Diễu hành tưởng niệm thảm họa môi trường Formosa bị chặn

Diễu hành tưởng niệm thảm họa môi trường Formosa bị chặn

an ninh
Bản quyền hình ảnh   GREEN TREES
Hầu hết tất cả những người đạp xe đạp ngang qua Bộ Tài nguyên-Môi trường đều bị chặn và kiểm tra

Cuộc diễu hành xe đạp tưởng niệm một năm thảm họa môi trường Formosa do một nhóm hoạt động vì môi trường đã bị chính quyền cản trở, có người bị câu lưu.

Nhóm Green Trees dự định tổ chức cuộc tuần hành đạp xe từ 9 giờ sáng Chủ nhật 9/4 đi từ trụ sở Bộ Tài Nguyên và Môi trường đến Văn phòng Quốc Hội, ông Nguyễn Anh Tuấn – một thành viên của nhóm, cho biết.

“Hầu hết những gương mặt từng xuống đường tham gia các cuộc biểu tình diễu hành trước đây đều bị chặn cả. Chỉ có rất ít người xuất hiện ở điểm hẹn gặp,” ông Tuấn nói.

“Cả hai đầu phố đều có lực lượng dân phòng, cảnh sát giao thông, an ninh. Hầu hết những ai đi xe đạp đều bị mời về đồn công an,” ông nói thêm.

 

Sau khi kế hoạch tuần hành buổi sáng không thành công, nhóm vẫn dự định tập họp vào buổi chiều tại một địa điểm khác nhưng bị lộ thông tin.

“Chúng tôi chưa kịp đến địa điểm mới thì an ninh họ đã phục sẵn ở đó. Có thể là một trong nhóm không đáng tin cậy hoặc một số người bị bắt từ sáng thì thông tin trên điện thoại của họ đã không được bảo mật.”

Ông Tuấn nói ông cùng một số người khác bị đưa lên đồn công an vào tầm chiều.

Những người tham gia diễu hành và người nhà
Bản quyền hình ảnh    GREEN TREES
Người tham gia diễu hành bị câu lưu

“Họ lấy điện thoại, tước quyền tự do đi lại, tài sản cá nhân cho nên khi tôi cố cáo hành vi bắt bớ tù đày, họ không thể trả lời được,” ông Tuấn cho biết.

“Mục tiêu của buổi tuần hành là để thúc đẩy việc xử lý giải quyết thảm họa môi trường do Formosa gây ra, nhưng buổi tuần hành đã thất bại.”

“Tuy nhiên còn cả một lộ trình dài phía trước, có thành có bại, nên việc thất bại lần này không ảnh hưởng quá lớn đến quyết tâm chung của nhóm hay cá nhân nào,” ông Tuấn nói.

Một người khác trong nhóm cũng bị đưa lên đồn là ông Đặng Vũ Lượng thì nói cuộc tuần hành là để thảm họa môi trường do Formosa gây ra không bị quên lãng, rất nhiều vấn đề vẫn còn tồn đọng, nhất là những người dân chưa được đền bù thỏa đáng.

Ông Lã Việt Dũng cho BBC biết ông bị chặn từ 6 giờ sáng hôm 9/4 đến tận gần 4 giờ chiều.

“Nhà tôi có hai đường, từ 6-10 người đứng đông ở hai ngõ, tầm 3 giờ rưỡi tôi có việc thì họ chặn xe, họ đưa giấy mời tôi lên phường,” ông Dũng nói.

“Họ làm quyết liệt như vậy vì họ sợ người dân, họ không muốn người dân nói lên những vấn đề tiêu cực trong xã hội,” ông nói thêm.

Tỷ phú từ thiện 8 tỷ USD: Sinh ra tay trắng, cuối đời trắng tay

Tỷ phú từ thiện 8 tỷ USD: Sinh ra tay trắng, cuối đời trắng tay

Tỷ phú Chuck Feeney là người đầu tiên ở Mỹ bỏ ra số tiền lớn là tài sản của mình để làm từ thiện. Ông chính thức rỗng túi, đi ở thuê vào tuổi ngoài 80, nhưng đã hoàn thành khát vọng “cho đi khi còn đang sống”.

“James Bond” của giới từ thiện

Tỷ phú Charles F. Feeney (1931) là một người Mỹ gốc Ireland. Ông thường được gọi với cái tên thân mật Chuck Feeney, thời gian gần đây ông được giới truyền thông Mỹ đặt cho biệt danh “James Bond của giới từ thiện”.

Vị tỷ phú Mỹ này nói thông thạo 2 tiếng Pháp và Nhật, là người xây lên đế chế các cửa hàng miễn thuế. Từ nhỏ, ông đã nghỉ ra đủ mọi cách để kiếm tiền như: gõ cửa từng nhà để bán thiệp Giáng sinh, dọn tuyết trên đường hay nhặt bóng trên sân golf,…

Tỷ phú Charles F. Feeney năm 2007.

Charles F. Feeney bắt đầu sự nghiệp kinh doanh cùng với bạn học cùng đại học từ đầu thập niên 1950: bán rượu không thuế cho thủy thủ Mỹ. Sau đó, ông bán xe hơi cho cho lính Mỹ và lập nên chuỗi cửa hàng miến thuế (DFS) ở các cửa khẩu, với doanh thu đạt 3 tỷ USD/năm.

Vào những năm 60, khi Nhật Bản tổ chức thế vận hội và dỡ bỏ hạn chế du lịch nước ngoài, Chuck Feeney đã chộp cơ hội này để thu tiền của khách du lịch Nhật. Đó là những khoản tiết kiệm khổng lồ người Nhật bỏ ra mua sắm rượu, nước hoa, đồ trang sức miễn thuế,… tại các địa điểm nổi tiếng như Hawaii, Hong Kong, San Francisco, Saipan và Guam…

Mặc dù kiếm được rất nhiều tiền từ rất sớm, với tổng tài sản theo New York Times lên tới 8 tỷ USD, nhưng Chuck Feeney có cuộc sống riêng tư rất bình lặng và đơn giản, không xa hoa, không bao giờ thắt cà-vạt Hermes hay mang giày Gucci. 

New York Times tiết lộ, trong nhiều năm ở New York, bữa trưa của ông không phải ở các nhà hàng sang trọng mà là ở khu nhà Irish Pavillion Tommy Makem trên phố East 57th – nơi ông ăn bánh mì kẹp thịt.

Feeney kín tiếng tới mức, mãi tới 1988, thế giới mới biết đến sự giàu có của ông. Khi đó, lần đầu tiên Forbes ước tính Feeney có khoảng 1,3 tỷ và xếp thứ 31 tại Mỹ. Tuy nhiên, tài sản thực của ông vẫn là một ẩn số, chỉ sau những lần làm từ thiện, thế giới mới biết được.

Công chúng còn kinh ngạc về cuộc sống giản dị và tiết kiệm tới mức tối đa. Ông keo kiệt với bản thân, gia đình nhưng hào phóng với người dưng. Ông ghét sự phung phí, không muốn con cái trở thành con nhà giàu hư hỏng và bắt chúng làm hầu bàn, bồi phòng khách sạn, thu ngân trong các kỳ nghỉ hè ngay từ khi còn nhỏ.

Sự hà khắc của Feeney không làm cho con cái khó chịu, thậm chí con gái đầu của Feeney còn cho rằng, cách làm của người cha đã giúp họ sống như những người bình thường khác, làm được việc đáng làm và vẫn có đủ tiền để chi tiêu cho cuộc sống.

Làm từ thiện ở khắp 5 châu.

Theo quan điểm của vị tỷ phú này, “bạn chỉ có thể mặc một chiếc quần vào cùng một thời điểm”. Ông thích kiếm tiền nhưng không muốn sở hữu chúng, tiền quá nhiều cũng không thể đem ra tiêu xài hết. Một thời gian dài, ông sống trong căn hộ đi thuê và toàn bộ tài sản được dần hiến tặng cho các tổ chức từ thiện. Các con ông cũng phải tự lăn lộn kiếm sống khi đến tuổi trưởng thành. Feeney cho biết, đây chính là cách để ông giáo dục các con biết quý trọng giá trị của đồng tiền.

 “Sinh ra tay trắng thì khi trở về cũng phải trắng tay”

Suốt hơn 30 năm qua, Chuck Feeney đã đi khắp thế giới để làm từ thiện từ tài sản 8 tỷ USD của mình, tập trung và giáo dục, khoa học, chăm sóc y tế,… tại Mỹ, Úc,Việt Nam, Nam Phi và Ireland.

Quỹ từ thiện Atlantic Philanthropies do ông sáng lập đã rót khoản tiền cuối cùng trị giá 7 triệu

USD vào cuối 2016 cho Đại học Cornell nhằm hỗ trợ sinh viên làm công tác dịch vụ cộng đồng. Chuck Feeney đã hoàn thành khát vọng “cho đi khi còn đang sống” và chính thức rỗng túi.

Trả lời trên tờ New York Times, ông Feeney cho biết: “Bạn luôn lo lắng khi phải quản lý quá nhiều tiền như thế, nhưng chúng tôi dường như đã làm việc đó khá tốt”.

Tới đầu 2017, tổng giá trị tài sản còn lại của Feeney là hơn 2 triệu USD. Hiện ông và vợ (Helga) đang sống trong một căn hộ thuê ở San Francisco.

Tại Việt Nam, quỹ Atlantic bắt đầu rót tiền vào chỉ vài năm sau khi chiến tranh kết thúc, tài trợ bắt đầu từ miền Trung như xây dựng trường Đại học Đà Nẵng.

Cho đến nay, 2 người còn gái của ông là: Diane Feeney và Juliette Feeney cũng tiếp tục theo gót cha làm từ thiện. Họ làm chủ tịch của một số tổ chức từ thiện của gia đình và cộng đồng.

Quỹ Atlantic Philanthropies của Feeney bắt đầu sứ mệnh “làm rỗng túi” từ năm 1982 với ước mơ muốn tạo ra sự thay đổi lớn cho cuộc sống của những người gặp khó khăn. Ông ước mơ mang lại hòa bình cho Bắc Ireland, hiện đại hóa hệ thống chăm sóc y tế của Việt Nam hay biến Roosevelt Island của New York trở thành một trung tâm công nghệ.

Tỷ phú Chuck Feeney đã quyên tặng tổng cộng 8 tỷ USD tài sản và giờ chỉ còn lại 2 triệu USD.

Cho đến nay, Feeney đã xây cả ngàn tòa nhà khắp châu lục, nhưng tên của ông không hề xuất hiện trong bất cứ công trình nào, từ trên các viên đá ốp tòa nhà hay trong các văn bản. Trong nhiều năm, quỹ Atlantic Philanthropies của Feeney yêu cầu những người được hưởng lợi không được công khai sự tham gia giúp đỡ của họ.

“James Bond” của giới từ thiện cho biết, ông làm từ thiện và quyên tặng hết tài sản rất đơn giản là bởi vì, “vải liệm không có túi”, người chết ra đi không mang được gì. Con người “sinh ra tay trắng thì khi trở về cũng phải trắng tay”.

Khối tài sản lớn cuối cùng được Chuck Feeney quyên tặng vào cuối năm ngoái. Ông Feeney giờ 86 tuổi và quỹ Atlantic Philanthropies theo kế hoạch sẽ đóng cửa vào năm 2020.

Giàu có không lộ diện, nhiều tiền không tiêu xài sang, làm từ thiện không cần ghi danh nhưng những việc làm của ông được cả thế giới biết đến. Hành động cao cả của Feeney là động lực cho nhiều người, là nguồn cảm hứng cho cả những người rất giàu có và nổi tiếng, cũng hay làm từ thiện như Bill Gates và Warren Buffett.

 V.Hà (tổng hợp)

Anh chị Thụ & Mai gởi

NGÔI MỘ TRỐNG

NGÔI MỘ TRỐNG

(Gioan 20,1-9 – CN PHỤC SINH – Ban ngày)

Lm FX Vũ Phan Long, ofm

1.- Ngữ cảnh

Chúng ta đã sang phần ii của TM Ga, gọi là “Sách về Giờ của Đức Giêsu” với hai phần chính: (1) Đức Giêsu cáo biệt khi đến Giờ (tại Bữa tối cuối cùng) (Ga 13–17); (2) Giờ của cuộc Khổ Nạn-Chết-Sống lại của Đức Giêsu (18,1–20,29).

Phần ii có cấu trúc như sau:

A (18,1-14+) : Đức Giêsu uy nghi toàn năng trước Giuđa kẻ phản bội và nhóm đi bắt Người.

B (18,12-27) : Đức Giêsu bị xử trước thượng tế và các lần Phêrô chối tư cách môn đệ.

C (18,28–19,16b) : Cuộc xử án và kết án Đức Giêsu, vua dân Do Thái, do Philatô thực hiện.

C’(19,16c-42) : Vua dân Do Thái chịu đóng đinh, chết và được an táng trên đồi Gôngôtha.

B’(20,1-18) : Phêrô và người môn đệ Chúa yêu tại mồ trống và Đức Giêsu hiện ra với Maria Mácđala.

A’(20,19-29) : Các lần Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ và Tôma người không tin.

2.- Bố cục

Bản văn Ga 20,1-10 có thể chia thành hai phần:

1) Thời gian: Sáng sớm ngày thứ nhất, Maria Mácđala ra mộ (20,1-2);

2) Hành động chính: Phêrô và Gioan ra mộ (20,3-10).

3.- Vài điểm chú giải

– lúc tảng sáng (1): Prôi, dịch sát là “lúc sớm trong buổi sáng”. Đây là canh cuối theo cách chia của người Rôma, từ 3-6 giờ sáng (người Rôma tính giờ bắt đầu từ nửa đêm).

– Maria Mácđala (1): TM Ga chỉ nêu tên một mình bà Maria Mácđala; Mt nêu tên hai bà; Mc nêu ra ba bà; còn Lc (24,10) nêu tên ba bà “cùng với các phụ nữ khác”. Có lẽ truyền thống Nhất Lãm sát thực tế hơn, bởi vì khó mà cho rằng một phụ nữ lại dám đi một mình trong lúc trời còn nhá nhem đến nơi hành hình ở bên ngoài tường thành. Với lại chính câu nói của bà: “Và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu” gợi ý là có nhiều phụ nữ ở với bà. Ngoại trừ Lc 8,2 đã đặt bà Maria Mácđala vào thời gian Đức Giêsu hoạt động công khai và giới thiệu như là người được trừ khỏi bảy quỷ, bà chỉ được nhắc đến trong liên hệ với cuộc đóng đinh và với mộ trống mà thôi. Biệt danh của bà cho thấy là rất có thể bà xuất thân từ thành Mácđala, ở về phía bờ biển tây bắc của Hồ Galilê, cách Caphácnaum khoảng bảy dặm về phía tây nam.

– đi đến  mộ (1): Ga không xác định lý do. Mc và Lc cho biết là các phụ nữ mang dầu thơm đến để tẩm liệm thi hài Đức Giêsu. Mt chỉ nói là các bà đến để nhìn xem mộ, có lẽ vì Mt đã kể là mộ có lính canh nên các bà không thể vào mộ được.

– bà … thấy (1): TM IV có bốn động từ để diễn tả cái nhìn, từ cái nhìn thể lý nhất đến cái nhìn chiêm ngưỡng sâu sắc nhất, đó là: blepeintheôreintheasthai, horan [idein]. Các chuyên viên cho rằng “thấy” ở đây là blepein, cấp thấp nhất, nói về cái nhìn mang tính vật chất, cái nhìn bằng mắt thịt (x. ch. 9; 21,9), và như thế blepein không có một ý nghĩa đặc biệt. Dù vậy, vẫn có những ngoại lệ: 5,19 (Đức Giêsu thấy Chúa Cha) và 9,39 (hẳn là tác giả có ý chơi chữ ở đây: dùng một động từ với hai nghĩa).

Theôrein có nghĩa là nhìn tập trung, tức là phải có nhiều thì giờ hơn blepein, do đó cũng hàm ý một sự hiểu biết sâu xa hơn; cái nhìn này đưa đến chỗ chấp nhận Đức Giêsu là một con người đặc biệt, có khả năng làm các việc kỳ diệu, nhưng chưa phải là đức tin tròn đầy (x. 2,23; 4,19; 6,2.19;20,12.14). Tuy nhiên cũng có ngoại lệ: 6,40; 17,24; còn 14,17 có lẽ là một kiểu chơi chữ với hai nghĩa.

Horan (idein) có nghĩa là cái nhìn kèm theo sự hiểu biết đích thực, tức đưa tới đức tin (20,8.25). Câu 16,16 có cách dùng các động từ như thế: “Một ít nữa, anh em sẽ không thấy Thầy (= theôrein), rồi một ít nữa, anh em sẽ xem thấy (= horan) Thầy”. Xem thêm 1,34.50.51; 3,11.32; 11,40; 14,7.9; 19,35.37; 20,29. Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ, khi horan được dùng theo nghĩa thể lý: 1,39; 5,6; 4,45.48; 6,14.22.24.30.36; 7,52; 12,9 (horan = theôrein).

Theasthai được một vài nhà chú giải dịch là “chiêm ngưỡng”, với nghĩa là hiểu ý nghĩa sâu xa của các sự việc đang xảy ra (x. 1,14; 4,35) và nếu dựa vào 1 Ga 1,1, dường như horan là cấp thấp hơn theasthai (“điều chúng tôi đã thấy [horan] tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng [theasthai]”). Tuy nhiên, ở 1,38  và 6,5, theasthaidường như chỉ có nghĩa là nhìn thấy thể lý; ở 1,32 (= 1,34); 11,45, theasthai lại được dùng đồng nghĩa với horan. Bởi vì theasthai không được dùng nhiều và phong phú như horan, chúng tôi tạm xếp theasthai vào cấp thứ ba.

– tảng đá (1): Tác giả viết y như thể độc giả biết rõ tảng đá này. Cũng như tác giả Lc, tác giả Ga không nói đến việc niêm phong tảng đá (x. Mt 27,66) hay niêm phong ngôi mộ bằng một tảng đá.

– đã cất khỏi mồ (1 – NTT): Các TMNL nói là “đã được lăn ra” (Mc 16,4; Mt 28,2; Lc24,2 dùng động từ apokyliô, “lăn đi xa”, ở thái bị động); Ga thì nói “đã được cất (êrmenos] khỏi mồ”. Ngành khảo cổ xứ Paléttina cho thấy là có những ngôi mộ nằm ngang và cửa vào các ngôi mộ này nhỏ hẹp, có khi cao chỉ gần một thước, nên người lớn thì phải trườn mà vào. Người ta có thể niêm mộ bằng một tảng đá chắn ngay cửa vào. Nhưng cũng có những ngôi mộ rộng hơn thì cửa được chắn bằng một tảng đá có thể lăn tròn theo một cái rãnh ở ngang cửa vào, giống như một cánh cửa lùa. Ngôi mộ rộng bên trong có thể có một gian ngoài; gian trong mới dành để mai táng người quá cố. Có nhiều cách mai táng: có khi người ta khoét những cái hầm đục vào sâu trong vách đá và đẩy thi hài vào trong đó, đầu đi trước; có khi người ta lại đẽo vào đá để làm thành những tầng có những cái ổ bán cung (như một cái kệ) cách mặt đất chừng nửa thước để đặt thi hài vào; có khi người ta đặt một băng bằng đá sát vách và đặt thi hài lên. Dường như Đức Giêsu được mai táng trong một ngôi mộ rộng và theo cách cuối cùng.

– Bà liền chạy về (2): Maria Mácđala đã nhìn vào mộ nên phát hiện ra là thi hài không còn ở đó nữa, hay là bà suy diễn ra từ sự kiện ngôi mộ không còn bị niêm phong? Người ta thường theo giả thuyết thứ nhất vì hiểu theo lẽ thường; nhưng cứ theo bản văn TM IV thì phải hiểu theo giả thuyết thứ hai, bởi vì trời còn tối và bởi thông tin là đến c. 11, bà mới “cúi xuống nhìn vào trong mộ”. Nhiều người giải quyết khó khăn này bằng cách cho rằng lúc đầu c. 11 đi theo c. 1.

– gặp ông Simôn Phêrô (2): Người ta thường cho rằng Maria đi tìm Phêrô vì ông là thủ lãnh các môn đệ Đức Giêsu. Nhưng đơn giản hơn, nên nhớ rằng Phêrô không chạy trốn với các ông khác và ông ở gần Đức Giêsu khi Người bị giới chức Do Thái thẩm vấn (Ga 18,27).

– người môn đệ Đức Giêsu thương mến (2): Dung mạo bí ẩn “người môn đệ Chúa thương mến” được đưa vào đột ngột ở Ga 13,23, lúc mà truyện sắp lên tới cao đỉnh, lúc mà Đức Giêsu quy tụ các môn đệ thân tín lại để chia sẻ một bữa ăn tạ từ và ban những giáo huấn cuối cùng (x. Ga ch. 13–17). Điều này khiến ta hiểu rằng người môn đệ Chúa thương mến là một dung mạo được cộng đoàn tác giả quen biết. Là người không được nêu tên và cứ tiếp tục ở trong tình trạng vô danh cho đến hết Tin Mừng, người môn đệ này được sống một tình thân mật với Đức Giêsu đặc biệt hơn cả nhóm: ông được mô tả là người môn đệ Đức Giêsu yêu thương, người nghiêng mình vào ngực Đức Giêsu (en tô kolpô tou IêsouGa 13,23; x. 13,25; 21,20 [epi to stêthos]). Kiểu thân mật này gợi nhớ tình thân mật giữa Đức Giêsu và Chúa Cha: Đức Giêsu, được Chúa Cha yêu thương (Ga 15,9; 18,26), là người Con Một, ở trong lòng Chúa Cha (ho ôn eis ton kolpon tou patrosGa 1,18). Đến Ga 18,15, thì xuất hiện “một môn đệ khác”, có lẽ cũng vẫn là người môn đệ Đức Giêsu yêu thương đã được Simôn Phêrô làm hiệu hỏi Đức Giêsu trong bữa tối cuối cùng (Ga 13,24). Tại chương 19, người môn đệ ấy xuất hiện bên cạnh thân mẫu Đức Giêsu (Ga 19,26). Đến chương 20, tác giả đồng hóa “người môn đệ Đức Giêsu thương mến” (20,2) với “người môn đệ kia” (20,4.8). Simôn Phêrô và “người môn đệ Đức Giêsu thương mến” lại xuất hiện bên nhau trong chương cuối cùng (21,7.20).

Người môn đệ này là ai? Tác giả Ga đã nhấn mạnh 5 lần rằng nguồn của ngài chính là “người môn đệ Đức Giêsu thương mến” (13,23; 19,26; 20,2; 21,7.20). Các học giả đã nghĩ tới nhiều nhân vật: Gioan, con ông Dêbêđê; Ladarô; Gioan Máccô (x.Cv 12,12); Trưởng lão Gioan; một dung mạo tượng trưng. Cho đến nay giả thuyết mạnh nhất (R.E. Brown) vẫn là coi người môn đệ ấy là Gioan, con ông Dêbêđê và là tác giả TM IV (trừ hoặc kể cả chương 21)[1]. J.A. Grassi[2] đã viết một quyển sách nhỏ để chứng minh: (1) Dựa vào TM Ga, người môn đệ này là một người có thật, nhưng không phải là Gioan, con ông Dêbêđê và một trong Nhóm Mười Hai. (2) Đây là một dung mạo vừa có những nét giống với Giacóp vừa có những điểm giống với Giuse con yêu quý của Giacóp. (3) Đây là người môn đệ trẻ vô danh đã cùng với Anrê đến với Đức Giêsu bên bờ sông Giođan. (4) Người môn đệ này xuất thân từ miền Giuđê, có lẽ thuộc một gia đình tư tế ở Giêrusalem. (5) Người môn đệ này là “em bé” đã tặng năm chiếc bánh và hai con cá. (6) Người môn đệ này có vị trí ưu tiên trong bữa tối cuối cùng, biết trước bí mật thâm sâu của Đức Giêsu về chuyện bị phản bội và phải chết, vì ông là người kế thừa thầm kín có sứ mạng giúp cho thế gian hiểu thật sâu cuộc sống và đặc biệt cái chết của Người. (7) Bản văn trọng yếu là vào lúc đứng dưới chân thập giá, người môn đệ này chứng kiến và hiểu ý nghĩa của cái chết của Đức Giêsu. Dù thế nào, có thể nói người môn đệ này là người thừa kế đích thực của Đức Giêsu. Chương 21 này khiến ta nhớ lại những bản văn có nhân vật này, và nhắc lại các điểm này: người nào phải kế tục Đức Giêsu thì phải được chọn phù hợp với ý muốn của Đức Giêsu và tương ứng với sự chọn lựa bằng tình yêu. Đến cuối chương 21 này, ta thấy rõ ơn gọi của hai người môn đệ: người môn đệ Chúa thương mến có ơn gọi làm chứng, còn Phêrô có ơn gọi điều khiển cộng đoàn hoặc ơn gọi chăn dắt đoàn chiên.

Các học giả chưa đạt tới tiếng nói chung về nhân vật này. Dù sao, chúng tôi nghĩ kiểu gọi “người môn đệ Chúa thương mến” hẳn không phải là kiểu gọi của chính người môn đệ ấy, nhưng của các môn đệ của người ấy[3]. Đến đây cứ cho đi là một người có thật, nhưng khi không có tên như thế, người môn đệ ấy đã trở thành biểu tượng cho mọi môn đệ của Đức Giêsu. Điều này được diễn tả rõ ràng trong hoạt cảnh trên Đồi Sọ, khi Đức Giêsu ký thác “người môn đệ mình thương mến” cho thân mẫu: “Thưa Bà, đây là con của Bà”. Đặc biệt được đặt tương phản trong tình thế đầy kịch tính với Phêrô, người môn đệ Chúa thương mến tượng trưng đức tin tinh trong của cộng đoàn tác giả, còn Phêrô của TM IV tượng trưng các môn đệ của Đức Giêsu trong tình trạng hàm hồ về tư cách môn đệ, một đức tin còn pha trộn nơi các Họi Thánh thời các tông đồ.

– đem Chúa (2): Có lẽ bây giờ viết trong giai đoạn hậu Phục Sinh, tác giả đã sử dụng danh hiệu “Chúa” (kyrios) này như một cách diễn tả niềm tin của cộng đoàn Kitô hữu.

– và chúng tôi (2): Chỉ có một mình Maria Mácđala ở ngoài mộ. Thế mà bà lại nói là “chúng tôi”. Người ta giải thích nhiều cách: (1) Có các bà khác, nhưng tác giả đơn giản hóa, chỉ nói đến bà Maria Mácđala thôi; (2) Từ “chúng tôi” là để dung hòa TM IV với các TMNL (Wellhausen và Spitta); nhưng vấn đề là vì sao TM IV khác các TMNL ở rất nhiều chi tiết, mà lại ráng dung hòa tại một chi tiết nhỏ, tinh tế như thế? (3) Bultmann và vài tác giả khác nghĩ rằng từ “chúng tôi” chỉ là một cách diễn tả Sêmít để nói “tôi”; nhưng dù sao chúng ta cũng lấy làm lạ là trong truyện tiếp theo, Maria lại nói lại câu này, mà lần này ở số ít (c. 13).

Có lẽ cách giải thích đầu tiên là tốt nhất và tự nhiên nhất.  

– chạy mau hơn (4): Cha Lagrange cho rằng vì “người môn đệ kia” còn trẻ hơn và nhanh nhẹn hơn Phêrô nên chạy mau hơn. Ishodad de Merv cho rằng vì ông chưa lập gia đình! Có tác giả cho rằng vì tình yêu đã làm cho ông chạy nhanh. Nhưng hợp lý là cho rằng vì ông biết cách chạy hơn Phêrô.

– nhưng không vào (5): Nhiều nhà chú giải cho rằng “người môn đệ Chúa thương mến” không vào vì kính trọng Phêrô là đàn anh, hay là vì kinh ngạc, hoặc vì sợ hãi (sợ ma!), hoặc muốn tránh sự lây nhiễm theo nghi thức khi chạm vào một xác chết. Những kiểu giải thích như thế không hòa hợp được với dung mạo đã được lý-tưởng-hóa của người môn đệ này trong TM. Có lẽ cách giải thích tốt nhất là nói rằng tác giả đã ghi lại mộtchi tiết không đáng kể như thế, là vì đã xảy ra đúng như thế. Khi kể lại một biến cố quan trọng, ngài lại nhớ lại cả một chi tiết nhỏ bé như thế, và ghi lại trong TM của ngài để gợi lên trung thực điều ngài đã sống (Guillemette). 

– Ông cúi xuống và nhìn thấy (5): “Thấy” ở đây là blepô.

– Phêrô theo sau (6): Phêrô bước theo (akolouthôn) người môn đệ Chúa thương mến như là môn đệ? Động từ “bước theo” rất hiếm khi được dùng theo nghĩa này; thông thường người ta chỉ “bước theo” Đức Giêsu. Ai muốn đặt đối lập Phêrô với người môn đệ Chúa thương mến thì nhắm vào cách sử dụng trên. Nhưng thật ra như thế là phóng đại.

– Ông vào … thấy (6): Simôn Phêrô “thấy”: động từ được dùng là theoreô, tương tự  người môn đệ Chúa thương mến.

– khăn che đầu (7): Soudarion là một cái khăn giống như nhưng có lẽ to hơn cái khăn tay. Có thể người ta dùng chiếc khăn này để bọc lấy cằm và thắt lại trên đầu để cho miệng người chết khỏi mở ra.

– các băng vải (7): Khác với Ladarô (11,43), khi sống lại, Đức Giêsu không cần ai giúp cả. Sự kiện “băng vải để ở đó, và khăn che đầu xếp riêng ra một nơi” loại trừ giả thuyết là có một cuộc đánh cắp thi hài, bởi vì không kẻ nào lại còn nghĩ đến việc lột trần thi hài ra.

– Ông đã thấy và đã tin (8): “Thấy” ở đây là horan, một cái nhìn đưa tới đức tin. Từ cấp “thấy thấp nhất bằng cặp mắt thể lý (blepô, c. 5), người môn đệ khác đã đạt tới cấp “thấy” cao nhất (horan) bằng đức tin. Câu văn hẳn cho phép được hiểu: đã thấy (eiden, thì quá khứ aorist của horan= đã tin (episteusen, aorist của pisteuô).

4.- Ý nghĩa của bản văn

Các môn đệ biết rằng Đức Giêsu đã chết và đã được mai táng. Ngôi mộ và thi hài là dấu vết cuối cùng của Đức Giêsu trần thế. Tất cả những gì tác giả TM IV quy chiếu đến ở đây, đều tiến đi từ ngôi mộ này và liên hệ đến thi hài của Đức Giêsu. Đối với các môn đệ, chặng cuối cùng của Đức Giêsu là ngôi mộ; các phụ nữ cũng như các ông đều không hề quay hướng về cuộc Phục Sinh của Người: chẳng hạn phản ứng của  Maria Mácđala ở đây chứng tỏ bà nghĩ rằng Đức Giêsu đã chết thật. Họ không hề hiểu những loan báo Người đã cung cấp, cũng chẳng hiểu những gì được viết trong Kinh Thánh. Ở đây, tác giả cho thấy những bước đầu đưa các môn đệ đi từ ý thức là Đức Giêsu đã chết đến hiểu biết là Người đã sống lại. Con đường đi từ nỗi kinh ngạc này đến nỗi kinh ngạc khác, và không phải tất cả các môn đệ đều đạt tới mục tiêu cùng mộtlúc.

* Thời gian: Sáng sớm ngày thứ nhất, Maria Mácđala ra mộ (1-2)

Trong cả bốn Tin Mừng, các môn đệ của Đức Giêsu, dù nam hay nữ, đều tỏ ra kính trọng ngày sa-bát. Chúng ta thấy các ông đã hạ thi hài Đức Giêsu khỏi thập giá trước khi bắt đầu ngày sa-bát (Ga 19,31 và các bản văn song song), còn các phụ nữ chỉ đi ra một sau ngày sa-bát (Ga 20,1 và các bản văn song song).

Lúc tảng sáng, Maria Mácđala đã đi ra mộ Đức Giêsu. Chúng ta tự hỏi là vì sao bà lại ra mộ khi trời chưa sáng hẳn? – Tác giả trung thành với biểu tượng ánh sáng đã nói đến ngay trong Lời Tựa (1,9), rồi ở 8,12 khi Đức Giêsu tuyên bố Người là “ánh sáng cho trần gian”, rồi Giuđa bỏ Người là đi vào bóng tối (13,30). Ở đây, vì Đức Giêsu đã chết, nên ánh sáng đã tắt. Tuy nhiên, trời đã tảng sáng như là một dấu chỉ xa xa cho biết Đức Giêsu sắp sống lại và Maria Mácđala sẽ gặp được Người.

Đến nơi, bà thấy (blepei) là tảng đá đã được lăn khỏi mộ và cửa mộ đã mở. Dựa vào điểm quan sát đó, bà giải thích: bà nghĩ rằng thi hài của Đức Giêsu đã được mang đi khỏi mộ. Đó là lời giải thích hợp lý nhất, theo những tiêu chí loài người, khi đứng trước một ngôi mộ đã mở và trống không. Một thi hài thì ở thế hoàn toàn thụ động: đã được người ta đưa vào đặt trong mộ, nay có thể lại đã được người ta đưa đi.

Vì hết sức bận tâm tìm biết là ai đã mang xác Đức Giêsu đi và nay đã đặt ở đâu, Maria đi tìm Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Lối xử sự này chứng tỏ bà rất thương yêu Đức Giêsu. Nhưng trong khi bà còn bận tâm về thi hài Đức Giêsu, Người đã sống lại rồi. Khởi đi từ ngôi mộ của Người, các môn đệ còn phải đến gặp Người trên nẻo đường mà chính Người đã đi qua. Hai người môn đệ đến mộ là hai người đặc biệt gắn bó với Người khi Người còn sống: Phêrô là người đã được Đức Giêsu đổi cho một tên mới (1,42) và luôn được để ý trong nhóm các môn đệ (6,68-69; 13,6-10.35-38); người môn đệ kia là người đặc biệt gần gũi với Đức Giêsu (13,23-24; 18,15-16; 21,20-23).

* Hành động chính: Phêrô và Gioan ra mộ (3-10)

Tin tức Maria Mácđala đưa đến khiến các môn đệ hốt hoảng. Phêrô và người môn đệ Chúa thương mến muốn chính mình đi kiểm chứng sự việc, hai ông chạy ra mộ. Tốc độ khác nhau không có nghĩa là lòng nhiệt thành khác nhau, nhưng là khả năng thể lý khác nhau. Các hành động tiếp đó của hai ông đan quyện vào nhau và càng lúc càng vượt xa điều Maria Mácđala đã quan sát được. Người môn đệ Đức Giêsu yêu thương đến mộ trước. Ông không chỉ nhìn từ bên ngoài, mà còn nghiêng mình nhìn vào bên trong và thấy (blepei) những băng vải. Phêrô đi vào trong mộ, thấy (theôrei) các băng vải và khăn liệm gấp lại để riêng ra một góc. Những gì Phêrô ghi nhận được thì đi ngược lại với cách giải thích của Maria: không thể cho rằng người ta mang mộtthi hài đi mà lại tháo gỡ các tấm vải bọc thi hài ra trước, và còn gấp lại để riêng ra. Gỡ mình khỏi các tấm vải liệm là hành vi ngược lại với việc bọc thi hành trong các tấm vải (x. 19,40). Như thế, việc tẩm liệm đã thành vô ích rồi. Ngôi mộ trống và các dải vải cuộn để riêng không phải là một bằng chứng, nhưng là một dấu chỉ cho biết rằng Đức Giêsu đã rời bỏ ngôi mộ và đã chiến thắng cái chết.

Phêrô ghi nhận chính xác tình huống, nhưng có tin chăng, bản văn không khẳng định minh nhiên. Người môn đệ kia đi vào mộ sau ông, cũng thấy tình cảnh như thế và thực hiện được một bước xa hơn: đã thấy (eiden) và đã tin (episteusen) (c. 8). Dường như tác giả TM IV chia sẻ với Lc 24,12 ý tưởng là Phêrô không bị thuyết phục bởi cuộc thanh sát ngôi mộ trống, nhưng cách ngài trình bày về tình trạng Phêrô thiếu đức tin thì tinh tế hơn là tác giả Lc. Tác giả TM IV không nói là Phêrô không tin. Ngài chỉ kể rằng người môn đệ Chúa thương mến “đã thấy và đã tin”. Các động từ này là tiêu biểu củaTM IV, nhưng đều ở số đơn, tức về ngữ pháp thì tương phản với dạng số phức ở các câu trước (“Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra [êrchonto] mộ. Cả hai người cùng chạy [etrechon]”) và ở các câu sau (“hai ông chưa hiểu [êdeisan] Kinh Thánh, rằng…”). Hai môn đệ đã đi ra mộ; nay chỉ một người rời mộ như là người tin: đó là người môn đệ Chúa thương mến. So với người ấy, thì phải nói Simôn Phêrô còn thiếu đức tin.

Dù sao chỉ những lần Đấng Phục Sinh hiện ra mới làm cho dấu chỉ mộ trống không còn mang tính hàm hồ nữa và sẽ đưa tất cả các môn đệ đến chỗ tin vào Người.

“Sau đó, các môn đệ lại trở về nhà”: Làm sao có thể thản nhiên trở về nhà sau một kinh nghiệm như thế? Rất có thể đây là chuyện đã xảy ra. Sau một kinh nghiệm quá mạnh như vậy, các ông cần thì giờ để phản ứng. Các ông không reo hò cũng không ca hát: các ông trở lại với đời sống thường ngày.

+ Kết luận

Những điều vừa được kể ở đây đã được kiểm chứng vào “lúc tảng sáng” (20,1). Trong TM IV, giờ và các biến cố tương ứng với nhau. Vào lúc tảng sáng, có nhiều điều tiên báo một sự thay đổi tận căn: đêm đang qua đi, chân trời rạng sáng dần, các sự vật rõ nét thêm. Ai chưa bao giờ thấy mặt trời, thì không thể biết điều gì đã gần kề. Mặt trời lên soi sáng tất cả và làm cho mọi điều đã được tiên báo nên sáng tỏ. Các môn đệ còn đang ở trong tình trạng tranh tối tranh sáng, ở trong tình trạng gồm những dấu chỉ tiên báo và chờ đợi. Chỉ khi họ gặp Đấng Phục Sinh, mặt trời mới mọc lên cho họ, mọi sự mới nên sáng tỏ. Đêm đen và bóng tối, cái chết và niềm đau, sự bần khốn và yếu đuối đều được ánh sáng của Đấng Phục Sinh, được vinh quang của sự sống vĩnh cửu của Người, chiếu rọi.

Không còn thi hài của Đức Giêsu trong mộ nữa. Điều này rất quan trọng đối với sự phục sinh: Bởi vì người ta không thể tìm ra xác ướp của Đức Giêsu hay một vài vết tích, vài mảnh rơi rớt của thi hài, mà lại khẳng định về sự Phục Sinh được. Bởi vì Phục Sinh không phải là một hiện tượng thiêng liêng nào đó chỉ liên hệ tới phần hồn, nhưng sự Phục Sinh đặt dấu ấn lên trên toàn thể con người: thân xác và linh hồn, và biến đổi cách vĩnh viễn toàn thể con người. Vậy không bao giờ được hiểu Phục Sinh chỉ là sự hồi sinh của một người chết như chẳng hạn trường hợp Ladarô, vì sau này ông cũng lại đã chết. Sự Phục Sinh là việc chuyển sang một cuộc sống bên kia cái chết, sang một cuộc sống không cùng, nghĩa là một đời sống vĩnh cửu.

5.- Gợi ý suy niệm

  1. Trong cuộc sống, có lắm phen chúng ta nếm cảm những thất bại đau đớn, chúng ta muốn buông xuôi, y như ngôi mộ đã được mộttảng đá niêm phong lại, chẳng còn gì để hy vọng, ngoài mộtniềm nuối tiếc khôn nguôi. Nhưng “tảng đá đã lăn ra khỏi mộ”! Chính Thiên Chúa đã lăn tảng đá ra khỏi mộ Đức Giêsu, thì Ngài cũng lăn được những tảng đá đang chắn cuộc đời chúng ta lại, miễn là chúng ta đừng nhất định bám cứng vào những tảng đá đó.
  2. Tác giả TM IVviết: “Ông đã thấy và đã tin”. Đó là mộtlời chứng, nhưng cũng là một lời thú nhận là ngài đã không thể hiện được trọn vẹn mối phúc Đức Giêsu công bố: “Phúc thay kẻ không thấy mà tin” (20,29). Chỉ có Đức Maria, Thân Mẫu Đức Giêsu, mới đạt được mức độ đức tin ấy: tại Cana, trước khi Đức Giêsu làm phép lạ đầu tiên, Mẹ đã tin cách nào đó, nên mới cho Con biết là tiệc hết rượu. Quả thật, tin không phải là một chuyện dễ dàng hay dễ dãi, trốn tránh trách nhiệm, như nhiều người vẫn nghĩ.
  3. Các Tông Đồ chỉ có thể làm chứng rằng các ông đã biết Đức Giêsu trước khi chịu chết, đã gặp lại Người đang sống; nhưng các ông không thể nói về cách thức Đức Giêsu đã sống lại. Niềm tin của Kitô hữu hôm nay cũng khẳng định Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, nhưng không thể trả lời những câu hỏi về cách thức diễn tiến sự Phục Sinh. Nhưng không thể phủ nhận được sự Phục Sinh, bởi vì chính sự hiện diện và hoạt động của Đức Kitô Phục Sinh trong đời người Kitô hữu đang làm thay đổi con người họ, và họ đang trải nghiệm điều đó. Họ có thể làm chứng, chứ họ không thể giải thích, vì đây là mộtmầu nhiệm, nhưng là mộtmầu nhiệm làm cho sống.
  4. Nếu như hai môn đệ đã ghi nhớ và tin những lời Đức Giêsu đã nói trước về cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Người, các ông đã chẳng phải chạy trên nẻo đường đưa tới mộ, đưa tới cõi chết, đưa tới sự tuyệt vọng, trong khi Thầy của các ông đã sống lại, và nay đã “lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em” (20,17). Tuy nhiên, thái độ của hai ông lại là bài học quý cho chúng ta hôm nay, vì chúng ta cũng vẫn có thể rơi vào tình trạng tiêu cực ấy.
  5. Trong một Bài giảng được gán cho thánh Gioan Kim Khẩu (? 345-407), có đoạn: “Xin đừng có một ai buồn sầu về sự nghèo khó của mình, bởi vì Vương Quốc đã hiện ra cho tất cả mọi người; xin đừng có một ai than thở về các lỗi lầm của mình, bởi vì ơn tha thứ đã trào vọt ra từ ngôi mộ; xin đừng có một ai sợ hãi cái chết, bởi vì cái chết của Đấng Cứu thế đã giải thoát chúng ta. Người đã tiêu diệt cái chết, Đấng mà cái chết đã bóp nghẹt, Người đã tước đoạt hỏa ngục, Đấng đã xuống âm phủ…

Isaia đã tiên báo điều này khi nói: « Vì ngươi, âm phủ dưới vực sâu cũng rung động để ra đón ngươi vào” (14,9). Âm phủ đã ngập tràn cay đắng…, vì nó đã bị đánh ngã; bị sỉ nhục, vì nó đã bị giết chết; bị quỵ ngã, vì nó đã bị triệt tiêu. Nó đã bắt lấy một thân xác và đã ra trước nhan Thiên Chúa; nó đã nắm lấy trái đất và đã gặp trời; nó đã bắt lấy cái gì nó thấy, và đã té ngã vì Đấng Vô Hình. “Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của người? Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi?” (1 Cr 15,55). Chúa Kitô đã sống lại và người bị đánh bại! Chúa Kitô đã sống lại và ma quỷ đã ngã xuống! Chúa Kitô đã sống lại và các thiên thần hân hoan vui mừng! Chúa Kitô đã sống lại và đây sự sống hiển trị! Chúa Kitô đã sống lại và không còn kẻ chết trong mồ nữa, bởi vì Chúa Kitô, sống lại từ kẻ chết, đã trở thành hoa quả đầu mùa của những ai đã an giấc. Vinh quang và uy quyền thuộc về Người đến muôn thuở muôn đời. Amen”.

Lm FX Vũ Phan Long, ofm

[1] Xem cách lý luận của R.E. Brown, The Gospel according to John, I, xciii-xcviii.

[2] J.A. Grassi, The Secret Identity. Có thể xem ch. 13, từ trang 115.

[3] Dù người môn đệ này là ai, rất có thể tác giả của Ga 21 cũng là tác giả của 2 Ga và 3 Ga. Ngoài ra, chúng ta thấy dấu vết của cùng một bàn tay tác giả ở 3 Ga 12; Ga 19,35 và Ga 21,24 (x. 15,27: “anh em”).

Anh chị Thụ & Mai gởi

Biểu tình nổ ra thêm ở Venezuela sau khi lãnh đạo đối lập bị cấm nắm quyền

Biểu tình nổ ra thêm ở Venezuela sau khi lãnh đạo đối lập bị cấm nắm quyền


Cảnh sát bắn đạn hơi cay vào người biểu tình ở Caracas, Venezuela, 8/4/2017.

Cảnh sát bắn đạn hơi cay vào người biểu tình ở Caracas, Venezuela, 8/4/2017.

Một quận trưởng ở thủ đô nói có ít nhất 17 người đã được điều trị vì bị thương.

Một số người biểu tình đã phá vỡ các rào chắn của cảnh sát gần tòa nhà Tòa án Tối cao và sử dụng vật liệu từ một công trường gần đó để đập phá và đốt cháy một số văn phòng của tòa án.

Đất nước này đã bị bất ổn trong hơn một tuần, sau khi Tòa án Tối cao cố gắng tước bỏ quyền hành của cơ quan lập pháp nằm dưới sự kiểm soát của phe đối lập. Hành động đó đã bị rút lại sau nhiều lời chỉ trích của quốc tế cũng như do bị phản đối trong nước.

Có rất ít dấu hiệu cho thấy những cuộc biểu tình ở Caracas và một số thành phố khác sẽ sớm chấm dứt.

Hôm thứ Sáu, văn phòng Cục Quản lý Công sản Venezuela đưa ra lý do có “những sự bất thường về hành chính” để ngăn chặn Thống đốc bang Miranda Henrique Capriles nắm quyền trong 15 năm. Ông Capriles đã thua sít sao trước ông Maduro trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2013 và dự kiến sẽ là đối thủ tranh cử trong cuộc bầu cử tiếp theo vào năm tới.

Chính phủ Venezuela đã cáo buộc các thành viên phe đối lập, bao gồm cả ông Capriles, về việc kích động các cuộc biểu tình bạo lực. Nhóm các nhà hoạt động nhân quyền Penal Forum cho biết gần 100 người đã bị bắt trong thời gian bất ổn gần đây, và một viên cảnh sát đã bị bắt sau khi một nam thanh niên 19 tuổi bị bắn chết hôm thứ Năm, theo tin Reuters.

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VENEZUELA SỤP ĐỔ!

From facebook: Tran Dat and Linh Võ shared Khanh Nguyen‘s post.
Image may contain: 12 people, crowd and outdoor
Image may contain: outdoor
Image may contain: 1 person, walking, crowd and outdoor
Image may contain: 6 people, people standing, crowd and outdoor
Khanh Nguyen added 4 new photos.Follow

 

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VENEZUELA SỤP ĐỔ!
( khi người dân thức tỉnh)

Ngày 8/04/2017 hàng trăm ngàn người dân Thủ đô Caracas Venezuela ở Nam Mỹ xuống đường biểu tình đòi phế truất Tổng thống Madurol, họ hô vang khẩu hiệu ” Phế truất độc tài Maduro!” và “Bầu cử tự do ngay lập tức”

Đứng trước sức mạnh của lòng dân trào dâng như nước lũ, cảnh sát không còn cách nào hơn là tìm đường bỏ chạy thoát thân, tuy nhiên có nhiều cảnh sát vẫn không tránh khỏi bị người biểu tình ném đá trọng thương.

Từ khi cựu Tổng thống Hugo Chaves lên cầm quyền đưa đất nước giàu tài nguyên dầu mỏ ở Nam Mỹ “tiến lên” theo con đường Xã hội chủ nghĩa, nhưng cũng đã đưa Venezuela về với vực thẳm, trở thành một nước nghèo đói bất ổn nhất Châu Mỹ La Tinh.Tình trạng tham nhũng tiêu cực, suy thoái đạo đức biến chất của một số quan chức càng làm cho Venezuela tồi tệ thêm.

Sau gần 20 năm sống dưới chế độ độc tài Xã hội chủ nghĩa, người dân Venezuela đã kiệt sức, không còn kiên nhẫn được nữa họ cùng nhau xuống đường đòi giải tán chính phủ bầu cử tự do thay đổi thể chế.

Quần chúng nhân dân xây dựng lên thể chế được thì họ cũng đạp đổ thể chế đó được, không có gì bằng sức mạnh của nhân dân mổi một khi quần chúng nhân dân nổi dậy thì bất cứ chế độ độc tài nào cũng sụp đổ.

Philip Nguyen theo Reuters
Khanh Lam Nguyen

BỐ NÓ LÀ CÔNG AN

 
 
From facebook: Hằng Lê
BỐ NÓ LÀ CÔNG AN

Chuyện sáng nay, trước cổng một trường cấp 1. Thương cho những đứa trẻ, cổ còn đeo khăn quàng. Bố nó là công an.
– Bố mày độc ác!
– Bố mày mới ác độc. Bố tao làm cảnh sát giao thông, chỉ giữ gìn trật tự giao thông thôi!
– Nhưng hôm qua trên mạng đưa ảnh bố mày túm tóc lôi phụ nữ, đánh vỡ đầu người ta.
– Đó là tại bà bán hủ tiếu ấy lấn chiếm vỉa hè!
– Lấn chiếm vỉa hè thì nhắc nhở thôi, sao kéo đầu lôi tóc đánh người như du côn vậy?

– Bố mày đánh người biểu tình nữa. Hôm qua trên mạng tung ảnh bố mày đánh người biểu tình đấy.
– Có phải bố tao đâu. Người ta bảo đó là bọn du côn, lưu manh vô học nào đấy, chứ không phải bố tao.
– Du côn gì, tao nghe trên mạng bảo đó là bố mày. Bố mày giả dạng du côn. Giả mặc thường phục, che mắt bịt miệng nhưng người ta vẫn nhận ra đấy là bố mày.
– Thế bố mày thì sao? Bố mày làm quản giáo. Người ta bảo quản giáo đánh cả tù. Quản giáo là đồ ác độc. Trên mạng họ chửi thế đấy! Bố mày là quản giáo. Bố mày mới là đồ ác độc. Đồ con nhà ác độc!
– Mày ác độc, bố mày ác độc. Trên mạng nó bảo bố mày là du côn, một lũ du côn. Cảnh sát du côn, công an du côn. Bố mày là đồ du côn!
– Bố mày du côn. Mày ác độc. Bố mày ác độc. Hu hu hu…
Hai đứa lao vào nhau. Vừa chửi vừa lôi áo giật tóc, hu hu khóc. Chẳng hiểu vì chuyện gì.
Can xong, xoa đầu hai đứa, tôi hỏi:
– Bố cháu làm gì, cảnh sát giao thông à? Còn bố cháu, quản giáo thật à?
– Thôi, đừng đánh nhau nữa. Cảnh sát, hay quản giáo gì thì cũng là… công an. Bố các cháu là công an, nghe chưa.
Cả hai đứa đều gật. Miệng vẫn mếu. Trông đến tội nghiệp.
Mấy đứa nhỏ khác, dường như cùng lớp, đứng cạnh xì xào:
– Hai đứa con công an. Bố nó là công an.
Chuyện sáng nay, trước cổng một trường cấp 1. Thương cho những đứa trẻ, cổ còn đeo khăn quàng.

Chỉ Biết Ngậm Ngùi –

Chỉ Biết Ngậm Ngùi 

 Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Trong chuyến viếng thăm tiểu bang Utah, tôi đi thăm hầu hết các thắng cảnh nơi đây. Thủ phủ của tiểu bang là Salt Lake City. Hồ nước mặn Great Salt Lake rộng mênh mông nằm trong vùng đồi núi Rocky Mountains cao hàng ngàn bộ cách mặt biển. Ðộ muối trong nước cao gấp năm lần nước biển đại dương. Một kỳ công của Thượng Ðế đã ưu đãi cho vùng đất cao nguyên này.

Utah còn là Thánh địa của đạo Mormon, đang phát triển rất mạnh. Ðến Utah không thể không đến viếng Mormon Temple. Một thắng cảnh, một kỳ quan có chiều dài lịch sử gắn liền với sự khai khẩn, xây dựng và phồn thịnh của Utah. Ðạo Mormon (Mạc Môn) còn tên gọi khác là Ðạo LDS viết tắt của chữ Latter Day Saints, có nghĩa là Giáo Hội Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Jesus Christ. Ðền thờ trung tâm có sáu ngọn tháp cao chót vót xây dựng suốt bốn mươi năm mới hoàn thành. Temple Square, trung tâm giáo hội, trải rộng 35 mẫu Anh là một quần thể kiến trúc vĩ đại, tân kỳ, lộng lẫy và trang nghiêm. Trên đỉnh tháp cao vút của đền thờ Temple Of The Lord là tượng một người đàn ông bằng vàng đứng thổi kèn. Ðây là tượng của vị thiên sứ ánh sáng Moroni hiện ra vào ngày 21 tháng 9 năm 1823. Ngài soi dẫn cho tiên tri Joseph Smith đương thời biết nơi chôn giấu biên sử cổ xưa. Sách ấy chứa đựng trọn vẹn Phúc Âm vĩnh cửu do chính Ðấng Cứu Rỗi đã ban cho các dân tộc. Từ đó, kinh sách Mormon được dịch và viết ra dựa vào bảng khắc bằng vàng chôn cất trên đồi Cumorah gần làng Manchester thuộc tỉnh hạt Ontario, tiểu bang New York từ năm 421 sau Thiên Chúa. Toàn bộ sách Mormon là lời rao giảng của Chúa Jesus Christ giữa người Nephites không lâu sau khi Chúa phục sinh. Ngài tiên tri Joseph Smith còn được Chúa khải thị viết nên tập Giáo Lý và Giao Ước.

Luật tiểu bang Utah không cho mở sòng bài và các hình thức đánh bạc công cộng. Các chợ chỉ bán bia với nồng độ 3 phần trăm. Kết hợp với “Lời Thông Sáng” của đạo Mormon, đạo hữu không cờ bạc, không hút thuốc, không uống các loại nước có ga và có màu khiến cho đời sống nơi đây yên bình hơn, ít tội phạm hơn so với tình trạng chung trên đất Mỹ. Và có thể nói là môi trường thích hợp cho tuổi thơ được nuôi dưỡng và lớn lên trong nếp sống trong lành.

Tôi đi theo đoàn người vào thăm khu Temple Square. Dọc theo lối đi là những luống hoa khoe màu rực rỡ. Mặt nước hồ nhân tạo được xây cao trên mặt đất nằm im phăng phắc như tấm gương vĩ đại phản chiếu lấp lánh ánh mặt trời. Các hình tượng điêu khắc đầy nghệ thuật và phong phú được trưng bày trên những bực thềm và dựng rải rác trong khuôn viên rộng lớn. Các chức sắc, những người truyền giáo và tín hữu làm công tác thiện nguyện trang phục vét-tông cà-vạt chỉnh tề. Họ có nhiệm vụ giữ trật tự, hướng dẫn và giải thích những điều mà khách thăm viếng và tín đồ hành hương cần tìm hiểu.

Tôi vừa bước lên khỏi bậc thềm khu nhà thờ Church Office Building, tòa cao ốc 26 tầng dùng làm trung tâm điều hành của giáo hội, chợt một thanh niên trong bộ vét-tông đen trông chững chạc và đạo mạo đến trước mặt tôi:

– Thưa, bác là người Việt?

Tôi nhận ra là một thanh niên Việt Nam. Có lẽ đây là thầy Tư tế, một chức phẩm trong dòng đạo này làm công tác thiện nguyện vào ngày Chúa Nhật. Tôi đứng lặng nhìn người thanh niên đang đứng trước mặt tôi có khuôn mặt giống người bạn của tôi năm xưa khi ở chung trong trại tù sau năm 1975. Sự bàng hoàng trải qua mấy phút đồng hồ, tôi mới thốt nên lời:

– Vâng, tôi là người Việt. Xin lỗi cậu về sự thất thố đã đường đột nhìn cậu trong khung cảnh này. Có điều tôi cũng xin thú thật là cậu có khuôn mặt giống người bạn tôi hồi còn ở quê nhà.

Người thanh niên hướng dẫn tôi đi thăm khu bảo tàng viện và nghệ thuật gồm tranh ảnh và những bức tượng điêu khắc các vị Lãnh Đạo và 12 Sứ Ðồ từ thời khai sáng đạo Mormon đến bây giờ.

– Này, cậu qua Mỹ năm nào? Tôi gợi chuyện, khi người thanh niên đứng lại đợi đoàn khách thăm viếng còn trụt lại sau.

– Thưa bác, cháu qua đây vào giữa năm 1992 theo diện HO cùng với mẹ cháu và một người chị được định cư ở tiểu bang Utah này ngay từ ngày đầu.

– Thế ba cậu đâu?

– Ba cháu chết trong trại tù An Ðiềm.

– Ba cậu tên gì?

– Tôn Long Mỹ.

Tôi sửng sốt đến lặng người, rồi nhắc lại:

– Tôn Long Mỹ là cha ruột của cậu sao?

– Vâng ạ. Me cháu bảo ba chết lúc cháu mới ba tuổi.

– Cháu ơi, Tôn Long Mỹ là bạn của bác sống gần nhau suốt ba năm trong tù.

Người thanh niên đứng khựng lại nhìn tôi rồi thảng thốt kêu lên:

– Ba cháu là bạn cùng tù với bác? Ôi, quý hóa quá. Ðiều ước nguyện của me cháu là mong gặp được người nào đã chứng kiến cái chết của ba cháu trong tù. Thượng Ðế ơi! Ngài đã chuẩn nhận lời cầu xin của con và ngày hôm nay Cha trên trời đã mang đến cho gia đình con ân sủng của ngài. Con xin tạ ơn Chúa, Amen.

Người thanh niên ngẩng đầu lên:

– Thưa bác, tên cháu là Tôn Thất Trương Thuật. Cháu nghĩ bác không phải là người cư ngụ ở tiểu bang này vì vậy xin phép bác cho Me cháu được gặp mặt trong ngày mai. Có được không, thưa bác?

Tôi móc bóp lấy tấm danh thiếp của con trai tôi đưa cho Thuật:

– Ðây là số phôn và địa chỉ nhà con tôi. Qua đây chỉ để thăm con cháu và viếng cảnh, tôi chẳng có gì phải bận bịu. Me cậu muốn gặp tôi giờ nào cũng được, còn cả tuần nữa tôi mới quay về Cali.

Cuộc thăm viếng vẫn tiếp tục nhưng hình ảnh của Tôn Long Mỹ qua những năm tháng trong tù như một đoạn phim hiện ra trong trí nhớ của tôi:

Mỹ nhỏ hơn tôi 5 tuổi, vóc người tầm thước, khỏe mạnh và xốc vác. Tính tình thuần hậu, phóng khoáng. Anh rất sùng đạo Phật. Tuy nội quy cấm mọi hình thức có tính cách tôn giáo, nhưng Mỹ vẫn cố lén ăn chay vào ngày mồng Một và ngày Rằm âm lịch.

Ban giám thị trại chỉ định đội 3 phụ trách xây dựng chiếc cầu treo bắc qua dòng sông Côn để dân chúng làng Thượng và tù nhân có thể qua lại trong mùa nước lũ. Bên kia sông là cánh đồng rộng chạy dài đến tận chân đèo. Mỗi năm, tù phải sản xuất đủ ba mùa lúa. Mùa mưa thì tháo bớt nước ra, mùa nắng thì thay nhau đêm ngày tát nước lên đồng.

Hai bên bờ sông toàn là đất núi bị nước xoi mòn lâu ngày thành sông. Người ta chọn nơi có hai mô đất nhô ra là nơi hẹp nhất của dòng sông để bắc cây cầu đi qua. Những ngày đầu khởi công, đội làm cầu phải đào đất, đóng kè xây dựng hai môi cầu cho vững chãi để giữ chân bốn thanh đường ray xe lửa làm trụ chịu đựng sức trì kéo của cây cầu treo dài 80 mét.

Mùa lũ, nước chảy xiết đã khoét lõm sâu vào chân dọc hai bên bờ. Ðể nâng giữ khối đất phía trên khỏi bị sụp lở, tù phải xây những lớp đá vào chỗ lõm bên dưới. Ðang trong mùa nắng hạn mực nước sông xuống thấp tận cùng nên hai môi cầu là hai khối đất khổng lồ đứng chênh vênh bên bờ vực. Ðám tù hì hục đưa đá tảng lấp đầy khoảng trống dưới chân môi cầu.

Mỹ là tay thợ xây trong toán cất nhà cửa từ ngày vào tù. Cách làm việc của anh là tận lực, yêu nghề và tinh thần trách nhiệm cao mặc dầu anh chỉ là tù nhân. Mỹ có quan niệm: Bất cứ lãnh vực nào người sĩ quan Miền Nam phải thể hiện tài năng trước bọn cai tù. Ðừng để họ lấy cớ sự sai sót mà mạt sát lăng nhục mình. Chính vì thế mà anh nhận công việc nặng nề nhất là xây bệ đỡ cho khối đất bên dưới môi cầu.

Hàng trăm viên đá chẻ được một đội tù khác cung cấp chất đống trên mô đất dự định xây móng chân cầu. Sức nặng của đống đá cùng với sự hỏng chân của doi đất, khối đất trên đầu Mỹ bất ngờ đổ sụp. Mỹ bị chôn sống dưới khối đất khổng lồ. Bạn tù đã nổ lực đào bới để cứu anh. Nhưng, con người chỉ là sinh vật bằng xương bằng thịt làm sao chịu đựng nổi sức nặng hàng chục tấn của đất đá đè lên. Xác anh cuốn tròn mềm nhũn như con sùng. Nước mắt chúng tôi chảy ràn rụa. Lần đầu tiên người tù không che dấu dòng lệ của mình trước mặt bọn cai tù. Mỹ ra đi để lại nỗi đau đớn tận cùng cho người vợ trẻ và hai đứa con thơ.

– Thưa bác, đây là vị tiên tri Joseph Smith được Chúa mặc khải viết ra Giáo Lý và Giao Ước. Cũng là vị chủ tịch đầu tiên của Giáo Hội bầu ra tại một buổi họp của Hội Ðồng Thượng Phẩm trong ngày 24/9/1834 tại Kirtland, Ohio.

Lời giới thiệu của Thuật làm tôi bừng tỉnh. Trước mặt tôi là bức tượng bán thân bằng đồng đỏ mà mắt tôi chỉ nhìn thấy thân thể của Mỹ đầy máu. Tất cả xương trong người anh từ đầu đến chân hầu như nát vụn. Thi hài anh khi được khiêng lên nó oằn xuống thoạt trông như một chiếc bao tời đựng thịt. Ðầu và mặt anh hoàn toàn bị biến dạng. Ðến đây, tôi không còn tinh thần và hứng thú để đi xem hết các công trình nghệ thuật trong viện bảo tàng nữa nên cáo từ Thuật ra về.

Sáng ngày hôm sau, tôi nhận được cú phôn của Thuật thật sớm mời tôi đến nhà hàng Mỹ Tiên vào lúc 12 giờ trưa, nhân tiện me của cậu xin phép được gặp mặt.

Tôi vừa đến cửa nhà hàng, Thuật đã vội vàng ra đón. Một phụ nữ mặc áo dài màu khói hương đứng dậy cúi đầu:

– Kính chào ông anh.

Tôi thật sự xúc động, khi Thuật giới thiệu đây là me của cậu. Khuôn mặt người đàn bà thanh tú, phúc hậu nhưng trong ánh mắt vương vất nỗi buồn. Tôi cúi đầu chào đáp lễ, rồi ngồi vào chiếc ghế đối diện mà Thuật vừa mới kéo ra mời.

– Thưa ông anh, giọng Huế nhè nhẹ, trầm buồn, người đàn bà tự giới thiệu:

– Em tên là Trương Thị Ngọc nghe cháu Thuật nói gặp được ông anh, người ở cùng chung trại tù An Ðiềm với ba nó. Em mừng lắm. Mặc dầu anh Mỹ mất đã gần 25 năm mà lòng em cứ phân vân, thắc mắc mãi khi nhận được giấy báo của trại tù rằng chồng em chết vì bệnh nhiễm trùng gan cấp tính. Trong khi đó đã hai lần em được anh ấy về báo mộng với khuôn mặt đầy máu me nhìn em trong đau đớn. Hình ảnh đó chưa phai mờ trong trí nhớ của em. Trước khi đi Hoa Kỳ, chúng em có đến trại An Ðiềm để xin dời mộ nhưng Ban Giám Thị trại không xác định được vị trí nơi chôn anh Mỹ, còn tù nhân toàn là lớp hình sự sau này. Cái nghĩa địa tù bị nước trên đỉnh núi cao đổ xuống xói mòn gần hết. Em vô cùng đau khổ, đến lúc ra đi mà chưa lo cho chồng được mồ yên mả đẹp.

Hai đứa con em biết rõ niềm trăn trở đó, chúng nó luôn luôn cầu nguyện mong được gặp người biết rõ về cái chết của ba chúng. Cách đây hai đêm, em nằm mộng thấy nhà em về chùa. Trong cơn mơ em mừng quá chạy đến ôm anh ấy nhưng hình hài đó tan biến ngay. Không biết có phải đây là điềm báo của anh Mỹ rằng em sắp gặp được ân nhân. Em hy vọng ông anh biết rõ cái chết của chồng em và còn nhớ địa điểm mộ phần của anh ấy.

Người phụ nữ nói một mạch như trút cả nỗi lòng u ẩn bấy lâu nay. Tôi trân trọng trước lòng trung trinh tiết nghĩa của người vợ sống trọn đời thờ chồng nuôi con. Trước khung cảnh này đây, tôi không muốn khơi lại hình ảnh cái chết khủng khiếp của Mỹ. Tôi không muốn tạo thêm sự khủng hoảng trong lòng mỗi người. Vì thế, buộc lòng tôi phải lặng thinh xem như đồng lõa với sự dối trá của một chế độ luôn luôn che đậy sự thật và chối bỏ trách nhiệm của mình.

– Thưa chị, tôi lên tiếng. Cái chết của anh Mỹ, anh em tù chúng tôi đau lòng lắm. Ðời người chỉ một lần chết, tiếc rằng anh ra đi quá sớm. Phải chăng định mệnh đã an bài. Mong chị và các cháu thôi băn khoăn về nó nữa. Tôi vẫn còn nhớ chỗ chôn anh ấy trong nghĩa địa tù. Hứa với chị khi về lại Cali, tôi sẽ vẽ sơ đồ địa điểm ngôi mộ của anh Mỹ.

Khi tôi ngưng nói, bà lấy khăn thấm giọt lệ còn đọng lại trong khóe mắt, rồi tiếp lời:

– Thưa ông anh, nếu được, xin gởi cho em bản vẽ địa điểm mộ của anh Mỹ càng sớm càng tốt. Cuối năm này, cháu Thuật đi Việt Nam với phái đoàn thuộc “Hội Bạn Người Cùi Việt Nam” trụ sở ở Mỹ kết hợp với nhóm “Vòng Tay Bạn Bè” ở Hà Nội làm công tác thiện nguyện ủy lạo, giúp đỡ và chăm sóc cho những người mắc bệnh cùi. Nhân dịp này em sẽ theo cháu về dời mộ cho ba chúng nó.

Thuật đang ngồi yên trong góc bàn chăm chú nghe, tôi liền quay sang hỏi:

– Cậu về Việt Nam công tác bao lâu?

– Cháu tình nguyện một năm.

– Sao lâu đến thế!

Bà mẹ tiếp:

– Cháu nó theo ngành Y, còn một năm cuối cùng thực tập trong bệnh viện ở tiểu bang này trước khi ra trường. Người yêu của nó là nữ sinh viên Việt Nam qua Mỹ du học. Chúng nó yêu nhau và dự tính sau chuyến đi này trở về sẽ tổ chức đám cưới tại đây. Thằng con em, nó sống cho tha nhân. Sẵn lòng dấn thân giúp đỡ cho người nghèo khổ, hoạn nạn dù bất cứ dân tộc nào. Hai chị em nó có cùng một quan điểm: “Thương người như thể thương thân.”

Tôi ngắt lời:

– Vậy hiện giờ cháu gái ở đâu?

– Cháu có chồng là một Mục Sư Tin Lành người Mỹ hiện ở Colorado. Trận thiên tai, bão lụt nào ở Việt Nam bị thiệt hại nặng nề là vợ chồng nó đều gởi về cả tấn áo quần, chăn mền do Thánh đường quyên góp.

Sau bữa cơm trưa tại nhà hàng, tôi từ biệt mẹ con Thuật ra về. Một tuần lễ sau tôi lên máy bay trở lại tiểu bang Cali. Ðể thực hiện điều mình đã hứa, tôi ôn lại vị trí của nghĩa địa tù An Ðiềm để vẽ cách nào đơn giản nhất mà gia đình của Mỹ có thể tìm được mộ anh dễ dàng. Tôi không tưởng tượng được hiện giờ nghĩa địa ấy bị hoang phế ra sao, nhưng chắc chắn là nước mưa từ trên núi đổ xuống đã san bằng tất cả. Những tấm bia bằng gỗ tạp trải qua trên hai chục năm không thể tồn tại với thời gian. Rất may là ngôi mộ của Mỹ nằm sau gốc một cây đại thụ che chắn. Nước có thể xoi mòn phần trên mặt nhưng xương cốt Mỹ nằm sâu dưới đất không thể trôi theo dòng nước. Trong sơ đồ, tôi ghi rõ trên thân cây đó có bốn nhát búa hình chữ M do anh em tù trong đội thay nhau khắc vào. Ðó là dấu tích mà tôi hy vọng gia đình của Mỹ sẽ tìm ra.

Nhận được bản phác họa chỉ dẫn,Thuật điện thoại sang cảm ơn và tin cho tôi hay tháng tới sẽ lên đường về Việt Nam.

Ba năm sau, tôi trở lại Utah trong mùa Giáng Sinh. Ðồi núi vây quanh thung lũng rộng lớn trở thành những dãy núi tuyết sáng trắng. Tuyết phủ đầy trên mái nhà và tràn ngập hai bên lề đường.

Trong ngày Giáng Sinh, tôi theo đoàn người tiến vào khu Temple Square. Vừa bước chân vào đây là tôi cố ý tìm gặp cậu Tôn Long Trương Thuật để hỏi thăm tin tức về mẹ cậu và việc dời mộ của bố cậu như thế nào. Tôi dạo trong khu Tabernacle nổi tiếng với cây đàn Orchestra khổng lồ gồm 11,000 ống tupe kim loại ghép lại. Có thể nói đây là cây đàn lớn nhất thế giới. Rồi đến khu Conference Center, chứa 21,000 chỗ ngồi và 900 ghế cho ca đoàn. Hội trường được thiết kế với kỹ thuật hiện đại mà âm thanh của hai mảnh giấy cọ vào nhau trên khán đài, người ở cuối phòng cũng nghe được. Sau cùng, tôi tìm tới khu Joseph Smith Memorial Building, nơi đây chung quanh tường có những phù điêu chạm khắc mỹ thuật và tinh xảo nhưng vẫn không thấy Thuật đâu. Tôi ra về mà nghe lòng mình trống trải vô cùng.

Ngày mồng một âm lịch, tôi đến viếng cảnh chùa Tam Bảo. Những bông tuyết rơi đầy trời, phủ trắng cả sân chùa như trải thảm bằng bông. Hàng cây kiểng chạy dài trước sân lung lay những mảnh tuyết vỡ trên cành lá. Tôi đang dạo bước trên lối đi vào chánh điện, chợt một ni cô đến trước mặt tôi vái chào. Tôi sững sờ khi nhận ra người phụ nữ ba năm về trước,Trương Thị Ngọc. Bà cho biết đã quy y mang pháp danh Diệu Ngọc. Chỉ ba năm thôi mà trông bà cằn cỗi, già đi rất nhiều. Ðôi mắt tràn ngập nỗi ưu tư, sầu não. Bà mời tôi vào nhà khách dùng trà. Ni cô lên tiếng:

– A Di Ðà Phật, trước tiên bần ni xin đại diện gia đình bày tỏ lòng tri ân đến ông anh. Nhờ bản vẽ địa điểm ngôi mộ rõ ràng từng chi tiết nên chúng tôi đã tìm được mộ phần của anh Mỹ khá dễ dàng. Hài cốt của anh ấy đã được đem qua đây thờ trong chùa. Những tưởng linh hồn anh Mỹ được thanh thoát… Nói đến đây, chợt những giọt lệ long lanh trong mắt của ni cô trào ra.

Tôi ngạc nhiên, vội hỏi:

– Ðã có chuyện gì xảy ra?

Ni cô cúi đầu để dấu đi những giọt lệ mà một sa di cần phải đè nén. Hồi lâu bà mới ngẩng mặt lên:

– Sau một năm chăm sóc những nạn nhân bệnh cùi ở Việt Nam, cháu Thuật trở lại Hoa Kỳ. Ban đầu, Thuật trốn tránh người yêu của nó và cuối cùng quyết định dứt khoát không còn liên lạc với nhau. Một thời gian sau, trên mặt cháu xuất hiện những mụn sưng đỏ. Tôi hỏi, nó lảng tránh, không trả lời. Dần dần cháu nó ít về nhà hơn. Cách đây một năm, cháu về Việt Nam ở lâu dài. Vừa rồi tôi nhận được thơ của nó.

Bà ngưng kể, lấy trong túi áo trao cho tôi một lá thư đã nhàu, nội dung khá ngắn gọn: “Có lẽ ý muốn của Chúa dành cho con một đời phải hy sinh phục vụ cho nhân sinh đang gánh chịu nỗi thống khổ của căn bệnh hiểm nghèo. Con rất thỏa lòng khi chính bàn tay mình thoa dịu được nỗi cô đơn của bao người bất hạnh. Tuần này ở trại cùi Quy Hòa thuộc tỉnh Bình Ðịnh. Tuần sau có thể ở làng phong cùi Ðồng Lệnh tận tỉnh Tuyên Quang để chăm sóc cho các bệnh nhân. Mong me xem con như được Chúa đón đi từ lúc mới lọt lòng.”

Chờ tôi đọc xong thư, bà tiếp:

– Khi hiểu ra thằng con đã mắc bệnh phong cùi, tôi đã khóc suốt đêm trường. Mỗi lần nghĩ đến nó là lòng tôi quặn thắt như đứt từng đoạn ruột, tê dại cả tâm hồn.

– Thưa bà, tôi lên tiếng an ủi: Có phải chăng đây là sự sắp đặt củaThượng Ðế? Theo tôi được biết bệnh phong cùi không dễ truyền nhiễm cho người chăm sóc khi đã ngăn ngừa đầy đủ, vả lại đã có thuốc điều trị tổng hợp từ thập niên 70–80. Thuốc tiêu diệt được vi khuẩn, giảm thiểu lây lan.

– Nhưng, thưa ông anh, bà mẹ của Thuật nhìn tôi không còn là ánh mắt một ni cô mà trở về với ánh mắt chuyên môn của một y tá viên điều dưỡng, nghề nghiệp của bà ngày xưa:

– Thuốc có thể chữa lành bệnh với đa hóa trị liệu nầy, nhưng không phục hồi được tổn thương của dây thần kinh làm biến dạng mặt, biến dạng bàn tay bàn chân. Ðó là những dấu tích mà con tôi phải chịu đau lòng, mang mặc cảm tủi nhục suốt đời của người mắc bệnh phong cùi!

Nói đến đây, bất chợt ni cô Diệu Ngọc ôm ngực chạy về hướng tịnh thất.

Tôi thật sự xót xa trước nỗi đau của người mẹ như đã nhận lãnh cơn đau của con trai mình. Riêng về Thuật, tôi cảm nhận được đức tin cao cả của chàng. Ðức tin đã vượt lên trên những ước vọng tầm thường mà người phàm đeo đuổi. Tôi tin rằng Chúa sẽ dẫn dắt cậu ấy đi trọn vẹn cuộc đời hạnh phúc sống vì tha nhân.

Chỉ biết ngậm ngùi, tôi đẩy cửa bước ra ngoài. Gió mỗi lúc mỗi mạnh thổi nghiêng ngả hàng cây trụi lá đứng chơ vơ hai bên đường. Cái băng giá ngoài trời làm tăng thêm nỗi u hoài trong tôi. Lê đôi chân nặng trĩu, tôi bước đi dưới bầu trời đang cơn bão tuyết. Từng mảnh tuyết hắt vào mặt tôi như những mảnh vỡ thủy tinh thay nhau cứa vào da thịt tôi rát buốt. Tôi vuốt mặt, tuyết tan ra nhơn nhớt trên đôi tay. Bất giác, tôi có cảm tưởng như máu và đất trộn lẫn nhầy nhụa trên tay tôi ngày nào đã vuốt mắt cho Mỹ khi xác anh nằm bất động trên bờ sông Côn. Tôi lau nhanh những giọt lệ đọng bờ mi trước khi bước lên chiếc xe bus cửa mở sẵn đợi chờ.

[Nguyệt San Mạch Sống thuộc hệ thống truyền thông của BPSOS: http://www.machsongmedia.com.]

Luật pháp hay là một công cụ?

From facebook: Thuong Phan shared Trần Thị Thảo‘s post.

Vừa xong •

Quả đúng là nguy hiểm và không có luật pháp khi ngay trong quá trình điều tra mà cơ quan điều tra đã đưa clip quay phim người bị tạm giam “thú nhận” hành vi phạm tội của mình và đưa lên truyền hình để “kết tội” và nhờ đó được hưởng khoan hồng của pháp luật.

Việc này vừa vi phạm bí mật điều tra, vừa vi phạm nguyên tắc Hiến định “không ai bị coi là có tội cho đến khi có bản án có hiệu lực pháp luật của toà án”. Và nguyên tắc này lại một lần nữa được quy định ngay phần đầu tiên của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đây vừa xâm phạm quyền cá nhân, hình ảnh và vi phạm nguyên tắc điều tra, nguyên tắc suy doán vô tội.

Luật pháp hay là một công cụ? Không còn luật pháp nào nữa nếu cứ tiếp diễn tình trạng này từ chính cơ quan điều tra.

TÔI CÓP PY Stt TRÊN CỦA LUẬT SƯ LÊ LUÂN CHO CÁC BẠN ĐỌC SAU KHI XEM XONG Clip DƯỚI :

– Vì đồng tiền, Nguyễn Văn Hóa (SN 1995, trú tại xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) đã trở thành con rối trong tay Việt Tân và các đối tượng cực đoan để chống Đảng, Nhà nước, thành tựu…
BAOHATINH.VN 
 

NHỮNG BƯỚC ĐI TÁO BẠO

 
 
From facebook: Hằng Lê with Mạnh Hùng Vũ and Xuan Nam Ho.
NHỮNG BƯỚC ĐI TÁO BẠO

Đến giờ cả Nga và Trung Quốc đều thấy e ngại Mỹ vì cái cách làm việc của bộ máy của Trump. Họ làm mà không thể đoán trước được đường đi nước bước của họ.

Ngay khi Tập Cận Bình đặt chân đến thủ phủ của Hoa Kỳ thì Mỹ đã nã tới 59 quả Tomahawk vào Syria để trừng trị nước này vì hành động dùng vũ khí hoá học để giết dân thường của chính quyền bạo tàn dưới thời tổng thống Bashar Al-Assad.

Đây vừa là một thông điệp gửi tới Bắc Kinh về hành động quân sự “không báo trước” và nó như cái tát vào mặt Trung Quốc nhằm cảnh báo tới chính nước này nếu muốn khởi động một hành vi quân sự nào đó hoặc bất chấp luật pháp mà hành xử. Nó cũng là cú đấm bất ngờ đối với Nga khi Hoa Kỳ hành động một cách độc lập và đột ngột, gần như xoá bỏ đi vai trò của Nga trên mặt trận Syria trong vấn đề khủng hoảng và khủng bố ở Trung Đông.

Hơn nữa, việc Trump sẵn sàng trừng trị bằng hành động quân sự đối với Syria cũng là đòn đánh để dằn mặt Triều Tiên về cùng một vấn đề mà Liên Hiệp quốc đã cấm, đó là vũ khí hạt nhân, và kèm theo cả việc trừng phạt đối với hành vi độc tài man rợ xâm hại nghiêm trọng nhân quyền đối với người dân của đất nước bị cô lập này của tên lãnh đạo khát máu Kim Jong Un.

Việc Trump bắt tay Tập Cận Bình và dành một vài lời có cánh cho mối quan hệ Trung – Mỹ chỉ là con bài bề mặt và nhằm đánh lạc hướng Trung Quốc trước các hành động thực sự ẩn phía sau của Hoa Kỳ.

Tôn Tử đã nói trong binh pháp, quân sự là hành động nguỵ trá, và chiến tranh là công cụ của chính trị, ngoại giao lại càng cần nghệ thuật. Nên việc họ tay bắt mặt mừng không có nghĩa khẳng định rằng mối quan hệ đó sẽ tốt đẹp hoặc được xác lập trên sự cam kết chắc chắn nào. Trump và chính quyền của Trump đang hành động khó đoán và vô cùng thực tế, dứt khoát. Thế nên cả Nga và Trung Quốc đều dè chừng và không biết sẽ ứng phó ra sao.

Riêng về việc Philippines nói rằng “Trung Quốc quá mạnh ở biển Đông” và “Chúng tôi không thể ngăn được Trung Quốc xây dựng các căn cứ quân sự hay bồi đắp đảo nhân tạo trên vùng biển đã được phán quyết của PCA”. Theo tôi đây là một tuyên bố nhằm dụ Bắc Kinh hành động “bất chấp luật pháp” để Mỹ và Liên Hiệp Quốc có cơ sở mà “ra đòn trừng phạt”, nếu một khi nước này tiếp tục bồi đắp đảo nhân tạo và tự ý xác lập chủ quyền đối với đảo Scarborough của Philippines mà đã được phân định rõ theo phán quyết của Toà án quốc tế ở Hague, Hà Lan vào tháng 07/2016. Đây là một cách “dụ dỗ” hay “thúc đẩy hành vi trái pháp luật diễn ra” để nhằm có căn cứ rõ ràng cho một hành động trừng phạt của quốc tế dành cho quốc gia nào đi ngược lại phán quyết có hiệu lực của Toà án quốc tế.

Hơn thế, đến Trung Quốc, Trump có rất nhiều con bài và cả nhiều thứ để đặt lên bàn cân mà mặc cả hay ra điều kiện với Trung Quốc.

Riêng ở Biển Đông, Bắc Kinh cũng không có cơ sở hợp pháp để tiếp tục bành trướng. Trong khi đó, Trump có trong tay Đài Loan, Hồng Kông, Tây Tạng, Tân Cương và cả Triều Tiên, để đưa ra yêu cầu đối với nước này ngay tại Bắc Kinh trong thời gian tới.

Những lời nói ngoại giao chỉ là nghệ thuật, nó là thứ bề mặt để che đậy những toan tính thật sự đằng sau của mỗi quốc gia, thậm chí những gì nói ra lại là thứ ngược lại với những kế hoạch mà họ đã dự tính và đang dần từng bước thực hiện. Giống như tay họ Tập này đến Việt Nam thì rất hoà nhã và dĩ hoà vi quý, nhưng ra khỏi lãnh thổ chúng ta thì hắn lập tức trở mặt tuyên bố Trường Sa và Hoàng Sa là của chúng và đường lưỡi bò (9 đoạn) là có giá trị trong tranh chấp với Việt Nam!

Chúng ta cũng thấy được rằng, trong thời gian gần đây, Trump gần như không còn Tweet hay đăng lên facebook những phát ngôn giật gân, nóng nảy và trực ngôn nữa. Ông ta đã dần trầm lắng và hành động âm thầm cùng với các cố vấn và bộ máy mà theo như nhận định, là bộ máy mạnh nhất kể từ thời của vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ, Abraham Lincoln.

Bàn cờ thế giới dần sẽ được sắp xếp lại theo một trật tự mới, nhưng vẫn với vị trí cũ, là Mỹ là cường quốc đứng đầu và định hình thế giới bằng những hành động mạnh mẽ. Trump đã giải quyết vấn đề việc làm cho chính nước Mỹ. Đã thu hút đầu tư và giảm nợ công của Mỹ xuống hàng ngàn tỷ đô chỉ trong vài tháng nắm quyền. Luật Magnitsky cũng đã có hiệu lực và lập tức được thực thi bằng một danh sách (đen) những cái tên đã có những hành vi vi phạm nhân quyền nghiêm trọng ở các quốc gia (độc tài, toàn trị) khác trên toàn thế giới.

EU và châu Âu, đều ủng hộ những hành động của Trump, của chính quyền mới của Đảng Cộng hoà. Họ không phàn nàn mặc dù chính các nước này đã phải đau đầu với những dự tính, chính sách mang tính mặc cả tiền bạc rất thực dụng từ Trump.

Trước một tên côn đồ, đương nhiên Mỹ sẽ phải mạnh mẽ, nhưng khác ở chỗ, Mỹ sẽ dùng luật pháp để chơi lại những tên ngông cuồng và bành trướng bất chấp luật pháp. Và hơn thế, thế giới cũng sẽ không bao giờ có thể được và bị dẫn dắt bởi một quốc gia, dù có to về diện tích hay nhiều về dân số, nhưng lại chưa bao giờ trở thành biểu tượng của trí tuệ, giá trị nhân văn và thượng tôn luật pháp của nhân loại như Trung Quốc hoặc Nga.

Vì một đất nước dung túng cho một chính quyền độc tài, toàn trị và dã man thì không bao giờ có thể có sự đồng thuận hoặc tôn trọng của thế giới văn minh.

Thế giới, vì thế vẫn cứ vận hành và rồi sẽ lại được định hình theo cái cách người Mỹ tính toán và đang từng bước thực thi nó.

(Luân Lê)

Image may contain: 3 people, fire
 
LikeShow more reactions

Comment

Ở Việt Nam, mỗi ngày, 315 người chết vì bịnh ung thư

From facebook: Hung Tran and 3 others shared Dương Tuấn Ngọc‘s post.
Image may contain: text

From facebook:  Dương Tuấn NgọcFollow

 

Giới trẻ nơi tôi sống – hôm nay – họ có thể kể cho bạn nghe rất rành về Ông Donald Trump, vợ con ông, scandals của ông. Giới trẻ bàn về 59 quả Tomahawk, thậm chí họ biết luôn chỉ có 23 quả trúng mục tiêu. Nhiều bạn còn mạnh mẽ bàn về Nhân Quyền trong việc Tổng thống Mỹ bắn tên lửa qua nước khác.


Nhân tiện các bạn quan tâm về #Syria, mình xin bổ sung thêm tin này.
.
http://m.nguoiduatin.vn/bang-hoang-moi-ngay-co-315-nguoi-vi…
http://www.baogiaothong.vn/hon-280000-nguoi-da-thiet-mang-t

  •  

Công lý vẫn chỉ là thằng hề?

 
 
From facebook:  Trần Bang added 2 new photos.
Công lý vẫn chỉ là thằng hề?

Cháy kho tang vật ( hàng trăm xe máy và kho bị cháy (ảnh 1) thiệt hại ước cũng cả tỷ đồng ở công an Đồng Nai (ngày 8-4-2017) thì không thấy khởi tố điều tra?

Formosa xả độc ra biển hủy hoại môi trường biển miền Trung, làm cá chết dọc 250 km bờ biển, làm thiệt hại hàng tỷ đô la (làm giảm gần 1% GDP của VN năm 2016) làm mấy trăm ngàn người thất nghiệp, và nhiều hệ lụy khác sao không khởi tối?

Dân đi kiện Formosa thì Tòa không thụ lý, hoặc tìm cách bác đơn…

Dân là nạn nhân của Formosa Hà Tĩnh bức xúc vì việc đền bù chưa thỏa đảng đã biểu tình chặn Quốc Lộ 1 (ngày 3-4-2017(ảnh 2) thì khởi tố tội gây rối?

Tư pháp Hà Tĩnh đang đổ thêm dầu vào lửa căm phẫn của nhân dân ư?

http://infonet.vn/ha-tinh-khoi-to-vu-an-chan-xe-tren-quoc-l…

http://tuoitre.vn/…/chay-rui-hang-tram-xe-tai-…/1294491.html

Image may contain: plant and outdoor
Image may contain: one or more people, sky, crowd, outdoor and nature
 

Đào xới Cù Lao Chàm làm khu du lịch khi chưa đủ Đánh giá Tác động Môi trường (ĐTM).

From facebook:   Hoang Le Thanh‘s post.
Image may contain: one or more people, people standing, mountain, outdoor and nature
Image may contain: mountain, outdoor and nature
Hoang Le Thanh added 2 new photos.

 

Công Ty Cổ phần Thương mại Đầu tư (CPTM-ĐT) CÙ LAO CHÀM được nhắc trong bài bị cho công ty con của SUN GROUP.

NHƯ THƯỜNG LỆ CÁC BÀI VIẾT TRÊN BÁO ĐỀU BỊ GỠ TRONG TÍCH TẮC.

TÔI HOÀN TOÀN TUYỆT VỌNG VỚI BÁO CHÍ VIỆT NAM.

TÔI CHỈ BIẾT THA THIẾT NHỜ CÁC BẠN CHIA SẺ LẠI NỘI DUNG NÀY

Bao Trung Nguyen

Tính đến giờ, những tờ Phụ nữ, Tiền Phong, Một Thế Giới, Quảng Nam, Pháp luật TPHCM đã rút bài xuống, không biết theo lệnh của ai.

Căn cứ vào Nghị định của Chính phủ về lưu chiểu điện tử đã có hiệu lực, trong đó yêu cầu các đài, báo phải lưu giữ nguyên trạng tác phẩm như khi nó xuất bản để phục vụ quản lý nhà nước, thì những cơ quan báo chí này đã vi phạm pháp luật.
_________<>__________

Đào xới Cù Lao Chàm làm khu du lịch khi chưa đủ Đánh giá Tác động Môi trường (ĐTM).

Một dự án khu du lịch đang tiến hành đào xới làm đường xâm phạm vào rừng tự nhiên tại khu vực Bãi Bìm (đảo Cù Lao Chàm, TP.Hội An, Quảng

Chính quyền sau khi kiểm tra đã phát hiện chủ đầu tư chưa hoàn thiện Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và đình chỉ hoạt động xây dựng.

Xâm hại rừng tự nhiên.

Gần một tháng nay, người dân trên đảo Cù Lao Chàm (đơn vị hành chính là xã đảo Tân Hiệp, TP.Hội An) phát hiện phía trên con đường quốc phòng đi ngang khu vực Bãi Bìm, rừng cây đang bị tàn phá để xây dựng khu du lịch.

Công trình này của chủ đầu tư là Công ty Cổ phần Thương mại – Du lịch – Đầu tư Cù Lao Chàm. Tại hiện trường, chủ đầu tư đang đào xới một tuyến từ hướng Bãi Chồng đến đoạn giữa Bãi Bìm, có chiều dài hơn 150 mét, rộng 5 mét; một tuyến ở vị trí Bãi Bìm giáp với Bãi Hương dài gần 200 mét, rộng chừng 4 mét nhằm nối khu vực san ủi với trục đường quốc phòng chạy ngang phía dưới. Xung quanh khu vực này nhiều cây cối đã bị đốn hạ, một số gốc cây bị vùi lẫn cùng đất đá. Đây là khu vực được xác định không được xâm hại.

Việc san ủi đường, làm mái taluy cơ bản gần như hoàn tất. Theo tính toán của cơ quan chức năng, phần diện tích đã bị san ủi là 4.000m2, bao gồm 2.000m2 làm đường và 2.000m2 làm taluy.

Chưa hoàn thiện ĐTM, đào đường ngoài phạm vi.

Trao đổi với phóng viên, ông Lê Trí Thanh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho biết: “Hôm thứ Sáu (7/4) tôi đã chỉ đạo Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên – Môi trường, TP.Hội An đi kiểm tra và sẽ có báo cáo. Chắc thứ 2, thứ 3 gì mới có”.

Theo ông Thanh, dự án này đã được phê duyệt và cấp các thủ tục xây dựng từ 2005 nhưng sau đó bị bão hư hại các công trình nên chủ đầu tư dừng lại không triển khai tiếp. Đến năm 2015, doanh nghiệp mới triển khai lại dự án. “Khi triển khai lại thì tỉnh có đề nghị họ giảm quy mô diện tích xuống và đã thống nhất giảm nhưng họ cứ nghĩ có giấy phép rồi và làm như quy mô cũ”, ông Thanh nói.

Vị này cho biết, năm 2005 Công ty Cổ phần Thương mại – Du lịch – Đầu tư Cù Lao Chàm được phê duyệt đầu tư xây dựng khu du lịch ở vị trí trên với tổng diện tích thuê khoảng hơn 200ha (trong đó gần 100ha mặt biển).

Năm 2009 Cù Lao Chàm được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Do đó, tỉnh Quảng Nam đã yêu cầu chủ đầu tư thu hẹp lại diện tích lại. Việc này Sở Xây dựng đã làm việc và thống nhất với chủ đầu tư.

Theo đó, thay vì diện tích làm dự án theo giấy phép cũ kéo dài từ mặt biển lên phía trên đường quốc phòng thì khi thu hẹp lại đúng theo yêu cầu sẽ chỉ làm từ phía dưới đường quốc phòng xuống mép biển, diện tích khoảng 20ha mặt đất.

Tuy nhiên, không làm đúng theo yêu cầu của tỉnh Quảng Nam, chủ đầu tư vẫn tiếp túc phá rừng, mở đường ở phía trên tuyến đường quốc phòng.

Lý giải về việc phá rừng xây dựng hơn 300m đường sai phạm kể trên, ông Thanh lý giải: “Sau khi điều chỉnh lại dự án thì tuyến đường quốc phòng xây dựng có đi ngang khu đất của chủ đầu tư; họ có ý kiến cho xây dựng một tuyến đường khác để thay thế và bên quân sự cũng đã thống nhất thì người ta làm”.

Đáng nói, việc mở đường này nằm ngoài phạm vi dự án đã điều chỉnh và chưa được bổ sung trong ĐTM. “Cái này gọi là chỉnh sửa bổ sung ĐTM vì từ diện tích lớn hơn mà thu bé lại thì tác động môi trường sẽ ít đi. Bây giờ phần thi công con đường thì dừng lại đã để cập nhật Đánh giá Tác động Môi trường, còn những phần khác vẫn được thi công theo giấy phép năm 2005”, ông Thanh xác nhận.

Được biết, chính quyền xã Tân Hiệp và các phòng ban liên quan của TP.Hội An đã nhiều lần yêu cầu tiến hành điều chỉnh phạm vi dự án nhưng Công ty CP Thương mại – Du lịch – Đầu tư Cù Lao Chàm không chịu hợp tác.

Hoàng Thanh Nhân (Phụ Nữ)