Trốn Trại Qua Campuchia

No automatic alt text available.
‎From facebook:  Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

 

Trốn Trại Qua Campuchia –

Phần 2 – Nguyễn Ngọc Thạch

Má tôi thì già yếu không có làm gì ra tiền . Hồi truớc Má tôi đi may đồ quần áo ở trong nhà thương Mỷ Tho , nhưng đã nghỉ lâu rồi .
Sau này mới biết là ở nhà không có đủ tiền để mua gạo , đôi khi còn phải bán máu để đổi lấy mấy bát cơm , thì nói gì đến thức ăn sang trọng .

Thì ra em tôi chạy qua Chợ Củ để xin Cô tôi . Cô Ba tôi có mở tiệm ăn , Cô rất thương tôi , vì vậy khi hay tin tôi về , cô tôi liền gởi cơm và đồ ăn rất ngon qua cho tôi .
Ở đây đuợc mấy ngày thì vợ tôi xuống thăm tôi làm cho tôi càng thêm lo sợ , vì sợ Công An theo dõi .
Tôi mới tính tìm đuờng vuợt biên chớ ở đây lâu thế nào cũng bị bại lộ .
Mà tìm đuờng dây để vượt biên không phải là chuyện dễ dàng . Phần thì không có tiền , phần thì không dám đi lại nên cũng không biết cách nào để vuợt biên , mà tội vuợt biên lúc đó bị coi như là tội phản quốc , chạy theo đế quốc , bọn Công An Biên Phòng bắt đuợc là chỉ có chết . Hồi đó đã có xảy ra những cảnh vuợt biên bị đổ bể , bị Công An tàn sát như ở cầu Chữ Y Sài Gòn , như ở bãi biển Vũng Tàu , nhu ở kinh Chợ Gạo hay ở cửa biển Gò Công …

Họ tàn sát không nương tay, mặc cho tiếng khóc trẻ thơ , hay những lời van xin lạy lục , của những nguời khốn khổ cùng đuờng .
Tôi dự định nếu không tìm được đuờng đi bằng ghe tàu , thì như đã hẹn với Thu và Bình , là sau một tháng chúng tôi sẽ gặp lại nhau , để bàn tính để đi bằng đuờng bộ .

Vợ tôi lại xuống một lần nữa và lần này có cả đứa con gái đầu lòng của tôi .
Coi như vậy là tôi ở đây đuợc một tuần lể và vợ tôi đem tiền xuống lần này là để mua vé xe cho tôi đi Cà Mau vào sáng sớm mai , vì hy vọng ở Cà Mau dễ kiếm đuờng vượt biên hơn .

Bất ngờ ngay buổi chiều hôm đó vào khoảng 7 giờ , thì có một người anh bà con Cô Cậu , đi cùng với một nguời bạn , xuống thăm để từ giã Má tôi , để sáng sớm mai họ lên đường đi Kampuchia , và từ đó sẽ tìm đuờng vuợt biên , và anh muốn xin địa chỉ của em tôi , hiện đang sống ở Mỹ , để anh liên lạc khi cần .
Thật là một điều quá may mắn cho tôi vì sau khi anh biết tôi vừa mới trốn về nên anh kéo tôi đi theo luôn .
Thế là phải trở về Sài Gòn ngay trong đêm nay để sáng sớm mai lên đuờng đi Kampuchia . Tôi từ giã Má tôi và để đứa con gái đầu lòng ở lại với Bà Nội .

Tôi và vợ tôi đi theo Long và Nghĩa ra đón xe để về Sài Gòn . Tôi ra đi mà lòng buồn vô hạn , rồi không biết sẽ đi tới đâu trên buớc đuờng bôn ba vô định này .
Ở lại Mỷ Tho thì không được , mà đi qua Kampuchia thì cũng không biết ra sao , thật là đau lòng truớc cảnh chia tay , rồi đây không biết có còn được gặp lại nhau .

Trong đêm đó hai bà cháu đã tụng niệm suốt đêm để cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được bình an . Trời đã tối lúc đó khoảng 9 giờ đêm nên không còn xe chạy về Sài Gòn . Chúng tôi đón chiếc xe lôi đạp để đi vô ngã ba Trung Lương , hy vọng ở đó sẽ có nhiều xe miền Tây lên , dể đón hơn .
Ông Xe Lôi , đạp không muốn nổi , vì trên xe có tới 4 nguời , nên chúng tôi phải thay phiên nhau nhảy xuống để đẩy phụ , nhứt là khi lên dốc cầu Trung An , thì phải nhảy xuống hết rồi qua cầu mới nhảy lên lại .
Vô tới ngã ba Trung Lương là trời đã tối , nên không còn thấy xe miền Tây nào hết , mà chỉ thấy có một chiếc xe hàng bị hư máy và nguời tài xế đang sửa chửa .

Chúng tôi mon men lại gần tìm cách làm quen rồi dọ hỏi xin quá giang về Sài Gòn , nhưng ông tài xế nhìn chúng tôi như nghi kỵ điều gì nên lắc đầu trả lời một cách sẳn giọng là xe đang hư mà làm sao cho quá giang đuợc , vì vậy chúng tôi lại lủi thủi đi tiếp .

Ở đây có một trạm Công An khá lớn để xét xe từ miền Tây lên , nên có nhiều Công An ở đồn bót này , nên trong đêm tối mà đi lang thang ở đây cũng nguy hiểm lắm . Tình cờ có một chiếc xe lô chạy từ Mỷ Tho lên huớng về Sài Gòn , chúng tôi mừng quá đón ngoắc lại nhưng xe không ngừng mà chạy luôn một khoảng , rồi bỗng đâu xe dừng lại và lùi lại cho chúng tôi quá giang .
Bác Tài chỉ cho đi quá giang một quãng đuờng lên đến Tân Hương để đón xe khác mà đi , vì xe này đi về nhà để nghỉ nên không có đi Sài Gòn .

Trong khi xe đang chạy và qua tài giao thiệp của anh Long , cũng là Lơ Xe , nên anh biết nhiều nguời trong nghề xe đo nên câu chuyện dần dần trở nên thân mật và Bác Tài dần dần có cảm tình với chúng tôi . Và sẳn đó anh Long đề nghị bao xe đi Phú Lâm rồi bận về anh sẽ phụ giúp tìm khách cho chuyến trở về .
Vợ tôi móc trong túi ra đếm còn 200 đồng nên đề nghị bao xe 200 đồng và nhờ anh Long nói thêm vô , nên sau cùng Bác Tài chịu đi Phú Lâm với giá 200 đồng .

Thật là hết sức may mắn , chớ nếu tới Tân Hương chưa chắc gì có xe để đi , mà nếu không lên kịp Sài Gòn trong đêm nay thì ngày mai xe sẽ đi sớm rồi , sẽ mất đi một dịp may hiếm có ngàn vàng .
Khi xe chạy qua khỏi trạm Công An Tân Huong một quảng , thì gặp một tốp Công An ra chận đuờng . Tôi thấy nguy vì trên xe không có ai khác , chỉ có gia đinh tôi , nên rất khó xoay sở trà trộn . Tôi có ý dò hỏi Bác Tài coi tính sao , nhung Bác Tài cho biết là xe không có ngừng đâu vì tụi này là tụi chuyên chận xe dọc đuờng để ăn cuớp , Bác Tài rất rành về bọn này . Tôi nghe thế cũng thấy mừng thêm , vì thà là chạy luôn nó có bắn theo cũng khó trúng .
Bác Tài cho xe giảm tốc độ rồi khi đến gần bọn chúng thì tống hết ga vuợt nhanh qua , nên chúng trở tay không kịp , nên xe chạy vuợt qua một cách êm xuôi .

Nhưng tôi lại lo cho trạm kiểm soát kế tiếp sợ tụi nó gọi máy báo lên chận bắt xe lại thì còn nguy hiểm hơn . Tôi hỏi ý Bác Tài thì Bác Tài nói là tụi nó đâu có máy móc gì đâu mà báo đừng có lo , nên tôi càng yên tâm tin tuởng Bác Tài muôn phần . Xe qua khỏi Tân An , Bến Lức , Bình Chánh rồi vào Phú Lâm một cách êm xuôi .
Sau khi trả tiền xe xong xuôi là chúng tôi chạy đi ngay vì trời đã tối rồi mà còn phải chạy lo kiếm mượn tiền để đi .

Chúng tôi về nhà của Nghĩa cũng ở gần đó , vợ chồng tôi muợn chiếc xe đạp để đạp vô Phú Thọ . Vô tới nhà chị Đồ là đúng nửa đêm , giờ giới nghiêm . Chị Đồ không có sẳn vàng chị rút chiếc nhẩn đang đeo trên tay 2 chỉ vàng đưa cho tôi mượn đở .
Tôi đạp xe đạp chở vợ tôi trở về nhà của Nghĩa trong lúc đã quá giờ nghiêm nên cũng sợ bị hỏi giấy tờ hay bị bắt lại thì trể chuyến xe sáng sớm mai đi . Tôi đạp xe lên dốc cầu Minh Phụng không nỗi , vợ tôi phải xuống xe đẩy phụ qua cầu , nguời của tôi lúc đó rất là ốm yếu xanh xao .

Về tới nhà Nghĩa , là chúng tôi phải đi ngay đến chổ đậu xe , để kịp chui vô trong xe sắp xếp truớc khi trời sáng . Đây là chiếc xe hàng dân sự bị VC trưng dụng để chở chiếu qua Nam Vang tiếp tế cho bộ đội VC bên Kampuchia .
Long là Lơ Xe của chiếc xe này nên mới dấu Nghĩa và tôi vô trong đống chiếu mà tài xế không hay biết gì .
Sau khi sắp lại đống chiếu , vạch ra một lổ vừa đủ để hai đứa tôi chui vô , xong rồi Long mới gác hai cây gỗ đà ngang trên đầu rồi sắp chiếu phủ kín lên như cũ rất là kín đáo .

Chúng tôi đem theo một bình nước và hai ổ bánh mì với một gói muối .
Ngoài hai chỉ vàng của chị Đồ cho muợn , vợ tôi đưa luôn chiếc nhẫn cuới đang đeo ở tay đưa cho tôi , như vậy tôi mang luôn hai chiếc nhẫn cuới . Lúc đó cũng khoảng 3 ,4 giờ sáng , vợ tôi và má của Nghĩa cũng vẫn còn ngồi đâu đó để chờ sáng ra xe chạy . Long ngồi ở ngoài nên có cho tụi tôi biết là vợ tôi và má của Nghĩa khóc nhiều lắm , vì không biết chúng tôi đi làm sao , vì không ai có tiền hay có vàng đem theo , không biết rồi sẽ đi đến đâu . Riêng tôi thì tôi quyết ra đi mặc dầu không biết ra sao , nhưng vẫn còn tốt hơn là ở lại Việt Nam .

Sáng sớm hôm sau xe rời bến để đi Nam Vang , nhìn qua khe ván ở sàn xe trời còn lờ mờ nghe tiếng nguời nói lao xao mới biết là vừa qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền . Khi đến trạm kiểm soát biên giới thì họ chỉ xét qua loa vì đây là chuyến xe công tác chở đồ cho bộ đội VC . Xe chạy càng nhanh đống chiếu trên đầu càng đe nặng , vì cây gỗ chận trên đầu không còn ở nguyên vị trí củ , mà vì sự lúc lắc của chiếc xe đa làm lệch đi và hai đứa tôi phải đưa lưng chống đở sức nặng bên trên đè xuống . Tệ hại hơn nữa là dọc đuờng VC đón xe đi quá giang nên họ ngồi trên đầu chúng tôi . Nghe tiếng họ nói chuyện với nhau thì biết là VC đang ngồi ở ngay trên đầu mình .

Chúng tôi phải rán đưa lưng ra chịu đựng , vì chỉ sợ nó sụp xuống thì bị lộ ngay , rất là nguy hiểm . Khi tiểu tiện thì phải đợi lúc xe chạy nhanh rồi mới dám tiểu qua khe hở của ván sàn xe mà phải tiểu từ từ để bên ngoài không thấy không biết .
Đến chiều thì xe tới nơi đậu vào một chổ nào đó mà tôi nghe có tiếng nhạc của những bản nhạc ngày xưa .
Tôi mừng thầm vì được nghe lại những tiếng hát quen thuộc đầm ấm nồng nàn tràn đầy kỷ niệm của ngày truớc . Tiếng nhạc hoà lẫn tiếng nguời nói chuyện lao xao gần bên cạnh xe .
Chúng tôi vẫn nằm im trong xe chờ khi nào có hiệu lệnh của Long thì mới ra đuợc .

Một hồi lâu sau khi bên ngoài hoàn toàn im vắng và khi nghe ba tiếng hiệu lệnh của Long thì chúng tôi chui ra . Khi nhảy xuống xe , tôi không thể đứng được vì bị ngồi lâu trong thế co ro nên chân bị tê cứng , mà Long thì thúc hối phải đi khỏi nơi đây ngay vì sợ tài xế và an ninh đoàn xe họ biết , nên tôi và Nghĩa phải cố lết đi ra khỏi xe thật xa .

Nhìn chung quanh , đây là một bồn binh khá lớn ở cuối đại lộ , bên cạnh một sân vận động , xe đậu một đoàn dài chừng vài chục chiếc , tài xế và Lơ Xe khá đông , có nhiều xe họ mang theo cả gia đinh vợ con với đồ đoàn nồi niêu soong chảo , nên tôi thấy cũng dễ trà trộn ẩn thân . Tối đó tôi và Nghĩa ngủ ở một đám cỏ bên cạnh đường khoảng giữa đoàn xe và không dám gần xe nào cả vì sợ họ báo với an ninh đoàn xe .

Ngay tối hôm sau , tôi bán chiếc nhẩn cuới đuợc 75 đồng Riel , tiền Kampuchia , và nhờ Long môi giới mời một số tài xế Lơ Xe ra quán nuớc uống cà phê nghe nhạc , để tìm cách lân la làm quen gây cảm tình với họ . Tôi và Nghĩa đóng vai Lơ Xe , bạn với Long .
Vì Nghĩa cũng là Lơ Xe nên nói chuyện dễ dàng , còn tôi thì cảm thấy hoàn toàn xa lạ , nên trong các câu giao tiếp tôi thuờng cuời nhiều hon là nói vì sợ bị bại lộ tông tích .

Ban ngày thì ra chợ Nam Vang , bữa đầu thì đi bằng xe lôi cho mọi nguời thấy , và vì không biết đường , mấy lần sau thì đi bộ . Đi ngang qua mấy con đuờng rất đẹp với hai hàng cây phủ mát bên đuờng , với những ngôi biệt thự sang trọng kiến trúc theo kiểu villa của Pháp , giống nhu khu đường Duy Tân , Yên Đổ ở bên xứ mình .
Mấy ngôi nhà sang trọng đó bây giờ là dinh của VC , treo cờ đỏ sao vàng và có lính canh truớc cổng . Mỗi khi đi ngang qua thấy hơi chùng chân vì sợ nó hỏi giấy tờ bất tử .

Uống nuớc phong tên ở gần đó , ăn cơm thì mua của mấy gánh bán hàng rong , cơm một dĩa 10 đồng Riel . Ra ngoài chợ thì đi lòng vòng coi nhìn cái này cái nọ cho hết thì giờ , thỉnh thoảng Công An chạy ruợt đuổi bắt người ở trong chợ , làm mình cũng sợ giật mình . Tôi thì có ý định tìm mua một quyển sách địa lý để coi bản đồ vùng Battambang , Siem Rệp , vùng biên giới Thái Lan . Họ bày bán sách cũ rất nhiều nhưng đều là tiếng Miên .
Tôi lựa xem mấy cuốn sách có hình bản đồ rồi mua một quyển . Nhưng vì tôi không biết tiếng Miên mà mua sách Miên trong đó có hình bản đồ địa lý , nên họ có ý nghi ngờ . Mua xong tôi lật đật đi bộ về chổ đậu xe vì sợ họ báo với Công An chợ .

Sau khi nghiên cứu bản đồ để biết địa thế , đường đi nuớc buớc , cũng như khoảng cách bao xa . Tôi cố học thuộc lòng vùng Battambang , Siem Rep , vùng gần biên giới Thái Lan , rồi xé bỏ quyển sách đó ngay .
Lúc bấy giờ bên Miên hoàn toàn do VC kiểm soát , thỉnh thoảng có mấy tên lính Miên trẻ mặt còn non choẹt , mang khẩu AK dài đụng tới đất .

Ở đây họ mắc loa phóng thanh cứ sáng sớm và chiều tối là nghe tiếng nhạc Miên , một âm điệu đều đều nghe buồn não ruột , nghe nhớ nhà , nhớ vợ nhớ con , nhớ quê hương mình vô cùng . Cuộc đời tôi cũng không ngờ lại lưu lạc đến noi đây , xứ lạ quê nguời , rồi cũng không biết ngày mai sẽ ra sao . Nghĩ lại thân phận mình , lêu bêu bình bồng , mà cảm thấy buồn vô hạn .

Tôi lân la mấy quán nuớc làm quen hỏi chuyện để tìm đuờng đi , thì đuợc biết là xe lửa chạy từ Nam Vang lên Battambang đã bị giật mìn không còn chạy nữa , bây giờ chỉ còn đuờng xe , nhưng VC đặt rất nhiều nút chận kiểm soát để chận bắt đào binh , nên rất khó mà lọt qua đuợc . Tôi ra phía đầu thành phố đường đi về huớng Battambang để xem trạm kiểm soát họ xét ra sao . Tôi thấy rất ít xe đi về phía đó và họ kiểm soát rất kỹ . Xe thì không thấy loại xe đò chở khách , mà toàn là xe chở hàng hay xe quân sự .
Vả lại tôi không biết tiếng Miên nên rất ít hy vọng thoát qua đuợc , giá mà còn xe lửa thì tốt hơn .
Ở đây đuợc 3 ngày thì nghe tin đoàn xe được lệnh đi xuống hải cảng Kompong Som tức là Sihanoukville .

Tôi không biết hải cảng này ra sao , nhưng nghe nói ở đó có tàu ngoại quốc ra vào . Trước đó tôi có dọ hỏi đuờng lên Battambang , thì họ nói là phải có nguời dẫn đuờng và phải trả bằng vàng , ít nhứt là hai lượng . Trong mình tôi chỉ đuợc hai chỉ vàng thì làm sao mà đi và hơn nữa chúng tôi không biết tiếng Miên nên rất khó khăn , thành ra tôi đã bỏ ý định đi lên Battambang . Bây giờ nghe tin đi xuống hải cảng Kampong Som thì tôi thấy cứ đi đại xuống đó rồi sẽ tính sau , dầu sao ở hải cảng cũng còn có hy vọng hơn .

Buổi trưa hôm đó tôi và Nghĩa ra chợ mua một nải chuối , lên chùa Năm Tháp gần đó để cúng Phật , để cầu xin Đức Phật Từ Bi độ trì đưa đuờng dẫn lối cho chúng tôi thoát ra đuợc khỏi nạn Cộng Sản . Sau khi quỳ lạy cầu nguyện Đức Phật xong , khi đứng lên là không còn thấy nải chuối đâu hết , mà trong lúc chúng tôi quỳ lạy thì có nguời tới chớp nải chuối đi mất thật là nhanh .
Đêm đó suy tính cách theo xe để đi , vì Long bảo phải tìm xe khác mà đi , chứ không được đi theo xe cũ vì sợ tài xế biết . Trong thời gian mấy ngày ở đó tôi cũng đã quen biết nhiều nên họ nhận cho tôi đi theo . Đoàn xe đi đến trạm kiểm soát thì ngừng lại để xét truớc khi ra khỏi thành phố , nhưng vì đoàn xe này có sự vụ lệnh đi công tác xuống hải cảng để chở hàng cho bộ đội VC nên không bị lục soát hay hỏi han gì và qua trạm kiểm soát này một cách dễ dàng .

Nguyễn Ngọc Thạch ( Khoá 20 Võ Bị Đà Lạt )

Thiếu Tá Trịnh Lan Phương chọn cái chết thay vì đầu hàng

Thiếu Tá Trịnh Lan Phương chọn cái chết thay vì đầu hàng

Huy Phương/Người Việt

Trịnh Lan Phương, cựu sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. (Hình: Huy Phương cung cấp)

Sáng 30 Tháng Tư, 1975, sau khi Đại Tướng Dương Văn Minh lên Đài Phát Thanh Sài Gòn kêu gọi quân đội buông súng đầu hàng vô điều kiện, rất nhiều vị anh hùng của chúng ta chọn cái chết tại chỗ thay vì ra hàng với giặc.

Thất vọng, bẽ bàng, căm giận, hàng ngàn người lính miền Nam đã tự sát để khỏi rơi vào tay quân địch, tránh nỗi ô nhục của một hàng binh trước cảnh nước mất, nhà tan.

Thế giới đã biết đến những vị tướng lãnh miền Nam, tư lệnh những đại đơn vị đã tuẫn tiết khi nghe tin Sài Gòn thất thủ, nhưng đã có biết bao nhiêu anh hùng vô danh, lặng lẽ chọn cái chết về phần mình, mà không hề ai biết đến.

Thiếu Tá Trịnh Lan Phương là một trường hợp như thế!

Hoàn cảnh gia đình của ông mang những nghịch cảnh đau lòng trong chiến tranh. Gia đình bên ngoại ông là một điền chủ giàu có ở Tây Ninh, nhưng thân phụ ông lại là một chàng trai từ miền Bắc phiêu bạt vào Nam.

Sau khi ông ra đời vài năm, thân phụ ông bỏ gia đình tập kết ra Bắc, gây phật lòng cho gia đình bên ngoại của ông, vốn có lập trường kiên quyết không chấp nhận chế độ Cộng Sản.

Không được hỗ trợ của gia đình, cũng không biết tin tức của chồng, với đồng lương giáo viên ít ỏi, mẹ ông cần kiệm nuôi con khôn lớn với nỗi xót xa trong một hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ không chồng, con không cha.

Năm 1964, chiến tranh tại miền Nam bùng phát dữ dội, như hầu hết những thanh niên miền Nam, Trịnh Lan Phương tình nguyện nhập ngũ, và ông chọn trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Khóa 21.

Ra trường vào cuối năm 1966, Thiếu Úy Trịnh Lan Phương được phân phối chỉ huy một đơn vị Biệt Động Quân tham chiến tại Đắc Tô, Tân Cảnh, Kon Tum. Tháng Mười Hai, 1966, ông được thăng trung úy và giữ chức đại đội trưởng.

Từ Tháng Bảy, 1968, cho đến Tháng Tư, 1975, ông được chuyển về phục vụ tại Đội Cận Vệ Phủ Tổng Thống VNCH.

Ngày 30 Tháng Tư, 1968, ông kết hôn với cô Huỳnh Thị Kim Hoa. Năm 1970, hai vợ chồng ông sinh con gái đầu lòng là Trịnh Thiên Hương. Để giúp đỡ thêm đồng lương với chồng, vợ ông mở thêm một tiệm sách báo nhỏ trong đường hẻm gần trường tiểu học Mạc-Ty-Nho. Tháng Ba, 1975, vợ chồng ông sinh thêm con trai là Trịnh Đức Huy.

Đầu năm 1975, ông được vinh thăng thiếu tá.

Trưa 30 Tháng Tư, 1975, sau lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh, Thiếu Tá Trịnh Lan Phương từ phủ tổng thống trở về căn nhà nhỏ ở đường Nguyễn Thiện Thuật, Bàn Cờ, quận 3. Trong tình trạng hỗn loạn của Sài Gòn, ai cũng kéo cánh cửa nhà, nín lặng chờ những biến cố mới.

Thiếu Tá Trịnh Lan Phương chọn cái chết thay vì đầu hàng
Thủ bút của Trịnh Lan Phương: “Súng đạn, xương máu, chiến thắng và hy sinh.” (Hình: Huy Phương cung cấp)

Sau bữa cơm trưa qua loa, ông ôm hôn hai đứa con và lặng lẽ leo lên căn gác nhỏ để nghỉ ngơi như thường lệ. Vào khoảng 3 giờ chiều, một tiếng nổ chát chúa vang lên trên căn gác nhỏ.

Trong âm thanh hỗn tạp của một đô thị lớn như Sài Gòn, không ai để ý đến tiếng nổ ấy, nhưng gia đình Trịnh Lan Phương cảm thấy có sự bất thường. Người em trai vợ, trước tiên, rồi chị ông, cả bà mẹ già tuôn lên căn gác, thì ông đã chết. Khẩu súng Colt 45 ở trong tay, máu từ thái dương bên phải tuôn ra từng dòng.

Ông được đưa vào bệnh viện Sài Gòn ngay sau đó, để được bác sĩ khám nghiệm và ghi một dòng chữ kết luận: “Plaies par balls du crane” (Thương tích trên sọ do đạn). Giữa cảnh tên bay đạn lạc ngày ấy, ai còn để ý đến viên đạn nổ trong hộp sọ của một người lính tan hàng!

Cả một quân đội hùng mạnh tan vỡ trong chốc lát, chí nguyện của người lính chưa thành, hay hình ảnh người cha bên kia chiến tuyến đã quên mặt, trở về như một kẻ xâm lược đắc thắng, là nguyên nhân của viên đạn oan nghiệt cuối cùng.

Trong thư của Trịnh Thiên Hương, con gái đầu của ông gửi cho bạn bè ông, có ghi lại:

“Tự hào vì ba của mình, một người cha vĩ đại trong lòng cháu. Từ 5 tuổi cháu đã mồ côi cha, hình ảnh người cha trong tâm trí cháu là một người đàn ông, đẹp trai, cao lớn, hiền lành, vui tính, yêu vợ thương con, sống chân thật với những người thân xung quanh và tình yêu đẹp thật lãng mạn của ba mẹ (đây là những lời kể lại từ bà nội, bà ngoại và các dì của cháu – từ đó hình thành lên một hình ảnh người cha tuyệt vời trong tâm trí cháu).

Cháu không được nghe bất kỳ một lời nói nào của ba từ mẹ cháu cả. Ba cháu tự sát tại nhà, ngay ngày 30 Tháng Tư, 1975, cháu vẫn còn bị ám ảnh mãi trong tâm trí mình những người cậu, ôm ba từ trên gác xuống.

Mẹ cháu, bà ngoại và mọi người thì gào khóc, cháu không được nhìn thấy ba, vì bị mọi người ôm cháu lại và che đi, nhưng cháu vẫn nhớ hoài hình ảnh rối loạn chiều hôm đó. Sau đó thì cháu không gần mẹ cháu nữa, thậm chí đứa em cháu – Trịnh Đức Huy – mới tròn một tháng tuổi cũng không được gần mẹ. Mẹ cháu lúc đó không còn bình thường nữa, do cú sốc quá lớn, tinh thần không ổn định, nên mẹ cháu đã bị khủng hoảng, không chịu đến gần chị em cháu. Kể từ đó cho đến bây giờ, cháu không bao giờ nghe mẹ nhắc về ba. Hai chị em cháu lớn khôn thành người nhờ sự chăm sóc nuôi dưỡng của ông bà ngoại và các dì. Bà nội cháu cũng đi tu sau khi an táng ba cháu.

… Hiện bây giờ chỉ còn mẹ cháu là người duy nhất biết về ba, nhưng trí nhớ của mẹ cháu sau 42 năm, từ khi ba mất đã không còn như xưa nữa. Cách đây 10 năm, mẹ cháu bị tai biến, xuất huyết não, hiện tại đang bị liệt nửa người, tinh thần không còn minh mẫn nữa. Vì vậy, cháu rất buồn và cảm thấy bất lực khi đi tìm thông tin về người cha yêu quý của mình. Ba cháu luôn luôn vẫn là một người tuyệt vời trong lòng cháu, cháu luôn tự hào là đứa con gái ngoan của ba Lan Phương.

Mừng vì được gặp các bạn bè, chiến hữu của ba, được nhìn thấy sự quan tâm của mọi người đối với ba. Cháu rất cảm động về những điều tốt đẹp mà mọi người dành cho ba cháu.”

Bốn mươi hai năm trôi qua, hôm nay không khí nghẹn ngào của những ngày 30 Tháng Tư tang tóc lại đến. Bà con chúng ta chết sông, chết biển, vì phải bỏ đất nước ra đi, anh em ta chết trong cảnh tù đày trên chính quê hương của mình. Nhưng chính những anh hùng liệt nữ đã chọn cái chết hào hùng ngay trong giờ phút cuối cùng, phải buông súng là những cái chết đời đời ngời sáng, rửa mặt cho nỗi nhục của quê hương.

(*) Email của Trịnh Thiên Hương: thienhuong062000@yahoo.com. Điện thoại: 0907485656. Địa chỉ: 5/11, đường 23, phường Bình Trưng Tây, Quận 2, Sài Gòn.

42 năm-giá trị của một “chiến thắng” và những vết thương chưa thể lành

42 năm-giá trị của một “chiến thắng” và những vết thương chưa thể lành

Song Chi.

42 năm sau biến cố 30.4.1975, có vô vàn câu hỏi về cuộc chiến tranh đã qua, về thực tại đất nước, vẫn tiếp tục làm nhức nhối trái tim những ai có lòng với đất nước, dân tộc. Người viết bài này chỉ muốn đặt lại hai câu hỏi:

+Trong cuộc chiến VN, người Mỹ tất nhiên đã thua, VNCH tất nhiên đã thua, nhưng rốt cuộc đảng cộng sản VN có phải đã chiến thắng?

Đã có rất nhiều bài viết của người VN và người nước ngoài nhận định về “chiến thắng” của đảng cộng sản VN ngày 30.4.1975, nhưng nhìn lại, điều đó chả có gì đáng phải tự hào ngây ngất, tạo nên niềm “kiêu ngạo cộng sản” suốt một thời gian dài. Bởi vì đó là một “chiến thắng” dựa trên vũ khí, tài chính, sự viện trợ tối đa từ Liên Xô, Trung Cộng, và phe XHCN, đồng thời lợi dụng, khai thác lòng yêu nước của người VN để tuyên truyền dối trá, bóp méo sự thật, khiến hàng triệu con người lao vào cuộc chiến mà cứ tưởng mình đang đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam bị kềm kẹp dưới ách Mỹ ngụy và để xây dựng một đất nước công bằng, ngàn lần tốt đẹp hơn. Nếu không có sự viện trợ đó và không có sự tuyên truyền dối trá đó, đảng cộng sản có thắng không?

Chưa kể, “đánh ngoại xâm bằng ngoại nhân”, vi phạm Hiệp định Paris, quyết tâm cưỡng chiếm miền Nam bất chấp VNCH lúc đó là một thực thể quốc gia độc lập, bất chấp ý nguyện của người dân miền Nam, thực tế là một hành động xâm lược cho dù biện minh bằng lý do thống nhất đất nước (bởi vì người miền Nam có muốn thống nhất theo cách đó hay không?). Và vì vậy chả có gì để tự hào cả.

Thứ hai, thắng trong chiến tranh, nhưng bại trong hòa bình, đảng cộng sản đã thất bại trên nhiều khía cạnh. Thất bại trong việc thu phục nhân tâm, đất nước thống nhất nhưng lòng người chưa bao giờ thôi chia rẽ. Thất bại trong việc xây dựng VN trở thành một quốc gia độc lập, tự do, hạnh phúc, giàu mạnh; không những thế, VN dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản sau cuộc chiến còn tiếp tục phải lao vào hai cuộc chiến tranh khác với Khơ Me Đỏ và Trung Cộng, bị mất thêm nhiều đất đai, lãnh thổ lãnh hải vào tay Bắc Kinh.

Thất bại trong việc thực hiện và xây dựng đất nước theo mô hình thể chế chính trị và lý tưởng xã hội chủ nghĩa/cộng sản chủ nghĩa mà ban đầu họ theo đuổi. Ngược lại, họ đã lẳng lặng từ bỏ, phản bội tất cả những lý tưởng, tuyên ngôn, tuyên bố, mục tiêu ban đầu đó, điều chỉnh, chắp vá mô hình thể chế hiện tại như một sự cóp nhặt nửa vời giữa nền kinh tế tự do, thị trường của phe tư bản, nhưng vẫn giữ lại sự lãnh đạo duy nhất của đảng theo thể chế độc tài.

Thất bại trong việc tiêu diệt những giá trị của chế độ VNCH, ngược lại, theo thời gian, những giá trị, ảnh hưởng trong văn học, âm nhạc, tư tưởng tự do, nhân bản… của VNCH vẫn tiếp tục lan tỏa; hình ảnh lá cờ vàng vẫn tiếp tục tồn tại trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại nhiều quốc gia, được chính phủ nhiều nước công nhận đó là lá cờ đại diện cho cộng đồng người Việt tỵ nạn, và thậm chí, thỉnh thoảng lá cờ vàng còn xuất hiện ngay trong nước. Ngày càng ngày người dân càng mất lòng tin và ngao ngán, chán ghét chế độ, nhà cầm quyền.

Như thế có thể gọi là chiến thắng hay không?

+Vì sao người Việt vẫn tiếp tục nói về ngày 30.4.1975?

“Bên thắng cuộc” tất nhiên là vẫn tiếp tục ăn mừng hàng năm, để tiếp tục tuyên tuyền về “tính chính danh” và “công lao” thống nhất đất nước của đảng cộng sản, đặc biệt khi thực trạng đất nước ngày càng tệ hại, rối beng, lòng dân đa phần mất lòng tin vào đảng, vào nhà cầm quyền thì lại càng phải rầm rộ ăn mừng, “ăn mày dĩ vãng”.

“Bên thua cuộc” cũng có những lý do. Bởi theo thời gian, khi đảng và nhà nước cộng sản ngày càng chứng tỏ đó là một tập đoàn cai trị độc tài, yếu kém, bất lực, tham nhũng và phá hoại nặng nề đất nước; khi sự tụt hậu thê thảm về mọi mặt của VN so với các nước láng giềng trong khu vực và so với thế giới, khi độc lập-tự do-hạnh phúc chưa bao giờ thực sự có trên đất nước này và những quyền tối thiểu của con người vẫn còn bị chà đạp…thì nỗi đau, sự tiếc nuối về một cuộc chiến tranh vô nghĩa, về sự bức tử của một quốc gia dù còn nhiều khiếm khuyết nhưng đã có những nền móng của một xã hội dân chủ, văn minh và nhân bản, về những cơ hội bỏ lỡ của đất nước, những chữ “nếu” oan nghiệt được đặt ra…càng làm trái tim người Việt nhức nhối.

Người miền Nam đã chấp nhận thua. Đã giao lại cả một quốc gia VNCH thuộc vào loại phát triển so với các nước chung quanh vào thời điểm ấy cho “bên thắng cuộc”. Nhưng “bên thắng cuộc” đã không biết cách thắng. Bằng việc áp đặt một mô hình thể chế chính trị độc tài toàn trị và mô hình kinh tế quốc doanh bao cấp quan liêu học theo Liên Xô, cộng với vô số những chính sách sai lầm về văn hóa, giáo dục, tư tưởng, những chính sách trả thù, phân biệt đối xử với người miền Nam…kết quả là chỉ trong một thời gian ngắn nền kinh tế miền Nam bị phá sản, cả nước rơi vào cảnh đói nghèo, thậm chí đứng trên bờ vực của sự chết đói, và hàng triệu người bỏ nước ra đi..

Sau 42 năm, đảng và nhà nước cộng sản không những không biết nhìn lại, thành tâm hối lỗi vì những tội ác, những chính sách sai lầm, không những không thành tâm hòa hợp hòa giải mà cũng không hướng tới tương lai, dũng cảm lựa chọn con đường thay đổi thể chế chính trị lỗi thời bằng biện pháp hòa bình, như nhiều nước và mới đây là Myanmar đã thực hiện, vì quyền lợi và tương lai của đất nước, dân tộc. Ngược lại, đảng và nhà nước cộng sản vẫn quyết liệt bám giữ quyền lực bằng mọi giá, tiếp tục bám lấy mô hình thể chế chính trị độc tài toàn trị, tiếp tục phá nát đất nước bởi sự ngu dốt, tham lam, tham nhũng, về ngoại giao thì tiếp tục đưa VN vào con đường lệ thuộc lâu dài và yếu thế về mọi mặt trước Trung Cộng.

Chính vì thế mà trong lúc nhiều dân tộc khác, quốc gia khác, có thể dễ dàng khép lại quá khứ sau một cuộc nội chiến, ví dụ như nước Mỹ sau cuộc nội chiến Nam-Bắc thế kỷ XIX, Đông Đức và Tây Đức sau ngày thống nhất, còn VN thì không dễ. Chính vì thế mà người VN vẫn cứ còn tiếp tục nói về ngày 30.4-dù đã 42 năm. Lòng người vẫn chia rẽ sâu sắc. Và khi nào đảng cộng sản còn tồn tại, khi nào thể chế chính trị này còn tồn tại thì vết thương còn mãi chưa lành.

Từ lâu, sự tồn tại của nhà nước cộng sản đã trở thành lực lượng phản động, kìm hãm sự phát triển của VN, đảng cộng sản càng nằm quyền lâu dài thì khoảng cách giữa VN và các nước khác càng lớn, hệ lụy do đảng cộng sản gây ra và để lại càng nặng nề, VN càng mất nhiều thời gian để làm lại từ đầu.

Câu hỏi là người Việt chúng ta còn phải tiếp tục nói về những chuyện như thế này cho đến bao lâu nữa? Bao giờ thì một giai đoạn lịch sử đen tối sẽ thực sự khép lại và một chương mới, tươi sáng hơn cho dân tộc, sẽ mở ra?

Giáo dục trước và sau năm 1975

Giáo dục trước và sau năm 1975

Nhóm phóng viên tường trình từ VN

 
Hai nữ sinh trên đường phố Sài Gòn.

Hai nữ sinh trên đường phố Sài Gòn.

AFP photo
 
 

Giáo dục các thế hệ trở thành những con người có đầy đủ lòng yêu thương và nhân cách để bước vào đời, hòa điệu cùng xã hội hay đào tạo ra những cỗ máy biết đi, đứng, nằm ngồi và biết đào ra tiền nhưng lại nhanh chóng làm nghèo đất nước? Đó là câu hỏi chung của mọi nền giáo dục. Vấn đề giáo dục tại Việt Nam trước và sau 30 tháng 4 năm 1975 là một câu chuyện dài. Trong giới hạn của tường trình này, chúng tôi chỉ xin phép đề cập đến những lát cắt thông qua các nhận định của những người từng có kinh nghiệm trong lĩnh vực này, trong phép so sánh của họ về giáo dục trước và sau 1975 tại Việt Nam.

Một nền giáo dục nhân bản đã mất

Thầy Luận, một giáo sư dạy cấp trung học phổ thông (trước năm 1975, những người dạy trung học phổ thông được gọi là giáo sư), chia sẻ: “Hồi đó giáo dục thì yêu thương gia đình, tổ quốc, tôn sư trọng đạo, nhưng họ làm thật. Rồi chào cờ thì phải nghiêm túc, đi gặp đám tang thì dở mũ đưa tiễn, đó là nhưng thứ liên quan đến đạo đức mà gần như ai cũng được dạy và làm. Hồi đó học sinh tôn trọng thầy lắm, sợ thầy lắm. Còn thầy thì gương mẫu lắm, nghiêm túc. Cái kiểu mặc quần đùi lên giảng dạy là không có rồi. Anh có thể dạy học sinh phá vỡ nhiều thứ, ví dụ như những hủ tục nhưng tư cách của anh phải nghiêm túc. Mô phạm đó.”

Theo thầy Luận, vấn đề trọng tâm của giáo dục nằm ở chỗ người làm quản lý và người dạy đang nắm cái lõi nào, nhắm vào trung tâm, hạt nhân nào để từ đó khai triển thành một bộ khung triết lý trong giáo dục con người. Và nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa miền Nam Việt Nam đã làm được điều này.

Theo ông, chính nhờ vào nền giáo dục nhân bản, lấy triết lý con người làm trung tâm mà trong vòng hai mươi năm nội chiến với khói lửa chiến tranh và máu đổ, nền giáo dục miền Nam vẫn mọc lên những cây trái thành tựu hết sức xuất sắc với những cái tên như Bùi Giáng, Bùi Văn Nam Sơn, Phạm Cộng Thiện, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh cùng hàng loạt trí thức, nghệ sĩ tài năng và đức độ khác.

Điều này, cũng tại miền Nam Việt Nam, với quĩ thời gian hơn gấp đôi, 42 năm, sống trong hòa bình, không có lửa đạn chiến tranh nhưng lại không có những cá nhân xuất sắc như trước đây. Đó là nói riêng về các thành tựu đỉnh cao,nhưng khi nói tới giáo dục, mặt bằng chung vẫn là quan trọng nhất, nghĩa là một xã hội được hình thành từ giáo dục như thế nào. Điều này thì giáo dục miền Nam Việt Nam tốt hơn rất nhiều so với giáo dục sau 1975.

Với triết lý nhân bản, dân tộc và khai phóng, qua giáo dục, phát triển toàn diện mỗi cá nhân, phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh, phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học… Điều này đã mang lại một mặt bằng xã hội tương đối cân bằng, ổn định bởi sự hiểu biết, tôn trọng dân chủ, yêu quê hương, đất nước và yêu dân tộc cũng như coi trọng con người, lấy nhân cách và phẩm hạnh làm mục tiêu của đời người.

Như kết luận vấn đề đã nêu, thầy Luận cho rằng nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là một nền giáo dục tốt nhất trong lịch sử các nền giáo dục Việt Nam trong lịch sử và cho đến thời điểm hiện nay. Và hơn nữa, vấn đề chính phủ, nhà nước quan tâm đến giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa cũng là điều đáng nói, bởi ngân sách giáo dục tuy không phì đại như hiện nay nhưng lại đảm bảo học sinh không tốn tiền khi đến trường và nếu học tốt thì có cơ hội du học nước ngoài. Nền giáo dục không có tính chợ búa như nền giáo dục hiện tại.

Một nền giáo dục chợ búa

000_HKG2004050779546-400.jpg
Nữ sinh trong trang phục áo dài trắng tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ hôm 7/5/2004, tại Hà Nội. AFP photo

Như để chứng mình cho những luận điểm của thầy giáo cũ của mình, thầy Toàn, một giáo viên dạy môn văn vừa nghỉ hưu, chia sẻ thêm: “Thì đầu tiên, chính sự dối trá đã phá vỡ giáo dục. Nó dẫn đến giả bằng thật, dẫn đến bệnh háu danh, cả xã hội bùng lên lạm phát bằng cấp. Rồi người ta lợi dụng, hợp thức hóa những cái bằng, học vị chuyên tu, toàn bi kịch, dốt nát kinh khủng, điều này kéo dài đã bao nhiêu năm. Rồi những cái học vị xỏ lá đó tạo nên những vết thương trong xã hội, cái bất công trong giáo dục cũng giống như bất công trong xã hội vậy.

Cái bất công trong giáo dục là thằng học vị cao nhất, ngu dốt nhất sẽ là thằng lên học vị cao nhất bởi nó sẽ tìm cách hợp thức hóa cái bằng nhanh nhất, cái học vị khốn nạn nhất. Những cái thằng học đại học chuyên tu nó sẽ là thằng đầu tiên đi học thạc sĩ chuyên tu. Chính vì sự chen lấn như vậy nên người có học theo kiểu này càng có nhiều bằng cấp, học vị càng tàn ác bởi họ trả giá quá đắt. Cái kiểu đổi tình, đổi tiền lấy điểm phổ biến.

Và khi mà họ đã trả giá quá đắt cho việc có được cái bằng, cái học vị đó, cả thân xác họ mà họ còn không quý nữa thì nghĩa lý gì người khác, họ phải tận thu để ‘bù vốn’, vì họ đầu tư quá lớn. Cái trụ cột đạo đức bị gãy. Như những cô giáo mẫu giáo, họ nghĩ ra việc trộn thuốc ngủ cho con người ta ăn đi ngủ khỏi phải trông. Những cái độc ác xuất phát từ những gì độc ác mà họ phải trải qua trong quá trình chen lấn để lấy cái bằng.”

Theo thầy Toàn, để nói về nền giáo dục Việt Nam hiện tại, ông có thể tóm gọn trong mấy chữ, đó là nền giáo dục chợ búa. Tính chợ búa này thể hiện rất rõ trong các chính sách giáo dục tốn kém nhưng không có hiệu quả và đằng sau nó là hàng tá các nhà giáo dục xôi thịt đang chực chờ để tham nhũng, đục khoét. Cứ mỗi lần cải cách giáo dục, học sinh phải chịu thêm một gánh nặng mới từ học phí, sách mới, học thêm, kính thưa các loại gánh nặng chất lên đôi vai non nớt của học sinh.

Nói sâu xa hơn một chút, nền giáo dục phía Bắc vĩ tuyến 17 những năm trước 1975 đã có những dấu hiệu thiếu vắng tính nhân bản. Nếu như miền Nam chú trọng vào triết lý nhân bản trong giáo dục thì miền Bắc lại tập trung vào tính chiến đấu trong giáo dục. Những bài thơ, những truyện ngắn đầy tính giết tróc được áp dụng triệt để trong các giáo trình văn học miền Bắc. Từ thơ Tố Hữu cho đến truyện ngắn của Nguyên Ngọc và nhiều nhà văn, nhà thơ khác. Các tác phẩm văn học miền Bắc đều lấy tinh thần kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam làm kim chỉ Nam.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, trận gió giáo dục mang tính chiến đấu của miền Bắc đã xô dạt những thư viện giáo dục nhân bản miền Nam. Và hệ quả của nó là suốt 42 năm, nền giáo dục càng lúc càng bệ rạc. Những quan chức giáo dục bị kỉ luật ở cấp thấp thì lại được thăng cấp, nhảy tót lên ghế trên để làm quản lý. Hiện tại, có nhiều quan chức giáo dục cấp tỉnh, với vị trí giám đốc sở giáo dục, nhưng nếu chịu khó kiểm tra kiến thức, trình độ và đạo đức của họ, dường như là có quá nhiều vấn đề để bàn.

Theo thầy Toàn, có người từng bị kỉ luật ở nhà trường vì nạn đề đóm nhưng sau đó lại được cất nhắc làm chuyên viên sở, rồi cuối cùng là giám đốc sở giáo dục, trong khi đó, người này từng ra đề thi sai nhiều lần vì không có kiến thức và ông ta chỉ giỏi duy nhất một điều, đó là biết làm được lòng cấp trên, biết đội trên đạp dưới.

Một nền giáo dục không có triết lý, không coi trọng dân chủ và không đề cao nhân cách đã và đang cho ra những đáp số xã hội đầy rẫy tội lỗi và cái ác. Thầy Toàn khẳng định rằng nếu như truy tìm nguyên nhân gây ra một xã hội hết sức manh động và vô cảm như hiện tại, nền giáo dục đã góp một phần rất lớn để xây dựng nên xã hội như đang thấy.

Nói cho cùng, một nền giáo dục chỉ lấy vật dục làm kim chỉ Nam và không coi trọng tính nhân bản, tính dân chủ, cộng thêm với sự thiếu thành thật và phiến diện sẽ không bao giờ là một nền giáo dục có khả năng hoàn thiện con người. Và những người trưởng thành trong nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nói cho cùng là nhờ vào niềm đam mê tri thức cũng như thiện căn có sẵn của họ chứ không phải do tác động của giáo dục.

Một nền giáo dục tốt phải là nền giáo dục có khả năng tác động, làm giàu nhân tính xã hội, ngược lại, một nền giáo dục tồi tệ là nền giáo dục luôn chịu lời nhắc nhở về nhân tính cũng như phẩm hạnh từ xã hội. Và nền giáo dục Việt Nam kể từ sau 30 tháng 4 năm 1975 đến nay là nền giáo dục như thế!

Một mục sư bị tuyên án 5 năm về tội tổ chức vượt biên

RFA
2017-05-01
Mục sư người dân tộc ở Tây Nguyên tên A Đào, còn gọi là A Ma Dũng, bị tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai tuyên phạt 5 năm tù vì tội nhiều lần tổ chức đưa người Thượng đi Thái Lan trái phép.

Phiên xử diễn ra ngày 28/4/2017, được gọi là công khai và được tờ Công Lý trong nước loan tin, cho thấy hồi tháng 8/2016 mục sư A Đào đã bị bắt quả tang khi đang tìm cách đưa 5 người dân tộc thiểu số trốn khỏi Việt Nam .

Tin nói ông A Đào khai báo là từ năm 2012 đã cấu kết với một người tên A Ga cùng sinh hoạt trong Hội thánh Tin Lành với ông ta. Đến năm 2013 ông A Ga trốn sang Thái Lan và từ đó thường xuyên liên lạc thông đồng với ông A Đào để đưa thêm nhiều người Thượng khác trốn đi Thái Lan.

Từ tháng 3 đến tháng 6/2016, mục sư A Đào đã cùng A Ga bố trí đưa 10 người ra nước ngoài trong 3 đợt.

Những người bỏ trốn khỏi nước được đưa từ Pleiku bằng xe đến cửa khẩu Mộc Bài ở Tây Ninh, sau đó đi xe ôm đến Phnom Penh, Campuchia rồi có người đón đi sang Thái Lan.

Nguyên nhân khiến người Thượng bỏ trốn cũng như hành động giúp người đi nước ngoài trái phép mà mục sư A Đào chủ mưu chỉ được báo chí trong nước tường thuật lại là do bị kẻ xấu lợi dụng và xúi giục.

Tuy nhiên theo lời khai của những người dân tộc Tây Nguyên theo đạo Tin Lành nói với Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc ở Campuchia hay Thái Lan, thì họ trốn đi vì bị chính quyền địa phương bên Việt Nam đe dọa, buộc bỏ đạo, bắt giữ đánh đập và cấm không cho nhóm họp để cầu nguyện theo đức tin.

60 Điều Để Ghét Khi Đi Du Lịch Ở Việt Nam

From facebook: Kimtrong Lam
60 Điều Để Ghét Khi Đi Du Lịch Ở Việt Nam

Vô thẳng vấn đề, không vòng vo. Sau đây là những thứ tôi và các du khách trong và ngoài nước ghét khi đi du lịch ở Việt Nam.
1. Phí visa quá cao. Nước nghèo mà chảnh.
2. Đi đâu cũng thấy rác.
3. Ý thức xếp hàng kém, luôn chen lấn. Bực bội.
4. Toilet bẩn thấy bà ra. Vô là muốn ói, mất hết tinh thần ăn uống.
5. Giao thông thì lộn xộn.
6. Thuê phòng khách sạn phải đưa hộ chiếu cho tiếp tân, mấy nước khác chỉ photo rồi trả lại.
7. Qua đường cực kỳ khó.
8. Không khí và môi trường ô nhiễm.
9. Quán ăn đa số nhỏ và dơ.
10. Đường phố thì chật hẹp.
11. Tiếng còi ở đâu cũng có. Bóp còi là một nét văn hóa ở xứ này.
12. Mua đồ thì bị chặt chém.
13. Khách nước ngoài bị chém giá. Sao phân biệt vậy chứ?
14. Tiểu thương coi du khách như con mồi để làm tiền.
15. Tổ chức thiếu chuyên nghiệp.
16. Quá thiếu thông tin tiếng Anh.
17. Hệ thống vận chuyển lạc hậu. Đi xe thì quá lâu.
18. Tiếng Việt nghe cực kỳ chói tai.
19. Đi xe đò thì mở nhạc sến và hài. Đó là một cực hình đối với du khách Tây.
20. Chẳng có cái gì đặc trưng về văn hóa để quảng bá.
21. Đi đâu cũng thấy ăn xin, bán vé số. Thấy cảnh đó thì ăn tận hưởng cho được?
22. Khách sạn bình dân không có nước nóng.
23. Nhiều khách sạn dùng hệ thống nước nóng mặt trời. Nhiều lúc chờ dài cổ cũng không có nước nóng. Bực bội.
24. Thường xuyên bị cúp điện.
25. Nhiều toilet không có giấy vệ sinh, chỉ dùng súng nước.
26. Tiếng ồn. Ra đường thì tiếng ồn của xe, vô quán thì tiếng ồn của nhạc.
27. Đồ ăn bỏ bột ngọt nhiều.
28. Người dân không biết nói cảm ơn xin lỗi là gì.
29. Cách xe máy chặn lối ra vào cửa hàng.
30. Cừa hàng tạp hóa không để giá.
31. Tài xế taxi gian dối.
32. Vietjet thường xuyên bị hoãn.
33. Vỉa hè đã bị cướp đi. Người đi bộ phải đi xuống lề đường.
34. Cách người Việt hay soi mói người Tây.
35. Không ai biết nhường đường là gì.
36. Đi đâu cũng gặp hàng rong. Bực bội.
37. Ăn cắp vặt.
38. Nghèo, đi đâu cũng thấy nghèo và người nghèo. Tận hưởng sao nổi?
39. Hải quan hay làm tiền du khách.
40. Văn hóa ăn thịt chó, đa số ở miền bắc.
41. Cái nóng và cái nực.
42. Không có hệ thông vận chuyển công cộng. Giờ đi từ quận 1 sang quận 2 thì đi sao? Google bằng cách nào?
43. Nhân viên trong mấy khách sạn 3 sao ngoại ngữ kém.
44. Thói phun nước miếng của đàn ông.
45. Đi mát xa thì không biết đi chỗ nào đàng hoàng, toàn là gái gái gái.
46. Thái độ phục vụ của nhân viên cực kỳ tồi, nhất là ở miền bắc.
47. Thu phí vặt ở các địa điểm tham quan.
48. Thiếu toilet công cộng.
49. Thói trễ giờ của người Việt.
50. Không có khái niệm không gian riêng hoặc cá nhân.
51. Thủ tục hành chính rườm rà.
52. Thiếu thùng rác. Tìm hoài không ra.
53. Mưa là đường phố bị ngập.
54. Xe lửa giá đắt và dơ, nhất là cái toilet.
55. Mạng internet thì chậm như rùa.
56. Đồ thì đắt hơn các nước khác.
57. Đi vô siêu thị phải gửi ba lô.
58. Đa số quán ăn chỉ đầu tư cơ sở vật chất, còn đồ ăn thì tạm được chứ không có gì chuyên nghiệp.
59. Du lịch tưởng rẻ nhưng thực ra không hề rẻ tí nào.
60. Và cuối cùng, đi rồi chẳng biết mua gì đặc trưng để làm quà cả, trừ mấy thứ hàng Made In China.
Nhiều đó thôi. Ai chửi cứ chửi, ai đồng ý thì cứ đồng ý. Việt Nam nó vậy đó.

 

Phá 116 ha rừng phòng hộ, lãnh đạo nhận khuyết điểm, còn cưa 12 cây tràm tự chăm sóc và hết giá trị sử dụng thì 8 người dân bị kết án tù!

From facebook:  Đáp Lời Sông Núi shared Vu Hai Tran‘s post.
 
 
Image may contain: one or more people and people sitting
Image may contain: 4 people, eyeglasses
Image may contain: 2 people, text
Image may contain: outdoor

Vu Hai Tran added 4 new photos.Follow

 

Công lý Việt nam: Phá 116 ha rừng phòng hộ, lãnh đạo nhận khuyết điểm, còn cưa 12 cây tràm tự chăm sóc và hết giá trị sử dụng thì 8 người dân bị kết án tù!

Cách đây hơn 2 năm, tôi nhận bào chữa cho 8 bị cáo trong các phiên toà sơ thẩm lẫn phúc thẩm tại tỉnh Đồng Nai, bị buộc tội về việc cưa 12 cây tràm quá lứa, và do chính họ chăm sóc nhiều năm. Kẻ đẩy họ vào vòng lao lý là một giám đốc trung tâm lâm nghiệp, tại vị hơn 20 năm. Trong số 30 ha đất được coi là diện tích trồng tràm ở thành phố Biên Hoà, chỉ vài nghìn m2 đất của những hộ dân này (nhận khoán) còn cây tràm, diện tích đất còn lại đều đã xây xưởng hay nhà từ lâu. Khi những hộ dân này cưa 12 cây tràm, vị giám đốc này kết hợp với một doanh nghiệp đang lăm le mảnh đất này tố lên công an Biên hoà. 5 người bị bắt , 3 người tại ngoại về tội huỷ hoại tài sản. Phiên toà sơ thẩm xử họ án tù treo hoặc tù giam đúng bằng số ngày họ bị tạm giam. Họ kháng cáo kêu oan. Trong phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát cho rằng không có thiệt hại trong vụ này, không thể kết tội họ được. Sau 5 ngày nghị án, toà vẫn tuyên họ có tội, y án sơ thẩm. Hiện nay họ vẫn tiếp tục kêu oan.

Mấy hôm nay, dư luận quan tâm các quan tỉnh Phú Yên cho phá 116ha rừng phòng hộ, bất chấp lệnh cấm của Thủ tướng, với lý do xây resort cho cuộc thi hoa hậu tới. Bị phát giác và phê phán, lãnh đạo tỉnh này nhận khuyết điểm, báo cáo Thủ tướng để quyết định theo hướng “trung ương cho phép thì làm”.

Không rõ các vị quan này có hiểu luật Việt nam không? Và liệu Việt nam có công lý không, khi phá 116 ha rừng phòng hộ thì bỏ qua cho các quan và đại gia, còn 12 cây tràm hết giá trị bị cưa thì kết tội cho 8 dân thường?

Mời các bạn cho ý kiến.

http://laodong.com.vn/…/mot-vu-an-ky-la-8-nguoi-bi-phat-tu-…
http://plo.vn/…/vu-pha-rung-phu-yen-nhan-khuyet-diem-truoc-…

 

Học gì qua từng giai đoạn của cuộc đời?

Học gì qua từng giai đoạn của cuộc đời?

Dòng Tên Việt Nam

 

 

 

 

 

 

 

 

Khi còn nhỏ, bé phải được dạy cho tính kỷ luật. Kỷ luật là biết đặt mình vào khuôn khổ, biết giới hạn bản thân, không để mình buông lỏng trong những sở thích và ý muốn. Đứa bé nào cũng thích chơi, thích thoải mái, cộng với ý thức chưa đủ trưởng thành và chưa thể nhận thức được sự việc. Kỷ luật sẽ giúp điều chỉnh con người và tính cách của bé. Hệt như khi muốn uốn cây theo hình thù như ý, người ta phải đưa cây vào một khuôn từ khi nó mới chớm. Sau này khi lớn lên, bé sẽ sống một cách có trật tự, không bừa bãi, không tuỳ hứng, nhưng biết làm chủ bản thân mình theo một khuôn mẫu đúng đắn mà mình đã được huấn luyện từ nhỏ. Kỷ luật không chỉ là nếp sống đúng giờ đúng giấc, nhưng còn là một thái độ biết trên biết dưới, biết mình ở đâu, biết mình cần phải làm gì từ những việc nhỏ nhất. Có kỷ luật, đứa bé như có được nền tảng vững chắc cho một hành trình huấn luyện lâu dài về sau.

Lớn lên một chút, đứa trẻ cần phải học cho được tính trung thực. Khi ý thức vừa mới được hình thành một chút, đứa trẻ cần được giáo dục để hướng ý thức ấy về sự thật, về điều hay lẽ phải, điều đúng đắn. Trung thực là thái độ yêu mến chân lý. Có thì nói có, không thì nói không, chỉ giữ những cái thuộc về mình chứ không tham lam thứ của người khác. Trung thực cũng là thẳng thắn, rõ ràng, không quanh co, lọc lừa, dối trá. Sự trung thực giúp đứa trẻ sống cách quang minh chính đại, không hình thành trong đầu mình những suy tính muốn chiếm đoạt cái này cái kia cho bản thân. Đứa trẻ sẽ học biết cách tôn trọng người khác, biết nghĩ cho người khác.

Thêm một chút nữa, nhất thiết phải tập cho các em một ý thức về sự cầu tiến. Ở cái tuổi chuẩn bị bước vào đời, không có khát khao vươn lên thì sẽ bị diệt vong như có ai đó đã nói rằng: sống một cuộc đời cũng hệt như đi xe đạp, không tiến tới thì sẽ té ngã. Thái độ cầu tiến sẽ giúp các em mở ra với thế giới bên ngoài vốn là một kho tàng rộng lớn những điều huyền bí đang chờ các em khám phá. Các em cần phải đi vào thế giới ấy, lục lọi từng ngóc ngách để hiểu biết và để biến mình thành một phần của nó. Trí khôn của các em sẽ được mở ra, hướng tới những điều mới lạ. Chính những điều ấy sẽ góp phần bồi đắp và làm cho con người các em thêm yêu cuộc sống. Bộ óc vô hạn của các em cần phải được khai thông bởi một khao khát học hỏi và tìm hiểu. Còn có sự cầu tiến thì còn có sự phát triển, sự lớn lên, còn có tầm cao mới để hướng đến.

Vào đời, người trẻ phải thủ đắc cho được sự tự tin vào bản thân. Chắc chắn sẽ có những vấp ngã, những thất bại. Nhưng không bao giờ để cho mình đánh mất niềm tin vào bản thân. Rằng mình là một thực thể duy nhất của vũ trụ này. Rằng không gì có thể khiến mình lụn bại. Rằng mình có thể làm được mọi thứ nếu mình có quyết tâm và dám liều mình thực hiện quyết tâm ấy. Phía trước luôn có một con đường. Sau đám mây đen là mặt trời rực rỡ. Cuối đường hầm là con lộ ngợp nắng với hoa. Tự tin đòi hỏi một thái độ lạc quan, không bao giờ bỏ cuộc, không bao giờ cho phép mình dừng lại, dám táo bạo ước mơ và nỗ lực thực hiện ước mơ ấy trong một sự suy xét cặn kẽ và biết mình. Vào đời, người trẻ sẽ đối diện với nhiều thứ mà trước kia họ không thấy và cũng không thể nghĩ tới. Họ sẽ nhận ra rằng cuộc đời không phải lúc nào cũng tươi đẹp và mọi thứ không phải luôn diễn ra như họ ước mong. Thậm chí nó đôi khi còn rất phũ phàng và cay đắng. Nhưng chính qua những điều đó mà họ sẽ học được nhiều bài học hay, họ sẽ được tôi luyện và trở thành một con người cứng cáp.

Khi đã có chút tiếng tăm và thành công, người ta cần phải học một bài học vô cùng khó khăn: sự khiêm tốn. Khiêm tốn không phải là thu mình vào góc nhỏ, phủ nhận hết mọi điều tốt đẹp và cao cả mà mình đã làm, nhưng là một nhận thức đúng đắn về bản thân mình. Rằng những gì mình có chẳng là gì so với những gì mình chưa có, và ngay cả những gì mình đang có, không phải chỉ do công sức và tài năng của riêng cá nhân, nhưng còn có sự trợ giúp của người khác và đôi khi còn có chút may mắn Trời ban nữa. Rằng “thiên ngoại hữu thiên, nhân ngoại hữu nhân”. Núi này cao còn có núi khác cao hơn. Mình không phải là chóp đỉnh hay trung tâm của vũ trụ. Không bao giờ tự mãn về bản thân để rồi khép mình lại, không còn phấn đấu nữa và tự cho mình quyền phán xét cả nhân loại. Càng thành công, càng cần phải khiêm tốn. Khiêm tốn sẽ tạo thế cân bằng với thành công và giúp người ta tiến xa hơn trên những nấc thang mới.

Khi tuổi đã xế chiều, người ta đã thủ đắc cho mình không biết bao nhiêu kiến thức, kinh nghiệm nhờ trải qua những phong sương của cuộc đời và đối diện với trăm ngàn câu chuyện nhân tình thế thái. Lúc này, người ta cần phải học một bài học xem ra rất ngược ngạo so với những gì cuộc sống dạy họ: học cách buông bỏ. Nhớ lại quá khứ, người ta đã đổ không ít mồ hôi nước mắt để theo đuổi mục tiêu và có được điều mình muốn. Nhưng rồi, con người chợt tự hỏi mình: rốt cuộc mình phấn đấu có những điều ấy để làm gì? Khi tuổi đã cao, sức đã yếu, người ta bỗng yêu cái thân xác này, thấy nó đã tiều tuỵ đi quá nhiều vì thời gian, vì những tính toán, vì phải hao tâm gồng gánh bao nhiêu việc. Khi đôi chân không còn đứng vững, đôi mắt dần nhoà đi, người ta mới biết cuộc sống này chỉ là hư ảo, như mây như gió, như hoa cỏ một thời tuyệt sắc rồi một thoáng tàn phai. Giờ đây, cái cần nhất là sự bình an, thong dong, thoải mái. Chẳng cần thiết phải khư khư giữ lấy những cái mau qua, những hận thù, hay danh dự. Ý thức về sự buông bỏ giúp họ đặt xuống khỏi vai mình những gì cứ đeo đuổi và bám riết họ bấy lâu nay. Họ sẽ dễ tha thứ hơn, sống bao dung hơn, biết chia sẻ hơn, không chấp nhất, không câu nệ. Bất chợt, họ như bắt gặp được chân lý: cái quý nhất trên đời cũng chỉ hệ ở một chữ “tình”. “Tình” chính là cái tinh tuý của con người, cái làm cho con người là con người, cái duy nhất còn đọng lại khi tất cả mọi cái khác của con người tan biến hết. Vậy mà bấy lâu nay, vì mải mê chạy theo dòng xoáy của cuộc đời, họ đã lãng quên hay đánh mất nó. Ngộ ra được điều này, họ bắt đầu sống lại cuộc sống của mình, theo một cách thức sung mãn và tròn đầy nhất.

Cả một cuộc đời, chẳng bao giờ người ta có thể ngừng học. Học để biết cách sống, biết đưa vào cuộc sống mình những nguồn năng lượng dồi dào. Cuộc sống sẽ mãi luôn là một sự bắt đầu, một quá trình “làm mới lại” không ngừng của bản thân!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Ngày 30-4-1975 Đệ Nhị Cộng Hoà VN mất đi, người VNCH ( Miền Nam VN ) mất những gì? Được những gì?

From facebook: Trần Bang
Ngày 30-4-1975 Đệ Nhị Cộng Hoà VN mất đi, người VNCH ( Miền Nam VN ) mất những gì? Được những gì?

MẤT:
– Mất tư hữu đất đai
– Mất tự do kinh doanh, làm ăn
– Mất tự do đi lại, tự do cư trú
– Mất tự do ngôn luận, mất tự do biểu tình…không còn tự do báo chí, không còn tự do xuất bản, không còn tự do học thuật…
– Mất tự do lập hội, mất tự do hội họp…
– Mất tự chủ Đại Học
– Mất tự do tôn giáo, thờ tự ( Nghĩa trang Quân đội bị quân quản, nhiều cơ sở Tu viện phải đóng cửa, tài sản đất đai thuộc các tôn giáo bị cưỡng chiếm, hay buộc phải hiến tặng, cho mượn….)
– Mất tự do giáo dục ( mọi khoa học, giáo dục… bị bắt buộc nhìn qua lăng kính nhỏ hẹp, sai lầm, ảo tưởng của học thuyết Mác Lê Mao)… đóng cửa trường học tư…
– Mất tự do công dân, mất bình đẳng, bị phân biệt lý lịch khi tìm việc làm, khi đi học, khi chữa bệnh…
– Mất nền Tư pháp độc lập… Toà Án không còn được độc lập xét xử….
– Mất tự do bầu cử, mất tự do ứng cử, mất tự do tranh cử…

ĐƯỢC:
– Được xếp hàng cả ngày (XHCN) mua vài thứ nhu yếu phẩm
– Được ( bắt buộc) học tập chính trị ( chỉ một học thuyết Mác Lê ) hàng ngày, hàng tuần…
– Được “phấn đấu” vào đoàn, đội, hội của ĐCS?
– Được vào làm công ở Tập đoàn sản xuất, được vào công nhân quốc doanh…
– Được ăn bo bo
– Được biết tem phiếu, sổ gạo là gì.
– Được suốt ngày hát bài ” như có bác trong ngày vui đại thắng” dù bố, anh, ông đang đi tù không hẹn ngày về, không biết ở đâu…
– Được (bắt buộc) đi kinh tế mới (từ thành thị lên rừng khai hoang )
– Được mạo hiểm tính mạng, tài sản để… vượt biên.
– Được đi tù không án…
– Được làm chân gỗ cho các cuộc bầu cử, và được đi bầu cử giả vờ theo quy hoạch sẵn của ĐCS.
– Được bắt buộc hiến tặng tài sản, nhà cửa, đất đai, công ty, xí nghiệp, hãng xưởng…

P/s Nội dung tham khảo những người ( cả người theo CS và không CS) sống ở VNCH trước 30-4-1975. Ảnh chôm từ FB Nguyễn Huy Hoàng

 

Bác sĩ bị đâm chết ngay tại bệnh viện

Rạng sáng nay, thấy anh trai thiệt mạng sau khi cấp cứu, nam thanh niên 19 tuổi đã dùng dao bấm đâm chết nam bác sĩ 60 tuổi, một bác sĩ khác bị trọng thương.

Trao đổi với VnExpress.net, lãnh đạo bệnh viện đa khoa huyện Vũ Thư (Thái Bình) cho biết, bác sĩ bị thiệt mạng là Phạm Đức Giàu (60 tuổi, làm việc ở khoa ngoại) còn bác sĩ bị đâm trọng thương là Ngô Duy Hoàn (30 tuổi ở khoa hồi sức cấp cứu).