Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.
(Mt 10:30-31)

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.
(Mt 10:30-31)
Tin Mừng (Mt 10: 26-33)
Hôm ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng:
“Anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng.
“Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục. Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.
“Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.
* * *
“Nhưng Chúa hiểu tại sao con yêu người lắm”
“Con nguyện cầu tình con luôn đằm thắm
Chia nụ cười , an ủi lúc khổ đau
Giúp chúng con luôn nâng đỡ lẫn nhau
Và xin Chúa bảo tồn tình con nhé.” (dẫn từ thơ SC)
Trong nguyện cầu, nhà thơ mong tình yêu luôn đằm thắm. Thắm tình người, thắm cả vào lúc khổ đau. Tình người hôm nay, Chúa có nói: “đừng sợ! Chớ lo!Kẻo mất tình thân thương, cộng đoàn. Không sợ và chẳng lo nhưng vẫn giữ tình dân con, là tâm tình Chúa nhắn nhủ, ở Phúc âm.
Phúc âm hôm nay, ghi rõ lời Ngài: “ Anh em đừng sợ!” Sợ ở đây, là: sợ cho sự an toàn của cải. Sợ, cả khi mọi chuyện đang yên ổn. Với cộng đoàn tình thương, an toàn của cải không là vấn đề chính, để ta lo. Mà, chỉ nên lo lắng cho nhau; san sẻ những gì mình có, chuyển cho người thiếu thốn, đang cần.
Bài đọc hôm nay, đặt trọng tâm vào việc thiết yếu: những chuyện có thể xảy đến với ta trong khi ta sống và thực hiện Lời Chúa, một cách nghiêm chỉnh. Như đã biết, bước theo chân Chúa nên hiểu cho đúng, (chứ không chỉ là chuyện lo đi nhà thờ/đọc kinh), mà là gieo rắc và truyền giao thông điệp thương yêu, công bình và an lạc bằng lời nói và hành động. Thông điệp này, đã và đang bị nhiều người coi như một mối đe doạ, cần phản bác.
Điều ảo tưởng lâu nay ta vẫn có, là: người theo Chúa cách trọn vẹn, chắc chắn là những người luôn được mọi kẻ yêu thương – thán phục. Nhưng, không phải thế. Người theo Chúa, thường hay bị ghen ghét, vì Danh Ngài. Thật ra, là Kitô hữu đích thực, không hẳn là kẻ được mọi người yêu thương tìm đến, thán phục. Nhưng, chính là người, bằng vào lời nói và gương sáng, biết rao truyền thị kiến sống trọn vẹn, điều Chúa khuyên.
Dù luôn được Chúa nhủ khuyên, nhưng Kitô hữu chúng ta lại hay mâu thuẫn khi so sánh cuộc đời mình với cuộc sống nhởn nhơ ngoài đời. Sống điều Chúa khuyên, dù rằng hiền lành, tử tế, yên hàn,bất bạo động, chẳng đụng chạm đến ai. Thế mà, vẫn bị người đời coi khinh, ghét bỏ, thậm chí, có vị còn bị đe doạ/ trù dập nguy đến tính mạng, nữa. Trường hợp điển hình như thế, vẫn dẫy đầy nơi lịch sử nhà Đạo.
Dễ thấy nhất, là trường hợp Đức Tổng Giám Mục Oscar Romero bị giết đang khi dâng lễ, ở El Salvador. Sau cái chết của ngài, sáu linh mục đồng hành cũng bị vạ lây và bị giết, lúc nửa đêm. Công việc các ngài làm, chỉ là kêu gọi phải công bình trong đối xử với giới nghèo hèn/bất lực trong xã hội. Điều tệ hại, là: sự dữ cứ xảy ra không chỉ tai Nam Mỹ, mà còn ở nơi khác nữa. Ở nhiều nơi, dân con Đạo Chúa chỉ muốn sống đời Phúc Âm thôi, cũng bị bách hại.
Phúc Âm hôm nay, gợi nhớ Lời Ngài dạy:
“Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt 10:32)
Sống Lời Chúa, ta sẽ được Ngài bảo vệ và giúp đỡ. Được Chúa giúp, ta không còn nguy cơ để luột mất sự sống của chính mình. Bởi, trên thực tế, nhiều người vẫn cứ nhượng bộ chấp nhận sự xấu để được sống thoải mái dễ chịu. Chính vì thế, Ngài đã bảo:
”Anh em đừng sợ những kẻ giết được xác, nhưng không giết được hồn; hãy sợ Đấng có thể diệt cả hồn lẫn xác, trong hoả ngục”. (Mt 10:28).
Quả thật, lo sợ lớn đối với mọi người không là sự chết, nhưng sợ bị lôi cuốn mà phản lại các đặc trưng / đặc điểm lâu nay ta vẫn có, trong cộng đoàn. Sống có đặc trưng/đặc điểm nơi cộng đoàn, là sống biết truyền rao thông điệp của Chúa. Đó là cuộc sống của tiên tri/ngôn sứ. Sống tiên tri, không có nghĩa sống theo kiểu cách của nhà phù thuỷ, biết trước sự việc xảy đến. Sống tiên tri, là đọc được “dấu chỉ thời đại”. Là, biết hướng đi xấu của xã hội đang trên đà đi xuống. Sống tiên tri, là như Winston Churchill thập niên ‘30’, đã dám tự mình chống lại chính sách nhượng bộ, muốn quay sang với Hitler.
Sống tiên tri, là sống vai trò đã diễn tả ở bài đọc một, trong đó ông Giêrêmia lúc ban đầu chẳng muốn làm ngôn sứ. Ông nghĩ, mình không đủ tài năng và tư cách làm theo lời Chúa, cho đến khi Chúa quyết định chọn ông. Và khi ấy, ông chợt nhận ra: vai trò truyền rao thông điệp của Chúa, đã làm, đã làm mất đi nhiều bè bạn, nên ông nói:
“Hãy tố cáo, hãy tố cáo nó đi!
Tất cả bạn bè thân thích đều rình xem con vấp ngã.”
( Ge 20:10).
“Tố cáo và rình xem con vấp ngã”, là cách thức con người ngày nay đã đối xử với Gandhi, Martin Luther King, và nhiều ngôn sứ khác. Tố cáo và rình rập, vẫn dễ làm hơn là chịu nghe theo lời khuyên. Và ngôn sứ đã đã chịu nghe vì biết có Thiên Chúa, có Đấng –Là- Sự- Thật luôn chống đỡ:
“Nhưng Đức Chúa hằng ở bên con,
như dũng tướng vạn năng;
bởi thế, những kẻ bách hại con trượt nhào không sao thắng nỗi.”
(Ge 20:11)
Hội thánh hôm nay, cũng có hai nhóm ngôn sứ. Nhóm đầu, coi như theo đúng ’hiến pháp’ gồm giám mục, linh mục, các nhà thần học và thủ lĩnh tôn giáo, nam lẫn nữ. Vai trò của các vị này là giúp ta sống niềm tin theo đúng tinh thần Phúc Âm, ở đời thuờng. Nhóm thứ hai, là các tiên tri có “đặc sủng “ theo đúng nghĩa của thế giới gian trần. Là những Martin Luther King,những Giám mục Romero thời đại, ta vẫn thấy. Nói chung, ngôn sứ là những vị biết trao tặng đời mình cho những gì mình tin tưởng.
Cùng một chiều hướng, có thể nói không sai rằng: Mẹ Têresa Calcutta đã là ngôn sứ. Mẹ là ngôn sứ không theo nghĩa những gì mẹ nói. Nhưng là theo những gì mẹ làm. Nhất thứ, điều mẹ làm đã nhắc ta nhớ đến kẻ nghèo nhất trong số người nghèo hèn. Và, nhận ra diện mạo Đức Chúa nơi người hèn yếu. Cũng nên biết rằng, tên và tuổi chúng ta đã và đang được sắp vào danh sách các ngôn sứ Đạo Chúa ngay ngày hôm nay. Trong cộng đoàn thân thương của chính mình.
Với Tân Ước, ngôn sứ là quà tặng của Chúa Thánh Linh. Và theo ý nghĩa đích thực của danh xưng, đây chính là “ ơn gọi” rất đặc thù. Tuy nhiên, một số loại hình của vai trò ngôn sứ đã có sẵn nơi mỗi một người chúng ta. Bởi, khi thanh tẩy, ta đã đã được mời gọi làm nhân chứng cho giá trị của Lời Chúa. Nhân chứng, bằng lời nói và bằng gương sáng trước các nghịch cảnh xảy ra ở gia đình, nơi sở làm, ngoài phố chợ và đường đời.
Giả như, ta thấy sống đời con Chúa không khác gì như đời sống của người dưng ở đời thường. Hoặc giả như cộng đoàn ta sinh hoạt chẳng để lại dấu ấn nào với xã hội quanh ta thì lúc ấy ta cũng nên tự kiểm, coi xem lối sống của ta có phản ánh điều Phúc Âm vẫn đòi hỏi không. Bởi, chúng ta tề tựu quanh nhau mỗi tuần để dâng tiến nguyện cầu thôi, chưa đủ. Cuộc sống của ta phải làm chứng cho sự công bình, phẩm cách, chính trực, tinh thần phục vụ, san sẻ nguồn lợi tức, bảo vệ kẻ hèn yếu, bị bỏ rơi, mới đúng nghĩa.
Sống làm chứng, có thể gây nhiều phản đối/chống trả từ phía bạn bè/người quen. Sống, với chủ trương ‘lương thiện’ hơn bon chen, ‘phục vụ’ hơn thao túng, ‘công minh’ hơn ngạo mạn. ‘Bảo bọc, giùm giúp’ khách lạ người dưng hơn cứng ngắc với luật lệ, vẫn là, những việc khó làm trong cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên, sống chính trực với Đức Kitô, vẫn hơn là o bế mị dân để lôi kéo kẻ yếu về phe ta. Và, trong mọi trường hợp, vẫn cần tin tưởng nơi Chúa và nơi chính mình. Và trên hết, cần thâm tín rằng: phương cách duy nhất làm lợi cho mọi người là Đường Chúa dẫn đi.
Trong tin tưởng vào Đường Chúa dẫn đi, ta chung vui góp giọng cùng lời ca hôm trước:
“ Cho tôi được một lần
Nhìn quê hương đợi sáng
Một lần nhân nghĩa sống lên ngôi
Người người cùng chung vui một lối
Đời thôi không lừa dối
Vì đã yêu thương rồi”
(Bảo Thu- Cho Tôi Được Một Lần)
Đúng thế. Khi, người người cùng chung một lối- lối sống, lối nhìn sự việc – thì đời người sẽ “thôi không lừa dối”, mà là yêu thương. Yêu, như Chúa vẫn dạy. Yêu, khi “chia nhau nụ cười”, và “ an ủi lúc khổ đau”. Yêu, bằng tình đằm thắm. Rất thân thương.
Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –
Mai Tá lược dịch.
Video: Yêu Em Dài Lâu – Phương Vy & Lê Hiếu
httpv://www.youtube.com/watch?v=I6ejKtMcrlU
Chuyện Phiệm Đọc Trong Tuần 12 thường niên năm A 25/6/2017
“Em như cơn gió thu bay bay nhè nhẹ,”
Đưa anh đi tìm vần thơ.
Qua công viên lá rơi trên con đường về,
Bỗng nhiên nghe lòng đang ước mơ.
“Mơ ôm em trong tay đêm mưa thì thào,
Cho bão tố về làm chiêm bao.
Mơ yêu em thiết tha như yêu lần đầu.”
Đức Huy – Yêu Em Dài Lâu)
(Thư thứ I Phêrô 2: 10)
Yêu như thế mà đã gọi là “dài lâu” sao? Phải chăng dài và lâu bao gồm các chữ/nghĩa rất như sau:
“Yêu em cho đến khi con tim ngừng đập,
Cho thiên thu là một giây.
Yêu em cho đến khi ong thôi làm mật,
Đến khi loài chim quên lối bay.
Khi ôm em trong tay anh nghe ngọt ngào,
Nếu đời là một giấc chiêm bao.
Xin yêu em thiết tha như yêu lần đầu,
Anh muốn yêu em dài lâu.
Anh muốn yêu em dài lâu.
Anh muốn yêu em đậm sâu.
Anh đã thương em từ lâu.”
(Đức Huy – bđd)
Vâng. Có thể là như thế. Cũng có thể, là khác thế. Như hoặc khác, cũng chỉ là những đoán già, đoán non của người nghệ sĩ từng viết lên nhạc-bản. Chứ, làm sao biết được tâm-tình của người trong cuộc, có mỗi cuộc tình trăm năm!
Riêng, “người trong cuộc” ở nhà Đạo, lại có những tâm-tình riêng-lẻ của thứ tình thương-yêu gọi được là “dài lâu”, đâu đã chắc. Có chắc hay không, nay xin mời bạn và mời tôi, ta cứ thử đi một vòng tra-khảo ở miệt dưới rất Triết/thần đầy ý-nghĩa.
Trước nhất, là những ý/lời đầy ý-nghĩa như sau:
“Bên cạnh chuyện lưu-đày Babylon, kinh-nghiệm về lưu-đày và trở về từ chốn ấy là biến-cố lịch-sử khá quan-trọng trong việc định-hình cuộc sống cũng như và óc tưởng-tượng của người Do-thái-giáo, vào độ trước. Biến-cố này, tự nó đã nung-nấu ý-thức của họ và đối với họ, lại đã trở nên ẩn-dụ về tương-quan họ có với Thiên-Chúa…
Ngày nay, ta đang sống ở vào thế-kỷ mà trong đó có đến cả triệu người trải qua nhiều lưu-đày và những người tị-nạn như thế cũng biết thế nào là kinh-nghiệm ban đầu. Và số người còn lại trong chúng ta cũng là hoa trái tốt lành để tưởng-tượng ra thế nào là cuộc sống lưu-đày tại chỗ. Đó là kinh-nghiệm về một tách-lìa khỏi những người và những thứ mình thân-thương, trân-trọng như người nhà.
Thông thường, sự/việc đó bao hàm tình-trạng mất hết uy-lực và bị đẩy ra bên lề xã-hội, thông thường vẫn gặp sự o-ép/bức-bách làm nạn-nhân của nhiều thứ, nhiều sự. Tựa hồ như ẩn-dụ của sự lệ-thuộc đầy bó buộc ở câu truyện lưu-đày, sự/việc đây, lại cũng có nhiều tầm-kích về tâm-lý cũng như văn-hoá/chính-trị…
Trong cuộc sống của mỗi người, ta có kinh-nghiệm rất nhiều về sự lưu-đày tựa hồ như bất-hoà, ghẻ lạnh, hoặc tha-hoá, lép kẹp, mất nối-kết với trung-tâm sinh-lực đầy ý-nghĩa, để rồi một ngày nào đó trở-thành giống như người khác không còn là chính mình và chẳng có gì là thú-vị trong đời người hết. Ta cứ nóng lòng có lại được điều gì đó mà ta cứ tưởng nhớ, rất mơ hồ.
Thành thử, cuộc sống lưu-đày lại có ý-nghĩa sâu-sắc về hiện-hữu. Là, sống xa cách Sion chốn/miền ở đó Thiên-Chúa luôn hiện-diện. Quả thực, lưu-đày là trọng-tâm của biểu-tượng về câu truyện Địa-Đàng trong sách Sáng Thế, Địa-đàng và Thiên-đàng, là nơi chốn có Thiên-Chúa hiện-diện, nhưng ta lại sống ở bên ngoài, phía Đông vườn Địa đàng này.
Giả như vấn-đề ta gặp phải là lưu-đầy, vậy thì đâu là giải-pháp cho vấn-đề ấy? Dĩ nhiên, giải-pháp ở đây là hành-trình trở về. Việc kêu mời ta trở về nghe ra như xuyên-suốt nửa cuốn Ysayah do vị ngôn-sứ với tên gọi không mấy quen thuộc nhưng lời lẽ của sách lại đã trở-thành cao quí trong toàn cuốn Thánh Kinh Do-thái-giáo…
Cuối cùng thì, giống hệt như truyện xuất-hành, chuyện lưu-đày và trở-về vùng Đất hứa là câu truyện về một hành-trình. Hành-trình ấy, diễn-bày hình-ảnh cuộc sống đạo-đức như một hành-trình về chốn miền có Thiên-Chúa hiện-diện. Đó là cuộc về lại nhà, một hành-trình trở về. Và, giống như truyện xuất-hành về Đất hứa, câu truyện ở đây nói về Thiên-Chúa luôn giúp giùm /đùm-bọc những những khởi công hành-trình ấy.” (X. Marcus J. Borg, Images of Jesus and Images of the Christian Life, Meeting Jesus Again For The First Time, HarperCollins 1997, tr. 119-121)
Nói như thế, cũng như thể nói một cách rất chắc-nịch. Chắc, đến độ ta không cần phải biện-luận dông dài chi cho kinh hãi lại cũng rất sợ. Biện và luận hôm nay, là những suy-tư/phát-biểu nhiềy ý-kiến/tư-tưởng nghe quen quen. Những ý-kiến và tư-tưởng, đại để bảo rằng:
“Tất cả là quà tặng, từ Thiên-Chúa. Quà tặng Ngài phú/ban, vẫn đổ tràn xuống với mọi người. Quà ấy, là tình thương yêu trìu mến xuất từ Thiên Chúa. Tất cả những gì mà mọi người cho là mình sở hữu, tất cả những gì mình làm hoặc suy nghĩ, nhất nhất đều là quà tặng.
Chính đó là điều mà mọi người lâu nay vẫn tuyên tín. Vẫn tin vào một Thiên Chúa, Đấng tạo thành vạn vật. Đấng ban cho ta hết mọi thứ, như quà tặng không, biếu không. Và hiểu rằng, ý nghĩa quà tặng sự sống Chúa trao ban, làm cho cuộc sống của ta nên đáng sống. Nhưng oái oăm thay, đôi lúc ta cứ muốn độc lập hẳn với Chúa. Cứ suy nghĩ và hành động như thể mọi sự là của ta, do ta kiếm ra chứ chẳng phải của ai cho, hết.
Bởi thế nên, lắm lúc ta cứ hành xử như mình là chủ-nhân-ông đích thật mọi sự vật. Chủ, mọi sự vật cũng như tài sản mình đang nắm giữ. Rồi từ đó, lại có cảm giác cứ trách móc cho rằng Thiên Chúa không tạo dựng nên mọi sự cho ta sử dụng, ngay từ đầu. Sau các cơn địa chấn với sóng thần gây kinh hoàng ở đây đó, nhiều người xem ra mới mở mắt, biết rằng: những gì mình lâu nay sở hữu, thật sự không phải là của mình, do mình kiếm ra. Mà là, do Chúa tặng để mình tạm thời sử dụng, thôi. Sử dụng, theo cung cách rất độ lượng ngõ hầu mình có thể giùm giúp người khác, đang cần thiết hơn.
Quà tặng lớn nhất trong đời mọi người, chính là sự sống. Tựa hồ như giòng chảy ở trên sông. Như mạch suối ngầm trồi lên từ lòng đất. Như Chúa từng quả quyết: “Nước Ta ban, sẽ nên mạch suối trong đó có nước vọt, đem lại sự sống đời đời.” (Ga 4: 14)
Bởi thế nên, hãy dừng lại! Đừng hành xử như người ai oán, sầu thảm, chẳng biết ơn. Hãy ngưng trách móc người đời không còn nhớ đến mình. Không nhớ, để giúp tôi sung sướng, hạnh phúc. Trái lại, hãy trở thành động lực sinh động, trong thiên nhiên, giống thiên nhiên. Và, hãy làm chút gì đó cho cuộc sống. Như, rao truyền niềm vui cho mọi người, ở mọi nơi. Chứ không chỉ tập trung vào chính mình. Hoặc, chỉ gia đình mình, mà thôi.
Sống, và cảm nhận rằng sự sống là quà tặng, tức: sống biết ơn. Sống như thế, không cần đến đền thờ, nguyện đường hay chùa chiền cho nhiều mà làm gì. Điều chính yếu, là biết nói lời cảm tạ, với mọi người. Ngừng suy nghĩ, nhưng đừng ngưng cảm tạ. Trái lại, hãy cùng nhau cảm nhận. Cùng biết ơn nhau.
Đó, là những điều cần suy tư, chiêm niệm. Đừng nên coi mọi chuyện như của cho-không/biếu-không, hoặc từ trời rơi xuống. Nhưng, cứ nhận quà tặng/ân huệ với lòng cảm kích, biết ơn. Và, tự hỏi: đã lâu chưa ngày mình nói lời “cảm tạ” người nào đó? Lâu rồi chứ, giây phút mà ai đó vẫn cảm ơn mình mãi.”(Xem thêm Lm Kevin Kevin O’Shea CSsR, Lời Chúa Sẻ San năm A, nxb Tôn giáo 2013 tr.87-88)
Những ý và tưởng ở nhà Đạo, vốn dĩ xuất phát từ lời người xưa từng nói về Chúa, như sau:
“Anh chị em là giống nòi được tuyển chọn,
là hàng tư tế vương giả,
là dân thánh,
dân riêng của Thiên Chúa,
để loan truyền những kỳ công của Ngài,
Đấng đã gọi anh chị em ra khỏi miền u tối,
vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền.
Xưa anh chị em chưa phải là một dân,
nay anh chị em đã là Dân của Thiên-Chúa;
xưa anh chị em chưa được hưởng lòng thương xót,
nay anh chị em đã được xót thương.”
(Thư thứ I Phêrô 2: 10)
“Anh chị em, đã được xót thương”, “đã là Dân (con) của Thiên-Chúa”, hẳn đó là khẳng-định tuyệt vời, ở mọi thời. Khẳng-định trên đây, là từ đấng thánh hiền-lành từ nhà Đạo. Thánh-hiền đây, vẫn là những vị sống trong đời có rất nhiều tình-tự thân-thương/yêu mến chẳng phải vì “Anh chị em đã là Dân (con) của Đức Chúa”. Mà, vì “anh chị em đã được Chúa xót thương”.
Chúa xót thương, Ngài vẫn làm thế với mọi người và từ con người. Chúa xót thương đây, là “Đấng đã gọi anh chị em ra khỏi miền u-tối” của sợ hãi, ghét ghen và đố kỵ. Để rồi đưa anh chị em “đi vào chốn miền đầy ánh-sáng diệu-huyền” , là Nước Trời ở đây đó, chốn gian-trần.
Khẳng-định ở trên, còn được người-thường-ở-trong-đời đề ra bằng giòng chảy truyện kể, nhè nhẹ, như sau:
“Truyện, là những lời bâng quơ giữa hai người bạn gái, lâu ngày ít gặp:
-Này đằng ấy. Chuyện cậu và chàng trai mới đi tới đâu rồi?
-Chia tay rồi!
-Ơ kìa! Sao lại thế? Hôm qua còn thấy hai người rủ nhau đi xem phim buổi tối cơ mà?
-Ừ, có xem thật đấy, nhưng lúc rạp hát mất điện, chân anh ta cứ là quờ quạng, thật đến chán!
-Thế bộ, anh chàng này sàm-sỡ lắm hả?
-Được thế thì đã phúc. Đằng này, chân anh ấy lại cứ quờ quạng tìm chiếc dép cũ vẫn chưa bỏ!”
Thế đấy, là đời người nhiều lúc nghĩ đến cũng bật cười. Nhưng, truyện đời người đi Đạo nhiều lúc cũng khang khác. Khác rất nhiều, như ở truyện kể không nhẹ, sau đây:
“Buôn bán là một nghệ thuật, người bán hàng cũng là một nghệ sĩ. Nói vui chứ thật ra không có sai, làm cái ngành nghề gì cũng vậy, đặt cái tâm cho đúng chính là làm đẹp cho đời.
Những người bán ớt sẽ luôn gặp phải câu hỏi như thế này, “ớt của anh (chị) có cay không?”, gặp câu hỏi như thế thì phải trả lời sao đây nhỉ?
Nếu nói cay, những người sợ cay, họ sẽ bỏ đi ngay; còn nếu bảo không cay, cũng có thể khách hàng lại là người thích ăn cay, như vậy việc làm ăn lại gặp rủi ro.
Một ngày kia, không có việc gì làm, tôi đến đứng bên cạnh chiếc xe ba gác của một chị bán ớt, thử xem chị ấy giải quyết hai vấn đề hoàn toàn tương phản này như thế nào. Nhân lúc không có người đến mua, tôi cố làm ra vẻ thông minh mà nói với chị ấy rằng:
-Chị hãy chia số ớt này thành hai đống đi, nếu có người muốn mua cay thì cho họ đống này, còn nếu không, thì cho họ đống kia. Chị bán ớt cười với tôi, dịu dàng nói:
-Không cần đâu!
Đang nói thì một người đến mua, và điều thần kỳ đã xảy ra, rốt cuộc bà chủ đã nói thế nào nhỉ? Hãy mau xem tiếp….. Quả nhiên chính là hỏi câu đó:
-Ớt của chị có cay không?
Chị bán ớt rất chắc chắn mà bảo khách hàng rằng:
-Màu đậm thì cay, còn nhạt thì không cay!
Người mua ngỡ là thật, chọn xong liền trả tiền, vui lòng mà đi. Chẳng mấy chốc, những quả ớt có màu nhạt chẳng còn lại bao nhiêu. Lại có khách hàng đến, vẫn là câu hỏi đó:
-Ớt của chị có cay không?
Chị bán ớt nhìn vào số ớt của mình một cái, liền mở miệng nói ….. Lần này bà chủ trả lời:
-Ớt dài thì cay, ớt ngắn không cay!
Quả nhiên, nguời mua liền dựa theo tiêu chuẩn phân loại của chị mà bắt đầu chọn lựa. Kết quả lần này chính là, ớt dài rất nhanh đã hết sạch. Nhìn những quả ớt vừa ngắn vừa đậm màu còn sót lại, trong lòng tôi nghĩ:
Lần này xem chị còn nói thế nào đây?
Tuy thế, khi một khách hàng khác hỏi:
-Ớt có cay không?
Chị bán ớt hoàn toàn tự tin mà trả lời rằng:
-Vỏ cứng thì cay, vỏ mềm không cay!
Tôi thầm bội phục, không phải vậy sao, bị mặt trời phơi cả nửa ngày trời, quả thực có rất nhiều quả ớt vì mất nước mà trở nêm mềm nhũn đi. Chị bán ớt bán xong số ớt của mình, trước khi đi, chị nói với tôi rằng:
-Cách mà cậu nói đó, thật ra những người bán ớt chúng tôi đều biết cả, còn cách của tôi thì chỉ có mình tôi biết thôi.
Thật là thần kỳ! Thật ra bạn có bao giờ nghĩ rằng, những gì bạn bán đi không phải là hàng hóa, mà lại chính là …….
Đối với những khách hàng lạ, điều cần bán đi chính là sự lễ phép.
Nếu bạn muốn bán đi những sản phẩm của mình, có phải bạn thường hay nói với người tiêu dùng rằng sản phẩm của mình tốt như thế nào, sản phẩm của bạn có gì khác với những thứ khác, và sản phẩm của bạn rẻ như thế nào. Nếu như bạn bán hàng đều là dựa theo những cách này, thì bạn sẽ phát hiện rằng nhất định mình sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn.
“Công ty bán hàng hóa như thế nào, thường thường so với việc công ty bán những sản phẩm gì cũng quan trọng như nhau”
Đừng vừa mới bắt đầu đã vội vàng bán sản phẩm, mà trước hết cần phải hỏi rõ vấn đề, nghe xem tiềm ẩn bên trong khách hàng cần những gì. Một khi biết được những yêu cầu tiềm ẩn bên trong của khách hàng, vậy thì việc bán hàng sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều.” (Tiểu Thiện, dịch từ cmoney.tw)
Thủ-thuật mua/bán ở đời cũng tương-tự như tình-huống giao-dịch với nhau trong yêu-thương, hoặc hận-thù cũng thế thôi. Hận thù đằng đằng, có khi cả với người đồng Đạo, đồng-hương hay đồng thuyền, cũng đều thế. Tình-tự khi giao-dịch, có khi lại thấy khó khăn cứ xảy đến ngay sau lúc mình vừa dự thánh-lễ xong, hoặc vừa nói xong lời âu-yếm với ai đó.
Tình-huống yêu-thương ở đời người và/hoặc với người đời, nhiều lúc cũng khác-biệt, tuỳ người, tuỳ góc cạnh mình thủ-giữ. Nghĩa là, có lúc nắng ráo hoặc gặp đợt mưa thưa thớt hoặc giữa trưa hè, nóng bỏng, rất yếu xìu.
Tình-huống thương-yêu trong giao-dịch còn tuỳ thuộc góc cạnh và/hoặc tư-thế mình đang chọn-lựa một dấn thân. Nói tóm lại, cũng thay-đổi như lòng người vào nhiều lúc.
Tình-huống đối-xử với mỗi người và muôn người cũng giống như lời ca ở nhạc, ta còn hát, rất như sau:
“Yêu em cho đến khi con tim ngừng đập,
Cho thiên thu là một giây.
Yêu em cho đến khi ong thôi làm mật,
Đến khi loài chim quên lối bay.
Khi ôm em trong tay anh nghe ngọt ngào,
Nếu đời là một giấc chiêm bao.
Xin yêu em thiết tha như yêu lần đầu,
Anh muốn yêu em dài lâu.
Anh muốn yêu em dài lâu.
Anh muốn yêu em đậm sâu.
Anh đã thương em từ lâu.”
(Đức Huy – bđd)
Trần Ngọc Mười Hai
Cũng có những lúc
Lực bất tòng tâm,
Cả trong yêu-thương, hờn giận
Đều là giữa Đạo làm người
ở trong đời.
Những hành vi lừa đảo và vô nhân tính đối với Nguyễn Ngọc Như Quỳnh
Nguyễn Tuyết Lan – Trong suốt hơn 8 tháng qua, cứ mỗi 2 tuần là tôi lặn lội đến trại giam công an tỉnh Khánh Hòa để gửi quần áo và thực phẩm, cũng như hy vọng được gặp con tôi – là người cho đến giờ phút này trên nguyên tắc pháp lý vẫn là một công dân vô tội khi chưa có bản án xét xử của tòa. Trong suốt hơn 8 tháng, tôi vẫn đinh ninh là con tôi vẫn bị giam ở đó, an ninh Khánh Hòa vẫn thông báo là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đang bị giam cầm tại Nha Trang.
Tuy nhiên, sự thật lại rất phũ phàng và thể hiện bản chất lừa đảo của những người đã bắt giam con tôi.
Trong lần được tiếp xúc với luật sư Nguyễn Khả Thành, sau 8 tháng bị cách ly với gia đình và thế giới bên ngoài, con tôi cho luật sư biết:
Quỳnh chỉ bị giam giữ ở Nha trang một ngày, sau đó đã bị chuyển về Cam Lâm – Cam Ranh, là một trại tù có điều kiện rất khắc nghiệt. Quỳnh chỉ đưa về trại tạm giam công an Khánh Hòa vào ngày 07/05/2017.
Như vậy Quỳnh, con tôi, đã không ở trại Tam giam Công an tỉnh Khánh Hòa như cơ quan An ninh – Điều tra tỉnh Khánh Hòa đưa thông báo cho tôi.
Trong suốt 8 tháng qua tôi đã bị lừa khi lặn lội đến thăm con tại 1 trại tù mà con tôi không có ở đó. Mỗi lần đến nhà tù công an Khánh Hòa, tôi gửi quần áo và thực phẩm cho con mình mà cứ lo lắng không biết có đến tay con mình không, tôi luôn hỏi những người công an: Tại sao ai gửi thực phẩm vào cho người thân họ đều được nhận lại giấy gửi thực phẩm ngay, còn tôi hai tuần sau tôi mới được nhận? Vậy khi nhận đồ họ có chuyển cho con tôi trong ngày không hay thực phẩm đến tay con tôi đã bị ôi thiu? Bây giờ thì tôi đã biết được sự thật. Một sự thật vô nhân tính và lừa đảo.
Hôm nay, ngày 22 tháng 6, sau cuộc gặp với luật sư Nguyễn Khả Thành, con tôi cũng đã được gặp các luật sư Võ An Đôn vào buổi sáng và luật sư Nguyễn Hà Luân vào buổi chiều. Phải nói đây là kết quả của nhiều tháng ngày vận động tranh đấu sau nhiều tháng con tôi bị cách ly với gia đình và cấm được gặp luật sư.
Cũng như lần gặp luật sư Nguyễn Khả Thành, cuộc nói chuyện xảy ra dưới sự kiểm soát của an ninh ngồi sát bên cạnh, cộng với camera và ghi âm.
Trong lần gặp này các luật sư cho biết tinh thần của Quỳnh vẫn vững vàng, nói chuyện linh hoạt và nắm bắt mọi vấn đề nhanh chóng. Tuy nhiên, khi Quỳnh kể với luật sư Nguyễn Hà Luân là vào ngày sinh nhật của con trai Quỳnh là Gấu thì điều tra viên của công an có cho phép Quỳnh viết thư chúc mừng sinh nhật con trai và hứa sẽ chuyển thư. Luật sư Luân cho biết sự thật là gia đình không nhận được tin tức, thư từ gì của Quỳnh cả.
Quỳnh đã khóc vì uất ức khi biết rõ sự thật này, khi biết rằng mình đã bị lừa và cứ tưởng là bé Gấu đã nhận được thư của mẹ mình.
Thêm một chuyện khác nữa là Công an Khánh Hòa đã kết thúc việc điều tra từ ngày 03/05/2017 đến ngày 30/05/2017 đã chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm Sát tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên sau khi nhận hồ sơ Viện Kiểm sát đã không thông báo cho con tôi và hỏi con tôi có cần hay yêu cầu luật sư không. Đây là chức năng, trách nhiệm của Viện Kiểm sát nhưng họ đã cố tình lờ đi. Rõ ràng là Viện Kiểm sát đã vi phạm tiến trình tố tụng vốn được quy định bởi luật pháp cho chức năng của Viện Kiểm sát.
Từ những gì đã xảy ra, tôi rất lo sợ cho số phận của con tôi trong thời gian bị tạm giam và trong phiên tòa sắp tới vào ngày 29/06/2017. Những người từ thành phần giam cầm, điều tra cho đến những kẻ sẽ xét xử con tôi đều có những hành xử không minh bạch, không tôn trọng sự thật, không tuân thủ những quy định luật pháp. Tôi mong mỏi và kêu gọi mọi người, các đại sứ quán, các phóng viên truyền thông quốc tế hãy đồng hành cùng gia đình chúng tôi và cùng chúng tôi đến tham dự phiên tòa để bảo đảm tính minh bạch trong tiến trình xét xử con tôi, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh – một công dân Việt Nam yêu nước đang bị quy chụp và giam cầm vì những hành động bảo vệ nhân quyền, bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền của đất nước mình.
Xin chân thành cám ơn.
Cựu Chủ tịch nước Khieu Samphan, năm nay 85 tuổi, đọc bản tuyên bố cuối cùng của ông hôm thứ Sáu 23/6 trước tòa án đặc biệt xét xử tội ác Khmer Đỏ ở Campuchia được Liên Hiệp Quốc hậu thuẫn.
Ông Khieu Samphan bị cáo buộc đã phạm các tội ác chống nhân loại và tội diệt chủng.
Ông nói: “Tôi triệt để bác bỏ từ ngữ “sát nhân”. Ông nói “cái ý tưởng về cuộc diệt chủng ở Campuchia” đã được Việt Nam bịa đặt ra để biện minh cho cuộc xâm lăng Campuchia.”
Ông Nuon Chea, 90 tuổi, cánh tay phải của Pol Pot, cũng dối mặt với cùng cáo trạng. Ông không có mặt tại tòa hôm thứ Sáu vì lý do sức khỏe. Thay vào đó, ông theo dõi diễn tiến phiên tòa từ một xà lim.
Hai nhân vật này là những quan chức cao cấp nhất của chế độ Khmer Đỏ hãy còn sống .
Cả hai đều giữ lập trường cho rằng Việt Nam phải chịu trách nhiệm về việc giết hại gần 2 triệu người Campuchia bằng nhiều biện pháp khác nhau, kể cả bỏ đói, tra tấn, lao động tới chết trong các trại lao động cải tạo. Nhiều người khác bị đánh đập tới chết trong những vụ hành quyết tập thể được biết đến sau này dưới tên gọi “những cánh đồng chết.”
Hiện chưa rõ bao giờ thì tòa án đặc biệt mới ra phán quyết trong vụ án này.
Vợ của ông, bà Kiều Oanh xác nhận với Đài Á Châu Tự Do tin này vào khoảng 6 giờ 45 chiều ngày 23 tháng 6:
“Cách đây khoảng 20 phút, công an khu vực tới nhà tôi, gõ cửa và nói là kiểm tra nhân khẩu định kỳ. Khi chúng tôi mở cửa cho anh ta, vài giây sau, không biết từ đâu công an xuất hiện xông ập vào nhà tôi. Họ có một người mang máy quay phim nhưng tôi không cho người này vào, tôi nói là mặc sắc phục thường tôi không cho vào và tôi đuổi ra. Họ nói là mời chồng tôi lên trụ sở công an phường để làm việc. Chúng tôi không đồng ý, chúng tôi nói rằng đâu có cái luật lệ nào mà các anh đến nhà người ta, mời và bắt người ta đi liền như vậy?”
Theo lời bà Kiều Oanh, những người mặc sắc phục bắt ông Hoàng ký vào biên bản nếu không đi, nhưng ông Hoàng từ chối và gọi điện thoại cho luật sư của ông. Tuy nhiên, những cuộc gọi không thành công vì bà Oanh cho biết xe phá sóng được mang đến khu vực nơi ở của gia đình bà.
Bà cho biết ông Phạm Minh Hoàng từ chối không lên trụ sở công an phường và phía công an đã đọc biên bản trục xuất ông Hoàng.
Nội dung của biên bản trục xuất nói rằng ngày mai sẽ trục xuất ông Hoàng từ đồn công an. Bà Kiều Oanh cho biết đã yêu cầu được xem văn bản trục xuất đó, tuy nhiên phía công an từ chối.
“Mình không biết đồn công an nào và ở nơi đâu. Xong rồi họ lôi anh Hoàng đi. Tôi muốn quay phim cũng không được, họ dồn tôi và anh Hoàng tận cuối nhà. Khi lôi anh Hoàng ra ngoài rồi thì họ khoá trái cửa lại, nhốt tôi và con tôi trong nhà.”
Theo lời bà Kiều Oanh, ngay sau đó bà đã gọi điện thoại cho ông Tổng lãnh sự Pháp ở Sài Gòn. Vì không nói được Pháp ngữ nên qua tiếng Anh, bà Kiều Oanh chỉ thông báo được rằng công an đã bắt chồng của bà và sẽ trục xuất chồng bà vào ngày mai tại đồn công an.
Vừa qua ông Phạm Minh Hoàng cho biết được phía Tổng lãnh sự Pháp thông báo về quyết định tước quốc tịch Việt Nam của ông do chủ tịch Trần Đại Quang ký ngày 17 tháng 5.
Sau đó ông Hoàng chính thức nhận được bản sao; ông làm đơn khiếu nại về quyết định đó; cũng như ra thông báo từ bỏ quốc tịch Pháp mà ông có.

Ngôi sao truyền hình người Nhật nổi tiếng vì blog về bệnh ung thư của chính mình, cô Mao Kobayashi, đã qua đời vì bệnh này hôm thứ Năm ở Tokyo, thọ 34 tuổi.
Được giới thiệu trong Mùa 100 Phụ nữ của BBC năm 2016, Mao Kobayashi bị chẩn đoán ung thư năm 2014 và quyết định viết về bệnh này.
Chồng cô, diễn viên kịch kabuki Ebizo Ichikawa, nói trên blog riêng rằng ngày vợ qua đời là ngày anh ‘khóc nhiều nhất trong đời’.
BBC Tiếng Việt giới thiệu lại một số đoạn trong bài đã đăng hôm 21/11/2016 về người phụ nữ này, qua lời kể của chính cô:
“Hai năm trước, khi tôi 32 tuổi, tôi bị chẩn đoán bị ung thư vú. Con gái tôi mới ba tuổi, con trai thì một tuổi. Tôi nghĩ: “Mọi việc sẽ đâu vào đấy vì tôi sẽ trở lại như trước sau khi tôi được điều trị và chữa lành bệnh.”
Nhưng mọi việc không dễ dàng như thế và giờ đây tôi vẫn còn bệnh ung thư trong người.
Tôi dấu bệnh trong suốt thời gian dài. Vì công việc của tôi đòi hỏi xuất hiện trên TV, tôi sợ mọi người biết tôi bị bệnh hay thấy yếu điểm của tôi. Tôi tìm cách tránh bị nhận ra khi tôi trên đường đến khám bác sĩ ở bệnh viện và tôi ngừng giao tiếp với mọi người để không bị phát hiện ra.
Nhưng dù tôi muốn quay trở lại sống như trước khi đổ bệnh, tôi đang dần dần lùi vào bóng tối, và ngày càng xa cách với con người mà tôi muốn trở thành. Sau 20 tháng sống như vậy, bác sĩ điều trị nói với tôi một câu làm cho tôi thay đổi suy nghĩ.

“Đừng núp sau bệnh ung thư”, bác sĩ nói, và lúc đó tôi nhận ra đúng là tôi đã sống như vậy. Tôi đã lấy ung thư làm cái cớ để không còn sống nữa.
Nhưng tôi đã tự trách bản thân và nghĩ mình là “kẻ thất bại” vì không sống bình thường như trước khi bị phát hiện bệnh. Tôi đã núp sau nỗi đau của mình.
Cho đến thời điểm đó, tôi bị ám ảnh là mình phải đảm nhiệm mọi mặt của cuộc sống gia đình, như mẹ tôi vẫn luôn làm. Nhưng khi tôi đổ bệnh, tôi không làm được gì, chứ đừng nói đến làm hệt mọi việc, và cuối cùng, khi tôi phải vào viện, tôi phải xa các con.
Khi tôi buộc phải bỏ hết nỗi ám ảnh trở thành người mẹ hoàn hảo – điều thường làm tôi dằn vặt cả về thể xác và tâm hồn – tôi nhận ra rằng điều đó không đáng những gì tôi phải hy sinh.
Gia đình tôi – dù tôi không nấu ăn được cho họ hay đưa đón con ở nhà trẻ – vẫn chấp nhận tôi, tin vào tôi và yêu thương tôi như một người mẹ và người vợ, như trước giờ họ vẫn luôn như vậy.
Vì vậy tôi quyết định bước ra ánh sáng và viết một blog về cuộc chiến của tôi với bệnh ung thư, và khi tôi làm điều đó, nhiều người đã cảm thông với tôi và cầu nguyện cho tôi.
Và họ kể với tôi, qua những lời bình luận, về kinh nghiệm sống của họ, về việc họ đã chống chọi và vượt qua khó khăn của mình thế nào. Thì ra cái thế giới mà tôi từng sợ hãi lại thật là ấm áp và đầy tình thương yêu. Giờ đây tôi đã kết nối với hơn một triệu độc giả.
Nếu tôi qua đời ngay lúc này, mọi người sẽ nghĩ gì? “Tội nghiệp, cô ấy mới có 34 tuổi”? “Thật là tiếc, cô ấy để lại hai con nhỏ”?
Tôi không muốn mọi người nghĩ về tôi như thế, vì bệnh tật của tôi không phải là điều định nghĩa cuộc sống của tôi.
Cuộc sống của tôi phong phú và nhiều màu sắc – tôi đã thực hiện được nhiều ước mơ, có khi phải vất vả chống chọi với đời, và tôi đã gặp tình yêu của đời mình. Tôi đã may mắn được trời cho hai đứa con. Gia đình tôi yêu tôi và tôi rất yêu họ.
Tôi đã quyết định không để phí quỹ thời gian còn lại bị chi phối bởi bệnh tật. Tôi sẽ trở thành người tôi muốn.”
Bệnh Mất trí nhớ: Alzheimer & Dementia
Có 2 loại bệnh mất trí nhớ: Alzheimer, Dementia
Loại nặng là Alzheimer. Hoàn toàn mất hẳn trí nhớ, như trường hợp Tổng Thống Reagan (kéo dài 10 năm mới chết).

Loại nhẹ gọi là Dementia lúc nhớ lúc quên, như trường hợp nhà Bác Học Albert Einstein.
Cho tới bây giờ khoa học cũng vẫn chưa tìm ra phương pháp phòng ngừa hay chữa trị. Chỉ biết khi trời kêu ai nấy dạ.
Các bác sĩ thì khuyên bắt đầu óc làm việc chút chút mỗi ngày, cũng là một cách tập thể dục cho cái đầu (não) của mình vậy thôi.
Đọc sách, viết bài, viết thư… cũng là một cách tập thể dục đầu. Tức là bắt cái não của mình không được “nhàn cư vi bất thiện” rảnh quá rồi nghĩ chuyện linh tinh than mây khóc gió.
Hoặc như Mỹ nói “use it or lose it”
Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài, cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi.
Không ảnh hưởng tới physical, vì chỉ có não không còn làm việc, chứ tim gan phèo phổi vẫn bình thường. Bệnh nhân vẫn có thể sống rất lâu, nếu không muốn nói là thọ.
Không tổn thương về thể chất (của bệnh nhân), nhưng tổn thương rất nặng về tinh thần cho người chăm sóc.
Biết bao câu chuyện não lòng khi có người thân bị bệnh mất trí. Nhất là khi người ấy lại là ông bà cha mẹ của mình.
Trong các triệu chứng của bệnh mất trí nhớ nhẹ Dementia (lúc khởi đầu) có một triệu chứng đã làm tổn thương tới tình cảm gia đình. Đó là người bệnh lúc nào cũng nghi ngờ bị mất cắp tiền bạc hay nữ trang của mình.
Họ có thể nói (y như thật) người này người kia đã lấy cắp của họ. Nếu chỉ có một người chăm sóc người bệnh (ông bà cha mẹ), thì ráng giữ bình tĩnh bỏ ngoài tai, coi như không chấp. Nhưng khổ nỗi vì cuộc sống khó khăn, rất nhiều người ở VN, sau khi lập gia đình vẫn phải ở chung theo kiểu ngũ đại đồng đường. Cháu dâu con dâu, cháu rể con rể là người không cùng máu mủ hay bị hàm oan.
Có một điều không hiểu nổi, đó là họ có thể không nhận được tất cả mọi người. Nhưng bà mẹ chồng vẫn biết đây là thằng con yêu quí của mình. Bà đợi con đi làm về, để than thở bị bỏ đói cả ngày. Còn ai ở nhà cả ngày với bà, ngoài người vợ của mình, tức là con dâu của bà. Oan Thị Kính làm sao giải bày, nuốt bồ hòn làm ngọt. Nếu gặp người chồng vũ phu không có từ tâm hiểu biết, thì chuyện gì sẽ xảy ra?
Từ đó xảy ra biết bao thảm cảnh gia đình, từ xô xát cãi vã, có khi đưa đến chia tay.
Ngoại trừ đổ thừa bị mất đồ, không nhớ đã ăn cơm hay chưa. Những người bị Alzheimer, dù không còn minh mẫn, nhưng họ vẫn có thể nhận ra những người vô cùng đặc biệt với họ. Bà Nancy bảo rằng ông Tổng Thống Reagan quên hết tất cả mọi người, chỉ còn nhớ duy nhất một mình bà. Ít ra cũng còn có một người để cho ông nghe lời.
Căn bệnh mất trí còn nguy hiểm hơn cả bệnh điên. Vì bệnh điên tuy vậy vẫn có thuốc chữa hay chế ngự. Khi người điên nổi cơn người ta cho uống thuốc, cơn điên sẽ bị chế ngự. Sau đó người ta cho chạy điện vô não. Sau một thời gian thì não của người bệnh trở lại bình thường. Đó là do não bị xáo trộn vì một nguyên nhân gì đó, chứ không có hư hại. Trái lại ở bệnh Alzheimer và bệnh Dementia não đã bị thoái hóa, bị hư hại. Đó là lý do tại sao chưa có cách phòng ngừa và chữa trị.
Chăm sóc cho người bệnh lãng trí là một điều vô cùng khó khăn.
Một con vật bình thường như con chó con mèo, dù không nói được, nhưng chúng vẫn nhận ra và nghe lời người nuôi dưỡng nó. Bởi vì chúng vẫn còn bộ não. Trong khi người bị lãng trí, chúng ta sẽ cảm thấy đau lòng khi một cụ già bị nhốt trong chuồng, hay bị xích tay xích chân.
Những hình ảnh đó không thể dùng cho con người. Nhưng chúng ta phải làm sao, khi người bị lãng trí gây ra đủ thứ vấn nạn, làm đảo lộn cuộc sống của những người trong nhà. Giữa đạo đức và hạnh phúc, chúng ta sẽ chọn bên nào.
Chỉ có thánh hay bồ tát mới giữ cho mình khỏi nổi cơn điên khi bị buộc tội oan ức. Cũng chỉ có thánh mới giữ cho mình được bình tĩnh, khi mỗi ngày thấy đủ thứ xáo trộn xảy ra trong căn nhà của mình.
Ông bà cha mẹ là những người ta phải tương kính theo đạo làm con.
Nhưng khi làm sao giữ được vẹn toàn, khi ông bà cha mẹ bị mất trí. Một bệnh nhân trong thân xác của người trưởng thượng. Có nhiều cô con dâu đã phải gào lên nói dối như cuội, khi nói về bà mẹ chồng. Hoặc khi không còn bình tĩnh họ có thể buộc tội điên điên khùng khùng. Thật tình họ không muốn mang tiếng hỗn láo, chẳng qua cơn giun xéo mãi cũng quằn! Khó có ai giữ cho mình sống trọn đạo làm con.
Bản thân tôi có cha mẹ bị Dementia, nghĩa là những gì các cụ nói cần phải xét lại, thế mà cũng vẫn bị lừa đều đều. Lần nào cũng vì sốt ruột khi nghe bố gọi với giọng thều thào “có gì ăn không, bố đói quá”. Lúc ông đang ở trong rehab gần nhà, cổ tay luôn luôn đeo một cái vòng có ghi số điện thoại của tôi, để bất kỳ có chuyện gì xảy ra, ai cũng có thể gọi ngay cho con cháu.
Hôm đó bố tôi ra dấu cho có người giúp. Đầu tiên một giọng nữ gọi, bảo ông muốn nói chuyện với cô. Nghe bố nói muốn ăn cháo (kiểu VN), dạ dạ thưa thưa, cuống quýt đi hâm cháo. Chưa được 10 phút, lại nghe điện thoại gọi, lần này là giọng nam, lại dạ dạ thưa thưa con mang vào ngay. Chạy hộc tốc tới (rehab chỉ cách nhà có 10 phút), tôi chưng hửng, vì bố tôi đang ngồi trước mặt mâm cơm của nhà thương, còn y nguyên.
Không hiểu tại sao người bị lãng trí, lại “thông minh” đến thế. Không biết tiếng Anh, nhưng bố tôi biết ngoắc một cô y tá nhờ gọi dùm. Sau đó lại nhờ một người y tá khác (đàn ông) gọi tiếp. Nói chuyện bằng tiếng Việt nên họ không hiểu mình nói gì. Từ đó có kinh nghiệm, tôi không quýnh quáng, mà hỏi lại caregiver. Tuy vậy cũng vẫn chạy vào thăm, nếu không ông cụ sẽ giận hờn bỏ ăn.
Người ta nói khi già, người ta sẽ trở thành con nít (chướng). Họ sẽ bướng bỉnh khó chiều, nếu thành con nít ngoan thì đâu có chuyện gì xảy ra.
Một triệu chứng kinh khủng cho người chăm sóc người bị mất trí, đó là họ không còn phân biệt được đúng sai, họ có thể ăn ngay phân của họ, nghĩa là chúng ta không thể rời mắt khỏi họ.
Điều này đã làm đau lòng con cái vô cùng.
Có nhiều gia đình khi đi làm, họ phải khoá cầu dao điện, nếu nấu bằng bếp điện. Vì các cụ già khi muốn ăn bánh mì, họ đút luôn cả ổ bánh vào lò nướng, vẫn còn giấy gói và dây thun cột. Có người còn tinh nghịch đốt cả thảm lót nhà.
Nói chung là khi trong nhà có người bị bệnh mất trí, thì ngay cả người chăm sóc cũng mệt nhoài, vì mắt phải luôn luôn ngó chừng. Đôi khi ngay cả người lành cũng không ngờ được những phản ứng bất thường của bệnh nhân.
Bà Nancy vợ của Tổng Thống Reagan chăm sóc ông bị bệnh Alzheimer (nặng) suốt 10 năm trời. Không thể dùng một chữ nào khác hơn chữ “ độc ác” để diễn tả bệnh này. Thông minh hóm hỉnh, tài giỏi, ăn mặc luôn luôn lịch sự. Tất cả không còn nữa, bà Nancy chẳng còn cho ai nhìn thấy ông trong bộ dạng thê thảm thiểu não, quần áo xộc xệch, bộ mặt ngây ngô, không còn ra hình dáng của một chính khách được ngưỡng mộ ngày nào. Thôi thì hãy để mọi người coi như ông đã chết.
Biết bao câu chuyện đau lòng của người thân, khi có ông bà cha mẹ bị bệnh mất trí nhớ. Dù cho bạn có thông minh như nhà Bác Học Albert Einstein cũng vẫn mắc bệnh như thường. Dù cho bạn có học cao hay giàu có đến đâu, bạn cũng vẫn nghẹn ngào khi thấy người thân yêu của mình tàn tạ hay có những hành động làm đau nhói con tim. Điều này có thể hiểu được tại sao có nhiều người bình thường đã đem nhốt người bệnh vào những cái cũi như cũi chó. Họ quá nghèo khổ, phải lo bươn chải cho miếng cơm manh áo.
Họ phải làm liều, dù thật sự trong lòng họ không muốn. Gặp thời thế thế thời phải thế. Cái khó bó cái khôn. Ở trong chăn mới biết chăn có rận.
Một cô gái thượng (ở VN) bị xích trong rừng vì mất trí cả mấy năm trời, cho tới khi được một Linh Mục giải cứu mang về nhà thờ.
Không thể nào kể siết về những hoàn cảnh thương tâm của những người bị căn bệnh độc ác này. Hành hạ bệnh nhân thì ít (vì họ không còn nhận thức), nhưng hành hạ gia đình người bệnh thì nhiều.
Cách đây 20 năm, có một thanh niên ở phía Đông Bắc Mỹ, đã bỏ cha già bị bệnh mất trí vào lò sưởi đốt. Vì anh ta là con một, lương không trả nổi cho nursing home (hạng bét 200dollar/ ngày).
Người không mất trí chăm sóc cho người bệnh, cũng mất trí luôn, đó là trường hợp của anh này. Những khó khăn đã dồn họ đến chân tường tuyệt vọng.
Chúng tôi đã nhiều lần dặn dò con cháu, nếu bố mẹ bị bệnh lãng trí, cứ mạnh dạn đưa vào nursing home, đừng lo phiền áy náy. Vì lúc này bố mẹ chỉ còn kéo dài cuộc sống trong vô thức. Không còn biểu lộ được tình cảm với con cháu. Trái lại khi cho ở chung, những biểu hiện của căn bệnh sẽ làm mất cả tình thân. Chẳng thà để bố mẹ hành hạ quấy phá người dưng. Khi bố mẹ còn tỉnh táo dặn dò con cháu, đó là ý nguyện của bố mẹ, các con không có lỗi gì cả. Tất cả mọi người trong gia đình bố mẹ đều yêu quý vô vàn. Hãy có từ tâm đừng nghĩ xấu nghĩ ác, rồi nguyền rủa người khác. Bởi vì tục ngữ có câu chẳng ai nắm tay được từ sáng đến tối. Một ngày nào đó rồi chúng ta cũng sẽ già, như lời Phật dạy. Sinh trụ hoại diệt, hoàng hôn tàn để nhường chỗ cho bình minh ló dạng.
Các con tôi cũng rưng rưng nước mắt. Cũng như ngày xưa chúng tôi cũng đau xé lòng khi thấy cha mẹ mình lú lẫn, bỏ cả đồ dơ vào miệng. Hay ngơ ngác đi lạc ngoài đường.
Người ta không sợ chết, mà chỉ sợ bệnh. Quan niệm bên Phật giáo, cho rằng bệnh tật là cái nghiệp của chúng sinh. Không tôn giáo nào cho phép tự tử. Phật bảo rằng khi tự tử có nghĩa là chưa trả hết nghiệp. Đời sau cũng phải trả tiếp. Luật pháp cũng không cho phép người ta xin chấm dứt sự sống. Bạn thấy điều này có đúng không? Kéo dài cuộc sống trong vô thức, không còn tận hưởng được mọi vui thú của cuộc đời, thì có còn ích lợi gì cho xã hội và cho chính người bị bệnh.
Nếu bạn cổ vũ cho ý tưởng đó, bạn sẽ bị lên án. Vì xã hội không chấp nhận mạng con người như một món đồ vật, để có thể vứt bỏ dễ dàng.
Bạn có biết con số bệnh viện dành cho người mental behavior nhiều gấp mấy con số bệnh viện chữa những bệnh khác. Và người ta đã tránh dùng những chữ điên crazy, hạ giá nhân phẩm. Chỉ dùng chữ những chung chung mental behavior.
From: Do Tan Hung
Ông Bút (Danlambao) – Đề tài trên tôi “mượn” của Hồ Chí Minh, trong bài viết: Địa chủ ác ghê, đăng trên báo Nhân Dân, ngày 21tháng 7 năm 1953. Sau chữ ác ghê, HCM không bỏ dấu than (!) tôi cũng sao y, chỉ đổi địa chủ thành Giáo Xứ Thái Hà, thôi.
HCM bị đảng CSVN bêu lên làm danh nhân văn hóa, vì có thành tích mượn đểu, hay cầm nhầm sản phẩm của người khác, do đó tôi mượn của Hồ tý đỉnh, không có gì thiệt thòi, coi như chó tha đi, mèo tha lại, ấy mà…
Giáo Xứ Thái Hà ác ghê:
Báo An Ninh Thủ Đô của đảng đăng, nguyên văn:
“Bị góp ý hát nhỏ tiếng, đám thanh niên từ nhà thờ Thái Hà lao ra đánh hàng xóm
20:20 15/06/2017 1 Nguyễn Long – Quang Trường
Chia sẻ
ANTD.VN – Do cả gia đình bị ảnh hưởng bởi tiếng kèn trống quá lớn từ đội văn nghệ đang tập trong sân Đền thánh Giê-ra-đô (thuộc Nhà thờ Thái Hà), ông Vũ Như Ngạn bèn sang góp ý. Tuy nhiên thay vì tiếp thu ý kiến, nhóm thanh niên đang ca hát quay ra tấn công người hàng xóm bầm tím mặt mày.
Khoảng 19h ngày 14-6-2017, CAP Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội tiếp nhận trình báo của ông Vũ Như Ngạn (60 tuổi), trú tại số 10 ngách 180A/3 phố Nguyễn Lương Bằng về việc ông bị một nhóm thanh niên tấn công. Sự việc xảy ra khi gia đình ông Ngạn không thể chịu nổi những tiếng kèn, trống dội thình thình ra từ trong khu Đền thánh Giê-ra-đô, nên đã sang tận nơi góp ý.
Ông Ngạn trình báo cơ quan chức năng việc bị đánh
Khi sang đến nơi, ông Ngạn không thấy vị chức sắc nào để phản ánh nên đã đề nghị trực tiếp nhóm thanh niên chơi nhạc nhỏ lại. Tuy nhiên, những thanh niên này tuyên bố, đây là sân của nhà thờ, vì thế họ muốn chơi nhạc thế nào là quyền của họ và không ai có quyền cấm đoán.
Bức xúc trước sự quá đáng này, ông Ngạn tiếp tục yêu cầu mọi người nên có sự tôn trọng hàng xóm thì bị nhóm thanh niên bẻ quặt tay ra sau lưng và lôi xềnh xệch ra ngoài. Qua khỏi cổng, ông Ngạn bị đám thanh niên xô ngã dúi vào đống gạch đá tập kết ở lòng đường rồi bỏ vào trong tiếp tục cuộc vui.” (hết trích)
Đọc tin này trên báo CS, mức nghi ngờ cao độ, hơn nữa Thanh Niên Công Giáo, không phải côn đồ, nên khó nổi nóng, khi được bậc cha, chú như ông Ngạn đề nghị, “chơi nhạc nhỏ lại”, lời đề nghị quá đúng đắn, làm sao xảy ra hậu quả đặc biệt như vậy? Thông thường nhạc trong phạm vi nhà xứ, có nội dung Thánh ca, đa số nhạc trầm, không phải nhạc ở phòng trà, hoặc sân khấu văn nghệ cộng đồng và nhạc Thánh ca, không thể gọi là “chơi nhạc” hoặc “tiếp tục cuộc vui” như báo của đảng CS loan tin.
Giả sử ông Ngạn, có tức tối vì tiếng ồn, ông nạt nộ, lớn tiếng: “Chúng mày chơi nhạc nhỏ lại”, Thanh Niên Cộng Giáo, cũng khó lòng nổi giận, để: “bẻ quặt tay ra sau lưng, lôi xềnh xệch ra ngoài, sau đó xô ngã sấp mặt xuống đống gạch”
Thời xưa, xã hội phong kiến, có Chí Phèo ăn vạ Bá Kiếng, Chí Phèo rạch mặt, đập đá lên đầu, Chí Phèo la khan cổ, la trong đơn điệu, đến nỗi xóm làng, nghe tiếng la của Chí Phèo đã phát chán, không thèm để ý. Ngày nay thời đại Hồ Chí Phèo, có khác. Ông Vũ Như Ngạn, trước khi qua “góp ý” Công An phường ngồi chờ sẵn, biên bản viết sẵn, giấy nhập viên khám thương viết sẵn, giấy chứng thương viết sẵn, tất cả đều chu đáo, chỉ chờ ông Ngạn qua nhà thờ, trở về mọi thứ đều tươm tất đâu vào đấy, “nhà báo đồng hành cùng nhân dân” cũng chờ sẵn, để tung tin lên trang nhất, đời ông Ngạn hiển hách, 60 năm cuộc đời, được lên báo đảng, ngon ghê.
Ông Ngạn không những được đảng, “chính quyền” quan tâm hỗ trợ, còn nhiều “nhân chứng khách quan biểu lộ đồng tình”, như:
Ông Nguyễn Văn Tâm, ngõ 178, phố Nguyễn Lương Bằng, phường Quang Trung, Đống Đa, Hà Nội.
Ông Phùng Văn Minh, Tổ dân phố số 1, phố Nguyễn Lương Bằng, phường Quang Trung, Đống Đa, Hà Nội
Ông Đặng Xuân Thu, Tổ trưởng Tổ dân phố 2, phường Quang Trung, quận Đống Đa
3 ông nói trên cũng được lên hình trên báo đảng, 3 ông này phiền hà cha xứ bắt loa giảng đạo, sang tận nhà dân, dân nghe chịu không thấu!?
Hầu hết các giáo xứ, trong Nam, ngoài Bắc, chung quanh nhà thờ, đều là nhà của giáo dân, hiếm khi người khác đạo ở trong phạm vi gần nhà thờ, có thể giáo xứ Thái Hà trải qua 3 lần bị đảng CS cướp cơ sở nhà xứ.
Lần thứ nhất vào năm 1959, lần thứ 2 năm 1972, lần thứ 3 năm 1973 và đảng CS đã trộn, cấy người từ những lần cướp thành công này.
Chưa thấy những người có trách nhiệm, của giáo xứ Thái Hà lên tiếng về sự việc.
Có phải vì tiếng trống, tiếng nhạc, hay vì 30/4?
Giáo Xứ Thái Hà, có từ năm 1929, đến nay gần một thế kỷ. Tại sao đến bây giờ mới có 4 “nhân dân” phản ảnh, khó chịu vì điệu nhạc Thánh Ca, vì lời giảng của cha xứ?
Có thể từ một bài giảng của cha Gioan Nam Phong, giảng vào dịp 30/4/2017, theo cha Gioan, ngày 30/4 không phải là ngày giải phóng, vì từ một nước nghèo hơn, lạc hậu hơn, đi giải phóng một nước tiên tiến, giàu có hơn mình, là điều nghịch lý. Ngày thống nhất đất nước, cũng không đúng, đã 42 năm lòng người cứ mãi ly tán, vì ngày này, vì cuộc chiến phi nghĩa đã khiến gần nửa triệu thanh niên miền Bắc chết vô ích, chưa kể hàng triệu người khác tàn phế, thương tích do chiến tranh xâm lược gây nên. Mới đây Kim Jun Ủn bắc Triều Tiên, đòi giải phóng Đại Hàn, đó là ông ta làm trò cười cho thế giới.
Cha Gioan Nam Phong, còn trích đọc một bài viết: Đất nước hình chữ thập, của một giáo dân tân tòng, bài có nội dung lên án đảng CSVN đã bị lệ thuộc Tàu, đất nước phải chịu nhiều hệ lụy do giặc Tàu gây nên, khởi đầu từ đỉnh cao Bắc Việt:
Trích: “Cái “đầu” miền Bắc chẳng phải cũng đang đội một chiếc mão gai thật to, thật sắc nhọn là bọn giặc Tàu? Chúng làm cho đầu não ra như tê liệt. Chúng ngầm khuynh đảo, kiểm soát mọi lĩnh vực của đất nước này, bởi có không ít kẻ quyền cao chức trọng đã quỳ gối quy phục chúng!” ngưng trích.
Chắc hẳn đảng CSVN, nghe lời cha Nam Phong kỷ hơn ai hết, họ thấm thía từng lời giảng và cũng chính họ thấy lời giảng và bài viết “đất nước hình chữ thập” quá xác đáng.
Quý vị vào youtube mở: bài giảng “Công lý và hòa bình, ngày tang thương” để nghe âm thanh trầm ấm, nhẹ nhàng, khó vượt qua phạm vi Thánh Đường, thoát ra ngoài để tạo tiếng ồn, đến khó chịu cho người có nhà ở gần bên. Chỉ vì bài giảng, bài viết quá hay, thiên hạ chuyền nhau nghe và đọc khắp thế giới, sau đó mới quay về 4 căn nhà của các ông:
Vũ Như Ngạn, Nguyễn Văn Tâm, Phùng Văn Minh, Đặng Xuân Thu.
Tất cả như quả bom nổ giữa bộ chính trị, nên họ có những phản ứng nhất định, phản ứng đi “đúng quy trình”, như Hồ Chí Minh, từng làm hồi cải cách ruộng đất, viết bài bịa đặt, rồi lên án tội ác của địa chủ, sau đó đem họ ra hành hình.
Ngày nay truyền thông tiến bộ, người dân không còn ai lạ với trò đê tiện của CS, nên chiêu trò của Hồ Chí Minh, không còn hiệu nghiệm nữa, chỉ còn mỗi cách đưa ra tòa, bí mật “cưỡng chế thi hành án”, cùng lắm người dân phẩn uất, họ trùm quần lên đầu, hay ném dép vào mặt chánh án, thì chế độ ác nhân vẫn còn tồn tại vài ba năm nữa.
BIẾT SỢ
Có những người quá nhát sợ. Gặp con dán hay con chuột cũng co rúm người, mặt cắt không còn giọt máu. Có những người, trái lại, chẳng biết sợ là gì. Coi mạng sống nhẹ như tơ. Lên xe là phóng như bay. Liều lĩnh thường thiệt mạng. Nhút nhát quá đâm hỏng việc. Một đàng bất cập, một đàng thái quá. Vì thế vấn đề không phải là sợ hay không sợ. Vấn đề là phải biết phân định. Biết những gì nên sợ và những gì không nên sợ. Hôm nay Chúa Giêsu giúp ta phân định để biết sợ và không biết sợ.
Trước hết, Người dạy ta biết phân định giá trị. Sự sống là quí giá ta phải trân trọng. Mất sự sống là mất tất cả. Tuy nhiên sự sống có nhiều cấp độ. Có sự sống thân xác nhưng cũng có sự sống linh hồn. Có sự sống đời này nhưng không có sự sống đời sau. Sự sống đời này là chóng qua. Sự sống đời sau vĩnh cửu. Sự sống thân xác mau tàn. Sự sống linh hồn bất diệt. Ta phải yêu quí cả hai sự sống. Nhưng khi không thể giữ gìn vẹn toàn cả hai thì phải biết chọn sự sống cao quí, vĩnh cửu, đó là linh hồn, là sự sống đời sau.
Người cũng dạy ta phân định thời cơ. Thời cơ chỉ đến một lần. Lỡ thời sẽ không bao giờ tìm lại được nữa. Lỡ thời có thể hỏng cả cuộc đời. Có thời cơ để rao giảng Lời Chúa. Hiện nay, Lời Chúa bị che giấu, chỉ thì thầm bên tai, còn nhiều người chưa biết. Ta được cơ hội đóng góp phần mình vào việc rao truyền Lời Chúa. Nhưng sẽ đến ngày mọi sự kín đáo sẽ tỏ lộ. Lời Chúa sẽ được mọi người nhận biết. Bấy giờ cơ hội sẽ hết. Có thời cơ tuyên xưng danh Chúa. Khi còn ở trần gian, giữa những người chưa biết Chúa, giữa những thế lực thù địch, trong cơn gian nan, chính là cơ hội cho ta tuyên xưng danh Chúa. Khi cuộc đời trần gian chấm dứt, cơ hội đó sẽ không còn.
Và sau cùng là phân định nguyên lý. Thiên Chúa là chủ mọi loài. Thiên Chúa nắm quyền sinh tử. Thiên Chúa an bài mọi sự. Con người chỉ là quản lý của Chúa trong một thời gian, trong một vài lĩnh vực. Khi thời gian chấm dứt, chính Thiên Chúa xét xử và thưởng công, trừng phạt.
Khi đã có những phân định rõ ràng ta sẽ biết sợ và biết không sợ.
Biết sợ Chúa là Chủ tể mọi loài, mọi sự. Không những làm chủ thân xác mà còn làm chủ cả linh hồn. Không những làm chủ đời này mà còn làm chủ cả cuộc đời sau.
Biết sợ mất linh hồn. Linh hồn là món quà cao quí nhất Thiên Chúa tặng cho con người. Sự sống của linh hồn là sự sống Thiên Chúa ban, hạnh phúc vĩnh cửu bên Chúa. Mất linh hồn là mất tất cả. Như Chúa Giêsu vẫn nhắc nhở: “Được lời lãi cả thế gian mà phải mất linh hồn thì nào được ích gì?”
Biết sợ lỡ thời cơ. Hãy biết làm việc khi còn ban ngày, khi trời còn sáng, khi ta còn sống. Thời cơ chỉ đến một lần, nếu ta không tận dụng sẽ lỡ cả một đời. Như những cô trinh nữ khờ dại chỉ còn đứng ngoài cửa Thiên đàng mà than khóc. Như người đầy tớ lười biếng chôn giấu nén bạc phải khóc lóc nghiến răng.
Khi đã biết sợ như thế, ta sẽ không sợ người đời, vì người đời chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Ta sẽ không sợ mất mạng sống, vì sự sống thân xác nay còn mai mất, chẳng tồn tại lâu dài. Ta sẽ không sợ khổ hình hành hạ thân xác, vì khổ hình rồi cũng sẽ qua.
Nói không sợ cũng không đúng hẳn. Đau đớn khổ cực ai mà không sợ. Nhưng như Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu, dù sợ vẫn cứ bước vào cuộc khổ nạn, Người môn đệ vẫn can đảm tuyên xưng danh Chúa, vẫn kiên trì rao giảng Lời Chúa, chấp nhận tất cả những khó khăn hiểm nguy đe doạ, rình rập, chấp nhận những đau đớn thua thiệt chóng qua đời này, với niềm tin vững chắc rằng chính Thiên Chúa là Cha nhân lành an bài mọi sự, Người sẽ ban thưởng cho ta phần thưởng không gì so sánh được, đó là hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.
Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Amen.
ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt
Langthangchieutim gởi

VIẾT LỜI AI ĐIẾU, LÊ PHÚ KHẢI VÉN TẤM MÀN NHUNG BÍ HIỂM…
Thái Văn
“…Cũng có người nhận xét, Lời ai điếu là cuốn hồi ký của những phác thảo chân dung chính khách cộm cán trên chính trường từ khi Chủ nghĩa Cộng sản thắng thế trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Khi giành được thắng lợi, những người Cộng sản cai trị đất nước theo cách riêng của mình. Thành phần lãnh đạo được chọn lọc rất kỹ qua sự sàng lọc khắt khe của Ban Tổ chức Trung ương mà thành phần giai cấp là tiêu chí quan trọng nhất. Cho nền, hầu hết những nhà lãnh đạo đều là những kẻ vô học và cơ hội, thậm chí coa nguồn gốc lưu manh trong các băng đảng tội pham, bị tù tội, được các đảng viên Cộng sản “giác ngộ”. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng lộng quyền, tham nhũng, tha hóa nhân cách. Tuy nhiên, với người Cộng sản, lừa bịp, dối trá lại là “nghệ thuật” lãnh đạo. Họ thường dùng tấm màn đỏ che giấu sự nhếch nhác, hủ bại nhằm giữ thể diện trước nhân dân và cộng đồng thế giới. Lê Phú Khải làm ngược lại. Ông tìm mọi cách tháo gỡ tấm màn lòe loẹt ấy, phơi bày trước bàn dân thiên hạ mặt thật của những kẻ đạo đức giả, vừa ngu dốt vừa kiêu ngạo, lúc nào cũng coi mình là trung tâm vũ trụ.
Chân dung đầu tiên mà tác giả khắc họa là Trần Quốc Hoàn. Ngày nay, một số người lầm lẫn vẫn coi Trần Quốc Hoàn là “nhà cách mạng”, nhưng bộ mặt thật của ngài ủy viên Bộ Chính trị, đứng đầu ngành công an suốt 28 năm liền thì không phải ai cũng biết nếu không có tướng Lê Hữu Qua nhiều lần kể cho cháu mình nghe về chuyện “thâm cung bí sử”. Tác giả viết: “Gộp những gì tướng Qua nhắc đến thì đây là một ông quan liêu nặng, dốt nát nhưng hay khoe mẽ, ích kỷ và dối trá, thích cấp dưới tâng bốc mình, ghét người trung thực, đặc biệt là trí thức. Ông đã loại bỏ trí thức ra khỏi guồng máy công an. Vợ ông là một người tham lam vô độ, cái gì vơ được là vơ… Chưa bao giờ tôi thấy tướng Qua gọi tên hay chức vụ bộ trưởng đối với Trần Quốc Hoàn. Ông gọi vị bộ trưởng này bằng tên H lưu manh”. Ở một đoạn khác, Lê Phú Khải nhắc lại lời tướng Qua: “Tên H lưu manh này chỉ biết hắn thôi. Sau ngày giải phóng Thủ đô, hắn chiếm ngay ngôi biệt thự này. Tất cả cán bộ cao cấp khác, hắn bắt ở trong cơ quan với lý do bảo vệ cán bộ”. Trong khi ấy, tướng Lê Hữu Qua, người hùng của chế độ, từng lại xe đưa cụ Hồ thoát khỏi sự truy đuổi của quân Tàu Tưởng, được cử đi bảo vệ cho Phạm Văn Đồng ở Hội nghị Genève năm 1954, chỉ bởi trực tính mà bị cho về hưu sớm. Tác giả kể về ông chú mình: “Cả một đời ngang dọc, đánh đông dẹp bắc chiến tích đầy mình mà đến cuối đời chú tôi vẫn phải ở trong căn nhà “như cái chuồng chó” ấy thật là bất công. Bây giờ, mỗi khi vô một căn nhà, chủ nhân chỉ là viên sỹ quan cấp tá thôi nhưng nhà họ nguy nga như một lâu đài. Tôi mới ngẫm ra rằng, như một nhà hiền triết đã nói: Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh”.
Tướng Qua còn nói về thói ích kỷ, sự dối trá và nhất là sợ chết của Trần Quốc Hoàn. Dưới gầm bàn làm việc, ông ta cho xây căn hầm: “Chỉ cần bấm nút một cái là cả bàn giấy của H thụt xuống hầm sâu. Căn hầm có thể tránh được bom nguyên tử. Bên phố Yết Kiêu gần đấy, dưới đất là cả một căn hầm rộng mênh mông. Tên H rất sợ chết, chỉ lo bảo toàn tính mạng cho riêng hắn”.
Bộ trưởng như thế, đương nhiên các thứ trưởng và đám thuộc hạ phải được chọn theo ê kíp. Cục trưởng Hoàng Mai và Lê Quốc Thân chính là sản phẩm của vị bộ trưởng có thời kỳ cầm cờ đám ma và hành nghề lưu manh trên đường phố Hà Nội. Vẫn theo lời kể tướng Qua, phe cánh của Cảnh Con (biệt danh của Trần Quốc Hoàn) thường xuyên gây áp lực đến mức hàng loạt cán bộ cao cấp bị đẩy khỏi ngành: “Ở ngành an ninh Việt Nam, sau khi Lê Giản chuyển sang ngành Tư pháp – Tòa án, lần lượt các vị “lão tướng trung thần” như Nguyễn Tạo, Lê Tuấn Thức đều ra đi. Ông Nguyễn Tạo sang làm Tổng cục trưởng Tổng cục lâm nghiệp, Lê Tuấn Thức sang làm Chánh Văn phòng cho Tổng cục Lâm nghiệp… vì không thể ở lại ngành dưới triều đại của Trần Quốc Hoàn”.
Trần Quốc Hoàn là nhân vật nổi tiếng với những thành tích bất hảo ngay từ thời kỳ đầu lãnh đạo ngành công an, là nhân vật chính trong kế hoạch thủ tiêu người tình của ông Hồ Chí Minh, nhưng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam không hiểu vì lý do gì lại im lặng. Về vụ thảm án này, Lê Phú Khải viết: “Được biết về vụ án cô Nông Thị Xuân năm 1957. Trước đó Trần Quốc Hoàn đã hiếp dâm cô Nông Thị Xuân ở số nhà 66 phố Hàng Bông Nhuộm rồi lập mưu giết hại cô như thế nào?
Trong cuốn Đêm giữa ban ngày nhà văn Vũ Thư Hiên cũng viết trên giấy trắng mực đen vụ án kinh tởm ấy. Vũ Thư Hiên còn nói rõ trong Đêm giữa ban ngày là, cán bộ từ cấp vụ trở lên ở Bộ Công An đều biết vụ án này. Vì thế, tướng Qua mới luôn gọi Trần Quốc Hoàn là “thằng H lưu manh” khi nói chuyện với tôi. Còn nhà văn XĐ quê ở Nghệ An thì nói với tôi rằng, nếu giết hết được cả làng tôi thì thằng Hoàn nó cũng giết, vì cả làng đều biết nó là thằng ăn cắp ở chợ làng trước kia!”.
Từ những câu chuyện mang bóng dáng “một nửa sự thật” không ghi trong chính sử ông trùm công an Cộng sản, tác giả liên hệ đến những phát ngôn ấn tượng của nhà văn Dương Thu Hương: “Cần có cách mạng để quét đi những rác rưởi, và cần có tự do để quét đi những rác rưởi mà một cuộc cách mạng đã sinh ra! Chỉ tiếc là, rác rưởi mà một cuộc cách mạng vô sản đã sinh ra lại nhiều hơn cả rác rưởi mà nó định quét đi, vì thế mà tướng Trần Độ đã viết trong Nhật ký rồng rắn của mình rằng: Tôi đi làm cách mạng để xóa đi một xã hội xấu xa, nhưng xã hội hiện nay lại xấu bằng và xấu hơn cái xã hội mà chúng tôi đã xóa đi!”.
Một nhân vật cao cấp khác được tướng Qua nhắc đến là Phạm Văn Đồng, người có thâm niên 32 năm làm Thủ tướng Chính phủ “nhưng không làm gì” như bài vè dân gian thời ấy giễu nhại. Nghe Lê Phú Khải kể lại những chi tiết dưới đây, khiến ai cũng phải giật mình, bởi một chính khách vô tích sự như vậy đứng đầu nội các, mà guồng máy xã hội vẫn hoạt động bình thường thật là sự lạ: “Dưới mắt tướng Qua thì Phạm Văn Đồng là con người chủ quan, bốc đồng và rất vô tích sự. Ông kể: vừa mới giải phóng thủ đô, tôi phải bảo vệ cuộc họp quan trọng của đại diện Cộng Hòa Pháp với chính phủ ta. Tôi phải đích thân lái xe đến chỗ Sainteny để chở hắn sang họp với Phạm Văn Đồng… Cuộc họp kết thúc, Sainteny chưa bước ra khỏi phòng họp thì đã thấy tiếng cười lớn Ha! Ha! Ha! của Phạm Văn Đồng rồi tất cả cười theo. Thấy thế Sainteny quay ngoắt lại, có vẻ rất ngạc nhiên và khó chịu. Sau khi đưa Sainteny về rồi, tôi quay lại hỏi ông Lê Thanh Nghị… ông Nghị cười nói: Sainteny sau cùng có đề nghị ta, nếu chính phủ Việt Nam có cần giúp đỡ, bồi hoàn chiến tranh của chính phủ Pháp thì xin các ông cứ đề đạt, tôi sẽ là người tích cực trong công việc này… Nghe Sainteny nói, anh Đồng không trả lời, khi y quay ra thì anh Đồng nói: Mới đánh cho thua vãi cứt mà đã lên mặt! Rồi anh ấy cười lớn, mọi người cười theo!”. Kể xong câu chuyện trên, tướng Qua hạ một câu: “Phạm Văn Đồng là thế đó, chỉ làm hại đất nước”.
Tuy nhiên những chuyện trên mới chỉ là một phần sự thật. Còn một sự thật động trời nữa là, quốc dân đồng bào không thể ngờ, vị Thủ tướng “đáng kính” của mình là tay nghiện thuốc phiện và chơi gái có hạng. Ở các nước tư bản “giãy chết”, các chính khách vướng vào vụ scandal động trời như vậy, cầm chắc là phải hầu tòa hay chí ít ra cũng phải từ chức về “đuổi gà cho vợ”, nhưng ở ta, đây cũng là “bí mật quốc gia”, luôn được giấu kín như mèo giấu… của! Chuyện này cũng do tướng Qua kể, tác giả ghi lại: “Lần này thì chính ông ta gọi tôi lên để trình bày về cái vụ thế giới nó chỉ trích ta về nhân quyền trong vụ bắt tù nhân là tướng lĩnh sỹ quan Sài Gòn đi cải tạo vô kỳ hạn sau 1975. Với tư cách Cục trưởng Cục Trại giam, tôi phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ để còn biết đường mà trả lời các cuộc phỏng vấn của báo chí Phương Tây. Tôi chuẩn bị khá kỹ tài liệu để báo cáo. Gặp tôi, ông ta không thèm hỏi han một câu nào, chỉ ra hiệu, anh nói đi! Tôi vừa báo cáo được vài câu thì đã thấy ông ta ngủ gật. Tôi phải vờ đặt cái tay xuống bàn thật mạnh để ông ta tỉnh dậy. Tôi lại báo cáo, ông ta lại ngủ gật. Lúc tỉnh dậy, ông nói, anh báo cáo lại đi tôi nghe chưa rõ. Tôi đứng dậy và nói thẳng vào mặt ông ta, anh có nghe đâu mà rõ… sau đó tôi quay gót về luôn. Ông ta cũng không nói gì cả. Chắc là để ngủ tiếp! Sau này tôi được nghe nhà báo TĐ ở báo Nhân Dân kể, Phạm Văn Đồng chuyên hút thuốc phiện và chơi đĩ do Lê Đức Thọ cung cấp, vì thế hai cái môi thâm sì. Và Lê Đức Thọ bảo sao thì phải nghe vậy, không thì cắt nguồn thuốc phiện và gái! Tôi tin lời anh TĐ vì suy ra, người hút thuốc phiện hay ngủ gật, và điều tướng Qua nói là hoàn toàn đúng về cái sự ngủ gật của ông Thủ tướng lâu năm này. Chả có thế mà đã thành bài vè trong dân gian:
Hoan hô ông Phạm Văn Đồng
Tuy là Thủ tướng nhưng không làm gì!”
Viết về chân dung Phạm Văn Đồng, Lê Phú Khải có nhắc đến chuyện, trong một cuộc hội thảo khoa học năm 1978 về kế hoạch khai hoang 50 vạn héc ta, một đại biểu phụ nữ Nam Bộ đã dũng cảm phản biện rất dữ dội chiến dịch phiêu lưu này, phớt lờ ba lần rung chuông của Phạm Văn Đồng khiến ông ta mất mặt. Sau cái gọi là “giải phóng” năm 1975, Phạm Văn Đồng đi đâu cũng tiền hô hậu ủng đăng đàn chém gió bên cạnh bọn “trí thức công nông” xu nịnh bốc ông ta lên tận mây xanh.
Nhân một lần đi theo chuyến máy bay chở cá giống vào Nam cùng mấy chuyên viên kỹ thuật của Bộ Thủy sản, Lê Phú Khải suy ngẫm về nền công nghiệp nước nhà: “Cái máy bay như thế mà đã vứt vào nghĩa địa vì nó được bay hết giờ quy định của hãng chế tạo ra nó. Phương Tây là như thế. Tôi nghĩ, 100 năm nữa chưa chắc nước ta đã làm nổi một chiếc máy bay từ A tới Z như cái DC tôi vừa đi. Tôi chưa thấy ai bốc phét như ông Phạm Văn Đồng “đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng mươi, mười lăm, hai mươi năm nữa!”. Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi”.
Nếu Phạm Văn Đồng chỉ là viên thư lại, vô tích sự, thì Lê Duẩn đích thị là vị hoàng đế điều hành đất nước với sự trợ giúp đắc lực của Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ. Qua ngòi bút phóng khoáng của Lê Phú Khải, Lê Duẩn xuất hiện như một nhà độc tài, vô học, cuồng tín và cực kỳ hoang tưởng. Với hàng loạt chính sách phiêu lưu, duy ý chí, từ sau năm 1975, ông ta đã đưa đất nước vào những đợt khủng hoảng triền miên, kinh tế suy thoái, nạn đói hoành hành khiến hàng triệu người phải bỏ đất nước ra đi, tạo nên hiện tượng thuyền nhân (boat people) như một vết nhơ hằn vào lịch sử. Cho dù Lời ai điếu chỉ là một vài nét chấm phá nhưng chân dung tác giả “Quyền làm chủ tập thể” vẫn sừng sững “thi gan cùng tuế nguyệt” chẳng khác gì một “tượng đài nghìn tỷ”, biểu tượng cho sự hổ nhục trong tâm thức dân tộc.
Không phải ngẫu nhiên mà ngay ở “Lời nói đầu” Lê Phú Khải đã đưa đến cho người đọc một thông tin gây sốc: “Tôi nhớ, vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, khi Tổng Bí thư (TBT) Lê Duẩn vô thăm tỉnh Tiền Giang. Ban Thường vụ tỉnh ủy lúc đó đứng đầu là Bí thư Tỉnh ủy Chín Hải (tức Lê Văn Phẩm), và Chủ tịch tỉnh Sáu Bình (Nguyễn Công Bình) dẫn TBT Lê Duẩn vô thăm vùng Đồng Tháp Mười thuộc địa phận Tiền Giang (90.000 ha). Đứng trước cánh đồng bao la bát ngát của vùng Đồng Tháp Mười, TBT Lê Duẩn chỉ tay về cánh đồng trước mặt, hỏi:
– Trồng những cây gì thế kia?
Bí thư Tỉnh ủy Chín Hải lễ phép trả lời:
-Thưa Tổng Bí thư, đó là rừng tràm ạ.
Bỗng mọi người sửng sốt khi nghe TBT quát:
-Ngu! Ngu! Sao không trồng lúa?
Trước cơn giận dữ của TBT vì sao tỉnh lại không trồng lúa ở Đồng Tháp Mười mà lại trồng tràm… thì mọi người chỉ còn biết chết lặng mà thôi. Ai dám cãi lại? Ai dám cả gan giải thích cho đồng chí TBT rằng, đất Đồng Tháp Mười là đất phèn nặng, chỉ trồng tràm là hợp nhất mà thôi… Khi TBT Lê Duẩn đi rồi, tôi nghe rõ tiếng than của Bí thư Tỉnh ủy Chín Hải:
-Ông Ba (tức Lê Duẩn) quay cờ rồi (!)”.
Sự kiêu ngạo của nhà lãnh đạo quốc gia thiếu một nền học vấn cơ bản, xuất thân từ nghề bẻ ghi xe lửa được phản ánh khá rõ qua tác phẩm “Quyền làm chủ tập thể” và kế hoạch hoang đường “sắp xếp lại giang sơn” với 500 pháo đài XHCN, khiến giáo sư Tạ Quang Bửu phải thốt lên: “Tôi là một nhà toán học, tiếp xúc nhiều với khái niệm trừu tượng, nhưng tôi chưa thấy cái gì trừu tượng bằng khái niệm làm chủ tập thể”. Nói về việc sáp nhập các tỉnh, các huyện thành đơn vị hành chính lớn của Lê Duẩn gây bao phiền toái cho dân, tác giả nhận xét: “Có xe hơi mà chúng tôi đi từ Lạng Sơn sang Cao Bằng để gặp lãnh đạo Cao Lạng phải toát mồ hôi hột thì nhân dân, cán bộ trong tỉnh miền núi này đi lại vất vả biết nhường nào. Chỉ sau một giấc ngủ, các nhà lãnh đạo trong thể chế toàn trị độc tài hứng chí lên là có thể sáp nhập các tỉnh trong cả nước một cách vô lối và điên rồ như thế…”.
Các kế hoạch “hoành tráng” đổ vỡ, đời sống bế tắc, xã hội uể oải bởi chính sách cai trị quái đản của những người Cộng sản mất hết lương tri, khiến dân gian lưu truyền nhiều giai thoại độc đáo về ông Đảng trưởng coi trời bằng vung để xả nỗi bực tức. Một trong những tiếu lâm truyền kỳ ấy là, có anh chàng mò đến số 6 Hoàng Diệu xin gặp Tổng Bí thư. “Bảo vệ hỏi: anh quan hệ với TBT như thế nào? Anh chàng kia trả lời: Bạn học cũ! Anh ta liền bị còng tay ngay vì đồng chí Lê Duẩn có đi học bao giờ đâu mà có bạn học!”.
Đời tư Lê Duẩn cực kỳ phức tạp, và quan hệ tình ái của ông ta cũng khá lăng nhăng, vô trách nhiệm như hầu hết các ông lớn Cộng sản khác. Trong mục “Nguyễn Hà Phan, bi hay hài”, Lê Phú Khải viết lại những gì được nghe từ người em họ Lê Thị Tuyết, Phó Ban Tài chính Trung ương Đảng đã kể: “Khi bà vợ hai của Lê Duẩn báo sẽ ra Bắc, thì lập tức cô phải điều bác sỹ đến khám sức khỏe cho bà cả. Rồi theo kịch bản, bác sỹ la lối lên “sức khỏe chị Cả kém lắm rồi, phải đi Tam Đảo nghỉ ngơi!”. Khi bác sỹ đến khám, có cả hai nữ công an mặc quân phục, đeo súng bên hông rất oai để “bảo vệ” chị Cả đi Tam Đảo an dưỡng… Thấy mình oai quá, chị Cả đi liền. Thế là tối đó, đưa Tổng Bí thư lên biệt thư ở Hồ Tây, chị Hai từ Sài Gòn ra, xuống sân bay là đưa thẳng đến biệt thự! Có lần cô còn tố cáo với vợ tôi: Lê Duẩn tàn độc lắm, có lần ngủ với cô y tá được cử đến để đấm bóp cho ông ta. Sau khi ngủ với cô y tá này, ông ta ra hiệu phải… Cô Tuyết nói nguyên văn với vợ tôi: – Em là phụ nữ, có chồng có con, lại theo đạo Phật, không bao giờ em làm điều thất đức”.
Nhân cách Lê Duẩn không chỉ như vậy, ông ta còn là thủ phạm gây ra sự biến Mậu Thân tắm máu đồng đội. Tác giả cuốn hồi ký nhận xét: “Tết Mậu Thân là tội ác trời không dung, đất không tha. Biết là lộ, là thua rồi vẫn cứ lùa quân đi vào chỗ chết. Nhiều chiến binh ở Nam Bộ còn sống sót trong Tết Mậu Thân đã kể với tôi, quân ta đi đánh thì máy bay do thám của địch bay trên đầu, địch biết hết nên đánh đợt hai đi 100, về chỉ còn 1, 2…”.
Lê Đức Thọ là nhân vật gian hùng số một của triều đình Cộng sản Việt Nam. Nếu Lê Duẩn là Vua, thì trên thực tế Sáu Búa (biệt danh của Lê Đức Thọ) là Tể tướng chứ không phải Phạm Văn Đồng. Trưởng Ban Tổ chức Trung ương thời kỳ ấy là chức vụ siêu quyền lực. Lê Đức Thọ sử dụng hệ thống mật vụ kiểu KGB giám sát nhất cử nhất động tất cả các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương đến các Bộ trưởng, Thứ trưởng… Đó là một xã hội bị bóp nghẹt dưới sức nặng của chính sách hộ khẩu, chính sách tem phiếu và mạng lưới công an, đặc tình (chỉ điểm) khiến người dân chẳng khác gì những tội đồ trong một trại tập trung khổng lồ. Sáu Thọ như một phù thủy cao tay ấn điều khiển đám âm binh, trong đó có Tổng cục 2, chế tạo ra nhiều vụ án tưởng tượng để thanh toán phe đối lập trong Đảng.
Ngay từ khi ký hiệp định Genève, Lê Đức Thọ cũng như Lê Duẩn đã tỏ ra ghen tức vầng hào quang Điện Biên của tướng Giáp, đến khi hai nhân vật này nắm trọn quyền lực trong tay thì số phận Vainqueur de Dien Bien Phu (người chiến thắng ở Điện Biên Phủ) như báo chí Phương Tây gọi là vô cùng cay nghiệt. Cũng về nhân vật đầy mưu mô xảo quyệt này, tác giả viết: “Theo cách phân loại con người qua ba tiêu chí: thông minh, lương thiện và Cộng sản, mà ông Hà Sĩ Phu nói đến, thì, nếu thông minh mà Cộng sản thì gian hùng như Lê Đức Thọ, nếu lương thiện mà Cộng sản thì bầm dập, nếu thông minh và lương thiện thì không theo Cộng sản”.
Bàn tay sắt của Sáu Búa cùng với công cụ chuyên chính do Trần Quốc Hoàn nắm giữ đã tiến hành bắt giữ hàng loạt cán bộ trung, cao cấp trong vụ án gọi là “Xét lại chống Đảng năm 1967”. Theo nhà nghiên cứu người Mỹ Sophie Quinn-Judge đã viết trên tờ Journal of Cool War History (Lịch sử chiến tranh lạnh), tháng 11 năm 2005, thì vụ án này có 300 người bị bắt, trong đó có 30 nhân vật cao cấp, tất cả bị giam giữ lâu và không xét xử gì cả, rồi thả dần.
Theo nhận xét của Nguyễn Kiến Giang, một nạn nhân trong chiến dịch thanh trừng này kể lại, thì Lê Đức Thọ, ngay từ những năm bảy mươi của thế kỷ trước đã có ý định lật đổ Lê Duẩn. Ông kể lại: “Lê Duẩn lên Tổng Bí thư, ông Trường Chinh bảo tôi sang gặp anh Ba Duẩn để xin anh ấy các bài viết, các phát biểu… đem về in thành sách… Ông Duẩn rất cởi mở, đưa tôi một ôm tài liệu, bảo muốn làm gì thì làm… Tôi đọc kỹ thấy ông Duẩn không hiểu gì về chủ nghĩa Marx cả, chỉ có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa… Khi trao đổi với Lê Đức Thọ khi ông vào thăm tôi ở trong tù, tôi có nói ý đó. Thọ bảo tôi viết lại thành tài liệu đưa Thọ. Thọ về rồi, tôi suy nghĩ kỹ. Thọ nham hiểm lắm, muốn lợi dụng tôi để lập hồ sơ về Lê Duẩn, khi cần thì sử dụng. Đó là cách Thọ thường làm. Thì ra Thọ đã có ý lật Lê Duẩn từ đó. Nghĩ thế nên tôi không mắc lừa, không viết gì phê phán Lê Duẩn là dân tộc chủ nghĩa cả!”.
Còn một chuyện khá khôi hài nhưng lại là hiện thực về sự đa nghi đúng chất Tào Tháo của “Ông cố vấn” từng được Giải Nobel hòa bình, vẫn do cô em Lê Thị Tuyết kể với tác giả cuốn hồi ký: “Có lần cô Tuyết kể trực tiếp cho tôi nghe, khi cần vụ của Lê Đức Thọ đem một cái chăn bông đã rách nát đến đổi chăn bông mới, cô nói với chú cần vụ này: Thủ trưởng của câu tiết kiệm quá, chăn rách cả mền, lòi cả bông ra thế này mới chịu đem đổi. Cậu ta cười nói: Tiết kiệm cái con tiều! Tối nào trước lúc đi ngủ ông ta cũng nắn bóp cái chăn đến nửa tiếng đồng hồ, chỉ sợ người ta gài mìn thôi… nên chăn mới rách bươm ra như thế. Tối qua, bông nó xổ ra, bay tứ tung làm ông ấy ho suốt đêm nên sáng nay mới bảo tôi đem đổi!”.
Trong đời mình, Lê Đức Thọ đã gây ra không biết bao nhiêu tội ác với dân tộc, hãm hại không biết bao nhiêu người lương thiện, vì thế, sau khi ông ta chết, gia đình các nạn nhân vẫn không quên trả thù bằng cách hàng tuần bí mật đổ phân tươi lên phần mộ. Cuối cùng, gia đình Sáu Búa phải dời mộ từ Mai Dịch về quê.
Là một trí thức có tư tưởng cấp tiến, Lê Phú Khải nhận rõ bản chất của cái gọi là “báo chí cách mạng”. Trước khi bàn sâu về nền báo chí của nhà nước độc tài toàn trị, tác giả kể một chuyện vui nghe như tiếu lâm hiện đại thời bao cấp: “Không hiểu vì lý do gì hay sơ xuất mà trong khi mỗi nhân viên phục vụ ở Quốc hội được phát một phiếu mua hàng, còn ba nhà báo mới được một, nên phải bốc thăm để loại nhau. Một đồng nghiệp của tôi ở TTXVN mới phán một câu xanh rờn: Thì ra ba thằng bồi bút mới bằng một con bồi bàn!”.
Nghĩ về thân phận nhà báo, Lê Phú Khải viết: “Ở nước ta báo chí chỉ có một thang bậc giá trị là chức vụ hành chính. Và thực chất, các nhà báo của chúng ta là những ông công chức trong cơ quan nhà nước. Họ chỉ có thể tiến thân bằng con đường quan chức báo chí. Vì thế, có thể nói nước ta chưa có báo chí, chưa có “nhà báo” đúng nghĩa vì chỉ có báo quốc doanh. Thậm chí, có nơi chẳng “doanh” gì cả. Họ lấy tiền công quỹ ra để in báo rồi biếu không cũng chẳng ai đọc. Một phóng viên dù tài giỏi đến đâu nếu không có một chức sắc gì trong cơ quan, thì cũng chỉ là nhân viên hạng… chót!”. Cũng bởi đã lăn lộn với nghề báo chí minh họa, hiểu được bản chất của hệ thống tuyên truyền nên tác giả khẳng định, nhà nước có hơn 800 tờ báo, tạp chí và cả trăm đài phát thanh truyền hình nhưng chỉ có một Tổng Biên tập là Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, vì “đảng ta” dứt khoát không chấp nhận báo chí và xuất bản tư nhân. Thế mới có chuyện cười ra nước mắt: “khi chiến sự ở Iraq nổ ra, một tờ báo ở TP HCM năng nổ cử phóng viên thạo tiếng Anh đi Iraq viết tin, bài… thì lập tức bị cấp trên phê phán là chưa báo cáo xin phép!”. Trong khi đó, nữ “phù thủy” Lê Bình, Giám đốc chương trình “Chuyển động 24 giờ”, lại cùng ê kíp cánh hẩu, ngụy tạo bộ phim về chiến sự ở Syria mà nội dung hoàn toàn ăn cắp của các đồng nghiệp người Nga, thì lại được công chiếu trên VTV1!?
Là trí thức có nền học vấn đại học nghiêm túc, có tầm văn hóa dày dặn, lại có chú ruột là tướng công an nhưng Lê Phú Khải không vào đảng, không ham chức tước mà chỉ chỉ muốn làm một nhà báo đúng nghĩa, tự do rong ruổi khắp những dặm dài đất nước. Từ biên chế ở Đài Tiếng nói Việt Nam, tác giả dám “Nam tiến” làm một phóng viên tỉnh lẻ Đồng Bằng Sông Cửu Long, chứng tỏ bản lĩnh đáng nể của kẻ sĩ Hà Thành cùng với đặc tính thích phiêu lưu mạo hiểm của người làm báo có nhân cách. Và cũng chính bởi cuộc “thiên di” bất đắc dĩ theo tinh thần “tự cứu mình trước khi trời cứu” này, Lê Phú Khải đã thành danh. Ông lặn lội khắp hang cùng ngõ hẻm vùng châu thổ sông Cửu Long, dấn thân vào cuộc nhân sinh đầy cam go, kết giao với nhiều bạn bè, hòa đồng được văn hóa Bắc Kỳ với tính cách hào sảng của các Anh Hai Nam Bộ. Và cũng do cơ may ấy, ông viết được hàng chục đầu sách có giá trị về vùng đất phương Nam trù phú, về văn hóa đặc thù Miệt Vườn, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc trong và ngoài nước.
Định cư ở vùng sông nước Nam Bộ, với tư cách là người làm báo ưa phản biện, Lê Phú Khải luôn hy vọng góp một chút công sức vào sự phát triển của đất nước, đồng thời tác động ít nhiều đến bộ óc trì trệ của những nhà lãnh đạo quốc gia bảo thủ, vô cảm và quan liêu. Nhưng rồi ông hoàn toàn thất vọng khi mà những nghịch lý cứ phơi bày ra trước mắt: “Thật là chua chát! Cho đến nay khi Việt Nam đã xuất khẩu gạo vào hàng nhất nhì thế giới, nhưng càng xuất nông dân ĐBSCL càng nghèo và các nhóm lợi ích càng giàu. Người làm ra hạt lúa thì nghèo, kẻ đi buôn gạo được lấy tiền ngân hàng lãi suất thấp đi buôn, buôn độc quyền thì phè phỡn. Tham nhũng thành quốc nạn, lãnh thổ bị gặm dần bởi anh bạn 16 chữ vàng, đất nước đứng bên bờ vực thẳm. Đó là kết quả của đại hội VI, chỉ cải cách kinh tế mà không cải cách chính trị, dẫn đến một nền kinh tế của bọn mafia. Tôi chỉ còn một con đường là cầm bút viết cho báo “lề trái”, viết cho mạng Internet tự do”.
Nghĩ lại cuộc tranh chấp ruộng đất vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long những năm tám mươi, Lê Phú Khải chỉ ra nguyên nhân sâu xa của nó nhưng nhà cầm quyền có thói quen ăn sẵn chỉ giải quyết phần ngọn: “Chính sách hợp tác hóa của Đảng là nguyên nhân của tội ác này. Và nói thật công bằng, giới báo chí cũng phải chịu trách nhiệm về tội ác này vì đã cổ vũ cho phong trào “hợp tác hóa”. Trong những tội ác mà báo chí đã gây ra, có tôi, kẻ viết những dòng chữ này cũng nhúng tay vào tội ác đó. Chính tôi đã viết không biết bao nhiêu tin, bài cho đài cho báo để cổ vũ cho hợp tác hóa vì sự ngu dốt, ngộ nhận của mình”. Tuy nhiên, việc tự “thú tội” với việc thay đổi cách viết để “phục thiện” là cả một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, bởi vì: “… báo chí dưới sự lãnh đạo của Đảng chỉ để ca ngợi, để minh họa đường lối của Đảng, để “đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống”. Báo chí không cần dự báo, không được “bôi đen” chính sách của Đảng và không cần đưa cuộc sống vào nghị quyết Đảng”.
…Không phải ngẫu nhiên mà tác giả để ra đến 50 trang viết về chân dung ba nhà cách mạng nổi tiếng một thời, được nhân dân và quân đội kính trọng, biết ơn, nhưng lại bị đối xử là “thế lực thù địch”. Đó là ba ông họ Võ: Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt (Phan Văn Hòa) và Võ Viết Thanh. Võ Nguyên Giáp bị Tổng cục 2 lập hồ sơ, vu cho là con nuôi Chánh Mật thám Đông Dương. Tướng Võ Viết Thanh không chịu xét xử vụ án ngụy tạo “Sáu Sứ Năm Châu” do Lê Đức Thọ sắp đặt để dằn mặt tướng Giáp, bị mất chức với lý do bố mẹ đã “khai báo” khi bị địch bắt. Còn Võ Văn Kiệt sau chuyến ra Hà Nội, về Sài Gòn, thì qua đời…
Có thể nói, những cán bộ Cộng sản muốn làm người tốt là rất khó. Cả một guồng máy dối trá, lừa lọc và tàn độc cai trị đất như các băng đảng tội phạm. Chúng luôn tìm cách hãm hại người lương thiện, coi đất nước là tài sản riêng của một nhóm đặc quyền đặc lợi, vì thế, lúc này, vấn đề dân chủ vẫn còn là một cái gì quá xa vời…
Lời ai điếu của Lê Phú Khải thực chất là tiếng nói lương tâm của một nhà báo có bản lĩnh và nhiệt huyết sau một đời cầm bút khi đã hiểu quá rõ bản chất chế độ độc tài toàn trị. Ông dũng cảm xé toạc tấm màn nhung che đậy những thứ gọi là “bí mật quốc gia”, phơi bày sự thật khủng khiếp vương triều Cộng sản cai trị đất nước mấy chục năm qua. Chính họ là nguyên nhân đưa đất nước vào tình cảnh thảm hại của ngày hôm nay…”
Làng Bần, ngày báo chí “cách mạng” Việt Nam (21.6.2017)
T. V.
Quốc hội Việt Nam chiều ngày 20 tháng 6 thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2015, trong đó có Điều 19 (không tố giác tội phạm) bị giới luật sư phản đối mạnh mẽ.
Điều 19 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Hình sự quy đinh rõ như sau:
Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa.
Nay lại tròng thêm vào cổ luật sư trách nhiệm tố tụng thân chủ nữa, tôi cho đây là một điều rất bất lợi và một bước thụt lùi của nền tư pháp Việt Nam vốn đã có nhiều bất cập.
-LS Ngô Ngọc Trai
Nói với đài RFA, luật sư Ngô Ngọc Trai từ Hà Nội cho rằng khoản 3 điều 19 quy định luật sư phải tố giác thân chủ mà Quốc hội vừa thông qua là một sự xâm hại nghiêm trọng đến hoạt động hành nghề của luật sư bào chữa và là một sự thụt lùi của nền tư pháp Việt Nam:
Luật sư bào chữa ở Việt Nam lâu nay đã phải chịu rất nhiều khó khăn, trở ngại từ các quy định bất cập và từ sự thiếu thiện chí của các cơ quan ban ngành tố tụng rồi. Đến nay lại tròng thêm vào cổ luật sư trách nhiệm tố tụng thân chủ nữa, tôi cho đây là một điều rất bất lợi và một bước thụt lùi của nền tư pháp Việt Nam vốn đã có nhiều bất cập. Tôi cho rằng đây là một điều hết sức đáng tiếc và đáng chê trách, chê trách các vị đại biểu Quốc hội đã thông qua một quy định như vậy.
Trong khi đó luật sư Võ An Đôn thuộc đoàn luật sư Phú Yên cho rằng điều 19 này sẽ gây ra những vi phạm về đạo đức nghề nghiệp của người luật sư. Ông giải thích:
Điều này hoàn toàn trái với lương tâm, đạo đức của một người luật sư. Bởi vì luật sư có nghĩa vụ bảo vệ thân chủ của mình. Đồng thời bị can, bị cáo rất tin tưởng ở luật sư mới trình bày rõ nội dung vụ việc. Mình có nghĩa vụ bào chữa, giảm nhẹ tội cho họ nhưng giờ lại đi ngược lại tố cáo họ là vi phạm đạo đức nghề nghiệp và sẽ làm mai một nghề luật sư của Việt Nam.
Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam 2015, đặc biệt là khoản 3 điều 19 được trình lên quốc hội vào hối cuối tháng 5 vừa qua và đã gây ra rất nhiều phản ứng gay gắt từ giới luật sư. Họ dẫn chứng rằng nếu luật sư có trách nhiệm tố giác tội phạm thì lại trái với quy định của công ước quốc tế, vì luật sư phải bảo vệ quyền riêng tư và những bí mật của các thân chủ của mình.
Quốc hội trước khi thông qua điều luật này, nói rằng đã tham khảo ý kiến giới luật sư và những nhà làm luật cũng như kinh nghiệm của một số nước trên thế giớ như Thái Lan, Trung Quốc, Đức, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Canada, Tây Ban Nha. Một số đại biểu cho rằng ở nước ngoài trong những trường hợp nhất định, luật sư được tiết lộ thông tin về thân chủ của mình trong quá trình hành nghề để bảo vệ lợi ích quốc gia
Chúng tôi đã liên lạc với Giáo sư Tạ Văn Tài, hiện là giảng viên luật trường đại học Havard, Hoa Kỳ về quy định những trường hợp luật sư phải tố cáo thân chủ và được ông cho biết:
Bên Mỹ họ cũng cho phép luật sư được giữ kín về tội luật sư biện hộ nhưng nếu là tội dự định tương lai, tức là đang dự mưu xâm hại an ninh quốc gia thì có thể tố cáo ra được. Luật Mỹ cũng nói rõ tội gì mình đang biện hộ thì không được nói ra, đó là quyền tôn trọng bảo mật thông tin giữa luật sư và thân chủ.
Luật sư Ngô Ngọc Trai đồng tình với nhận định của Giáo sư Tạ Văn Tài, ông bổ sung thêm rằng ở nước ngoài luật sư có quyền được tiết lộ còn ở Việt Nam là nghĩa vụ:
Nước ngoài họ quy định bình thường luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật của thân chủ nhưng người ta trao quyền cho luật sư được miễn trừ trách nghiệm nghĩa vụ này, tức là có quyền tiết lộ thông tin của thân chủ nếu biết được là thân chủ chuẩn bị phạm vào tội rất nghiêm trọng. Họ quy định luật sư có quyền như vậy, nhưng Việt Nam lại quy định thành nghĩa vụ thay vì là quyền, mà không chỉ là nghĩa vụ đơn thuần mà còn có thể bị xử lý hình sự nếu không tố giác tội phạm nữa.
Điều luật 19 vừa được thông qua chỉ nhắm trực tiếp đến hai tội danh xâm phạm an ninh quốc gia và tội đặc biệt nghiêm trọng.
Luật sư Ngô Ngọc Trai chỉ ra những bất cập trong các tội danh được quy định tại điều luật này:
Theo luật Việt Nam danh mục các tội về xâm phạm an ninh quốc gia rất rộng. Nhiều hành vi không có nội hàm rõ ràng. Ở nước ngoài các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia tôi hiểu là những hành động như đặt bom khủng bố, giết người hàng loạt, hay chất độc hóa học… Nhưng Việt Nam nhiều khi là sự lên tiếng phản ánh những bất cập, sai trái của hệ thống pháp luật, cũng như sai trái của các ban ngành cũng bị quy là chống nhà nước và xâm phạm an ninh quốc gia.
Việt Nam hiện có 3 điều quy định tội phạm xâm hại an ninh quốc gia bị quốc tế chỉ trích nặng nề đó là điều 258 lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm hại lợi ích quốc gia, điều 88 tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam, và điều 79 âm mưu lật đổ chính quyền. Cộng đồng quốc tế chỉ trích rằng đây là những điều luật mơ hồ, rất dễ quy tội cho những người lên tiếng bất đồng quan điểm chính trị và vi phạm quyền tự do ngôn luận của con người.
Dù luật quyết định như vậy nhưng riêng tôi dù biết thân chủ phạm tội gì nhưng vì đạo đức tôi thà vi phạm luật chứ không tố cáo thân chủ của mình.
-LS Võ An Đôn
Những nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền hay môi trường của Việt Nam hiện đang bị bắt giam hầu như đều bị quy vào một trong 3 điều này.
Một bất cập khác theo luật sư Ngô Ngọc Trai gây ra sự bất bình lớn trong giới luật sư đó là điều luật này đụng chạm đến mảng hoạt động chính của luật sư ở Việt Nam đó là tội danh đặc biệt nghiêm trọng. Ông giải thích sở dĩ đây là mảng hoạt động chính là vì dân Việt Nam còn nghèo nên họ không đủ khả năng để thuê luật sư cho những tội nhẹ, mà chỉ khi phải đối diện với án chung thân hoặc tử hình họ mới nhờ đến luật sư hoặc được chỉ định luật sư.
Còn theo luật sư Võ An Đôn, điều luật này nhằm gây khó khăn cho giới luật sư nhân quyền vốn đã từng bị Việt Nam “không ưa”, luôn tìm cách o ép:
Những luật sư nhân quyền chuyên đi làm những án điều 79, 88, 258 và những tội danh liên quan đến an ninh quốc gia trước đây gặp rất nhiều áp lực. Những năm trước đây khi Internet và Facebook chưa phát triển những luật sư tham gia các án này đều bị tìm mọi cách loại ra khỏi giới luật sư. Bây giờ nhờ mạng xã hội phát triển, chính quyền không dám mạnh tay như trước đây nữa nhưng vẫn gây khó khăn và hiện nay giới luật sư đến 13.000 hay 14.000 người nhưng những luật sư nhân quyền được dăm ba người đếm trên đầu ngón tay.
Bản thân luật sư Võ An Đôn cũng từng bị Sở tư pháp và Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên nhiều lần kỷ luật với hình thức nặng và dọa thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư khi ông tham gia bào chữa vụ 5 công an dùng nhục hình đánh chết dân ở Phú Yên năm 2015.
Trong khi đó Giáo sư Tạ Văn Tài thì cho rằng điều luật này là một cách để gây khó cho những người bị quy vào các tội danh xâm phạm an ninh quốc gia, cho thấy Việt Nam ngày càng thắt chặt hơn các vấn đề liên quan đến an ninh.
Trước thông tin điều 19 được thông qua, luật sư Ngô Ngọc Trai nói rằng trước mắt ông sẽ vẫn phải làm theo luật này bởi vì đây là quyết định của Quốc hội, nhưng dần dần qua từng vụ việc giới luật sư sẽ chỉ ra những bất cập để nền tư pháp Việt Nam được tiến bộ hơn. Tuy nhiên, luật sư Võ An Đôn lại nói rằng bản thân ông sẽ không thực hiện điều luật trái lương tâm này:
Dù luật quyết định như vậy nhưng riêng tôi dù biết thân chủ phạm tội gì nhưng vì đạo đức tôi thà vi phạm luật chứ không tố cáo thân chủ của mình
Luật sư Võ An Đôn cho biết luật sư không tố giác thân chủ theo điều luật này sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng ông không biết cụ thể hình phạt là gì.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2015 được Quốc hội thông qua với 88,39% đại biểu tán thành và sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2018.