Công ích (common good) được thực hiện thế nào?-Cha Vương

Trời Houston hôm nay gió lớn và lạnh quá! Chúc ban và gia đình tràn đầy Thần Khí và hơi ấm của Chúa. Mời bạn trở lại học hỏi và suy niệm những bài giáo lý căn bản nhé. Bảo trọng!

Cha Vương

Thứ 3: 7/1/2025

GIÁO LÝ: Công ích (common good) được thực hiện thế nào? Công ích được thực hiện khi những quyền lợi nền tảng của con người được tôn trọng, và khi con người được tự do phát triển về trí thức và tôn giáo của mình. Công ích đòi hỏi rằng con người có thể sống trong tự do, hòa bình, yên ổn. Trong thời kỳ toàn cầu hóa ngày nay, công ích phải bao trùm ra cả thế giới để bảo vệ các quyền lợi và bổn phận của cả nhân loại. (YouCat, số 327)

SUY NIỆM: Công ích được tôn trọng khi người ta đặt trọng tâm vào việc lo điều tốt cho mỗi cá nhân và cho những đơn vị nhỏ nhất trong xã hội (chẳng hạn gia đình). Cá nhân hay gia đình đều cần được nâng đỡ và bảo vệ bởi những thể chế chính trị. (YouCat, số 327 t.t.)

❦ Phải lo công bằng và nhân đạo cho tất cả mọi người. (Công đồng Vatican II, Phẩm giá con người.)

❦ Sự thiếu vắng cảm thức về công ích là dấu chỉ chắc chắn về sự xuống cấp của xã hội. Cảm thức cộng đồng bị xói mòn sẽ dẫn đến các dạng suy thoái về công ích, từ đó có thể dẫn tới các hệ lụy khác.

LẮNG NGHE: Anh em sẽ được sung túc mọi bề để làm mọi việc thiện cách rộng rãi. Những việc chúng ta làm sẽ khiến người ta dâng lời cảm tạ Thiên Chúa. Thật thế, việc phục vụ cho công ích này không những đáp ứng nhu cầu của của các người trong dân thánh, mà hơn thế nữa, còn là nguồn phát sinh bao lời cảm tạ dâng lên Thiên Chúa. (2 Cr 9:11-12)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, nhân loại đang có chiều hướng thiên về vật chất. Họ tin rằng không có gì tồn tại ngoại trừ vật chất và các chuyển động cũng như sự biến đổi của nó. Họ tìm đủ mọi mánh khóe trà đạp lên nhau để sống. Xin giúp con biết gạt bỏ những toan tính riêng tư ích kỷ đang làm tổn thương đến gia đình nhân loại của Chúa.

THỰC HÀNH: Làm một việc bác ái.

From: Do Dzung

*********************************

Yêu Cho Đến Cùng- Mai Thiên Vân 

CHÚA ĐẾN GẶP BẠN NGAY TRONG TÂM HỒN GIỮA NHỮNG YẾU ĐUỐI – Tứ Quyết SJ

 Tứ Quyết SJ

Chúa dạy chúng ta xây nhà trên đá.  Lời dạy vững chắc ấy dẫn đến nơi nền đất chắc chắn, dù không thấm nước, đôi khi rẽ quanh co ngang dọc, theo những con đường hẹp, để tránh những đầm lầy hoặc những khu rừng ẩn chứa nhiều nguy hiểm.  Ai được hướng dẫn như thế, có thể có cảm tưởng rằng, mình đang đi mà không có mục tiêu rõ ràng, và có thể bị mất niềm tin vào người đang chỉ đường cho mình.  Khi điều ấy xảy ra, là người đi đường, bạn phải mở rộng tâm hồn và giãi bày những gì đang làm bạn lo lắng.  Vì thế bạn sẽ được giúp đỡ để hiểu rằng, điều mà đối với bạn dường như là một cuộc lang thang vô ích, thì thực ra không gì khác là chính sự yếu đuối và bước đi không không chắc chắn của bạn.

Vì vậy, để tránh ảo tưởng và không để bị mình bị cuốn theo, khi mà bạn ít mong đợi nhất, bởi những chuyển động nội tâm làm mê hoặc những ai không có kinh nghiệm trong những điều thiêng liêng, thì điều cần thiết là hãy sửa soạn tâm hồn cho thời điểm mà Thiên Chúa ghé thăm bạn.

Có những người nhận được ơn đặc biệt của Chúa một cách chắc chắn đến độ không thể nghi ngờ.  Có những người khác (phần đông là như thế) nhận biết danh Chúa ngang qua sự giáo dục mà họ thụ hưởng: họ phải học hành và trải nghiệm và nhận biết chân lý khi họ được dạy dỗ.  Có những người khác, như thánh Tông Đồ Phaolô nói trong thư gửi tín hữu Roma (Rm 1:18-21) có thể bị mê hoặc bởi sự hoàn hảo của các tạo vật.

Thế nhưng, có một nơi mà Chúa làm cho ta cảm thấy gần gũi với những tâm hồn cao cả, đó là chiều sâu của trái tim và những khát khao cư ngụ nơi đó.  Đó là khát khao về sức sống tràn đầy và một vùng đất mà ở nơi đó sống tự do và an toàn, đó là khát vọng đánh thức mọi tạo vật trên thế giới, đó là nơi chắc chắn mà Thiên Chúa tỏ lộ chính Ngài…

Bạn có thể hiểu điều này khi đọc câu chuyện về tổ phụ Abraham: tiếng nói của Chúa thúc giục ông từ bỏ mọi thứ để bắt đầu theo một hành trình vô định: ông đi mà không biết mình đi đâu, nhưng ông có lời hứa của Chúa (Ta sẽ chỉ cho ngươi).  Những lời vang vọng trong trái tim ấy lại chẳng phải là tiếng vọng của niềm khao khát về cuộc sống trọn vẹn, về vùng đất mà với ông, chính là nhà hay sao?

Tôi cũng muốn chỉ cho bạn một nơi khác mà Chúa đến gặp chúng ta.  Đó là sự yếu đuối.  Bạn cũng thế, cũng giống như bao người khác, bị đe dọa bởi sự mong manh dễ vỡ.  Bất cứ khi nào nó xuất hiện, bạn không chịu nổi và tìm cách che giấu nó.  Thực tế, bạn cảm thấy yếu đuối, bất lực, và bị đe dọa.  Như thế, nếu từ sâu thẳm tâm hồn mình, bạn có khả năng chấp nhận rằng, tôi yếu đuối, mong manh, không thể mình tự cứu mình, thì khi đó, bạn có thể cảm nhận được sự hiện diện tốt lành của Thiên Chúa, vì Ngài là người Cha đích thực, nâng đỡ bạn và an ủi bạn.

Hãy xem cách Thiên Chúa đối xử với tổ phụ Abraham, như đối xử với một người bạn.  Tổ phụ đã nhận được lời Thiên Chúa hứa, và Chúa đã thực hiện lời Ngài hứa.  Chắc chắn không phải vì mưu trí hay vì các cách thức nỗ lực, mà tổ phụ Abraham trở thành bạn của Chúa, mà vì tổ phụ đã học tin tưởng Thiên Chúa, để chiến thắng những lo lắng của bản thân.  Tổ phụ biết Chúa khi một cách rõ ràng, điều mà ông khao khát, đã đến với ông như một quà tặng.  Vì thế, hãy để cho Chúa, ngang qua cuộc sống, dẫn dắt bạn đến sự nhận biết hoàn hảo về sự không thể của bạn, về sự bất lực của bạn: khi bạn ở đáy vực thẳm, ngước mắt nhìn lên, bạn sẽ được hưởng niềm vui từ sự cao cả vô hạn của Thiên Chúa là Cha chúng ta.

Vì thế, đừng hình dung những điều vĩ đại, chẳng hạn những điều đôi khi được kể về một số vị thánh đã có những cuộc hoán cải to lớn hoặc đã phải đối mặt với những hoàn cảnh đặc biệt, để thay đổi cuộc sống của các vị một cách hoàn toàn và ngay lập tức.  Thay vào đó, hãy suy xét về cái nghèo là tình trạng chung của hầu hết mọi người.

Chúng ta càng yếu đuối, thì càng có xu hướng che giấu sự yếu đuối mong manh của mình.  Và với thói quen, chúng ta sẽ dần dần tự thuyết phục và tin rằng, chúng ta thực sự như chúng ta tưởng tượng hoặc như chúng ta muốn.  Vì thế, nếu chúng ta yếu đuối, chúng ta cố gắng che giấu bằng cách tỏ ra mạnh mẽ.  Chúng ta giống như con vật nhỏ bé, cố gắng xù lông để có vẻ lớn hơn và cố gắng tỏ ra nguy hiểm hơn để đe dọa đối thủ, nhưng sự thường là vô ích…

Tứ Quyết SJ – Chuyển ngữ từ tiếng Ý

Cuốn sách: Maestro di San Bartolo, Abbi a cuore il Signore, Introduzione di Daniele Libanori, (San Paolo 2020).


 

 BẰNG TẤT CẢ TÌNH YÊU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thiên Chúa là tình yêu!”.

“Bi kịch của một cuộc đời không phải là nó kết thúc quá sớm, mà là chúng ta chờ đợi quá lâu để bắt đầu nó!” – Richard L. Evans.

Kính thưa Anh Chị em,

Khác với những gì Evans cảnh báo; từ đời đời, Thiên Chúa đã bắt đầu ‘cuộc đời’ của Ngài – Ngài bắt đầu ‘bằng tất cả tình yêu’, vì “Thiên Chúa là tình yêu!”.

Gioan diễn tả ngắn gọn ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Giáng Sinh, “Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống!” – bài đọc một. Bởi lẽ, sự hiện diện của Ngôi Hai ở giữa loài người là một hiện diện trao ban sự sống ‘bằng tất cả tình yêu’. Tin Mừng hôm nay minh hoạ sự hiện diện yêu thương này.

“Thiên Chúa là tình yêu” – một định nghĩa đơn giản sâu sắc nhất về Thiên Chúa trong toàn bộ Thánh Kinh. Mọi định nghĩa khác có thể nói về Ngài – dẫu mỹ miều nhất – vẫn chỉ là một bình luận về định nghĩa gãy gọn ấy. ‘Bằng tất cả tình yêu’, Thiên Chúa tặng ban Con Một; không phải một lần, nhưng mỗi ngày để bất cứ ai cũng có thể hưởng nếm trước sự sống thần linh vĩnh cửu ‘ở đây và lúc này’; mọi nơi, mọi lúc, qua Bí tích Thánh Thể.

Thật thú vị, Tin Mừng hôm nay như đang ‘tường thuật trực tuyến’ một ‘Thánh Lễ’ mang tính tiên tri, báo trước cho hàng vạn Thánh Lễ mỗi ngày khắp hoàn vũ. Marcô tường thuật ‘Thánh Lễ’ được dâng cạnh một bờ hồ khi ‘Chủ Tế’ vừa ra khỏi thuyền với hơn 5.000 người tham dự. Đây là ‘sự kiện’ duy nhất được cả 4 Tin Mừng nói đến. ‘Rất nghi lễ’, ‘Chủ Tế’ cầm lấy bánh, ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ và môn đệ cho dân chúng ‘rước lễ’. Toàn bộ trình thuật có một âm bội mạnh mẽ về Bí tích Thánh Thể. Sau khi giảng dạy – được coi như phụng vụ Lời Chúa – ‘Chủ sự’ ‘cử hành’ phụng vụ Thánh Thể; sau đó, là phần ‘hiệp lễ’.

Chúa Giêsu không tự mình trực tiếp trao ‘của ăn’ cho dân, Ngài ủy nó cho các cộng sự; và đó là cách thức Ngài bước vào cuộc sống của con người. Chỉ Giáo Hội mới có đặc quyền trao ban Thánh Thể! Tình yêu của Chúa Giêsu thể hiện qua việc Giáo Hội nhận lãnh chính Thịt Máu Ngài, sau đó, đem cho những người khác. Nếu những gì Giáo Hội nhận lãnh chỉ để được giấu kín, cất kỹ, thì Bí tích Thánh Thể trở thành một dấu chỉ của hư không; nó đã giảm thiểu đến mức chỉ còn là một nghi lễ trừu tượng.

Anh Chị em,

“Thiên Chúa là tình yêu!”. Ở đâu có Chúa Giêsu, ở đó tràn đầy niềm vui, tình yêu và sự sống. Ngày nay, Chúa Giêsu không chỉ làm phép lạ một lần cho 5.000 người no thoả, nhưng mỗi giây phút, phép lạ vẫn được thực hiện từ tay các linh mục của Ngài cạnh các bàn thờ. Như thế, qua Giáo Hội, chúng ta đang chứng kiến những gì Chúa Giêsu làm để nuôi sống nhân loại ‘bằng tất cả tình yêu’. Được sự sống thần linh nuôi dưỡng, đến lượt chúng ta, bạn và tôi cũng là những con người “cho họ ăn”. “Hãy tiến bước với sự tự tin, vượt qua mọi thử thách, tiến lên trong tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Chúa Giêsu đã hiến mình vì người khác, do đó, trở thành tấm gương về tình yêu và sự phục vụ cho mỗi chúng ta!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để cuộc đời con trở nên bi kịch khi con chờ đợi quá lâu để bắt đầu nó. Giúp con biết cho đi ‘bằng tất cả tình yêu’ như Chúa đã cho đi!”, Amen. 

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

********************************************

Thứ Ba sau Lễ Hiển Linh

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

34 Khi ấy, Đức Giê-su thấy một đoàn người đông đảo, thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều. 35 Vì bấy giờ đã khá muộn, các môn đệ đến gần Người và thưa: “Nơi đây hoang vắng và giờ đã khá muộn. 36 Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn.” 37 Người đáp: “Chính anh em hãy cho họ ăn đi!” Các ông nói với Người: “Chúng con phải đi mua tới hai trăm quan tiền bánh mà cho họ ăn sao?” 38 Người bảo các ông: “Anh em có mấy cái bánh? Đi coi xem!”. Khi biết rồi, các ông thưa: “Có năm cái bánh và hai con cá.” 39 Người ra lệnh cho các ông bảo mọi người ngồi thành từng nhóm trên cỏ xanh. 40 Họ ngồi xuống thành từng đám, chỗ thì một trăm, chỗ thì năm mươi. 41 Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ bánh ra, trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho dân chúng. Người cũng chia hai con cá cho mọi người. 42 Ai nấy đều ăn và được no nê. 43 Người ta thu lại những mẩu bánh được mười hai thúng đầy, cùng với cá còn dư. 44 Số người ăn bánh là năm ngàn người đàn ông. 


 

Tổng Hợp Đặc Biệt của Kẻ Đi Tìm: Hồng Y McElroy được Đức Thánh Cha phong chức Tổng Giám Mục Washington DC

Báo Bưu Điện Hoa Thịnh Đốn – Washington Post

Vatican bổ nhiệm Hồng y Robert McElroy theo chủ nghĩa tự do ở San Diego làm lãnh đạo mới của DC

Hôm thứ Hai, Vatican đã bổ nhiệm một trong những giám mục cấp tiến hàng đầu tại Hoa Kỳ để điều hành tổng giáo phận nổi tiếng ở khu vực Washington, cử đến thủ đô của quốc gia này, khi chính quyền Trump thứ hai bắt đầu, một giáo sĩ nổi tiếng với cách tiếp cận mục vụ đối với người di cư và “hòa nhập triệt để” cộng đồng LGBTQ+.

Vatican names liberal San Diego Cardinal Robert McElroy as new D.C. leader

Báo Tuần Tin – Newsweek

Đức Giáo Hoàng Bổ Nhiệm Đồng Minh phái Cấp Tiến Hồng Y McElroy Làm Tổng Giám Mục Washington

Tổng giáo phận Washington đóng vai trò quan trọng trong Giáo hội Công giáo, bao gồm hơn 670.000 người Công giáo trên khắp Washington, DC và một số khu vực của Maryland .

McElroy nổi tiếng là người ủng hộ các vấn đề công lý xã hội , bao gồm cả việc bác bỏ các nỗ lực nhằm loại trừ các chính trị gia Công giáo ủng hộ quyền phá thai được lên Rước lễ. Ông cũng chỉ trích các giám mục Hoa Kỳ vì đặt trọng tâm không cân xứng vào phá thai như mối quan tâm “nổi bật” của họ trong khi hạ thấp các vấn đề xã hội quan trọng khác như phân biệt chủng tộc , nghèo đói và biến đổi khí hậu .

Quan điểm của ông phản ánh tầm nhìn rộng hơn của Giáo hoàng Francis về một nhà thờ bao trùm và gắn kết xã hội hơn.

Hãng Thông Tấn Hoa Kỳ – AP

Giáo hoàng bổ nhiệm đồng minh có cùng chí hướng là Hồng y McElroy làm Tổng giám mục Washington

Hôm thứ Hai, Đức Giáo hoàng Francis đã bổ nhiệm Hồng y Robert McElroy của San Diego làm Tổng giám mục Washington, chọn một trong những đồng minh có cùng chí hướng tiến bộ nhất để đứng đầu Giáo hội Công giáo tại thủ đô Hoa Kỳ vào đầu nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump.

Hình ảnh

Báo Chí Công Giáo Hoa Kỳ nói về Hồng Y McElroy:

Thông Tấn Xã Công Giáo – CNA

Sinh ra tại San Francisco vào ngày 5 tháng 2 năm 1954, Giám mục McElroy lớn lên tại Quận San Mateo. Ông được thụ phong linh mục vào năm 1980 và phục vụ với tư cách là giám mục phụ tá cho Tổng giám mục San Francisco Salvatore Cordileone bắt đầu từ năm 2010.

Năm 2015, Đức Giáo hoàng Francis đã bổ nhiệm McElroy làm người lãnh đạo giáo phận San Diego. Ông được Đức Giáo hoàng Francis nâng lên hàng Hồng y trong một công nghị vào tháng 8 năm 2022, sau khi trải qua ca phẫu thuật bắc cầu động mạch vành thành công vào năm trước đó.

Trước khi vào học tại chủng viện, McElroy đã học lịch sử tại Đại học Harvard, sau đó lấy bằng thạc sĩ Lịch sử Hoa Kỳ tại Đại học Stanford.

Sau khi được thụ phong linh mục, ông cũng lấy được bằng cử nhân (tương tự như bằng thạc sĩ) về thần học và bằng tiến sĩ về thần học đạo đức và khoa học chính trị.

Ngay sau lễ nhậm chức nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng thống Trump vào năm 2017, Hồng y McElroy đã phát biểu trước một nhóm các nhóm tôn giáo rằng nếu Trump là ứng cử viên của “sự gián đoạn”, thì cần phải có sự gián đoạn tương tự để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

“Bây giờ, tất cả chúng ta phải trở thành những kẻ phá hoại,” vị giám mục nói, ám chỉ việc sử dụng vũ lực quân sự để trục xuất những người di cư không có giấy tờ và việc coi người tị nạn và người Hồi giáo là kẻ thù.

Ông cũng là tiếng nói thường trực trong cuộc tranh luận về “Hiệp thông Thánh Thể” (cho những người ủng hộ phá thai), trong đó ông thường chỉ trích những gì ông cho là, ở Hoa Kỳ, việc ưu tiên phá thai hơn các mối quan tâm xã hội khác, chẳng hạn như án tử hình và việc chăm sóc người di cư và môi trường. Trong những năm gần đây, Hồng y McElroy cũng khẳng định rằng việc từ chối trao Mình Thánh Chúa cho các chính trị gia Công giáo ủng hộ phá thai là biến Bí tích Thánh Thể thành vũ khí cho mục đích chính trị.

Đức Hồng y McElroy cũng ủng hộ phong chức cho nữ phó tế trong Giáo hội và là người ủng hộ mạnh mẽ những người Công giáo thuộc cộng đồng LGBT.

Tap chí Phía Sự Sống – LifeSite

Giám mục Strickland chỉ trích việc Đức Giáo hoàng Francis bổ nhiệm Hồng y McElroy làm Tổng giám mục DC

Giám mục Strickland đã chỉ trích Hồng y Robert McElroy của San Diego theo đường lối dị giáo, vì đã ủng hộ LGBT và là ‘kẻ làm thuê nhũng lạm’ khi Ngài  phản ứng về việc McElroy được Giáo hoàng Francis bổ nhiệm làm tổng giám mục của Washington, DC, và kêu gọi người Công giáo ‘lên tiếng chống lại những con sói trong hàng giáo phẩm này’.

Giám Mục Strickland, hiện đã về hưu, Ngài nguyên là giám mục giáo phận Tyler Texas cho đến 11-11-2023, Ngài đã từng cử hành nghi lễ tiếng La tinh (Tridentine) từ năm 2020. Ngài là người chống lại việc dùng Covid Vaccine làm từ phôi thai, … “Tôi xin tái khẳng định lời cam kết của mình, Tôi sẽ không kéo dài cuộc sống của mình bằng cách SỬ DỤNG những đứa trẻ bị giết. Đây là điều xấu xa, HÃY THỨC TỈNH!”…

Đức Giám Mục Strickland cũng mạnh mẽ phản đối các hành vi nhằm làm thay đổi Giáo Lý Công Giáo của đức Giáo Hoàng Phanxico.

Chuyện người sĩ quan VNCH và nỗi đau sau tù đày – Tư Tuấn – -Truyện ngắn

Ba’o Nguoi-Viet

January 4, 2025

Tư Tuấn

Ông Thắng từng là một sĩ quan của Quân Lực VNCH, một người đàn ông mạnh mẽ và đầy tự hào. Nhưng sau Tháng 4 năm 1975, ông trở thành tù nhân trong các trại cải tạo suốt hơn 10 năm. Những năm tháng ấy không chỉ cướp đi tuổi trẻ của ông mà còn phá nát mọi giấc mơ bình dị về một mái ấm gia đình.

Khi được trả tự do vào năm 1986, ông Thắng gầy rộc, làn da sạm đen, đôi bàn tay chai sần vì những ngày lao động khổ sai trong rừng sâu. Trên đường trở về quê ở một ngôi làng nhỏ ven biển duyên hải miền trung, ông mang trong lòng nỗi khát khao đoàn tụ với gia đình, đặc biệt là vợ ông – bà Dung – và hai đứa con mà ông chưa được nhìn thấy từ khi đi cải tạo.

Tượng người chiến sĩ VNCH tại Đài Tưởng Niệm chiến si74 Việt Mỹ tại Thành Phố Westminster, CA. (Hình: Bảo Khôi)

Nhưng khi ông bước qua cánh cổng rỉ sét của ngôi nhà mình, một cảm giác lạ lẫm tràn ngập. Mọi thứ không còn như xưa. Đứa con trai lớn bây giờ đã là một chàng trai 15 tuổi, còn cô con gái út mới 13 tuổi. Cả hai đứa nhìn ông bằng ánh mắt bối rối, xa lạ.

Vợ ông, bà Dung, cũng không chạy ra ôm chầm lấy ông như ông từng mường tượng trong suốt những năm tù đày. Thay vào đó, bà đứng khựng lại, đôi mắt tránh né, như muốn giấu điều gì.

Những ngày đầu, ông Thắng cố gắng hòa nhập lại với cuộc sống gia đình. Nhưng ông nhận ra sự lạnh nhạt trong cách cư xử của vợ mình. Bà thường lảng tránh ánh mắt của ông, và dường như có điều gì đó bà không muốn ông biết.

Rồi một ngày, trong lúc trò chuyện với hàng xóm, ông nghe những lời thì thầm đầy ác ý:

“Tội nghiệp ông Thắng, đi tù bao nhiêu năm, giờ về lại chẳng biết vợ mình làm gì suốt thời gian qua…”

“Chuyện bà Dung với thằng công an xã ai mà không biết. Nhưng mà cũng khó trách, bả phải nuôi con mà.”

Nghe đến đây, ông Thắng chết lặng. Ông không tin, nhưng lời đồn ấy cứ đeo bám trong tâm trí.

Một đêm nọ, ông quyết định hỏi thẳng bà Dung. Ban đầu bà phủ nhận, nhưng khi bị ông gặng hỏi, cuối cùng bà bật khóc và thừa nhận tất cả.

Bà Dung kể rằng, sau khi ông bị bắt đi cải tạo, bà rơi vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Không đất đai, không tài sản, bà phải bươn chải đủ nghề để nuôi con, từ đi bán rau, cấy lúa thuê cho đến rửa chén. Nhưng số tiền kiếm được chẳng thấm vào đâu, nhất là khi chính quyền địa phương thường xuyên đến nhà sách nhiễu.

Trong lúc cùng quẫn, ông Hải – một công an xã có tiếng quyền lực – ngỏ ý giúp đỡ. Ban đầu, ông ta đưa tiền, gạo và bảo bà không cần trả. Nhưng dần dần, những món quà ấy đi kèm với điều kiện.

“Nếu không có ông ta, chắc mẹ con em đã chết đói. Anh ở tù, em không biết làm gì khác,” bà Dung nói trong nước mắt.

Ông Thắng không thể tin vào tai mình. Nỗi đau từ những ngày tháng tù đày giờ đây không là gì so với cảm giác bị phản bội. Người phụ nữ mà ông yêu thương, người mà ông luôn nghĩ là chờ đợi mình, giờ đây lại có quan hệ với chính kẻ đã từng hạch sách gia đình ông.

Những ngày sau đó, ông Thắng gần như không nói chuyện với bà Dung. Đêm đêm, ông ngồi lặng lẽ ngoài hiên, nhìn lên bầu trời đầy sao, lòng ngổn ngang. Ông nghĩ về những năm tháng tù tội, về lý tưởng mà ông từng tin tưởng, và về gia đình mà giờ đây ông không biết liệu có còn thuộc về mình hay không.

Ông không thể trách con cái, vì chúng là nạn nhân vô tội. Ông cũng không hoàn toàn trách bà Dung, vì ông hiểu những gì bà phải đối mặt khi ông không ở đó. Nhưng ông không thể tha thứ cho thực tế rằng chính kẻ đàn áp ông lại là người đã bước vào gia đình ông.

Cuối cùng, ông Thắng quyết định rời đi. Ông không thể tiếp tục sống dưới một mái nhà với người vợ mà ông không còn tin tưởng, dù trong lòng vẫn yêu thương bà.

Trước khi đi, ông ôm hai đứa con vào lòng, dặn dò chúng chăm sóc mẹ và sống tử tế. “Ba không thể ở lại, nhưng ba sẽ luôn dõi theo các con,” ông nói, giọng nghẹn ngào.

Ông Thắng chọn một cuộc sống ẩn dật, làm thuê kiếm sống qua ngày. Ông vẫn viết thư về cho con, nhưng tuyệt nhiên không nhắc đến bà Dung. Trong những lá thư ấy, ông chỉ kể về cuộc sống giản dị của mình, về những bài học mà ông rút ra sau tất cả những gì đã xảy ra.

Ông mất đi gia đình, nhưng vẫn giữ lại được lòng tự trọng và tình yêu thương dành cho con cái. Một cuộc đời không trọn vẹn, nhưng vẫn ánh lên sự mạnh mẽ và lòng bao dung của một người cha, một con người vượt qua nỗi đau để tiếp tục sống.

Sau những năm tháng sống trong đau khổ và nỗi niềm bất an, ông Thắng quyết định làm hồ sơ đi định cư ở nước ngoài theo diện HO, những người có liên quan đến quân đội hoặc chính quyền VNCH trước 1975.

Trong lòng ông, dù đã bị phản bội bởi vợ, ông vẫn không thể quên được hai đứa con. Mặc dù cuộc sống gia đình đã không còn trọn vẹn như xưa, ông vẫn khao khát đưa các con ra khỏi đất nước này, tránh xa sự nghèo khó và bạo lực mà họ đang phải đối mặt.

Với ý định đưa các con đi cùng mình, ông Thắng bắt đầu chuẩn bị hồ sơ. Những bước chuẩn bị này không dễ dàng chút nào, vì trong thời gian ông đi tù, chính quyền đã thay đổi nhiều chính sách. Việc làm hồ sơ cho các con ông đi chung không chỉ liên quan đến giấy tờ của ông, mà còn cần phải có sự đồng ý của vợ ông. Ông biết đây sẽ là một thử thách lớn.

Ban đầu, bà Dung tỏ ra do dự và khó chịu khi ông Thắng đề nghị đưa các con đi. Những năm tháng sống trong cảnh khó khăn đã khiến bà trở nên hoài nghi và thiếu niềm tin vào tương lai. Cộng thêm việc bà đã về ở hẳn với ông Hải – công an xã – và đã quen với cuộc sống bớt lo âu hơn khi không còn là vợ của một sĩ quan VNCH, bà sợ rằng việc dính líu tới ông Thắng sẽ làm xáo trộn cuộc sống hiện tại.

Mọi thứ bấp bênh và mơ hồ trong mắt bà. Nhưng ông Thắng kiên quyết không từ bỏ, ông biết rằng ông phải làm điều này không chỉ vì mình mà còn vì tương lai của các con.

Dù không thể thay đổi quá khứ, ông Thắng đã hiểu rằng chỉ có một cơ hội duy nhất để thay đổi số phận của các con. Và nếu bà Dung không đồng ý, ông sẽ phải để lại chúng lại trong hoàn cảnh mà ông không muốn, một tương lai không rõ ràng, không biết sẽ ra sao.

Một buổi chiều, khi ông Thắng ngồi xuống đối diện với vợ, không phải để trách móc, mà để thuyết phục bà, ông nói: “Em biết không, anh chỉ có thể đưa các con ra ngoài nếu em đồng ý. Nếu không, tụi nó sẽ mãi sống trong cái nghèo này. Anh không thể để chúng lớn lên như thế. Anh muốn chúng có cơ hội, có tương lai.”

Bà Dung ngồi im lặng một lúc lâu, đôi mắt thăm thẳm như đang suy nghĩ điều gì. Rồi bà nhẹ nhàng thở dài, những giọt nước mắt rơi xuống má. “Em biết, nhưng em cũng lo lắng, lo rằng tụi nó và anh sẽ phải bắt đầu lại từ con số không, như anh đã làm khi ra tù. Tụi nó đã quen với cuộc sống này rồi, dù gì nó cũng an toàn hơn.”

Tuy nhiên, qua những lời nói chân thành của ông, cuối cùng bà Dung cũng đồng ý. Bà biết rằng không thể giữ các con lại một cuộc sống nghèo đói, không có tương lai, dù bản thân bà có lo sợ đến mức nào.

Ngày hôm sau, bà Dung cũng ký vào giấy tờ để ông Thắng đưa các con đi cùng. Đây là một quyết định khó khăn, nhưng bà hiểu rằng Bà không thể chỉ sống cho bản thân mình. Những đứa trẻ đáng thương kia sẽ không có tương lai nếu vẫn ở lại nơi này.

Ngày ông Thắng và các con lên Sài gòn chuẩn bị đi HO, bà Dung tiễn ông với một ánh mắt đầy cảm xúc. Dù không còn tình yêu như xưa, nhưng tình thương cho các con là điều mà cả hai vẫn cùng chung một mục tiêu.

(Hình: tác giả cung cấp)

Trước khi lên đường, ông Thắng nhìn lại ngôi nhà cũ của mình một lần nữa – bà Dung đứng nhìn từ cửa, đôi mắt đẫm lệ. Họ không nói gì, chỉ nhìn nhau, như thể đó là lời chia tay cuối cùng.

Còn ông Thắng, ông không còn nghĩ về những khổ đau đã qua, cũng không còn vướng bận với quá khứ đau buồn nữa. Ông đã có cơ hội bắt đầu lại cuộc đời, và ông sẽ làm tất cả để đem lại một tương lai tốt đẹp hơn cho các con.

Khi ông Thắng lên phi cơ, lòng nặng trĩu. Hành trình tiếp theo là một bước đi đầy hy vọng, nhưng cũng tràn ngập những câu hỏi về tương lai. Liệu cuộc sống mới có thực sự tốt đẹp như ông đã mơ ước không? Hay tất cả sẽ lại là một cuộc bắt đầu lại đầy gian nan? Nhưng ông biết rằng, không có gì quan trọng hơn việc bảo vệ và yêu thương con cái.

Sau khi ông Thắng và các con sang Mỹ, cuộc sống của họ dần ổn định. Các con của ông, dù lớn lên trong nghèo khó và thiếu thốn tình thương của người cha trong suốt những năm đầu đời, đã nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống mới. Chúng học hành chăm chỉ, tìm được công việc làm thêm, và dần dần cảm thấy mình là một phần của xã hội mới.

Cứ mỗi lần nhìn thấy con cái vui vẻ học hành và có những bước tiến vững chắc, ông Thắng lại cảm thấy yên tâm phần nào. Ông biết rằng quyết định của mình khi đưa các con ra đi, dù đã tốn nhiều tâm sức và lo lắng, cuối cùng đã mang lại kết quả tốt đẹp. Các con đã có những cơ hội mới mà trước đây họ không thể có được.

Nhưng dù đã bắt đầu một cuộc sống mới, trong lòng ông vẫn còn một vết thương chưa lành. Bà Dung, người vợ đã cùng ông trải qua bao thăng trầm, vẫn là một bóng mờ trong trái tim ông. Dù bà đã phản bội ông trong quá khứ, ông không thể xóa nhòa những kỷ niệm về gia đình xưa, khi cả bốn người họ còn sống trong một mái nhà, đầy ắp tiếng cười nói.

Một ngày, sau khi các con đã lớn và có công việc ổn định, chúng bày tỏ nguyện vọng muốn bảo lãnh mẹ sang Mỹ. Các con của ông, dù đã hiểu rõ về quá khứ của cha mẹ, vẫn cảm thấy mình cần phải làm điều này để gia đình được đoàn tụ.

“Ba, chúng con muốn mẹ qua đây. Mẹ cũng có quyền được sống với chúng con,” đứa con trai lớn nói, trong khi cô con gái út đồng tình. “Ba vẫn còn thương mẹ, phải không? Chúng con muốn mẹ cũng được sống ở đây với gia đình mình.”

Khi nghe những lời này, ông Thắng im lặng rất lâu. Trong lòng ông, một trận sóng ngầm lớn dâng lên. Ông không thể phủ nhận rằng ông vẫn còn tình cảm với bà Dung, người phụ nữ đã gắn bó với ông suốt bao năm tháng. Tuy nhiên, sự phản bội mà ông đã phải chịu đựng trong quá khứ, sự quay lưng của bà khi ông học tập cải tạo và sự liên kết của bà với kẻ mà ông ghét nhất – ông Hải – công an xã, vẫn là một vết thương quá sâu.

Dù con cái thuyết phục hết sức, ông Thắng vẫn không thể đồng ý với ý tưởng bảo lãnh bà Dung sang Mỹ. Ông không muốn mối quan hệ này tiếp tục ảnh hưởng đến cuộc sống của các con. Ông đã bắt đầu lại, xây dựng lại từ đầu, và ông không thể để quá khứ tiếp tục ám ảnh họ.

“Con đừng có mà làm vậy,” ông Thắng nói, giọng trầm và đầy nặng nề. “Mẹ các con đã làm những điều mà Ba không thể tha thứ. Còn thương thì có, nhưng ba không thể quên được chuyện đã qua. Các con phải hiểu rằng, dù chúng ta có sống ở đâu, gia đình cũng không thể trở lại như xưa.”

Ông nhìn vào mắt các con, cảm giác đau đớn nhưng kiên quyết. “Mẹ có thể sống ở Việt Nam, hay ở đâu đó. Các con không thể đem quá khứ trở lại, dù cho Ba vẫn yêu thương bà ấy. Những chuyện đã qua, Ba không thể chấp nhận nữa.”

Dù các con không hoàn toàn hiểu được lý do tại sao ông Thắng lại từ chối bảo lãnh bà Dung, họ vẫn tôn trọng quyết định của người cha. Những cuộc trò chuyện giữa ông và các con trở nên ít hơn, đôi khi là những cuộc đối thoại khó khăn, khi các con cảm thấy xung đột giữa tình yêu và lý trí.

Con cái của ông đã trưởng thành và đã hiểu rằng những quyết định của cha không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng chúng luôn tôn trọng cha mình. Chúng nhận thức được rằng, dù ông Thắng vẫn còn yêu thương bà Dung, nhưng quá khứ đau buồn của gia đình đã để lại vết thương không dễ lành.

Cuộc sống tiếp tục trôi đi. Các con của ông thành đạt trong công việc, họ có gia đình riêng, và ông Thắng cũng tìm được niềm vui trong những ngày tháng an bình. Nhưng mỗi khi đêm về, khi nhìn lên bầu trời đầy sao, ông vẫn nhớ về bà Dung, và cảm giác đau đớn vì quyết định mà ông đã phải đưa ra.

Ông biết rằng mình đã bảo vệ các con khỏi những điều không tốt, nhưng trái tim ông vẫn không thể quên được người vợ cũ, dù mọi thứ đã thay đổi. Ông sống tiếp, chấp nhận rằng trong cuộc sống này, không phải mọi mối quan hệ đều có thể phục hồi, nhưng ông vẫn yêu thương các con và luôn dõi theo bước đi của chúng, như một người cha đầy lòng hy sinh.

Dù ông Thắng đã kiên quyết từ chối bảo lãnh bà Dung, các con của ông, với lòng yêu thương và sự khát khao được đoàn tụ gia đình, đã lén lút làm thủ tục bảo lãnh mẹ sang Mỹ mà không thông báo cho ông. Trong lòng họ, bà Dung vẫn là mẹ, dù bà là người phản bội, họ cũng không thể nhìn mẹ mình sống một mình trong hoàn cảnh nghèo khó, đặc biệt khi bà cũng đã có những năm tháng vất vả vì gia đình.

Một ngày, bà Dung cuối cùng cũng bước chân vào nước Mỹ, được các con đón tiếp với những giọt nước mắt. Dù ông Thắng không hay biết, ông cảm nhận được sự thay đổi trong bầu không khí gia đình. Các con của ông giờ đây có thể sống một cuộc sống đầy đủ hơn, không còn phải lo lắng về tương lai, và họ có thể đoàn tụ với mẹ – người mà họ không thể bỏ rơi.

Ông Thắng, sau khi phát hiện ra việc các con bảo lãnh bà Dung sang Mỹ, cảm giác như một vết thương cũ lại bị xé ra. Ông không thể hiểu được tại sao các con lại làm điều này sau tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ. Dù cho ông có yêu thương bà Dung, nhưng quá khứ đã khiến ông không thể chấp nhận sự quay lại của bà. Ông đã từng đặt hy vọng vào những đứa con, nhưng giờ đây chúng lại làm điều mà ông không thể tha thứ.

Khi ông biết được, sự đau đớn trong lòng ông càng sâu sắc hơn. Ông cảm giác mình đã không thể làm trọn vẹn trách nhiệm với gia đình. Sau tất cả, ông đã chọn sống riêng biệt, tránh xa bà Dung và các con, để tìm lại chút bình yên trong tâm hồn.

Ông Thắng quyết định dọn ra sống một mình. Ông thuê một căn phòng nhỏ, sống một cuộc sống yên tĩnh, không còn phải bận tâm về những sự việc xảy ra trong quá khứ. Ông không còn phải đối diện với sự xung đột trong lòng mình về bà Dung và những kỷ niệm không thể quên.

Từng ngày trôi qua, ông Thắng cảm thấy mình đã hoàn thành trách nhiệm với con cái. Dù đau lòng, ông hiểu rằng mỗi người đều có con đường riêng của mình, và không thể thay đổi được quá khứ. Ông đã làm hết những gì có thể để bảo vệ các con, nhưng giờ đây, ông không thể tiếp tục sống trong bóng tối của quá khứ.

Cuối tuần, đôi khi các con đến thăm ông, mang theo những món quà nhỏ, hoặc cùng nhau ăn bữa cơm đơn giản. Cảnh tượng đó mang đến cho ông một chút an ủi, nhưng cũng không thể làm vơi đi nỗi buồn sâu trong trái tim ông. Ông nhìn con cái trưởng thành, không còn là những đứa trẻ mà ông phải chăm lo, và có những gia đình riêng. Ông cảm nhận được rằng gia đình cũ đã không thể quay lại như trước, dù vẫn có tình yêu và sự quan tâm từ cả hai phía.

Từ ngày mất nước, gia đình ông rơi vào bi kịch. Chiến tranh chia cắt đất nước, gia đình ông cũng bị chia rẽ theo một cách riêng của nó. Những xung đột trong quá khứ không thể xóa nhòa, và dù ông đã cố gắng hết sức, những nỗi đau vẫn dai dẳng. Sự phản bội, những quyết định không thể quay lại, những hối tiếc không bao giờ nguôi ngoai – tất cả tạo thành một bi kịch lớn trong cuộc đời ông.

Gia đình không còn là nơi mà ông có thể tìm lại sự bình yên. Mỗi lần các con đến thăm ông, ông lại nhớ về quá khứ, về những ngày xưa, về một gia đình đầy ắp tiếng cười và hy vọng. Nhưng giờ đây, mọi thứ đã thay đổi quá nhiều. Tình yêu giữa ông và bà Dung không thể quay lại, và những đứa con của ông vẫn phải sống với những ký ức không thể nào quên.

Cuộc sống cứ thế tiếp tục, không thể nào hồi phục hoàn toàn như xưa, dù ông Thắng đã hoàn thành trách nhiệm của mình với các con. Những gì còn lại chỉ là sự chấp nhận.

Một ngày nọ, trong khi ông Thắng đang đọc sách trong căn phòng nhỏ của mình, một cú điện thoại bất ngờ đã thay đổi tất cả. Con trai ông gọi với giọng hoảng hốt:

“Ba ơi, mẹ bị tai nạn giao thông rồi. Bây giờ đang rất nguy kịch. Mẹ muốn gặp ba, muốn xin lỗi ba.”

Lời nói đó như một cú đánh mạnh vào trái tim ông. Ông không biết phải làm gì. Những năm tháng đã qua, những ký ức đầy đau thương và xung đột dường như vẫn còn như mới, chưa bao giờ nguôi ngoai. Bà Dung – người vợ cũ, người đã phản bội ông và để lại vết thương sâu trong lòng – giờ đây đang đứng trước ngưỡng cửa của sự sống và cái chết.

Ông Thắng vội vàng chạy tới bệnh viện, tâm trạng mâu thuẫn và đầy bối rối. Trong lòng ông, một cuộc chiến nội tâm gay gắt đang diễn ra. Liệu ông có nên tha thứ cho bà Dung hay không? Liệu ông có thể bỏ qua tất cả những gì bà đã làm với mình và gia đình trong quá khứ? Những câu hỏi đó không có lời giải đáp, nhưng ông vẫn tiếp tục lái xe, như thể có một sức mạnh vô hình nào đó kéo ông về phía bà.

Khi ông tới bệnh viện, bà Dung đã nằm trong phòng cấp cứu, cơ thể đầy vết thương. Gương mặt bà tái nhợt, đôi mắt mờ mịt, nhưng khi thấy ông bước vào, bà như nhận ra một thứ gì đó trong ánh mắt ông. Những giọt nước mắt bắt đầu rơi xuống, và bà cố gắng mở miệng, dù giọng nói yếu ớt:

“Anh… anh Thắng… Em… xin lỗi anh… Em… đã sai…”

Lời xin lỗi cuối cùng của bà Dung vang lên trong không gian im lặng của phòng bệnh, như một lời kết cho một câu chuyện dài đầy bi kịch. Bà đã không còn sức lực để nói thêm gì nữa, nhưng đôi mắt bà chứa đựng sự ăn năn, sự hối hận sâu sắc mà suốt bao nhiêu năm qua, bà không có cơ hội để thổ lộ.

Ông Thắng đứng đó, nhìn bà Dung trong giây lát, nhưng trái tim ông không thể quên được những gì đã xảy ra. Ông đã sống một cuộc đời khổ đau vì sự phản bội của bà. Tất cả những năm tháng ấy, sự hy sinh, sự cống hiến của ông đều trở thành vô nghĩa trong mắt bà. Bà đã chọn con đường của mình, và ông đã phải chịu đựng những quyết định mà không thể thay đổi.

Nhưng khi nhìn thấy bà giờ đây, trong tình trạng yếu đuối, sắp qua đời, ông chợt cảm thấy một sự đau lòng khác. Dù bà đã phản bội ông, ông không thể phủ nhận rằng tình yêu một thời vẫn còn trong trái tim ông. Nhưng ông đã quá mệt mỏi, quá kiệt sức vì những vết thương cũ. Ông chỉ có thể đứng nhìn bà, không thể tha thứ cho tất cả, nhưng cũng không thể phủ nhận sự xót thương.

Bà Dung cố gắng nói một lần nữa: “Anh Thắng, em… em biết em sai rồi… nhưng anh… đừng để em đi mà chưa nhận được sự tha thứ của anh.” Nhưng chỉ có tiếng thở gấp và nhịp tim yếu ớt, bà đã không còn sức để nói thêm.

Cuối cùng, bà Dung lặng lẽ nhắm mắt, rời khỏi thế gian này, để lại ông Thắng một mình trong căn phòng bệnh lạnh lẽo.

Sau cái chết của bà Dung, ông Thắng không cảm thấy sự thanh thản hay sự giải thoát mà ông mong đợi. Ngược lại, ông cảm thấy nỗi trống rỗng khủng khiếp hơn bao giờ hết. Những năm tháng qua, ông đã sống với nỗi hận, nỗi đau và sự mất mát. Giờ đây, khi bà Dung đã ra đi, ông không biết mình có thể cảm thấy gì. Tha thứ hay không tha thứ đã không còn quan trọng nữa. Tất cả chỉ là quá khứ, và ông buộc phải chấp nhận nó.

Các con của ông, dù đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, vẫn không thể hoàn toàn hiểu được những gì cha mình đã trải qua. Họ nhìn thấy cha mình vẫn sống đơn độc, dù đã có một gia đình khác và những mối quan hệ mới. Nhưng trong thâm tâm ông, cái chết của bà Dung chỉ là một dấu chấm hết cho một bi kịch gia đình đã kéo dài suốt bao nhiêu năm.

Ông Thắng sống tiếp những năm tháng còn lại, nhớ về những ngày đã qua, và đôi khi, ông lại tự hỏi liệu cuộc đời này có thể khác đi không nếu như những sai lầm trong quá khứ không xảy ra. Nhưng cuộc đời, như một dòng sông, luôn trôi đi và không thể quay lại. Và ông chấp nhận rằng, dù có cố gắng bao nhiêu đi chăng nữa, bi kịch gia đình ông từ ngày mất nước vẫn là một phần không thể xóa nhòa trong lịch sử riêng của mình.


 

Nữ tu sĩ Brazil mê túc cầu nay là người thọ nhất thế giới, gần 117 tuổi

Ba’o Nguoi-Viet

January 6, 2025

PORTO ALEGRE, Brazil (NV) – Một nữ tu sĩ mến mộ môn túc cầu đến từ Brazil vừa được vinh danh là người sống thọ nhất thế giới khi gần 117 tuổi, sau khi một người phụ nữ Nhật Bản vừa tạ thế trong thời gian gần đây, theo ABC.

Soeur Inah Canabarro, từng ốm o gầy mòn tới nỗi nhiều người nghĩ bà không thể sống nổi tới qua thời thơ ấu, LongeviQuest, một tổ chức theo dõi những người sống thọ trên toàn cầu cho biết.

LongeviQuest đưa ra một tuyên bố hôm Thứ Bảy, 4 Tháng Giêng, xác nhận vị soeur ngồi xe lăn này là người sống thọ nhất thế giới, được xác nhận trong các tài liệu ghi chép cuộc sống của bà từ thời niên thiếu.

Soeur Inah Canabarro trong hình chụp vào Tháng Hai, 2024, ở Brazil. (Hình: LongeviQuest)

LongeviQuest thực hiện một đoạn phim hồi Tháng Hai năm 2024 trong đó soeur Canabarro sảng khoái tươi cười, chỉ ra những bức họa nhỏ nhắn về các loài hoa dại do chính tay bà vẽ và đọc kinh Kính Mừng.

Khi được hỏi bí quyết sống thọ là gì? Soeur trả lời chính là đức tin Công Giáo.

“Tôi trẻ trung, dễ mến và thân thiện, âu cũng là những phẩm chất tốt đẹp, duyên dáng trong mỗi con người,” nữ tu sĩ Dòng Têrêxa nói trước quan khách viếng thăm nhà điều dưỡng tại thành phố Porto Alegre ở miền Nam Brazil.

Soeur Canabarro sinh ngày 8 Tháng Sáu 1908 trong một gia đình con đàn cháu đống ở miền Nam Brazil, theo LongeviQuest. Ông cố bà là một vị tướng kiệt hiệt tại Brazil, từng đứng lên cầm súng tham gia chiến trường trong giai đoạn đầy biến động sau khi Brazil giành độc lập và thoát khỏi ách cai trị của Bồ Đào Nha vào thế kỷ 19.

Soeur dấn thân vào con đường tôn giáo khi còn là một thiếu nữ và sinh sống tại Montevideo, Uruguay được hai năm trước khi chuyển tới Rio de Janeiro và cuối cùng quay về gần bên gia đình hơn ở miền Nam Brazil.

Vào dịp sinh nhật lần thứ 110, soeur Canabarro được Đức Giáo Hoàng Phanxicô tôn vinh. Bà là nữ tu sĩ sống thọ thứ nhì từng được ghi nhận, sau soeur Lucile Randon, người sống thọ nhất thế giới cho tới khi được Chúa gọi về vào năm 2023 ở tuổi 118.

Câu lạc bộ túc cầu địa phương Inter thành lập sau khi Canabarro chào đời, năm nào cũng tổ chức sinh nhật cho cổ động viên lớn tuổi nhất gồm có bánh và bong bóng có màu đỏ và trắng, hai biểu trưng cho đội banh.

“Dù là da trắng hay đen, giàu hay nghèo, bất kể các vị là ai, Inter là đội banh của đại chúng,” bà nói trong một đoạn phim đăng trên mạng xã hội khi mừng sinh nhật lần thứ 116 với chủ tịch câu lạc bộ.

Canabarro giành danh hiệu người sống thọ nhất thế giới sau khi Tomiko Itooka, một vị lão niên người Nhật Bản, tạ thế vào Tháng Mười Hai, theo LongeviQuest. Hiện nay seour Canabarro đang đứng thứ 20 trong danh sách những người sống thọ nhất từng được ghi nhận, đứng đầu là cụ bà Jeanne Calment người Pháp, qua đời năm 1997 ở tuổi 122, theo LongeviQuest. (TTHN)


 

Jimmy Carter cứu thuyền nhân Việt Nam (VOA)

VOA

30/12/2024

Hình chụp trẻ em tị nạn Việt Nam tại một trại tị nạn ở Hong Kong. Hình minh hoạ.

Hình chụp trẻ em tị nạn Việt Nam tại một trại tị nạn ở Hong Kong. Hình minh hoạ.

Ông Jimmy Carter, hồi 98 tuổi, đã rời bệnh viện về nhà sống những ngày cuối cùng. Ông qua đời hôm nay, 29 tháng 12, 2024. Ông là vị tổng thống Mỹ thọ nhất và sống một đời an vui, như Khổng Tử nói, “Người trí sống vui, người nhân sống thọ” (Trí giả lạc, nhân giả thọ, Luận Ngữ, VI, Ung Dã). Ông là người đáng được các thuyền nhân Việt Nam nhớ ơn.

Carter có đức tin rất mạnh, ông thường đến dạy giáo lý ở nhà thờ. Khi ra tranh cử năm 1976, ông nói với các cử tri: “Tôi sẽ không bao giờ lừa dối quý vị.” Có người đùa rằng ông nói như thế là mất hết phiếu của những người nói dối! Nhưng ông đắc cử, sau khi, qua thời Tổng thống Richard Nixon, dân Mỹ đã phải nghe quá nhiều chính trị gia nói dối. Phó tổng thống của ông, Walter Mondale nói rằng đối với Carter việc dùng thủ đoạn chính trị để kiếm phiếu là một điều nhơ bẩn, “Nếu muốn Carter làm một dự án nào mà nói rằng cái này rất lợi về chính trị, thì chắc ông sẽ bác bỏ.”

Làm việc chăm chỉ không phải là đức tính quan trọng nhất của người lãnh đạo quốc gia, nhưng ông Carter làm việc 12 giờ, đọc 200 trang tài liệu mỗi ngày. Và ông đã làm được nhiều việc đáng kể. Ông giúp Israel và Ai Cập giải hòa ký thỏa ước hòa bình Camp David, từ đó hai nước không còn đánh nhau nữa. Ông ký thỏa ước SALT II với Nga kiểm soát vũ khí nguyên tử, một bản thỏa ước mới bị ông Vladimir Putin xóa bỏ. Ông là vị tổng thống đầu tiên, trong bang giao quốc tế, nhấn mạnh đến điều kiện tôn trọng nhân quyền. Ông cũng cải tổ chính sách di dân.

Người Việt Nam tị nạn cộng sản biết ơn Jimmy Carter. Sau 30 tháng 4 năm 1975, hàng trăm ngàn người Việt chạy trốn chế độ cộng sản. Trong 2 năm cuối của Tổng thống Gerald Ford, Hoa Kỳ đã thâu nhận khoảng 150.000 người tị nạn. Đại tá Vũ Văn Lộc ở San Jose, ký tên Giao Chỉ, từng kể lại, ngày 5 tháng 7 năm 1978, Tổng thống Carter kêu gọi các tàu Mỹ, dân sự cũng như quân sự, đang có mặt tại Thái Bình Dương thì phải vớt thuyền nhân Việt Nam chạy trốn chế độ cộng sản. Ông đã quyết định cứu người vượt biển mặc dù đa số dư luận dân Mỹ lúc đó không muốn.

Năm 1979, “Báo Time đã ghi nhận có đến 300 ngàn người chết trên đường vượt biển. Đã có 65 quốc gia tiếp nhận nhưng … thuyền nhân còn tràn ngập các trại tỵ nạn.” Các nước Đông Nam Á không muốn chịu gánh nặng này, “443 người đến Hồng Kông, Macao, bị cảnh sát kéo ra biển, gặp trận bão Hope chết không còn người nào.” Giao Chỉ viết, “Dân Việt kéo về Hoa thịnh Đốn thắp nến cầu nguyện trước tòa Bạch Cung. Nước mưa hòa trong nước mắt nhỏ giọt xuống những ngọn nến lung linh. Những linh mục và những thượng tọa đi lại đọc kinh suốt đêm.”

Trước cảnh đó, Tổng thống Jimmy Carter ký “Đạo Luật Người Tị Nạn,” (Refugee Act of 1980) do Nghị sĩ Edward Kennedy đề ra để nước Mỹ nhận người tị nạn dễ hơn trước. Đạo luật thông qua ngày 17 tháng 3, 1980, sửa đổi “Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch,” và các thủ tục trong “Đạo luật Hỗ trợ người Tị nạn và Di dân” năm 1962. Ông tăng ngân khoản giúp người tỵ nạn Việt Nam từ 7 ngàn lên 14 ngàn một tháng. “Họ sẽ được đối đãi tử tế theo từng trường hợp và thủ tục tị nạn dễ dàng để quyết định nơi nào họ muốn đến!” Và, “Sở Di Trú và Nhập Tịch, sẽ hỗ trợ tối đa các chuyến đi của họ, đến các trại tị nạn, giúp họ khi chọn tái định cư tại Mỹ!”

Tin tức về tàu Mỹ vớt thuyền nhân bay về Việt Nam, thêm nhiều người vượt biển trong những năm 1979, 80, dù ai cũng biết những tai nạn, bão tố, hải tặc, dù hàng trăm ngàn người đã chết trên biển. Số lượng “thuyền nhân,” gia tăng mạnh, họ cập bến các nước Thái Lan, Malaysia, Hồng Không, Indonesia, Úc và bị đuổi, nhiều nơi đã kéo các chiếc thuyền mong manh của người tỵ nạn ra ngoài đại dương.

Do lệnh của Tổng thống Carter, thuyền trưởng tất cả các tàu Mỹ, có thể cam kết với chính quyền tại những hải cảng đó rằng, Sở Di Trú và Nhập Tịch Mỹ sẽ nhanh chóng sắp xếp cho những người tị nạn nhanh chóng đến nơi định cư. Những con tàu Tình Thương từ nhiều quốc gia, Pháp, Đức, Đan Mạch… ra khơi, tổng cộng đã vớt được trên 3 ngàn thuyền nhân. Nếu không có ông Carter ra lệnh cứu vớt và thâu nhận họ vào Mỹ định cư, thì chắc chắn không có phong trào này!

Khi gặp thủ tướng Israel, Manachem Begin, ở Camp David, ông Carter cũng nhắc đến tình trạng thuyền nhân Việt Nam, so sánh với cảnh những người Do Thái tị nạn trước đây. Giao Chỉ kể, “Tháng 10 năm 1979, một tàu Israel trên đường đi Nhật đã cứu 60 thuyền nhân. Thuyền trưởng nói rằng các bạn phải cảm ơn ông Carter.”

Do lệnh của ông Carter cho bộ quốc phòng, Đệ thất hạm đội dành 5 tuần dương hạm để cứu thuyền nhân. Tháng 6, 1988 chiến hạm Mỹ USS Dubuque gặp một con tàu tị nạn đi từ Bến Tre, sau 19 ngày lênh đênh trên biển, nhưng chỉ tiếp tế nước và thực phẩm, không cứu và không báo cho tàu khác cứu vớt. Ông hạm trưởng tàu USS Dubuque đã bị đưa ra tòa án quân sự. Con thuyền Bến Tre trôi dạt 37 ngày, từ 110 người chỉ còn sống 52 người; sau được tàu đánh cá Philippines cứu đưa về đảo Bolinao.

Theo con số của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (UNHCR), khoảng gần nửa triệu người đã chết trên thuyền vượt biển. Tổng thống Carter đã gởi Phó Tổng thống Walter Mondale sang Geneva, Thụy Sĩ để họp cùng Cao Ủy Tị Nạn và các nước khác bàn việc giúp đỡ thiết thực người tị nạn Việt Nam. Cao Ủy Tị Nạn đã thay mặt Hoa Kỳ, thương lượng với Hà Nội, để bắt đầu chương trình tái định cư ODP, cùng các chương trình HO, con lai về sau này.

Tháng 8 năm 1979, để thuyết phục dân Mỹ, Tổng thống Carter nói trong một cuộc gặp gỡ hơn 2,000 người: “Cho tôi nhắc với quý vị rằng, Hoa Kỳ là một quốc gia của di dân. Cha ông chúng ta là di dân! Chúng ta là một quốc gia của những người tị nạn. Những người tị nạn Việt Nam từng là đồng minh của chúng ta, trong cuộc chiến tranh Việt Nam chống sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Họ đang chạy trốn khỏi một xứ đã tước đi tất cả các quyền căn bản của họ. Họ tin vào giá trị, khả năng của mỗi người, cùng sự tự do cá nhân.”

Sinh năm 1924 tại tiểu bang Georgia, Tổng thống Jimmy Carter tốt nghiệp kỹ sư tại Học Viện Hải quân, phục vụ tại các hạm đội Đại Tây Dương, Thái Bình Dương. Năm 1963, ông đắc cử vào Thượng viện Georgia, năm 1971, ông đắc cử thống đốc và từ năm 1977 ông làm tổng thống.

Ông Jimmy Carter gặp rất nhiều điều không may mắn trong hai năm sau cùng. Chiến tranh Iran-Iraq làm giá dầu lửa tăng lên 120%, gây nạn lạm phát khắp thế giới, tại Mỹ lên tới 14.6%. Dân Iran biểu tình chiếm tòa đại sứ Mỹ, bắt con tin. Liên Xô tấn công chiếm đóng Afghanistan. Năm 1980 ông thất cử. Nhưng nhờ các chính sách của ông Paul Volcker, do ông Carter bổ nhiệm làm chủ tịch Ngân hàng Trung ương (Federal Reserve), lạm phát đã chấm dứt khi Tổng thống Ronald Reagan nhậm chức và kinh tế bắt đầu hồi phục từ năm 1982.

Sau khi rời Tòa Bạch Ốc, ông Carter trở về thị trấn Plains, nơi ông làm chủ một trang trại trồng đậu phộng. Ông sống giản dị trong một ngôi nhà hai phòng ngủ trị giá $167.000 đô la, sau mỗi bữa ăn vẫn tự rửa chén, mỗi Chủ Nhật lại đi dạy giáo lý ở nhà thờ.

Ngày 15 tháng Bảy năm 1979, ông Carter đọc một bài diễn văn vẫn còn đáng đọc lại. Ông than rằng, “Trong một quốc gia xưa nay vẫn tự hào là chăm chỉ làm việc, gia đình vững chắc, xóm làng đoàn kết, và lòng tin vào Thượng Đế, bây giờ nhiều người trong chúng ta chỉ lo thỏa mãn cho mình và tôn thờ việc tiêu thụ. Con người không còn được thẩm định qua các việc mình đã làm mà qua những gì mình sở hữu.” Ngày nay, có thể thấy đó cũng là một lời tiên tri.

Xem them:

Tổng thống Jimmy Carter: Đại ân nhân của thuyền nhân vượt biển (BBC)


 

Thánh Andre Bessette (1845-1937)-Cha Vương

Hôm nay 6/1 Giáo hội mừng kính thánh Andre Bessette (1845-1937), quan thầy của những người bị bỏ rơi và những người chăm sóc cho bệnh nhân. Một ngày ấm áp trong Chúa nhé.

Cha Vương

TIỂU SỬ: 

❦ Alfred Bessette sinh ngày 09 tháng 8 năm 1845 tại Québec, là con thứ tám trong một gia đình 12 anh em. Mồ côi cha mẹ sớm, Alfred phải trải qua nhiều đói khổ và bệnh tật, làm bánh mì, làm thợ giày, thợ rèn, lại mắc bệnh yếu bao tử không làm được việc nặng mà Alfred phải mang suốt đời. Ðiều làm cho ngài vượt thắng là sự cậy trông vào Chúa quan phòng và Thánh Cả Giuse.

❦  Gia nhập tu hội Các Thầy Thánh Giá (Congregation of the Holy Cross) và lấy tên là Thầy André

❦  Vì lý do sức khoẻ và học lực kém nên nhà dòng yêu cầu thầy đi về, nhưng trong sự tuyệt vọng, thầy đã xin đức giám mục sở tại can thiệp để được ở lại và được giao cho công việc khiêm tốn là gác cổng trường học Notre Dame ở Montreal, cùng với các nhiệm vụ phụ là dọn lễ, giặt giũ và đảm trách việc thư từ. Thầy Andre khôi hài rằng, “Khi tôi gia nhập cộng đoàn này, cha bề trên chỉ cho tôi cánh cửa ấy, và tôi ở đó suốt 40 năm.”

❦  Trong căn phòng nhỏ bé của ngài ở gần cổng trường, hầu như suốt đêm ngài quỳ gối cầu nguyện. Trên thành cửa sổ, trông ra đồi Royal, là bức tượng Thánh Giuse nhỏ, là người mà thầy hằng sùng kính ngay từ khi còn nhỏ. Khi được hỏi về điều ấy thầy trả lời, “Một ngày nào đó, Thánh Giuse sẽ được tôn kính một cách đặc biệt trên đồi Royal!”

❦  Khi biết có ai bị đau yếu, ngài đến thăm để cổ võ tinh thần cũng như để cầu nguyện với họ. Ngài cũng thường thoa lên bệnh nhân chút dầu lấy từ chiếc đèn luôn cháy sáng trước tượng Thánh Giuse trong nguyện đường của trường học. Từ đó tiếng đồn về sức mạnh chữa lạnh bắt đầu lan tràn.

❦  Rất tận tuỵ chăm sóc cho bệnh nhân. Thầy thường lập đi lập lại rằng “Ðâu có phải tôi chữa mà là Thánh Giuse.”

❦  Thầy Andre đã từ trần ngày 06 tháng 01 năm 1937 khi thầy 92 tuổi. Mặc dầu trời giá lạnh tuyết băng, hơn một triệu người đã tham dự  tang lễ của thầy.

❦  Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã công nhận các nhân đức anh hùng của Đấng Đáng Kính Andre Bessette ngày 12 tháng 6 năm 1978 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Chân Phước cho thầy Andre Bessette ngày 23 tháng 5 năm 1982.

❦ André Bessette đã được Đức Giáo Hoàng Benedict XVI phong thánh vào ngày 17 tháng 10 năm 2010. Mộ phần của thầy nằm sau bàn thờ chính trong nguyện đường Thánh Giuse tại Montreal, Canada.

NHÂN ĐỨC:

❦  Hết lòng cậy trông vào Chúa quan phòng và vào sự chuyển cầu của Thánh Giuse, nhất là trong lúc tuyệt vọng.

❦  Khát khao phục vụ Chúa bằng chính cuộc sống của mình

❦  Người gác cổng của Thiên Chúa. Thầy André biết cách nói về tình yêu của Thiên Chúa cách mãnh liệt đến độ thầy đã truyền niềm hy vọng cho mọi người gặp gỡ anh.

❦  Có khả năng thông cảm và tính hài hước nồng hậu với những người đến với ngài

❦  Ngài thường nói: “Bạn không được buồn”. “Thật là tốt để cười lớn một chút”. Đặc biệt với những người nghèo và bất hạnh, ngài đến với họ với một niềm vui nội tâm có tính lây lan.

CÂU NÓI:

❦ “Chính cây cọ nhỏ bé đã giúp nghệ nhân hoàn thành bức họa tuyệt mỹ.”

NOI GƯƠNG THÁNH NHÂN:

Tạo ra niềm vui trong công việc bằng cách nghĩ khác đi, và yêu thương nhiều hơn.

From: Do Dzung

******************************

Chúa Yêu Con Nhiều || Sáng tác : Nguyễn Như Thoại || Trình bày : Kim Tuyến 

Điều con xin hôm nay là ơn tha thứ.

Đầu năm mới 2025. Trong giờ linh thiêng nhất trong năm, với suy nghĩ làm sao cho đời sống của mỗi người chúng ta được BÌNH AN, VUI TƯƠI, HẠNH PHÚC, để trong cõi đời trần thế hiện tại này được nhẹ nhàng, thư thái, khoan dung, yêu thương và được yêu thương. Để sau này, lúc ra đi, linh hồn ta cũng nhẹ nhàng, êm ái, tràn đầy tình cảm yêu thương, thần thái vui tươi, hạnh phúc trong nước Trời.

Trong suy tư đó, xin gởi đến tất cả những người thân yêu lời kinh dưới đây. Mời đọc và suy ngẫm.

Phùng Văn Phụng

Kinh Tha Thứ

Lạy Chúa Giêsu, điều con xin hôm nay là ơn tha thứ.

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho chính con: những tội lỗi của con, những lỗi lầm của con, những sa ngã của con, những điều xấu trong con, những mê tín dị đoan của con, cầu cơ lên đồng, xem tử vi, coi chiêm tinh gia, coi thầy bói, đeo những bùa may mắn hộ mạng. Con từ bỏ tất cả những dị đoan đó. Con tin nhận Chúa là Chúa cứu thế duy nhất của con. Xin hãy ban Thánh Thần Chúa trên con. Con tha thứ cho con vì: đã làm đau khổ cha mẹ con, chè chén say sưa, sử dụng ma tuý, đeo đuổi hành động thiếu trong sạch, ngoại tình, những hành động tình dục về đồng tình luyến ái. Như Chúa đã tha thứ cho con, hôm nay con cũng tha thứ cho con. Ðồng thời những tội khác như: phá thai, ăn cắp, nói dối, lừa đảo… Con tha thứ cho chính con.

Con tha thứ cho người mẹ con qua những lần mẹ con: làm đau đớn con, phẫn nộ với con, giận dữ với con, trừng phạt con, thanh lọc con ra khỏi anh chị em, nói con đần độn, xấu xí, ngu dốt, hư hỏng nhất, hao tốn tiền của gia đình. Cho con là đứa con không được thừa nhận, là thiếu xót, là đứa con không được như ý muốn…

Con tha thứ cho cha con là người cha: thiếu nâng đỡ con, thiếu tình thương, thiếu cảm tình, thiếu sự trông nom, thiếu thời giờ, thiếu sự cảm thông dành cho con. Con tha thứ cho cha con là: người nghiện ngập, ẩu đả với mẹ con, ẩu đả với những người con khác, những sự trừng phạt nghiêm khắc, những bỏ bê, bỏ nhà ra đi, ly dị mẹ con, đi lang thang…

Con cũng xin tha thứ cho anh chị em con: những người xua đuổi con, nói dối con, ghét con, tranh dành tình yêu của cha mẹ con, ám hại con, nghiêm khắc với con, làm cho đời sống con khổ sở…

Lạy Chúa con xin tha thứ cho người phối ngẫu của con về: sự thiếu tình thương, thiếu cảm tình, thiếu thông cảm, thiếu sự chăm sóc, thiếu liên lạc trò chuyện với con. Con xin tha thứ cho những thiếu xót, vất ngã, yếu đuối, những lời nói hay hành động làm tổn thương và khó chịu cho con…

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho con cái của con: Thiếu kính trọng, Thiếu vâng lời, Thiếu yêu thương, Thiếu trông nom, Thiếu âu yếm, Thiếu hiểu biết, Những thói hư tật xấu, Bỏ đi nhà thờ, Những hành động làm phiền hà con…

Lạy Chúa con xin tha thứ cho gia đình bên vợ/chồng con, nhất là cha mẹ, anh chị em, bà con bên vợ/chồng con đã làm tổn thương đến gia đình con…

Lạy Chúa con xin tha thứ cho những họ hàng thân thiết của con, ông bà nội ngoại, cô cậu chú dì, những người đã can thiệp vào nội bộ gia đình con, cố gắng gây ảnh hưởng trên cha mẹ con, gây ra những hiểu lầm, xúi cha mẹ này đến cha mẹ khác…

Lạy Chúa, xin giúp con tha thứ cho người bạn cùng sở của con về những sự bất đồng ý kiến, là con phải sầu khổ, bắt con phải làm việc của họ, trêu trọc con, muốn dành công việc của con.

Lạy Chúa, những người hàng xóm của con cũng cần được tha thứ về: Những sự ồn ào, Những tiệc tùng về khuya, chó sủa làm con thức giấc, làm cho khu xóm mất giá trị…

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho những linh mục, cha sở họ đạo con, cộng đoàn con, Ðức Giám mục, Giáo Hoàng, Giáo hội công giáo về: Thiếu nâng đỡ, Nhàm chán, phục vụ tồi tệ, Thiếu niềm nở, Không xác nhận, Chẳng có điều gì khuyến khích con, Không sử dụng con vào những chức vụ chủ yếu, Không mời con phục vụ trong những tổ chức đông người, những đau đớn giáng xuống trên con, con thực sự tha thứ…

Con tha thứ cho những người trí thức (professionals) về những tổn thương xảy đến con như bác sĩ, ý tá, luật sư, quan tòa, chính trị gia, dân biểu…

Lạy Chúa con tha thứ cho những người phục vụ công quyền (service people): cảnh sát, nhân viên cứu hỏa, tài xế xe bus, nhân viên nhà thương và những nhân viên khác.

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho chủ hãng con về không trả xứng lương cho con, không biết ơn việc con làm, có thái độ thiếu lịch sự, thiếu công bình, nóng giận, thiếu hòa nhã, không thăng chức cho con…

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho thầy cô giáo, huấn luyện viên trong quá khứ và hiện tại, nhất là những người đã trừng phạt con, những người đã hăm dọa con, những người đã sĩ nhục con, đối xử thiếu công bình, những người chế diễu con, những người nói con là đồ ngu ngốc, dốt nát, những người phạt con ở lại sau giờ học.

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho bạn bè con về: Những người chà đạp con xuống, Những người không liên lạc với con trong lúc con cần sự giúp đỡ, mượn tiền mà không trả lại, tán gẫu về con…

Lạy Chúa Giêsu, con khẩn thiết cầu xin ơn tha thứ, cho một người trong cuộc sống của con đã làm con đau khổ nhất; cho những người là kẻ thù không đội trời chung của con; cho người rất khó tha thứ; cho người con thề không thể tha thứ cho họ. Lạy Chúa, con xin tha thứ những người này, cho những đau đớn con đã gây ra cho họ, đặc biệt là cha mẹ của con, người phối ngẫu của con. Con cám ơn Chúa về tất cả tình thương của Chúa đã đến trong cuộc đời con qua họ.

Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã cho con có sức mạnh, can đảm để con tha thứ cho anh em con. Xin Cha tha thứ cho con và chúc lành cho đời sống mới của con. Amen.

LM DeGrandis

Nguồn: https://www.conggiao.org/kinh-tha-thu/

CÙNG MỘT THÔNG ĐIỆP – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói, “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”.

“Các linh mục nổi tiếng về việc mượn những câu chuyện của nhau để giảng lễ! Lần kia, tôi đồng tế tại một đám tang; hôm đó, linh mục giảng lễ kể một câu chuyện thật sâu sắc về thời thơ ấu của mình. Thực ra, đó là câu chuyện về thời thơ ấu của tôi, và ngài không bao giờ đề cập điều đó; cũng có thể ngài không biết!” – Mgr. James Vlaun.

Kính thưa Anh Chị em,

Thật thú vị, Tin Mừng hôm nay tiết lộ một chuyện tương tự ngay ngày đầu tiên thi hành sứ vụ của Chúa Giêsu. Ngài ‘tạm mượn’ thông điệp của Gioan để ‘giảng lễ mở tay’ cách ngon ơ! ‘Cùng một thông điệp’ của Gioan, Chúa Giêsu nói, “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”. Điều xảy ra với Đức Ông Vlaun cũng đã xảy ra với Gioan Tấy Giả!

‘Cùng một thông điệp’; tuy nhiên, từ môi miệng Chúa Giêsu, những lời này mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Gioan loan báo một Nước Trời sắp đến – điều mà bản thân Gioan có lẽ cũng rất mù mờ; đang khi Nước Trời đó chính là Chúa Giêsu! Rồi đây, Ngài sẽ xác nhận, “Nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Nước Thiên Chúa đã đến giữa các ông!”. Với Chúa Giêsu, “sám hối” cũng mang một ý nghĩa khác! “Sám hối” thường được hiểu là hối hận, đau buồn vì những điều sai trái một người đã làm; ở đây, “sám hối”, “metanoia” là đổi thay hoàn toàn và triệt để bên trong về cách thức nhìn cuộc sống. “Sám hối” Chúa Giêsu kêu gọi không quan tâm quá khứ, nhưng tương lai!

“Nước Trời đã đến gần” vì nó đã hiện thân trong con người Chúa Giêsu – Đấng thể hiện sự hiện diện đầy quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa, “Thiên hạ đem đến cho Người mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền: những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt; và Người đã chữa lành họ!”. “Chữa lành” có nghĩa là khôi phục sự toàn vẹn; vì lẽ, mục tiêu của Nước Trời là cứu độ, khôi phục sự toàn vẹn những gì hỏng hóc của con người, của thế giới. Và đó là lý do của Giáng Sinh, cũng là lý do tại sao Hài Nhi Giêsu – Chúa Cứu Độ, Con Thiên Chúa – trong máng cỏ gắn liền với sứ mệnh mà Ngài phải chu toàn và chu toàn cho đến chết.

Anh Chị em,

“Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”. ‘Cùng một thông điệp’ như Gioan, Chúa Giêsu đang nói những lời đó với mỗi người chúng ta. Rằng, “Thiên Chúa đã đến thăm chúng ta bằng chính con người Ngài. Ngài không chấp nhận phận người vì bổn phận, nhưng vì tình yêu. Ngài mặc lấy bản tính con người vì người ta chấp nhận những gì họ yêu. Thiên Chúa mặc lấy bản tính con người vì yêu thương chúng ta và mong muốn tự do ban cho chúng ta ơn cứu độ mà chỉ một mình Ngài – không ai khác – có thể có, cũng như tự sức, không ai đạt được. Ngài muốn ở lại, ban cho chúng ta vẻ đẹp cuộc sống, sự bình an, niềm vui được tha thứ và cảm thấy được yêu thương!” – Phanxicô. ‘Cùng một thông điệp’ hãy sám hối, nhưng thông điệp của Chúa Giêsu dẫn chúng ta tới một thông điệp quan trọng gấp bội, “Hãy trở thành con người mới mà Chúa muốn chúng ta trở thành!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, mỗi ngày Chúa gửi cho con bao điều Chúa muốn nhắn gửi. Đừng để con giả điếc, giả mù trước lời mời gọi của Chúa; nhờ đó, con sẽ sớm nên thánh!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

  *************************************************

Thứ Hai sau Lễ Hiển Linh

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

12 Khi ấy, Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. 13 Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói: 15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại! 16 Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.

17 Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”

23 Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân. 24 Danh tiếng Người đồn ra khắp xứ Xy-ri. Thiên hạ đem đến cho Người mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền : những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt; và Người đã chữa họ. 25 Từ miền Ga-li-lê, vùng Thập Tỉnh, thành Giê-ru-sa-lem, miền Giu-đê và vùng bên kia sông Gio-đan, dân chúng lũ lượt kéo đến đi theo Người. 


 

Westminster tặng cư dân 65 tuổi và cựu chiến binh $150 ăn Tết

Ba’o Nguoi-Viet

January 4, 2025

Đỗ Dzũng/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Thành phố Westminster sẽ tặng thẻ thực phẩm $150 cho các vị cao niên 65 tuổi trở lên và cựu chiến binh, hiện là cư dân thành phố, nhân dịp Tết Ất Tỵ 2025, Thị Trưởng Chí Charlie Nguyễn xác nhận với nhật báo Người Việt hôm Thứ Năm, 2 Tháng Giêng.

Bảng chào mừng đến Little Saigon trên đường Bolsa, Westminster. (Hình minh họa: Đỗ Dzũng/Người Việt)

Được biết, đề nghị tặng thẻ thực phẩm do thị trưởng đưa ra, và được sự ủng hộ của Phó Thị Trưởng Kimberly Hồ và Nghị Viên Carlos Manzo trong phiên họp cuối cùng của năm vào Tháng Mười Hai.

“Tổng số tiền chi ra cho chương trình này là $200,000, lấy từ quỹ hàng năm dành cho người cao niên,” ông thị trưởng nói. “Cách đây hai năm, chúng tôi cũng có một chương trình tương tự.”

Ông Chí cho biết thêm, để có được thẻ thực phẩm, người nhận phải từ 65 tuổi trở lên hoặc là cựu chiến binh. Người nhận, cả cao niên và cựu chiến binh, phải là cư dân Westminster, và ai đến trước thì được trước khi vẫn còn thẻ (first come first serve). Nếu hết thì thôi.

Ông thêm: “Thẻ mua thực phẩm này có thể sử dụng mua thức ăn ở bất cứ siêu thị nào trong thành phố Westminster. Đây cũng được coi như món quà Tết đầu năm gửi tặng quý vị cao niên và cựu chiến binh. Chính ra quý vị đã có những thẻ này trước rồi, nhưng vì thủ tục đặt thẻ cần thời gian nên thẻ ‘gift card’ này sẽ được phân phối đến quý vị khoảng cuối Tháng Giêng này.”

“Thành phố sẽ thông báo ngày giờ phân phối đến quý vị qua nhiều phương tiện khác nhau. Quý vị có thể vào trang nhà của thành phố (westminster-ca.gov) hoặc đón nghe các thông tin chúng tôi gửi ra,” vị thị trưởng nói tiếp.

Sau khi được thông báo, cư dân cao niên và cựu chiến binh có thể đến tòa thị chính thành phố, trình thẻ căn cước hoặc bất cứ tài liệu nào chứng minh mình 65 tuổi trở lên hoặc là cựu chiến binh, và là cư dân Westminster, ông Chí cho biết thêm.

Chào cờ đầu năm đầu tiên trong 50 năm

Nhân dịp đầu năm, Thị Trưởng Chí Charlie Nguyễn cũng mời mọi người tham dự lễ chào cờ đầu tiên trong 50 năm, trước thương xá Phước Lộc Thọ, Westminster.

Ông Chí cho biết: “Nhân ngày đầu năm 2025 và cũng để đón chào năm mới Ất Tỵ, chúng tôi trân trọng kính mời quý tổ chức đoàn thể, quý đồng hương, tham dự đông đảo Buổi Lễ Chào Cờ Đầu Năm, đúng 10 giờ sáng Chủ Nhật, 5 Tháng Giêng, tại trụ cờ trước thương xá Phước Lộc Thọ.”

Đại kỳ VNCH được dâng lên trụ cờ mới trước thương xá Phước Lộc Thọ ngày 24 Tháng Ba, 2024. (Hình minh họa: Thiện Lê/Người Việt)

“Đây là lần chào cờ đầu năm đầu tiên tại trụ cờ được xem như lá cờ đại diện cho thủ đô người Việt tị nạn Cộng Sản, kể từ ngày khánh thành mang tính lịch sử tại nơi này từ Tháng Ba, 2024. Nghi thức rước cờ và chào cờ sẽ được diễn ra thật long trọng, và được Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, Đoàn Hậu Duệ VNCH, và nhiều đoàn thể trong cộng đồng thực hiện,” ông Chí cho biết thêm.

Ông tiếp: “Xin đồng hương tham dự đông đảo để cùng thượng kỳ lá Cờ Vàng thân yêu của chúng ta, sau 50 năm được bay ngạo nghễ trên bầu trời tự do tại thủ đô người Việt tị nạn, và để chúng ta cùng nhau tung hô lá Cờ Vàng bất tử.”

Buổi Lễ Chào Cờ Đầu Năm này là một sự kiện cộng đồng, không phải do thành phố Westminster chính thức tổ chức, ông Chí xác định. [qd]

—–
Liên lạc tác giả: dodzung@nguoi-viet.com


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Lê Thị Thanh Lâm

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

04/01/2025

Trong lúc ông Tô Lâm đang ồn ào “giống trống lệnh” (phòng chống lãng phí) thì nhà báo & nhà văn Lưu Trọng Văn nhỏ nhẹ tâm sự: “Nhà lý luận Nhị Lê nói với gã … cái mà chúng ta đang lãng phí gây ra tổn thất lớn nhất chính là lãng phí niềm tin.”

Bộ thiệt vậy sao?

Sao các nhà (nhà báo, nhà lý luận, nhà văn .. ) lại cứ cố nói vớt vát (và nói lấy được) như vậy cà? Có còn ai tin tưởng tí gì vào cái chế độ hiện hành đâu mà lại đặt vấn đề lãng nhách và lãng xẹt, vậy Trời ?

Quý vị có thể quên, chứ quần chúng thì không! Sự việc vẫn còn sờ sờ ra đó, và đã hết chuyện hồi nào đâu mà sao họ lại nhanh quên đến thế:

Giữa thế kỷ trước, đã có bao nhiêu người dân Việt hốt hoảng bỏ hết ruộng vườn, làng mạc, mồ mả tổ tiên tất tả đi di cư từ Bắc vào Nam lánh nạn. Đến cuối thế kỷ,  có thêm bao nhiêu triệu người khác nữa, hớt ha/hớt hải đâm xầm ra biển để tìm tự do? Bao nhiêu kẻ đã chết đói, chết khát (chết chìm, chết đắm, chết đuối, chết trôi …) thi thể nổi lều bều trên Biển Đông suốt mấy thập niên liền?

Bẩy mươi năm sau, nếu tính từ 1954, vào hôm 5 tháng 7 năm 2024, thông tín viên Cao Nguyên (RFA) lại vừa tường thuật:

“Hiện tại có gần 6.000 người Việt đã luồn lách qua những cánh rừng, những hoang mạc đầy bất trắc gần biên giới đường bộ Mexico để leo rào vào Mỹ một cách bất hợp pháp. Họ đánh cược tài sản, tuổi thanh xuân và cả tính mạng của mình với hy vọng mơ hồ rằng sẽ định cư tại xứ cờ hoa”.

Nói chi đến xứ “cờ hoa”. Biết bao thanh niên thiếu nữ VN đã “đánh cược tài sản lẫn tuổi thanh xuân” trong những chiếc xe tải bít bùng mà chắc chắn là không kẻ nào biết là mình sẽ phiêu lưu đến đâu, nếu còn sống sót. Đâu cũng được miễn là không phải trở lại quê hương đất nước khốn khổ của mình thôi. Liệu có còn chút lòng tin nào nơi mà ngay cả những cái cột đèn cũng sẽ bỏ đi (nếu chúng có chân) mà quý vị lo chuyện “lãng phí” ?

Lắm vị thức giả rất hay quên (hay nhất định không chịu nhớ) chớ đám thường dân thì không. Ngoài việc ghi nhận mọi nỗi cùng cực/đắng cay của những đám nạn nhân tập thể (như vừa kể) chúng tôi cũng không quên vô số những mảnh đời nhỏ nhoi và mọi điều bất hạnh, bất công, bất chính đang xẩy ra cho họ.

Nhân vật chính trong câu chuyện hôm nay có tên là Lê Thị Thanh Lâm (L.T.T.L)  phu nhân của nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng Bùi Tuấn Lâm, người đã bị bắt giam vì đã giễu nhại cảnh “ăn bò dát vàng” của Bộ Trưởng Công An – Tô Lâm.

Ngày 25 tháng 5 năm 2023, ông bị kết án 5 năm 6 tháng tù giam và bốn năm quản chế trong khi vợ con và thân nhân bị hành hung thô bạo, ngay trước cổng tòa án. Cũng hôm đó, L.T.T.L còn bị “bắt cóc” về đồn công an, và nhân viên an ninh thành phố Đà Nẵng chỉ tay vào mặt bà, và nói: “Tao sẽ không để cho mẹ con mày được yên.”

Tất cả các cơ quan “chức năng” đã giữ đúng lời. Họ chưa bao giờ “để mẹ con được yên” từ đó đến nay.

Ngày 13 tháng 10 năm 2023, L.T.T.L cho biết:

Trại Giam Đà Nẵng ngăn cản không cho mẹ con tôi thăm gặp Bùi Tuấn Lâm?

Đã 2 tháng trôi qua, gia đình tôi vẫn chưa được thăm gặp ba của bọn trẻ.

– Trong tháng 9, không có cuộc gặp nào vì họ nói chồng tôi bị kỷ luật.

– Tháng 10, họ đồng ý cho thăm gặp lại nên đã nhận đơn từ ngày 2/10. Nhưng đến nay không giải quyết. Cán bộ trại giam nhận đơn của tôi đến hôm nay đã chặn luôn số điện thoại của tôi. Phó giám thị thì nói không nhận được đơn trình báo. Tất cả các phòng ban và cán bộ đều đùn đẩy qua lại cuộc thăm gặp này…

Mấy tháng sau, hôm 18 tháng 2 năm 2024, nhà báo Tuấn Khanh còn cho biết thêm:

Kể từ khi ông Bùi Tuấn Lâm đi tù, quán bún bò Ba Cô Gái nổi tiếng của gia đình cũng bị đóng cửa theo, chấm dứt phương thức sinh sống cuối cùng của gia đình. Bà Lâm chỉ còn cách buôn bán hàng online để tìm chút tiền lời nuôi con và đi thăm nuôi chồng. Phía công an hiểu rõ khó khăn của gia đình, và dựng một kế hoạch để đánh triệt đường sinh sống của người mẹ có ba đứa con nhỏ…

Mới đây, vào đầu Tháng Hai, bà Lâm nhận được một đơn mua hàng online của một người nói là sẽ đến tận nhà để nhận chứ không cần phải gửi. Bà đồng ý và đợi người đến lấy hàng, nhưng không hề biết đó là một cái bẫy của công an nhằm để kết tội bà mua bán trái phép.

Đúng hẹn, người gài bẫy của công an đến nhận hàng, thì lập tức cả chục người của chính quyền ập đến kiểm tra, lập biên bản và thu giữ “tang vật vi phạm.” mà tất cả chỉ là những hũ rong biển, mít sấy, vài chai xì dầu và ít lon sữa đặc. Họ bao vây bắt bà Lâm nhận tội bàn hàng gian gần bốn tiếng đồng hồ, ép ký vào biên bản.

Kẻ mua hàng chạy mất, cũng như khoá số điện thoại. Câu chuyện được kể lại, khiến ai cũng hiểu đây là một cái bẫy quá ấu trĩ.

Câu chuyện kế tiếp thì hoàn toàn không “ấu trĩ” tí nào và nghiêm trọng hơn nhiều, theo lời kể của chính nạn nhân, vào hôm 04 tháng 12 năm 2024:

“Cách đây tầm hơn 2 tháng, an ninh PA88 của thành phố Đà Nẵng đã vào tận trại Xuân Lộc Đồng Nai để gặp chồng tôi. Mặc dù chồng tôi đang thụ án và chẳng có gì cần phải làm việc với an ninh Đà Nẵng nữa. Chồng tôi có thể từ chối cuộc gặp, nhưng anh muốn nghe xem là họ sẽ nói gì với mình.

Cuộc gặp diễn ra giữa ba bên, 2 an ninh Đà Nẵng, cán bộ trại giam Xuân Lộc và chồng tôi. Tất cả cũng phải trên dưới 10 người, một con số chứng kiến khá đông… hai anh an ninh Đà Nẵng đặc biệt quan tâm tới công việc buôn bán của tôi, thậm chí tôi còn không biết họ ‘quan tâm’ hay đang hăm dọa khi nói rằng tôi đi giao nhận hàng coi chừng xui xui bị xe đụng…”

Khi ông Tô Lâm còn làm bộ trưởng công an thì L.T.T.L bị đe dọa (“không để cho mẹ con mày được yên”) đến khi ông ấy lên ngôi Tổng Bí Thư thì lời đe dọa này có nguy cơ sẽ biến thành hiện thực: “đi giao hàng coi chừng xe đụng”!

Lịch sử cổ kim, có lẽ, chưa bao giờ có một chính thể nào mà hèn hạ, ác độc, ti tiểu và ti tiện đến như thế cả. Đó là một chế độ bất nhân và đó cũng chính là điểm nghẽn (của điểm nghẽn) mà cái nhà nước vô nhân tính hiện hành vô phương tháo gỡ!