. Nhìn thấy cảnh tượng này, thật khó để có thể tưởng tượng anh đang có khối tài sản lên đến hơn 50 tỷ đô la.

 

 

 

 

 

 

Thực tế thì, ngoài việc không đi những chiếc xe hơi siêu sang như các đại gia giàu có khác, Mark Zuckerberg còn mặc một bộ quần áo cực giản dị mỗi ngày, đó là chiếc áo phông ngắn tay màu xám. Mệnh danh là một trong những Tỷ phú giàu nhất thế giới, cả hai vợ chồng đều rất hiếm khi mặc hàng hiệu. Nếu như ai đó chưa từng biết về sự giàu có của anh, họ cũng chỉ nghĩ vợ chồng anh cũng chỉ giống như cặp vợ chồng bình thường khác mà thôi.

 

 

 

 

 

 

 

Năm Mark Zuckerberg học Đại học Harvard đã gặp được vợ mình, cô Priscilla Chan, trong một lần cả hai cùng đứng xếp hàng chờ sử dụng nhà vệ sinh công cộng. Hai người đã cùng nhau trải qua thời gian 9 năm yêu đương. Ngay cả khi trở thành một người giàu có, hai người vẫn duy trì một lối sống như thời còn là Sinh viên, vẫn thường mua thức ăn tại một quán nhỏ gần nhà, thỉnh thoảng còn mua thức ăn nhanh. Có những lúc, họ ngồi lại cùng nhau, truyền cho nhau cảm hứng và khơi gợi những ý tưởng mới mẻ.

Hai người kết hôn năm 2012, nhưng đã không tổ chức một “Đám cưới Thế kỷ”. Họ chỉ tổ chức một đám cưới rất đơn giản, tại sân sau của căn nhà anh đang ở, vị khách tham dự là những người bạn thân thiết, và người thân trong gia đình thôi !.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Anh cũng không tặng vợ nhẫn kim cương đắt tiền. Chiếc nhẫn cưới anh tặng vợ là chiếc nhẫn mặt đá ruby được đặt thiết kế tối giản nhất theo ý tưởng bản vẽ của riêng anh.

Rất nhiều người không hiểu được lý do vì sao anh sống đơn giản như thế, đặc biệt là người Mỹ. Họ thường có những câu hỏi: “Anh là một thanh niên trẻ tuổi, lại có rất rất nhiều tiền, sao lại mua chiếc xe trị giá hơn 10 ngàn đô la? Vậy, anh dùng tiền vào việc gì?” Kỳ thực, cả hai vợ chồng anh Zuckerberg đều có một ước nguyện chung là kiếm tiền vì mục tiêu lợi ích xã hội. Ngày 23/9/2013, Mark Zuckerberg đã quyên tặng 100 triệu đô la để giúp sửa chữa các trường học tại Newark, Tiểu bang New Jersey, Mỹ. Số tiền quyên tặng đạt cao nhất trong những người trẻ ở Mỹ làm từ thiện. Ngày 10/2/2014, tờ Chronicle of Philanthropy đưa tin: Vợ chồng Mark Zuckerberg đã dẫn đầu nước Mỹ trong bảng xếp hạng người làm từ thiện.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chia sẻ về lối sống giản dị của mình, Zuckerberg nói: “Để cho cuộc sống trở nên đơn giản nhất, không mất quá nhiều thời gian và tâm sức để nghĩ ngày hôm nay mặc gì, tôi đã mua cả kiện áo phông có màu sắc giống nhau. Bởi vì chuyện nhỏ nhặt này rất dễ khiến tinh thần mệt mỏi, tôi cũng không muốn hao tổn năng lượng cho những việc như thế. Tôi dùng tất cả tinh lực vào công việc, làm sao phục vụ xã hội được tốt hơn … đó mới là việc trọng yếu !.”

Zuckerberg cho biết: “Tôi thực sự may mắn, với mỗi sáng thức dậy có thể giúp đỡ hàng tỷ người. Nếu như đem tinh lực lãng phí vào những việc không cần thiết, tôi sẽ cảm thấy bản thân mình không làm việc !.”

Mark Zuckerberg là người trẻ nhất toàn thế giới gây dựng Công ty bạc tỷ, không lái siêu xe, nhưng lời nói của anh lại rất có sức nặng đối với thế hệ trẻ. Trong suy nghĩ của Zuckerberg, tiền không phải là vấn đề quan trọng nhất. Nguyện vọng đời này của anh là làm thế nào để biến những lý tưởng của mình thành hiện thực, để giúp đỡ được càng nhiều người hơn. Nhìn vào cuộc sống bình dị của anh, chúng ta thật sự phải suy ngẫm lại về giá trị của sự giàu sang. Sự giàu có không phải thể hiện ở việc mình có bao nhiêu tiền, mà là ở chỗ mình có thể cho đi bao nhiêu, mình sử dụng nó vào mục đích gì. Anh không chỉ khiến con người nể phục khả năng làm giàu mà còn là tấm gương về sự giúp đỡ và cho đi.

Anh chị Thụ & Mai gởi

TÌNH TRẠNG SA SÚT TRÍ NHỚ

 TÌNH TRẠNG SA SÚT TRÍ NHỚ            

        Bs. Lương Lễ Hoàng
                                                                                                                 

                          Mời đọc để hiểu tại sao mình hay quên.

                                     Đừng tưởng ngưởi già mới lẫn. Tình trạng sa sút trí nhớ đến độ“vừa nghe đã quên” của người trẻ từ lâu đã vượt xa mức báo động. Ai chưa tin xin thử xem có bao nhiêu người nhớ nổi số… driver license !

Nhiều người quên tuốt luốt, quên giờ vào sở, quên luôn công việc, quên cả vợ con, đến độ sau giờ làm việc phải ngồi hàng giờ ở bàn nhậu để cố nhớ nẻo về nhà, thậm chí quên hết đến độchỉ còn nhớ có mỗi ngày… lãnh lương!

Chuyện gì cũng có lý do.

Bộ nhớ mau hư thường vì nạn nhân chính là thủ phạm, do thiếu nhiều thứ cùng lúc lại thừa vài món trong cuộc sống thường ngày. Đó là :

 * Thiếu ngủ

Không kể người lỡ chọn nghề trực đêm, thiếu ngủ vì thức quá khuya, dường như là “mốt” của nhiều cư dân trong các thành phố.

Kẹt một điểm là chất lượng của trí nhớ gắn liền với độ sâu của giấc ngủ, theo kết quả nghiên cứu ở Đại học Schleiweg-Holstein.

Nhưng nếu tưởng như thế chỉ cần dùng thuốc ngủ để ngủ chođược nhằm tăng cường trí nhớ thì lầm.

Thuốc an thần tuy tạo được giấc ngủ, nhưng não bộ đồng thời cũng mê một lèo, khiến bộ nhớ quên luôn công việc.

* Thiếu nước:

Não lúc nào cũng tiêu thụ không dưới 20% năng lượng của cơthể riêng cho chức năng tư duy.

Não vì thế rất cần nước và chất đường sinh năng.

Theo chuyên gia ở Đại học Erlangen, uống không đủ nước trong ngày lại thêm bữa ăn chiều thiếu chất ngọt là một trong các lý do khiến tín hiệu thần kinh vừa nhập vào lại ra ngay, cứ như nướcđổ đầu vịt.

 * Thiếu dầu mỡ

Chất béo loại cần thiết cho cấu trúc của tế bào thần kinh như 3-Omega, Acid Linoleic… là món ăn chính của não bộ.

Đừng tưởng kiêng cử là béo tốt cho não.   Trái lại là khác.

Tất nhiên đừng để tăng chất mỡ máu vì đó là yếu tố bất lợi cho hoạt động của bộ não.

Nhưng thiếu mỡ cũng tai hại tương tự.

 * Thiếu dưỡng khí

Thêm vào đó, não không thể dán tín hiệu thần kinh, dù là hìnhảnh hay âm thanh vào bộ nhớ nếu tế bào thiếu dưỡng khí vìthiếu máu.

Chính vì thế mà nhiều thầy thuốc khuyên dùng cây thuốc có công năng cải thiện hàm lượng dưỡng khí trong não bộ ngay cảcho người chưa phát hiện triệu chứng “đụng đâu quên đó”.
 

Thiếu vận động

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy người cao  tuổi nếu vận động thể dục thể thao trong ngày thì ít quên hơn người không vận động.

Theo các nhà nghiên cứu về lão khoa ở Hoa Kỳ, vận động trong ngày là điều kiện để bộ não không thiếu dưỡng khí trong đêm.

Cũng không cần hình thức thái quá, nhẹ nhàng thôi, như đi bộ, bơi, chạy xe, khí công…, miễn là ngày nào cũng có.
 

Thiếu tập luyện

Muốn não “bén nhọn” như xưa mà không tập luyện chẳng khác nào chưa học bài.

Chơi ô chữ, sudoku, học ngoại ngữ, vẽ  tranh…, kiểu nào cũng tốt, càng nhiều cách giải trí càng hay, miễn là đừng ngồi yên mỗi ngày nhiều giờ trước máy truyền hình vì đó là hình thức tai hại cho bộ não.

 * Thừa Stress

Bôi sạch bộ nhớ là một trong các phản ứng phụ của  nội tiết tốnẩy sinh trong tình huống Stress.

Biết vậy nên tìm cách pha loãng Stress bằng thể dục thể thao, thiền định, kiểu nào cũng được, miễn vui là chính.

Thêm vào đó, đừng tự đầu độc cơ thể và bộ não bằng thuốc lá, rượu bia, thịt mỡ…

Với bộ não “ngập rác” thì quên là cái chắc, vì đâu còn chỗ nào để nhớ 

* Thừa chất oxy-hóa

Hàm lượng chất gây rỉ sét tế bào,  sản sinh từ rối loạn biến dưỡng, độc chất trong môi trường ô nhiễm, khói thuốc lá, độcồn, phụ gia trong thực phẩm công nghệ, hóa chất trong dược phẩm… càng cao, tế bào não càng mau già trước tuổi.

Cầm chân chất oxy-hóa bằng hoạt chất kháng oxy-hóa , vì do’ là biện pháp chinh’ để bộ nhớ đừng mau “hết đát”.

 Hãy đừng “đem não bỏ chợ” qua lối sống chẳng khác nào có thù sâu với  não bộ.

Nếu đối xử với não bạc bẻo thì đừng trách có lúc “có vay có trả”!

 Bs. LƯƠNG LỄ HOÀNG

 

Ai lên xứ hoa đào – Dậu Nguyễn

httpv://www.youtube.com/watch?v=dRrqXSpYDEI&list=PLYNu2WsZ1JUhQ7J1GGZCKRwWY41IaYbRS

Ai lên xứ hoa đào – Dậu Nguyễn

“Ai lên xứ hoa đào”. Nhạc và lời: Hoàng Nguyên. Tiếng hát: Tâm Đoan. Hình ảnh và video clips: Internet. Nhạc cảnh: Dậu Nguyễn.

Cá nuôi bè ở Vũng Tàu chết hàng loạt

Cá nuôi bè ở Vũng Tàu chết hàng loạt

RFA
2017-04-07
 
 
 

Cá chết hàng loạt ở Việt Nam hôm 3/10/2016.

Cá chết hàng loạt ở Việt Nam hôm 3/10/2016.

AFP photo
 
 
 

Hiện tượng cá chết hàng loạt lại xảy ra đối với các lồng cá bè nuôi trên sông Chà Và, xã Sơn Long, thành phố Vũng Tàu.

Tin loan đi ngày 7 tháng tư cho hay trong 5 ngày qua cá nuôi trong lồng bè tại hộ của ông Nguyễn Văn Lợi đã chết trắng với số lượng 30.000 con. Đặc biết đây là những loại cá giống vừa được thả trong một vài tháng. Ông Lợi còn cho biết không chỉ cá mà tôm nuôi cũng chết với số lượng lớn. Những bè nuôi cá lồng sát với bè ông Lợi cũng xảy ra chuyện cá chết bất ngờ hàng loạt.

Người dân địa phương báo cáo  nguyên nhân cá chết là do nước thải từ cống số 6 chảy ra sông Chà Và và gây ô nhiễm nguồn nước. Hôm 6 tháng tư, Chi  Cục Thủy Sản tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu, đến kiểm tra và thống kê, cho biết khoảng 45.000 con cá giống đã chết.

Trước đó báo chí trong nước từng đưa tin về việc nguồn nước tại hồ  chứa nước thải ở khu vực cống số 6  chuyển màu và bốc mùi hôi thối. Người dân tin rằng dòng nước bị ô nhiễm này chảy thoát ra nước sông Chà Và khiến hàng trăm hộ dân nuôi cá ở đây bị tác động.

Lãnh đạo địa phương đang cam kết làm rõ và xử lý việc này.

Báo VN nói Nguyễn Văn Hóa nhận ‘ngàn đô’ để kích động

Báo VN nói Nguyễn Văn Hóa nhận ‘ngàn đô’ để kích động

  • BBC          
hóa
Bản quyền hình ảnh   OTHER
Nguyễn Văn Hóa bị bắt hôm 11/1/2017 vì vi phạm Điều 258

Báo điện tử của Chính phủ Việt Nam cáo buộc một nhà hoạt động bị bắt từ hồi tháng Giêng “nhận 1.500 đôla mỗi tháng từ các đài, trang mạng nước ngoài để viết phóng sự xuyên tạc, kích động” vụ Formosa.

Nhà hoạt động Nguyễn Văn Hóa, 22 tuổi, ở tỉnh Hà Tĩnh, bị bắt hồi tháng 1/2017 vì “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo Điều 258 Bộ luật Hình sự.

Nơi gia đình ông Hóa sinh sống là gần huyện Kỳ Anh, cách nhà máy Formosa khoảng 18km.

Cùng lúc có ý kiến nói khó có khả năng một người mới 22 tuổi như ông Hóa lại “kích động được hàng ngàn người”.

Báo điện tử của Chính phủ Việt Nam hôm 6/4 tường thuật “Nguyễn Văn Hóa tham gia biểu tình tại cổng chính công ty Formosa, dùng flycam quay và truyền trực tiếp lên mạng xã hội, đồng thời trực tiếp hô hào, kích động người dân theo sự chỉ đạo của một số đối tượng cực đoan, nhằm gây mất an ninh trật tự, đập phá tài sản của Formosa.”

“Hóa sử dụng tài khoản Facebook để đăng tải các video, hình ảnh kích động biểu tình sau sự cố môi trường biển, lũ lụt trên địa bàn Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình do y quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn người dân,” bài báo viết.

“Hóa nhận tiền của các tổ chức, cá nhân; ký hợp đồng với một số đài, trang mạng nước ngoài với mức 1.500 đôla mỗi tháng để viết 16 phóng sự với các thông tin xuyên tạc, kích động…”.

Báo này cáo buộc “Vì đồng tiền trước mắt, Nguyễn Văn Hóa đã trở thành con rối trong tay Việt Tân và các đối tượng cực đoan để chống Đảng, Nhà nước, thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của quê hương.”

‘Bớt đi một chút’

Hôm 7/4, trả lời BBC từ Hà Tĩnh, bà Nguyễn Thị Huệ, chị của ông Hóa nói: “Gia đình cũng đã xem bài báo về Nguyễn Văn Hóa nhưng những thông tin trong bài đúng sai thế nào thì gia đình chưa thể trả lời được.”

“Chúng tôi là những người nhà quê ở nông thôn, không hiểu biết nhiều về Điều 258, pháp luật và mạng xã hội, nên có những việc Hóa làm thì gia đình lại là những người biết sau cùng.”

“Trong lần đi thăm Hóa cuối tháng 3/2017, Hóa đã từ chối việc mời luật sư mà muốn tự mình đứng ra bào chữa cho bản thân.”

“Do vậy chỉ mong em tôi được khoan hồng khi ra tòa, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn. Gia đình cũng mong Hóa bớt đi một chút trong những việc em nó làm.”

“Về chuyện Hóa có nhận tiền từ nước ngoài hay không thì nói thật là gia đình không biết, do em nó thường đi làm xa, vắng nhà thường xuyên.”

“Hiện tại thì gia đình chỉ biết cầu nguyện cho Hóa mỗi ngày.”

Cùng ngày, nhà hoạt động Chu Mạnh Sơn, người tham gia truyền thông từ các tỉnh miền Trung về thảm họa cá chết trên mạng xã hội, nói với BBC: “Tôi thấy cáo buộc của chính quyền rằng Nguyễn Văn Hóa vi phạm Điều 258 là rất vô lý, không đúng sự thật.”

“Một người mới ở tuổi 22 như Hóa thì có lẽ chưa đủ tầm để kích động hàng ngàn người cùng tham gia biểu tình trước cổng nhà máy Formosa hồi tháng 10/2016.”

Có thể Hóa bị bắt là vì đã truyền tải thông tin đúng sự thật về các cuộc biểu tình trên mạng xã hội và đó là điều chính quyền lo sợ và muốn ngăn chặn.”

“Bản thân tôi cũng từng bị chính quyền câu lưu, cáo buộc tội kích động và nhận tiền từ nước ngoài, nhưng do họ không có bằng chứng nên phải trả tự do cho tôi.”

“Tôi nghĩ mỗi khi chính quyền quyết định bắt một người thì vấn đề không phải là có bằng chứng hay không, mà là yếu tố thời điểm và hoàn cảnh.”

“Có thể họ muốn trấn áp một người để làm cho những nhà hoạt động khác và người dân lo sợ.”