Tòa trọng tài Quốc tế tại Paris, Pháp, sẽ khởi đầu phiên xử đặc biệt

From facebook: Trần Bang shared VOA Tiếng Việt‘s video.

Ngày 21 tháng Tám, 2017, Tòa trọng tài Quốc tế tại Paris, Pháp, sẽ khởi đầu phiên xử đặc biệt: Nguyên đơn là nhà đầu tư Hà Lan gốc Việt, doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình, kiện bị đơn là Nhà nước Việt Nam. Số tiền ông Bình đòi chính phủ Việt Nam bồi thường là “tối thiểu 1,25 tỷ đôla.”

VOA Việt Ngữ phỏng vấn những người trong cuộc, những người “biết chuyện,” những người trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vụ xử hoặc những hệ lụy của phiên xử, viết thành loạt bài đăng tải nhiều kỳ. Mời độc giả cùng theo dõi. Xem thêm: http://bit.ly/2hUUT6E

-1:56

208,793 Views

VOA Tiếng Việt

Ngày 21 tháng Tám, 2017, Tòa trọng tài Quốc tế tại Paris, Pháp, sẽ khởi đầu phiên xử đặc biệt: Nguyên đơn là nhà đầu tư Hà Lan gốc Việt, doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình, kiện bị đơn là Nhà nước Việt Nam. Số tiền ông Bình đòi chính phủ Việt Nam bồi thường là “tối thiểu 1,25 tỷ đôla.”

VOA Việt Ngữ phỏng vấn những người trong cuộc, những người “biết chuyện,” những người trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vụ xử hoặc những hệ lụy của phiên xử, viết thành loạt bài đăng tải nhiều kỳ. Mời độc giả cùng theo dõi: voatiengviet.com/trinhvinhbinh

(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link vn510.com hoặc vn73.com để vượt tường lửa)

69,000 người Việt được đi xuất cảng lao động trong 7 tháng đầu năm 2017

 69,000 người Việt được đi xuất cảng lao động trong 7 tháng đầu năm 2017

69,000 người Việt được đi xuất cảng lao động trong 7 tháng đầu năm 2017
Ảnh: Lao Động Việt

Thông tin từ Cục quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao Động – Thương Binh Xã Hội CSVN cho thấy, trong bảy tháng đầu năm nay đã có khoảng 69,000 người Việt đi làm việc ở ngoại quốc, đạt mức 66% theo kế hoạch hàng năm.

Ba thị trường nhận lực lượng lao động lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng qua bao gồm Đài Loan, Trung Cộng nhận được gần 33,900 công nhân Việt Nam; Nhật Bản hơn 27,700; và Nam Hàn khoảng 3,200 người.

Bộ Lao Động, Thương Binh Và Xã Hội CSVN cho biết, trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều người Việt Nam được đưa vào các thị trường lao động quen thuộc hoặc mới, bao gồm Thái Lan, Úc, Đức và Nhật Bản.

Việt Nam có kế hoạch đưa 105,000 người đi làm việc ở ngoại quốc trong năm nay, giảm từ  con số 126,300 người vào năm ngoái.  Cũng theo tin từ Bộ Lao Động, Thương Binh Và Xã Hội đã có hơn 500,000 người Việt Nam đang làm việc ở ngoại quốc với tư cách là công nhân, mỗi năm chuyển về nhà 1,7-2 tỷ đô la Mỹ. Hầu hết trong số họ là những người làm việc chân tay, hoặc   chỉ được đào tạo ngắn hạn.

Việc hủy hoại môi trường biển do Formosa gây ra, cộng với việc nhiều công ty trong nước đóng cửa, phá sản, đã tạo ra một số lượng lớn người dân Việt thất nghiệp. Xuất cảng lao động đang trở thành một cửa cứu sinh cho nền kinh tế, xã hội  của Việt Nam hiện nay.

Phong Ly / SBTN

Lòng Nhân Ái có hậu ngay ở đời này

Lòng Nhân Ái có hậu ngay ở đời này

Câu chuyện thứ nhất xin kể về ông Gandhi. Ông là một vị anh hùng của dân tộc Ấn Độ, ông đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ nhiệt liệt của hàng triệu người dân. Ông được dân Ấn Độ gọi một cách tôn kính là “Linh hồn lớn”, “Vĩ nhân”, “Đại nhân” hoặc là “Thánh Gandhi”.

Người ta kể chuyện là có thời ông Gandhi đi một chuyến xe lửa. Khi xe bắt đầu chuyển bánh thời ông nhảy vội vã lên tàu khiến cho một chiếc giày của ông rơi xuống đường. Ông không thể nào nhảy xuống để nhặt lại chiếc giày trong khi tàu chạy càng lúc càng nhanh. Ông bèn tháo luôn chiếc giày còn lại trong chân và ném về phía chiếc giày kia ở dưới đường. Hành khách trên tàu tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy thế và lấy làm lạ về hành động kỳ quặc của ông.

Gandhi mỉm cười và ôn tồn giải thích rằng: “Nếu có một người nghèo nào lượm được chiếc giày thứ nhất thì người đó có thể tìm thấy chiếc thứ hai và như thế là có được đủ đôi giày để đi.”

Chúng ta ít khi nghĩ đến các người khác mà thông thường chỉ nghĩ về chính bản thân mình mà thôi. Khi bị mất mát thì điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là những thiệt thòi và bất hạnh của mình. Kế đó mất thêm nhiều thời gian nữa để nuối tiếc, than thở, rồi sinh ra chán nản. Nhiều khi trở nên bực bội và gắt gỏng nữa.

Gandhi đã có một hành động thật cao quý vì trong khi bản thân mình bị mất mát như thế, ông vẫn để tâm nghĩ đến người khác. Hành động này chứng tỏ việc nghĩ đến người khác đã trở thành một phần trong tâm tưởng và nguyên tắc sống của ông.

Nếu trong những lúc mà chúng ta được sống an bình và thành công mà chúng ta còn không quan tâm tới những kẻ bị bất hạnh hơn mình thì liệu khi gặp gian khó, mất mát, ta có thể làm được điều đó hay không? Trong xã hội, xung quanh chúng ta hàng ngày có biết bao nhiêu người thiếu thốn đang cần sự giúp đỡ. Những gì họ cần đến không nhất thiết phải luôn luôn là vật chất, nhiều khi họ chỉ cần một lời động viên an ủi. Cõi ta bà này sẽ hạnh phúc biết bao nếu mỗi chúng sinh không chỉ chăm lo cho lợi ích riêng mình mà còn chăm lo cho lợi ích của người khác nữa.

*Câu chuyện thứ hai liên quan tới vị danh tướng Dwight Eisenhower. Ông là một vị tướng 5 sao trong Lục quân Hoa Kỳ và là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 34 từ năm 1953 đến 1961. Trong thời Đệ nhị Thế chiến, ông phục vụ với tư cách là tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh tại Châu Âu, có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát cuộc tiến công xâm chiếm thành công vào nước Pháp và Đức năm 1944–45 từ mặt trận phía Tây.

Vào thời xa xưa đó, một hôm ông Eisenhower cùng với đoàn tùy tùng của ông vội vã lái xe về tổng hành dinh quân đội ở Pháp để tham dự một cuộc họp khẩn cấp. Lúc đó trời đang mùa đông lạnh buốt lại thêm mưa tuyết rơi phủ đầy khắp nơi. Xe đang chạy thì ông bất ngờ để ý nhìn thấy có hai vợ chồng già người Pháp ngồi ở bên lề đường đang run rẩy vì cái lạnh giá buốt. Ông lập tức ra lệnh cho đoàn tùy tùng ngừng lại và muốn phái một thông dịch viên tiếng Pháp tới hỏi thăm cặp vợ chồng này. Một viên tham mưu nhắc nhở ông là nên để cho nhân viên công lực tại địa phương lo chuyện này, phái đoàn phải đi nhanh lên vì sợ trễ cuộc họp. Ông nói nếu đợi cảnh sát địa phương tới thì sợ là quá muộn và hai người này sẽ chết cóng.

Sau khi hỏi thăm, ông Eisenhower biết được là họ đang muốn tới Paris để gặp con trai nhưng xe của họ bị chết máy giữa đường. Ông bảo hai vợ chồng già mau lên xe của ông. Ông không hề quan tâm đến chức phận của ông và không hề tỏ thái độ gì trước hai kẻ đang gặp nạn này. Ông chỉ theo bản tính lương thiện vốn sẵn có của ông là luôn luôn muốn giúp đỡ người hoạn nạn mà thôi. Ông liền ra lệnh thay đổi lộ trình, đưa cặp vợ chồng tới Paris trước, rồi ông và đoàn tùy tùng mới lái xe tới tổng hành dinh để dự cuộc họp.

Không ngờ chính sự chuyển hướng đi thình lình ngoài kế hoạch này đã cứu mạng ông! Quân Quốc Xã có tin tình báo nên biết chính xác hành trình của ông và đã bố trí sẵn các tay súng bắn tỉa nấp rình tại các ngã tư. Nếu ông tới thì sẽ bị hạ sát ngay chỗ đó. Nhưng hóa ra chỉ nhờ vào cái tâm lương thiện, cái lòng từ bi đã giúp ông đổi lộ trình và tránh thoát cuộc mưu sát này. Quả là tự cứu mình bằng cách giúp người khác.

*Câu chuyện thứ ba kể về một cậu bé nhà nghèo tên là Howard Kelly. Quá nghèo nên hàng ngày cậu thường phải đến gõ cửa từng nhà để bán báo trên đường đi tới trường học của mình.

Một hôm cơn đói nổi lên thình lình, cậu thò tay vào túi thì thấy chỉ có một đồng duy nhất cuối cùng. Đồng tiền này cậu định dành lại để mua thức ăn cho mấy đứa em ở nhà. Sau vài giây phút lưỡng lự cậu quyết định đi tới ngôi nhà ở phía trước để xin chút đồ ăn. Nhưng người mở cửa cho cậu lại là một cô bé xinh đẹp và dễ thương. Cậu tỏ ra bối rối và ngại ngần, nên cậu chỉ dám mở miệng xin một cốc nước để uống mà thôi.

Cô bé trông thấy cậu có vẻ nghèo nàn và đang mệt lả đi vì đói nên thay vì mang nước cô lại đem cho cậu một cốc sữa lớn. Cậu từ từ uống một cách ngon lành rồi mới rụt rè khẽ hỏi cô gái: “Tôi nợ cô bao nhiêu?” Cô gái trả lời: “Bạn không nợ nần gì tôi cả. Mẹ tôi đã dạy là không bao giờ làm điều tốt mà còn chờ được trả công.” Cậu cảm động nói: “Tôi thành thực biết ơn cô.

Sau khi rời khỏi ngôi nhà cô bé tốt bụng đó, cậu Howard Kelly không chỉ cảm thấy cơ thể khỏe khoắn trở lại mà cậu còn có lòng tin tưởng hơn vào từ tâm của con người. Điều này giúp ý chí cậu mạnh mẽ thêm lên và không chịu khuất phục số phận hẩm hiu của mình.

Nhiều năm sau đó, cô gái trẻ nói trên mắc phải một căn bệnh rất hiểm nghèo. Các bác sỹ tại địa phương đã cố gắng nhưng đành bó tay, không thể làm thuyên giảm bệnh. Cuối cùng họ quyết định chuyển cô lên bệnh viện thành phố nơi có nhiều chuyên gia mong chữa khỏi bệnh cho cô.

Trong số các bác sỹ được mời tới hội chẩn có một người tên là Howard Kelly. Khi nghe tới cái tên nơi quê quán của cô gái, một tia sáng chợt lóe lên trong ký ức của Kelly. Kelly vội đứng dậy, chạy xuống phòng cô gái. Bước tới gần giường bệnh ngay lập tức Kelly đã nhận ra đó chính là cô gái cho mình sữa ngày xa xưa. Kelly quay trở lại phòng hội chẩn và đề nghị được là người phụ trách ca bệnh đó.

Kelly làm hết sức mình với một sự quan tâm đặc biệt để chữa bệnh cho cô gái. Sau một thời gian chống chọi bệnh tình cô thuyên giảm và cuối cùng là khỏi bệnh hoàn toàn. 

Trước ngày cô gái xuất viện, bác sỹ Kelly đã yêu cầu nhân viên quầy thu ngân chuyển hóa đơn tới bàn giấy của mình. Kelly viết ít chữ lên trên hóa đơn trước khi nó được gởi tới phòng bệnh để trao cho cô gái.

Khi mở ra đọc cô gái thầm nghĩ rằng có lẽ cô sẽ phải ra sức làm việc cả đời mới trả hết món tiền này. Nhưng cô thật sự ngạc nhiên khi đọc thấy trên phần đầu hóa đơn đã ghi sẵn dòng chữ: “Hóa đơn đã được thanh toán bằng một ly sữa”. Và người ký tên là: “Bác Sỹ Howard Kelly.”

*Câu chuyện thứ tư xảy ra tại Đại học Stanford vào năm 1892.Thời đó có một học sinh 18 tuổi gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Là một trẻ mồ côi anh ta không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền, anh bèn nảy ra một sáng kiến. Anh cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.

Họ đến mời Ignacy J Paderewski, một nghệ sĩ dương cầm đại tài. Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản tiền là $2000 cho buổi biểu diễn. Sau khi họ thỏa thuận xong, hai người sinh viên bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị buổi trình diễn. Ngày ấy cuối cùng đã đến. Paderewski đã tới biểu diễn tại Stanford. Nhưng không may là vé không bán được hết. Sau khi tổng kết số tiền bán vé họ chỉ có được $1600. Họ thất vọng, đến để trình bày hoàn cảnh của mình với Paderewski. Họ đưa cho ông toàn bộ số tiền bán vé, cùng với một check nợ $400 và hứa rằng họ sẽ cố gắng trả số nợ ấy thật sớm.

Không ngờ Paderewski lại xé bỏ tờ check, trả lại số tiền cho hai chàng thanh niên và nói: “Hãy giữ lấy 1600 đô này, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho buổi biểu diễn còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu nữa thì mới đưa cho tôi.” Hai chàng thanh niên vô cùng bất ngờ, xúc động nói lời cảm ơn…

Đây chỉ là một việc nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của Paderewski. Ông giúp hai người mà ông ấy không hề quen biết. Trong cuộc sống hầu hết chúng ta đều nghĩ: “Nếu giúp họ, chúng ta sẽ được gì?” Nhưng những người vĩ đại lại nghĩ khác: “Nếu mình không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con người đang gặp gian khó này?” Người có từ tâm giúp ai không mong đợi sự đền đáp và chỉ nghĩ đó là việc nên làm mà thôi.

Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski nói trên sau này trở thành Thủ Tướng của nước Ba Lan. Ông là một vị lãnh đạo tài năng. Không may chiến tranh thế giới bùng nổ và đất nước của ông bị tàn phá nặng nề. Hơn một triệu rưỡi người dân đang bị chết đói. Chính phủ của ông không còn tiền. Không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ ông bèn đến Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ trợ giúp.

Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover, người sau này trở thành Tổng Thống thứ 31 của Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi hàng tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy. Cuối cùng thì thảm họa cũng đã được ngăn chặn.

Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới cảm thấy thoải mái. Ông bèn quyết định đi sang Hoa Kỳ để tự mình cảm ơn ông Hoover. Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói: “Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy.” 

*Thế giới này quả là một nơi tuyệt vời. Bạn cho đi thứ gì thì sẽ nhận được những điều tốt đẹp đáp lại! (The world is a wonderful place. What goes around comes around!).

Người ta cũng còn nhớ ông Winston Churchill từng nói đại ý rằng chúng ta sinh sống bằng những gì chúng ta kiếm được, nhưng chúng ta tạo lập đời mình bằng chính những gì mà chúng ta bố thí. Sống trên đời phải có một chút gì cho đi. Một chút đó chính là cái mình cố gắng (We make a living by what we get, but we make a life by what we give.)  

S.T.

Việt Nam cần thay đổi gì?

From facebook:   Hoang Le Thanh‘s post.
 
Image may contain: 1 person, standing
Image may contain: 1 person, indoor
Hoang Le Thanh added 2 new photos 

 

Việt Nam cần thay đổi gì?

Trúc Giang (VNTB).

Thay một ông tổng bí thư? Thay một chủ tịch Nước, một chủ tịch Quốc hội hay một Thủ tướng?

Câu trả lời khá bất ngờ của ông Nguyễn Phú Hoà, phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương:

– “Thay đổi nền kinh tế giáo điều, bằng nền kinh tế thực sự là thị trường tự do, không định hướng nhiệm vụ chính trị”.

Ảnh 1: Ông Nguyễn Phú Hoà, phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương.

Ảnh 2: Hội trường “Diễn đàn xuất khẩu 2017”, do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC) phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ (FICCI) tổ chức vào chiều ngày 8/8/2017 tại khách sạn Rex, Sài Gòn.

Cái bất ngờ ở đây là ông Nguyễn Phú Hòa tuy được mời lên phát biểu với tư cách đại diện Cục Xuất nhập khẩu, nhưng đan xen trong phát biểu, có nhiều đoạn ông nói rõ rằng đây là quan điểm cá nhân.

Báo chí Nhà nước đã không đưa tin chi tiết về những ý kiến công khai và khá sốc của ông Nguyễn Phú Hòa tại “Diễn đàn xuất khẩu 2017”, do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC) phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ (FICCI) tổ chức vào chiều ngày 8/8/2017 tại khách sạn Rex, Sài Gòn.

Tiếp tục niềm tin giáo điều là tiếp tục lao xuống vực thẳm

“Mọi chính sách, mọi bài phát biểu đều trở nên vô nghĩa nếu như không giúp ích cho doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa. Vì các doanh nghiệp không chỉ đang gánh vác trọng trách trả lương, nuôi sống hàng triệu gia đình người Việt Nam, mà quan trọng hơn, các anh các chị đang nuôi dưỡng ước mơ, khát vọng của dân tộc Việt Nam, ngẩng cao đầu, sánh vài cùng bè bạn năm châu thông qua các thương hiệu xuất khẩu”.

Ông Nguyễn Phú Hòa đã… đánh bài ngửa như vậy khi ông vừa bước lên bục phát biểu theo lời mời của ban tổ chức.

Cú vổ mặt tiếp theo là ông Nguyễn Phú Hòa nhấn mạnh ngay rằng quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Đức đang nổi lên một số bất đồng. Ông nói (trích băng ghi âm):

– “Kinh tế toàn cầu đã chứng kiến những diễn biến khó lường, khi thị trường Châu Âu với sự ra đi quyết liệt của nước Anh đã đặt ra nhiều cầu hỏi về sự điều chỉnh chiến lược của Liên minh Châu Âu, chưa kể hiện nay quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Đức đang nổi lên một số bất đồng”.

Ông Nguyễn Phú Hòa nói rằng Việt Nam cần nhìn thẳng vào thực tế nước Mỹ với tổng thống đắc cử Donald Trumph đã quay lưng với thương mại tự do, ông Trumph đã thẳng thừng bác bỏ TPP và nêu quan điểm rõ rệt về bảo hộ thị trường, sản xuất trong nước.

Phía Trung Quốc thì đang tái cơ cấu, tập trung vào thị trường nội địa, và có những chiến lược hết sức mạnh mẽ để cạnh tranh với Nhật, Hàn Quốc, và cả với Mỹ trong lĩnh vực chất lượng và năng suất. Không phải ngẫu nhiên mà người Trung Quốc ganh đua với Mỹ trong việc tạo ra siêu máy tính, hay trí thông minh nhân tạo.

Còn nước Nhật đang lặng lẽ trở thành quốc gia mà ở đó robot từng bước làm việc bên cạnh con người. Năng lực sản xuất của Nhật sắp tới sẽ gia tăng theo cấp số nhân!

Hàn Quốc đi vào năng lực thiết kế, sáng tạo, định ra xu hướng và tạo dựng thế lực dẫn đầu ở nhiều chuỗi sản xuất.

– “Còn Việt Nam thì vẫn mang tài nguyên ra để bán, và sẵn sàng bán bất kỳ thứ gì mà chúng ta có… Chỉ cần bước chân ra khỏi hội trường này, chúng ta sẽ chứng kiến thành phố không còn lối đi, hàng hoá tắt nghẽn trên đường ra cảng, người người xếp hàng để rồi trễ chuyến bay, cây xanh bị triệt hạ, biển đang dần ô nhiễm, con cái học thêm phờ phạc cả người, và hiếm có doanh nghiệp nào là không biết nghiệp vụ lót tay, … Và

” Tất yếu một bộ phận người dân Việt Nam đã bỏ ra 3 tỷ USD mua nhà xứ khác… mà thật ra là mua lại môi trường sống và cơ hội để con cái phát triển!

Nhìn sang Trung Quốc, giờ đây, dưới sự lãnh đạo của ông Tập Cận Bình đang chạy đua để thay đổi, họ đang thực hiện ước mơ về những thành phố sinh thái hoàn toàn, và làm trong sạch bộ máy theo cách của họ, từ đó nâng tầm thương hiệu Quốc gia và hàng hoá Trung Quốc. Còn chúng ta?”. Ông Nguyễn Phú Hòa dường như phát biểu trong tâm thế không tiết chế được cảm xúc.

*

Thể chế thay đổi và cần những con người thích hợp thể chế đó

Ông Nguyễn Phú Hòa cho rằng (trích băng):

– “Điều đáng quan ngại nhất, là cả xã hội Việt Nam đang sống trong sự hoài nghi cực độ, từ nguồn gốc hàng hoá, chất lượng sản phẩm cho đến lòng tin giảm sút vào thể chế. Nói không quá, Việt Nam đang trong hoàn cảnh: thập diện mai phục, đang thách thức ghê gớm sự phát triển của dân tộc, đất nước. Chúng ta có thể thuê chuyên gia, hoặc nhờ Tổ tư vấn kinh tế cho Thủ Tướng viết nên những kế sách thật trúng. Nhưng ai sẽ là người thực hiện kế sách đó? điều kiện để thực hiện? Một kế sách cần cả một xã hội để vận hành. Đây là câu chuyện thể chế và con người thực hiện thể chế!”.

Thể chế cần thay đổi ấy là gì, và những con người thích hợp cho thể chế cần kíp thay đổi ấy là ai?

Những vấn đề này ông Nguyễn Phú Hòa đã kịp tiết chế cảm xúc, và rất khéo ngay sau đó ông đề xuất – vẫn với tư cách cá nhân, rằng:

– “Để giữ chế độ, phát triển đất nước chọn cách tiếp tục trả lương thấp nhưng nuôi được nhiều biên chế. Đó là một bất cập. Vì chính một bộ phận không nhỏ trong số đó lại làm hại chế độ, mất lòng tin của dân vào chế độ, cản trở sự phát triển, vô hiệu hoá các chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Nên mạnh dạn, giảm sâu tổng biên chế các cơ quan, đoàn thể, các đơn vị bấu víu vào bầu sữa ngân sách, tăng lương lên gấp 3 lần, và đặt ra các chế độ đãi ngộ lớn sau khi về hưu, đặt ra trách nhiệm bị giám sát và năng lực hoàn thành trách nhiệm. Tập trung biên chế ở những nơi phục vụ trực tiếp nhân dân. Các đơn vị khác cần có cơ chế hoạt động như những đơn vị sự nghiệp, ít nhân sự, nguồn lực được khai thác từ ưu đãi bước đầu về đất đai, thực hiện xã hội hoá. Ví dụ: có thể được giao một số mặt bằng cho thuê, lấy tiền hoạt động, đồng thời phải xã hội hoá các hoạt động phục vụ xã hội thiết thực, từ đó có thu để phát triển.

Hoàn thiện, ủng hộ năng lực giám sát, phản biện chính sách của Mặt trận Tổ Quốc, và đặc biệt là các cơ quan báo chí, theo những nguyên tắc dựa trên bằng chứng và năng lực chứng minh, phản biện. Đề xuất cá nhân tôi, Mặt trận nên là cơ quan thống lĩnh báo chí. Các cơ quan khác của Chính phủ làm công tác giám sát hoạt động báo chí đúng pháp luật. Tất cả mục đích chỉ để tạo ra năng lực phản biện, giám sát khách quan giúp đất nước phát triển”.

Thẳng thắn phản biện, cần chấm dứt chụp mũ những tiếng nói phản biện bằng các điều luật hình sự, biết lắng nghe và thay đổi vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó là những điều mà nhiều người có mặt tại “Diễn đàn xuất khẩu 2017” cho rằng ông Nguyễn Phú Hòa đã rất khéo léo đặt ra, và ông rất khôn ngoan trước khi kết thúc phát biểu của mình bằng “ve vuốt” rất ư… tuyên giáo: “Kính thưa quý vị, để giúp doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng, và nền kinh tế Việt Nam nói chung, toàn thể doanh nghiệp, và nhân dân cần đồng lòng, thẳng thắn, phản biện và đoàn kết ủng hộ Đảng, Chính phủ để tạo ra xung lực vượt qua khó khăn và như thế may ra chúng ta theo kịp sự bứt phá nhanh chóng của thời đại. Toàn bộ bài phát biểu là quan điểm cá nhân tham gia thảo luận. Kính mong đoàn kết, và đồng lòng”.

Trúc Giang.

VNTB gửi BVN

Nguồn: http://www.boxitvn.net/bai/49927

NGUYỄN HỮU CẦU – NGƯỜI TÙ THẾ KỶ VÀ BẢN CÁO TRẠNG “HÙNG HẾT HỒN” NHẤT THẾ KỶ

From facebook:   Văn Lang‘s post.
 
Image may contain: one or more people, people sitting and outdoor
Văn Lang

 

NGUYỄN HỮU CẦU – NGƯỜI TÙ THẾ KỶ
VÀ BẢN CÁO TRẠNG “HÙNG HẾT HỒN” NHẤT THẾ KỶ

Đại uý Quân lực VNCH Nguyễn Hữu Cầu bị bắt vào tháng 4/’75 khi vùng I thất thủ. Xong khoá “học tập cải tạo” 5 năm, hắn về quê ở Rạch Giá.

Trong khí thế cách mạng còn đang hừng hực năm 1982, hắn dám cả gan đứng ra tố cáo cán bộ địa phương ta tham nhũng và hãm hiếp nữ thuyền nhân. Cuối cùng hắn đã bị công an ta bắt với cáo buộc tội “phởn động” bằng vật chứng là những bài thơ và ca khúc do hắn sáng tác.

Đây là lời buộc tội vô cùng đanh thép và hùng hết hồn trong bản cáo trạng 1982 của ta:

“Tên Nguyễn Hữu Cầu đã cấu kết với tên Anan và tên Ca Diếp. Mua dầu cho Anan và Ca Diếp để vượt biên. Hiện tại thì Anan đã vượt biên còn Ca Diếp thì đang trốn tại Khánh Hòa, khi nào bắt được sẽ xử lý sau”.

“Tên Nguyễn Hữu Cầu đã sáng tác ra bài ‘Giọt nước mắt Chúa’, với nội dung ca ngợi đế quốc Mỹ và còn mơ tưởng sự quay trở lại của đế quốc Mỹ, cầu ‘bơ thừa, sữa cặn’. 
Bài ‘Giọt nước mắt Chúa’ có nội dung như sau:

“Lạy Cha chúng con ở trên Trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng. 
Nước Cha trị đến. 
Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. 
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày 
và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. 
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ 
nhưng cứu chúng con ra khỏi sự dữ. 
Amen!”

Nguyễn Hữu Cầu đã coi đế quốc Mỹ như là Cha trên Trời”.

Với tội ác tày trời này, tên “phởn động” Nguyễn Hữu Cầu bị kết án tử hình ở phiên sơ thẩm, rồi giảm xuống chung thân ở phúc thẩm. 
Trước sức mạnh nghiêm minh, chính trực và công bằng của luật pháp ta, tên “phởn động” nguỵ quân Nguyễn Hữu Cầu đã phải ngoan ngoãn thọ án từ 1982.

Tháng 3 năn 2014 hắn được phóng thích nhờ được hưởng chính sách độ lượng, khoan hồng vô cùng nhân bản của đảng ta.

Tổng cộng hai lần, tên “phởn động” này phải trả giá bằng 37 năm tù.

Loại người đáng kinh tởm!

From facebook:   Phan Thị Hồng‘s post.
 
 
 
Image may contain: 1 person, eyeglasses
Image may contain: sky and outdoor
Phan Thị Hồng added 2 new photos — with Hoang Le Thanh.

 

Loại người đáng kinh tởm!

Loại người đáng kinh tởm nhất là: Đám trí thức, có học, thậm chí tự xưng là nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu, … Sống ở nước ngoài nhưng ra sức ca ngợi chế độ trong nước.

Nữ đạo diễn Song Chi
(Na Uy).

(Trích)

… Thực sự mà nói, tôi không thích nhưng tôi có thể hiểu được vì sao bọn công an, an ninh chìm nổi, dư luận viên, đám bồi bút văn nô cho tới quan chức trong nước ra sức bênh vực chế độ do đảng cộng sản lãnh đạo ở VN và chống lại tất cả những ai muốn thay đổi chế độ.

Bởi vì đó là cuộc sống, là quyền lợi của họ, chế độ này đã cho họ quá nhiều thứ, họ phải ca tụng, bảo vệ, chưa kể họ sống trong nước, bị tuyên truyền nhồi sọ bao nhiêu năm mà lại không có đủ ngoại ngữ, kiến thức để tìm hiểu sự thật.

Tôi khó chịu, có thể nói là khinh hơn nhiều những loại người sau:

1. Sống ở nước ngoài lâu năm nhưng không tiếp thu, ảnh hưởng được bất cứ cái gì hay ho, tiến bộ trong xã hội của người ta, vẫn giữ nguyên những quan điểm bảo thủ, “đỏ rực” còn hơn bọn dư luận viên trong nước, vẫn ra sức bênh vực chế độ cộng sản, chống lại mọi sự thay đổi.

2. Sống ở nước người ta, được nước sở tại cưu mang nhưng lại cộng tác, làm việc cho nhà nước VN, làm gián điệp, tay sai cho cộng sản, làm dư luận viên cao cấp viết những bài viết làm ra vẻ khách quan nhưng thực chất là khéo léo tuyên truyền, định hướng theo đường lối, quan điểm của nhà cầm quyền VN.

Bọn này nguy hiểm hơn bọn dư luận viên trong nước là vì có ngoại ngữ, am hiểu tình hình xã hội, luật pháp nước sở tại, lại có bằng cấp, có “mác” Việt kiều nên nhiều người tin, tưởng rằng họ khách quan, mà không biết rằng đa phần cũng là dân cộng sản hoặc có gia đình thân nhân là cộng sản. Như đồng chí T. ở Đức hay đồng chí Beo H. ở Mỹ. Điểm dễ nhận ra là tuy ra sức khen nước sở tại nhưng cực kỳ căm ghét chế độ VNCH và phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ cho VN. Đám này có khi chỉ là dư luận viên cao cấp, nhưng cũng có khi là gián điệp, nằm vùng, tai mắt của nhà cầm quyền VN gài vào cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

3. Những người từng sống ở miền Nam VN trước kia, nhưng lại thân Cộng, thuộc thành phần thứ ba, mà người miền Nam hay gọi là “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” hay “đâm sau lưng các chiến sĩ”, sau này sống ở nước ngoài nhưng đầu óc vẫn không thay đổi. Thật lạ lùng là hồi xưa thì có thể nói là họ không hiểu gì về cộng sản nên “mê” cộng sản, quay sang phá hoại chế độ VNCH từ trong lòng phá ra, nhưng bây giờ sau nhiều năm, chế độ do đảng cộng sản lãnh đạo đã bộc lộ hết tất cả sự tồi tệ, bản chất dối trá, buôn dân bán nước, hèn với giặc ác với dân, mà vẫn có những người thuộc thành phần này bênh vực.

Không ít người trong số này là trí thức, có học, thậm chí tự xưng là nhà thơ nhà văn nhà nghiên cứu nọ kia, sống ở nước người hưởng không khí tự do, dân chủ, hưởng đủ mọi quyền lợi, nhưng vẫn đi về VN, và nếu được gặp gỡ, bắt tay quan này quan kia hay được nhà nước VN chiếu cố cho in một quyền sách, cho ngồi trong Hội Việt kiều yêu nước, hạ cố hỏi ý kiến nọ kia…thì lấy làm vinh dự, hãnh diện, càng ra sức ngợi khen chế độ.

Loại này theo thiển ý của tôi là đáng khinh nhất!

Ảnh 1: Nữ đạo diễn Song Chi, người Huế, sống tại Na Uy.

Ảnh 2: Bên ngoài khuôn viên Đại Sứ Quán Việt Nam tại Đức chụp hôm 2/8/2017. Ảnh : AFP

Nguồn: Nhân chuyện “đồng chí” T. và những “đồng chí” giống như vậy. Tác giả Song Chi.

http://www.rfa.org/…/story-about-some-vietnamese-abroad-081…

Các bộ trong nội các Việt Nam: Lãnh đạo nhiều hơn nhân viên

Các bộ trong nội các Việt Nam: Lãnh đạo nhiều hơn nhân viên

Một trong những vụ công chức đánh bạc. Số scandal liên quan đến công chức tăng dần theo nỗ lực cải cách bộ máy hành chính. (Hình: News Zing)

HÀ NỘI (NV) – Theo kết quả một cuộc khảo sát về việc thực hiện cải cách bộ máy hành chính do Quốc Hội Việt Nam thực hiện thì lãnh đạo trong các bộ thuộc nội các Việt Nam nhiều hơn nhân viên.

Chẳng hạn tỉ lệ công chức giữ các chức vụ từ phó phòng trở lên tính trên nhân viên ở Bộ Công Thương là 3/4 (75%), ở Văn phòng Chính phủ và các bộ: Nội Vụ, Tài Chính,… là 3/4 (60%).

Lược thuật về cuộc khảo sát vừa kể, VN Economy cho biết thêm rằng Quốc Hội Việt Nam nhận định, tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ trong nội các Việt Nam vẫn cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian. Kiểu trong bộ có các tổng cục, cục, vụ, văn phòng, thanh tra rồi trong các tổng cục cũng có cục, vụ, văn phòng, trong cục, vụ, văn phòng có các chi cục, phòng, ban… tương đương vẫn rất phổ biến.

Mỗi vấn đề cần được xử lý thường qua bảy bước: Chuyên viên soạn thảo báo cáo, đề nghị. Phó phòng cho ý kiến. Trưởng phòng cho ý kiến. Vụ phó cho ý kiến. Vụ trưởng cho ý kiến. Thứ trưởng duyệt văn bản. Bộ trưởng ký. Nếu có tổng cục thì còn thêm hai bước, trình cả tổng cục phó lẫn tổng cục trưởng cho ý kiến trước khi trình thứ trưởng duyệt, bộ trưởng ký.

Cơ quan thực hiện cuộc khảo sát vừa kể không lập thống kê, so sánh xem tỉ lệ văn bản được duyệt không khả thi, phải thu hồi hoặc hủy bỏ là bao nhiêu. Trên thực tế, tình trạng này diễn ra thường xuyên.

Cần nhắc lại rằng, theo nhiều chuyên gia, một trong những lý do khiến nợ nần của Việt Nam tăng vọt, bội chi, kinh tế liên tục suy thoái là do chi phí nuôi hệ thống công quyền quá lớn.

Theo một thống kê được công bố hồi năm ngoái, tại Việt Nam số lượng người hưởng lương hoặc các khoản có tính chất như lương từ ngân sách là 11 triệu. Con số này bao gồm các công chức trong hệ thống quyền và những cá nhân đang làm việc cho các tổ chức chính trị (như: Ðảng CSVN, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam), các đoàn thể. Trung bình, 40 người dân Việt Nam (bất kể tuổi tác, kể cả trẻ sơ sinh) phải nuôi một công chức/viên chức.

Hồi còn là phó thủ tướng, đề cập đến đội ngũ công chức, viên chức Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Phúc từng nhận định, chỉ có 30% đáp ứng được yêu cầu công việc. Bà Phạm Chi Lan, một chuyên gia kinh tế, cho rằng, 30% công chức chỉ “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về.” Khi còn làm bộ trưởng Thông Tin-Truyền Thông, ông Lê Doãn Hợp, bổ túc, 30% còn lại không chỉ không làm được việc mà còn nhũng nhiễu, đòi hối lộ.

Tuy là một vấn nạn thường trực và dù giới lãnh đạo Việt Nam nhiều lần thề “cải cách bộ máy, giảm lượng người hưởng lương từ ngân sách nhưng nhiều năm nay tổng chi thường xuyên của Việt Nam vẫn chiếm từ 68% đến 72% tổng ngân sách. Chi thường xuyên là cách gọi những khoản chi nhằm duy trì hoạt động của hệ thống công quyền. Hồi Tháng Năm vừa qua, ông Vương Ðình Huệ, một trong các phó thủ tướng Việt Nam, bảo rằng, năm nay, tổng chi thường xuyên có giảm, sẽ đạt tỉ lệ khoảng… 67% tổng chi ngân sách.

Khi tổng chi thường xuyên vẫn ở mức như vừa kể thì sẽ tiếp tục phải cắt giảm nhiều thứ, đặc biệt là phúc lợi xã hội, đầu tư để phát triển, bội chi tất nhiên là không thể tránh và tất nhiên là phải tăng vay mượn.

Những tuyên bố, cam kết mạnh mẽ nhằm cải cách bộ máy, giảm chi thường xuyên của giới lãnh đạo Việt Nam vừa được minh họa bằng các con số rất ấn tượng từ cuộc khảo sát về việc thực hiện cải cách bộ máy hành chính do Quốc Hội Việt Nam thực hiện: Số đơn vị hành chính thuộc bộ, cơ quan ngang bộ tăng thêm 28. Số đơn vị hành chính trực thuộc tổng cục tăng thêm 822. Chuyện nâng các vụ thành cục đang trở thành… xu thế mạnh mẽ, năm năm vừa qua hệ thống công quyền Việt Nam có thêm 29 cục và dẫn đầu xu thế này là các bộ thực thi pháp luật như công an, tư pháp! (G.Ð)

Cải tạo ngược

Cải tạo ngược

image
NGUYỄN HOÀNG ĐỨC: TÔI LÀ MỘT TRONG NHỮNG PHÉP LẠ VỀ ĐỨC TIN…
Tôi đã từng làm trong Phòng Tôn giáo của Bộ Công an. Trong Phòng ấy người ta có “đối sách” về Đức Cha mà sau này là Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Ông bị chuyển đổi từ miền Nam ra với cái tội rất to là vì ông là cháu của Ngô Đình Diệm và trở về Sài Gòn làm Phó Tổng Giám mục theo ý là lót ổ để lên Tổng Giám mục. Và ông cứ thế bị chuyển ra ngoài Bắc. Trong thời gian ông ấy bị cầm cố ở Hà Nội (có nghĩa là không ở tù) tức là được giữ trong mật viện. Có một đội trông ông ta nhưng tôi là một cán bộ cũng khá lâu năm, một sĩ qua khá lâu năm nên tôi đề nghị để tôi ra học tiếng Pháp với Cha, để luyện nói trên tinh thần là luyện tiếng Pháp chứ không phải để trông Cha. Cụ thể là như thế.
Mặc Lâm: Trong lúc tiếp xúc với Hồng Y, ông có cảm nhận ra sao về Ngài dưới cái nhìn của một sĩ quan công an và nhất là công an chống phản động như ông vừa cho biết ạ?

Sau khi học tiếng Pháp với Ngài thì tôi cảm nhiễm tinh thần của Đức Cha. Sau này thì tôi thôi việc, lý do là sau khi xảy ra sự kiện Thiên An Môn tôi không còn muốn làm công an nữa vì tôi làm ở Cục chống phản động nên biết dễ phải đi đàn áp và tôi đã xin chuyển ngành nhưng không được, tôi xin thôi việc cũng không cho. Tôi vẫn cứ bỏ việc.

Sau khi vào Sài Gòn tôi làm cho dầu khí Việt Nam. Tôi có đi một số các nhà thờ, nhà thờ trung tâm Đức Bà, nhà thờ Kỳ Đồng. Sau khi ra Hà Nội thì tôi được mặc khải trong một giấc mơ là tôi đi nhà thờ và tôi có rửa tội. Đúng đêm tôi rửa tội ở nhà thờ lớn thì Cha Ngân, bây giờ trở thành Giám mục, bảo với Cha Hùng, hiện nay đang học bên Ý hay bên Pháp gì đấy, mời tôi viết diễn giải một cái tin và tôi có viết bài “Con Đường Đức Tin Qua Cây Cầu Francisco Savie Nguyễn Văn Thuận” Bài này đã gởi qua Tòa Thánh và nằm trong hồ sơ và đã được Cha Sỹ đang ở Việt Nam xin đưa chữ ký vào những bản dịch khoảng 4,5 thứ tiếng. Tôi hiểu là việc phong Thánh cần phải có phép lạ. Phép lạ thứ nhất là Đức tin. Phép lạ thứ hai là chữa bệnh. Phép lạ thứ ba là mồ mả phát. Tôi là một trong những phép lạ về Đức tin.
Nhân chuyện nhà văn Nguyễn Hoàng Đức, đọc lại tác phẩm của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.
 
Nhà văn Nguyễn Hoàng Đức nguyên là công an, từng học tiếng Pháp với Đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận (tranh trên) – Anh đã viết một chuyên luận về: “Hành trình đức tin qua cây cầu F.X Nguyễn Văn Thuận” để mô tả lại quá trình biến đổi tình cảm, tâm lý và đến với Chúa của anh. Tài liệu đó hiện đang được Bộ Phong Thánh ở Roma lưu giữ xem như một phép lạ đức tin.
image
Nhà văn Nguyễn Hoàng Đức (áo tím) đồng hành tìm Chân lý với gia đình TS Cù Huy Hà Vũ
Được Hội đồng Công Lý và Hòa Bình Tòa thánh Vatican mời qua Rôma làm chứng về Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận nhân dịp lễ kết thúc điều tra phong Chân phúc cấp giáo phận. Ngày 2/7/2013 anh lên đường sang Rôma, nhưng đã bị công an ngăn chặn và thu hộ chiếu tại sân bay Nội Bài mà không có lý do rõ ràng. Sự việc này anh đã có bài tường thuật tại đây.
Đức cố Hồng Y sống 13 năm trong ngục tù cộng sản, một số sự việc trong đời sống tù đày đã được Ngài kể lại trong ‘Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá’, tác phẩm được dịch ra 8 thứ tiếng, để phục vụ các tham dự viên ‘Những Ngày Giới Trẻ’ tại Paris năm 1997. Mời bạn đọc xem lại vài trích đoạn sau:
image
Hình Đức Cha 1967
Có lúc Chúa dùng giáo dân để dạy tôi cầu nguyện.
Thời gian bị quản thúc ở Giang xá, có ông lão nhà quê, tên là ông quản Kính, từ giáo xứ Ðại Ơn lẻn vào thăm tôi. Tôi không bao giờ quên được lời ông khuyên tôi:
“Thưa cha, cha không hoạt động tông đồ được thì xin cha cầu nguyện cho Hội thánh; ở trong tù cha đọc một kinh hơn một nghìn kinh cha đọc lúc ở ngoài tự do!”

Ðức Mẹ còn sử dụng cả người cộng sản để nhắc tôi cầu nguyện.
Ông Hải đã từng ở tù, nằm cùng buồng với tôi để mật thám tôi, sau đã thành bạn của tôi. Trước ngày ông ta ra về, ông đã hứa với tôi:
Nhà tôi ở Long Hưng, chỉ cách La Vang 3 km, tôi sẽ đi La Vang cầu nguyện cho anh”.
Tôi tin lòng thành thật của anh bạn, nhưng tôi hoài nghi làm sao một người cộng sản mà đi cầu nguyện Ðức Mẹ cho tôi! Sáu năm sau, đang lúc tôi ở biệt giam, tôi đã được một bức thư của ông Hải, lạ lùng thật! Lạ hơn nữa là lời lẽ của ông như sau:

“Anh Thuận thân mến, tôi đã hứa với anh, tôi sẽ đi cầu nguyện Ðức Mẹ La Vang cho anh. Mỗi Chủ nhật, nếu trời không mưa, lúc nghe chuông La Vang, tôi lấy xe đạp vào trước đài Ðức Mẹ, vì chiến tranh bom đạn đã đánh sập nhà thờ rồi. Tôi cầu nguyện thế này: Thưa Ðức Mẹ, tôi không có đạo, tôi không thuộc kinh nào cả. Nhưng tôi đã hứa sẽ đi cầu nguyện Ðức Mẹ cho anh Thuận, nên tôi đến đây. Xin Ðức Mẹ biết anh Thuận cần gì thì cho anh ấy“.

Tôi hết sức cảm động. Tôi đọc đi đọc lại rồi đặt thư xuống nhắm mắt lại: “Lạy Mẹ, Mẹ đã dùng anh cộng sản này để dạy con cầu nguyện; chắc Mẹ đã nhậm lời anh ấy, con mới còn sống đây!”.
image
Đức Hồng y Thuận và Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II
Ở trại giam Phú Khánh, một đêm tôi đau quá, thấy một người gác đi qua, tôi kêu: “Tôi đau quá, xin anh thương tình cho tôi thuốc!” Anh ta đáp: “Ở đây chẳng có thương yêu gì cả, chỉ có trách nhiệm“.
Ðó là bầu khí chúng tôi ở trong tù.
Lúc tôi bị biệt giam, trước tiên người ta trao cho năm người gác tôi: đêm ngày có hai anh trực. Cứ hai tuần đổi một tổ mới, để khỏi bị tôi làm nhiễm độc. Một thời gian sau không thay nữa, vì “cấp trên” nói: “Nếu cứ thay riết thì sở công an bị nhiễm độc hết!“
Thực thế, để tránh nhiễm độc, mấy anh không nói với tôi, họ chỉ trả lời “có” hoặc “không”. Họ tránh nói chuyện với tôi. Buồn quá! Tôi muốn lịch sự vui vẻ với họ, họ vẫn lạnh lùng. Phải chăng họ ghét “cái mác phản động” nơi tôi: Tất cả áo quần đều đóng dấu hai chữ lớn “cải tạo”, kể từ ngày bước chân vào trại Vĩnh Quang ở Bắc Việt.
Tôi phải làm thế nào?
Một đêm đông lạnh quá, không ngủ được, tôi nghe một tiếng nhắc nhủ tôi: “Tại sao con dại thế? Con còn giàu lắm: Con mang tình thương Chúa Giêsu trong tim con. Hãy yêu thương họ như Chúa Giêsu đã yêu con”.  Sáng hôm sau, tôi bắt đầu mến họ, yêu mến Chúa Giêsu trong họ, tươi cười với họ, trao đổi đôi ba câu nói… Tôi thuật lại những chuyến đi ra nước ngoài, cuộc sống, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹ thuật, tự do dân chủ ở Canada, Nhật Bản, Philippines, Singapore, Pháp, Ðức, Úc, Áo, v.v… 
Những câu chuyện đó kích thích tính tò mò của họ, giục họ đặt nhiều câu hỏi. Tôi luôn luôn trả lời… Dần dần chúng tôi trở thành bạn. Họ muốn học sinh ngữ Anh, Pháp… tôi giúp họ. Từ từ mấy chiến sĩ gác tôi trở thành học trò của tôi! Bầu khí nhà giam đổi nhiều, quan hệ giữa họ với tôi tốt đẹp hơn. Thậm chí cả những ông xếp công an, thấy tôi đối xử chân thành, không những họ xin tôi giúp các chiến sĩ học hành ngoại ngữ, nhưng họ còn gửi anh khác đến học.
Tôi sống theo lời Chúa Giêsu dạy: “Ðiều gì con làm cho một người bé mọn nhất trong anh em là làm cho chính mình Ta”.
Khi nào có hai hay ba người hợp nhau vì danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ”.

 

Một hôm một ông xếp hỏi tôi:
– Ông nghĩ thế nào về tờ tuần báo “Người Công giáo”?
– Nếu viết đúng cả nội dung cả hình thức thì có lợi; nếu ngược lại thì không thêm đoàn kết, lại còn thêm chia rẽ, bất lợi cho cả người Công giáo và cho cả nhà nước.
– Làm thế nào cải thiện tình trạng ấy?
– Những cán bộ phụ trách về tôn giáo phải hiểu đúng mỗi tôn giáo thì việc đối thoại, tiếp xúc các chức sắc mỗi tôn giáo cũng như các tín hữu mới có tính cách xây dựng, tích cực và tạo nên thông cảm giữa đôi bên.
– Ông có thể giúp được không?
– Nếu các vị muốn, tôi có thể viết một cuốn Lexicon (từ điển bỏ túi) gồm những danh từ thông dụng nhất trong tôn giáo, từ A đến Z, chừng nào các vị có giờ rảnh, tôi sẽ giải thích rõ ràng, khách quan. Hy vọng các vị có thể hiểu lịch sử, cơ cấu, sự phát triển và hoạt động của Giáo hội…
 
Họ đã trao giấy mực cho tôi, tôi đã viết cuốn “lexicon” đó, bằng tiếng Pháp, Anh, Ý, Latinh, Tây Ban Nha, và Trung Quốc với phần giải thích bằng Việt ngữ. Dần dà tôi có cơ hội giải thích hoặc giải đáp thắc mắc, tôi chấp nhận làm sáng tỏ những chỉ trích về Giáo hội. “Lexicon” ấy trở thành một cuốn giáo lý thực hành. Ai cũng muốn biết viện phụ là gì, thượng phụ là gì, Công giáo khác Anh giáo, Tin Lành, Chính Thống giáo chỗ nào? Tài chánh của Tòa thánh từ đâu mà có? Có bao nhiêu tu sĩ, giáo dân làm việc trong giáo triều, huấn luyện tu sĩ, giáo sĩ thế nào? Giáo hội phục vụ nhân loại thế nào? Tại sao Giáo hội gồm có nhiều dân tộc, sống qua nhiều thời đại cũng bị bắt bớ, tiêu diệt, cũng mang nhiều khuyết điểm mà vẫn tồn tại? Ngang đây là đến biên giới của siêu nhiên, của sự quan phòng của Thiên Chúa… Cuộc đối thoại từ A đến Z giúp xóa tan một số hiểu lầm, một số thành kiến, có những lúc trở nên thú vị và hấp dẫn. Tôi tin tưởng có nhiều người cởi mở, muốn tìm hiểu và với những biến chuyển trong thời đại ta, đã có những tầm nhìn mới mẻ và xây dựng.

 

Thời kỳ biệt giam ở Hà Nội, tôi được biết có 20 chiến sĩ nam nữ trẻ học tiếng Latinh với một cựu tu sĩ, để có thể đọc các tài liệu của Giáo hội. Trong số mấy anh gác tôi có hai anh trong nhóm học Latinh. Trông thấy bài vở, tôi nhận thấy họ học tốt. Một hôm, một trong hai anh ấy hỏi tôi:
– Ông có thể dạy tôi một bài hát tiếng Latinh không?
– Có nhiều bài hay tuyệt, nhưng biết anh thích bài nào?
– Ông hát cho tôi nghe, tôi sẽ chọn.
Tôi đã hát Salve Regina, Veni Creator, Ave Maris Stella… Các bạn biết anh ta chọn bài nào không? Anh ta chọn bài Veni Creator (Xin Chúa Ngôi Ba đoái thương viếng thăm…).
image
 
Tôi đã chép trọn cả bài cho anh ta và anh ta học thuộc lòng. Mỗi sáng quãng 7 giờ, tôi nghe anh ta chạy xuống thang gỗ, ra sân tập thể dục, rồi múc nước vừa tắm vừa hát: Veni Creator Spiritus… Tôi rất cảm động, làm sao mỗi sáng trong nhà tù cộng sản lại có một cán bộ hát kinh “Veni Creator” cho mình nghe!
image

https://www.youtube.com/watch? v=33XotuYs-io 

Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi mọi sự dữ. Amen.

Người cha đẻ hành khúc “Lục Quân Việt Nam” đã ra người thiên cỗ.

Người cha đẻ hành khúc “Lục Quân Việt Nam” đã ra người thiên cỗ.

 Lê Dinh

Người cha đẻ của hành khúc:  Lục Quân Việt Nam vừa từ trần tại Melbourne, Úc Đại Lợi..

 (AP Photo/Godfrey)

Lục Quân Việt Nam Cộng Hòa Hành Khúc 
http://www.youtube.com/watch?v=J98GSe8ms7I

Chúng tôi vừa nhận được tin buồn:Nhạc sĩ Văn Giảng tức Thông Đạt từ trần tại Melbourne, Úc Đại Lợi Ngày 9 Tháng Năm, 2013 Hưởng Thọ 89 tuổi. Tang Lễ được cử hành tại Chùa Quang Minh vào ngày 12 & 13-05-2013. Sẽ được hỏa táng vào lúc 8 giờ sáng ngày Thứ Ba 14-05-2013

Dưới đây là bài viết của nhạc sĩ Lê Dinh về Tiểu Sử của nhạc sĩ Văn Giảng vài năm trước đây (xin trích) và 1 tấm hình 2 Ông Bà nhạc sĩ Lê Văn Khoa và Ông Bà Văn Giảng chụp chung với nhau trong chuyến viếng thăm Melbourne của ÔB Lê Văn Khoa (năm 2005) (hình do nhạc sĩ Lê Văn Khoa vừa gởi tặng VH)

Tiểu Sử Nhạc Sĩ Văn Giảng

Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn
Đoàn hùng binh trong sương lướt gió reo vang
Đi đi đi, lời thề nguyền, tung gươm thiêng, thi gan trai
Đời hùng cường quyết chiến đấu đoàn quân ra đi…
… Phá tan tành ầm ầm đoàn quân xông pha
Thét oai linh tung gươm giết tan quân thù
Đoàn hùng binh say sưa nhìn trong trời sương
Ta anh hùng đời đời lục quân Việt Nam…

Trên đây là lời ca 8 trường canh đầu của bài hành khúc “Lục Quân Việt Nam” của Văn Giảng mà mọi người Việt Nam, từ cậu học sinh đến anh tân binh ở quân trường cũng như tất cả quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đều biết. Bài hát được tác giả viết vào năm 1950 với cung Ré trưởng, khi được đồng ca bởi một số đông người, đem lại cho người nghe một cảm giác như hăng say cương quyết, như nung chí anh hùng:

Nhạc sĩ Văn Giảng sinh ngày 12 tháng 5 năm 1924 tại Huế trong một gia đình trung lưu. Thừa hưởng năng khiếu thiên phú gia tộc về âm nhạc vì ông nội của Văn Giảng cũng là một nhạc sĩ cổ nhạc rất giỏi cho nên Văn Giảng cũng có khiếu về âm nhạc từ lúc nhỏ và ngày còn bé, nghe người ta chơi một loại nhạc khí nào là ông có thể về mò mẫm tự học lấy và thành công trong việc xử dụng loại nhạc khí đó. Cũng như mọi người thích âm nhạc và quyết tâm chơi nhạc, loại đàn dễ học nhất cho mọi người là đàn mandoline, nhạc sĩ Văn Giảng cũng vậy, khi bắt đầu ông học đàn măng cầm và sau đó lần đến lãnh vực tây ban cầm. 

Có một người bạn lớn tuổi hơn ông biết đàn tây ban cầm, Văn Giảng muốn tầm sư học đạo, đến nhà ông này để nhờ chỉ dạy nhưng người này bắt ông phải trả công bằng một cây đàn guitare. Làm gì có tiền ở lứa tuổi còn nhỏ? Văn Giảng về nhà tìm tòi tự học lấy và chỉ một thời gian sau, ông vượt qua tài nghệ của ông “thầy hụt” kia và ông này phải nhờ Văn Giảng chỉ lại cho. Nhờ có biệt tài như vậy mà nhạc sĩ Văn Giảng có thể xử dụng rành rẽ nhiều nhạc khí cổ kim, trở thành một nhạc sĩ tài giỏi và đào tạo rất nhiều môn sinh có trình độ sau này.

Không những chỉ trong lãnh vực âm nhạc mà thôi, nhạc sĩ Văn Giảng còn nổi bật trong lãnh vực văn hóa, mọi thứ, mọi việc ông đều tự học như vừa làm giáo sư âm nhạc ở Huế, ông vừa tự học để rồi sau đó lặn lội vào Saigon thi lấy bằng tú tài và bằng cử nhân. 

Ông tốt nghiệp Anh văn ở Hội Việt Mỹ và trúng tuyển cuộc thi tuyển sinh viên nghiên cứu về âm nhạc ở ngoại quốc, được xuất dương du học tại trường Âm nhạc lớn của Hoa Kỳ ở Hawaii và Bloomington. Ở Hoa Kỳ, Văn Giảng đã tốt nghiệp với lời khen của Ban Giám khảo và được cấp thêm học bổng để nghiên cứu bậc cao học âm nhạc. Sau đó ông trở về nước và được đề cử làm Giám đốc trường Quốc gia Âm nhạc Huế.

HÌNH VỢ CHỒNG NHẠC SĨ VĂN GIẢNG, CHỤP NĂM 1949

Phần đông những sáng tác của nhạc sĩ Văn Giảng thuộc loại hùng ca như “Thúc Quân” (1949), “Lục Quân Việt Nam” (1950), “Đêm Mê Linh” (1951), “Quân Hành Ca” (1951), “Qua Đèo” (1952), “Nhảy Lửa” (1953) v.v… nhưng ít người được biết nhạc sĩ Văn Giảng còn có một biệt hiệu khác là “Thông Đạt” với ca khúc bất hủ “Ai Về Sông Tương” mà mọi người trong giới học sinh, sinh viên và ở lứa tuổi 40 trở lên đều biết:

Ai có về bên bến sông Tương
Nhắn người duyên dáng tôi thương
Bao ngày ôm mối tơ vương
Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương
Tâm hồn mơ bóng em luôn
Mong vài lời em ngập hương…

Bài ca này được tác giả viết vào năm 1949 với cung La trưởng, uyển chuyển tha thướt trong phần lời lãng mạn, trữ tình, là một bản nhạc gối đầu giường, nằm lòng của thanh thiếu niên nam nữ trong những thập niên 50 – 60.

Về ca khúc này, có một câu chuyện khá thú vị như sau: Trong những thập niên 1940, 1950, ở Huế ai ai cũng biết ông Tăng Duyệt, giám đốc nhà Xuất bản Tinh Hoa Huế (xin đừng lẫn lộn với nhà xuất bản Tinh Hoa miền Nam ở Saigon do nhạc sĩ Lê Mộng Bảo làm giám đốc) in ấn và phát hành một số nhạc phẩm ít oi của thời đó. 

Là nhạc sĩ, đương nhiên Văn Giảng chơi thân với ông Tăng Duyệt vì một số hành khúc của ông đều do nhà xuất bản Tinh Hoa Huế của ông Tăng Duyệt ấn hành. Một hôm trong lúc vui miệng, ông Tăng Duyệt có ngụ ý bảo rằng nhạc sĩ Văn Giảng chỉ viết được những bài hùng ca thôi còn về những bài tình ca không phải sở trường của Văn Giảng. 
Nghe vậy hay vậy, không cần phải trả lời. Nhạc sĩ Văn Giảng về nhà, âm thầm lấy giấy bút viết bài “Ai Về Sông Tương”, không ghi tên tác giả là Văn Giảng như mọi khi mà đề tên tác giả là Thông Đạt, một bút hiệu mới toanh trong làng tân nhạc Việt Nam thời đó. Bản “Ai Về Sông Tương” được tác giả Thông Đạt gửi đến các đài phát thanh ở Hà Nội, Huế và Saigon và cả nước đều nghe “Ai Về Sông Tương” của Thông Đạt trong thời gian sau đó:

… Thu nay về vương áng thê lương
Vắng người duyên dáng tôi thương
Mối tình tôi vẫn cô đơn
Xa muôn trùng lưu luyến nhớ em
Mơ hoài hình bóng không quên
Hương tình mộng say dịu êm…

Sau nhiều lần được nghe bài “Ai Về Sông Tương” quá hay trên làn sóng điện, qua các đài phát thanh, ông Tăng Duyệt gặp Văn Giảng và hỏi ở trong giới nhạc, Văn Giảng có biết Thông Đạt, tác giả bài “Ai Về Sông Tương” là ai không để ông thương lượng mua bản quyền xuất bản nhạc phẩm này nhưng Văn Giảng tảng lờ như không biết Thông Đạt là ai! 

Rồi một hôm có hai người bạn trẻ của Văn Giảng là nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng, tác giả bài “Mùa Thi” (Thi ơi là thi, sinh mi làm chi, “bay” nghẹn ngào, “bám”, ồn áo, buồn vui vì mi) và nhà văn Lữ Hồ tình cờ đến nhà Văn Giảng chơi và thấy bản thảo bài “Ai Về Sông Tương” với tuồng chữ và lối chép nhạc của nhạc sĩ Văn Giảng trong xấp nhạc trên bàn viết nên nói cho ông Tăng Duyệt biết. Ông này mới lái xe ngay tới nhà Văn Giảng và vài ngày sau đó, giới ngưỡng mộ tân nhạc mới có một ca khúc với thể điệu “Blues” tha thướt trong tay để mà ngân nga cho đỡ thương đỡ nhớ những khi trái tim rung động vì một bóng hình nào đó. 

Nhạc phẩm “Ai Về Sông Tương” đã chiếm kỷ lục tái bản thời đó với 6 lần in thêm trong tháng đầu tiên và được thính giả Đài Phát thanh Pháp Á chọn là bài nhạc hay nhất trong năm 1949. Qua bút hiệu Thông Đạt, chúng ta còn được thưởng thức những sáng tác sau đây: “Đôi Mắt Huyền”, “Hoa Cài Mái Tóc”, “Tình Em Biển Rộng Sông Dài”, “Xin Đừng Chờ Em Nữa” v.v…

Ngoài hai bút hiệu trên, Văn Giảng – Thông Đạt còn một bút hiệu thứ ba để sáng tác những bài Phật giáo. Đó là bút hiệu Nguyên Thông được dùng để ghi trên những nhạc phẩm như “Từ Đàm Quê Hương Tôi”, “Mừng Đản Sanh”, “Ca Tỳ La Vệ”, “Vô Thường”, “Hoa Cài Áo Lam” v.v…

Trong thời gian làm nhạc trưởng Đài Phát thanh Huế và giáo sư âm nhạc tại các trường Trung học Hàm Nghi, Quốc Học và trường Sư phạm đào tạo giáo viên Tiểu học, nhạc sĩ Văn Giảng có sáng tác và ấn hành một tập nhạc dành cho thiếu nhi mang tên :”Hát Mà Học” gồm có 10 ca khúc: Đến Trường, Chơi Ná, Chê Trò Xấu Nết, Mèo Chuột, Tham Mồi, Gương Sáng Lê Lai, Quang Trung Hùng Ca, Trăng Trung Thu, Chúc Xuân và Tạm Biệt.

Cũng trong lãnh vực âm nhạc, nhờ xuất thân từ một gia đình có truyền thống âm nhạc, Văn Giảng thích tìm tòi và nghiên cứu nhạc cổ truyền Việt Nam. Năm 1956, ông đã tìm ra phương pháp ký âm cho nhạc sĩ cổ truyền có thể nhìn bài bản mà trình tấu chung với nhạc sĩ tân nhạc và từ đó, ông thành lập ban cổ kim hòa điệu “Việt Thanh”, một ban nhạc đầu tiên trong nước dưới hình thức tân cổ hòa điệu với những nhạc khí tranh, tỳ, nhị huyền, nhị hồ, đàn nguyệt… hoà tấu chung với dương cầm, tây ban cầm, đại hồ cầm… 

Trong phạm vi này, ông đã hoàn thành tác phẩm độc đáo “Ai Đưa Con Sáo Sang Sông”, một bản đại hòa tấu, thời lượng 60 phút, trình diễn bởi các nhạc sĩ cổ truyền. Ông cũng đã soạn nhiều sách giáo khoa về âm nhạc, hoàn thành quyển “Kỹ Thuật Hoà Âm” dày 350 trang được dùng làm tài liệu dạy âm nhạc ở các trường.

Sau Tết Mậu Thân 1968, cảm thấy sinh sống ở Huế bất an – ông Tăng Duyệt, bạn thân của ông, đã chết trong biến cố này – nhạc sĩ Văn Giảng vào Saigon lập nghiệp từ năm 1969 và ông nhanh chóng hòa hợp với nhịp sống âm nhạc của thủ đô, soạn hòa âm cho hãng đĩa Asia – Sóng Nhạc, dạy nhạc tại trường Quốc gia Âm nhạc Saigon, tham gia sinh hoạt ca nhạc ở đài phát thanh, đài truyền hình.

Cũng trong thời gian này, một số nhạc phẩm tình cảm với bút hiệu Thông Đạt của ông được thành hình và tung ra thị trường. Đồng thời, Văn Giảng được Bộ Văn Hóa Giáo Dục đề cử làm Trưởng Phòng Học Vụ Nha Mỹ Thuật, đảm trách học vấn của các trường Âm nhạc Saigon, Huế và các trường Cao đẳng Mỹ thuật. 

Năm 1970, ông được huy chương vàng giải Văn học Nghệ thuật của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (âm nhạc loại A) với sáng tác phẩm “Ngũ Tấu Khúc” (Quintet for Flute and Strings). Cùng năm này, ông được chỉ định làm Giám đốc Nghệ thuật điều hành Đoàn Văn nghệ Việt Nam gồm 100 nghệ sĩ tân cổ nhạc và vũ, ban vũ do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách, ban vũ cổ truyền đại nội Huế do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba điều khiển, để tham dự Hội chợ Quốc tế Expo 70 tại Osaka (Nhật Bản).

Sau 1975, nhạc sĩ Văn Giảng kẹt lại Việt Nam cho đến năm 1981 mới vượt biên đến đảo Natuna (Nam Dương) và sau đó được chuyển đến đảo Pulau Galang. Ở đây, trong 6 tháng, Văn Giảng sáng tác được một số bài nói lên thân phận lạc loài của người dân mất nước mà bài đầu tiên là “Natuna người tình đầu” cùng một số 70 ca khúc khác.

Ngày 20/5/1982, Văn Giảng định cư tại Úc, ở đây, ông tiếp tục con đường âm nhạc, soạn và xuất bản nhiều sách nhạc lý như cách dùng hợp âm, tự học tây ban cầm, hòa âm, sáng tác, học hát, học đàn v.v…

Ở đây, ông cũng đã sáng tác thêm nhiều tình khúc như: 12 tình khúc (Tập I), 12 Tình Khúc (Tập II) v.v… Những ai thiết tha với tân nhạc, muốn đi sâu, tìm hiểu hơn về sáng tác và hòa âm hoặc muốn trau dồi việc xử dụng các nhạc khí kim cổ, thiết nghĩ không gì bằng tìm các sách giáo khoa của nhạc sĩ Văn Giảng để đi đến nơi đến chốn. Văn Giảng hiện cư ngụ ở thành phố Footscray, bang Victoria (Úc Châu), điện thoại: (03) 9689-9623.

Ngoài một gia sản âm nhạc đồ sộ, từ những hành khúc hùng dũng đến những cung bậc uyển chuyển lả lướt của những bài tình ca qua những điệu nhạc vui tươi yêu đời dành cho thiếu nhi và những ca khúc uy nghiêm về Phật giáo, nhạc sĩ Văn Giảng còn đóng góp trong việc phổ biến âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại với một số lượng đáng kể về sách dạy nhạc viết bằng Việt ngữ và Anh ngữ, chẳng những dành cho thế hệ trẻ Việt Nam ở hải ngoại mà cho cả người ngoại quốc muốn học hỏi và tìm hiểu về nền âm nhạc Việt Nam.

Một con người giản dị, khiêm nhường, không thích phô trương với một gia tài âm nhạc to lớn như thế của mình ẩn náu nơi một góc trời Đông sau ngày mất nước quả thật là một người đáng kính nể, đáng tôn thượng trong làng âm nhạc Việt Nam.

Lê Dinh

From: KimBang Nguyen

NURSING HOME Ở MỸ .

NURSING HOME Ở MỸ .  

Cổ nhân có câu: “sinh, lão, bệnh, tử”. Bốn giai đoạn này không ai có thể tránh khỏi. Chuẩn bị ứng phó với bệnh tật và tuổi già của mình và của thân nhân mình là điều ai cũng có dịp nghĩ tới, kể cả chính kẻ viết bài này là tôi cũng đang sắp sửa bước vào tuổi“thất thập cổ lai hi”.

Anh bạn thân của tôi, Bs. TNT từ lâu có đề nghị tôi viết một bài về “Viện Dưỡng Lão” (VDL) để giúp bà con mình có thêm một chút khái niệm về VDL và anh biết trong suốt 27 năm qua tôi đã liên tục săn sóc cho các cụ già tại các Viện dưỡng lão, và cũng đã là “Giám Đốc Y Tế” (Medical Director) của nhiều VDL trong vùng. Nay tôi muốn chia xẻ cùng qúy bạn một số kinh nghiệm và hiểu biết về VDL.

Trong Việt ngữ chúng ta thường dùng từ Viện Dưỡng Lão, nhưng trong Anh ngữ thì có nhiều từ khác nhau như Nursing home, Convalescent home, Rehabilitation and Nursing center, Skilled nursing facility (SNF), Rest home… Nói chung, VDL là một nơi cho những người bị yếu kém về thể xác không thể tự săn sóc cho mình được trong cuộc sống hàng ngày.  Thí dụ như không thể nấu nướng, giặt giũ, đi chợ… nặng hơn nữa như không đủ sức để làm những việc tối cần thiết cho cuộc sống như ăn uống, đi tiêu, đi tiểu… hoặc cần phải có thuốc men đúng lúc mà không thể tự làm được.

Khi nói tới VDL người ta thường chỉ nghĩ tới những người già mà thôi. Thật ra có nhiều người “trẻ” nhưng vì tật bệnh không thể tự lo cho mình được cần phải có sự giúp đỡ của SNF (skilled nursing facility). Vậy thế nào là VDL?

VDL là nơi cung cấp những dịch vụ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày cho những người không đủ khả năng lo cho chính mình. Tùy theo mức độ trầm trọng của bệnh tật mà có những VDL khác nhau:

1- Skilled Nursing Facility (SKF): là nơi cung cấp những dịch vụ cho những người bị khuyết tật nặng như tai biến mạch máu não gây nên bán thân bất toại, hôn mê lâu dài, hoàn toàn không còn khả năng ngay cả trong việc ăn, nuốt, tiêu, tiểu… Thường thường tại SNF có hai phần: phục hồi (rehabilitation) và săn sóc sức khỏe (nursing care). Có những người sau khi được giải phẫu thay xương khớp háng (hip replacement), thay đầu gối (knee replacement), hay mổ tim (bypass, thay valve tim) … cần thời gian tập dượt để phục hồi (rehabilitation). Sau đó họ có thể về nhà sinh hoạt bình thường cùng gia đình.

2- Intermediate care facility (ICF): cung cấp dịch vụ cho những người bệnh như tật nguyền, già cả nhưng không cần săn sóc cao cấp (intensive care). Thường thường những người này không có thân nhân để lo cho mình nên phải vào đây ở cho đến ngày cuối cùng (custody care).

3- Assisted living facility (ALF): Thường thường những người vào ALF vẫn còn khả năng tự lo những nhu cầu căn bản như tắm rửa, thay quần áo, đi tiêu, đi tiểu một mình được. Họ chỉ cần giúp đỡ trong việc bếp núc, theo dõi thuốc men và chuyên chở đi thăm bác sĩ, nhà thờ, chùa chiền hay mua sắm lặt vặt. Họ vẫn còn phần nào “độc lập”.

4- VDL cho những người quá lú lẫn (Alzheimer facility): có những bệnh nhân bị lú lẫn nặng, đến nỗi không nhận ra người thân như vợ, chồng, con cháu nữa. Không biết tự đi vào buồng tắm, phòng vệ sinh để làm những công việc tối thiểu. Họ không biết họ ở đâu, dễ đi lang thang và lạc đường.  Nếu ở nhà thì phải có người lo cho 24/24.  Những VDL dành riêng cho những bệnh nhân này, thường là “locked facilty”, cửa ra vào được khóa lại để bệnh nhân không thể đi lạc ra ngoài. Cách đây khá lâu đã có trường hợp một bệnh nhân đi ra khỏi viện, lạc đường, bị xe lửa cán chết!  Từ đó có locked facilty.  Đôi khi cũng có những bệnh nhân được gắn alarm vào cổ chân. Nếu bệnh nhân đi qua cửa thì alarm sẽ báo động và nhân viên sẽ kịp thời mang về lại.

 NHỮNG DỊCH VỤ ĐƯỢC CUNG CẤP TẠI VDL  

Điều này tùy theo từng viện. Tuy nhiên những dịch vụ sau đây là cần thiết:
1- Phòng ngủ.
2-Ăn uống
3-Theo dõi thuốc men
4-Những điều tối thiểu hàng ngày như tắm rửa, thay quần áo, vệ sinh cá nhân…
5-24/24 lo cho những trường hợp bệnh khẩn cấp.
6-Sinh hoạt hàng ngày như giải trí, tôn giáo…
7- Vật lý trị liệu. Dịch vụ này rất quan trọng để giúp người bệnh có thể phục hồi càng nhiều càng tốt.  Trong vật lý trị liệu có nhiều dịch vụ khác nhau:

a- Tập dượt (physical therapy): như tập đi, tập lên xuống cầu thang, tập tự vào giường ngủ hay ra khỏi giường một cách an toàn, không vấp ngã…
b- Speech therapy: tập nói, tập nuốt khi ăn uống… Có những bệnh nhân bị stroke, không thể nói hay ăn được, cần được tập để phục hồi chức năng này.
c- Occupational therapy: Tập mang giầy, bí tất (vớ)… Tập sử dụng bếp gaz, bếp điện cho an toàn để tránh bị tai nạn.

 AI TRẢ TIỀN CHO VDL? 

Có nhiều nguồn tài trợ khác nhau:
1-Medicare
2-Medicaid (ở California là Medi-Cal).
3-Bảo hiểm tư, có nhiều người mua sẵn bảo hiểm cho VDL.
4-Tiền để dành của người bệnh (personal funds).

MEDICARE là do quỹ liên bang, chỉ trả tối đa 100 ngày cho những bệnh nhân cần tập dượt để phục hồi chức năng tại một Skilled Nursing Facility (SNF). Thường những bệnh nhân bị stroke, gãy xương… cần dịch vụ này. Medicare KHÔNG TRẢ cho custody care.

MEDICAID là do quỹ liên bang và tiểu bang. Quỹ này trả nhiều hay ít là tùy từng tiểu bang. Medicaid trả cho dịch vụ y tế và custody care.

BẢO HIỂM TƯ thì tuy theo từng trường hợp sẽ có những quyền lợi khác nhau, nhưng thường rất hạn chế.

Hiện nay người ta ước lượng trên nước Mỹ có khoảng 1.4 triệu người sống trong 15,800 VDL. Các VDL này đặt dưới sự kiểm soát của bộ y tế, đặc biệt là do Center for Medicare & Medicaid Services (CMS) giám sát.  Hàng năm các VDL đều phải trải qua một cuộc kiểm tra rất gắt gao (survey) của CMS. VDL nào không đúng tiêu chuẩn thì có thể bị đóng cửa!  Mục đích kiểm tra của CMS là để bảo đảm cho các bệnh nhân tại VDL được săn sóc an toàn, đầy đủ với chất lượng cao. Đồng thời tránh những trường hợp bị bỏ bê (negligence) hay bạo hành (abuse) về thể xác lẫn tinh thần.  Tại mỗi VDL đều có lưu trữ hồ sơ kiểm tra cho công chúng xem. Bất cứ ai cũng có thể xem kết quả của các cuộc kiểm tra này.  Tất cả các VDL đều phải có các biện pháp để bảo đảm sự săn sóc cho bệnh nhân theo đúng tiêu chuẩn. Nếu không sẽ bị phạt tiền, và có những trường hợp bị đóng cửa.

Trên đây tôi đã trình bày sơ qua về những điểm chính của VDL.  Tuy nhiên, như quý bạn đã từng nghe và biết, có nhiều khác biệt giữa những VDL.  Theo tôi nhận xét thì quan niệm chung của mọi người là “không muốn vào VDL”.  Chúng ta từng nghe những chuyện không tốt thì nhiều, mà những chuyện tốt thì ít. “Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa”, là câu ngạn ngữ người mình vẫn nói từ xa xưa đến nay. Tôi đã đọc không biết bao nhiêu là bài viết về việc con cái “bất hiếu”, bỏ bố mẹ, ông bà vào VDL rồi không đoái hoài tới.  Tôi cũng thấy nhiều trường hợp các cụ vào VDL một thời gian rồi không muốn về nhà với con cháu nữa! Trên đời này không có gì là tuyệt đối cả, trong cái hay có cái dở, và trong cái dở lại có thể tìm ra cái hay.  Vậy chúng ta rút tỉa được kinh nghiệm gì trong vấn đề này?  Tôi chỉ xin nêu lên những nhận xét chủ quan của riêng tôi mà thôi. Có thể quý vị không đồng ý hết, nhưng nếu rút tỉa được ít nhiều ý kiến xây dựng thì “cũng tốt thôi”.

       NHỮNG “BỆNH” CÓ THỂ DO VDL GÂY RA

1- Lo lắng (anxiety): Trong tháng 9/2011 những nhà nghiên cứu hỏi ý kiến của 378 bệnh nhân trên 60 tuổi nằm VDL tại thành phố Rochester, New York. Kết qủa là có trên 27.3% trả lời là họ bị bệnh lo lắng, từ vừa đến nặng. Nếu không được chữa trị sẽ đưa đến bệnh trầm cảm (depression). Nên nhớ là 378 bệnh nhân này là người Mỹ chính cống, sinh ra và lớn lên tại Mỹ. Chúng ta hãy tưởng tượng người Việt mình không biết rành tiếng Anh, không am tường phong tục, tập quán thì sự khó khăn sẽ nhiều như thế nào!  Còn một vấn đề nữa là thức ăn, chúng ta quen “nước mắm, thịt kho”…, làm sao mà có thể nuốt hamburger, sandwich… ngày này qua ngày khác! Các vấn đề này càng làm bệnh lo lắng, trầm cảm nặng thêm!

2- Phản ứng của thuốc (adverse drug reactions): Trong tháng 1/2012 ngưòi ta theo dõi các bệnh nhân tại VDL,  kết quả là ít nhất 40% các bệnh nhân dùng trên 9 loại thuốc khác nhau. Uống càng nhiều thuốc thì phản ứng càng nhiều. Có ba loại phản ứng khác nhau:

a-      Phản ứng phụ (side effects): thí dụ như uống aspirin làm bao tử khó chịu, thuốc cao máu làm táo bón… Loại này thường xảy ra, không cần phải ngưng thuốc.

b-      Drug interference (tạm dịch là thuốc đối tác với nhau): có nhiều loại thuốc uống chung với nhau sẽ làm tăng hoặc giảm sức tác dụng. Thí dụ thuốc loãng máu coumadin mà uống chung với thuốc tim như amiodarone sẽ làm dễ chảy máu. Có những thức ăn hay nước uống dùng chung với thuốc cũng ảnh hưởng đến thuốc. Thí dụ uống nước bưởi hay nho với một vài loại thuốc cũng sẽ tăng sức tác dụng của thuốc, dễ gây ngộ độc.

c-      Dị ứng với thuốc (allergic reaction):Loại này nguy hiểm hơn, thường làm da nổi mề đay, đỏ, ngứa. Nếu nặng thì có thể chết được như phản ứng với penicillin chẳng hạn. Nếu bị dị ứng thì phải ngưng thuốc ngay.

3- Ngã té (fall): Người già rất dễ bị té ngã gây nên nhiều biến chứng quan trọng như chảy máu trong đầu (intracranial bleeding), gãy xương (như gãy cổ xương đùi, tay…). Khi già quá hoặc có những bệnh ảnh hưởng đến sự di chuyển, không còn đi lại vững vàng, nhanh nhẹn như lúc trẻ nên dễ vấp, té ngã.

4- Da bị lở loét (decubitus ulcers): Những người bị liệt giường, không đủ sức để tự mình xoay trở trên giường, rất dễ bị lở loét da gây nên nhiều biến chứng tai hại.

5- Nhiễm trùng (infection): như sưng phổi, nhiễm trùng đường tiểu…nhất là những người cần phải dùng máy móc như máy thở (respirator), ống thông tiểu (Folley catheter)…

6- Thiếu dinh dưỡng, thiếu nước (malnutrition, dehydration): Ở các cụ già thì trung tâm khát (thirst center) trong não không còn nhạy cảm nữa, nên nhiều khi cơ thể cần nước mà không thấy khát không uống nên bị thiếu nước. Cái cảm giác “ngon miệng” (appetite) cũng giảm đi nên không muốn ăn nhiều gây nên tình trạng thiếu dinh dưỡng.

 VẬY CÓ NÊN VÀO VDL KHÔNG? 

Việc này thì tùy trường hợp. Theo tôi:

1– Nếu còn có thể ở nhà được mà vẫn an toàn thì ở nhà tốt hơn. Nếu tài chánh cho phép, thì dù mình không đủ khả năng lo cho mình, mình vẫn có thể mướn người “bán thời gian” (part time) đến lo cho mình vài giờ mỗi ngày, giúp ăn uống, tắm rửa, dọn dẹp trong nhà, thuốc men, chở đi bác sĩ…

2- Nếu không thể ở nhà được, mà tài chánh cho phép thì có thể ở những assisted living facilities. Ở đây thường họ chỉ nhận tiền (personal funds) chứ không nhận medicare & medicaid. Tại đây thì sự săn sóc sẽ tốt hơn.

3- Group homes (nhà tư): Có những người nhận săn sóc cho chừng 4-6 người mỗi nhà. Họ cũng lo việc ăn uống, chỗ ở, thuốc men, chở đi bác sĩ…Thường thì rẻ hơn tùy từng group.

4- Nếu “chẳng đặng đừng” phải vào VDL thì phải làm sao để có được sự săn sóc “tốt nhất”?

a-      Làm sao để lựa chọn VDL:

–  Vào internet để xem ranking của VDL (tương tự như các tiệm ăn có xếp loại A, B, C…)

  Mỗi VDL đều phải có cuốn sổ phúc trình về các cuộc kiểm tra (survey) do bộ y tế làm hàng năm. Trong đó bộ y tế sẽ nêu lên những khuyết điểm mà họ đã tìm thấy. Cuốn sổ này được để ở khu công cộng (public area) trong khuôn viên của VDL. Hỏi receptionist thì họ sẽ chỉ cho.

  Hỏi ý kiến thân nhân những người có thân nhân đang nằm tại đó.

  Quan sát bên trong và ngoài của VDL: xem có sạch sẽ, không mùi hôi, nước tiểu. Theo dõi cách đối xử, săn sóc của nhân viên với bệnh nhân.

  Nếu có thể thì tìm một VDL có nhiều người Việt đang ở để có nhân viên nói tiếng Việt, có thức ăn Việt, có chương trình giải trí theo kiểu Việt.

b-      Nếu đã quyết định chọn VDL cho người thân rồi thì phải làm gì sau đó?

–          Chuẩn bị tư tưởng không những cho bệnh nhân mà còn cho cả chính mình và mọi người trong gia đình để có được sự chấp nhận (acceptance) càng nhiều càng tốt.

–          Thăm viếng thường xuyên: Nếu nhà đông con cháu thì không nên đến thật đông một lần rồi sau đó nhiều ngày không có ai đến. Nếu được, nhất là trong vài tháng đầu, luân phiên nhau tới, mỗi ngày một lần một vài người. Làm lịch trình ai đi thăm ngày nào, giờ nào…

–          Nên làm một cuốn sổ “thông tin” (communication book) để cạnh giường. Trong cuốn sổ này mỗi khi ai đến thăm thì viết ngày giờ, tên người đến thăm, và nhận xét xem bệnh nhân có vấn đề gì cần lưu ý, giải quyết. Nếu không có vấn đề gì thì cũng nên viết vào là không có hoặc cho nhận xét về vui, buồn, than thở của bệnh nhân…

–          Cuối tuần hay ngày lễ: nên có người vào hoặc mang bệnh nhân về nhà nửa buổi để được sống với không khí gia đình dù ngắn ngủi, hay đưa ra khỏi VDL để làm đầu, tóc hoặc tới tiệm ăn cho khuây khỏa…

–          Nên sắp xếp để bệnh nhân có sách báo, băng nhạc bằng tiếng Việt cho bệnh nhân giải trí.

–          Cho dù có những bệnh nhân bị hôn mê bất tỉnh lâu dài, nhưng khi đến thăm hãy cứ thì thầm bên tai họ những lời yêu thương, những kỷ niệm cũ. Nắm tay, xoa dầu để tỏ tình thương yêu. Tuy họ không có thể cảm thấy được 100% nhưng chắc chắn họ vẫn còn một chút nhận thức, làm họ hạnh phúc hơn, mặc dù mình không nhận thấy. Để bên đầu giường những băng nhạc, câu kinh mà khi còn khỏe họ đã thích nghe.

–          Một điều chót mà theo kinh nghiệm của tôi, rất có hiệu qủa: đối xử tốt nhưng nghiêm túc với nhân viên của VDL:

  • Đối xử tốt: lịch sự, nhẹ nhàng, không thiếu những lời cám ơn cho những nhân viên phục vụ tốt.Thỉnh thoảng mua một vài món quà nhỏ cho họ (tôi xin nhấn mạnh “nhỏ thôi”– đừng nên coi đây là hối lộ) như đồ ăn, thức uống … để bày tỏ lòng biết ơn của mình. Mình tốt với họ thì họ sẽ quan tâm đến mình nhiều hơn. Người mình vẫn nói: “Có qua có lại mới toại lòng nhau”).
  • Tuy nhiên đối xử tốt không có nghĩa là mình chấp nhận những sai trái của họ. Thí dụ mình đã báo cáo những thay đổi về sức khỏe của bệnh nhân cho họ mà không ai quan tâm giải quyết thì mình phải lịch sự nêu ra liền. Nếu cần thì gặp ngay những người có trách nhiệm như charge nurse, nursing director và ngay cả giám đốc của VDL để được giải quyết. Nên nhớ là phải lịch sự, nhã nhặn nhưng cương quyết thì họ sẽ nể phục mình. Tôi đã thấy nhiều trường hợp đạt yêu cầu một cách rất khả quan.

Trên đây là những kinh nghiệm của tôi xin chia sẻ với quý bạn. Dĩ nhiên là không hoàn toàn đầy đủ tất cả những gì quý bạn mong muốn, nhưng hy vọng cũng đáp ứng được phần nào những ưu tư, lo lắng cho người thân của quý bạn.

Bs. Trần Công Bảo
nguon: http://vietlifes tyles.com/vien -duong-lao/

Vụ Trịnh Xuân Thanh: Nghĩ về dân trí và nhận thức luật pháp

J.B Nguyễn Hữu Vinh
 

Hình chụp ông Trịnh Xuân Thanh, không rõ ngày tháng, tại một công viên ở Đức.

Hình chụp ông Trịnh Xuân Thanh, không rõ ngày tháng, tại một công viên ở Đức.

AFP photo
 
 
 

Vụ việc Trịnh Xuân Thanh (TXT) bị bắt cóc đưa về Việt Nam theo khẳng định cùng với sự giận dữ và những biện pháp ngoại giao nặng nề của Bộ ngoại giao CHLB Đức đã là một chủ đề nóng trên mạng Internet cũng như toàn xã hội Việt Nam trong và ngoài nước gần chục ngày qua.

Ngoài việc trục xuất trưởng đại diện tình báo Việt Nam trong vòng 48 tiếng, bản Tuyên bố của Bộ Ngoại giao CHLB Đức cũng ghi rõ: “Chúng tôi cũng bảo lưu quyền áp dụng thêm các biện pháp khác trên bình diện chính trị, kinh tế và chính sách hợp tác phát triển.” Còn Ngoại trưởng Đức, ông Sigmar Gabriel: “Chúng ta không thể trở lại tình trạng bình thường, làm như là không có chuyện gì xảy ra”.

Quan sát sự việc dưới góc độ xã hội và luật pháp qua bản chất sự việc, người ta mới nhận ra nhiều điều qua sự việc này về mánh lới tuyên truyền bịp bợm, về nhận thức của người dân…

Thậm chí không chỉ là những người mà nhà nước thường gọi là “dân trí thấp”.

Tự thú hay bắt cóc?

Trước hết, điều người ta thắc mắc đầu tiên về vụ việc này là có thật TXT đã bị bắt cóc như tuyên bố của Bộ Ngoại giao CHLB Đức? Hay TXT đã về nước đầu thú như những thông tin của nhà nước Việt Nam chính thức đưa tin?

Qua những gì được thể hiện, chỉ cần sự chững chạc trong giận dữ và hành xử của phía CHLB Đức, cũng như sự lấn bấn, lúng túng và thiếu minh bạch của nhà nước Việt Nam, người dân ít quan tâm nhất cũng tự đặt ra cho mình những câu hỏi để qua đó có thể tự trả lời mà rút cho mình đâu là sự thật:

– TXT bị Việt Nam tuyên bố truy nã quốc tế tại sao người ta tìm mãi trong danh sách Interpol có rất nhiều người Việt lại không có cái tên TXT?

– Trong lệnh truy nã của Việt Nam, tờ nào cũng có ghi: “Bất cứ ai cũng có quyền bắt TXT đến giao nộp cho cơ quan công an…” Trước đó, Việt Nam tuyên bố TXT đã đến một nước Châu  Âu. Vậy TXT từ châu Âu về đến Trực ban hình sự Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an bằng con đường nào để không bị bắt ngay tại biên giới, tại cửa khẩu khi nhập cảnh hoặc trên đường? Hay TXT có phép xuất quỷ nhập thần và đã thi thố cái tài đó trong trường hợp này?

– Tại sao, TXT bị truy nã khi ở nước ngoài đã gây sự chú ý của toàn xã hội, từ TBT Đảng cho đến bà đánh dậm dưới ao, thế mà ngang nhiên về nước rồi đến cơ quan Công an đầu thú mà Bộ trưởng Công an không hề hay biết?

– Vì sao chính phủ CHLB Đức giận dữ đến mức đó? Phải chăng là không có việc TXT bị bắt cóc trên đất Đức, chỉ vì CHLB Đức thích giận giữ và làm căng thẳng quan hệ hai nước mà thôi?

– Tại sao chính phủ CHLB Đức, một nhà nước dân chủ, pháp quyền lại bao che cho TXT là người bị Đảng CSVN kỷ luật và cáo buộc tham nhũng? Phải chăng, nhà nước này đang bao che cho tham nhũng và tội phạm?

– TXT có phải là tội phạm hay chưa? Tại sao TXT lại có thể xin tỵ nạn ở CHLB Đức?

– Tại sao TXT về VN đầu thú có đơn, đưa lên truyền hình rằng tôi tự thú… Vậy mà khi CHLB Đức tố cáo mạnh mẽ, đuổi đại diện cơ quan tình báo VN tại ĐSQVN tại Berlin về đồng thời mạnh mẽ cảnh báo nhiều hậu quả khác mà Việt Nam lại nhu nhược, hèn nhát đến mức chỉ cho người phát ngôn lên truyền hình nhỏ nhẹ “Tôi lấy làm tiếc… ” – nghĩa là cô gái này lấy làm tiếc còn VN thì chưa ý kiến gì?

Chỉ cần trả lời những câu hỏi trên, thiết nghĩ người dân thường cũng biết được sự thật có đúng như hệ thống tuyên truyền Việt Nam đã và đang tung hứng.

Dân trí và nhận thức luật pháp

Chúng tôi đã có bài viết: Qua vụ Trinh Xuân Thanh: Nghĩ về một thói quen hành xử, ở đó chúng tôi đã chỉ những hành động côn đồ xuất khẩu ra quốc tế này chỉ là bước tiếp theo của những hành động vốn đã thành thói quen hành xử trong nước xưa nay.

Ở đó chúng tôi cũng đã đặt vấn đề liệu TXT có phải là quan chức tham nhũng duy nhất ở Việt Nam và việc bắt cóc TXT có phải chỉ nhằm mục đích cho “cuộc chiến chống tham nhũng”?

Ngoài việc dùng truyền thông nhằm lấp liếm đi hành động của nhà cầm quyền tự ý bắt cóc người trên lãnh thổ của CHLB Đức làm người Đức giận dữ, thì đám báo chí và Dư luận viên (Một dạng an ninh và tay chân của công an) đã to mồm kêu gào: Nhà nước Đức thiếu thiện chí, bảo kê tham nhũng, rửa tiền… và dù bằng cách nào, thì miễn là bắt được TXT về chịu tội tham nhũng là được…

Thậm chí, cho đến khi những dòng chữ này viết ra, thì ở Việt Nam cũng như trên thế giới, chưa có một phiên tòa nào được mở để kết luận TXT là có tội, cho dù đó là một phiên tòa đểu kiểu như phiên tòa cách đây đúng 6 năm, ngày 2/8/2011 tại Hà Nội xử Cù Huy Hà Vũ đi nữa. Tại phiên tòa đó, người ta bất chấp sự thật, bất chấp lý lẽ, luật lệ để tuyên án Cù Huy Hà Vũ có tội và kết án 7 năm tù giam. Cũng tại phiên tòa đó, Ls Trần Đình Triển đã chứng kiến sự bất nhân và những trò đểu của hệ thống tòa án cộng sản.

Thế nhưng, ngay cả phiên tòa đểu như vậy, hiện vẫn chưa có để kết tội TXT, thì không rõ căn cứ vào đâu mà các Tiến sĩ luật, luật sư… cùng đồng lòng với đám Dư luận viên kết tội khơi khơi TXT là tội phạm, là rửa tiền, là cố ý làm trái… mà tất cả những điều đó, chỉ căn cứ vào lời của Đảng và báo chí nhà nước. Để rồi đi đến kết luận: “Tôi cho rằng đó là ý kiến thiếu thận trọng, vội vàng, chưa quán triệt nguyên tắc các Công ước quốc tế mà VN và CHLB Đức đã tham gia ký kết…”

Vậy phải chăng, ở đây, các ông Tiến sĩ và luật sư ở đây đồng ý rằng chỉ cần Đảng muốn và dùng báo chí của đảng thì đã đủ để thay Tòa án?

Thế là, lẽ ra đối tượng bị ném đá là TXT vì những “thành tích làm bay hơi hàng ngàn tỷ đồng của dân” thì lại diễn ra một quá trình tranh luận khác, đó là “ném đá” những người bảo vệ việc bắt cóc của một “Nhà nước pháp quyền XHCN trên đất nước khác”.

Mục đích biện minh cho phương tiện?

Xưa nay, trong chế độ Cộng sản việc đạt bằng được mục đích đặt ra là một điều luôn được ưu tiên, dù mục đích đó là gì và việc đạt mục đích đó bằng những biện pháp nào. Khi đạt được mục đích, thì mọi việc được coi là thắng lợi.

Chẳng hạn, để thực hiện lệnh từ quan thầy Quốc tế Cộng sản từ Nga, Tàu, những năm 50 của thế kỷ trước, nhằm triệt tiêu tầng lớp tinh hoa, giàu có của dân tộc để tiện lợi cho việc tiến hành cuộc Cách mạng vô sản, việc tập hợp quần chúng làm những cuộc lên đồng tập thể, cướp bóc có tổ chức trong toàn xã hội như những tập duyệt cho đám Công – Nông liên minh, Quốc tế Cộng sản đã đặt ra mục đích Cải Cách ruộng đất.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành cuộc Cải cách ruộng đất, gây nên một tội ác đẫm máu với dân tộc. Hồ Chí Minh đã từng phải có động tác “tự phê bình, lau nước mắt” trước hàng chục, hàng trăm ngàn người dân bị oan khuất và mất mạng vì cuộc CCRĐ này. Sau này để giảm bớt tội lỗi của mình với dân tộc chính những người CSVN đã tự biện minh rằng: Khi đó, đảng ta bị áp lực từ ĐCS Trung Quốc và Liên Xô trong Quốc tế cộng sản… Thế nhưng, chính những lời lẽ đó đã hạ bệ uy tín ĐCS, luôn luôn có những lời lẽ rêu rao rằng “Đảng ta đã luôn có đường lối độc lập, tự chủ và sáng tạo”…

Dàn Dư luận viên của đảng trước hết là chối bỏ việc TXT bị bắt cóc bằng những lập luận: Bằng chứng đâu, TXT về nước là tự nguyện, là do hối lỗi, là để hưởng lượng khoan hồng của đảng nhà nước… thôi thì đủ mọi lời lẽ biện minh.

Thế nhưng, khi cộng đồng quốc tế và mạng xã hội làm sáng tỏ vụ bắt cóc, thì dàn DLV giở bài cùn rằng: Miễn là bắt được TXT về trị tội, còn bắt cách nào thì… thoải mái.

Khi đạt được mục đích, thì mọi phương tiện, cách làm đều được nhà nước chấp nhận. Chính tư duy này đã và đang được bằng mọi cách áp đặt lên suy nghĩ của người Việt Nam trong xã hội ngày nay.

Các Luật sư, tiến sĩ… về luật, những người mà lẽ ra với sự hiểu biết của mình sẽ phân tích cho xã hội những vấn đề đen, trắng, đúng, sai trong từng vụ việc dưới khía cạnh luật pháp và hành xử thượng tôn luật pháp. Điều đó cũng chính là giúp cho đảng CS, cho nhà nước như họ muốn, để đảng, nhà nước biết mà sửa sai cái thói côn đồ để tự biến mình thành côn đồ quốc tế.

Thì qua vụ án này, ngược lại có những người trong số họ lại là những người hành xử với tư duy độc tài và phe nhóm, cũng chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của đám phe nhóm đang đánh nhau theo kiểu “lựa theo chiều gió” mà người ta chưa hiểu họ đang mong đợi điều gì? Phần còn lại, những Ls hiểu biết lại ngại va chạm, ngại ảnh hưởng đến mình, đồng nghiệp mình… mà im lặng?

Lẽ nào họ không biết phân tích luật pháp và nhìn nhận vấn đề trên cơ sở luật pháp rằng: Nhà nước Đức đã không phản đối vì việc VN bắt TXT ra tòa để luận tội. Nhưng nhà nước CHLB Đức đã không đồng ý và phản ứng dữ dội bởi chủ quyền của họ bị xâm phạm khi nhà nước VN tổ chức bắt cóc người trên đất nước họ mà không được sự đồng ý của họ, dù người đó là ai.

Phải chăng, việc nhà nước Đức phản ứng dữ dội vì chủ quyền bị xâm phạm lại đã trở thành chuyện lạ ở Việt Nam, khi mới mấy hôm thôi, nhà nước VN đã  lặng lẽ cất ván, rút dù buộc nhà thầu khoan thăm do dầu khí tại Bãi Tư Chính, trong thềm lục địa Việt Nam, chỉ vì anh bạn vàng của Đảng mới hắng giọng?

Và điều đáng buồn ở đây, là tư duy “Mục đích biện minh cho phương tiện” người Cộng sản đã thành công trong việc xây dựng một nền tư pháp độc tài không chỉ với đám dư luận viên hoặc những người dân dân trí thấp mà ngay trong cả những tầng lớp luật sư, trí thức được coi hoặc tự nhận là hiểu biết.

Với tư duy và nhận thức như vậy, thì một nhà nước pháp quyền còn là một mơ ước xa vời với Việt Nam.

Hà Nội, Ngày 10/8/2017

Nhiều người nghèo miền Tây bị lừa ‘đi Mỹ lao động’

Nhiều người nghèo miền Tây bị lừa ‘đi Mỹ lao động’

Các nạn nhân trình bày vụ việc. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)

SÓC TRĂNG, Việt Nam (NV) – Hàng chục người dân nghèo ở Sóc Trăng, Bạc Liêu đã gửi đơn cầu cứu đến chính quyền địa phương vì bị lừa chiếm đoạt tiền đi “xuất khẩu lao động ở Mỹ.”

Theo báo Thanh Niên, qua xác minh của Sở Lao Động-Thương Binh-Xã Hội tỉnh Sóc Trăng cho thấy, nhóm lừa đảo nhắm đến người nghèo Khmer, không hiểu rõ các quy định của nhà nước rồi vẽ ra viễn cảnh “đi lao động ở Mỹ có thu nhập cao, thủ tục nhanh chóng, đi lại dễ dàng.”

 

Nói với báo Thanh Niên, ông Sơn Sô Đa (39 tuổi) và vợ là bà Triệu Thị Thông (38 tuổi, xã Đại Ân 2, huyện Trần Đề) cho biết gia đình chỉ có một công đất ruộng, cuộc sống khó khăn, hai con đang ăn học nên mong muốn có việc làm ổn định để trang trải cuộc sống.

Cuối năm 2016, một người tên Lâm Lên (33 tuổi, ở cùng xã) tìm đến nhà ông Đa, nói có quen với một người đang làm việc tại Mỹ. Người này muốn giúp người dân địa phương tìm việc làm ở Mỹ với thu nhập khoảng $1,000/tháng, được chủ bao ăn ở.

Vợ chồng ông Sơn Sô Đa và bà Triệu Thị Thông. (Hình: Báo Thanh Niên)

Tin lời, vợ chồng ông Đa cầm cố đất ruộng được một lượng vàng và vay thêm ngân hàng 5 triệu đồng, rồi đem mua được $3,000 đưa hết cho ông Lên để “lo giấy tờ” đi lao động  kiếm tiền trả nợ, nuôi con. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền, ông Lên chiếm đoạt rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Lúc này, vợ chồng ông Đa mới biết mình bị lừa.

“Lúc đầu, Lên bảo vợ chồng tôi đưa $1,000 để lo thủ tục cho hai người, nửa tháng sau, Lên nói đưa thêm $2,000 để hoàn tất giấy tờ. Gia đình đi vay mượn tiền đưa cho Lên, nhưng đến khi hỏi thăm tình hình thì Lên đã trốn khỏi địa phương. Hiện gia đình phải ôm nợ ngân hàng, chỉ có một công đất đã đem cầm cố rồi, nay phải đi làm thuê kiếm sống qua ngày,” bà Thông nói.

Ông Thái Văn Bằng, trưởng công an xã Đại Ân 2, cho biết ngoài vợ chồng ông Đa, còn có 15  người khác ở địa phương đã gửi đơn đến công an xã tố cáo việc lừa đảo của ông Lên.

Ông Lên đã bỏ trốn khỏi địa phương. (Hình: Báo Thanh Niên)

Theo ông Bằng, qua xác minh cho thấy, cuối năm 2016, một số người gồm ông Sơn Minh Hòa, bà Trần Thị Ngọc, bà Triệu Vên (đều ở xã Đại Ân 2) hiện đang sống và làm việc ở Mỹ, đã vận động, lôi kéo người dân địa phương làm hồ sơ sang Mỹ lao động.

Nếu đồng ý xuất cảnh thì họ giới thiệu gặp ông Lên để người này hướng dẫn làm hồ sơ. Quá trình làm hồ sơ, ông Lên yêu cầu mỗi người phải nộp từ $1,500 đến $5,000 và hứa sẽ nhờ vợ chồng bà Trần Thị Ngọc bảo lãnh sang Mỹ lao động với mức lương cao.

Với thủ đoạn trên, từ Tháng Mười, 2016, đến nay, nhóm người trên “làm hồ sơ” cho 106 trường hợp ở các huyện Mỹ Tú, Long Phú, Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, và một số nơi ở tỉnh Bạc Liêu. Trong đó, có 30 trường hợp đã đưa tiền cho Lên tổng cộng $57,000. Tuy nhiên, đến nay không có người nào được xuất cảnh, còn ông Lên thì bỏ trốn biệt tăm.

Ngoài ra, qua xác minh ở một số địa phương ven biển của tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, tổng số người bị ông Lên lừa đảo lên đến hàng chục trường hợp.

Ngày 8 Tháng Tám, ông Nguyễn Minh Ngọc, phó giám đốc công an tỉnh Sóc Trăng, cho biết: “Qua xác minh ban đầu, công an xác định đối tượng chủ mưu, xúi giục, lừa đảo người dân đi lao động ở Mỹ hưởng lương cao là Trần Thị Ngọc, quê xã Đại Ân 2, huyện Trần Đề, hiện sống và làm việc tại Mỹ.” (Tr.N)