Có những người chưa từng giết người, nhưng vào ngày nọ, họ lại ra “tự thú, đầu thú” là đã cùng nhau giết người, và họ đã bị bắt giữ.
Những lời nhận tội đó không lâu sau được xác định là giả tạo, vì hung thủ thực sự là 2 cô gái khác bị bắt và trình bày câu chuyện giết người do chính mình là hung thủ chứ không phải các thanh niên vô tội kia.
Lúc đó người ta mới vỡ ra rằng, các thanh niên kia đã bị bức cung, nhục hình nên phải khai nhận những tội ác mà họ không hề phạm bằng câu chuyện hoàn hảo y như thật .
Vậy ai là những người đã từng bức cung, nhục hình, làm sai lệch hồ sơ vụ án, thiếu tinh thần trách nhiệm…?
Có cả danh sách hàng vài chục vị quan chức ở địa phương, từ điều tra viên, kiểm sát viên, thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra, Viện trưởng, Viện phó được phân công phụ trách và cả ban chuyên án cả đấy. Nhưng chẳng có ai bị truy cứu trách nhiệm hình sự ngoài hai điều tra viên và một kiểm sát viên, trong đó có một điều tra viên không hề nằm trong ban chuyên án, cũng chẳng phải là điều tra viên được phân công điều tra bị khởi tố, truy tố và xét xử về hành vi “Dùng nhục hình”.
Ai cũng căm phẩn hành vi bức cung, dùng nhục hình của những điều tra viên đồ tể mất tính người, nhưng nếu quýt làm, cam chịu thì án oan lại sẽ chồng chất án oan, bỏ lọt cả một tập thể tội phạm thì đó mới là chuyện đáng lên án hơn hết.
Để truy tố được điều tra viên ngoại phạm, người ta đã dựa vào đơn tố giác giả tạo, nhân chứng giả tạo thành một câu chuyện giả tạo, biến nhóm người có tội đứng ngoài vòng pháp luật, biến người ngoài cuộc vô tội thành kẻ chịu tội thay mình, oan ức chồng chất oan ức, xã hội làm sao có công bằng.
Cái gì có thể bẻ cong được công lý đến như vậy, nếu không phải vì tiền, vì quyền và một cơ chế tố tụng yếu ớt nhưng thừa tính thô bạo.
Sau khi Pháp Luật TP.HCM đăng bài “Đại dự án khóc ròng vì nhà thầu Trung Quốc”, nhiều bạn đọc đặt vấn đề: Vì sao đã có nhiều bài học cay đắng từ nhà thầu Trung Quốc mà ta vẫn cứ lao vào? Chúng tôi xin trích đăng một số ý kiến:
Bạn đọc Lâm Quyết Thắng đặt câu hỏi: “Tại sao các nhà quản lý, hoạch định chiến lược của Việt Nam lại bị các nhà thầu Trung Quốc làm cho điêu đứng mà vẫn còn hợp tác làm ăn hoài vậy? Tại sao không một chút cảnh giác trước những kinh nghiệm thất bại trong những phi vụ làm ăn với người Trung Quốc? Hay vẫn cho rằng chưa phải là bài học, hay vì lợi ích khác lớn hơn? Nhà nước cần làm rõ trách nhiệm, đừng để xảy ra tình trạng này nữa để cho dân nhờ.
Sau khi đánh giá rằng hàng loạt “đại dự án” của Bộ Công Thương có dính dáng đến Trung Quốc đều bị “chết”, để đến bây giờ có nguy cơ bán sắt vụn, gây thiệt hại cho đất nước nhiều không kể xiết, bạn đọc tên Trang nhấn mạnh: “Phải có kẻ phải chịu trách nhiệm về chuyện này trước nhân dân và đất nước, không phải cho doanh nghiệp phá sản là xong, là rũ phủi trách nhiệm”.
Bạn đọc này cũng thắc mắc: “Tại sao chúng ta vẫn cứ “mê” nhà thầu Trung Quốc, công nghệ Trung Quốc và thiết bị Trung Quốc đến như vậy? Họ tự đến hay có ai chỉ đạo phải để cho nhà thầu Trung Quốc làm? Đâu phải họ cho ta vay tiền là ta phải có trách nhiệm rước đồ đồng nát do họ vứt đi để đem về để lệ thuộc họ đủ thứ, để họ ngồi cười nhìn ta thua lỗ…”.
“Tại sao bên phía Việt Nam dễ dàng thua thiệt đến như vậy mà không thể làm gì họ được? Hàng chục nhà máy có nguy cơ bán sắt vụn cùng chung một kịch bản, bây giờ ngồi mổ xẻ trách nhiệm nhưng có ai dám động đến nguồn cơn của bi kịch này không?”
Dự án mở rộng khu gang thép Thái Nguyên trị giá hơn 8.000 tỉ đồng “đắp chiếu”. Ảnh: HỮU VIỆT
Bạn đọc Bùi Đức Học Đã thì rút ra bài học xương máu: “Đã cảnh báo nhiều lần đừng nên ham bỏ thầu rẻ mà mang họa nhất là đối với Trung Quốc. Lịch sử đã chứng minh”.
Tương tự, bạn Nguyễn Công Lý đúc kết “nói nhiều rồi, làm ăn với Trung Quốc nên dè chừng”. Còn bạn Long Ca thì bình luận “cái gì mà đã lệ thuộc thì phải chấp nhận tang thương!”
Nhận xét rằng nhiều dự án cứ đụng đến nhà thầu Trung Quốc là “chết” và đã có nhiều hậu quả xấu nhưng một bạn đọc không hiểu tại sao từ công trình trọng điểm đến công trình nhỏ đều có nhà thầu Trung Quốc xuất hiện.
Từ đó bạn đọc này chất vấn: “Trên thế giới không có tập đoàn, công ty nào để mình hợp tác hay sao? Hay là vì lợi ích nhóm, phết phẩy quá dễ ăn khi làm ăn với Trung Quốc?”
Trong khi bạn Trương Quang Minh đề nghị dứt khoát: “Vấn đề của chúng ta là tại sao cứ để nhà thầu Trung Quốc thắng thầu. Nếu vì đồng vốn đến từ Trung Quốc thì tại sao ta không hạn chế mà cứ nhận của họ và theo điều kiện thua thiệt mà ta cứ làm. Đây là câu hỏi mà Chính phủ phải trả lời cho người dân!”
Lương tâm. Con ốm, nhập viện. Làm thủ tục, bác sĩ mặt lạnh tanh. Biết ý, tay mẹ run run dúi trăm nghìn vào túi “lương y”… Bác sĩ thân mật: “Nằm giường này cháu, đừng lo có bác!”. Biết đâu mẹ đang xỉu dần vì bán máu cho con. Lương tâm?
2. Xứ lạ quê người. Qua xứ người được vài năm thì ông anh họ của tôi bắt đầu gởi tiền về, giục các con lo học tiếng Anh và vi tính đẻ mai mốt qua đó có thể dễ dàng kiếm việc làm. Hôm vừa rồi, anh gọi điện về thăm gia đình chúng tôi, tôi hỏi anh có địa chỉ eMail chưa để tiện liên lạc, giọng anh chùng hẳn xuống: ”Suốt ngày hết rửa bát lại dọn bàn trong quán, anh có thì giờ đâu mà biết đến những thứ hiện đại đó hả em?! “.
3. Chung Riêng. Chung một con ngõ hẹp, hai nhà chung một vách ngăn. Hai đứa chơi thân từ nhỏ, chung trường chung lớp, ngồi chung bàn, đi về chung lối. Chơi chung trò chơi trẻ nhỏ, cùng khóc cùng cười, chung cả số lần bị đánh đòn do hai đứa mãi chơi. Đi qua tuổi thơ với chung những kỷ niệm rồi cùng lớn lên… Uống chung một ly rượi mừng, chụp chung tấm ảnh… cuối cùng khi anh là chú rễ còn em chỉ là khách mời. Từ nay, hai đứa mình sẽ không còn có gì chung nữa, anh giờ là riêng của người ta… 4. Bàn tay
Hai đứa cùng trọ học xa nhà, thân nhau. Lần vào quán nước, sợ tôi không đủ tiền trả em lòn tay xuống gầm bàn đưa tôi ít tiền. Vô tình đụng tay em… mềm mại. Ra trường, hai đứa lấy nhau. Sống chung, em hay than phiền về việc xài phí của tôi. Bận nọ tiền lương vơi quá nửa đem về đưa em… chợt nhận ra tay em có nhiều vết chai. Tự trách, mấy lâu mình quá vô tình.
5. Vòng cẩm thạch. Cha kể, cha chỉ ao ước tặng mẹ chiếc vòng cẩm thạch. Tay mẹ trắng nõn nà đeo vòng cẩm thạch rất đẹp. Mỗi khi cha định mua, mẹ cứ tìm cách từ chối, lúc mua sữa, lúc sách vở, lúc tiền trường… Đến khi tay mẹ đen sạm, mẹ vẫn chưa một lần được đeo. Chị em hùn tiền mua tặng mẹ một chiếc thật đẹp. Mẹ cất kỹ, thỉnh thoảng lại ngắm nghía, cười: -Mẹ già rồi, tay run lắm, chỉ nhìn thôi cũng thấy vui. Chị em không ai bảo ai, nước mắt rưng rưng.
6. Ngậm ngùi. Ba mất nửa năm, má dẫn hai con nhỏ về quê. Xin được mảnh đất hoang, cùng mần cỏ, dọn nền, lối xóm lạ hoắc tới tiếp dựng mái lá ở tạm. Tối, má gói bánh – nấu. Sáng, hai nhỏ út bưng bán. Má mượn xuồng đi chợ, áo thâm kim, nón lá rách. Anh Hai ở Sài Gòn, thành đạt, giàu. Hôm về quê, anh đi dọc bờ sông, má thấy, bơi xuồng riết theo, goi tên con hụt hưởi. Anh ngoái nhìn rồi quay mặt đi tiếp. Má tủi, gạt dầm, cúi mặt khóc. Nước mắt má làm xuồng quay ngang!
7. Tết. Ngồi một mình trong căn phòng chung cư ở tầng 15, anh đón Tết một cách lặng lẽ. Ở nơi này vẫn có bánh chưng, bánh tét, vẫn có pháo, có hoa nhưng hình như vẫn thiếu một thứ gì đó. Đã 35 cái Tết tha hương nhưng hình như trong anh vẫn còn tìm kiếm, dẫu rằng sự tìm kiếm đó ngày càng nhạt nhòa theo năm tháng. Phải chăng ‘thứ ấy’ là hương vị Tết quê nhà? “Phải đi ngủ sớm thôi” Anh tắt đèn tự nhủ, “Mai còn phải đi làm…” 8. Nghĩa tình. Bố bị tai biến mạch máu não, nằm liệt giường. Em phải xin nghỉ việc để về nhà phụ mẹ chăm sóc bố. Hơn năm sau, bố mất. Em lại phải đi làm xa kiếm tiền gởi về cho mẹ trả nợ nần, thuốc men. Mãi bươn chải vì chén cơm manh áo, hơn ba mươi tuổi vẫn chưa lập gia đình. Anh hai giục mẹ bán nhà ra ở với ảnh, có dâu có cháu cho vui tuổi già. Ngày về căn nhà ngày xưa đã đổi chủ, em chỉ còn biết khóc.
9. Bóng nắng, bóng râm. Con đê dài hun hút như cuộc đời. Ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng, chợt râm. Mẹ bảo: – Nhà ngoại ở cuối con đê. Trên đê chỉ có mẹ, có con Lúc nắng, mẹ kéo tay con: – Đi nhanh lên, kẻo nắng vỡ đầu ra. Con cố. Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng: – Đang lúc mát trời, nhanh lên, kẻo nắng bây giờ. Con ngỡ ngàng: sao nắng, râm đều phải vội ? Trời vẫn nắng, vẫn râm… … Mộ mẹ cỏ xanh, con mới hiểu: đời, lúc nào cũng phải nhanh lên.
10. Câu Hỏi. Ngày đầu tiên cô phụ trách một lớp học tình thương đa phần là những trẻ lang thang không nhà cửa. Cuối buổi học. – Cô ơi. Dạy tụi con hát đi cô. – Hát đi cô. Còn mười phút. Nhìn những cái miệng tròn vo và những đôi mắt chờ đợi, cô dạy cho tụi trẻ bài “Đi học về”. – Hát theo cô nè… Đi học về là đi học về. Con vào nhà con chào ba mẹ. Ba mẹ khen… Phía cuối lớp có tiếng xì xào: – Tao không có ba mẹ thì chào ai? – … Cô chợt rùng mình, nghe mắt cay cay.
11. Ba Và Mẹ. Mẹ xuất thân gia đình trí thức nghèo, yêu thích thơ, văn. Ba tuy cũng được học nhưng là con nhà nông “chánh hiệu”. Mẹ sâu sắc, tinh tế. Ba chất phác, hiền hòa. Mỗi khi ba mẹ đấu lý, chị em nó thường ủng hộ mẹ, phản đối ba. Mẹ luôn đúng và thắng. Hôm ba bệnh nặng, cả nhà lo lắng vào ra bệnh viện. Tối ba nói sảng điều gì đó không ai hiểu. Nhưng lần đầu tiên nó nghe mẹ nói “Đúng! Ông nói đúng…” Quay đi, mẹ sụt sùi. Nó thút thít khóc. 12. Tình Đầu. Về quê, lần nào cũng vậy, hễ chạy qua ngã ba An Lạc là tôi cho xe chạy chậm hẳn lại, mắt nhìn vào ngôi nhà khuất sau vườn lá. Một lần, đứa con trai mười tuổi của tôi hỏi: – Ba tìm gì vậy? – Tìm tuổi thơ của ba. – Chưa tới nhà nội mà? – Ba tìm thời học sinh. – Nội nói, lớn ba học ở Sài Gòn mà? – À, ba tìm người… ba thương. – Ủa, không phải ba thương mẹ sao? – Ừ, thì cũng … thương. – Ba nói nghe lộn xộn quá. Con không biết gì cả. – Ba cũng không biết. Chỉ có Hồng Hạ biết. Mà Hạ thì hai mươi năm rồi tôi không gặp.
13. Bão. Sống miền duyên hải, công việc của anh gắn liền với tàu, với biển, với những chuyến khơi xa. Anh đi suốt, về nhà chẳng được bao ngày đã tiếp tục ra khơi. Mỗi lần anh đi chị lại lo. Radio, ti vi báo bão. Đêm chị ngủ chẳng yên, sợ bão sẽ cuốn anh ra khỏi đời chị. Cuộc sống khá hơn, anh không đi biển nữa mà kinh doanh trên bờ. Anh đi sớm về trễ, có đêm vắng nhà, bảo vì công việc làm ăn. Nhưng nghe đâu… Không phải bão, anh vẫn bị cuốn xa dần. Sóng gió, bão trong lòng chị.
14. Khóc. Vừa sinh ra đã vào trại mồ côi, trừ tiếng khóc chào đời, chồng tôi không hề khóc thêm lần nào nữa. Năm 20 tuổi, qua nhiều khó khăn anh tìm được mẹ, nhưng vì danh giá gia đình và hạnh phúc hiện tại, một lần nữa bà đành chối bỏ con. Anh ngạo nghễ ra đi, không rơi một giọt lệ. Hôm nay 40 tuổi, đọc tin mẹ đăng báo tìm con, anh chợt khóc. Hỏi tại sao khóc, anh nói: – Tội nghiệp mẹ, 40 năm qua chắc mẹ còn khổ tâm hơn anh. 15. Đánh Đổi. Chị yêu anh vì vẻ lãng mạn và coi thường vật chật. Chị xa anh cũng vì lẽ đó. Nhân chứng của cuộc tình là chiếc xe đạp, nó chở đầy kỷ niệm của một thời yêu nhau. Mười năm xa cách, anh lao vào cuộc mưu sinh và có một gia sản ít ai bằng. Tình cờ anh gặp chị tại nhà, nhìn thấy chiếc xe đạp ngày xưa, chị hỏi: anh còn giữ nó? Anh nghẹn ngào: anh làm ra những thứ này mong đánh đổi những gì anh có trên chiếc xe đạp ngày xưa. 16. Mẹ tôi. Mẹ sinh tôi giữa ruộng bùn vì lúc có mang tôi cũng là lúc gia đình lâm vào túng quẫn, mẹ đi cấy thuê lặn lội đồng sâu nước độc nên sinh tôi thiếu tháng. Tôi ốm đau èo uột. Mẹ thường cõng tôi qua sông đến nhà thầy thuốc. Tôi khỏe. Nhưng mẹ phải còng lưng ba năm trời để trả nợ. Lớn lên tôi định bỏ học đi làm sớm. Mẹ quyết nhịn ăn bắt tôi đến trường. Mẹ là tấm gương soi suốt đời tôi.
17. Túi khoai thối. Thử hình dung những cơn giận dữ của ta như những củ khoai, mỗi lần giận là bỏ vào túi một củ, ngày càng nhiều và chúng dần thối đi. Nếu không biết bỏ qua lỗi lầm của người khác, cứ giận họ mãi thì với ta chẳng lợi ích gì, họ cũng chẳng vì ta giận họ mà mập hay ốm đi, còn ta khác nào phải mang theo túi khoai vừa thối vừa nặng. Nếu biết bỏ qua, ta sẽ có nhiều bạn, không còn phiền lòng vì túi khoai thối ấy.
18. CHUYỆN CÁI VÉ. Một người cha dắt đứa con 6 tuổi đi sở thú chơi. Đến quầy bán vé, người cha dừng lại đọc bảng giá: “Người lớn: $10.00 Trẻ em trên 5 tuổi: $5.00 Trẻ em dưới 5 tuổi: Miễn phí” Đọc xong, ông nói với người bán vé: – Cho tôi 1 vé người lớn và 1 vé trẻ em trên 5 tuổi. – Con ông trên 5 tuổi à? – Người bán vé tò mò hỏi lại. – Vâng. – Nếu ông không nói cho tôi biết thì thằng bé được miễn phí rồi. – Vâng, có thể không ai biết, nhưng con tôi tự nó biết.
19. Ba… Học lớp 12, tôi không có thời gian về nhà xin tiền ba như 2 năm trước. Vì thế, tôi viết thư cho ba rồi ba đích thân lên đưa cho tôi. Từ nhà đến chỗ tôi trọ học chừng 15 km. Nhà nghèo không có xe máy, ba phải đi xe đạp. Chiếc xe gầy giống ba… Cuối năm, làm hồ sơ thi đại học, tôi lại nhắn ba. Lần này, sau khi đưa cho tôi một trăm ngàn, ba hỏi: – “Có dư đồng nào không con?”. Tôi đáp: – “Còn dư bốn ngàn ba ạ”. Ba nói tiếp: – “Cho ba bớt hai ngàn, để lát về, xe có hư như lần trước thì có tiền mà sửa”. Ba về, tôi đứng đó, nước mắt rưng rưng.
20. Mẹ và con. Con lên ba, chơi bên nhà dì, bị xe đạp ngã, trúng đầu chảy máu. Mẹ đang nấu cơm, hốt hoảng bế con chạy ngay đến bệnh viện. Hú vía. Vết thương chỉ nhẹ bên ngoài thôi. Hoàn hồn, mẹ nhìn lại mình: chân không dép, quần ống cao ống thấp, áo loang lổ vết máu. Chả giống ai! Mẹ cười. Con lớn, mẹ bỗng bị chứng nặng tai. Lần lữa mãi, mẹ mới nhờ con đưa đi khám bệnh. Bác sĩ bảo: Để quá lâu, hồi phục thính lực cũng khó. Nhìn mặt mẹ ngơ ngẩn, con khóc.
21. Anh. Năm 18 tuổi, anh quyết định nghỉ học đi phụ hồ. Bố mẹ giận dữ, mắng “Sanh ra… giờ cãi lời bố mẹ…phải chi nó ngoan, siêng học như bé Út…” Anh lặng thinh không nói năng gì…Bố mẹ mắng mãi rồi cũng thôi. Anh đã quyết thế! Ngày bé Út vào Đại học, phải xa nhà, lên thành phố ở trọ. Anh tự ý bán đi con bò sữa -gia tài duy nhất của gia đình-, gom tiền đưa cho bé Út. Biết chuyện, bố thở dài, mẹ lặng lẽ, Út khóc thút thít…Anh cười, “Út ráng học ngoan…” Miệt mài 4 năm Đại học, Út tốt nghiệp lọai giỏi, được nhân ngay vào công ty nước ngoài, lương khá cao… Út hớn hở đón xe về quê… Vừa bước chân vào nhà, Út sững người trước tấm ảnh của Anh trên bàn thờ nghi ngút khói…Mẹ khóc, “Tháng trước, nó bị tai nạn khi đang phụ hồ… lúc hấp hối, biết con đang thi tốt nghiệp, nó dặn đừng nói con biết…”
22. Cua rang muối. Khi xưa nhà còn nghèo, mẹ hay mua cua đồng giả làm cua rang muối. Cua đồng cứng nhưng mẹ khéo tay chiên giòn, đủ gia vị nên thật ngon. Thấy các con tranh nhau ăn, mẹ nhường. Các con hỏi, mẹ bảo: răng yếu. Giờ, các con đã lớn, nhà khá hơn, chúng mua cua biển gạch son về rang muối mời mẹ. Các con nói vui: – Cua rang muối thật đó mẹ. Rồi chúng ăn rất ngon. Riêng mẹ không hề gắp. Các con hỏi, mẹ cười móm mém: – Còn răng đâu mà ăn?!
23. Xa xứ. Em tôi học đến kiệt sức để có một suất du học. Thư đầu viết: “ở đây, đường phố sạch đẹp, văn minh bỏ xa lắc nước mình…” Cuối năm viết: “mùa đông bên này tĩnh lặng, tinh khiết như tranh, thích lắm…” Mùa đông sau viết: “em thèm một chút nắng ấm quê nhà, muốn được đi giữa phố xá bụi bặm, ồn ào, nhớ chợ bến xôn xao lầy lội… Biết bao lần trên phố, em đuổi theo một người châu Á, để hỏi coi có phải người Việt không…”
24. Đi thi. Chị Hai thi đệ thất. Ba thức dậy từ tờ mờ chở chị đi trên chiếc xe đạp cũ. Chị Hai đậu thủ khoa. Má bảo: “Nhờ Ba mày mát tay”. Từ đó, lần lượt tới anh Ba rồi cô út – cấp II, cấp III, tú tài, đại học – Đứa nào cũng một tay Ba dắt đi thi. Giờ cả ba đều thành đạt. … Buổi sáng, trời se lạnh, Ba chuẩn bị đi thi “Hội thi sức khỏe người cao tuổi”. Má nhìn Ba ái ngại: “Để tôi gọi taxi. Tụi nhỏ đều bận cả”. Buổi tối, má hỏi: “Ông thi sao rồi?”. Ba cười xòa bảo: “Rớt!”
25. THỊT GÀ. Tạnh mưa, bọn trẻ bưng cơm đứng ăn trước cửa. Tý khoe: – Nhà Tý ăn thịt gà. Đêm đó, bà Tám chửi: – Mả cha nó, nghèo mạt kiếp tiền đâu ăn gà, nó ăn gà bà, nó chết bất đắc. Ông giáo buồn lắm, ngã bệnh, qua đời. Thương tình, hàng xóm lo ma chay. Tý hớn hở vì nhà nó đông vui. Trời đổ mưa. Thằng Tý la lớn: – Con gà vô nhà, dậy bắt làm thịt ba ơi. Mọi người nhìn theo. Thì ra, một con cóc dưới kẹt tủ đang giương mắt nhìn lên quan tài ông giáo. (Đừng vội kết tội cho người khác bạn nhé. Hãy bao dung độ lượng và tha thứ)
26. Chỉ có một người thôi. Người đến dự đám cưới khá đông. Ông hàng xóm gọi bác làm công đến và bảo: – Này, anh đi xem xem có bao nhiêu người đến dự đám cưới bên ấy. Bác làm công ra đi. Bác để lên ngưỡng cửa một khúc gỗ và ngồi lên bờ tường đợi khách khứa ra khỏi nhà. Họ bắt đầu ra về. Ai đi ra cũng vấp phải khúc gỗ, văng lên chửi và lại tiếp tục đi. Chỉ có một bà lão vấp phải khúc gỗ, liền quay lại đẩy khúc gỗ sang bên. Bác làm công trở về gặp người chủ. Người chủ hỏi: – Ở bên ấy có nhiều người không? Bác làm công trả lời: – Chỉ có mỗi một người mà lại là bà lão. – Tại sao vậy? – Bởi vì tôi để khúc gỗ bên thềm nhà, tất cả đều vấp phải, nhưng cũng chẳng ai buồn dẹp đi. Thế thì lũ cừu cũng làm như vậy. Nhưng một bà lão đã dẹp khúc gỗ sang bên để người khác khỏi vấp ngã. Chỉ có con người mới làm như vậy. Một mình bà lão là người.
27. Phấn Son. Tốt nghiệp đại học, ở lại thành phố đi làm. Tháng rồi, mẹ vào thăm. Mừng và thương. Mẹ khen: “Bạn gái con xinh”. Cuối tháng, lãnh lương. Dẫn người thương đi shopping. Em bảo: “Mỹ phẩm của hãng này là tốt nhất. Những loại rẻ tiền khác đều không nên dùng vì có hại cho da, giống mẹ anh đó, mẹ bị nám hết anh thấy không…” Chợt giật mình. Mẹ cả đời lam lũ, nắng gió với cái ăn, nào đã biết phấn son màu gì./. Anh chị Thụ & Mai gởi
Vì sao người quân tử không tranh cãi với kẻ tiểu nhân?
Khổng Tử có một cậu học trò rất thích tranh luận. Một hôm, người học trò này đến thăm Khổng Tử thì gặp một người đang đứng ở cổng nhà.
Người khách này ngăn vị học trò kia lại hỏi: “Nghe nói thầy dạy của ngài là Khổng thánh nhân, như vậy thì học vấn của ngài chắc phải cao lắm. Ngài cho ta hỏi một năm có mấy mùa? Nếu ngài trả lời đúng, ta sẽ dập đầu quỳ lạy ngài, còn nếu trả lời sai thì ngài phải bái lạy ta.”
Vị đệ tử kia suy nghĩ một lát rồi nói: “Xuân, Hạ, Thu, Đông, có bốn mùa!”
Người khách kia cãi lại: “Sai! Có ba mùa!”
Vị đệ tử cảm thấy thực sự là kỳ quái nói: “Rõ ràng là một năm có bốn mùa, sao ngươi lại nói là có ba mùa?”
Đúng lúc hai người tranh luận không thôi thì Khổng Tử đi ra. Vị khách kia hỏi: “Thánh nhân! Xin ngài hãy phân xử, một năm rốt cuộc là có mấy mùa?”
Khổng Tử nhìn vị khách một lượt rồi nói: “Ba mùa!”
Vị khách vô cùng đắc thắng, quay sang cậu học trò của Khổng Tử: ‘Ngươi nghe đã rõ chưa, còn không bái ta một lạy tạ lỗi sao?’. Nói rồi đắc chí cười ha hả đi thẳng.
Cậu học trò thấy hết sức quái lạ, bèn hỏi Khổng Tử: “Thưa thầy! Một năm rõ ràng là có bốn mùa, sao vừa rồi thầy lại nói là có ba mùa?”
Khổng Tử trả lời: “Con không thấy người kia sao? Đó là một con châu chấu biến hóa mà thành. Một năm, châu chấu chỉ sống có ba mùa, xuân, hạ và thu, nó đâu có biết mùa đông? Con tranh luận với nó chẳng phải là không bao giờ có kết thúc sao?”
Vị đệ tử bừng tỉnh hiểu ra đạo ý cao thâm của bậc Thánh nhân: Tranh cãi với người không cùng cảnh giới là việc phí thời gian vô ích. Lão Tử nói: “Thiện giả bất biện, biện giả bất thiện” (Nghĩa là: người thiện thì không tranh biện, người tranh biện thì không phải thiện). Sự tu dưỡng, trưởng thành trong đời một người thể hiện ở việc làm, không phải ở lời nói, tranh biện. Xưa nay, phàm đã là chân lý thì đâu cần tranh biện?
(Ảnh minh họa)
Kẻ tiểu nhân nhầm tưởng rằng tranh luận không ngớt là khẳng định được chân lý thuộc về mình. Kỳ thực, chân lý vốn không thuộc về người, mà là đạo của vũ trụ. Việc của người quân tử là dụng tâm tu dưỡng đến cảnh giới của chân lý, gọi là giác ngộ, viên mãn. Kẻ tiểu nhân lấy cái ngu xuẩn của mình khăng khăng tranh luận cao thấp với người khác. Trong Đạo đức kinh, Lão Tử viết: “Đạo của bậc Thành nhân là làm mà không tranh”.Một trong ba nguyên lý tu dưỡng tối cao của Phật gia chính là NHẪN. Nhẫn nhịn không tranh biện mới là cảnh giới tu dưỡng cao nhất của đời người.
Phú Bật thời Bắc Tống khi còn trẻ, ông đang đi bộ trên đường phố thành Lạc Dương thì bỗng nhiên có một người mắng chửi ông. Một người đi đường đã ghé tai Phú Bật mà nói nhỏ: “Chàng trai trẻ, có người đang mắng chửi cậu kìa.” Phú Bật nghe xong liền nói: “Hình như là mắng người khác đó.” Người đó lại nói: “Người ta còn gọi tên của cậu mà chửi đó.” Phú Bật suy nghĩ một chút rồi nói: “Có lẽ là mắng người khác, rất có thể người đó trùng tên họ với tôi.” Sau đó, người mắng chửi Phú Bật nghe được phản ứng của ông nên thấy rất hổ thẹn, đến xin lỗi Phú Bật.
Phú Bật chẳng phải chính là đã hành xử như người quân tử, không tranh biện với kẻ tiểu nhận. Đó không phải là nhu nhược mà là không để tâm vào những chuyện vụn vặt, lùi một bước biển rộng trời cao. Cho nên, người xưa cho rằng người thông minh nhưng giả ngốc mới là đạo xử thế của nhà thông thái. Đời người quá ngắn ngủi và quý giá, việc cần làm lại quá nhiều, sao phải vì điều khó chịu mà lãng phí thời gian? Hiểu được cái đạo của người giả ngốc, bạn sẽ thấu một cảnh giới khác của đại trí tuệ.
Trong Luận ngữ, Khổng Tử giảng: “Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn vu sự nhi thận vu ngôn.” (Tạm dịch: Bậc quân tử ăn nhưng không cầu ăn no, ở không cầu an, nhanh nhẹn, minh mẫn trong việc làm nhưng rất thận trọng về lời nói). Lại thêm: “Quân tử dục nột vu ngôn nhi mẫn vu hành” (Bậc quân tử thường chậm trong lời nói nhưng hành động thì nhanh nhạy).
Rõ ràng là người xưa xem phẩm chất người quân tử là ở hành động, nói ít làm nhiều, lấy hành động chứng minh thay vì xảo biện, có nói cũng lấy khiêm nhường, đúng mực, thậm chí im lặng không nói. Kẻ tiểu nhân ngược lại, nói nhiều nhưng chẳng làm gì cả. Thế nên nhân gian mới có câu: ‘Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo…’
Một lẽ hết sức dễ hiểu là những người nhẫn nhịn không tranh biện bởi họ còn đang phải… miệt mài làm việc. Kẻ tiểu nhân làm ít nên rảnh rỗi nói nhiều, về bản chất thực sự không phải có năng lực. Người tài trí biết trân quý thời gian hữu hạn, một khi qua đi không trở lại nên dốc lòng toàn tâm toàn trí vào công việc, không muốn phí tiếc cho việc tranh cãi đúng sai. Tâm tranh đấu hơn thua cao thấp họ đã buông bỏ từ lâu rồi.
Kẻ tiểu nhân khoa ngôn xảo ngữ nhưng thực ra mọi việc đều để người khác làm cả. Như vậy tranh cãi với kẻ tiểu nhân há chẳng phải hạ mình xuống bằng họ mà phí thời giờ vô ích sao? ‘Người tốt không tranh biện, người tranh biện không tốt. Người biết không học rộng, người học rộng không biết.
Hàm ý là: Người thông minh không nhất định là kẻ học rộng. Người học rộng lại cũng không nhất định là người thông thái trí huệ. Bởi thứ quyết định trí tuệ của một người không phải ở tri thức tích lũy nhiều bao nhiêu mà là ở tâm thái cảnh giới tư tưởng cao bao nhiêu. Kẻ thông minh dùng khoa ngôn xảo ngữ để hùng biện. Bậc trí giả, ngược lại, đã tu dưỡng đến độ hiểu rằng, nói là một loại năng lực, còn im lặng là một loại trí huệ. Vậy há chẳng phải sống trên đời, không cần tranh cãi với kẻ tiểu nhân?
Đó là nền báo chí Việt Nam dưới sự chỉ đạo, định hướng của nhà cầm quyền cộng sản khiến những thông tin trên mặt báo lệch lạc, sai sự thật, còn người làm báo mang tiếng là dân “trí thức” nhưng lại làm việc không khác gì những người thiếu nhận thức, thiếu lương tri…
Báo chí dưới sự cai trị của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam là một nền báo chí méo mó, nửa báo chí nửa “công văn” khi đưa thông tin theo “định hướng”. Nền báo chí sống nhờ dân nhưng lại phục vụ cho nhà cầm quyền… nói đúng hơn thì đây là một nền báo chí khuyết tật, tờ báo, người làm báo chưa hiểu hết nghĩa thật sự của cụm từ Báo chí, truyền thông là gì.
Các hoạt động báo chí ở Việt Nam không phải chịu sự kiểm soát của luật pháp quốc gia, luật báo chí mà là chịu sự kiểm soát của các cơ quan đại diện cho nhà cầm quyền cộng sản đó là người đứng đầu Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ 4T), và nội dung thì do Ban Tuyên giáo Trung ương kiểm duyệt, định hướng. Điều này khiến nhiều thông tin trên mặt báo sai sự thật, còn nhận thức của người làm báo thì lệch lạc, cam chịu, thui chột về ý chí.
Thông tin KHUYẾT TẬT
Một trong những nguyên tắc, yêu cầu quan trọng nhất của báo chí chính là SỰ THẬT. Thế nhưng, nhiều cơ quan báo chí ở Việt Nam đã không có được điều này. Chỉ đưa thông tin theo “định hướng”, né tránh những sự việc liên quan đến chính trị, quyền lợi của nhà cầm quyền cộng sản vì “nhạy cảm” (trừ một số thông tin được bật đèn xanh, phục vụ cho việc tranh giành quyền lực, thanh trừng nhau, mà bên có thế lực mạnh hơn sẽ chỉ đạo. Ví dụ như vụ Trịnh Xuân Thanh).
Điển hình nhất chính là vụ Fomosa, nhiều tờ báo, đặc biệt là VTV đã thông tin sai sự thật, khi chỉ thông tin một chiều ý kiến của nhà cầm quyền cộng sản. Trong khi biển đang bị đầu độc nặng, rất nhiều người dân bị nhiễm độc kim loại, nhân dân đói khổ vì thất nghiệp thì nhiều tờ báo liên tục đưa tin theo ý kiến của nhà cầm quyền là biển đã sạch, ngư dân phấn khởi ra khơi… không dừng lại đó, các tờ báo này còn vu vạ cho những ngư dân đi đòi quyền lợi chính đáng của mình là “phản động”, quá khích, gây rối an ninh trật tự…
Không một tờ báo nào dám phỏng vấn, đưa tin về những ngư dân-nạn nhân của thảm họa Fomosa, xem cảm nghĩ của họ như thế nào? Sau khi biển bị đầu độc, họ thất nghiệp và sống ra sao? Tại sao nhiều thanh niên ở vùng thảm họa lại không đạt yêu cầu về sức khỏe (bị nhiễm độc kim loại) khi tham gia đi xuất khẩu lao động? Tại sao người dân không đi làm, không ở nhà chăm lo sức khỏe của mình và gia đình mà lại hành hạ bản thân khi đi chang nắng, chang mưa để biểu tình, rồi bị đánh đập?…
Mặc dù, hơn 99% các tờ báo này đều sống bằng số lượt truy cập của bạn đọc, tức là người dân. Nhưng họ lại thờ ơ với quyền lợi, nỗi đau của nhân dân, thậm chí là vu vạ cho dân để đẩy dân vào đường cùng. Các tờ báo này đang tự giết chính mình, khi chọn con đường đối đầu với nhân dân.
Vâng, một nửa sự thật không phải là sự thật.
Người làm báo thui chột
Phần lớn những người làm báo tại Việt Nam là những người được xem là có trình độ học vấn cao trong xã hội, được xếp vào tầng lớp trí thức. Thế nhưng họ không có tư duy độc lập, khiến nhận thức của họ bị méo mó, cam chịu và chấp nhận làm việc trong một môi trường báo chí KHUYẾT TẬT.
Một trong những yêu cầu quan trọng của báo chí chính là tính KHÁCH QUAN. Thế nhưng, báo chí Việt Nam chịu sự định hướng của nhà cầm quyền cộng sản, nên tính khách quan này trở thành một mỹ từ xa xỉ. Họ sống bằng lượt truy cập của nhân dân nhưng lại chịu sự lệ thuộc từ nhà cầm quyền một cách vô lý!
Ngay trong quy định của “Luật Báo chí” về việc cấp thẻ báo chí đã là 1 sự vô lý đến hài hước. Khi, trước đây, người được cấp thẻ nhà báo phải hoạt động báo chí liên tục tại một tờ báo từ 3 năm trở lên và phải do Bộ 4T cấp thẻ. Điều này khiến nhiều phóng viên khốn đốn trong quá trình tác nghiệp vì chưa có thẻ nhà báo, khi các cơ quan chỉ tiếp nhà báo chứ không tiếp phóng viên… Rồi Bộ 4T thích thì phạt các tờ báo, tước thẻ báo chí của nhà báo. Thích thì dọa khi ra “đề án quy hoạch báo chí” để các chủ tờ báo chạy tiền cho Bộ 4T, trong khi Bộ này vẫn vô tư cấp phép cho tờ báo khác ra đời.
Báo chí hoạt động dựa trên những nền tảng, nguyên tắc về thông tin, chịu sự quản lý của luật pháp, vậy tại sao lại phải chịu sự quản lý vô lý của Bộ 4T, Ban Tuyên giáo Trung ương? Trong khi một tờ báo sống được là nhờ vào người dân. Vậy LUẬT PHÁP đứng ở đâu trong nền báo chí Việt Nam?
Rõ ràng, nền báo chí Việt Nam đang bị cai trị một cách sâu sắc. Mà những người bị cai trị này lại là bộ phận không nhỏ tầng lớp được xem là trí thức, họ đang có rất nhiều lợi thế trong việc tác động đến xã hội. Thế nhưng, họ lại chấp nhận sự cai trị này một cách ngoan ngoãn như những con cừu.
Nhiều người làm báo cho rằng họ đang cần mẫn, họ đang dũng cảm đấu tranh chống lại cái xấu, phơi bày những sự thật của xã hội trên mặt báo, không có họ thì nhiều người dân sẽ không biết được những sự thật này (?!) Và nếu họ đấu tranh cho quyền lợi hợp pháp của mình thì sẽ bị tước giấy phép hoạt động, bị thu thẻ nhà báo… lúc này họ sẽ chẳng làm được gì?
Tôi chỉ mong các bạn tìm hiểu lại nghĩa đúng nhất của cụm từ BÁO CHÍ. Các bạn “dám” đấu tranh cho cái xấu, sự bất công của người dân, vậy tại sao các bạn không dám đấu tranh cho quyền lợi của mình? Quyền tự do báo chí của mình, để chấm dứt những vô lý trong quy định về hoạt động báo chí? Các bạn có dám đấu tranh để tờ báo, nhà cầm quyền cộng sản đưa thông tin chính xác về vụ Fomosa không? Có dám đấu tranh để chấm dứt sự cai trị vô lý không?…
Những quyền lợi, nghĩa vụ hợp pháp của các bạn mà các bạn không dám đòi, chưa đòi được thì các bạn đòi được cho ai? Các bạn có thấy mình đang tự lừa dối mình không? Nếu sự đấu tranh của các bạn không phải vì cái nghề mà mình đang mưu sinh thì các bạn dám đấu tranh không?
Rõ ràng, những người làm báo trong nền báo chí cai trị Việt Nam đã bị nhà cầm quyền cộng sản “đánh” què tư duy, làm thui chột ý chí chiến đấu.
Nền báo chí của nước Việt đã và đang là nền báo chí KHUYẾT TẬT kể cả về mặt thông tin, lẫn con người làm báo.
Người nhà và gia đình cháu bé bị hại phản ứng tại buổi xin lỗi
Buổi xin lỗi ông Hàn Đức Long, người trải qua 11 năm ngồi tù oan, đã diễn ra “không thành công”, một luật sư tham gia bào chữa cho ông Hàn Đức Long nói với BBC chiều ngày 25/4.
TAND Cấp cao tại Hà Nội tổ chức buổi xin lỗi chính thức ông Long tại UBND xã Phúc Sơn, tỉnh Bắc Giang chiều 25/4.
Buổi xin lỗi gây nhiều sự chú ý, có nhiều phóng viên và người dân địa phương đến tham gia nhưng mọi việc đã không diễn ra như mong muốn, luật sư Ngô Ngọc Trai cho biết.
“Buổi xin lỗi diễn ra không thành công vì sự thiếu chu đáo của cơ quan đứng ra tổ chức, không liệu được việc gia đình cháu bé có mặt, bức xúc và gây ra sự hỗn loạn.”
Người nhà và gia đình cháu bé bị hại lớn tiếng chỉ trích cơ quan tư pháp và yêu cầu tìm ra thủ phạm trước khi công khai xin lỗi.
Nhưng theo luật sưTrai, yêu cầu này không có cơ sở pháp lý. Ông Long đã được quyết định không phải là thủ phạm. Ông ấy đã đi tù oan 11 năm thì cơ quan tư pháp phải đứng ra xin lỗi theo quy định của pháp luật.
“Toà án nhân dân cấp cao chỉ đọc một văn bản rất chóng vánh, trong không khí lộn xộn, hỗn loạn.”
“Với tư cách là luật sư của ông Long, tôi cho rằng việc xin lỗi đã không thành công. Tôi sẽ làm việc với gia đình ông Long để yêu cầu bên Toà án thực hiện lại việc xin lỗi.”
“Rất là đáng tiếc trong khi vụ án đã gây ra tổn thương tinh thần cho ông Long và những người liên quan, khâu tổ chức lại lầm lỗi tiếp, khiến cho tổn thương tinh thần của nhiều người lại bị ảnh hưởng.”
Ông Long và vợ có mặt tại hội trường nhưng vội ra về.
Về việc bồi thường, ông Trai cho biết gia đình ông Long đang làm việc để trình ra các cơ sở căn cứ, các khoản và các mục để các bên thương lượng đàm phán.
Bất cập trong cơ chế tư pháp
Theo luật sư Ngô Ngọc Trai, người theo đuổi vụ án oan sai của ông Long từ năm 2011: “Vụ án oan của ông Long một phần là do lỗi yếu kém do năng lực con người.”
“Một phần khác là do sự bất cập của cơ chế tư pháp, chưa thiết lập một cách khoa học, chưa bổ trợ được khiếm khuyết của con người, còn lạc hậu, dẫn đến tình trạng oán sai mà bản thân cơ quan tư pháp cũng không mong muốn.”
“Một vấn đề quan trọng khác là có quá nhiều cơ quan có thẩm quyền giam giữ, cả cơ quan điều tra, viện kiểm sát lẫn tòa án. Ở những nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, chỉ có tòa án mới có quyền ra lệnh bắt giữ.”
Theo truyền thông Việt Nam, thi thể cháu bé Nguyễn Thị Yến, sinh năm 2000, được phát hiện năm 2005 sau khi mất tích.
Ông Hàn Đức Long bị bắt giam và thú nhận mình là thủ phạm trong vụ án hãm hiếp và giết cháu bé. Nhưng tại các phiên tòa ông Long kêu oan, không nhận tội và ông nói bị ép cung, bức cung.
Tuy nhiên, sau đó ông vẫn đi tù 11 năm và từng bốn lần bị tuyên án tử hình. Ông được thả vào ngày 20/12/2016 sau khi cơ quan tư pháp xác định không có đủ bằng chứng kết tội.
Một giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu đối thoại với chính quyền thành phố Đà Nẵng. (Hình: Tuổi Trẻ)
VIỆT-NAM (NV) – Đại diện chính quyền thành phố Đà Nẵng vừa tuyên bố sẽ đáp ứng yêu cầu “tái định cư tại chỗ” của giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu, tọa lạc tại phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ. Tuy nhiên chưa rõ sự nhượng bộ này đã đủ để kết thúc vụ đối đầu, đòi công bằng giữa giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu với chính quyền thành phố Đà Nẵng hay chưa (?).
Cách nay tám năm (2009), chính quyền thành phố Đà Nẵng công bố kế hoạch xây dựng Khu Đô thị sinh thái Hòa Xuân, diện tích khoảng 430 héc ta. Theo kế hoạch này, khoảng 2.000 gia đình cư trú ở các khu vực: Tùng Lâm, Lỗ Giáng, Cẩm Chánh, Trung Lương và Cồn Dầu phải rời khỏi nơi “chôn nhau, cắt rốn” của họ, chưa kể 8.000 người chết phải nhường “nơi an nghỉ cuối cùng” cho một “nhà đầu tư”.
Trong khi khoảng 1.600 gia đình ở Tùng Lâm, Lỗ Giáng, Cẩm Chánh, Trung Lương ngậm đắng nuốt cay dọn đến sinh sống tại các “khu tái định cư” thì 380 gia đình của Giáo xứ Cồn Dầu kháng cự yêu cầu mà họ khẳng định là phi lý này. Ngoài việc bảo vệ nhà cửa, ruộng vườn, giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu còn cương quyết bảo vệ mồ mả của ông cha. Giáo xứ Cồn Dầu có một nghĩa trang với chừng 1.000 ngôi mộ.
Ngày 3 tháng 5 năm 2009, khi giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu đưa cụ bà Đặng Thị Tân, 91 tuổi đến an táng tại nghĩa trang của giáo xứ thì công an Đà Nẵng đổ đến ngăn chặn vì theo quy hoạch thì không được chôn cất thêm bất kỳ ai trong nghĩa trang. Công an Đà Nẵng đã thẳng tay đánh đập những người phản đối, hàng chục người trọng thương. Sau đó có thêm sáu người bị bắt, bị phạt tù vì “gây rối trật tự công cộng”, “chống người thi hành công vụ”.
Vụ đàn áp để thu hồi đất ở Cồn Dầu bị nhiều tổ chức quốc tế và chính phủ một số quốc gia chỉ trích. Đó cũng là lý do hàng chục giáo dân Cồn Dầu, trốn sang Thái Lan được Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc cho hưởng quy chế tị nạn chính trị.
Tuy không giữ được nhà cửa, ruộng vườn và mồ mả cha ông nhưng từ đó đến nay, giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu không bỏ cuộc. Họ kết thành đoàn, liên tục cùng nhau đi khiếu nại cả ở Đà Nẵng lẫn Hà Nội, bất kể khiếu nại liên tục bị bác.
Mới đây, chiều 24 tháng 4, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã tổ chức “đối thoại” với các gia đình là giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu “không đồng tình với phương án tái định cư của thành phố Đà Nẵng”. Theo tờ Tuổi Trẻ thì chính quyền thành phố Đà Nẵng đã gửi 87 thư mời đến những gia đình suốt tám năm vừa qua dứt khoát không giao đất, không làm thủ tục nhận đất trong các khu tái định cư nhưng chỉ có ba gia đình chịu quá bộ đến dự cuộc “đối thoại”.
Đáng chú ý là trong buổi “đối thoại” gần như đơn phương đó, ông Hồ Kỳ Minh, Phó Chủ tịch thành phố Đà Nẵng, vẫn tỏ ra nhẫn nại, loan báo, chính quyền thành phố này sẽ giải quyết yêu cầu “tái định cự gần nhà thờ Cồn Dầu” của giáo dân Cồn Dầu. Viên Phó Chủ tịch thành phố Đà Nẵng bảo rằng, để có đất hoán đổi, thỏa mãn yêu cầu “tái định cự gần nhà thờ Cồn Dầu” cho giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã phê duyệt kế hoạch lấy một phần công viên gần nhà thờ Cồn Dầu để phân chia thành 368 lô đất cho giáo dân “tái định cự gần nhà thờ Cồn Dầu”.
Giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu cũng có thể hoán đổi đất đã được giao trong khu tái định cư láy một lô đất mới gần nhà thờ Cồn Dầu. Với những gia đình chưa chịu giao đất, chủ đầu tư – Công ty Tập đoàn Mặt Trời – sẽ hỗ trợ xe, chi phí để di dời tài sản… (G.Đ)
Vũ Đông Hà (Danlambao) – Ngày 4 tháng 6 năm 1989, quảng trường Thiên An Môn nhuộm máu. Quân đội và xe tăng được lệnh của lãnh đạo đảng CSTQ xả súng vào quần chúng. Trong suốt gần 7 tuần lễ trước đó, bắt đầu từ 15 tháng 4, nửa triệu người dân Trung Hoa, phần lớn là sinh viên, đã vượt qua sợ hãi để làm người tự do đúng nghĩa tại quảng trường có hình chân dung vĩ đại của Mao. Cả ngàn thanh niên thiếu nữ đã chết. Họ đã thắng nỗi sợ hãi nhưng bị dẹp tan trong máu và nước mắt vì một điều đơn giản: họ đã đẩy một guồng máy cai trị tàn ác vào vị trí đường cùng khi thiểu số lãnh đạo và tập đoàn thừa hành của guồng máy ấy chưa biết sợ; vẫn còn những cái đầu điên cuồng tuân lệnh và những ngón tay chưa biết run bấm vào cò súng.
Cuộc cách mạng của sợ hãi không chỉ là một cuộc cách mạng một chiều: làm người dân hết sợ. Nó còn cần được thực hiện theo một tiến trình khôn ngoan, có lượng giá để từng bước: làm cho độc tài bắt đầu biết lo; chùn bước chùng tay; hãi sợ; và cuối cùng là đầu hàng.
Cách mạng chỉ nên được đẩy đến giai đoạn dứt điểm để thành công khi “cán cân sợ hãi” bắt đầu nghiêng về phía độc tài. Nếu không sẽ có nhiều xác suất dẫn đến một cuộc tắm máu vì vũ khí đang nằm trong tay kẻ thống trị. Ngay cả khi buộc phải có “sự thương lượng” với tập đoàn độc tài, cán cân sức mạnh giữa quần chúng và guồng máy lúc đó phải được tương đối cân bằng thì những đòi hỏi chính đáng và lâu dài của nhân dân mới có thể được đáp ứng. Nếu không thì “sự thương lượng” sẽ mở cho độc tài một giải pháp thoát hiểm và công cuộc đấu tranh bị rơi vào một trò chơi chính trị.
*
Câu chuyện của một cô gái xuất khẩu lao động một cán bộ công an phường
Hồng Lĩnh là một sinh viên ở một tỉnh miền Tây. Trong khi bạn bè rủ nhau trở thành cô dâu Đài Loan thì Hồng Lĩnh làm đơn xin đi lao động hợp tác. Cán bộ phường là một gã côn đồ, hống hách, xem dân như cỏ rác. Hồng Lĩnh cũng không thoát khỏi hoàn cảnh đó, vừa sợ hãi, vừa căm giận, vừa phải nhịn nhục khi đến xin chữ ký. “Cuối cùng em nghiệm ra rằng em là nô lệ cho sự sợ hãi của chính em và từ đó danh dự, nhân phẩm của em đã trở thành nô lệ cho chúng nó “ – Hồng Lĩnh tâm sự.
3 năm sau, Hồng Lĩnh về nước. Những cảm nhận ở nước ngoài làm em có một nhận thức mới về chính mình. Ngày lên phường để khai báo, cũng tên cán bộ phường đó, cũng thái độ hống hách, coi thường người dân. “Em đã đứng thẳng dậy, nhìn thẳng vào mắt nó và rất nghiêm trang nhưng rất dữ, “quạt” nó cả 10 phút không ngừng nghĩ. Anh biết gì không? Mặt mày nó tái mét, khi em dừng nói nó bối rối dữ lắm, không biết phản ứng ra sao. Cuối cùng nó lí nhí xin lỗi và bỏ tuốt vào bên trong. Từ đó đến nay, thái độ của nó đối với em khác hẳn. Em ngộ ra một điều là qua nhiều năm, tụi em vì thời thế đã tự tạo cho mình khả năng tự vệ khi bị làm khó làm dễ; ngược lại có kẻ quen tấn công người khác thì không có khả năng phản ứng khi bị tấn công vì chưa có kinh nghiệm bao giờ. Tụi nó chỉ biết núp bóng bộ đồng phục ở trên người và cái bóng của hệ thống…”
Nỗi sợ hãi của kẻ bị tách riêng để tấn công
Không riêng gì đảng CSVN, những cá nhân cầm quyền và thuộc hạ của các nước độc tài khác đều núp bóng cơ chế để vừa trốn tránh trách nhiệm vừa mang cảm giác an toàn. Những tấn công vào cơ chế không làm cho cá nhân trong tập đoàn cai trị lo sợ nhiều mà đôi khi lại gia tăng cảm giác an toàn của họ khi chúng ta vô tình kết họ vào một khối.
Viễn ảnh về ngày tàn của chế độ không phải không có trong đầu của một bộ trưởng hay bí thư tỉnh ủy hoặc một tên công an côn đồ. Hình ảnh của Muammar Gaddafi bị lôi ra khỏi ống cống và bị giết không phải không ẩn hiện trong đầu của họ. Nhưng trong viễn ảnh nhiều ác mộng đó, họ tự nhủ rằng, cùng lắm thì cả một thể chế sụp đổ, một vài “đồng chí” cao cấp nhất sẽ bị đem ra xử còn “ta” sẽ hạ cánh an toàn. Từ đó, họ “yên tâm” tiếp tục thủ ác trong khung cảnh toàn cơ chế, hệ thống bị tấn công.
Không ai có thể phản biện được với khuynh hướng lên án toàn bộ, không để sót kẻ gây ra tội ác vì đó là phán xét hợp lý và mang tính công bằng, phù hợp với chuẩn mực của công lý. Tuy nhiên, trong tiến trình tranh đấu, đôi khi cảm xúc, công bằng và công lý đành phải nhường chỗ cho nhu cầu thực tiễn của mục tiêu xóa bỏ độc tài: hiệu quả đạt được. Sẽ không mang lại nhiều hiệu quả mong đợi khi tấn công cả hệ thống tham nhũng, cả tập đoàn công an còn đảng còn mình là ác ôn, trong khi mỗi cá nhân trong tập thể xấu xa đó không có cảm giác cá nhân mình đang bị tấn công. Đối với những kẻ gieo ác, khi một tên sợ hãi sẽ dẫn đến tâm lý sợ hãi của đồng bọn. Bệnh sợ hãi là bệnh hay lây cho dù chúng là những kẻ nắm quyền. Ngược lại, khi lực chúng ta còn mỏng và còn yếu, tập trung tấn công vào một điểm vẫn mang lại nhiều kết quả hơn là tấn công cả một tảng núi.
Khi bắt đầu bằng những kế hoạch, việc nhắm vào một cá nhân, một thành phần đang bị oán ghét nhất trong bộ máy cai trị sẽ có khả năng làm nhiều người tham gia hơn. Nó sẽ tạo ảnh hưởng đến cá nhân kẻ thủ ác. Nỗi sợ hãi sẽ lây lan, ảnh hưởng và làm suy yếu guồng máy. Khi gió bắt đầu xoay chiều, chính những người phục vụ trong guồng máy sẽ xé rào và chạy về phía nhân dân – đó là trường hợp của một số đại sứ, bộ trưởng của chế độ Gaddafi trong thời điểm quyết định của cuộc cách mạng tại Lybia.
Đội tàu biển của Việt Nam được cảnh báo có thể bị đưa trở lại ‘danh sách đen’ do có nhiều tàu không bảo đảm an toàn cũng như tỷ lệ bị lưu giữ tại nước ngoài cao hơn tàu của những nước khác.
Tổ chức Chính quyền Cảng biển các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đưa ra cảnh báo như vừa nêu.
Thống kê cho thấy trong quí 1 năm nay, số tàu biển của Việt Nam chạy tuyến quốc tế bị lưu giữ ở nước ngoài khi bị kiểm tra về an toàn và phòng ngừa ô nhiễm được cho biết tăng với tỷ lệ cao nhất so với trung bình trong 3 năm qua ở mức gần 5%.
Lý do tàu Việt Nam bị lưu giữ được cho biết vì bị hư hỏng về an toàn chống cháy nổ, trang thiết bị cứu sinh, tình trạng kín nước, các hệ thống sử dụng trong trường hợp có sự cố, an toàn hàng hải, hệ thống quản lý tàu…
Đội tàu biển của Việt Nam trước năm 2014 bị Tổ chức Chính quyền Cảng biển Các nước Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương liệt vào ‘danh sách đen’.
Cục Hàng Hải Việt Nam thừa nhận từ đầu năm đến giữa tháng tư vừa qua, có hơn 300 lượt tàu biển của Việt Nam bị kiểm tra tại các cảng biểng nước ngoài.
Các nhà hoạt động đối lập Venezuela chặn đường cao tốc Francisco Fajardo ở Caracas, ngày 24 tháng 4 năm 2017.
AFP photo
Tình hình bất ổn và xô xát tại Venezuala 3 tuần qua, với 21 người thiệt mạng, không có cơ may chấm dứt khi phe đối lập vào ngày 24 tháng tư lại đe dọa ngăn chận tất cả những tuyến đường chính trên toàn quốc khiến dư luận lo lắng bạo động sẽ tiếp diễn mạnh hơn.
Trong khi đó thì thủ lĩnh đối lập Leopoldo Lopez vẫn bị biệt giam cả tháng trong tù. Hôm Chúa Nhật 23 tháng tư người vợ của ông tổ chức buổi thắp nến ngay trước nhà tù để đòi hỏi được quyền thăm viếng ông Lopez.
Từ khi ông Maduro đắc cử chức tổng thống năm 2013 đến giờ thì đất nước Venezuela gần như bị rơi vào tình trạng xáo trộn chính trị thường xuyên.
Phe đối lập cáo buộc ông Maduro đã dẫn đất nước từ một quốc gia phồn thịnh trở thành nghèo đói, thiếu thực phẩm và thiếu hụt mọi nhu cầu căn bản của dân chúng.
Bìa cuốn hồi kỳ Vượt Tù Vượt Biển của Huỳnh Công Ánh.
RFA photo
‘Vượt Tù, Vượt Biển’ cùng Huỳnh Công Ánh
11:24/12:02
Cuốn hồi ký “Vượt tù Vượt biển” của tác giả Huỳnh Công Ánh được giới thiệu đến với mọi người sau 42 năm kể từ tháng 4 năm 1975.
Trong đó, những sự kiện, hình ảnh của miền Nam kể từ buổi sáng 30 tháng 4-75, cuộc sống của người lính Việt Nam Cộng hoà trong trại cải tạo, hay những chuyến vượt biển kinh hoàng được tác giả kể lại trong cuốn hồi ký với vai trò là một nhân chứng lịch sử.
Nhân vật Tôi
Nhân vật “tôi” xuyên suốt trong 21 chương của “Vượt tù, vượt biển” là Đại uý Sư đoàn 22 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hoà, người tù vượt ngục trại Long Giao, người lái tàu vượt biển hai lần, chủ tịch Hội Cựu Quân nhân tại đảo Pulau Bidong năm 1981; người sáng lập Phong trào Hưng ca Việt Nam: nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh.
Tất cả những vai trò từng tồn tại trong 70 năm cuộc đời được ông gói ghém trong 21 chương của “Vượt tù, vượt biển”, cuốn hồi ký ông ấp ủ 38 năm. Khi thực hiện được, thì đã bước sang năm thứ 42 kể từ buổi sáng 30 tháng 4 năm 1975.
“Cho tới bây giờ, những hình ảnh suốt từ năm 75 ra tới miền Bắc, rồi trốn tù, nó nằm mãi trong đầu. Mặc dù tuổi đã lớn nhưng những hình ảnh không bao giờ quên. Vì tuổi lớn, có những sự kiện có thể mất đi nhưng không có gì thêm bớt. Và những nhân vật vẫn còn nằm yên đó..”
Thật sự là như thế. Sài Gòn buổi sáng 30 tháng 4 năm 75 hiển hiện ra dưới ngòi bút của ông với đầy đủ âm thanh, sắc thái, mùi vị. Ông gọi những chương đó là “Tan hàng, Bỏ súng”.
Tan hàng; Bỏ súng
“30.4. Hình như suốt đêm qua Sài Gòn chập chờn không ai tròn giấc ngủ. Tôi không thể nằm yên ở nhà chịu trận mà không biết những gì đang xảy ra bên ngoài đường phố. Tôi rời nhà với đôi mắt cay xè. Sài Gòn vẫn nắng chói chang…
Sáng sớm hôm nay một chiếc trực thăng HU.1D bên kia đường, đỗ trên nóc nhà đón thân nhân, đã vướng dây điện, nằm chúi đầu như sắp rơi xuống đất. Ngoài đường cả một cảnh tượng hỗn loạn đang xảy ra, xe cộ xuôi ngược, và chưa lúc nào đường phố thấy người đi bộ nhiều như sáng nay, nhiều người chạy trên đường với thái độ hốt hoảng…”
Cho tới bây giờ, những hình ảnh suốt từ năm 75 ra tới miền Bắc, rồi trốn tù, nó nằm mãi trong đầu. – Huỳnh Công Ánh
“Cảm giác trưa ngày 30 tháng 4 là cảm giác không biết mình sẽ đi về đâu sau cái ngày Việt Cộng chiếm miền Nam, sau ngày buông súng. Lúc đó cứ nghĩ là bây giờ họ thắng rồi, họ lấy hết đất nước rồi, cảm giác như đờ đẫn, không biết đứng ở đâu, không biết làm gì. Cho tới khi có thông cáo đi tù cải tạo 10 ngày thì cũng vui mừng, giỡn đùa…ôi 10 ngày nhằm nhò gì, 3 tháng cũng nhằm nhò gì. Ở tù 10 ngày, 3 tháng hay 1 năm rồi ra có cơ hội đi làm ăn hoặc đi học lại, vì tôi tổng động viên năm 68, hai mươi mấy tuổi thôi, tôi cũng ước mơ đi học lại.”
Qua những tình tiết tác giả kể lại trong “Bỏ súng”, người đọc sẽ thấy và hiểu những lớp xi măng đầu tiên xây dựng nên một thành trì xã hội chủ nghĩa ngày nay.
“…Thời gian của tháng 5-75 là thời gian của xôn xao họp hành, thành lập khu phố, kê khai giấy tờ và học tập cái gọi là “chính sách của cách mạng”. Chị giúp việc nhà hàng xóm kế cận căn nhà tôi ở, nghe đâu cũng là Việt Cộng nằm vùng, bây giờ là Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân phường.”
Về Long Giao
Những tháng ngày sau đó của Huỳnh Công Ánh và đồng đội của ông được lột tả thật đến từng tiếng thở, tiếng ngáy, tiếng máy xe nổ ầm ì trong đêm khuya. Cách ông tường thuật đoạn đường về Long Giao mà bần bật lên đó là niềm tin, niềm hy vọng, rồi tiếp nối là sự hoang mang, để rồi cuối cùng là thất vọng.
“Giờ này trong bóng tối, chen chúc trong chiếc xe, tôi mới thấy ân hận. Vợ con tôi chắc đã ngủ rồi mà không biết cảnh chồng và cha đang ngồi trên chiếc xe bít bùng này và đi về đâu? Hoàn cảnh này không thể có chuyện đi “học tập 10 ngày” được rồi. Cũng có thể chúng chở ra biển, rồi nhận chìm tàu, hay đem lên núi xử bắn rồi lấp xuống hố.”
7 năm trong trại tù Long Giao trong hồi ký của Huỳnh Công Ánh không thiếu những câu chuyện bi hài. Những mẫu chuyện ngắn, được kể lại gọn gàng qua những lời đối thoại không văn vẻ, nhưng rất “trịnh trọng” bởi cách xưng hô “thưa gửi các bộ”, đủ để người đọc phải vỡ oà cái cảm xúc vừa buồn cười, vừa cay đắng.
Một bức ảnh chụp ngày 30 tháng 4 năm 1975 cho thấy lính Việt Nam Cộng Hòa bị hộ tống bởi bộ đội Bắc Việt. AFP photo
“…Những tuần lễ đầu ở Long Giao, khi đi ngang qua các vọng gác của các bộ đội, thấy nhiều viên đá cục chất đống dưới chân vọng gác. Sau mới biết, bộ đội sau khi đi đại tiện, họ dùng đá để lau chùi. Bộ đội mà thế thì huống gì là tù, lấy giấy ở đâu? chỉ dùng lá, cục đá hoặc chà dưới cỏ. Man rợ như thế đấy.
Cũng có những câu chuyện nực cười khác
Khi mới vào Long Giao, có anh tên là Lê Thông, mang kính cận dày cộm. Một hôm đi ngược chiều với bộ đội, tên bộ đội gọi giật lại:
– Anh kia, ai cho phép anh đeo kiếng?
– Báo cáo cán bộ, tôi bị cận thị. Anh Thông trả lời
– Cận thị là cái gì? Lấy xuống, lấy xuống mau!
– Báo cáo cán bộ lấy kiếng xuống thì tôi quờ quạng lắm, làm sao thấy đường đi?
– Tôi không đùa với anh đâu nhé. Lấy xuống mau!”
Vượt tù, vượt biển
Từ những chương này trở về sau, là những mốc thời gian tác giả gọi là tàn khốc nhất. Chính vì vậy mà trong suốt 38 năm, dù trải qua nhiều thăng trầm của cuộc đời, ông vẫn không quên một chi tiết nào. Từ cuộc vượt ngục lịch sử thoát khỏi những ngày học tập cải tạo trong trang phục của bộ đội Bắc Việt cho đến hai lần lái tàu vượt biển.
“Khi ở tù, phải có 1 thời gian suy nghĩ rất là lâu, bao nhiêu năm liền về ý định trốn tù. Vượt biển thì khốc liệt lắm, trong vòng có mấy ngày thôi. Tôi đã từng bị mảnh đạn bị thương, rồi bỗng nhiên trở thành người chỉ huy cứu 29 người trên tàu sống sót trong 17 ngày trôi trên biển. Chính mình cũng bị hải tặc Thái Lan khoét lưỡi lê trong hậu môn chảy máu đi không được, bị kẹp tay tra khảo. Nó khốc liệt sợ hãi hơn đường trốn tù. Cái hãi hùng của chuyến vượt biên thứ hai nếu xảy ra giống như chuyến thứ nhất thì liệu vợ, con và cháu và em của mình sẽ ra sao? vì mình mà họ chết. Nếu mình chết 1 mình không sao. Nhưng liên luỵ đến con nhỏ, cháu mình thì cảm giác nó sợ sệt, không ăn không ngủ được nhiều hơn là trong tù.
Cho đến giờ này, thỉnh thoảng, cái gọi là hãi hùng nó vẫn còn. Có nhiều đêm ngủ phải đá lung tung, hoặc nhiều đêm ngủ giật mình ôm mền ôm gối chạy. – Huỳnh Công Ánh
Vượt biên là mình phải làm sao cho tàu đi không chìm dưới biển, làm sao để tránh hải tặc vô cướp, hiếp dâm…Khi đi rồi không biết sẽ đi về đâu? Tấp vô bến nào hay được tàu vớt hay bị chìm tàu?”
Những ký ức tưởng như sẽ dần nguôi ngoai, nhưng không phải thế. Ông nhớ lại cuộc đời của một người tỵ nạn đến Mỹ ba mươi mấy năm, và thấy rằng nó cay đắng thâm trầm nghiệt ngã hơn thời gian 7 năm học tập cải tạo rất nhiều.
“Cho đến giờ này, thỉnh thoảng, cái gọi là hãi hùng nó vẫn còn. Có nhiều đêm ngủ phải đá lung tung, hoặc nhiều đêm ngủ giật mình ôm mền ôm gối chạy. Nhiều khi trong giấc chiêm bao mình thấy họ bắt mình, kéo mình, mình vẫy vùng, đá vào người vợ nằm kế mình. Nhiều lần như thế, nghĩa là nó ám ảnh mình suốt đời.
Thành ra cái chuyện ám ảnh, lo âu, dĩ vãng trong tù là nhớ vanh vách, chỉ có đọc ra, ghi ra, chứ không thêm thắt, hư cấu, văn chương gì cả.”
Nhân chứng lịch sử
Khó mà tìm được một mỹ từ hay một chi tiết bắt người đọc phải suy nghĩ trong hồi ký của Huỳnh Công Ánh. Thay vào đó, từng câu từng chữ hiện ra gãy gọn, thật thà, có cả cái tiếng chửi thề không lẫn vào đâu được của người miền Nam, đưa người đọc của nhiều thế hệ quay về sống với từng giây phút của năm tháng đó, chứng kiến những câu chuyện đó.
Ông nói rằng để thoát được những chuyến đi ấy, ông đã chịu ơn tình của nhiều người. Những ân tình đó là nguyên nhân đến 38 năm sau cuốn hồi ký mới ra đời. Niềm vui của ông được diễn tả bởi hai chữ “bàng hoàng” vì ông cho rằng ông đã thực hiện được sứ mệnh của cuộc đời mình.
Ước mơ và khát vọng lớn nhất là tôi làm tròn vai trò người chứng nhân của lịch sử, khúc quanh lịch sử cay nghiệt nhất mình là chứng nhân. – Huỳnh Công Ánh
“Ước mơ và khát vọng lớn nhất là tôi làm tròn vai trò người chứng nhân của lịch sử, khúc quanh lịch sử cay nghiệt nhất mình là chứng nhân. Và mình đứng cửa giữa, tức là lòng mình đã chùng xuống rồi. Ba mươi mấy năm tôi mới viết, thì sự hận thù ra ngòi bút, ra trong tư tưởng không còn nữa. Nó đã bình tâm rồi. Mình muốn mình là người Việt Nam yêu nước, mình muốn mình là nhân chứng thật sự giữa hai chế độ miền Bắc và miền Nam. Và nhân chứng đó chỉ đưa ra hình ảnh thôi, không phê phán, không chửi rủa, không đả đảo, không hận thù.”
Điều ông mong muốn, với vai trò là một nhân chứng kể lại một khúc quanh của lịch sử, người đọc, và thế hệ sau sẽ tự biết cái nào đúng, cái nào sai, cái nào cần thiết cho giống nòi Việt Nam.
Khi chương cuối cùng của hồi ký “Vượt tù, vượt biển” khép lại, người đọc vẫn còn thấy đâu đó buổi sáng hỗn loạn của ngày 30 tháng 4 lịch sử. Với nhiều người khác, biến cố ấy không chỉ dẫn đến một cuộc vượt tù cải tạo và hai chuyến vượt biển của Huỳnh Công Ánh, mà còn dẫn đến một câu chuyện dài chưa có hồi kết của đất nước, dù đã bước sang năm thứ 42.
Ngày 25/4 cách đây 18 năm, hơn 10.000 người đã tập trung tại Trung Nam Hải để thỉnh nguyện chính quyền Trung Quốc cho phép họ tự do tập luyện Pháp Luân Công và không cấm đoán môn tu luyện này. Những con người này không biết rằng, họ đang từng bước tiến vào một cái bẫy lớn được giương ra chờ sẵn, và những điều khủng khiếp sắp ập lên đầu họ, thay đổi toàn bộ số phận và cuộc đời của họ. Nhưng chính những người đóng vai phản diện trong sự kiện bức hại người tập Pháp Luân Công này, rất nhiều trong số họ cũng có những kết cục bi thảm không kém người bị hại…
Gài bẫy người tập Pháp Luân Công
Pháp Luân Công hay còn gọi là Pháp Luân Đại Pháp, là một môn tập luyện tinh thần cổ xưa của Trung Quốc được ông Lý Hồng Chí truyền ra rộng rãi trong công chúng từ năm 1992. Đặc điểm của môn tập luyện này bao gồm phần luyện thân thể với 5 bài tập nhẹ nhàng và phần tu tâm tính theo nguyên lý “Chân – Thiện – Nhẫn”. Vì trong một thời gian ngắn mà số lượng người theo tập quá đông (theo thống kê của chính quyền Trung Quốc là hơn 70 triệu người vào thời điểm năm 1999), nhiều hơn số đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), nên lãnh đạo Trung Quốc lúc bấy giờ là ông Giang Trạch Dân lo sợ và quyết định “tiêu diệt” Pháp Luân Công. Tuy nhiên, vì không tìm được lý do gì để tiến hành cuộc đàn áp, một cái bẫy được giương ra sẵn và tấm thảm kịch bắt đầu từ ngày 25/4/1999, cách đây 18 năm…
Sáng ngày 25/4, hơn 10.000 người tập Pháp Luân Công từ khắp nơi đổ về trung tâm thành phố Bắc Kinh, hoàn toàn không có tổ chức, khẩu hiệu hay biểu ngữ. (Ảnh: Minh Huệ)
Cựu Ủy viên Bộ Chính trị La Cán vì muốn lập công với ông Giang Trạch Dân, nên trở thành người tiên phong trong việc tiến hành gài bẫy người tập Pháp Luân Công, từ đó lấy lý do để triển khai cuộc đàn áp. Ông này và thân thuộc Hà Tộ Hưu tiến hành một vài hành động để kích động người tập Pháp Luân Công như: viết bài bôi nhọ đăng trên tạp chí của Học viện Giáo dục Thiên Tân, bắt 45 người đi phản ánh sự việc và đánh trọng thương nhiều người khác. Khi người dân yêu cầu thả người thì công an Thiên Tân đã gợi ý cho họ đến Bắc Kinh thỉnh nguyện và nhấn mạnh chỉ có Bắc Kinh mới giải quyết được việc này.
Sáng ngày 25/4, hơn 10.000 người tập Pháp Luân Công từ khắp nơi đổ về trung tâm thành phố Bắc Kinh. Lúc đầu lực lượng cảnh sát kéo về Thiên An Môn dự tính ngăn cản, nhưng sau đó cảnh sát lại dẫn đường cho họ tiến vào Trung Nam Hải, cuối cùng hình thành nên điều mà chính quyền mô tả là “cuộc tổng tấn công Trung Nam Hải”.
Tuy nhiên, theo các tư liệu và nhân chứng có mặt tại hiện trường vào ngày hôm đó, thì những người tham gia kháng nghị là tự phát đến Bắc Kinh, hoàn toàn không có tổ chức, khẩu hiệu hay biểu ngữ. Họ theo hướng dẫn của cảnh sát đứng yên, trật tự vòng quanh hai bên cổng chính của Trung Nam Hải.
Khoảng 8h sáng, Thủ tướng Chu Dung Cơ đã dẫn 3 người đi kháng nghị vào trong nói chuyện, từ đó phát hiện ra rằng vấn đề ở Thiên Tân đã có chỉ thị xử lý nhưng ông La Cán đã ém đi. Thủ tướng Chu Dung Cơ sau khi hiểu rõ tình hình đã để cho Cục Xử lý Khiếu nại nói chuyện với họ. Hơn 8h tối, hội đàm kết thúc, sau khi biết những người tập Pháp Luân Công ở Thiên Tân đã được thả, đám đông cũng nhanh chóng giải tán và hiện trường rất sạch sẽ.
Tuy nhiên, sự kiện ngày 25/4/1999 đã trở thành cái cớ cho ông Giang Trạch Dân và phe cánh tiến hành cuộc đàn áp Pháp Luân Công. Ông Giang đã đề ra chiến lược “bôi nhọ thanh danh, vắt kiệt tài chính và hủy hoại thân thể” nhằm “tiêu diệt” môn tu luyện này trong vòng 3 tháng. Rất nhiều sách của Pháp Luân Công đã bị tiêu hủy, thông tin về Pháp Luân Công cũng bị phong tỏa, các kênh truyền thông của nhà nước liên tục phát các chương trình bôi nhọ và vu khống Pháp Luân Công, những người theo tập luyện môn tu luyện này bị tịch thu tài sản, đuổi việc và sách nhiễu. Nếu không chịu từ bỏ đức tin của mình, họ thậm chí bị bắt, tra tấn và giết hại…
Sau sự kiện ngày 25/4, dưới sự ủng hộ của ông Giang Trạch Dân, ông La Cán đã trở thành Ủy viên Thường trực Bộ Chính trị Trung Quốc.
Pháp Luân Công vẫn kiên định sau 18 năm
Một bản báo cáo dài 22 trang của tổ chức Freedom House nhận định: Trong khi ĐCSTQ đổ ra hàng trăm triệu đô la Mỹ mỗi năm để tiêu diệt Pháp Luân Công, những người tập Pháp Luân Công chỉ sử dụng các biện pháp ôn hòa và bất bạo động để đối đãi với cuộc đàn áp này. Họ chủ yếu tập trung vào việc nỗ lực nói rõ sự thật về cuộc bức hại nhân quyền với cảnh sát, công chúng và các quan chức ĐCSTQ.
Cảnh sát bắt giữ những người tập Pháp Luân Công nói rõ sự thật tại quảng trường Thiên An Môn. (Ảnh: Minh Huệ)
Tổ chức nhân quyền này nhận định Pháp Luân Công vẫn còn là một chủ đề cấm kỵ ở Trung Quốc Đại Lục, và nhiều người Trung Quốc vẫn tin vào sự tuyên truyền phỉ báng người tập luyện Pháp Luân Công của ĐCSTQ. Tuy nhiên, môn tập luyện này đã được phổ biến rộng rãi đến hơn 100 quốc gia trên thế giới.
Một luật sư người Trung Quốc của tổ chức Freedom House cho biết “Lệnh bắt người vẫn còn tiếp tục được đưa xuống từ những quan chức cấp cao, nhưng trong một số trường hợp, Văn phòng Công an sẽ nói ‘Không, họ chỉ là những người tập luyện để có sức khỏe thôi’”.
Freedom House kết luận: Vào năm 1999, cả trong ngoài nước Trung Quốc, rất ít người dám tin rằng vẫn còn hàng triệu người đang tập luyện Pháp Luân Công bất chấp bị đàn áp trên quy mô lớn.
Ngoài ra, tổ chức này còn cho biết: “Các bằng chứng hiện hữu cho thấy việc mổ cướp nội tạng từ tù nhân Pháp Luân Công để kinh doanh cấy ghép đã diễn ra trên một diện rộng và có thể vẫn đang tiếp diễn.”
Trong khi vẫn chưa rõ chính xác có bao nhiêu người tập Pháp Luân Công bị giết để lấy nội tạng, nhưng báo cáo ước lượng rằng có từ 60.000 đến 100.000 ca cấy ghép được thực hiện mỗi năm. Vì sự kém hiệu quả của hệ thống cấy ghép tạng tại Trung Quốc, các nhà điều tra tin rằng trong hầu hết trường hợp, một nội tạng được cấy ghép đồng nghĩa với một nạn nhân đã bị giết.
Kết cục bi thảm của những người tham gia bức hại Pháp Luân Công
Theo trang Minh Huệ (minghui.org) của Pháp Luân Công thu thập và thống kê 18 năm qua một danh sách bao gồm nhiều người bức hại Pháp Luân Công với thân phận và chức vụ không giống nhau, từ Thường uỷ viên Bộ Chính trị ĐCSTQ, Phó Chủ tịch Ủy ban Quân sự, Chủ nhiệm Phòng 610 (cơ quan chuyên trách đàn áp Pháp Luân Công), Phó viện trưởng toà án tối cao, cựu Trưởng đặc khu Hồng Kông, cho đến bình luận viên truyền hình, phóng viên báo chí, nhân viên đồn cảnh sát và cả những chính khách Tây phương gốc Hoa di dân ra nước ngoài, v.v… Trong số họ có những người do tham ô hủ bại mà bị kết án, có người vì đau khổ thành bệnh mà tử vong, có người bị tai nạn xe, có người đột tử, lại cũng có trường hợp cả người thân cũng qua đời, vợ con ly tán, còn có một số gia đình tham nhũng cũng bị bắt giữ…
1. Hệ thống công an kiểm sát và tư pháp
Trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công, hệ thống công an, viện kiểm sát và tòa án góp phần tiến hành các thủ đoạn bắt và giam giữ trái phép, xét xử, kết án, tra tấn và ngược đãi khiến nhiều người bị thương tật, thậm chí tử vong.
Thẩm phán xét xử trái phép người tập Pháp Luân Công bị chết vì ung thư phổi
Ngày 12/11/1999, phiên tòa xét xử “Pháp Luân Công” lần đầu tiên mở tại Hải Khẩu, Thẩm phán trưởng Trần Viên Triêu phán quyết bốn người tập Pháp Luân Công bị giam giữ từ 2 đến 12 năm tù giam. Do nhận được sự ủng hộ từ phía Ủy ban Chính trị và Pháp luật Trung ương và Tòa án tối cao mà Tòa án trung cấp Hải Khẩu được xếp hạng khen thưởng tập thể hạng hai, Trần Viên Triêu được xếp hạng khen thưởng cá nhân hạng hai.
Hai năm sau, Trần Viên Triêu đi xét nghiệm và ngày 18/3/2002 được xác nhận bị mắc bệnh ung thư phổi.
Trong lúc Trần Viên Triêu bị bệnh nằm liệt giường, La Cán chỉ thị cần đẩy mạnh tuyên dương thẩm phán Trần về “thành tích” xét xử “Pháp Luân Công” lần đầu, tại Hải Khẩu còn cử hành báo cáo về Trần Viên Triêu. Trần Viên Triêu được trao giải “Thẩm phán gương mẫu toàn quốc”, danh hiệu “Đảng viên Đảng Cộng sản gương mẫu”, còn được khen thưởng xếp hạng cá nhân “thứ hạng nhất”. Ngày 2/9/2003, Trần Viên Triêu qua đời khi mới 52 tuổi.
Ba thẩm phán ở Thẩm Dương bị mắc bệnh não mà chết
Trương Văn, Phó Viện trưởng kiêm Ủy viên Ủy ban Tư pháp Tòa án khu Thẩm Bắc, Thẩm Dương, Liêu Ninh, giữa tháng 2/2009 đột nhiên mắc bệnh lạ về não, tử vong trên đường tới Bắc Kinh chữa trị. Trước đó, Trương Văn vừa mới tham gia phán xét phi pháp 4 người tập Pháp Luân Công (bao gồm: Vương Tố Mai bị kết án 10 năm tù, Hề Thường Hải 11 năm tù, Tôn Ngọc Thư 8 năm tù, Hoắc Đức Phúc 6 năm tù).
Ngạc An Phúc, Thẩm phán tòa án tân khu Thẩm Bắc, thành phố Thẩm Dương, năm 2001 đã bí mật kết án oan 5 người tập Pháp Luân Công từ 3 đến 8 năm tù giam. Ngày 18/2/2011, Ngạc An Phúc đột nhiên bị xuất huyết não, 2 ngày sau thì tử vong khi mới được 45 tuổi. Theo Minh Huệ, trước lúc lâm chung, Ngạc An Phúc không ngừng nói với các thành viên trong gia đình muốn sám hối: “Hãy mau tìm cho tôi người nào luyện Pháp Luân Công! Mau đi tìm người luyện Pháp Luân Công đi!”
Liễu Diệp, nguyên là Phó viện trưởng Tòa án tân khu Thẩm Bắc, tỉnh Liêu Ninh. Ngày 10/7/2014, khi Liễu Diệp ra ngoài xử lý công việc với các đồng nghiệp thì bỗng nhiên cảm thấy không ổn, xuất huyết não và tử vong khi mới 56 tuổi.
Vị thẩm phán “gắn bó đến cùng với đảng” đi câu cá bị chết đuối
Uông Cánh Nghiệp là Thẩm phán trưởng Tòa án Hạc Thành, thành phố Hoài Hóa, tỉnh Hồ Nam. Ngày 21/7/2013, ông này đi câu cá ở một làng ven sông ở Hoài Hóa, khi cá cắn câu, ông ta ra sức kéo mạnh cần câu, nhưng ngược lại đã bị con “cá cắn câu” lôi ngã xuống dòng sông chỉ sâu 2 mét rồi chết đuối, khi đó Uông Cánh Nghiệp mới 48 tuổi. Trước đây, Uông Cánh Nghiệp từng kết án oan ít nhất là 17 người tập Pháp Luân Công, trong đó có ông Phan Kiến Quân bị kết án oan 7 năm tù giam, đến ngày 23/1/2004 thì ông Phan đã bị tra tấn nhục hình đến chết trong tù. Uông Cánh Nghiệp từng phát biểu: “Tôi muốn cùng đảng cộng sản đấu tranh đến cùng.”
“Vệ sỹ nhân dân” gặp tai nạn xe tử vong ly kỳ
Ngày 14/4/2004, bà Nhâm Trường Hà, Cục trưởng Cục công an thị xã Đăng Phong, tỉnh Hà Nam, trên đường cao tốc từ Trịnh Châu về Đăng Phong đã bị tai nạn chết. Nguyên nhân là chiếc xe hơi chở bà Nhâm Trường Hà đã bị một chiếc xe ô tô tải đi cùng chiều đâm vào đuôi xe. Nhưng, điều kỳ lạ là toàn bộ những người ngồi trong xe đều “bình an vô sự”, duy chỉ có bà Nhâm Trường Hà, ngồi ở vị trí an toàn nhất thì bị chết tại chỗ. Năm đó, bà Hà 40 tuổi.
Theo thông tin đăng tải trên trang Minh Huệ, từ sau khi bà Nhâm Trường Hà nhậm chức Cục trưởng Cục Công an thị xã Đăng Phong vào tháng 4/2001 đã tích cực tham gia bắt giữ, chèn ép dân chúng có khiếu nại kêu oan và bắt giữ rất nhiều người tập Pháp Luân Công. Từng có 4 người tập Pháp Luân Công bởi vì đứng trước trụ sở thị xã Đăng Phong phân phát tài liệu nói rõ sự thật về cuộc bức hại mà bị bắt giữ. Bà Nhâm Trường Hà sau khi biết sự việc đã nói: “Pháp Luân Công thật quá to gan, dám đến cả trụ sở chính quyền phát truyền đơn. Không trị không được.” Kết quả là 4 người tập Pháp Luân Công này đã bị bắt giữ và bị tống giam phi pháp vào nhà tù nữ Tân Hương.
Sau khi bà Nhâm Trường Hà chết, có không ít cảnh sát thị trấn Đăng Phong bàn luận rằng, bà Nhâm Trường Hà là bởi vì ra sức bức hại Pháp Luân Công mà gặp phải báo ứng. Em gái của bà Nhâm Trường Hà cũng nói với mọi người: “Trước đây tôi không tin câu ‘Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo’ mà Pháp Luân Công nói. Nhưng bây giờ tôi tin đó là thật!”
Ngày 29/10/2008, sau khi bà Nhâm Trường Hà chết bốn năm thì chồng của bà là ông Vệ Xuân Hiểu cũng đột nhiên chết vì chảy máu não. Lúc đó, ông Vệ Xuân Hiểu 45 tuổi, để lại một người con.
2. Hệ thống văn hoá tuyên truyền
Các kênh truyền thông tâm điểm của ĐCSTQ đã phát đi một lượng lớn nội dung dối trá, vu khống người sáng lập Pháp Luân Công, bôi nhọ Pháp Luân Công, kích động thù hận gây ảnh hưởng rất xấu tại Đại Lục và hải ngoại, khiến đông đảo quần chúng nhân dân hiểu lầm Pháp Luân Công, thù hận người tu Pháp Luân Công, tăng thêm sự tàn khốc của cuộc bức hại.
La Kinh, phát thanh viên đài truyền hình
La Kinh là người dẫn chương trình Phát sóng tin tức của Đài truyền hình Trung ương, đã phát sóng rất nhiều nội dung vu khống, công kích Pháp Luân Công. Năm 2008, La Kinh bị phát hiện ung thư tuyến bạch huyết, lưỡi thối rữa, không thể nói được, ngay cả uống nước cũng đau đớn khó chịu đựng. Cuối cùng mỗi lần trước khi ăn cơm, uống thuốc đều phải dùng thuốc tê súc miệng trước. Ngày 5/6/2009, La Kinh chết tại bệnh viện Ung bướu Bắc Kinh, thọ 48 tuổi.
Trần Manh, đạo diễn chuyên mục “Phỏng vấn tiêu điểm”
Chuyên mục “Phỏng vấn tiêu điểm” của Đài truyền hình Trung ương đã chế tác một lượng lớn những tiết mục chuyên đề nhằm hãm hại và vu khống Pháp Luân Công, trong đó có “Vụ tự thiêu tại Thiên An Môn”. Bộ phim này đã bôi nhọ hãm hại Pháp Luân Công, lừa gạt và khiến đông đảo dân chúng trong và ngoài nước hiểu lầm. Trần Manh, đạo diễn chính của bộ phim này đã phát hiện bị ung thư phổi vào tháng 3/008, bị bệnh tật dày vò tới mức đau đớn sống không bằng chết và đã yêu cầu từ bỏ trị liệu. Ngày 23/12 năm đó Trần Manh tử vong, thọ 47 tuổi.
Bốn đời Cục trưởng Cục Phát thanh Truyền hình huyện Từ Lợi Hồ Nam liên tiếp tử vong
Bắt đầu từ ngày 20/7/1999, Cục trưởng Cục Phát thanh Truyền hình huyện Từ Lợi thành phố Trương Gia Giới, tỉnh Hồ nam theo chân ĐCSTQ dẫn đầu cuộc bức hại Pháp Luân Công, trong chương trình phát thanh của họ đã bôi nhọ, vu khống và dựng những tấm áp phích bôi nhọ, treo biểu ngữ tại nhiều nơi, vu khống Pháp Luân Công, lừa gạt quần chúng trên truyền hình. Bốn vị cục trưởng của cục này lần lượt mắc bệnh ung thư tử vong, trong đó người trẻ nhất mới hơn 40 tuổi, chết vào tháng 9/2010.
Giám đốc kiêm chủ biên tờ “Nhật báo Hà Nam” bị neo sắt đoạt mệnh
Dương Vĩnh Đức, cựu Giám đốc kiêm Chủ biên tờ “Nhật báo Hà Nam” đã cho đăng tải một lượng lớn những nội dung nhục mạ Pháp Luân Công trên rất nhiều tờ báo mà ông nắm giữ. Dương Vĩnh Tường còn chỉ thị cấp dưới của mình phối hợp với “Phòng 610” của thành phố Trịnh Châu bức hại người tập Pháp Luân Công tại đơn vị của mình. Ngày 9/2/2007, Dương Vĩnh Đức đang nghe điện thoại khi đi du thuyền du lịch tại Việt Nam thì đột nhiên đâm vào một tàu chở than, Dương Vĩnh Đức rơi xuống biển. Chiếc du thuyền vội vã quăng neo dừng thuyền, không ngờ chiếc neo sắt đó lại rơi đúng vào đầu Dương Vĩnh Đức, vì vậy đã khiến ông này mất mạng.
Tổng biên tập “Nhật báo Lai Tây”
Trương Thụ Kiến trong thời gian đảm nhiệm tổng biên tập của tòa báo “Nhật báo Lai Tây” của Thanh Đảo năm 2002 đã viết và đăng tải những bài viết phỉ báng Pháp Luân Công, đồng thời tham gia chuyển hoá, bức hại người tập Pháp Luân Công. Năm 2003, khi Trương Thụ Kiến cùng vợ trên đường đi xe tới Uy Hải thăm con gái thì gặp tai nạn, vợ của Trương bị ngã hôn mê bất tỉnh, bản thân Trương bị gãy xương, còn lái xe thì không hề gì. Sau này khi con gái tốt nghiệp đại học, Trương phát hiện bị ung thư gan, chưa đầy một năm sau thì qua đời.
Biên tập tờ “Vãn báo Đại Khánh” bị đột tử
Triệu Xuân Thu biên tập thời báo hoàn cầu “Vãn báo Đại Khánh”, trên trang do cô chủ biên đã đăng tải bài viết vu khống Pháp Luân Công, vì vậy rất nhiều người tập Pháp Luân Công đã nhiều lần tìm cô để nói sự thật, gửi tài liệu sự thật vào hòm thư của cô, nhưng càng khiến cô này thù hận Pháp Luân Công. Từ chiều tối đến đêm ngày 22/2/2006, trên đường về nhà sau khi hết ca đêm, Triệu Xuân Thu bị hai nhân viên làm thuê bên ngoài uy hiếp, sau khi bị đâm liên tiếp 17 nhát thì tử vong, năm đó Triệu Xuân Thu mới 27 tuổi.
Hạ Vũ Điền, Phó chủ tịch Hiệp hội Nhà hát kịch Trung Quốc ốm chết
Hạ Vũ Điền là Phó chủ tịch Hiệp Hội Nhà hát kịch Trung Quốc, Chủ tịch Hiệp hội nhà hát kịch tỉnh Hồ Bắc. Hạ Vũ Điền là thành viên Hiệp hội Phản tà giáo tỉnh Hồ Bắc, được liệt kê vào danh sách đối tượng điều tra của “Tổ chức quốc tế điều tra cuộc bức hại Pháp Luân Công”. Sau này Hạ Vũ Điền đã viết một vở kịch tên là “Khanh Nhân Ký” (Nhật ký lừa người) và hai tiết mục khác phỉ báng Pháp Luân Công. Vào đêm giao thừa năm 2002 của Trung Quốc, Hạ Vũ Điền đột nhiên bị xơ gan cổ chướng cấp tính. Sau đó ông này mắc rất nhiều chứng bệnh như hội chứng tổng hợp sơ cứng gan, bệnh thận, viêm màng bụng tự phát. Ngày 30/7/2004, Hạ Vũ Điền ốm chết năm 66 tuổi.
3. Phòng 610, chức vụ tử thần
“Phòng 610” là tổ chức phi pháp do ông Giang Trạch Dân lập ra chuyên để bức hại Pháp Luân Công, được thành lập vào ngày 10/6/1999. Theo ghi chép của Minh Huệ, quan chức hệ thống “Phòng 610” tại các nơi bị báo ứng vì bức hại Pháp Luân Công đã vượt quá 10.000 vụ.
Lưu Kinh là chủ nhiệm thứ hai của “Phòng 610” của ĐCSTQ, năm đó ông này liên tiếp đích thân tới các nơi, chỉ huy cuộc bức hại Pháp Luân Công. Mỗi nơi Lưu Kinh tới, thì cuộc bức hại tại nơi đó lại tăng cấp, những vụ án tử vong của người tập Pháp Luân Công cũng theo đó mà tăng lên. Lưu Kinh hiện nay mắc bệnh ung thư vòm họng. Lý Đông Sinh là người kế nhiệm của Lưu Kinh thì mất chức ngày 12/12/2013, bị kết án 5 năm tù. Ngoài hai trùm sỏ này, rất nhiều Chủ nhiệm “Phòng 610” tại các địa phương và những người thân thuộc đều liên tục gặp vận hạn. Một vài trường hợp có thể liệt kê như sau:
Kim Đạo Minh, Phó bí thư Ủy ban Nhân dân, Bí thư Ủy ban Hành chính Pháp Luật tỉnh Sơn Tây, Tổ trưởng “Tổ lãnh đạo Duy trì Trật tự Trị an” của tỉnh, trùm sỏ hệ thống “610” đã mất chức vào ngày 27/2/2014, ngày 14/10/2016 bị xử án tù chung thân.
Đỗ Thiện Học, Ủy viên thường vụ Ủy ban Nhân dân, Phó chủ tịch tỉnh Sơn Tây, Tổ phó “Tổ lãnh đạo Duy trì Trật tự Trị an”, Phó lãnh đạo hệ thống “Phòng 610”, ngày 19/6/2014 mất chức, ngày 20/12/2016 bị xử án tù chung thân.
Dương Xuân Duyệt, Chủ nhiệm “Phòng 610” thành phố Xích Phong, Nội Mông Cổ, chết vào tháng 3/2014 vì bệnh ung thư. Vào năm 2005, Dương Trí Huệ, con trai của Dương Xuân Duyệt lái xe đâm vào gầm xe tải, hộp sọ bị tách mở, chết thảm ngay tại chỗ, lúc đó mới chỉ 28 tuổi.
Ngô Kiến Tinh, cựu Chủ nhiệm “Phòng 610” thành phố Kim Hóa tỉnh Chiết Giang, đột nhiên nhiễm bệnh chết vào ngày 18/3/2014. Trong thời gian Ngô Kiến Tinh phụ trách “Phòng 610” đã phỉ báng Pháp Luân Đại Pháp, bức hại người tập Pháp Luân Công tại địa phương. Trước khi lâm bạo bệnh, Ngô đã rút về tuyến 2, Ngô vốn định sống những ngày tháng thanh nhàn cuối đời.
Lô Hạc Minh, Phó Bí thư Văn phòng Ủy ban thành phố Hán Trung, tỉnh Thiểm Tây, Chủ nhiệm “Phòng 610” thành phố Hán Trung, ngày 23/3/2013 khi cùng gia đình đi xe ra ngoài, chiếc xe của Lô đã bị hai chiếc xe tải lớn kẹp vào giữa đâm biến dạng, bản thân Lô, con gái, thư ký và lái xe chết ngay tại hiện trường.
Lý Gia Minh, Chủ nhiệm “Phòng 610” thành phố Tề Tề Cáp Nhĩ tỉnh Hắc Long Giang, ngày 07/7/2012 trên đường đi siêu thị cùng với vợ thì đột nhiên bị tắc nghẽn mạch máu cơ tim và tử vong, thọ 49 tuổi.
Vương Quảng Bình, Đội phó Chi đội Bảo an Cục Công an thành phố Quảng Châu, từ năm 2001 đến năm 2006, đảm nhận chức vụ Phó chủ nhiệm “Phòng 610” thành phố Quảng Châu. Số người tập Pháp Luân Công do đích thân Vương Quảng Bình bức hại phi pháp gồm 395 người, 16 người bị xét xử phi pháp, đưa 3.310 lượt người vào lớp tẩy não. Ngày 10/6/2010, Vương Quảng Bình đột tử chết ngay tại văn phòng, thọ 54 tuổi.
4. Ba trường hợp có kết cục ly kỳ
Hà Tuyết Kiện, cảnh sát đồn công an phường Đông Thành, thành phố Trác Châu, tỉnh Hà Bắc, tháng 11/2005 đã cưỡng hiếp 2 nữ học viên Pháp Luân Công. Hà Tuyết Kiện bị xét xử 8 năm, sau đó ông ta mắc bệnh ung thư dương vật, dương vật và tinh hoàn đều bị cắt bỏ toàn bộ. Hà Tuyết Kiện 3 lần tự sát không thành, sống không bằng chết.
Quách Tòng Quý là người đường Bắc Quan, thành phố Vũ An, tỉnh Hà Bắc, cựu nhân viên văn phòng đường Bắc Quan. Quách Tòng Mẫn từng cố ý nhục mạ người sáng lập Pháp Luân Công, cười nhạo người tập Pháp Luân Công. Ngay trong tháng đó, Quách đột nhiên bị tràn máu não phải đưa tới bệnh viện Bắc Kinh điều trị. Năm 2005, khi Quách đang trả lại nông cụ thì bị một con chó Tây Tạng lớn của nhà hàng xóm xô ngã, miệng ông ta bị cắt nát. Năm 2011 Quách Tòng Quý tử vong vì bị mắc ung thư, thọ 63 tuổi.
Trương Đồng Hưng, giáo sư mỹ thuật Trường Trung học 68 tại thôn Quan Lập, khu Gia Đồn, thành phố Thẩm Dương, tỉnh Liêu Ninh, đã từng tổ chức cho học sinh ký tên vào tài liệu phỉ báng Pháp Luân Công, đồng thời đích thân ông đã vẽ tranh châm biếm, đả kích người sáng lập Pháp Luân Công. Ngày 11/8/2003, khi Trương Đồng Hưng đang câu cá tại đầm cá thôn Quan Lập thì trời đổ mưa như trút nước, ông ta đang tránh mưa dưới gốc cây, thì đột nhiên một tiếng sấm sét rền vang, cùng lúc đó Trương ngã sụp xuống đất chết ngay tại chỗ. Trên đầu ông ta thủng một lỗ lớn, trước ngực, tóc cháy xém, chết rất thê thảm.