S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ông Già Ba Tri Lê Đình Kình

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

10/01/2025

Tôi mém viết hồi ký mấy lần, lần nào cũng đang lúc chuyến choáng hơi men. Ngủ một giấc – thức dậy – ngẫm nghĩ thấy đời mình chán như con gián và nhạt còn hơn nước ốc nữa (chả có cái con mẹ gì để mà “ký” cả) nên … thôi!

Thôi, không viết thì đọc vậy. Cho nó đỡ buồn. Năm trước, tôi coi lại nguyên bộ Trả Ta Sông Núi của Đại Tá Phạm Văn Liễu. Năm nay, nghe Đinh Quang Anh Thái dụ, tôi đặt mua cuốn Hồi Ký Tống Văn Công – do Người Việt Books xuất bản.

Tống Văn Công cùng quê với Xuân Vũ. Cả hai ông đều là dân miền Nam nên không biết làm dáng, cũng không quen mầu mè (riêu cua) gì ráo, viết cứ như nói, và nghĩ sao thì nói vậy hà. Xin coi chơi một đoạn ở chương dẫn nhập:

“Tôi cứ tưởng ông già Ba Tri là chỉ những vị nổi tiếng của quê tôi như Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Phan văn Trị nhưng ông nội tôi bảo sự tích này có từ thời Minh Mạng: Ông Trần văn Hạc, Hương cả của làng An Hòa Tây cho đắp con đập ngăn vàm rạch làm tắc nghẽn đường ghe chở hàng hóa vào chợ Ba Tri.

Dân chúng cả vùng phát đơn kiện, nhưng thế lực Trần Văn Hạc quá mạnh, quan tổng, quan huyện, quan tỉnh đều xử ông ta thắng kiện. Bà con bàn bạc cử ba ông già có uy tín nhất vùng là Thái Hữu Kiếm, Nguyễn Văn và Lê Văn Lợi mang đơn ra Huế kiện lên triều đình.

Các ông này đi bộ qua nhiều vùng rừng hoang vắng nguy hiểm, mất mấy tháng trời mới tới Huế, nổi trống kêu oan ở cửa Ngọ Môn. Vua Minh Mạng cho các ông vào chầu tấu trình sự việc. Vua nghe xong, hạ chiếu cho các ông thắng kiện. Từ đó, danh xưng ‘ông già Ba Tri’ là chỉ những cụ già nhưng chí khí không già, dám dũng cảm bảo vệ lẽ phải.”

Thiệt, đọc mà ái ngại hết sức: “Các ông này đi bộ qua nhiều vùng rừng hoang vắng nguy hiểm, mất mấy tháng trời mới tới Huế, nổi trống kêu oan ở cửa Ngọ Môn.” May mà còn gặp vị vua nhân đức (“hạ chiếu cho các ông thắng kiện”) chớ không thì công cốc.

Thời nay lỡ xẩy ra những chuyện oan khuất tương tự thì chả ai còn phải cất công đi lại xa xôi như vậy nữa. Địa phương nào cũng có hội đồng nhân dân các cấp, trên nữa là quốc hội. Thêm vào đó là hàng ngàn tờ báo, chưa kể vô số các cơ quan truyền thông, mọi chuyện khuất tất đều sẽ bị phơi bầy trước công luận tức thì nên mấy ông già Ba Tri bị thất nghiệp là cái chắc (và cũng hết còn đất sống) đúng không?

Không!

Tưởng vậy chớ không phải vậy đâu. Tưởng vậy là tưởng năng thối. Năm rồi, xã Đồng Tâm vừa xuất hiện một ông già Ba Tri khiến cả nước phải giật mình kinh ngạc. Ông được Tạp Chí Luật Khoa bình chọn là một trong “Mười Nhân Vật Chính Trị Việt Nam Năm 2017,” cùng với không ít lời ưu ái:

“Trước tháng 4/2017, công chúng không biết Lê Đình Kình là ai. Vụ chính quyền huyện Mỹ Đức, Hà Nội xô xát và bắt giữ ông cụ 82 tuổi này vào ngày 15/4 đã thổi bùng làn sóng phản đối của người dân thôn Hoành, xã Đồng Tâm, vốn đang có tranh chấp đất đai tại khu vực đồng Sênh.

Tất cả những diễn biến sau đó cho người ta thấy hình ảnh của một lãnh đạo cả về tinh thần lẫn quyết sách của những người nông dân Đồng Tâm. Ngoài trí tuệ minh mẫn và khả năng trình bày khúc chiết, ông Lê Đình Kình hội tụ nhiều yếu tố để trở thành người được tín nhiệm ở một làng nông thôn Bắc Bộ …”

Về vụ “xô xát” nói trên, nhà báo Nguyễn Đình Ấm cho biết thêm chi tiết:

“Việc ngày 15/4/2017  ba sĩ quan quân đội và đội cảnh sát, an ninh CAHN mời dân ra đồng Sênh ‘kiểm tra mốc giới’ khi đến mốc 15- 20 thì nổ súng uy hiếp, trung tá Trần Thanh Tùng phó CA huyện Mỹ Đức đá cụ Kình văng 2m rồi cùng ‘côn đồ mặc quần bò, áo thun’ xốc nách cụ đưa lên ô tô khóa tay, bịt miệng đồng thời bắt 4 người nữa chở lên Hà Nội thẩm vấn, tra khảo…”

Ông già Ba Tri của xã Đồng Tâm – huyện Mỹ Đức – bị “côn đồ đấm đá, tra khảo” nhưng cả trăm đại diện của Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Hà Nội  đều câm như hến. Còn ĐBQH Đào Thanh Hải thì đứng về phía … công an, để vu cáo nạn nhân: “Gia đình ông Lê Đình Kình đã xông vào chống lại lực lượng thi hành nhiệm vụ, giằng co và xảy ra việc ông Lê Đình Kình bị gãy chân” – theo như tường trình của báo Người Lao Động, đọc được vào hôm 7 tháng 11 năm 2017.

Một năm sau, trên trang Tiếng Dân – đọc được vào ngày 6 tháng 8 năm 2018 –  Nguyễn Đăng Quang (một nhà báo tận tụy và đặc biệt quan tâm về sự việc Đồng Tâm) cho biết:

“Cuộc khủng hoảng Đồng Tâm vẫn đang bế tắc. Người dân đã hai lần gửi TÂM THƯ đến HNTƯ7 và Kỳ họp lần thứ 5 Quốc hội vừa qua, nhưng không có ai trả lời họ. Mới đây, cụ Lê Đình Kình, người được coi là thủ lĩnh của người dân Đồng Tâm, với danh nghĩa người bị hại trong biến cố Đồng Tâm, đã gửi tới Ủy ban Tư pháp Quốc hội và bà Lê Thị Nga, Chủ nhiệm Ủy ban này một “Thư công dân gửi ĐBQH”.

Thư gửi qua ‘Chuyển phát nhanh’, song đến nay đã hơn 2 tháng mà chẳng một ai hồi âm hay phúc đáp cả!

Cụ Kình nhờ tôi hỏi giúp việc này. Tôi có điện hỏi bà Lê Thị Nga, được bà cho biết là chưa nhận được, và đề nghị tôi nhắn cụ Kình gửi lại cho riêng bà, đừng gửi cho ai khác…

Trong cuộc khủng hoảng Đồng Tâm, người viết bài này cũng như tuyệt đại đa số người dân đều mong muốn Trung ương Đảng, Quốc hội và các cơ quan chức năng cần hồi đáp đơn thư và các nguyện vọng, kiến nghị của người dân.”

Khi đất nước còn ở trong tình cảnh một cổ hai tròng (thực dân & phong kiến) nếu bị đám quan lại địa phương ức hiếp, mấy ông già Ba Tri thời trước chỉ cần mất vài tháng đi bộ từ quê mình ra đến kinh đô – nổi trống kêu oan ở cửa Ngọ Môn – rồi chầu tấu trình sự việc là … kể như xong.

Còn bây giờ “tuyệt đại đa số người dân đều mong muốn Trung ương Đảng, Quốc hội và các cơ quan chức năng hồi đáp đơn thư” thôi nhưng điều “mong muốn” giản dị này – xem ra – vẫn hơi có vẻ xa vời, nếu chưa muốn nói là xa xỉ.

Chúng ta đang sống vào cái thời đại (thổ tả) gì vậy, hả Trời?

27/08/ 2018


 

LỄ BỎ MẢ – Tác giả Phạm Thành Châu -Truyen ngan Hay


Tác giả Phạm thành Châu hắn cũng đọc được nhiều chuyện hay, những chuyện tình của ông đều nâng niu những nhân vật chung tình cả nam lẫn nữ vì thế chuyện tình ông viết đẹp và cao thượng, hiền lành giản dị.

Câu chuyện của ông lần này giữa người đàn ông kinh và cô gái thượng mà ta thường gọi là đồng bào sắc tộc nơi tỉnh Thừa Thiên, hình như nơi nào có núi rừng, cao nguyên là nơi ấy có đồng bào thiểu số, mỗi nơi là một sắc tộc khác nhau, cả ngôn ngữ giữa hai nơi cũng có phần khác biệt, mỗi vùng lại có phong tục, tập quán riêng hắn cũng sống gần 4 năm trên núi rừng, nơi hắn làm việc có sắc tộc Stieng, là những người răng cà sát nướu, trái tai được đeo bằng những miếng sừng hay kim loại tròn, hắn thấy có khi họ nong bằng sừng đường kính có đến 4 cm, họ nong lớn dần đến khi nào làm đứt trái trai,lúc đó họ cúng bái ăn mừng như là mừng tuổi thọ như tính thời gian sống bằng cách này. Những người sắc tộc này thường mang họ Y hay họ Điểu.

“Lễ bỏ mả” tác giả đưa lên là tập tục nơi ấp Tà Ràu thuộc tỉnh Thừa Thiên, chắc cũng là gốc người Chàm, hắn cũng mới biết. Những người Stieng nơi hắn có tiếp xúc thấy khi họ chết, tài sản họ đem theo là những “chóe” giống như những chiếc độc bình, càng nhiều, càng to thì chứng tỏ họ càng có nhiều của.

Những chiếc chóe này như theo họ xuống dưới nên khi cúng bái xong họ thọc cho vỡ đáy để không ai lấy trộm.

Hắn gởi các bác xem một phong tục người thượng du Trung phần.

Ara

**********************************

LỄ BỎ MẢ

Phạm Thành Châu

Posted by GLN

Câu chuyện tôi kể dưới đây bắt đầu khi tôi học năm thứ hai ban Anh Văn ở Ðại Học Văn Khoa Huế. Tôi có khiếu về sinh ngữ nên việc học của tôi không mấy khó khăn. Nhưng học mà không thực hành thì khó kết quả. Như môn Anh Văn đa số viết và đọc rất giỏi nhưng nghe và nói, thật vất vả. Nhân dịp Tổng Hội Sinh Viên Huế làm công tác xã hội ở một ấp đồng bào thiểu số, tôi làm quen với một mục sư người Mỹ đang phụ trách truyền giáo ở đó. Tôi đề nghị được giúp ông trong việc phân phối phẩm vật cứu trợ cho đồng bào, thế là tôi có một chỗ thực tập tiếng Anh ngon lành.

Ở tỉnh Thừa Thiên đồng bào sắc tộc chỉ có hai ấp Tà Rầu 1 và Tà Rầu 2 thuộc quận Nam Hòa, phía tây của tỉnh, cách Huế độ mười cây số. Vùng nầy tập trung các lăng tẩm và thắng cảnh đẹp nhất Huế. Ðịa giới  quận bao gồm một phần dãy Trường Sơn với các địa danh A Sao, A Lưới, các căn cứ Bastogne, Birmingham. Cả một vùng rừng núi mênh mông đó đã thành hoang địa vì thuốc khai quang, chỉ phần đất thuộc chính quyền kiểm soát còn giữ được nguyên trạng. Hai ấp của người thiểu số nằm hai bên bờ sông Hương. Ấp Tà Rầu 1 nằm cạnh lăng Minh Mạng phía tả ngạn. Ấp Tà Rầu 2 nằm gần đồi Vọng Cảnh phía hữu ngạn. Theo tôi biết thì trước đây, số đồng bào nầy ở trong rừng sâu, để tránh bom đạn họ chạy đến vùng Quốc Gia và được tạm cư ở đây. Mỗi ấp gồm bốn dãy nhà lợp tôn vách ván. Mỗi gia đình được chia một ngăn. Vì quen sống đơn giản, họ chẳng quan tâm  đến tiện nghi. Có điều, bỏ họ vào sống chung với đồng bào kinh, họ hoàn toàn lạc lõng. Mà dù họ muốn sống như đồng bào kinh cũng không được. Họ không có đất để trồng trọt, chăn nuôi. Cho nên cứ mỗi buổi sáng, theo thói quen, đàn ông móc chà gạt trên vai, miệng ngậm ống vố, lang thang, nghiêng ngó đó đây, rồi lần mò trong bờ, bụi, bắt chuột, rắn, ếch, nhái về nướng làm mồi uống rượu. Riêng đám thanh niên trai tráng đều đi biệt kích Mỹ. Mỗi tháng đến kỳ lương, họ về với gia đình. Bất kỳ đang ở đâu, trong đồn hay trên đường hành quân, hễ nhận được lương là họ bỏ mặc, kéo nhau về nhà, mua rượu, gà, chè chén say sưa cho đến sạch túi mới vác súng về lại đơn vị.

Nhiệm vụ tôi là mỗi sáng thứ bảy đến hội thánh chuyển phẩm vật cứu trợ lên xe, đến nơi đem xuống. Ðồng bào, theo lệ thường đã tập trung sẵn trước sân, ngồi nghe giảng đạo xong, lên nhận quà, thường là những gói “bột dẹp”, “bột xếp”, sữa bột, gạo, đôi khi có cả áo quần, đồ hộp nữa. Ðể dễ thuyết phục đồng bào, ông mục sư học tiếng thượng, tôi cũng học theo ông. Người cán bộ của ty Phát Triển Sắc Tộc dạy rất tận tình nên chúng tôi tiến bộ nhanh. Từ khi ông giảng kinh thánh bằng tiếng thượng, đồng bào rất thích thú, nghe chăm chú hơn. Riêng tôi những lúc đó thường ra góc sân với lũ trẻ bập bẹ chuyện trò.

Tượng nhà mồ được dựng phục vụ cho Lễ bỏ mả (Ảnh: Hồ Xuân Toản)

Một lần, cũng vào giờ giảng kinh, tôi lang thang đến các dãy nhà của đồng bào. Mọi người đều tập trung cả trước sân nên vắng ngắt. Lúc đến gần cuối dãy, tôi chợt thấy một cô bé thò đầu ra cửa sổ nhìn tôi và cười. Tuổi em độ mười hai, mười ba, có đôi mắt đen nhánh, miệng rất tươi, tóc em đen rẽ qua hai bên tai để lộ vầng trán cao và đôi lông mày đậm và dài. Trông em cùng cỡ với một em học lớp đệ thất trung học. Giá như em đi học, có lẽ em là hình ảnh nhí nhảnh, trong sáng nhất trường. Khi tôi đến gần, định hỏi chuyện thì em biến mất sau khung cửa sổ. Tôi ngạc nhiên, sao giờ nầy em lại ở đây, cửa chính lại đóng kín? Tôi tảng lờ đi quá cuối dãy rồi từ từ quay lên nhưng phía đối diện nhà em. Tôi liếc qua, thấy em đã nhô đầu lên chỉ vừa tầm đôi mắt nhìn tôi. Tôi cười với em. Mắt em sáng rực, đuôi mi kéo dài ra, rạng rỡ. Tôi biết em cũng đang cười. Tôi ra dấu rằng tôi sẽ đến gần em, em lắc đầu. Tôi lại ra dấu em ra với tôi, em cũng lắc đầu. Tôi thấy có gì bất thường. Em bị tật nguyền hay em không thích chỗ đông người? Tôi quay về nhưng đôi mắt vẫn còn làm tôi xao xuyến. Người thiểu số, nhất là phái nữ có đôi mắt rất đẹp, đen láy và đoan chính. Cả khi họ để ngực trần và nếu ta nhìn vào đôi mắt họ, tự nhiên lòng ta như được rửa sạch những ý nghĩ vẫn đục, những ham muốn thấp hèn.

Những buổi gặp gỡ và nói chuyện câm như thế kéo dài được vài tháng. Ngày thường, thỉnh thoảng tôi có vào ấp của em để liên hệ với trưởng ấp những việc linh tinh mà vị mục sư nhờ tôi. Những lúc đó em có nhìn tôi nhưng vờ như không quen biết.
Môt buổi sáng đi ngang qua đồi Vọng Cảnh, lúc cho xe xuống giốc cầu, tôi chợt thấy một toán phụ nữ sắc tộc đang bì bõm dưới giòng nước để bắt ốc, hái rau gì đó. Chỉ nhìn thoáng qua, tôi biết ngay có em vì dáng em rất gầy và mái tóc kiểu học trò đó không lẫn được với ai cả. Tôi vội dựng xe gắn máy và lần xuống bờ suối. Hình như nhận ra tôi nên em chậm lại để đi sau cùng. Em mặc một quần đùi màu đen, ống dài quá gối và một chiếc áo hoa rộng thùng thình, đó là đồ cứu trợ do các hội thiện cấp phát. Khi tôi đến gần, em đứng thẳng người nhìn tôi đăm đăm, đôi mắt đen sâu thẩm sáng lên một nụ cười ngây thơ, hoan hỉ. Hình ảnh đó, suốt đời vẫn còn trong tôi. Tôi cũng vui mừng được gặp em, người bạn nhỏ bé. Tôi tiến xuống bờ suối định chào hỏi thì em lắc đầu và chạy băng lên phía trước. Tiếng chân em bì bõm khiến những người đàn bà quay lại. Họ giăng tay ra cản tôi. Tôi bảo.

– Tôi muốn nói chuyện với em bé kia được không?

Họ lắc đầu vừa nói vừa ra dấu.

– Không được, nó sẽ bị đánh vào đầu, vào người. Mầy đi đi!
Tôi dừng lại và hiểu lờ mờ rằng nếu tôi tiếp xúc với em, em sẽ gặp chuyện không may. Tôi quay lên, đứng nấp vào một bụi cây. Em đi chậm lại và dõi mắt lên cầu như tìm kiếm. Tôi bước ra khỏi bụi cây cho em thấy rõ. Em nhìn tôi và cười. Nụ cười và ánh mắt em như tràn ngập nổi buồn của lưu luyến và tuyệt vọng. Tôi vẫy tay, em cũng vừa thụt lùi vừa vẫy tay rồi vụt chạy đi.
Hôm đó, như thường lệ, đồng bào ở cả trước sân với vị mục sư, tôi lẻn ra đi qua căn nhà của em. Cửa chính vẫn đóng, cửa sổ vẫn mở, nhưng không thấy em đâu. Tôi đi qua, lại mấy lần vẫn thế, cuối cùng tôi đi thẳng đến cửa sổ và nhìn vào trong. Tôi bàng hoàng, không tin ở mắt mình. Em đã bị lột trần, chỉ còn chiếc quần đùi. Hai tay, hai chân bị trói chặt vào chân giường. em ngồi gục đầu trong hai cánh tay bị treo lên. Người em ốm tong, thấy rõ cả dãy xương sườn bên hông với những vết hằn đỏ bầm, rớm máu. Em xây lưng ra ngoài, hai chân bị trói cố co lên che lấy ngực nhưng vẫn để lộ ra chiếc vú nhỏ xíu như nửa trái chanh. Tôi gọi nho nhỏ “Em, em!” Em nghe thấy nhưng lắc đầu và vẫn giấu đầu với mái tóc lòa xòa vào giữa hai cánh tay. Rồi đôi vai em bỗng rung động mạnh, tiếng nức nở bị kìm chặt giữa hai hàm răng nghe rên rỉ, tức tưởi. Tôi quay lại, lên xe gắn máy, chạy thẳng ra trụ sở xã. Ông xã trưởng đang bàn chuyện gì đó với một anh cảnh sát và vài người nữa. Tôi xin lỗi họ và trình bày.

– Tôi thấy trong ấp Tà Rầu có một em bé bị trói tay chân vào giường, qúi ông phải giải cứu nó ra chứ.

Tôi chưa dứt lời, ông xã trưởng đã bảo.
– Chúng tôi đang nói chuyện đó, đó.

– Nhưng chính quyền phải can thiệp…

– Cậu ngồi xuống đây, rồi ông cảnh sát giải thích cho cậu nghe. Chuyện nầy đâu phải xảy ra lần đầu. Hôm qua tôi có nghe ông trưởng ấp báo cáo rồi, tôi đã cho người lên mời Ty Sắc Tộc xuống giải quyết, họ hẹn sáng nay đến nên chúng tôi phải ngồi chờ đây, chứ thứ bảy ai mà làm việc. Nhờ ông cảnh sát  giải thích cho cậu đây rõ.

Anh cảnh sát rót cho tôi tách trà rồi nhẫn nha nói.

– Anh làm bên hội thánh phải không? Ông mục sư cũng biết chuyện nầy rồi. Ai cũng biết, chỉ có anh chưa rõ thôi. Nó rắc rối ở chỗ đó tục lệ của đồng bào thiểu số mà luật pháp mình không áp dụng được. Ép nó, nó quậy lên, chẳng hại gì mình nhưng đồng bào bị vạ lây.

Tôi sốt ruột.

– Nhưng dù tục lệ gì cũng phải cởi trói cho người ta chứ!

– Năm kia, ông quận có xuống cởi trói cho con nhỏ, mấy bữa sau bị đau sao đó. Nghe đồn bị thư bùa ngãi, bụng bị sưng lên, phải ra ngoài Hương Hóa, Quảng Trị rước thầy ngãi về trị mới khỏi.
– Nhưng nó là ai mà ngang ngược như thế?

– Là ai? Chồng con nhỏ đó chứ ai!

– Trời đất!

– Năm kia, con người ta mới mười một tuổi mà nó đòi ngủ, con nhỏ nửa đêm vùng bỏ chạy, la khóc. Nó lôi vô lột áo quần, trói ở chân giường mấy ngày, bỏ đói, bỏ khát. Ông quận xuống xử, nó không chịu, ông phải đích thân cởi trói, đem con nhỏ gửi nhà khác, nhưng không ai dám nhận, sợ nó thư bùa ngải. Cuối cùng phải năn nỉ, giải thích cho nó biết là con nhỏ còn con nít, phải chờ đủ mười ba tuổi mới được. Năm nay con nhỏ vừa đủ mười ba, nó lại giở trò cũ. Nó trói lại đánh đập cách nào con nhỏ cũng không chịu. Chẳng biết lát nữa Ty Sắc Tộc xuống giải quyết thế nào đây?!

– Nhưng muốn có vợ thì thiếu khối gì đàn bà, con gái lớn tuổi, sao lại nhè đứa con nít. Nói đồng bào trong ấp cưới cho nó con vợ.
– Nó cũng có vợ đấy chứ. Vợ nó là chị con nhỏ kia.

Tôi ngớ ra, chẳng hiểu gì cả. Anh cảnh sát cười.

– Bây giờ rãnh rỗi, tôi tóm tắt cho anh nghe. Gia đình con nhỏ đó có ba chị em. Hai con chị đã lớn chỉ có con út nầy còn nhỏ thôi. Chị lớn nó có chồng  đang ở bên Tà Rầu một, con chị kế có chồng là thằng cô hồn dịch vật đang nói đây. Lâu rồi, lúc còn ở trong buôn sóc ở trong A Sao, A Lưới kia, ông già của ba cô gái nầy chết, nhà nghèo quá, không có trâu, gà, chiêng, cồng để cúng Yang, làm ma chay đãi làng. Thằng rễ cô hồn nầy mới mua cô út bằng mấy trâu gà gì đó về làm vợ. Vậy là nó có hai vợ, một đứa lớn và một đứa năm bảy tuổi. Nghe nói trong buôn nó là đứa quyền hành, giàu có kiểu như cường hào, ác bá vậy, Bây giờ ở đây, nó không làm gì nhưng ai cũng sợ nó, cả đến đồng bào kinh cũng không dám rây vào. Chính quyền cũng chịu thua, chẳng có cách nào trừng trị nó cả.

– Dù sao cũng phải cứu em nhỏ ra. Ðể vậy nó bỏ đói, đánh đập riết, em chắc chết.

– Ðể chờ Ty Sắc Tộc xuống xem sao.Năm kia, đem ra xử, nó nói con chị lớn muốn bắt em lại phải trả đủ trâu bò, chiêng cồng gì đó. Mà tiền đâu chị nó chuộc em ra.

Một ý nghĩ thoáng trong đầu, tôi hỏi tên em nhỏ và tên người chị lớn rồi cám ơn, lên xe qua Tà Rầu một. Chị ta phảng phất giống em nên tôi nhận ra ngay. Tôi bảo.

– Này, em của chị là Hrao bị cột chân tay, bị đánh đau, bị đói bụng bên Tà Rầu hai chị biết không?

– Tao biết mà không làm gì được. Nó là vợ thằng K’hiu rồi.

– Nhưng phải cứu Hrao ra, chị không thương Hrao sao?

– Tao thương Hrao đầy một bụng, nhưng không có tiền trả cho nó.
– Nếu tôi đưa tiền cho chị, chị có chuộc được Hrao ra không?

Chị bỗng lôi tuột tôi vào góc nhà, thì thầm.

– Thằng K’hiu nó có cái tai nghe xa lắm. Nó ác như con cọp, con rắn. Nó giết mầy chết. Mầy có tiền muốn mua Hrao phải đưa tiền cho tao. Khi Hrao về nhà tao, mầy đến dẫn về nhà mầy làm vợ, không cho thằng K’hiu biết mầy ở đâu.

– Tôi không có tiền ngay, phải ít hôm nữa. Bây giờ tôi đưa chị qua bên xã, bên đó có nhiều người lắm. Ông xã trưởng, ông cảnh sát, ông sắc tộc làm chứng, khi K’hiu đòi tiền chuộc, chị hỏi nó bao nhiêu rồi cho tôi biết. Chị nhớ hẹn nó ba ngày nữa đưa tiền. Nhớ mời nhiều người đến cho họ thấy chị đưa tiền rồi dẫn Hrao về.

Chị ta mừng rỡ.

– Mầy chở tao qua xã thôi, còn mầy đi đi, đừng cho thằng K’hiu thấy. Tôi đưa chị qua xã rồi về Huế dọ giá chiếc xe gắn máy của tôi. Hôm sau tôi lên hỏi chị và thấy số tiền cũng vào khoảng chiếc xe. Tôi về bán xe đưa tiền cho chị, còn một ít tôi mua chiếc xe đạp.

Một buổi sáng, chờ trong ấp vắng người, tôi đến nhà chị. Chị lại lôi tôi vào sau nhà. Em Hrao đang ngồi nấu gì đấy, ngẩn lên thấy tôi, em đứng dậy, nhìn sửng tôi. Người chị bảo.

– Vợ mầy đó, Hrao ưng mầy lắm. Mầy và Hrao nằm đây.

Chị chỉ chiếc giường rồi đóng các cửa lại và đi ra ngoài. Tôi dìu em Hrao đến bên giường ngồi xuống. Em vòng tay ôm lấy tôi, úp mặt vào ngực tôi yên lặng. Tôi không nghe em khóc nhưng nước mắt thấm ướt cả áo tôi. Em Hrao nhỏ quá, ốm quá. Tôi ôm vai em mà xương vai cộm rõ trong bàn tay tôi. Em vẫn mặc chiếc áo hoa rộng thùng thình như hôm trước, một chiếc váy vải đen thô, dài phủ cả bàn chân, có lẽ là váy của người chị.
– Em được về đây, anh mừng lắm. Anh ngồi với em một lát rồi anh về.
Em ngước nhìn tôi, ngạc nhiên.

– Em không về nhà anh à?

– Không, em vẫn ở đây với chị em, thỉnh thoảng anh ghé thăm em.
– Nó sẽ giết anh, giết em. Nó nói, em nói chuyện với ai, nó sẽ giết hai đứa.

– Anh sẽ ít gặp em, em đừng sợ.

Em vẫn lắc đầu.

– Không. Em là vợ anh mà!

– Anh còn đi học, không có tiền nuôi em, không có nhà để ở. Em còn nhỏ quá, làm vợ chưa được. Em chờ anh hai năm nữa, học xong, anh sẽ đi làm, có tiền cưới em về sống với anh.
Ấp Tà Rầu một nằm cạnh lăng Minh Mạng. Lăng xây trên một ngọn đồi, chung quanh có tường thành bao bọc, lại có những giòng nước, hồ sen. Phụ nữ sắc tộc thường đi dọc các con suối, bắt ốc, hái rau. Họ đi buổi sáng đến trưa thì về. Tôi hẹn với em Hrao mỗi tuần vài ba buổi chiều gặp em ở sau lăng. Em cũng đi hái rau với các bạn. Thấy tôi họ vẫy tay bảo.

– Mầy giữ nó, tụi tao về trước.

Chúng tôi ngồi trên bờ suối, khuất sau những đám cỏ tranh hoang vu. Tôi giở trong xách tay ra một số quà rong. Ít trái cây, bánh và nước lạnh trong chai nhựa. Em Hrao rất thích những trái cây chua như cốc, me, ổi…Với chút muối ớt, đem bao nhiêu em giành ăn hết cả. Chúng tôi vừa ăn quà vừa chuyện trò. Tôi thích hỏi em đủ thứ chuyện để nghe em trả lời một cách ngây thơ, buồn cười. Em xem tôi như người anh đồng thời em dâng tôi thứ bản năng thiết tha, nồng nàn của một người vợ theo như truyền thống của sắc tộc em, đã là vợ khi còn rất trẻ.
Từ ngày em về với người chị, em là con chim sổ lồng. Em như cây hoa được chăm sóc, vun xới và bắt đầu có những nụ hàm tiếu. Em lớn nhanh và nẩy nở đến độ chỉ hơn một năm mà em đã đứng đến vai tôi rồi. Tâm hồn em cũng trưởng thành theo. Những lần gặp nhau, em vui mừng theo cách của một thiếu nữ đến với người yêu. Em thường bạo dạn ngồi sát bên tôi, tựa đầu vào vai tôi yên lặng thật lâu…

Tôi về Hội Thánh lấy một số áo quần vừa tầm cho em. Hôm nào đến hẹn, em mặc áo đẹp ở trong, ngoài khoác một áo cũ. Khi chỉ còn hai chúng tôi ở bờ suối, em cởi áo ngoài, hãnh diện đến trước mặt tôi, nhìn tôi để chờ được khen. Tôi ngắm em sửng sờ.
– Hrao! Em đẹp như tiên.

– Em Hrao chỉ mặc áo đẹp cho anh nhìn thôi, không ai biết em đẹp hết.
Hai mắt em long lanh tuổi dậy thì, má em hồng, ngực em đã nhô cao, phập phồng sức sống, đùi em nở tròn, hằn rõ dưới lần vải. Tôi nhìn thấy và hãnh diện khi nghĩ đến khu rừng trinh nguyên, quí giá đó, trong một ngày trọng đại, tôi và em sẽ cùng nhau khai phá, thưởng thức sự huyền nhiệm của tình yêu vợ chồng. Tôi thường dặn em phải ăn và ngủ thật nhiều để mau lớn. Em vâng lời và khoe với tôi.

– Ở nhà, em Hrao no rồi mà còn ăn nữa, hết buồn ngủ rồi mà còn nhắm mắt ngủ nữa.

Tôi khen em giỏi, em bảo.

– Nhưng khi Hrao về ở với anh, Hrao ít ngủ để anh ngủ nhiều, ít ăn để anh ăn nhiều.

– Ðể làm gì?

– Hrao ra nương rẫy bứt lúa về nấu cho anh ăn no.

Em lúc nào cũng mơ đến một khung trời hoang dã, như con chim rừng cùng bạn đời tung cánh trong cõi tự do, bao la.
Mùa Xuân năm 1975, miền Nam bị tấn công. Dân Huế hoảng hốt chạy cả vào Ðà Nẳng. Năm Mậu Thân kinh hoàng với những vụ thảm sát tập thể khiến cho những người dù không liên hệ đến chính quyền cũng bồng bế nhau chạy giặc. Tôi cũng chạy vào Ðà Nẳng, nhưng mấy hôm sau thành phố cũng bị chiếm nốt. Rồi có thông cáo đồng bào phải trở về quê cũ. Ðáng lẽ tôi về quê ở Quảng Ngãi, nhưng tôi lại ra Huế, định dẫn em Hrao về với gia đình. Cha mẹ tôi chỉ sinh được tôi là con trai nên rất yêu thương. Tôi tin rằng em Hrao sẽ được chấp nhận như một nàng dâu, tuy còn trẻ nhưng xinh đẹp, hiền lành. Tôi về lại nhà trọ trong thành nội vào buổi chiều, qua sáng hôm sau ra đường Trần Hưng Ðạo định đón xe lên Tà Rầu thì bị việt cộng chận bắt. Một tên bạn học trở cờ đã báo cáo tôi là tay sai C.I.A, trực tiếp chỉ huy là vị mục sư Tin Lành. Tôi bị nhốt vào lao Thừa Phủ. Họ đưa giấy bút bắt tôi thành thật khai báo. Viết xong họ không chịu, bắt tôi viết lại, hàng chục lần, nhưng tôi có biết gì về C.I.A đâu! Lúc đầu họ dỗ dành, sau hăm dọa, rồi họ bắt đầu tra tấn tôi, chết đi sống lại mấy lần. Suốt bốn tháng trường, đến khi nghĩ rằng mình không thể sống được, tôi đâm ù lì, bảo họ.

– Cứ giết tôi đi, tôi chẳng có gì để khai cả.

Thế rồi họ thả tôi ra. Tôi về nhà trọ nằm liệt, chỉ còn da với xương. Người chủ nhà rất tốt, săn sóc tôi tận tình. Một thời gian sau đã khá, có thể đi vững, tôi ra đón xe lam lên Tà Rầu tìm em Hrao. Xuống xe ở chợ Tuần, tôi đi đò qua sông Hương, qua ngã lăng Minh Mạng đến ấp Tà Rầu. Tôi đi rất đúng đường, nhưng trước mặt tôi là quả đồi trọc, không còn chút dấu vết gì của đồng bào thiểu số cả! Họ đã đi sạch. Tôi lên đỉnh đồi nhìn quanh, chỉ thấy một cõi mênh mông vắng lặng. Tôi đi theo lối mòn và tìm thấy nền nhà của em. Tôi ngồi xuống, cảm thấy được gần gủi em. Ðến chiều, tôi xuống đồi vào lăng Minh Mạng, đến bờ suối cũ và lại chờ em. Tôi lấy trong xách tay ra một ít trái cây cho em, để đấy và dõi  mắt tìm quanh…
Thấy trời gần tối, tôi đành quay về.

Những ngày sau đó, tuy người còn yếu, tôi vẫn lên vùng Nam Hòa, lang thang vào các nơi cũ, hi vọng được gặp em. Một buổi chiều, đang đứng trên đồi, chợt tôi thấy bên kia, nơi những ngôi mộ người thiểu số, thấp thoáng bóng người sắc tộc. Tôi mừng rỡ, chạy băng qua, họ sẽ giúp tôi biết được em Hrao ở đâu. Khi tôi đến nơi thì hình như họ vừa cúng lễ gì đó xong. Một đám lửa gần tàn, một ít đồ gia dụng, áo quần, ống vố, chà gạt…để cạnh một ngôi mộ. Ðó là những người trong ấp trước đây, chúng tôi mừng rỡ khi nhận ra nhau.

– Ðồng bào cúng gì đó?

– Tao cúng bỏ mả, tao không ở đây nữa, không đem cơm, đem thịt cho nó nữa. Tao cúng bỏ nó, nó theo Yang để có cái ăn, cái uống.
– Bây giờ đồng bào về lại trong núi rồi hả?

– Tao về lại buôn rồi.

– Có xa không?

– Tao đi từ lúc con gà gáy, bây giờ về lại trong buôn.

– Gia đình người chị và em Hrao có về đó không?

– Chị Hrao về đó nhưng Hrao không về.

– Sao vậy? Bây giờ em Hrao ở đâu?

– Nó ở đằng kia. Nó chết rồi. Mộ nó kia kìa.

Tôi cảm tưởng như thình lình bị rút hết sức sống trong người. Tôi run lên, choáng váng.

– Không phải đâu. Em Hrao nầy nhỏ và đẹp lắm. Em ở với người chị.
– Hrao đó, tao biết, mầy ưng nó lắm, mầy mua nó làm vợ, ai cũng biết.
-Nhưng vì sao Hrao chết?

– Thằng K’hiu giết nó.

– Tại sao lại giết em, nó đã lấy đủ tiền trâu, tiền cồng rồi mà.
– Tao không biết, ngày mai chị của Hrao ra đây làm lễ bỏ mã, mầy hỏi nó.

Tôi đến bên mộ em, quì xuống, vuốt ve nấm mộ.

– Anh vẫn không tin rằng em đã chết. Em hứa với anh sẽ ra rẫy, ra nương làm việc, sẽ nấu cho anh ăn, sẽ sinh cho anh nhiều con. Em quên rồi sao? Dậy với anh đi em. Em ra suối bắt ốc, hái rau. Anh ngồi chờ em mấy bữa nay ngoài đó.
Tôi cứ lảm nhảm một mình cho đến tối mịt mới về. Chiều hôm sau lên mộ em, tôi đem theo một ít hoa và những trái cây em thích. Tôi đặt các thứ lên một tờ báo, thắp nhang và quì lạy em. Tôi cứ quì như thế, lòng mơ tưởng đến hình bóng em, nhớ lại những ngày em và tôi bên nhau…Khi trời về chiều, có tiếng chân lên đồi, tôi quay lại, thấy chị của Hrao và chồng đang đi tới. Họ thấy tôi, giật mình sợ hãi, lùi lại.

– Mầy là ma phải không? Mầy chết rồi mà.

– Không, tôi còn sống đây.

– Mầy giống con ma, mầy ốm quá.l

– Chị nói tôi nghe, em Hrao còn sống phải không? Người chết trong mộ nầy không phải Hrao mà.

– Hrao chết  rồi, nó nằm đó. Tao đến đây làm lễ bỏ mả nó.

– Chị kể tôi nghe, vì sao Hrao chết?

Hôm súng nổ, đồng bào kinh sợ lắm, chạy trốn hết. Rồi bộ đội lên làm ấp trưởng, xã trưởng. Ít lâu sau có mấy thằng bộ đội lên hỏi về mầy, về ông mục sư. Ai nó cũng hỏi. Sau nó biết Hrao là vợ mầy, nó hỏi Hrao nhiều lắm. Tao nghe nó nói với Hrao “Mầy phải nói hết cho tao. Nó mua mầy làm vợ để mầy làm gì cho nó, cho thằng mục sư? Mầy đừng sợ nó, thằng chồng người kinh của mầy chết rồi, nó không đòi trâu, đòi chiêng cồng được nữa. Mầy cứ nói thật cho tao nghe” Hrao hỏi “Tại sao mầy biết chồng tao chết?” Thằng bộ đội nói “Chính mắt tao thấy” Hrao kêu lên “Mầy giết chết chồng tao rồi!” Và ngã xuống đất. Một lúc sau tỉnh dậy, chỉ khóc chứ không ăn gì hết. Hrao kêu tên mầy mấy ngày mấy đêm rồi chết. Tao biết thằng K’hiu đã sai con ma bóp cổ Hrao, nó không ăn được, không thở được.

Tôi lặng người vì đau khổ và xót thương em. Tình em đối với tôi đơn sơ biết bao! Em tưởng tôi đã chết nên nhịn đói để chết theo tôi.
Vợ chồng chị lôi trong gùi ra những lễ vật. Người chồng chôn một cây cọc và cột một con gà nhỏ còn sống bên mộ em, xếp một đống củi và bắt đầu đốt lửa lên. Chị thì đặt trên những tàu lá chuối cơm và thức ăn, bên cạnh là tài sản sơ sài của riêng em. Mấy cái chén, đĩa, vài cái áo quần, một số kẹp tóc và hai cái nịt ngực mà tôi nhớ trước đây đã mua cho em “Anh không muốn ai nhìn thấy ngực em cả” Nhưng hôm sau em bảo “Hrao không mặc được, thở không được” Tôi nói với chị xin giữ  lại chiếc áo hoa và chiếc quần đùi mà em đã mặc lần đầu tôi gặp ở dưới suối.
– Không được đâu, mầy lấy áo quần của Hrao, nó sẽ theo mầy về nhà đó.
– Thật không, nếu vậy em Hrao sẽ ở bên tôi suốt đời.

Chị ngồi xuống, người chồng ngồi bên cạnh, dùng cái dùi quấn vải gõ lên cái cồng bắt nhịp và chị bắt đầu khấn vái. Giọng chị đều đều, buồn thảm trong tiếng gió lộng, tiếng lửa cháy tí tách và tiếng cồng ngân nga vang vọng. Tôi quì xuống, chấp tay, nhắm mắt lại. Tôi thấy em Hrao đứng nhìn tôi, đôi mắt đen lánh, ngập tràn yêu thương, rồi em sà vào lòng tôi, đầu tựa vào ngực tôi. Từ mái tóc em, từ người em mùi thơm trinh nữ quen thuộc, ngọt ngào. Tôi hôn em, thì thầm “Hrao, em yên lặng nghe chị em làm lễ cầu hồn cho em”.

“Ơi em Hrao!

“Hôm nay, áo quan đã làm rồi, đã đóng lại rồi, đã buộc lại rồi, các kút cũng đã được tạc rồi. Chị đem cơm đến đây cho em ăn, đem rượu đến đây cho em uống, bởi vì từ nay chị sẽ bỏ em, chị sẽ quay lưng lại em.

“Ðất đỏ ở dưới, đất đen ở trên, em ở trong áo quan, em ở trong mả, nhà của em ở giữa rừng tranh, ở giữa rừng sậy, em ở một miền đất khác, em uống những giòng nước khác.

“Xin em đừng kêu gọi, đừng lại gần, đừng thương yêu chị, đừng thương yêu cháu của em nữa.

“Từ nay chị sẽ không còn mang cơm, không còn mang nước, chị sẽ bỏ mả và không còn săn sóc mả nữa.

“Nếu em muốn ăn cơm, xin em hỏi thần những vì sao, nếu em muốn ăn thịt gà, xin em hỏi thần mặt trăng, nếu em muốn ăn cá, xin em hỏi thần cai quản trên trời. Một vị thần khác sẽ săn sóc, trông nom em.

“Em đã chết thật rồi, đã tan rã thật rồi, em là chim Hrao ở trong rừng rậm, em là chim Tlang Hêă sống ở phương Nam.

“Chị đã sữa sang mả rồi, đã tạc những cột kút, cột klao, đã vẽ những hình vẽ bằng máu trâu máu bò rồi.

“Thôi, từ nay thế là hết. Thôi, từ nay thế là hết! Như lá M’nang đã lìa cành, lá M’tôi đã tàn úa.

“Từ nay không còn đào lỗ, không còn làm nhà chòi, không còn than, không còn khóc nữa. Sẽ không đem của, đem tôm, đem cơm, đem rau đến mả nữa. Sẽ không còn để tang, không còn kiêng cử nữa. Chóe rượu cúng Ngokbu đã đặt xuống mả rồi, cây chuối, cây khoai đã được trồng lên mả rồi, con gà đã được thả bay đi rồi. Chị đã quên em rồi, đã bỏ em rồi!

“Ơi em Hrao, chị đã bỏ em rồi!”

Chị đã dứt lời mà tôi vẫn còn quì và nhắm mắt. Tôi và em Hrao đang chìm đắm trong hạnh phúc của bao kỉ niệm cũ, bao ước mơ về một ngày thành vợ thành chồng, quấn quít bên nhau.
Chị đến bên tôi hỏi nho nhỏ.

– Mầy thương Hrao lắm sao? Mầy nhớ Hrao lắm hả?

Bấy lâu nay tôi đã nuốt những giọt nước mắt vào lòng. Tôi cô đơn quá! Giờ đây, nghe chị hỏi, tất cả nổi buồn trong lòng, tôi không kèm được nữa. Tôi ôm chị khóc say sưa.

Phạm Thành Châu

From: Phi Phuong Nguyen


 

CHÚA MUỐN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch!”.

“Ở Nga, Kitô hữu bị thử thách bởi gian khổ; ở Mỹ, họ bị thử thách bởi tự do. Bởi ‘tự do’ khó hơn nhiều! Không ai áp lực trên niềm tin của bạn. Vì vậy, bạn thoải mái, không quá tập trung vào Chúa Kitô, vào sự dạy dỗ của Ngài, vào cách Ngài muốn bạn sống! Vấn đề ở chỗ, không phải những gì bạn muốn, nhưng Chúa muốn!” – Pavel Poloz.

Kính thưa Anh Chị em,

Một lần nữa, chúng ta khám phá lòng thành sâu sắc của người phong cùi qua chi tiết “Chúa muốn” trong Tin Mừng hôm nay; một chi tiết mà cả ba thánh sử nhất lãm nhất mực không bỏ qua, “Lạy Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch!”.

“Nếu Ngài muốn!”. Điều này đánh dấu một thiên hướng thánh thiện trong tâm hồn con người này. Thiên hướng đó là anh muốn chính Chúa Giêsu, còn hơn muốn được Ngài chữa khỏi. Với anh, Chúa Giêsu và ý muốn của Ngài thì lớn hơn tất cả! ‘Chúa muốn’, không phải anh muốn! Qua đó, anh bộc lộ sự nhẫn nại của một con người sẵn sàng đón nhận thập giá trong kế hoạch Thiên Chúa dành cho anh. Bởi lẽ, tự co rút lại, không chấp nhận khiếm khuyết của mình – tự thân – đã là một trở ngại để được chữa khỏi chúng! Anh xác tín, ‘Chúa muốn’ thì Chúa làm; bằng không, thì đó vẫn là điều tốt nhất mà Ngài muốn cho vinh quang Ngài nơi thân xác cùi hủi của anh.

Một số người sẽ mất kiên nhẫn trong cuộc chiến này! Họ muốn lành lặn tức khắc hơn là muốn chính Đấng chữa lành. Phương cách chữa trị như thế có thể tốt cho phần xác nhưng lại làm nghèo phần hồn nếu không nói là ‘sinh bệnh’; và điều này không bao giờ hấp dẫn đối với Thiên Chúa! Sự cởi mở đối với thời gian của Ngài, không bất an với những câu hỏi tại sao, tại sao… để phó mặc trong tay Chúa cho phép bệnh tật chữa trị linh hồn trước khi nó được cất khỏi sự èo uột của thân xác.

Đến lượt Chúa Giêsu, Ngài nói, “Tôi muốn!”. Hình dạng xấu xí của bệnh cùi là biểu tượng cho linh hồn một tội nhân! Sự chịu đựng tác động khốn khổ và biến dạng do tội giục giã con người lần theo con đường hoán cải. Với ai vẫn cảm thấy nhức nhối về một tội lỗi trong quá khứ, sẽ có một điều gì đó cản trở khi họ không tin tưởng đủ vào một cuộc sống mới. Và thật khó để tin rằng, Chúa muốn gần họ hơn chính họ muốn đến gần Ngài; đúng hơn, Ngài khao khát họ! Và đây, sự can thiệp của Thiên Chúa thì luôn dứt khoát, vĩnh viễn, tuyệt đối! Chúa Giêsu di chuyển bàn tay của Ngài chạm vào người cùi, “Tôi muốn, anh hãy được sạch!”; từ xác đến hồn!

Anh Chị em,

“Nếu Ngài muốn!”. Bởi tội nguyên tổ, chúng ta chịu sự ‘ham muốn’ phạm tội. Phạm tội nhẹ, chúng ta bị cám dỗ nghĩ rằng “chuyện nhỏ” hoặc “không phải là tội trọng”. Tuy nhiên, tội nhẹ cũng làm biến dạng hình ảnh Thiên Chúa trong chúng ta. Nó “cản trở sự tiến triển của linh hồn trong việc thực hành các nhân đức và điều thiện luân lý… và dần dần, chúng ta phạm tội trọng”. Hãy đến với Chúa Giêsu trong Bí tích Hoà Giải, nơi Ngài chạm đến, chữa lành và giao hoà chúng ta với Chúa, với Giáo Hội! “Chúng ta thường che đậy tội bằng sự giả hình của một “lối sống tốt”. Chính lúc đó, chúng ta cần ở một mình, quỳ gối trước Chúa và cầu nguyện, “Lạy Chúa, nếu ‘Chúa muốn’, Chúa có thể làm cho con được sạch!”. Hãy làm điều đó, hãy làm trước khi đi ngủ, mỗi tối!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con sợ bất cứ một điều gì ngoài tội lỗi – điều làm con xa Chúa!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

***********************************

Thứ Sáu sau Lễ Hiển Linh

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

12 Khi ấy, Đức Giê-su đang ở trong một thành kia; có một người toàn thân mắc bệnh phong vừa thấy Người, liền sấp mặt xuống, xin Người rằng: “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” 13 Người giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hãy được sạch.” Lập tức, bệnh phong biến khỏi anh. 14 Rồi Người ra lệnh cho anh không được nói với ai, và Người bảo: “Hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được sạch, thì hãy dâng của lễ như ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết.”

15 Tiếng đồn về Người ngày càng lan rộng; dân chúng lũ lượt tuôn đến để nghe Người và để được chữa bệnh. 16 Nhưng Người lui vào những nơi hoang vắng mà cầu nguyện. 


 

Dư Thị Thành- Tưởng Năng Tiến

Ba’o Tieng Dan

09/01/2025

Tưởng Năng Tiến

9-1-2024

Hồi ký (Đồng Bằng) của Nguyên Ngọc có dành đôi ba trang viết về Rạch Gốc – một địa danh hẻo lánh, ở tuốt luốt tận dưới mũi Cà Mau lận:

Rạch Gốc chẳng chợ búa gì hết, mọi thứ phải chạy đò lên Năm Căn mua… Một buổi sáng, bước ra trước sân Ủy ban, tôi ngạc nhiên thấy treo cờ tang.

Hỏi sao vậy … trả lời: Ông Andropov chết.

Tôi hỏi lại: Ông Andropov là ai thế?

Trả lời: Không biết, nghe đài Hà Nội biểu treo cờ tang thì mình treo…

Cờ tang cho ông Andropov nào đó treo rất đúng quy cách, chỉ kéo tới nửa cột, thòng kèm một dải vải đen nhỏ phất phơ trong gió biển…”

Cái ông Andropov (“nào đó”) nghe tên cũng có vẻ quen quen nhưng nhất thời thì tôi không thể nhớ ra được là ai. Cả ủy ban nhân dân Rạch Gốc và nhà văn Nguyên Ngọc cũng vậy, cũng bù trất, không ai biết thằng chả ở đâu ra nữa.

Tuy vậy, cả nước, ai cũng biết rằng trong cái thế giới “bốn phương vô sản đều là anh em” thì bất cứ đồng chí lãnh đạo (cấp cao) nào mà chuyển qua từ trần thì đều “thuộc diện quốc tang” ráo trọi – bất kể Tây/Tầu.

Nói chi đến chuyện tang ma của một đồng chí cỡ Tổng Bí Thư và Chủ Tịch Nước của nước ta. Tang lễ, truy điệu, điếu văn, nhang khói, hoa hòe, hoa sói, cờ phướn, cờ tang, cờ liệt, cờ rũ … thì (ôi thôi) tá lả bùng binh – theo như thông tin rầm rộ của báo chí nước nhà:

Ở thời điểm này, phu nhân của cố TBT – tất nhiên – cũng trở thành một yếu nhân, thuộc diện trung tâm. Mọi hình ảnh của bà đều được ký giả, phóng viên, nhà báo … ghi lại qua ống kính, không sót một góc cạnh nào:

Thế mới biết là giới truyền thông của nước CHXHCNVN “tác nghiệp” cũng rất nhiệt tình và hăng hái, trong điều kiện an toàn. Riêng báo Tuổi Trẻ còn có bài (“Thư Tay Của Phu Nhân Tổng Bí Thư Lào Gửi Phu Nhân Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng”) cảm động hết biết luôn, khiến cho mọi tầng lớp độc giả đều phải sụt sùi, rơi lệ:

“Chị Mận kính mến!        

Hôm nay (ngày 19-7), khi vừa về đến nhà, anh Thongloun Sisoulith bước đến gần em với sắc mặt buồn rầu và cất giọng nói khác thường: ‘Naly ơi, anh vừa nhận được tin anh Nguyễn Phú Trọng mất, anh đã rời xa chúng ta rồi’.

Chị Mận ơi, trong giây phút đó em thật sự đứng tim, không thể nói nên lời và em không thể cầm được nước mắt, anh Thongloun Sisoulith đã ôm em vỗ nhẹ vào lưng và an ủi rằng: ‘Anh cũng rất đau buồn và thương tiếc khi nhận được báo cáo khẩn từ Hà Nội, em hãy bình tĩnh và mạnh mẽ. Anh Trọng đã ra đi một cách thanh thản, anh ấy đã nhắm mắt đi xa trong niềm tiếc thương và đau buồn vô tận của nhân dân cả nước Việt Nam’.

Ai mà dè dân Lào lại đa cảm dữ vậy chớ? Tình cảm của bà Naly dành cho bà Mận (không dưng) khiến tôi thốt nhớ đến tình cảnh buồn bã và cô quạnh của một người đàn bà khác, bà quả phụ Lê Đình Kình – nhũ danh Dư Thị Thành.

Chồng bà Thành cũng là một đảng viên Cộng Sản (và cũng đã qua đời cách đây chưa lâu lắm) nhưng cái chết của ông ta bất ngờ, rùng rợn, thảm thiết lắm kìa. Tang ma thì não nề, và u uất. Tình cảnh vợ con/cháu chắt của người quá cố, xem ra, cũng vô cùng bi đát – theo tường thuật của RFA:

Đã bốn năm trôi qua kể từ ngày hàng ngàn cảnh sát cơ động tấn công vào thôn Hoành lúc rạng sáng, bắn chết cụ Lê Đình Kình – thủ lĩnh tinh thần của người Đồng Tâm, nhưng những ký ức đau buồn vẫn còn hiển hiện đối với những người liên quan như mới hôm qua…

Những người đàn ông trụ cột trong nhà, người thì bị bắn chết như ông Lê Đình Kình, người thì bị tuyên án tử hình như hai con trai của ông là Lê Đình Công và Lê Đình Chức, cháu nội ông Kình là Lê Đình Doanh bị án chung thân, và ba người khác bị án tù từ 12 năm đến 16 năm về tội “giết người” trong khi sáu người khác bị kết án từ 5-6 năm về tội “chống người thi hành công vụ.”

Trong cuộc trả lời phỏng vấn của RFA trước ngày giỗ chồng lần thứ tư, bà quả phụ Dư Thị Thành cho biết đến nay, chính quyền xã không làm giấy khai tử cho ông Kình vì bà không đồng ý ký giấy thừa nhận ông bị bắn chết ở Đồng Sênh, là cánh đồng mà dân Đồng Tâm cho là của mình còn chính quyền thành phố Hà Nội và huyện Mỹ Đức nói là đất quốc phòng.

Facebooker Lã Việt Dũng, người có mặt tại hiện trường, cho biết thêm chi tiết qua BBC:

“Sáng nay đám tang cụ Kình, an ninh chìm nổi dày đặc…không cho một ai quay phim, chụp ảnh và cắt liên lạc toàn vùng. Tuy nhiên vẫn có một phóng viên … tiếp cận và lấy được lời kể của vợ cụ Kình:

‘Người ta bắt khai là ở nhà cầm lựu đạn, tôi bảo là tôi không biết quả lựu đạn thế nào, tôi không biết bom xăng là thế nào, thì tôi không khai được. Thế là nó tát, cứ thế nó tát, nó đá, tát suốt, hết bên nọ sang bên kia, xong rồi nó đá vào hai bên ống chân,’ bà Thành nói”.

Sao mà đối xử phân biệt “kỹ” dữ vậy, hả Trời?

Cả hai ông đều là đảng viên cộng sản lão thành (và đều tin vào chủ nghĩa này cho đến hơi thở cuối) mà. Nguyễn Phú Trọng thì nhất định dẫn dắt cả nước đi theo con đường XHCN, dù không tin rằng nó có thể “hoàn thiện đến cuối thế kỷ này”. Còn Lê Đình Kình thì “tin ông Trọng, ủng hộ ông Trọng, ủng hộ đảng tuyệt đối”, bất kể đúng sai. Vậy mà ông Tổng Bí Thư nỡ hạ sát ông Bí Thư Xã bằng nhiều phát đạn. Chưa đã, nạn nhân còn bị phanh thây, không cho khai tử, rồi tịch thu luôn cả tiền phúng điếu, và bắt con cái người ta phải chịu án tử hình – y như một vụ án tru di!

Nay thì cả hai ông đều đã xuống tới Suối Vàng (nơi mà sức mạnh của chuyên chính vô sản chắc không còn hiệu lực) nên hy vọng họ có thể nói chuyện phải quấy với nhau một cách bình đẳng và tử tế hơn – chút xíu!

Sự bình đẳng và tử tế không hề có trên dương thế:

Cùng là phận đàn bà
Một người chìm dưới đáy
Người tột đỉnh vinh hoa
Nhưng băng tang cũng vậy

Cũng màu tang trắng ấy
Phanh thây Lê Đình Kình
Cũng màu tang trắng ấy
Cả triều đình tụng kinh

Thơ thay mặt thần linh
Cất tiếng lòng Đỗ Phủ
Trần gian lắm bất bình
Người với người dã thú

Cùng là thân phụ nữ
Xót bà vợ dân lành
Tiếng khóc than ai oán
Thấu chín tầng trời xanh!

Bùi Chí Vinh  – 29/7/2024

Nước ta – may quá –  bên cạnh 820 tờ báo và 41.000 người cầm viết ăn lương, vẫn còn có được một nhà thơ, và một bài thơ … tử tế!


 

TikTok: Mặt trận kiểm duyệt không gian mạng mới của Cộng Sản – Bình Thiên

Ba’o Nguoi-Viet

January 9, 2025

Bình Thiên

Trong thế giới số ngày nay, mạng xã hội đã trở thành một đấu trường quan trọng, nơi các chính phủ tìm cách kiểm soát và định hình dư luận.

Các nền tảng này không chỉ là nơi kết nối, chia sẻ thông tin mà còn là một chiến trường, đặc biệt là đối với các chế độ cộng sản. Hai câu chuyện đối lập về biểu tượng gấu trên mạng xã hội ở Trung Quốc và Việt Nam là một minh chứng rõ nét về cách các chính phủ này sử dụng internet để phục vụ mục đích của mình. Một bên là sự xóa bỏ hình ảnh gấu vì bị coi là một mối đe dọa, một bên là sự tôn vinh hình ảnh gấu để củng cố quyền lực. Cả hai đều cho thấy một xu hướng chung: sự kiểm duyệt ngày càng gia tăng và sự kiểm soát chặt chẽ của các chính phủ cộng sản đối với không gian mạng.

Ở Trung Quốc, câu chuyện về Winnie the Pooh, chú gấu hoạt hình đáng yêu, đã trở thành một bài học sâu sắc về sự nhạy cảm của các nhà lãnh đạo và sự kiểm duyệt khắt khe của chính phủ. Winnie the Pooh, với hình ảnh mũm mĩm và tính cách hiền lành, vốn là một nhân vật quen thuộc và được yêu thích trên toàn thế giới. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, hình ảnh chú gấu này đã bị cấm trên mạng xã hội, sau khi các meme so sánh Winnie the Pooh với Chủ Tịch Tập Cận Bình lan truyền rộng rãi.

Các bức ảnh chế ghép mặt của ông Tập với chú gấu, khiến nhiều người bật cười vì sự tương đồng về ngoại hình, đặc biệt là khuôn mặt tròn trịa. Tuy nhiên, đối với chính phủ Trung Quốc, những hình ảnh này không chỉ là một trò đùa vui vẻ, mà còn là một sự xúc phạm đến vị thế và uy quyền của nhà lãnh đạo. Chính vì vậy, Winnie the Pooh đã trở thành một nhân vật “cấm kỵ” trên internet Trung Quốc, các hình ảnh, video và thậm chí cả những bình luận liên quan đến chú gấu đều bị gỡ bỏ. Sự việc này cho thấy sự nhạy cảm thái quá của chính phủ Trung Quốc trước những lời chỉ trích, dù là dưới hình thức hài hước, và sự kiểm duyệt không khoan nhượng đối với những nội dung bị coi là đe dọa đến chế độ.

Ở phía nam biên giới, Việt Nam lại có một câu chuyện khác về gấu. Trên TikTok, một nền tảng video ngắn đang rất phổ biến với giới trẻ, Thủ Tướng Phạm Minh Chính được biết đến với biệt danh trìu mến “Gấu Ú”. Các video clip ngắn ghi lại hình ảnh thủ tướng trong các hoạt động thường ngày, các buổi làm việc, hay những khoảnh khắc đời thường, thường được chỉnh sửa với các hiệu ứng bắt mắt, kèm theo nhạc nền vui tươi. Nội dung những video này thường tập trung vào việc ca ngợi sự lãnh đạo tài tình của thủ tướng, thể hiện sự quan tâm, gần gũi của ông với người dân.

Các tài khoản ủng hộ lãnh đạo, chủ yếu là các bạn trẻ, không ngần ngại bày tỏ sự yêu mến và ngưỡng mộ đối với thủ tướng bằng những lời bình luận tích cực, những biểu tượng cảm xúc đáng yêu. Điều này cho thấy một sự đối lập hoàn toàn với câu chuyện về Winnie the Pooh ở Trung Quốc. Thay vì cấm đoán và xóa bỏ, chính phủ Việt Nam đang tận dụng hình ảnh gấu để xây dựng một hình tượng lãnh đạo gần gũi, dễ mến, và thân thiện với giới trẻ.

Tuy nhiên, sự thật đằng sau những câu chuyện về gấu này không đơn giản như vẻ bề ngoài. Cả Trung Quốc và Việt Nam đều đang sử dụng internet như một công cụ để kiểm soát và định hình dư luận.

Ở Trung Quốc, chính phủ đang sử dụng công nghệ để kiểm duyệt thông tin, gỡ bỏ những nội dung bị coi là không phù hợp hoặc đe dọa đến chế độ. Ở Việt Nam, chính phủ cũng đang thực hiện một chiến dịch kiểm duyệt tương tự, đồng thời sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền và quảng bá hình ảnh lãnh đạo.

Trong hai thập niên qua, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống luật pháp internet ngày càng khắt khe, nhắm vào bất kỳ nội dung nào bị coi là “chống phá nhà nước,” “làm suy yếu uy tín quốc gia” hoặc “bôi nhọ lãnh đạo.” Các điều luật này thường được diễn giải một cách mơ hồ, cho phép chính quyền có thể tùy tiện trừng phạt những người dùng mạng xã hội bất đồng chính kiến.

Hàng loạt vụ việc đã xảy ra để chứng minh cho điều này. Vào đầu Tháng Mười Hai, một TikToker có sức ảnh hưởng đã bị phạt 30 triệu VNĐ (tương đương $1,181) vì hành vi so sánh ông Hồ Chí Minh với các ngôi sao giải trí khác. Trong một vụ việc khác vào Tháng Tám năm 2024, một người dùng Facebook ở tỉnh Bắc Giang bị phạt 7.5 triệu VNĐ (tương đương $300) vì bình luận xúc phạm Tổng Bí Thư Tô Lâm. Trước đó, vào Tháng Ba, một cựu thí sinh hoa hậu đã bị phạt 37.5 triệu VNĐ (tương đương $1,500) vì các buổi phát trực tiếp trên Facebook đề cập đến “Bác Hồ” theo một cách gây tranh cãi. Những con số này không chỉ thể hiện sự gia tăng các vụ xử phạt mà còn cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề kiểm duyệt ở Việt Nam.

Sự kiểm soát không chỉ giới hạn ở việc xử phạt người dùng. Việt Nam còn thể hiện khả năng tận dụng các nền tảng mạng xã hội nước ngoài để phục vụ các mục tiêu chính trị của mình. Mối quan hệ giữa Việt Nam và TikTok là một minh chứng rõ ràng cho điều này.

TikTok, một nền tảng video ngắn có nguồn gốc từ Trung Quốc, với hàng trăm triệu người dùng trên toàn cầu, đang nhanh chóng trở thành một công cụ tuyên truyền mạnh mẽ trong tay chính phủ Việt Nam.

Một mặt, chính quyền Việt Nam tiến hành kiểm duyệt nội dung một cách nghiêm ngặt, gỡ bỏ bất kỳ video clip nào bị coi là không phù hợp hoặc đe dọa đến chế độ. Mặt khác, họ chủ động khuyến khích và quảng bá các nội dung ủng hộ chính phủ, lãnh đạo, và các chính sách của đảng, thông qua các tài khoản chính thống và cả những tài khoản ngầm được chính phủ hậu thuẫn. Điều này cho thấy một sự kết hợp giữa kiểm duyệt và tuyên truyền, nhằm tạo ra một không gian thông tin “sạch” và “thuận chiều” trên TikTok.

Điều đáng chú ý là TikTok có xu hướng dễ dàng chấp nhận và tuân thủ các quy tắc kiểm duyệt của chính phủ Việt Nam hơn so với các nền tảng mạng xã hội khác như Facebook và YouTube. Trong khi Facebook và YouTube, với văn hóa tự do ngôn luận mang hơi hướng phương Tây, đôi khi gặp khó khăn trong việc tuân thủ các yêu cầu kiểm duyệt của chính phủ các nước cộng sản, thì TikTok lại cho thấy sự hợp tác chặt chẽ hơn. Điều này không chỉ phản ánh sự khác biệt về văn hóa doanh nghiệp mà còn cho thấy ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ.

TikTok được cho là có đội ngũ kiểm duyệt nội dung đặc biệt, được đào tạo để nhận diện và gỡ bỏ các nội dung nhạy cảm về chính trị, vi phạm các quy tắc của chính phủ các nước, bao gồm cả Việt Nam. Điều này đặt ra những câu hỏi về sự độc lập và khách quan của các nền tảng công nghệ trong bối cảnh chính trị phức tạp.

Tuy nhiên, sự hợp tác này không có nghĩa là Facebook và YouTube hoàn toàn thoát khỏi sự kiểm soát của chính phủ Việt Nam. Theo số liệu chính thức từ chính phủ Việt Nam, các nền tảng này đều tuân thủ các yêu cầu kiểm duyệt ở mức độ cao, với tỷ lệ gỡ bỏ nội dung “chống nhà nước” lên đến trên 90%. Cụ thể, Facebook được cho là đã tuân thủ 94% yêu cầu kiểm duyệt, YouTube là 91%, và TikTok là 93%. Những con số này cho thấy một thực tế đáng lo ngại: các tập đoàn công nghệ lớn, dù có nguồn gốc từ phương Tây, vẫn đang ngày càng nhượng bộ trước áp lực của các chính phủ độc tài, chấp nhận xóa bỏ các nội dung mà các nhà cầm quyền không muốn thấy. Điều này gây quan ngại về vai trò và trách nhiệm của các tập đoàn công nghệ trong việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận trên toàn cầu.

Bên cạnh việc gỡ bỏ nội dung, Việt Nam còn tăng cường việc xóa các tài khoản vi phạm. Số lượng tài khoản bị xóa trên TikTok đã tăng từ 0 trong nửa đầu năm 2022 lên đến 258 trong nửa đầu năm 2024. Việc xóa tài khoản không chỉ làm mất đi những nội dung đã đăng tải mà còn gây khó khăn cho người dùng trong việc tiếp cận thông tin và bày tỏ quan điểm, đặc biệt là những người bất đồng chính kiến.

Sự gia tăng của các nội dung ủng hộ lãnh đạo trên TikTok không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên. Chính phủ Việt Nam đã và đang thực hiện một chiến dịch tuyên truyền có hệ thống, thông qua việc tạo ra và quảng bá các video clip ca ngợi lãnh đạo, thể hiện sự đồng tình với các chính sách của đảng.

Các video này thường được sản xuất với chất lượng cao, sử dụng các công cụ chỉnh sửa video phổ biến như CapCut, và được lan truyền rộng rãi trên TikTok thông qua các tài khoản chính thống của chính phủ và các tổ chức đoàn thể, cũng như các tài khoản ngầm được hậu thuẫn. Các kênh này sử dụng một công thức chung: video ngắn, hiệu ứng bắt mắt, nhạc nền thịnh hành, và được thiết kế để thu hút giới trẻ, đối tượng người dùng chính của TikTok.

Tuy nhiên, việc chính phủ Việt Nam quá tập trung vào việc xây dựng hình ảnh lãnh đạo trên TikTok cũng có thể gây ra những rủi ro. Với các chính sách cứng rắn hơn với Trung Quốc từ chính quyền mới của Hoa Kỳ, sự phụ thuộc vào một nền tảng mạng xã hội có nguồn gốc từ Trung Quốc như TikTok có thể khiến Việt Nam trở nên dễ bị tổn thương. Làn sóng tẩy chay các ứng dụng có nguồn gốc từ Trung Quốc có thể dấy lên, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh và uy tín của chính phủ Việt Nam. Hơn nữa, việc sử dụng một nền tảng vốn gây nhiều tranh cãi về tính minh bạch và khả năng lan truyền thông tin sai lệch cũng có thể phản tác dụng, làm xói mòn lòng tin của công chúng.

Việt Nam vừa trấn áp TikTok vì những lo ngại về an toàn trẻ em, vừa sử dụng chính nền tảng này để quảng bá hình ảnh lãnh đạo, cho thấy một sự mâu thuẫn trong chính sách. Nếu chính phủ Việt Nam chỉ tập trung vào việc xây dựng hình ảnh mà bỏ qua những vấn đề khác như bảo vệ trẻ em, tự do ngôn luận, hay thông tin sai lệch, họ có thể làm mất đi sự tin tưởng của công chúng, và cuối cùng, những hình ảnh được cố gắng xây dựng cũng sẽ trở nên vô nghĩa.

Tóm lại, câu chuyện về gấu trúc và gấu ú là một biểu tượng cho sự kiểm soát không gian mạng của các chính phủ cộng sản trong thời đại kỹ thuật số. Câu hỏi đặt ra là liệu sự kiểm soát này có mang lại kết quả như mong đợi, hay sẽ chỉ phản tác dụng, làm xói mòn lòng tin của công chúng và làm suy yếu các giá trị dân chủ? Các tập đoàn công nghệ toàn cầu, đặc biệt là các nền tảng mạng xã hội, sẽ ứng xử như thế nào trước áp lực của các chính phủ độc tài trong việc kiểm soát thông tin?


 

Trong xã hội, làm thế nào để có công bằng xã hội?-Cha Vương

Một ngày bình yên trong Chúa và Mẹ nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 9/1/2025

GIÁO LÝ: Trong xã hội, làm thế nào để có công bằng xã hội? Công bằng xã hội chỉ có được khi phẩm giá mỗi người được tôn trọng, nghĩa là quyền lợi của họ được công nhận và tôn trọng và mỗi người có thể tham gia tích cực vào đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa trong xã hội. (YouCat, số 329)

SUY NIỆM: Nền tảng của mọi công bằng là tôn trọng phẩm giá bất khả xâm phạm của con người, mà Đấng Tạo hóa đã trao cho để bảo vệ, và tất cả mọi người nam nữ ở mọi thời đại trong lịch sử đều là người mắc nợ buộc phải trả theo đúng nghĩa (Đức Gioan Phaolô II, Quan tâm đến xã hội 1987). Từ phẩm giá con người phát sinh trực tiếp ra các quyền của con người mà không một Nhà Nước nào có thể hủy bỏ hoặc thay đổi. Những Nhà Nước hoặc nhà chỉ huy nào dẫm lên các quyền đó đều là các chế độ bất hợp pháp và họ mất quyền bính của họ. Còn về sự hoàn thiện mà xã hội loài người nào cũng khao khát, nó không thể đạt được bằng các luật lệ, nhưng chỉ đạt được bằng yêu người thân cận, khi mà hết mọi người không trừ ai “đều coi người khác như “cái tôi thứ hai” (Hiến chế Vui mừng và Hy vọng 27,1), (YouCat, số 329 t.t.)

❦ Tất cả khoa học và nghệ thuật đều tìm kiếm một điều tốt rất lớn, nhưng điều quan trọng hơn tất cả là khoa học chính trị: mục đích tối cao của nó là công bằng; mà công bằng cốt tại thực hiện công ích. (Aristotle)

LẮNG NGHE: Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. (1 Cr 12:5-6)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa, xin cho mọi tầng lớp xã hội biết tôn trọng phẩm giá bất khả xâm phạm của con người, biết đặt nhân quyền lên trên chủ quyền để mang lại công bằng bác ái cho anh em.

THỰC HÀNH: Cổ võ cho việc bảo vệ công lý hoà bình trong môi trường sống.

From: Do Dzung

*****************************

Bờ Vai Giêsu – Hiền Thục 

CỬA TRỜI MỞ RA- Linh mục Inhaxiô Trần Ngà 

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà 

(Suy niệm Tin mừng Lu-ca 3, 15-16. 21-22 Lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa)

Sứ điệp: Nhờ sự vâng phục của Chúa Giê-su, cửa Trời được mở ra cho muôn người được vào.***

Chúa Giê-su là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người. Ngài là Đấng cao cả, vô cùng tốt lành và thánh thiện, chẳng hề vương chút tội tình… thế mà Ngài lại đến với thánh Gioan, như một người tội lỗi, hòa mình với đám đông những người thu thuế, những người đàng điếm, những tên côn đồ đạo tặc, cướp của giết người và với bao nhiêu người tội lỗi khác… chăm chú nghe Gioan rao giảng và để chờ đến phiên, bước xuống dòng sông Gio-đan, nhờ thánh Gioan làm phép rửa cho mình.

  1. Tại sao Chúa Giê-su vô tội mà lại chịu phép rửa?

Thánh Phao-lô cho ta biết rằng Chúa Giê-su vốn là “Đấng chẳng hề biết tội là gì” lại trở nên người gánh tội cho muôn dân (2 Cr 5, 21).

Và thánh Gioan tẩy giả đã từng giới thiệu cho các môn đệ biết Chúa Giê-su là con “Chiên Thiên Chúa” (Gioan 1, 29) được sai xuống trần để gánh tội trần gian.

Như thế, Chúa Giê-su đến chịu phép rửa không phải vì Ngài có tội, nhưng vì tội lỗi của nhân loại mà Ngài đã mang vào thân. Cũng thế, Chúa Giê-su chịu khổ hình thập giá không phải vì tội của Ngài mà vì tội lỗi của thế gian mà Ngài đã gánh lấy.

Thế rồi khi Chúa Giê-su chịu phép Rửa xong, “và đang khi Ngài cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Ngài… ” (Lc 3,21).

  1. Tại sao trời mở ra?

Từ ngày A-đam và E-và phạm tội, Thiên Chúa xua đuổi ông bà ra khỏi địa đàng và cho thiên thần cầm gươm lửa để ngăn không cho ông bà quay trở lại… (St 3,24). Thế là từ đây, tương quan giữa loài người tội lỗi và Thiên Chúa thánh thiện tốt lành bị cắt đứt. Từ đó, loài người phải ngụp lặn trong bùn nhơ tội lỗi và đắm chìm trong cõi chết…

Để cứu loài người khỏi vòng oan nghiệt đó, Chúa Con đã vâng theo ý Chúa Cha, hạ mình xuống thế làm người, gánh lấy tội lỗi muôn người và Ngài đã bước xuống dòng sông Gio-đan chịu thanh tẩy vì tội lỗi con người… Chính vào thời điểm đáng nhớ này, “cửa trời mở ra và Thánh Thần Chúa ngự xuống trên Ngài.”

Đây là thời khắc lịch sử hết sức trọng đại: Cửa thiên cung từ ngàn xưa đã đóng lại vì tội bất phục tùng của A-đam-cũ, cắt đứt mọi tương quan giữa Thiên Chúa và loài người, thì trong giờ phút này, nhờ sự vâng phục tuyệt đối của A-đam-mới là Chúa Giê-su, cửa trời được mở ra… mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên giao hoà giữa Thiên Chúa và nhân loại, tương quan giữa Thiên Chúa và con người được nối lại, trời giao hoà với đất, Thiên Chúa giao hoà với con người, con người được trở về với Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa là Đấng vô cùng tốt lành thánh thiện đã mang tội lỗi chúng con vào thân, đã hòa mình với các tội nhân bên bờ sông Gio-đan và khiêm tốn bước xuống dòng nước lãnh nhận phép rửa vì chúng con; Trong khi đó, chúng con là những người đầy tội lỗi nhưng chẳng biết nhìn nhận tội mình để ăn năn sám hối, thì thật đáng trách.

Xin giúp chúng con khiêm tốn nhận mình là người tội lỗi và thực lòng ăn năn sám hối, nhờ đó, cửa trời cũng sẽ mở ra để đón nhận chúng con vào chốn hồng phúc đời đời. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà 

 From: NguyenNThu


 

BÍ TÍCH CỦA NIỀM HY VỌNG – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Chúa Nhật trước, khi mừng lễ Hiển Linh, Phụng vụ đã giới thiệu với chúng ta một cuộc “thần hiện” còn gọi là “hiển linh,” tức là Chúa tỏ mình.  Các nhà đạo sĩ từ phương Đông đã cất bước lên đường, vượt qua ngàn nguy khó để thờ lạy một Hài nhi mới sinh.  Các ông vui mừng toại nguyện và đã lên đường trở về xứ sở của mình.

Với Chúa Nhật hôm nay, Lễ Chúa Giê-su chịu phép Rửa, chúng ta lại được chiêm ngưỡng một cuộc “thần hiện” khác.  Bên bờ sông Gio-đan, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần cùng tỏ mình ra.  Sự kiện này được cả ba Tin Mừng nhất lãm thuật lại như một chứng từ sống động về sứ vụ Thiên sai của Đức Giê-su.  Người là Con Thiên Chúa và là Đấng được Chúa Cha sai đến trần gian.  Cuộc “thần hiện” diễn ra trước sự ngỡ ngàng của dân chúng, kể cả ông Gio-an Tẩy giả, người trước đó đã tiên báo về sự xuất hiện của Đấng Mê-si-a (Đấng Thiên sai).

Việc lãnh nhận phép Rửa bởi tay ông Gio-an Tẩy giả đánh dấu khởi đầu sứ vụ công khai của Chúa Giê-su.  Đây là khởi điểm của một chương mới trong lịch sử Cứu độ của Thiên Chúa.  Đây cũng là thời Thiên Chúa an ủi dân Ngài, như ngôn sứ I-sai-a đã báo trước đó khoảng bảy thế kỷ (Bài đọc I).  Vào thời đó, vinh quang Thiên Chúa sẽ tỏ hiện.  Sẽ không còn sợ hãi lo âu nữa, vì Thiên Chúa sẽ làm những gì Ngài đã hứa.  Những dấu hiệu ngôn sứ I-sai-a báo trước đã được thể hiện nơi Chúa Giê-su, trong suốt cuộc sống dương thế của Người.  Đức Giê-su là Con yêu dấu của Chúa Cha, như tiếng nói từ trời đã khẳng định: “Con là Con yêu dấu của Cha; Cha hài lòng về Con.”  “Tiếng nói từ trời,” đó là cách Thiên Chúa hiển linh trong Cựu ước, để truyền lệnh và hướng dẫn dân Ngài.  Đức Giê-su luôn luôn tìm ý Chúa Cha và làm mọi sự, miễn là ý Cha được thể hiện.

Theo Giáo lý Công giáo, khi Đức Giê-su chịu phép Rửa tại sông Gio-đan, là lúc Người thiết lập bí tích Rửa tội.  Trong cuộc đàm đạo với ông Ni-cô-đê-mô, thành viên Thượng hội đồng Do Thái, Chúa Giê-su đã nói về tầm quan trọng và ý nghĩa của phép rửa tái sinh (x. Ga 3,3-8).  Trước khi về trời, Người đã truyền lệnh cho các tông đồ đi khắp thế gian, rao giảng cho muôn dân và rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần (x. Mt 28,19-20).

Hiệu quả của bí tích Rửa tội là gì?  Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo trả lời: “Bí tích Rửa tội là nền tảng của toàn bộ đời sống Ki-tô hữu, là cổng vào đời sống thiêng liêng, và là cửa mở ra để lãnh nhận các bí tích khác.  Nhờ bí tích Rửa tội, chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và được tái sinh làm con cái Thiên Chúa, được trở thành chi thể của Đức Ki-tô, được tháp nhập vào Hội Thánh và được tham dự vào sứ vụ của Hội Thánh” (số 1213).  Nội dung trích dẫn trên đây rất phong phú, diễn tả những khía cạnh khác nhau của đời sống Ki-tô hữu.  Ơn của bí tích Rửa tội thật kỳ diệu.  Bí tích Rửa tội là khởi điểm cho hành trình theo Chúa, cũng là hành trình của niềm hy vọng.  Những ai đã lãnh nhận bí tích này đều được mời gọi xác tín vào quyền năng và ân sủng yêu thương của Thiên Chúa.  Cùng với Chúa Giê-su, họ được gọi Thiên Chúa là Cha, và được đồng thừa hưởng gia nghiệp vinh quang đời đời.  Đó là ân sủng, vinh dự và sứ mạng mà người tín hữu được hưởng, nhờ bí tích này.  Tiếc rằng có những Ki-tô hữu không mấy ý thức và cảm nhận vinh dự cao quý này.

Trong Sắc chỉ công bố Năm Thánh 2025, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô viết: “Niềm hy vọng Ki-tô giáo chính là ở điều này: đối mặt với cái chết, nơi mọi sự dường như chấm dứt, chúng ta biết chắc rằng, nhờ Chúa Ki-tô, qua ân sủng của Người được thông truyền cho chúng ta trong bí tích Rửa tội, “sự sống không mất đi, nhưng được thay đổi” mãi mãi.  Thật vậy, trong bí tích Rửa tội, khi được mai táng với Chúa Ki-tô, chúng ta nhận được nơi Người, Đấng phục sinh, hồng ân sự sống mới phá vỡ bức tường sự chết và biến nó thành một con đường đi về chốn trường sinh” (Số 20).  Theo giáo huấn của Đức Giáo Hoàng, bí tích Rửa tội mở ra cho chúng ta cánh cửa hy vọng, để rồi dẫu rằng cuộc đời này còn nhiều tăm tối âu lo, kể cả sự chết, chúng ta vẫn tin vào Thiên Chúa và tin vào hạnh phúc vĩnh cửu Ngài dành cho người công chính.

Phụng vụ hôm nay nhắc nhớ chúng ta về ơn gọi làm con Thiên Chúa, nhờ sự chết và phục sinh của Đức Giê-su.  Trong thư gửi ông Ti-tô là môn sinh của mình, thánh Phao-lô đã lưu ý: “ân sủng của Thiên Chúa dạy chúng ta phải từ bỏ đời sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này.”  Đó cũng chính là những lời giáo huấn thiết thực và quý báu đối với các Ki-tô hữu chúng ta hôm nay.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 From: Langthangchieutim


 

  THẾ TỤC & THẦN KHÍ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thần Khí Chúa ngự trên tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn”.

“Một Kitô hữu là gì?”. Trong một lá thư gửi Diognetus – thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên – một nhà văn mô tả một ‘dân tộc’ kỳ lạ, những người ở trong thế giới này nhưng không thuộc về thế giới này. “Họ yêu thương mọi người, nhưng bị mọi người ngược đãi. Họ bị giết chết nhưng lại được sống. Họ nghèo nhưng lại làm cho nhiều người giàu có!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Họ yêu thương mọi người”. Lời Chúa hôm nay cho biết, ai sống yêu thương, người ấy không sống theo tinh thần ‘thế tục’ nhưng sống theo ‘Thần Khí’.

Tin Mừng tường thuật việc Chúa Giêsu về lại quê nhà, Ngài vào hội đường, đọc sách ngôn sứ Isaia, trong đó có câu, “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn”. “Kẻ nghèo hèn” ở đây – theo nghĩa rộng – là tất cả “tha nhân”, bất luận họ là ai, người giàu, kẻ nghèo; người sang, kẻ hèn; người quyền thế, kẻ cùng đinh.

Để yêu mến Thiên Chúa cách cụ thể, người ta phải yêu thương tha nhân. Yêu mến Thiên Chúa là chị em sinh đôi với yêu thương tha nhân. “Yêu thương tha nhân là cầu nguyện cho họ – những người có cảm tình lẫn những người khó ưa – cả những kẻ thù. Chúng ta không được phép tạo không gian cho ghen tuông và đố kỵ, cũng không được phép bôi nhọ người khác” – Phanxicô. Vì “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, Đấng họ không trông thấy” – bài đọc một. Vì thế, đừng yêu thương cách giả tạo, nhưng cách cụ thể những con người chúng ta trông thấy, sờ đụng; đó là thực tế, chứ không phải tưởng tượng.

Gioan còn đi xa hơn, “Ai yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối!”. Đó là con đẻ của tinh thần ‘thế tục’, kẻ nói dối thuần tuý, lừa đảo thuần tuý. Sẽ thật tốt cho chúng ta nếu luôn suy nghĩ rằng: liệu tôi có yêu mến Chúa hay không? Nhưng hãy đến với ‘viên đá thử’ để coi xem liệu tôi có yêu thương anh chị em mình thật không? Tôi yêu thương họ thế nào!

Tinh thần ‘thế tục’ sẽ bị vượt thắng bằng tinh thần đức tin. Tin rằng, Thiên Chúa đang ở trong anh chị em tôi. Sự chiến thắng mà nó vượt thắng thế gian, chính là đức tin. Chỉ với đức tin, người ta mới có thể đi theo con đường của ‘Thần Khí’. Trí tuệ giúp đỡ rất nhiều, nhưng không giúp gì trong cuộc chiến này. Chỉ đức tin mới trao cho chúng ta khả năng yêu thương tha nhân, biết cầu nguyện cho mọi người, kể cả cho kẻ thù, cũng như không để cảm giác ghen tương và đố kỵ được lớn lên.

Anh Chị em,

“Thần Khí Chúa ngự trên tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn”. Suốt một đời, Chúa Giêsu đã để ‘Thần Khí’ dẫn dắt. ‘Thần Khí’ đẩy Ngài vào hoang địa cho đến khi Ngài trút ‘Thần Khí’; rồi lại ban ‘Thần Khí’. Như Ngài, mỗi chúng ta được ‘Thần Khí’ ngự trị và sai đi. Lời của chúng ta chỉ là hơi thở rỗng nếu không là lời của Chúa Kitô; việc làm của chúng ta không có hồi kết và luống công nếu không phải là việc làm của Chúa Kitô. “Chính nhờ Người, với Người và trong Người”, khả năng thay đổi trái tim con người mới xảy ra; và chúng ta cũng chỉ có thể làm điều tương tự khi chính Chúa Kitô ra tay!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để thù hận ghen ghét nhân lên trong con! Khi những đố kỵ ‘thế tục’ này nhân lên, chúng chỉ huỷ diệt và giết chết. Bấy giờ, ‘Thần Khí’ trong con sẽ di cư!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

******************************************************

Thứ Năm sau Lễ Hiển Linh

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

14 Khi ấy, được đầy quyền năng Thần Khí, Đức Giê-su trở về miền Ga-li-lê, và tiếng đồn Người lan ra khắp vùng lân cận. 15 Người giảng dạy trong các hội đường của họ, và được mọi người tôn vinh.

16 Rồi Đức Giê-su đến Na-da-rét, là nơi Người đã được dưỡng dục. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh. 17 Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng: 18 Thần Khí Đức Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, 19 công bố một năm hồng ân của Đức Chúa.

20 Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường rồi ngồi xuống. Trong hội đường, trăm con mắt đều đổ dồn về phía Người. 21 Người bắt đầu nói với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh tai quý vị vừa nghe.” 22a Mọi người đều tán thành và thán phục những lời ân sủng từ miệng Người nói ra.


 

Nhà cửa xa hoa của các ngôi sao cháy rụi trong trận hỏa hoạn kinh hoàng ở Los Angeles

Tổng hợp tin từ báo chí Hoa Kỳ
 
Báo WSJ

LOS ANGELES

Có ít nhất năm vụ cháy dữ dội  xảy ra cùng lúc tại quận đông dân nhất nước Mỹ, nhấn chìm toàn bộ khu dân cư, phá hủy hàng nghìn ngôi nhà và khiến phải ra lệnh sơ tán mới trong đêm.

Đến sáng thứ năm 9-1-2025, khoảng 30.000 mẫu Anh đã bốc cháy, ít nhất năm người chết và hơn 200.000 người không có điện trên toàn khu vực Los Angeles. Hàng chục nghìn cư dân được lệnh rời khỏi nhà.

Hơn 2.000 công trình đã bị hư hại khi đám cháy vẫn chưa được khống chế vào thứ năm, khiến nguồn lực chữa cháy của khu vực phải hoạt động hết công suất.

Gần như mọi ngóc ngách của thành phố Los Angeles rộng lớn , nơi sinh sống của khoảng 10 triệu người, đều bị bao phủ bởi bầu trời khói và tro bụi.

Báo New York Times
Một đám cháy rừng mới nay đang lan rộng khắp Hollywood Hills vào sáng sớm thứ năm, đe dọa một khu vực giàu có gắn liền với ngành công nghiệp điện ảnh Mỹ, gây thêm áp lực cho hàng triệu cư dân khu vực Los Angeles vốn đã căng thẳng vì những đám cháy thảm khốc đã xóa sổ toàn bộ khu dân cư và phủ kín bầu trời bằng khói và than hồng.
 

Ngọn lửa bốc lên từ một công trình khi đám cháy Palisades bùng cháy trong cơn bão gió ở phía tây Los Angeles, California, Hoa Kỳ ngày 8 tháng 1 năm 2025. REUTERS/Ringo Chiu© Thomson Reuters

(Reuters) – Tài tử, nhà làm phim Billy Crystal mất ngôi nhà ở Pacific Palisades, nơi ông đã sống từ năm 1979. Paris Hilton đã chứng kiến ​​ngôi biệt thự bãi biển Malibu của mình bị cháy trên truyền hình trực tiếp.

Jamie Lee Curtis, James Woods, Mandy Moore, Mark Hamill và Maria Shriver nằm trong số những người nổi tiếng khác buộc phải sơ tán khi đám cháy không thể kiểm soát ở Los Angeles bùng phát và thiêu rụi một số bất động sản xa hoa nhất thế giới.

LOS ANGELES (AP) — Đám cháy lan nhanh đã bùng phát ở Hollywood Hills vào đêm thứ Tư, đe dọa một trong những địa điểm mang tính biểu tượng nhất của Los Angeles khi lính cứu hỏa phải vật lộn để kiểm soát ba đám cháy lớn khác khiến năm người thiệt mạng, 130.000 người phải sơ tán và tàn phá các cộng đồng từ Bờ biển Thái Bình Dương đến tận nội địa Pasadena.

APTOPIX California Wildfires

Biệt thự sang trọng nhìn ra biển bị cháy

Đại lộ Danh vọng Hollywood nhộn nhịp và những con phố quanh Nhà hát Trung Hoa TCL và Bảo tàng tượng sáp Madame Tussauds chật cứng xe cộ di chuyển chậm trong khi tiếng còi báo động rú lên và trực thăng bay thấp trên cao để dội nước vào đám cháy , chỉ cách đó khoảng một dặm. 

 

APTOPIX Cháy rừng California© Ethan Swope

Trong vòng vài giờ, lính cứu hỏa đã đạt được tiến triển lớn. Đội trưởng Erik Scott của Sở Cứu hỏa Los Angeles cho biết họ có thể kiểm soát được đám cháy vì “chúng tôi đã dập tắt nó nhanh và mạnh, và mẹ thiên nhiên đã tử tế với chúng tôi hơn một chút so với ngày hôm qua”.

Một ngày trước đó, gió mạnh như bão đã thổi bay tàn lửa trong không khí , làm cháy từng dãy nhà ở khu vực ven biển Pacific Palisades cũng như ở Altadena, một cộng đồng gần Pasadena cách đó khoảng 25 dặm (40 km) về phía đông.

Gần 2.000 ngôi nhà, doanh nghiệp và các công trình khác đã bị phá hủy trong các đám cháy đó — được gọi là đám cháy Palisades và Eaton — và con số này dự kiến ​​sẽ tăng lên. Năm trường hợp tử vong được ghi nhận cho đến nay là do Đám cháy Eaton. 

Đám cháy Palisades là đám cháy có sức tàn phá lớn nhất trong lịch sử Los Angeles, với ít nhất 1.000 công trình bị thiêu rụi.

California đã ở trong cuộc khủng hoảng bảo hiểm nhà ở trước vụ hỏa hoạn ở Los Angeles

Báo WSJ

Thiệt hại kinh tế do các vụ cháy rừng chết người ở California, vốn đã phá hủy hoặc làm hư hại hơn 2.000 công trình, có thể là đòn giáng nghiêm trọng vào thị trường bảo hiểm nhà ở vốn đã chìm sâu trong khủng hoảng .

California là thị trường bảo hiểm nhà lớn nhất tại Hoa Kỳ nhưng cũng là một trong những thị trường khó khăn nhất đối với các công ty. Tiểu bang này chiếm tám trong số 10 vụ cháy rừng tốn kém nhất tại Hoa Kỳ trong năm ngoái, sau khi điều chỉnh theo lạm phát, theo công ty môi giới bảo hiểm Aon.

Bất chấp những rủi ro cao do cháy rừng, dữ liệu của ngành bảo hiểm cho thấy luật thân thiện với người tiêu dùng của tiểu bang California  trong nhiều thập kỷ đã giúp duy trì mức phí bảo hiểm nhà ở ở mức tương đối thấp so với mức trung bình toàn quốc.

Các công ty bảo hiểm hàng đầu đã rút lui khỏi tiểu bang, khiến nhiều công ty phải đối mặt với nguy cơ hỏa hoạn chỉ với bảo hiểm tối thiểu do một công ty bảo hiểm cuối cùng do tiểu bang tài trợ cung cấp (Fair Plan), hoặc tệ hơn là không có bảo hiểm nào cả.

Một ngôi nhà đã bị nhấn chìm trong biển lửa ở Pacific Palisades, California, vào thứ ba 7-1-2025.
 

Ngay cả trước khi đám cháy bùng phát, hàng triệu chủ nhà ở Golden State (đã không được bảo hiểm cách an toàn), đặc biệt là những người ở trên đường đi của đám cháy ở LA, đã phải đối mặt với mức phí bảo hiểm tăng hai chữ số, không được gia hạn hoặc không có bất kỳ phạm vi bảo hiểm tư nhân nào khả dụng.

Các công ty bảo hiểm hàng đầu, bao gồm State Farm và Allstate, đã ngừng bán các hợp đồng bảo hiểm nhà mới tại tiểu bang này, với lý do mức tăng phí được cơ quan quản lý chấp thuận là không đủ để trang trải các khoản lỗ của họ, bao gồm cả các vụ cháy rừng tàn khốc năm 2017 và 2018.

Các công ty bảo hiểm đã hủy hợp đồng với những khách hàng hiện tại ở những khu vực được coi là có nguy cơ cháy rừng cao. Năm ngoái, State Farm đã công bố kế hoạch không gia hạn 30.000 hợp đồng bảo hiểm tài sản tại California, bao gồm 69% trong số đó ở Pacific Palisades. Diễn viên James Woods  đã đăng trên nền tảng mạng xã hội X rằng một công ty bảo hiểm lớn đã “hủy tất cả các hợp đồng bảo hiểm trong khu phố của chúng tôi cách đây khoảng bốn tháng”.

Dedeaux, một nhà phát triển bất động sản thương mại đã xây dựng ngôi nhà này cách đây bảy năm, cho biết rất ít công ty bảo hiểm nhà ở sẵn sàng cung cấp bảo hiểm ở những khu vực dễ xảy ra hỏa hoạn. “Liệu có hợp lý khi sở hữu một ngôi nhà ở đây khi phí bảo hiểm quá cao?”

Kế hoạch Công bằng – Fair Plan là chương trình bảo hiểm được tài trợ của tiểu bang, nó chính là công ty bảo hiểm cuối cùng dành cho những chủ nhà bị các công ty bảo hiểm tư nhân từ chối.

Tình trạng thiếu hụt bảo hiểm nhà ở tại tiểu bang đã khiến hàng chục nghìn người tham gia chương trình bảo hiểm Fair Plan của tiểu bang, vốn cung cấp phạm vi bảo hiểm cơ bản, chỉ do hỏa hoạn và thường đắt đỏ.

Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường, California đã phải đối mặt với gánh nặng của mùa cháy rừng do biến đổi khí hậu, kéo dài hơn và gây ra nhiều vụ cháy hơn và diện tích bị cháy lớn hơn. 

Munich Re, công ty tái bảo hiểm cho biết, tổn thất gia tăng do hỏa hoạn, lũ lụt, cháy rừng và giông bão đã đẩy tổng thiệt hại được bảo hiểm toàn cầu do thiên tai lên tới 140 tỷ đô la vào năm ngoái, vượt xa mức trung bình 94 tỷ đô la sau khi điều chỉnh theo lạm phát trong thập kỷ cho đến năm 2023.

 

“Căn bệnh mãn tính” của các ngân hàng tư nhân Việt Nam có bao giờ được chữa khỏi?

Ba’o Tieng Dan

08/01/2025

Fulcrum

Tác giả: Lê Hồng Hiệp

Cù Tuấn chuyển ngữ

6-1-2025

Tóm tắt: Bản án tử hình dành cho Trương Mỹ Lan vì tội tham ô nghiêm trọng là một lời cảnh báo khiến mọi người kinh sợ, nhưng Việt Nam cần giải quyết tận gốc vấn đề sở hữu chéo và tham nhũng trong hoạt động cho vay của ngành ngân hàng.

Ngày 3 tháng 12 năm 2024, tòa phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đã giữ nguyên bản án tử hình của tòa sơ thẩm đối với Trương Mỹ Lan, chủ sở hữu phần lớn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) và cựu chủ tịch Tập đoàn phát triển bất động sản Vạn Thịnh Phát (VTP).

Trong ba tội danh chính đối với bà Lan, tội biển thủ tài sản của SCB đã dẫn đến án tử hình. Trên thực tế, Trương Mỹ Lan là doanh nhân tư nhân đầu tiên tại Việt Nam bị kết án tử hình về tội biển thủ.

Trong gần một thập kỷ, bà Lan coi SCB như “con heo đất” của mình, thường xuyên rút tiền bất hợp pháp khỏi ngân hàng này để đầu cơ vào thị trường bất động sản. Hồ sơ tòa án cho thấy, từ tháng 10/2018 đến tháng 10/2022, Trương Mỹ Lan đã chủ mưu lập 2.527 hồ sơ cho vay giả để rút 1.066 ngàn tỷ đồng (44,4 tỷ đô la Mỹ) khỏi ngân hàng. Đến tháng 10/2022 khi bị bắt, bà Lan và các đồng phạm vẫn còn nợ ngân hàng 677,28 ngàn tỷ đồng (28,2 tỷ đô la Mỹ), tất cả đều được phân loại là nợ xấu.

Một phán quyết của tòa án vào tháng 4/2024 tuyên bố rằng, hành vi của bà Lan đã gây ra thiệt hại hơn 677 ngàn tỷ đồng (27 tỷ đô la Mỹ) cho SCB. Tòa phúc thẩm gần đây đã giữ nguyên yêu cầu bà Lan phải bồi thường cho SCB số tiền 673,8 ngàn tỷ đồng (26,52 tỷ đô la Mỹ). Cần lưu ý rằng, để ngăn chặn ngân hàng này sụp đổ và gây ra tác hại tiềm tàng cho toàn bộ hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được cho là đã bơm 24 tỷ đô la Mỹ vào SCB, tính đến tháng 4 năm 2024.

Về mặt pháp lý, án tử hình đối với Trương Mỹ Lan là hợp lý vì mức độ biển thủ của bà. Theo Bộ luật Hình sự năm 2015, biển thủ tài sản trị giá 1 tỷ đồng (40.000 đô la Mỹ) có thể dẫn đến án tử hình. Bản án tử hình của bà Lan cũng tạo động lực mạnh mẽ cho bà và gia đình giao lại ít nhất ba phần tư tài sản biển thủ cho ngân hàng. Theo luật, nếu nỗ lực này thành công, bà Lan có thể tránh được án tử hình.

Về mặt quản lý, bản án tử hình đối với Trương Mỹ Lan cũng gửi đi một thông điệp mạnh mẽ đến các chủ ngân hàng tư nhân về hậu quả khủng khiếp mà họ có thể phải đối mặt nếu họ thao túng ngân hàng của mình để trục lợi cá nhân. Điều này đặc biệt quan trọng vì những nỗ lực của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm giảm tình trạng sở hữu chéo giữa các tập đoàn và ngân hàng trong nước đã không mang lại kết quả như mong muốn.

Sau khi Việt Nam tự do hóa lĩnh vực ngân hàng vào năm 1990, số lượng ngân hàng tư nhân trong nước đã tăng lên đáng kể. Vào cuối thập niên 1980, lĩnh vực ngân hàng vẫn do bốn ngân hàng nhà nước thống trị, không có ngân hàng tư nhân nào hoạt động. Tuy nhiên, đến năm 1996, đã có 52 ngân hàng thương mại cổ phần có sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân, nhiều người trong số họ đã trở về từ Liên Xô cũ và Đông Âu để thành lập các ngân hàng mới hoặc tiếp quản các ngân hàng hiện có. Mục tiêu của họ không chỉ là khai thác một ngành công nghiệp có lợi nhuận mà còn là tiếp cận các khoản vay giá rẻ từ các ngân hàng mà họ kiểm soát để tài trợ cho các doanh nghiệp khác của mình. Trong một số trường hợp, những nhà đầu tư này đã sử dụng những người được ủy quyền để vay vốn từ các ngân hàng mục tiêu, sau đó sử dụng chính số tiền đó để mua cổ phiếu và cuối cùng là giành quyền kiểm soát các ngân hàng.

Hiện nay, một số lượng lớn các ngân hàng tư nhân ở Việt Nam vẫn nằm dưới sự kiểm soát của một số ít chủ sở hữu cũng sở hữu các doanh nghiệp khác. Các chủ sở hữu ngân hàng tiếp tục chuyển tiền từ các ngân hàng mà họ kiểm soát cho các thực thể kinh doanh liên quan của họ. Điều này gây ra sự rủi ro cố hữu cho hệ thống ngân hàng của Việt Nam.

Ngân hàng Nhà nước có ít lựa chọn vì chủ sở hữu ngân hàng không muốn từ bỏ quyền kiểm soát, và các cơ quan quản lý có thể lo ngại rằng các biện pháp quá khắc nghiệt sẽ phản tác dụng và gây bất ổn cho nền kinh tế.

Để ứng phó, Quốc hội Việt Nam đã sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng vào tháng 1 năm 2024, đưa ra các quy định chặt chẽ hơn để giảm thiểu những rủi ro này. Luật giới hạn cổ đông cá nhân ở mức sở hữu tối đa 5% vốn điều lệ của ngân hàng, trong khi cổ đông tổ chức bị giới hạn ở mức 10%. Đồng thời, cổ đông và những người hoặc thực thể có liên quan của họ bị giới hạn ở mức sở hữu kết hợp là 15%. Luật cũng yêu cầu các cổ đông sở hữu 1% hoặc nhiều hơn vốn điều lệ của ngân hàng phải tiết lộ thông tin cá nhân của họ và tỷ lệ cổ phần do những người thân của họ sở hữu.

Các quy định chặt chẽ hơn về hoạt động cho vay cũng có hiệu lực từ tháng 7 năm 2024. Đến năm 2029, tổng dư nợ chưa thanh toán của khách hàng không được vượt quá 10% vốn chủ sở hữu của ngân hàng và các khoản cho vay cho một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 15% vốn chủ sở hữu của ngân hàng.

Tuy nhiên, việc thực thi luật này tỏ ra đầy thách thức vì chủ sở hữu ngân hàng vẫn có thể sử dụng người được đề cử và người ủy quyền — hoặc thậm chí là các công ty vỏ bọc — để nắm giữ cổ phiếu thay mặt họ, khiến các cơ quan chức năng khó có thể truy tìm quyền sở hữu thực sự của họ. Họ cũng có thể sử dụng các cấu trúc người được đề cử tương tự để vay vốn từ chính ngân hàng của mình, lách luật hạn chế cho vay đối với các khách hàng liên quan.

Vấn đề sở hữu chéo và cho vay liên quan có thể được coi là một “bệnh mãn tính” trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Hậu quả như đã thấy trong trường hợp của SCB, có thể là rất nghiêm trọng và tốn kém, với khả năng làm rung chuyển toàn bộ hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có các lựa chọn hạn chế vì chủ sở hữu ngân hàng không muốn từ bỏ quyền kiểm soát và các cơ quan quản lý có thể lo ngại rằng các biện pháp khắc nghiệt sẽ phản tác dụng và làm mất ổn định nền kinh tế. Hành động tốt nhất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm này là cảnh báo chủ sở hữu ngân hàng không vượt qua ranh giới đỏ. Do đó, bản án tử hình được đề xuất đối với Trương Mỹ Lan có thể đóng vai trò răn đe.

Tuy nhiên, việc điều trị bệnh nhân với bệnh mãn tính mà chỉ dựa vào sự sẵn lòng lắng nghe lời khuyên của bác sĩ mà không giải quyết nguyên nhân gốc rễ của căn bệnh thì khó có thể là giải pháp hiệu quả và lâu dài. Các cuộc cải cách ngân hàng của Hàn Quốc, nơi phải đối mặt với các vấn đề tương tự về sở hữu chéo giữa các tập đoàn tài phiệt và ngân hàng, có thể mang lại những bài học hữu ích cho các cơ quan quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Sự xuất hiện của một vụ bê bối giống như SCB khác có thể chỉ là vấn đề thời gian trừ khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý chí chính trị mạnh mẽ hơn và các phương tiện hiệu quả để loại bỏ vấn đề sở hữu chéo và những hậu quả tai hại của nó.