https://www.facebook.com/denmaxemtv/videos/1688521921209423/
Việt Nam mở trưng bày sử liệu về biến cố cuộc đời Tổng Thống Ngô Đình Diệm
Hà Ái Thy added 2 new videos.
☆Việt Nam mở trưng bày sử liệu về biến cố cuộc đời Tổng Thống Ngô Đình Diệm ☆
☆☆☆Saigon show uncovers century of conflict and political turmoil ☆☆☆
03/7/2018
Chính quyền Việt Nam lần đầu tiên mở trưng bày sử liệu về biến cố cuộc đời ông Ngô Đình Diệm, Tổng Thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa, tại khuôn viên dinh Thống Nhất vào ngày 9/3.
Dù cuộc triển lãm có nhan đề là “Từ dinh Norodom đến dinh Độc Lập 1868-1966,” ban tổ chức đã dành riêng một gian riêng ở tầng hai ở một tòa nhà trong khuôn viên dinh Thống Nhất, dùng để giới thiệu diễn biến của cuộc đời Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm, từ ngày ông làm quan nhà Nguyễn thời vua Bảo Đại rồi trở thành tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa.
Nhận định về sự kiện chưa từng xảy ra tại Việt Nam kể từ ngày chính quyền Việt Nam Cộng hòa bị sụp đổ vào năm 1975, tiến sĩ sử gia Nguyễn Nhã ở thành phố Hồ Chí Minh nói cuộc triển lãm này phản ánh một phần của lịch sử Việt Nam và có một ý nghĩa nhất định.
“Dinh Norodom dưới thời ông Ngô Đình Diệm được xây lại và đặt tên là Dinh Độc Lập, ngay từ khi ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền. Đó là một kiến trúc, nhưng cũng là một phần lịch sử của Việt Nam.”
Sau khi cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1955, ông Diệm được bầu làm tổng thống và ông đã đổi tên Dinh Norodom thành Dinh Độc Lập.
“Tôi là một trong những nhân chứng sống trong thời của ông Ngô Đình Diệm, tôi thấy ông đã đề cập đến vấn đề độc lập dân tộc. Ông luôn sử dụng quốc phục – áo dài – trong các buổi lễ. Tôi nghĩ ông là một trong những người đứng đầu của một chính phủ đã thể hiện tinh thần bản sắc Việt.” Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã
Tiến sĩ Nguyễn Nhã nói rằng “Độc lập” là điều mà cựu tổng thống họ Ngô đã đề cập ngay từ khi lên nắm quyền:
“Tôi là một trong những nhân chứng sống trong thời của ông Ngô Đình Diệm, tôi thấy ông đã đề cập đến vấn đề độc lập dân tộc. Ông luôn sử dụng quốc phục – áo dài – trong các buổi lễ. Tôi nghĩ ông là một trong những người đứng đầu của một chính phủ đã thể hiện tinh thần bản sắc Việt.”
Trong phòng trưng bày có bức ảnh gia đình ông Ngô Đình Diệm, kế bên là gia phả dòng họ Ngô Đình. Ngoài ra, còn có nhiều hình ảnh, tư liệu cuộc đời người thân của ông Ngô Đình Diệm như: Ngô Đình Khả, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, bà Trần Lệ Xuân… được sắp xếp theo diễn tiến lịch sử.
Báo Thanh Niên mô tả rằng phòng trưng bày có hình ảnh ông Ngô Đình Diệm cùng binh sĩ sau chiến thắng quân Bình Xuyên tháng 5/1955. Ngoài ra còn có bức ảnh hai tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Thành Phương và Trịnh Minh Thế đem quân về hợp tác và được ông Ngô Đình Diệm đón tiếp long trọng, trong khi tướng tư lệnh Lê Quang Vinh thì bị xét xử tại tòa án.
Báo VNexpress nói cuộc triển lãm là kết quả ba năm nghiên cứu và thực hiện do Hội trường Thống Nhất với sự cố vấn từ các chuyên gia sử học, bảo tàng như Tiến Sĩ Nguyễn Văn Huy, Tiến sĩ Lê Thị Minh Lý, và Giáo sử học người Mỹ Edward Miller.
Theo tờ báo này, giáo sư sử học Edward Miller – tác giả cuốn sách “Liên minh sai lầm, Mỹ, Ngô Đình Diệm và số phận Nam Việt Nam” – là người đóng góp nhiều hình ảnh và tư liệu quý cho trưng bày gia đình Ngô Đình Diệm. Nguồn sử liệu của ông được thu thập ở nhiều trung tâm lưu trữ tại Việt Nam, Mỹ và Pháp.
Giáo sư Miller nói: “Chúng tôi muốn mang đến sự diễn giải lịch sử cho người xem chứ không phải chỉ đơn thuần là tái hiện sự kiện. Bởi bạn phải hiểu lịch sử trong một bối cảnh cụ thể, không phải là những khoảng thời gian đơn lẻ.”
Sau khi cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1955, ông Diệm lên làm Tổng thống và đổi tên Dinh Norodom, được chính quyền Pháp xây vào năm 1868, thành Dinh Độc Lập. Sau biến cố năm 1975 khi chế độ Việt Nam Cộng hòa bị giải thể, Dinh Độc Lập có tên mới là Dinh Thống Nhất hay Hội trường Thống Nhất cho đến ngày nay.
Truyền thông Việt Nam trích lời bà Trần Thị Ngọc Diệp, Giám đốc Hội trường Thống Nhất nói: “Cuộc trưng bày lần này được tập hợp từ hàng trăm tài liệu, hình ảnh, được xem là quy mô nhất từ trước đến nay về lịch sử Dinh Độc Lập, đặc biệt trong giai đoạn 1868 đến 1966 vốn ít người biết đến.”
Trong thời gian làm chủ Dinh Độc lập, ông Ngô Đình Diệm và em trai Ngô Đình Nhu bị ám sát vào ngày 2/11/1963, sau một cuộc đảo chánh do các tướng lĩnh miền Nam Việt Nam thực hiện.
Một tài liệu giải mật của CIA vào tháng 10 năm ngoái cho biết cựu Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson tin rằng người tiền nhiệm John F. Kennedy đứng đằng sau vụ ám sát ông Ngô Đình Diệm vài tuần trước khi ông qua đời và cho rằng vụ ám sát ông Kennedy là một ‘quả báo.’
https://www.voatiengviet.com/a/vietnam-mo-trun…/4284274.html
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
Saigon show uncovers century of conflict and political turmoil
The Independence Palace has witnessed countless events unfold and shape the course of Vietnamese history.
Ho Chi Minh City will open an exhibition on Friday telling the story of its Independence Palace, one of the country’s most famous landmarks.
The “From Norodom Palace to Independence Palace 1868-1966” exhibition will feature a collection of over 500 documents, pictures and artifacts showcasing the history of the Independence Palace, especially from the lesser-known time period between 1868 and 1966, said Tran Thi Ngoc Diep, director of the Independence Palace.
This exhibition is the most comprehensive ever about the palace, said Diep.
The exhibition will display how the palace was constructed and how its left-wing was destroyed by bombs during the war, and depict the rise and fall of former President of the Republic of Vietnam Ngo Dinh Diem. It will also show the self-immolation of Buddhist monk Thich Quang Duc in protest of the persecutions of Buddhists under Diem’s regime.
A central part of the exhibition is its colossal reserve of valuable historical documents, collected by historians from around the world. Many of them came from archives centers in Vietnam, the United States and France.
“We want to provide viewers with an interpretation of history itself, not just its recreation,” said Edward Miller, a professor of history and author of the book “Misalliance: Ngo Dinh Diem, the United States, and the Fate of South Vietnam”, who is one of the organizers.
“You must understand history in its particular context, not in isolated, separate time periods,” he said.
The Independence Palace, formerly known as the Norodom Palace, was constructed in 1868 by the French government and served as its headquarters in the then Saigon between 1887 and 1945.
On March 9, 1945, Japan usurped France and conquered Indochina. The palace was held by the Japanese administration until September of the same year, when France returned to the south of Vietnam and took back control of the palace.
In 1954, the Geneve Accord prompted France to retreat from Vietnam. On October 26, 1955, Prime Minister Ngo Dinh Diem deposed the reigning King Bao Dai, formed the Republic of Vietnam and became president. Diem and his family became residents of the Palace until a coup and assassination took his life on November 2, 1963. The palace was later occupied by the second President of the Republic of Vietnam Nguyen Van Thieu, who lived there from 1967 to 1975.
On April 30, 1975, northern Vietnam stormed the palace, signaling the end of the Vietnam War and the start of national reunification.
The exhibition will be in place for three years at Nguyen Du Street, District 1, and will be open to the public for free during its first two weeks.
By Manh Tung
https://e.vnexpress.net/…/saigon-show-uncovers-century-of-c…
***Hà********
QUY LUẬT SỰ SỐNG
QUY LUẬT SỰ SỐNG
Cái chết của ông Y Rabin, Thủ Tướng Israel ngày 3/11/1995 đã làm cả thế giới chấn động. Những người Do Thái quá khích giết ông, vì họ không chấp nhận công trình hòa bình ông đang kiến tạo với Palestine và các nước vùng Trung Đông. Cái chết của ông Rabin làm cho thế giới nhớ lại cái chết của Mahatma Gandhi 50 năm trước đây: một người thanh niên Ấn Giáo quá khích đã sát hại vị Cha già của dân tộc Ấn, vì anh không thể chấp nhận việc ngài tha thứ và dạy tha thứ cho người Hồi Giáo. Người ta cũng không thể quên cái chết của Mục sư Martin Luther King năm 1968, vì đã tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen bằng phương pháp ôn hòa và bất bạo động. Lịch sử nhân loại đã được viết bằng máu của biết bao gương mặt kiến tạo hòa bình như thế. Liệu người ta có thể xếp cái chết của Chúa Giêsu vào hạng những cái chết vì hòa bình không? Đâu là lý do khiến Chúa Giêsu phải chết, một cái chết cũng mang tính cách mạng như chính cuộc sống và sự điệp của Ngài?
Chúa Giêsu đã chịu treo trên thập giá giữa hai tên trộm cướp. Thời Đế quốc Rôma cai trị Palestine có biết bao người đã chết như thế, nhưng cái chết của Chúa Giêsu có lý do sâu xa hơn bất cứ một cái chết nào. Chúa Giêsu đã có thể lẩn tránh được một cái chết như thế: Ngài đã làm cho kẻ chết sống lại được, thì việc thoát tay kẻ thù đối với Ngài không phải là chuyện khó. Ngài cũng có thể tránh được một cái chết như thế bằng cách thay đổi thái độ đối với những kẻ đang tìm cách hãm hại Ngài. Nhưng Chúa Giêsu đã không hành động như thế. Các sách Tin Mừng thuật lại rằng Ngài đã tự nộp mình cho kẻ thù. Ngài chết để giải phóng con người khỏi tội lỗi và sự chết. Một cuộc giải phóng vượt lên trên và bao trùm mọi thứ giải phóng khác. Từ nay, với cái chết của Chúa Giêsu, sự chết không còn là một thực tại đáng sợ nữa, nhưng nó là cửa ngõ dẫn vào cuộc sống vĩnh cửu.
Thánh Gioan hôm nay đã dùng hình ảnh quen thuộc để diễn tả ý nghĩa đích thực của cái chết của Chúa Giêsu: hình ảnh của một hạt giống bị mục thối đi trong lòng đất để dẫn đến một mùa gặt phong phú. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều bông hạt khác.” Cũng vậy, những đau thương Chúa Giêsu sắp trải qua sẽ không kết thúc ở một cái chết cằn cỗi mà sẽ dẫn đến sự phì nhiêu sung mãn của sự sống lại, một sự sống có khả năng tập họp mọi dân nước trong Nước Trời.
Tuy nhiên, là Thiên Chúa nhưng cũng là con người và như mọi con người, Chúa Giêsu cũng đã phải trải qua những giờ phút xao xuyến trong tâm hồn khi phải đương đầu với kẻ thù và cái chết nhơ nhuốc trên thập giá: “Bây giờ tâm hồn Con xao xuyến, Con biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này…” Chúa Giêsu đã từng bị cám dỗ xin Cha Ngài giải thoát Ngài khỏi “Giờ” đen tối hay khỏi “uống chén đắng” này. Trong bài đọc 2, chúng ta còn được Thánh Phaolô cho thấy tâm trạng của Chúa Giêsu khi đứng trước “Giờ” của thập giá: “Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khấn nguyện lên Đấng có thể cứu Ngài khỏi chết…” Cuối cùng, Chúa Giêsu đã không xin Cha cứu Ngài khỏi chết mà xin cho Danh của Cha được tôn vình. Điều này có nghĩa là Chúa Giêsu muốn cầu xin Thiên Chúa hãy tỏ ra Ngài là một người Cha, bằng cách hoàn tất công trình yêu thương của Ngài đối với con người, ngang qua cái chết và sống lại của Con của Ngài. Qua lời cầu xin này, Chúa Giêsu cho thấy Ngài đã gián tiếp đón nhận “Giờ” của sự phục vụ cho tới hơi thở cuối cùng trên thập giá, nhưng đồng thời cũng là “Giờ” Con Người bước vào vinh quang. Có điều “vinh quang” ở đây không theo ý nghĩa thường tình của chúng ta. Vinh quang ở đây đòi phải trải qua khổ nhục. Vinh quang của hạt lúa đã trổ bông, nặng trĩu và chín vàng, nhưng là sau khi bị chôn vùi dưới bùn rồi nứt nẻ, bứt phá khỏi hình thức hẹp hòi của vỏ trấu, để giờ này mới trở thành nguồn sống, và lại sẵn sàng nẩy mầm, phát triển, tăng gấp mãi.
Thánh Gioan đã diễn tả chân lý này như một quy luật tất yếu cho sự sống phát sinh và đạt tới ý nghĩa cuối cùng: Hạt lúa và bất cứ thứ hạt giống thực vật nào, đều mang ý nghĩa và sứ mạng truyền sinh, tăng trưởng gấp nhiều lần nguồn sống ẩn chứa trong bản thân. Thế nhưng, muốn thể hiện ý nghĩa và sứ mạng này, nó phải qua tiến trình biến dạng hoàn toàn, phải chết đi. Chúa Giêsu đã chấp nhận quy luật này, và vẫn đang “lôi kéo mọi người theo Ngài”.
Là quy luật, là chân lý Chúa Kitô mạc khải, làm sao con người chúng ta có thể tránh né? Mặc dầu biết rõ mình phải nứt nẻ, bứt phá, lột xác, phải chết đi, mới góp phần làm phát sinh sự sống. Thế nhưng chúng ta vẫn thường coi trọng và bảo vệ cái cũ, những gì là quen thuộc, dễ dãi, dễ chịu hơn là đổi mới. Sống giữa một xã hội đang chủ trương đổi mới, thế mà chỉ mới đặt lại vấn đề đổi mới một số tư tưởng, cách làm ăn, tổ chức đời sống xã hội… cũng đủ làm chúng ta e ngại, lo âu. Nói chi đến thay đổi cả nếp sống trước đây vẫn được tôn trọng. Định luật của sự sống là đổi mới. “Hat lúa phải mục nát đi trong lòng đất mới nảy sinh nhiều bông hạt.” Chúa Giêsu đã nói đến cái chết của Ngài như một điều kiện cần thiết để đem lại sự sống mới cho mọi người. Ngài phải chết đi để các Kitô hữu được sống, để muôn dân trở thành tín hữu và tất cả đều được cứu chuộc.
Còn chúng ta, được mời gọi theo Chúa Giêsu, chúng ta cũng đừng quên định luật căn bản của sự sống, đó là: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai bằng lòng mất sự sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống muôn đời” (Ga 12,25). Đi theo Chúa Giêsu đòi hỏi người môn đệ của Ngài phải chia sẻ cuộc sống và cả cái chết của Ngài. Bài học của thập giá đó là đã có những cái chết không uổng công mà trái lại còn nảy sinh nhiều hoa trái, đó là cái chết vì tình thương, vì hạnh phúc, vì sự cứu độ của kẻ khác, vì sự giải phóng con người đồng loại, vì những cái gì còn đáng quý hơn cả chính mạng sống của mình, vì chính nghĩa, vì công lý, vì hòa bình, vì đức tin…
Ở đây, Chúa Giêsu đặt chúng ta trước một thang giá trị. Chính khi con người biết vượt ra khỏi cái vỏ ích kỷ để sống một cuộc sống quảng đại, vì người khác, dù có phải vì thế mà hy sinh cả mạng sống của mình, con người đã thực sự bước vào cuộc sống mới. Điều Chúa đòi hỏi nơi những kẻ muốn đi theo Ngài thì Ngài thực hiện nơi chính bản thân Ngài.
Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy rõ ý nghĩa cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Ngài chết là để đi vào vinh quang của Chúa Cha và trở thành Đấng ban sự sống cho chúng ta. “Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài. Nếu ta cùng đau khổ với Ngài, ta sẽ thống trị với Ngài” (x. Tin Mừng 2,8-12). Ai ham sống, sợ chết, sẽ đánh mất tất cả. Người dám theo Chúa Giêsu mà đánh đổi cuộc sống hiện tại, sẽ được cuộc sống muôn đời.
Trích trong “Niềm Vui Chia Sẻ”
Langthangchieutim gởi
Chỉ có ở Việt Nam: Con cá 5 kg, lấy 1kg ‘làm mẫu’ để kiểm dịch
Thiên đường XHCN đỉnh cao là đây… Đúng là : “đất nước chưa có bao giờ được như hôm nay” lời bác Tổng Lú….Hở ra là trấn lột, cướp!!!
*****************
Chỉ có ở Việt Nam: Con cá 5 kg, lấy 1kg ‘làm mẫu’ để kiểm dịch
March 14, 2018
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – “Một con cá đúng chuẩn nhà hàng phải 5 kg, cơ quan kiểm dịch lấy mẫu hết 1 kg, xem như con cá đó không sử dụng được nữa,” một doanh nghiệp phản ánh thủ tục rườm rà của kiểm dịch tại Việt Nam.
Báo Tuổi Trẻ dẫn lời người đại diện Lotus Group, chuyên về xuất nhập cảng thực phẩm, tại buổi trao đổi ý kiến công tư giữa doanh nghiệp Nhật Bản và các bộ ngành về thực phẩm của Tổ Chức Xúc Tiến Thương Mại Nhật Bản (Japan External Trade Organization – JETRO), ngày 14 Tháng Ba, tại Hà Nội.
Đại diện JETRO cho biết, trung bình cứ hai ngày doanh nghiệp nhập cảng một lô hàng 50kg các loại cá tươi sống từ Nhật Bản để phục vụ các nhà hàng, bảo đảm độ tươi ngon. Mặc dù lần kiểm tra nào cũng đạt chuẩn và được thông quan nhưng lô hàng nào cũng bị lấy mẫu để kiểm dịch.
Cũng theo vị này, trong khi xuất hàng sang Nhật, doanh nghiệp lại không bị làm khó nhiều như nhập hàng vào Việt Nam, chỉ bị kiểm tra đột xuất mỗi năm một lần nếu có lịch sử tuân thủ tốt.
Đại diện JETRO phản ánh thêm, có trường hợp doanh nghiệp Nhật Bản khi làm thủ tục kiểm dịch động thực vật cho hàng nhập cảng vào Việt Nam thì mất thời gian đến 7 ngày đối với mặt hàng thịt và mất 4 ngày cho mặt hàng rau, củ, quả.
“Điều đó đã làm ảnh hưởng đến độ tươi ngon của thực phẩm, chưa kể chi phí tiền điện để bảo quản hàng trong kho lạnh tại cảng cũng cao dẫn đến giá cuối cùng bị cộng lên nhiều. Không chỉ thời gian kiểm dịch lâu, việc lấy mẫu cũng như tần suất lấy mẫu nhiều cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp,” ông Takimoto Koji, Trưởng đại diện Jetro tại Sài Gòn bất bình nói.
Trong khi đó, ông Hoàng Trung, cục trưởng Cục Bảo Vệ Thực Vật cho biết “rất bất ngờ”với phản ánh thủ tục kiểm dịch, bởi các quy định về thời gian kiểm dịch, thủ tục nhập cảng với mặt hàng động, thực vật đã “đơn giản hơn trước đây rất nhiều.”
“Với mặt hàng rau củ quả, đặc thù là nhóm hàng tươi sống, chất lượng giá trị giảm theo thời gian nên cơ quan Việt Nam luôn xác định là mặt hàng ưu tiên. Theo đó, lô hàng rau củ quả nhập qua đường biên giới giải quyết trong vòng 4 giờ, qua đường cảng biển và phi trường là 10 giờ,” ông Trung khẳng định.

Cần phát động chiến dịch cứu nguy Đồng bằng sông Cửu Long.
Van Pham added 4 new photos.
HẬU QỦA NGUỒN NƯỚC CẠN KIỆT ĐÃ ĐƯỢC DỰ BÁO HƠN 20 NĂM VỀ TRƯỚC – KHI TÀU CỘNG XÂY ĐẬP KHỔNG LỒ ĐẦU TIÊN Ở THƯỢNG NGUỒN…
Một chính quyền thật sự quan tâm đến lợi ích của quốc gia và đời sống của nhân dân thì không thể chỉ gửi thư đến các nước thượng nguồn “để chia sẻ thông tin về nguồn nước, điều tiết các hồ chứa thủy điện để bổ sung nước cho hạ lưu, cụ thể là đồng bằng sông Cửu Long”.
*********************
Cần phát động chiến dịch cứu nguy Đồng bằng sông Cửu Long.
GS. Lê Xuân Khoa.
Nhân đọc bài Báo cáo tác động của thủy điện trên sông Mekong với Lời mở ấn tượng của BVN (xem ở đây), tôi xin chia sẻ thêm với độc giả vài điều về vấn đề này.
Gần đây, báo chí trong nước loan tin Thủ tướng yêu cầu mấy cơ quan gửi công hàm khẩn cho các nước thượng nguồn sông Mê Kông và ca ngợi chỉ đạo này của Thủ tướng là “kịp thời, thể hiện được sự quan tâm của nhà nước đến đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)”. Thật ra, đây chỉ là một việc làm tắc trách, rất bureaucratic, của chính quyền, chỉ cốt gây cho người dân một hi vọng hão huyền. Trước thảm họa đang đe dọa hủy diệt nguồn sống của hai chục triệu dân ĐBSCL do chính sách hiểm độc của Trung Quốc và đầu óc hám lợi thiển cận của mấy nước láng giềng, chính quyền Việt Nam bất tài và tham nhũng đã không quan tâm đến trách nhiệm bảo vệ đời sống của nhân dân và lợi ích của đất nước. Thực tế đã chứng tỏ từ mấy chục năm qua chính quyền cộng sản Việt Nam đã bỏ mặc mọi lời cảnh báo và đề nghị cần thiết của các chuyên gia Việt Nam và quốc tế, trong đó nhóm Viet Ecology Foundation (VEF) ở Mỹ có phần đóng góp quan trọng. Thực tế cũng đã cho thấy là Ủy ban Sông Mekong của Việt Nam chỉ là một cơ quan vô dụng, thậm chí một chuyên gia hiền lành như anh Võ Tòng Xuân cũng đã không ngần ngại phê phán “Đáng lẽ Ủy ban Sông Mekong Việt Nam phải đấu tranh cho quyền lợi của nước mình, nhưng hiện nay công tác này rất chậm, thậm chí không có gì”.
Một chính quyền thật sự quan tâm đến lợi ích của quốc gia và đời sống của nhân dân thì không thể chỉ gửi thư đến các nước thượng nguồn “để chia sẻ thông tin về nguồn nước, điều tiết các hồ chứa thủy điện để bổ sung nước cho hạ lưu, cụ thể là ĐBSCL”. Phải khẩn cấp báo nguy với quốc tế về nạn hạn hán và các hậu quả trầm trọng khác về kinh tế và môi sinh đang xảy đến không chỉ cho 20 triệu dân ở ĐBSCL mà cho toàn thể đất nước Việt Nam. Phải vạch trần kế hoạch độc ác của lãnh đạo Bắc Kinh nhằm tiêu diệt khả năng sinh tồn của dân tộc Việt và chiếm đoạt quốc gia Việt Nam làm căn cứ chiến lược để kiểm soát toàn vùng Đông Nam Á.
Chính quyền dốt nát, độc tài và tham nhũng đã không muốn và không thể thi hành trách nhiệm lịch sử đó. Họ sẽ tiếp tục ru ngủ nhân dân bằng tuyên truyền lừa dối. Trước nạn hạn hán và nước mặn đã xâm nhập một số tỉnh miền Nam, báo chí nhà nước chỉ đổ tội cho “thiên tai” (xem link) thay vì tố cáo đích danh thủ phạm là lãnh đạo Trung Quốc đã ngăn chặn nước từ hàng chục con đập thủy điện mà chúng đã xây cất ở thượng nguồn (chưa kể mấy nước hạ lưu như Thái, Lào khơi ngang dòng chảy của Mekong vào các sông, hồ dự trữ của họ). Vì không thể trông cậy vào chính quyền quá lệ thuộc vào Trung Quốc, trí thức và các tổ chức xã hội dân sự không thể để cho nhân dân ngồi chờ chết mà phải cấp bách mở chiến dịch “Cứu nguy Đồng bằng sông Cửu Long” với sự tham gia đông đảo của mọi giới nhân dân. Có mấy việc cần thực hiện đồng thời:
1. Khẩn cấp báo động cho nhân dân về các tai họa đang và sắp xảy đến cho toàn thể ĐBSCL do thiếu nước, thiếu cá, thiếu phù sa và nhiễm độc môi sinh. Cần cung cấp thông tin và giải thích cụ thể về kế hoạch ác độc của lãnh đạo Trung Quốc cùng với thái độ hèn nhát và tham nhũng của chính quyền Việt Nam. Chỉ khi người dân được biết đến những thông tin xác thực bị che giấu và nhận thấy đời sống thực tế của gia đình họ bị đe dọa, họ mới bừng tỉnh và hậu thuẫn mạnh mẽ cho những cuộc tranh đấu chống Trung Quốc và đòi hỏi nhân quyền, dân chủ. Chiến dịch này cần được phát động toàn diện và thực thi đồng bộ bởi các thành phần yêu nước và các tổ chức xã hội dân sự tự phát.
2. Tổng vận động các chính phủ có lợi ích trong khu vực và các tổ chức quốc tế hợp lực ngăn chặn Trung Quốc sử dụng các con đập ở thượng nguồn sông Mekong đề chi phối đời sống kinh tế của các nước hạ nguồn và đặc biệt hãm hại dân tộc Việt Nam ở cuối nguồn. Hoa Kỳ và các nước quan tâm đến Viêt Nam cũng cần được vận động mạnh mẽ để áp lực Chính phủ Việt Nam phải thật sự cải thiện tình trạng nhân quyền và thực hiện tiến trình dân chủ hóa. Tuy nhiên Hoa Kỳ và quốc tế chỉ làm được việc này một cách có hiệu quả khi thấy chinh nhân dân Việt Nam chủ động tranh đấu cho những quyền lợi chính đáng của mình.
3. Trong khi báo động thức tỉnh nhân dân và vận động quốc tế, các chuyên gia về đập thủy điện và hệ sinh thái trong và ngoài nước cần thảo luận với các chuyên gia quốc tế để tìm ra cách giải quyết cấp thời những tai họa đang ập xuống các tỉnh ở ĐBSCL, như nạn hạn hán, nước nhiễm mặn, v.v. Đã có một số chuyên gia đưa ra những sáng kiến cần xem xét nghiêm túc và thực hiện. Cũng cần kích hoạt và cập nhật dự án phát triển bền vững ĐBSCL của nhóm chuyên gia Hòa Lan đưa ra từ năm 2012.
Đã đến lúc các chuyên gia, khoa học gia trong và ngoài nước phối trí hợp tác để tìm các giải pháp khả thi và vận động/đòi hỏi thực hiện.
Trở lại chiến dịch cung cấp thông tin trong chiến dịch thức tỉnh nhân dân (điểm 1), cần phải thiết lập một hồ sơ đầy đủ về kế hoạch thôn tính đất nước và hãm hại dân tộc Viêt Nam về mọi phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục xã hội, môi sinh, v.v. Cần liệt kê những tội ác kinh khủng của lãnh đạo Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam: thực phẩm độc hại, sát hại ngư dân, bóc lột lao động, buôn bán phụ nữ và trẻ em, v.v. Thu thập tài liệu tới đâu, phổ biến thông tin tới đó, cập nhật thường xuyên không cần chờ đến khi hoàn tất đầy đủ hồ sơ.
THOÁT TRUNG phải là ưu tiên số 1 của chiến dịch cứu nguy Tổ quốc và dân tộc. Phải làm thật to chuyện và đồng bộ, không chỉ than phiền và chỉ trích lẻ tẻ, từng vụ việc.
Một số khoa học gia trong nước đã không còn chịu để cho nhả nước tiếp tục lèo lái thông tin, che mắt nhân dân, và cũng đang thức tỉnh lương tâm và trách nhiệm của giới trí thức, chuyên gia trước tình trạng sống còn của đất nước. Thêm một lý do cho chiến dịch “Cứu nguy ĐBSCL” cần được hoạch định và thực hiện đồng bộ cả trong lẫn ngoài nước.
Xin nhấn mạnh rằng khi nhân dân thấy rõ tội ác của thủ phạm và đồng lõa, họ sẽ thoát khỏi bệnh “vô cảm” và hậu thuẫn mạnh mẽ cho những đòi hỏi “thoát Trung” và chống độc tài, tham nhũng của nhân sĩ, trí thức yêu nước và các tổ chức xã hội dân sự. Chiến dịch “Cứu nguy ĐBSCL” sẽ đương nhiên dẫn đến cuộc đấu tranh chính trị của toàn dân, chuyển hóa chế độ từ độc tài sang dân chủ.
Đó là lý do tại sao ưu tiên số 1 hiện nay phải là chống hiểm họa Trung Quốc, bảo vệ độc lập và toàn vẹn chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam. Chiến dịch “Cứu nguy ĐBSCL”, với sự thức tỉnh và tham gia đồng bộ của toàn dân, sẽ đạt được cả hai mục tiêu thoát Trung và dân chủ hóa Việt Nam.
Tôi đang bị yếu và không có đủ thì giờ để viết một bài dài nhưng cũng cố vắt óc ra đôi chút ý kiến để chia sẻ với các anh và độc giả Bauxite Việt Nam (BVN).
L.X.K.
GIAO THÔNG NƯỚC MỸ
Hai Tran shared Thạch Thảo‘s post.

Thạch Thảo added a photo and a video.
GIAO THÔNG NƯỚC MỸ
Nếu được đến Hoa kỳ và nhiều nước Tây phương, bạn sẽ ngạc nhiên về hệ thống giao thông không như Việt nam.
Mỹ là một đơn cử. Trên mỗi con đường nhỏ, tuy chỉ hai hay ba làn mỗi bên nhưng người lái xe điều khiển xe chạy trật tự. Không chỉ có free way cao tốc mới xuất hiện hình ảnh thẳng tắp, mà nhiều con đường khác cũng nói lên sự văn minh và ý thức con người.
Bảng tín hiệu, đèn xanh đèn đỏ và tên đường luôn nằm trên cao, rõ ràng, tầm nhìn dễ nhận ra. Bảng báo tốc độ cho phép, khu vực trường học phải giảm thắng cũng dễ nhìn.
Khắp nơi không hề có các chốt hay cảnh sát viên canh giữ góc đường. Đường xá sạch đẹp, không rác. Đặc biệt ấn tượng hàng cây xanh tạo môi trường trong lành.
Nếu ai vi phạm giao thông, cảnh sát Mỹ sẽ quay đèn báo hiệu người lái dừng. Họ không bao giờ đứng trước đầu xe, hay lấy quyền chặn xe. Hành động ấy dễ gây tai nạn và không an toàn tính mạng cả hai phía .
Cảnh sát đi từ sau xe phạm luật. Người lái xe ngồi im, nếu mở cửa bước xuống xe sẽ bị cảnh sát rút súng lên đạn bắn cảnh cáo hoặc bắn thiệt.
Người thi hành công vụ chào hỏi, yêu cầu trình bằng lái, bảo hiểm..
Tiếp theo, cảnh sát quay lại xe mình, tiến hành tìm thông tin trên máy ghi hình và điện toán gài đặt. Người lái xe nhận được vé phạt vi phạm tội gì. Nếu bị oan, chủ phương tiện có quyền ra tòa kiện và phản bác. Thế thôi.
Tại Mỹ không cảnh năn nỉ cảnh sát, sai đúng có pháp luật xử lý công minh. Giải pháp gọn tiện cho hai bên, không căng thẳng làm khó nhau.
Là đất nước tự do nhưng không có nghĩa người lái xe tự do sai phạm giao thông; và cảnh sát được quyền tự do phạt.
S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Dư Âm Một Chuyến Ghé Chơi
S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Dư Âm Một Chuyến Ghé Chơi
tuongnangtien
Chỗ mạnh của Mỹ là vũ khí nguyên tử thì chúng không dùng được. Còn chỗ mạnh của ta là chiến tranh nhân dân thì Mỹ không có. Phát huy ưu thế này và những kinh nghiệm tích lũy được, chúng ta nhất định đánh thắng bất kỳ tên xâm lược nào, dù đó là đế quốc Mỹ
Sau khi di cư vào Nam, nhạc sĩ Thanh Bình đã viết “mấy hàng” gửi về quê cũ:
Từ miền xa, viết thư về thăm xóm làng
Sắt son gửi trong mấy hàng
Thăm bà con dãi dầu năm tháng
Từ Tiền giang thương qua đèo Cả thương sang
Đêm đêm nhìn vầng trăng sáng
Thương những già hôm sớm lang thang
Em thơ ơi có còn học hành sớm tối
Áo nâu tươi gái làng còn che môi cười
Và đàn bò còn nghe chim hót lưng đồi
Nhớ nhung rồi thương quá lắm bé thơ ơi…
Nhân vật đồng nghiệp và đồng thời với tác giả những lời ca thượng dẫn, nhạc sỹ Nguyễn Đình Toàn tâm sự:
“Nhớ lại những năm sau 54, ‘Lá Thư Về Làng’ của Thanh Bình đã gây xúc động trong lòng bao người vừa rời bỏ miền Bắc trong cuộc di cư vào Nam. Càng cảm nhận ra rằng mình được bao dung, yên ổn trong vùng đất mới, người ta càng xót xa thương nhớ về quê cũ.”
Thực ra thì cái “vùng đất mới” cũng không được “yên ổn” gì cho lắm. Miền Nam, vào thời điểm đó, chỉ có được sự “yên ổn” tạm thời thôi. Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã được khai sinh, từ bên kia vỹ tuyến, vào ngày ngày 20 tháng 12 năm 1960.
Cũng từ thời điểm này, Bí Thư Thứ Nhất Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam (ở Hà Nội) vẫn đều đặn gửi thư vào Nam. Khác với “Lá Thư Về Làng” chân tình và mộc mạc của Thanh Bình, Lê Duẩn chả hề gửi lời thăm hỏi đến bất cứ một cụ già hay bé thơ nào ráo.
Thư của ông đề ngày 7 tháng 2 năm 1961 (“Gửi Anh Mười Cúc và Các Đồng Các Đồng Chí Nam Bộ”) có những dòng sau:
Vừa qua, Bộ Chính trị đã đề ra phương hướng cho phong trào cách mạng miền Nam. Để có sự nhất trí hơn nữa trong nhận định, tôi trình bày thêm với các đồng chí một số ý kiến…
Một điều cần khẳng định là cách mạng miền Nam không chỉ đối phó với chính quyền và quân đội của Diệm mà phải đối phó với cả đế quốc Mỹ và tay sai của Mỹ ở Đông Nam Á…
Trong năm nay, Trung ương sẽ giúp xây dựng 12 tiểu đoàn cho cả Khu 5 và Nam Bộ. Các khung cán bộ sẽ do Trung ương đưa vào, còn chiến sĩ thì tuyển lựa tại chỗ. Riêng đối với Nam Bộ, ngoài này sẽ cung cấp đủ cán bộ cho 6 tiểu đoàn và 1 tiểu đoàn gồm cả cán bộ và chiến sĩ. Sắp tới, ta phải phát triển gấp đôi, tạo ra một bước chuyển đáng kể về lực lượng quân sự…
Tất cả những bức thư “chỉ đạo” của Lê Duẩn đã được nhiều nhà xuất bản sưu tập, và in thành sách: Thư Vào Nam. Ấn bản năm 2015, của Nhà Xuất Bản Tổng Hợp, có đôi dòng giới thiệu vô cùng trang trọng:
Cuốn sách tập hợp những bức thư và điện của đồng chí Lê Duẩn (Anh Ba) gửi vào miền Nam khói lửa trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Toàn bộ cuốn sách cho thấy đồng chí Lê Duẩn qua thực tiễn chỉ đạo các chiến trường, từ nhận định tình hình đến chủ trương, biện pháp đã phát triển hết sức phong phú cả hai mặt lý luận và thực tiễn, kết hợp nhuần nhuyễn đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.
“Thư vào Nam” là một cuốn sách quý, góp phần tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, là tư liệu lịch sử giá trị có thể áp dụng sáng tạo để giải quyết những vấn đề trong sự nghiệp cách mạng hiện nay.
Một trong “những vấn đề trong sự nghiệp cách mạng hiện nay” là sự có mặt của lực lượng hải quân Hoa Kỳ tại Đà Nẵng, và thái độ “háo hức đón chào hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson của người dân Việt.”
Về sự kiện này, trong mục điểm tin của trang Báo Tiếng Dân (đọc được vào hôm 5 tháng 3 năm 2018) có đôi đoạn như sau:
Mỹ đi rồi Mỹ lại về…
Hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đón người Mỹ vào Đà Nẵng, bây giờ đến lượt lãnh đạo CSVN sẵn sàng đón tàu sân bay Mỹ, theo báo Người Lao Động. Sở Ngoại vụ TP Đà Nẵng cho biết: Các cấp lãnh đạo đã lên kế hoạch chi tiết từ hơn nửa năm trước để đón tàu sân bay đầu tiên của người Mỹ cập cảng Việt Nam.
Báo Zing đưa tin: Đoàn công tác liên ngành Việt Nam thăm tàu sân bay Mỹ. Bộ Ngoại giao xác nhận: Đáp lại lời mời của Đại sứ quán Mỹ, đoàn cán bộ liên ngành của Việt Nam đã đến thăm tàu sân bay USS Carl Vinson trong ngày 3 và 4/3/2018, “khi tàu này đi qua vùng biển quốc tế gần Việt Nam”.
Báo Giáo Dục Việt Nam có bài tổng hợp: Cụm tàu sân bay Hoa Kỳ USS Carl Vinson thăm Việt Nam, phản ứng và bình luận. Theo cựu Đô đốc Hải quân Hoa Kỳ John Kirby, Việt Nam muốn củng cố mối quan hệ với Hoa Kỳ, trong tình hình Trung Quốc tiếp tục hiện thực hóa tham vọng bá quyền ở Biển Đông. Biên tập viên tạp chí The Diplomat, Prashanth Parameswaran cho rằng, chuyến thăm của tàu USS Carl Vinson còn có mục đích động viên các nước ASEAN rằng Washington sẽ không để Biển Đông rơi vào tay Bắc Kinh.
TS Đinh Hoàng Thắng nhận định: Nền Ngoại giao “cân bằng động” sẽ sang trang. Theo TS Thắng, tình thế của nước Việt Nam hiện tại đã buộc các lãnh đạo CSVN phải “gác lại quá khứ” với người Mỹ và theo đuổi lộ trình ngoại giao “cân bằng động”, nghĩa là cố gắng thoát khỏi ảnh hưởng của “bạn vàng” và củng cố quan hệ với Mỹ.
BBC đặt câu hỏi: Tại sao Việt Nam tiếp đón hàng không mẫu hạm Mỹ? Bài viết nêu quan điểm của nhà báo Bill Hayton về lộ trình ngoại giao “nước đôi” của quan chức CSVN: Họ tiếp đón tàu sân bay Mỹ để “đáp trả đối với các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông”, nhưng họ cũng không muốn làm mất lòng “bạn vàng” và vẫn sẽ không tham gia các liên minh quân sự của người Mỹ….
Ảnh: news.zing
Trong một cuộc họp báo vào chiều ngày 1 tháng 3 năm 2018, Phát Ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam, bà Lê Thị Thu Hằng, tuyên bố: “Tàu sân bay Mỹ đến thăm Việt Nam để góp phần duy trì hoà bình khu vực.”
Báo Tiền Phong cho biết thêm: “Đà Nẵng và 6 tháng chuẩn bị đón tàu sân bay cùng 6.000 thuỷ thủ Mỹ.” Thảo nào mà chuyến viếng thăm đã diễn tiến hết sức thuận lợi và vô cùng cảm động. Thiệt là công phu và qúi hoá hết biết luôn. Rồi ra, không chừng, thành phố Đà Nẵng còn (dám) cử đại diện ra tận Lăng Ba Đình để báo công dâng Bác nữa.
Tính từ bức thư vào Nam đầu tiên của Lê Duẩn, viết ngày 7 tháng 2 năm 1961 (để chỉ đạo cuộc chiến chống Mỹ cứu nước) cho đến khi hàng không mẫu hạm USS Carl Winson đến thả neo trong vịnh Đà Nẵng để “góp phần duy trì hoà bình khu vực” là đúng 67 năm ròng. Phải mất hơn 2/3 thế kỷ người cộng sản Việt Nam mới “ngộ” ra được ai là kẻ có “dã tâm xâm lược” và “gây ra chiến tranh trong khu vực!”
Sự chậm lụt (hay chậm hiểu) của họ đã làm hao tổn xương máu của hằng chục triệu lương dân, và dìm cả đất nước xuống hố sâu của sự khốn cùng như hiện cảnh. Tuy thế, vẫn chưa có giấu hiệu gì cho thấy là giới quan chức của Hà Nội đã thức tỉnh và sẽ thôi “khúm núm” trước mặt kẻ thù.
Đức điều tra tướng công an CSVN vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Hôm 14 Tháng Ba, tờ Süddeutsche Zeitung, một trong những tờ nhật báo lớn nhất của Đức, cho hay Trung Tướng Đường Minh Hưng, phó tổng cục trưởng Tổng Cục An Ninh, Bộ Công An CSVN, bị tổng công tố Liên Bang Đức ra quyết định điều tra.
Ông Hưng bị cáo buộc tham gia điều phối vụ bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh tại Berlin hồi Tháng Bảy năm 2017.
Đến nay, chính quyền, Bộ Ngoại Giao CSVN và các báo “lề phải” vẫn giữ lập luận ông Thanh “tự quay về nước đầu thú,” bác cáo buộc ông này bị an ninh Việt Nam “bắt cóc” đưa về nước.
Hồi tháng trước, ông Trịnh Xuân Thanh, cựu chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Tổng Công Ty Xây Lắp Dầu Khí (PVC) bị tuyên tù chung thân lần thứ hai trong một phiên tòa tại Hà Nội vì tội “Cố ý làm trái” và “Tham ô tài sản” xảy ra tại Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam (PVN) và PVC.
Trung Tướng Đường Minh Hưng được truyền thông Việt Nam mô tả là “sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở tỉnh Thanh Hóa,” có cha là Đường Minh Tỵ được truyền thông Việt Nam mô tả là “một thầy giáo nổi tiếng” và có người anh họ là Giáo Sư Đường Minh Giới trong ngành Công An.
Trước khi vươn tới vị trí như hiện tại, ông Hưng từng giữ chức vụ cục trưởng Cục Bảo Vệ Chính Trị 6 (Cục A67) hay còn gọi là Cục Phòng Chống Khủng Bố. Do vậy, dễ hiểu vì sao ông được phong tặng danh hiệu “Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân.” Hồi Tháng Mười Một năm 2017, ông Hưng được truyền thông tường thuật là người chủ trì phương án đảm bảo an ninh cho Hội Nghị Thượng Đỉnh APEC tại Đà Nẵng.
Việc phía Đức ra quyết định điều tra Trung Tướng Đường Minh Hưng được cho là phản ứng cứng rắn nhất của nước này trong vụ Trịnh Xuân Thanh vốn được xem là sự vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế và chủ quyền của Berlin.
Süddeutsche Zeitung viết: “Vào lúc trước 11 giờ sáng ngày 23 Tháng Bảy, năm 2017, doanh nhân Trịnh Xuân Thanh bị một đội đặc nhiệm của cơ quan mật vụ Việt Nam bắt cóc tại khu vực Hofjägerallee. Các vết máu trong chiếc xe gây án cho thấy ông Thanh đã chống cự quyết liệt nhưng vẫn bị đưa về sứ quán Việt Nam tại Berlin và chuyển về Việt Nam theo một cách nào đó.”
Tờ báo nhấn mạnh các nhà điều tra Đức giữ quan điểm ông Hưng là “nhân vật chủ chốt, chỉ đạo tại chỗ vụ bắt cóc.” Trong một tuần ở Berlin, ông Hưng được ghi nhận thực hiện “hơn một trăm cuộc gọi điện thoại và tin nhắn SMS với các nghi can trong vụ Trịnh Xuân Thanh.”
Nhằm tránh để lại dấu vết, hai ngày trước khi vụ bắt cóc ông Thanh diễn ra, ông Hưng đã thay chỗ ở từ khách sạn Berlin sang khách sạn Sylter Hof. Theo Süddeutsche Zeitung, “căn phòng của Trung Tướng Đường Minh Hưng giống như một trung tâm chỉ huy cho đến khi vụ bắt cóc kết thúc.”
Tổng công tố Liên Bang Đức tại Karlsruhe không bình luận về chi tiết này.
Sau khi vụ bắt cóc vỡ lở, Bộ Ngoại Giao Đức đã trục xuất hai nhà ngoại giao Việt Nam, trong đó có Đại Tá Tình Báo Nguyễn Đức Thoa.
Đến nay, chỉ có một người thuộc cấp trợ giúp an ninh CSVN trong vụ bắt cóc đang bị giam giữ trước khi xét xử, ông Nguyễn Hải Long, người tài xế trong vụ bắt cóc.
“Với việc điều tra nhắm vào Trung Tướng Công An CSVN Đường Minh Hưng, vụ việc đã được đẩy lên cấp độ chính trị cao hơn,” Süddeutsche Zeitung viết. (T.K.)
Lại nói về nỗi nhục của nhà giáo
Lại nói về nỗi nhục của nhà giáo
Võ Hòa Thuận, nguyên cán bộ tư pháp, thủ phạm hạ nhục cô giáo. Ảnh Google Image
Chu Mộng Long: Bài viết nhân vụ một cô giáo ở Long An bị hạ nhục.
Tôi từng nói, nghề giáo là nghề khốn nạn nhất trong những nghề khốn nạn. Phát ngôn này không dưới một lần trong các đợt rầm rộ kỷ niệm Ngày Hiến chương Nhà giáo.
Những người không biết nhục hay lấy nhục làm vinh tỏ ra bất bình, vì tại sao tôi là một nhà giáo mà không biết tự tôn cái nghề của mình.
Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi vẫn luôn yêu cái nghề tôi đã chọn. Nhưng tự tôn sao được khi hàng ngày chỉ cần động não một chút cũng đủ thấy loại khẩu hiệu “tôn sư trọng đạo” hay “nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý” chỉ là giả tạo, sáo rỗng. Đồng lương giáo viên so với mặt bằng thu nhập của cả xã hội nằm ở sát đáy, giáo viên phải tìm mọi cách xoay xở để sống. Mà ở cái nghề này xoay xở bằng cách nào khác, lương thiện thì công khai hoặc lén lút dạy thêm, bất lương thì kiếm chác, vòi vĩnh những chiếc phong bì từ phụ huynh, học sinh.
Thật xót xa cay đắng khi không ít giáo viên háo hức chờ đến ngày 20.11 có được chút quà và coi như đó là nguồn thu nhập tăng thêm. Không cần nói đến những doanh nghiệp thưởng nhân viên hàng trăm triệu đến gần bạc tỉ, đến như các chị lao công quét rác, ngày Tết còn được thưởng dăm mười triệu, trong khi giáo viên trường nào khá nhất thì cũng chỉ được ban ân cho một triệu. Thê thảm lắm!
Một cái ngành gồm những người sống ở mức cùng đinh, dẫn đến càng ngày càng không có trò giỏi dự tuyển đầu vào, đến mức thi tốt nghiệp mỗi môn 3 điểm cũng đỗ để thành thầy giáo thì tư cách nào dạy dỗ cho con cái người ta?
Thân phận như thế mà tự tôn cao quý hay đòi xã hội tôn trọng thì thật huyễn tưởng!
Hậu quả là ngành giáo dục, cái ngành nuôi nhân tài, nhân lực cho sự phát triển kinh tế của đất nước, lại trở thành cái ngành ăn mày xã hội. Đến mức gần như nhà trường nào cũng tạo ra cái Hội Phụ huynh học sinh để quyên góp cứu tế cho trường. Thân phận ăn mày không bị đối xử như ăn mày mới là chuyện lạ. Các phụ huynh ở Long An bắt cô giáo quỳ ngay giữa học đường chẳng qua chỉ vì họ xem giáo viên chỉ là kẻ ăn mày, đứa con ghẻ hư hỏng cần được chính các phụ huynh dạy bảo.
Khổ lắm, nhục lắm, nhưng thương lắm!
Nhưng cũng phải tỉnh táo mà nói rằng, cô giáo kia, và không chỉ một mình cô, cũng đáng giận lắm. Việc cô chấp nhận hình phạt quỳ 40 phút cho vừa lòng phụ huynh là một sự tự hủy hoại nhân cách, tự làm nhục cho mình và cho cả ngành mình.
Cô đã thay mặt nhà giáo để trả một cái giá quá đắt khi tự hạ mình từ người thầy thành thân phận ăn mày, con ghẻ của xã hội!
Tôi cũng không tin như nhiều người đã tin, rằng cô bắt học sinh quỳ chỉ vì cô muốn cho học sinh học tốt hơn. Tôi chỉ thấy ở đó hậu quả của căn bệnh thành tích hơn là cái ý muốn tốt đẹp kia. Đa số các giáo viên hiện nay trừng phạt học sinh không phải chỉ vì muốn các cháu học tốt hơn mà chỉ vì thành tích của các thầy cô, thành tích của nhà trường, thậm chí đó là biện pháp đe dọa các cháu đi học thêm. Bởi nếu muốn trẻ thực chất học tốt, chỉ cần nhắc nhở hay trừng phạt bằng con điểm và xếp loại kết quả học tập là đủ. Nhưng các thầy cô không dám trừng phạt bằng con điểm hay xếp loại kết quả học tập vì chỉ cần một điểm xấu, một kết quả kém là đã ảnh hưởng đến thi đua của thầy cô và nhà trường.
Tôi tin, nếu trừng phạt trẻ em, dù là hình phạt nặng nhất nhưng với cái tâm trong sáng, vô tư, khó có thể xảy ra chuyện thầy cô giáo bị phụ huynh học sinh trả đũa.
Tôi nhớ thời tôi đi học, dưới chính quyền Việt Nam Cộng hòa, sự trừng phạt của thầy đối với trò kinh khủng lắm chứ bắt quỳ giữa lớp học thì có đáng gì. Không thuộc bài bị thầy bắt quỳ gối trên xơ mít, thậm chí quỳ ở miệng hang kiến lửa và có đứa xoi miệng kiến cho kiến đốt. Ông thầy ngày ấy còn có cây thước gỗ trên tay để gõ đầu, nhiều khi học trò bị thầy gõ đến sưng đầu chảy máu. Dù hình phạt kinh khủng như thế nhưng chưa bao giờ có chuyện phụ huynh tấn công thầy để trả đũa. Hồi nhỏ tôi cũng đã từng bị phạt như vậy, nhưng hình phạt để nhớ đời chứ không mang trong mình một chút thù oán người thầy đã dạy mình.
Tôi không cổ vũ cho tàn dư của thứ giáo dục Nho giáo ấy. Tôn sư trọng đạo theo cách ấy chỉ tổ sinh ra các bạo chúa học đường. Nhưng ít ra, ở nền giáo dục ấy, người thầy được tôn trọng vì họ đáng được tôn trọng.
Cái gì để người thầy xưa được tôn trọng? Đơn giản là ở xã hội ấy, người ta trọng cái chữ. Cha mẹ cho cơm áo, thầy cô cho cái chữ. Ơn ấy cao hơn núi Thái Sơn. Cho nên, thầy cô được xếp một bậc trên cả cha mẹ. Còn bây giờ, khi xã hội không trọng hiền tài, nhan nhản chỗ nào cũng thấy đứa ngu lãnh đạo đứa khôn, dẫn đến người đi học không cần chữ mà chỉ cần bằng cấp và danh hiệu để thăng quan, thì người thầy tâm huyết càng muốn dạy nhiều chữ càng bị khinh ghét là chuyện hiển nhiên. Người ta không xếp vào lực lượng thù địch đòi đào tận gốc, trốc tận rễ lần nữa là còn may!
From: KimBằngNguyễn & Cam Tuyet
LUẬN VỀ NGUYỄN VĂN THIỆU, (1)
LUẬN VỀ NGUYỄN VĂN THIỆU, (1)
LỜI MỞ ĐẦU
Henry Kissinger viết trong hồi ký của ông :
“Cho đến hôm nay tôi kính trọng ông Thiệu như là một gương hào hùng của một kẻ dám chiến đấu cho nền tự do dân tộc của ông, một kẻ sau này đã chiến bại bởi những hoàn cảnh ngoài tầm tay cá nhân ông, đất nước ông và ngay cả ngoài vòng quyết định của chúng ta…” ( Henry Kissinger, Years of Upheaval, 1981, Bản dịch của Xuân Khuê )
Người kiên tâm chiến đấu trong nỗi cô đơn ghê gớm
Kissinger là người mà Nguyễn Văn Thiệu ghét cay ghét đắng cho tới khi xuống mồ. Trong khi ngược lại, Kissinger cũng làm ra vẻ ghét cay ghét đắng Nguyễn Văn Thiệu, kẻ mà báo chí và nhân dân Mỹ luôn luôn nguyền rủa là cản trở và phá hoại hòa bình.
Tuy nhiên cuối cùng, khi mà hòa bình đã đạt được bằng cái giá phản bội dân tộc Việt Nam, Kissinger mới bình tâm thú thực cảm nghĩ của ông ta về người anh hùng lãnh đạo đất nước Việt Nam trong thời gian gay cấn nhất của lịch sử. Kissinger nói :
“… Sau khi ngưng bắn, quân đội chúng ta sẽ rút về bên kia bán cầu, còn dân tộc của ông vẫn còn cảnh một đội quân tiếp tục hi sinh cho những hy vọng mong manh của nền độc lập tại Đông Dương. Chúng ta đã chắc rằng biện pháp của chúng ta sẽ kềm hãm tham vọng của Hà Nội. Nhưng mắt của ông Thiệu chỉ quan ngại vào những điều mong manh về sau này…” ( Bản dịch của Xuân Khuê ).
Kissinger cũng thú thực là vì không còn cách lựa chọn nào khác cho nên Mỹ đành phải hy sinh Nam Việt Nam, và cũng vì vậy mà Kissinger đành phải đóng vai làm kẻ thù của Nguyễn Văn Thiệu nhưng tự sâu xa trong đáy lòng, Kissinger khâm phục Thiệu :
“…Như là một phép lạ phát xuất từ lòng dũng cảm, ông Thiệu đã cố gắng lèo lái quốc gia trong giai đoạn cam go này, chiến đấu chống lại quân thù cố tâm xâm lấn và làm an tâm đồng minh nào chưa thông hiểu ông …
… Về riêng tư tuy tôi dành ít cảm tình về ông Thiệu nhưng tôi rất kính nể ông vì ông là một người kiên tâm chiến đấu trong nỗi cô đơn ghê gớm ( nguyên văn: terrible loneliness ) sau cuộc rút quân của Hoa kỳ. Ông chấp nhận những cảm tình và thông hiểu ít ỏi dành cho ông. Chuyện đó không làm phẩm chất của ông hao mòn đi…” ( Bản dịch của Xuân Khuê ).
Cuộc sống không có tự do còn tệ hơn sự chết
Ngày 22-10-1972 Tộng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nổi giận khi Kissinger ép buộc ông phải chấp nhận bản dự thảo Hiệp định đình chiến mà Kissinger đã cùng Lê Đức Thọ soạn thảo tại Paris. Ông khuyến cáo Kissinger :
“Tôi không đồng ý về việc một số nhân viên của quý vị đi nói khắp Sài Gòn là tôi đã ký. Tôi chưa ký kết gì cả. Tôi không phản đối hòa bình nhưng tôi chưa nhận được một trả lời thỏa đáng nào của quý vị cho nên tôi sẽ không ký”.
Kissinger mất bình tỉnh với tuyên bố của Tổng thống Thiệu, ông nói ông đã thành công ở Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và Paris mà bây giờ ông phải thất bại tại Sài Gòn : “Nếu ngài không ký, chúng tôi sẽ xúc tiến một mình”.
Tới phiên Thiệu nổi giận, ông buộc tội Kissinger là thông đồng với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa để bán đứng Miền Nam. Hồi ký của Kissinger ghi lại lời lẽ của Thiệu:
“Là một quân nhân thì lúc nào cũng phải chiến đấu, nếu tôi không phải là một quân nhân thì tôi đã từ chức khi HK yêu cầu tôi từ chức và còn mặc cả với tôi về ngày giờ từ chức… … Tôi chưa hề nói với ai là người Mỹ đã đòi tôi từ chức, vì như vậy là nhục; cho nên tôi đã làm như tự mình chọn lấy quyết định đó…” ( Kissinger, White House Years, trang 1385 )
Kissinger đáp lại : “Tôi cảm phục tính hy sinh và lòng can đảm của ngài qua lời phát biểu vừa rồi. Tuy nhiên, là một người Hoa Kỳ, tôi không khỏi phiền lòng khi ngài cho rằng chúng tôi thông đồng với Liên Xô và Trung Quốc.
Làm sao ngài có thể nghĩ như vậy được trong khi quyết định ngày 8-5 của Tổng thống Nixon ( Thả bom Hà Nội và phong tỏa các hải cảng Bắc Việt ) đã liều cả tương lai chính trị của mình để giúp quý ngài. Chúng tôi điều đình với Liên Xô và Trung Quốc là để làm áp lực, buộc họ phải làm áp lực với Hà Nội… Nếu như chúng tôi muốn bán đứng quý ngài thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó…”( Kissinger, White House Years, trang 1385, 1386 ).
Rồi tới phiên Đại sứ Bunker mất bình tỉnh : “Vậy thì thưa Tổng thống, lập trường chót của ngài là không ký, có phải không?”
Thiệu đáp : “Vâng, đó là lập trường cuối cùng của tôi. Tôi sẽ không ký và tôi xin ngài thông báo cho Tổng thống Nixon biết như thế. Xin quý vị trở lại Washington và nói với Tổng thống Nixon rằng tôi cần được trả lời”.
Tổng thống Thiệu chỉ tay vào bản đồ Việt Nam rồi nói : “Có gì quan trọng khi Hoa Kỳ để mất một quốc gia nhỏ bé như Nam Việt Nam? Chúng tôi không hơn gì một chấm nhỏ trên bản đồ của thế giới đối với các ông… … Nhưng đối với chúng tôi, đó là một sự chọn lựa giữa sự sống và sự chết.
Đối với chúng tôi, đặt bút ký vào một hiệp ước tương đương với sự đầu hàng là chấp nhận một bản án tử hình, vì cuộc sống không có tự do là sự chết. Không, nó còn tệ hơn là sự chết” ( Larry Berman; No Peace, No Honor; trích từ Văn khố Bộ ngoại giao HK, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 230 ).
Trang sử đã qua đi nhưng sự thật chưa trở lại
Sau 1975 thì người Mỹ muốn lái sự oán hận mất nước của nhân dân Miền Nam vào ông Nguyễn Văn Thiệu và quân đội VNCH để quên đi hành động “bán đứng đồng minh” của Mỹ *( Lời của ông Nguyễn Văn Thiệu nói thẳng vào mặt Kissinger năm 1972 ). Họ vận động các phương tiện truyền thông tiếng Việt tại hải ngoại kết án ông Thiệu làm cho mất nước. Họ kết án quân đội VNCH hèn nhát, tham nhũng v.v,… Họ dập tắt tiếng nói thanh minh của ông Thiệu và của những quân nhân VNCH. Họ thuê bọn vô lại biến phong trào chống Cọng sản tại hải ngoại thành những trò thối tha vô liêm sỉ….!
Hằng năm cứ vào mùa tháng Tư thì các phương tiện truyền thông tiếng Việt như RFA, BBC, …lại rộn lên những luận điệu kêu gọi hòa hợp hòa giải giữa chế độ CSVN và những người đã bị đuổi chạy ra nước ngoài. Họ coi những người rượt đuổi và những người bị đuổi đều tội lỗi như nhau.
Trong khi đó cuộc chiến Nam Bắc Hàn cũng giống hệt như cuộc chiến Việt Nam. Nhưng ngày nay RFA, BBC… nói cho con cháu Nam Hàn rằng năm 1950 quân Bắc Hàn tràn qua vĩ tuyến 38 đánh chiếm Nam Hàn.. Quân đội Mỹ đã giúp nhân dân Nam Hàn đẩy lui quân Bắc Hàn về Bắc. Tội lỗi đều là phía Bắc Hàn chứ phía Nam Hàn không có lỗi.
Nhưng đối với cuộc chiến Việt Nam thì quân Bắc Việt cũng tràn qua vĩ tuyến 17 đánh chiếm Miền Nam nhưng Mỹ lại nói : Phía CSVN và phía VNCH đều có lỗi cho nên Mỹ đứng giữa không biết giúp bên nào !! Cho tới nay cũng chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái.
Cũng vì chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái cho nên cho tới nay danh dự của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa được phục hồi. Người Mỹ vẫn muốn con cháu Việt Nam nhìn Nguyễn Văn Thiệu như là một kẻ luôn luôn cản trở và phá hoại hòa bình.
BÙI ANH TRINH
Lòng Nhớ Ơn Là Một Đức Quý
Lòng Nhớ Ơn Là Một Đức Quý
Trong thế chiến vừa rồi, bà mẹ của một người lính nhảy dù Mỹ nhận được một bức thư của con hay rằng trong lúc bị thương và đói khát, đã được một người đàn bà ở Avranches cứu giúp, giấu không cho tụi Đức bắt. Chẳng may ít tháng sau chính người lính đó tử trận trong khi tấn công Ardennes. Nhưng bà mẹ anh ta vẫn tiếp tục thực hiện một ước nguyện không thể nào quên được. Bà dành dụm tiền trong hai năm để vượt Đại Tây Dương, lại thành phố ghi trong bức thư của con trai. Phải dò hỏi lâu bà mới kiếm được người đàn bà đã cho con trai bà trú ngụ – vợ một tá điền nghèo – và rụt rè đưa biếu người đó một gói nhỏ. Trong gói có một chiếc đồng hồ vàng, mà con trai bà được thưởng khi đâu một bằng cấp tốt nghiệp; chàng chỉ có mỗi vật đó là đáng giá.
Cử chỉ biết ơn của người mẹ đó làm cho toàn dân miền Normandie rất đỗi cảm động. Ở Arvanches và khắp cả vùng chung quanh ai cũng nhắc tới, gần như một truyền kỳ.
1
Lòng biết ơn là nghệ thuật nhận ơn huệ một cách vui vẻ, nhã nhặn, tỏ rằng mình cảm động trước mọi dấu hiệu nhân từ của người khác, dù lớn dù nhỏ. Phần đông chúng ta đều biết tỏ nỗi vui mừng khi được ai vui vẻ tiếp đãi, hoặc tặng một món quà, cho hưởng một cái lợi rõ rệt nào đó.
Không gì làm phật ý người ta bằng lối cám ơn ngoài miệng. Ông bạn gì của tôi, James Barrie mà các vở hát và các tác phẩm tỏ rằng đã hiểu rõ tâm lý thanh niên, thường kể câu chuyện này:
– Một buổi chiều nọ, một ông bạn tôi gốc gác ở Ecosse và tôi đương bàn bạc về công việc làm ăn. Đứa con gái ông chín tuổi, bước vô để dâng ông những chiếc bánh kẹp em mới làm xong vì biết ông thích thứ bánh đó. Ông bực mình vì câu chuyện bị ngắt, làm bộ nhấm nháp một chút, vội vàng khen em một lời nho nhỏ nhưng vẻ mặt vẫn nhăn nhó, rồi tiếp tục ngay câu chuyện bỏ dở. Em đó lúng túng, rất rầu rĩ, lặng lẽ bước ra. Vài tuần lễ sau má em hỏi em tại sao không làm bánh nữa. Em òa lên khóc, la lờn: “Không khi nào con làm bánh kẹp nữa” Em tuyệt vọng.
Ông Barrie nói tiếp:
– Và từ đó, em tuyệt nhiên không làm bánh nữa.
2
Thật là một điều phấn khởi khi ta nghĩ rằng lòng biết ơn có khi không phải chỉ là một tình cảm thoảng qua đâu mà có thể như một nguồn nước suốt đời không cạn Một người chồng nhớ hoài một lần nào đó vợ đã tận tình hy sinh cho mình, một người vợ nhớ hoài một món quà chồng tặng mình, nhờ vậy sự hòa hợp trong gia đình sẽ tăng lên vô cùng. Nhà tự nhiên học W. Hudson kể câu chuyện dưới đây:- Một buổi tối nọ, tôi dắt một ông bạn thân về nhà, gặp bữa, mời ông ăn. Ăn xong ông ta bảo “Anh thật có phước, chị nhà yếu đuối, phải săn sóc các cháu mà còn nấu cho anh được những món ngon như vậy.” Lời khen đó đã mở mắt tôi ra: nhờ ông bạn đó mà tôi mới thấy sự can đảm hằng ngày của nhà tôi mà trước kia tôi cứ cho là tự nhiên, và từ đó tôi tỏ lòng mang ơn nhà tôi.
Thái độ nhã nhặn khi nhận ơn đó, phải được biểu lộ trong cả những tiểu tiết, những việc lặt vặt. Người đưa thư, người giao sữa, người hớt tóc, chị hầu bàn ở khách sạn, người khiển thang máy (1), đều là những người giúp việc cho ta quanh năm. Ta biết cảm ơn họ thì những giao tế đó không có tính cách máy móc nữa mà có đượm thêm cái tình người, nhờ đó mà những công việc đơn điệu hằng ngày đỡ buồn tẻ, hóa dễ chịu hơn. Mấy năm trước, có lần tới Cannes, tôi ở chung một khách sạn với huân tước Grey, một chính khách Anh. Tôi nhận thấy ông cảm ơn người giữ cửa mỗi khi người này mở cửa cho ông. Một hôm tôi đánh bạo hỏi ông tại sao ông lại mất công như vậy. Ông ngó thẳng vào mặt tôi đáp: Tại chú ấy đã mất công giúp tôi.
Một bệnh nhân của tôi, bán vé ô tô buýt ở Londres, một hôm tâm sự với tôi rằng:
– Có nhiều lúc tôi ngán công việc của tôi quá. Thiên hạ kêu nài, làm tôi chịu không nổi, họ không bao giờ đem theo tiền lẻ cả. Nhưng có một bà sáng nào chiều nào cũng nhã nhặn cảm ơn khi tôi phát vé cho bà. Tôi cứ tưởng tượng rằng bà thay mặt tất cả các hành khách mà cảm ơn tôi, có vậy tinh thần tôi mới phấn khởi lên được.
Có khi phải cho tiền thưởng ; những lúc đó chúng ta nên nhớ rằng một nụ cười, một lời không sáo còn quý hơn món tiền thưởng nữa.
3
Một ông bạn thân của thi hào Paul Valéry có thói quen ăn bữa trưa ở một quán nọ tai Paris ; ông ta làm thinh khi người hầu bàn dọn ăn cho. Không khen chê gì cả và lần nào cũng thưởng một số tiền hậu hĩ. Valéry một hôm lại cùng ăn với ông và khi đi, mỉm cười cảm ơn người hầu bàn, khen rằng nhờ cách tiếp đãi niềm nở, khéo léo mà bữa ăn ngon hơn nhiều. Người hầu bàn đó nhớ hoài Valéry và cứ thỉnh thoảng lại hỏi thăm ông.
Ông giám đốc một nhà xuất bản nọ thường khen tài năng của cô thư ký Một hôm, nhà văn Arnold Bennett lại thăm ông ta, nói với cô thư ký:
– Ông chủ của cô khen cô là một thư ký tuyệt luân.
Cô ta đáp:
– Đâu phải là bí quyết của tôi, chính là bí quyết của ông chủ tôi đấy chứ.
Mỗi lần cô làm xong một việc gì dù là nhỏ nhặt tới đâu đi nữa, ông giám đốc cũng không quên cảm ơn cô. Nhờ được khuyến khích như vậy, cô tận tụy làm cho đến nơi đến chốn.
Không có gì làm cho đời sống – của chúng ta và của người khác – vui tươi rực rỡ hơn là lòng biết ơn.
4
Tôi biết một y sĩ cho một số bệnh nhân thần kinh suy nhược cái toa nầy: “đa tạ”. Khi một bệnh nhân tới nhờ ông chẩn mạch, có vẻ thất vọng, chán đời, óc chỉ nghĩ tới những đau khổ của mình thôi, mà cơ thể không có triệu chứng gì đau nặng cả thì ông ta khuyên:
– Liên tiếp sáu tuần lễ, hễ có ai giúp ông một việc gì thì ông nói: “đa tạ”, và để tỏ rằng trong thâm tâm thực tình ông mang ơn người đó thì ông nên vừa nói vừa mỉm cười nhé.
Có vài bệnh nhân bảo:
– Nhưng thưa bác sĩ, có ai giúp tôi được việc nào bao giờ đâu.
Vị y sĩ già đó, nhắc lại câu này trong Thánh kinh:
– Cứ tìm đi thì sẽ thấy.
Sáu tuần lễ sau, đa số bệnh nhân đó trở lại, thay đổi hẳn, không oán trách người khác nữa, tin rằng thiên hạ sao mà tự nhiên hóa ra tốt hơn, nhân từ hơn.
Có vài người không tỏ lời cảm ơn vì ngại quấy rầy người ta. Một bệnh nhân của tôi hết bệnh, rời dưỡng đường rồi, vài tuần sau trở lại để cảm ơn nữ y tá đã săn sóc cho mình.
Ông ta bảo:
– Tôi không dám tới sớm vì tôi nghĩ rằng có nhiều người lại cảm ơn cô quá, làm rầy cô.
Nữ y tá đó đáp:
– Trái lại. Ông lại thăm tôi, tôi mừng lắm chứ. Rất ít người hiểu rằng chúng tôi cần được khuyến khích, và những lời bệnh nhân khuyến khích chúng tôi làm cho chúng tôi phấn khởi nhiều lắm.
5
Vậy chúng ta đừng bao giờ nên ngại tỏ lời mang ơn người khácVì chúng ta đừng quên rằng nụ cười, lời cảm ơn,những hành động biểu lộ lòng mang ơn của ta giúp cho người chung quanh ta có một thái độ lạc quan về đời sống.
A. J. Cronin
(Trong Ý CAO TÌNH ĐẸP do NGUYỄN HIẾN LÊ tuyển dịch)
______________
(1) Người phương Tây bữa trưa thường ăn ở tiệm, tối mới về nhà
Đảng Cộng sản Việt Nam không thuộc Kinh Thánh của mình
14- 3- 2018
Có hai điều xin thưa trước. Một là hai chữ cộng sản đã dịch sai cả trăm năm nay vẫn chưa đính chính. Đúng ra phải dịch là cộng đồng chủ nghĩa. Hai là tôi gọi Bản Tuyên ngôn Cộng sản (Cộng đồng) mà hai ông Mác và Ăng ghen đã công bố năm 1848 là Kinh Thánh của các đảng cộng sản (cộng đồng).
Nói không thuộc Kinh Thánh của mình, là bởi trong bản Tuyên ngôn ấy, mà tất tật các đảng “cộng sản” đều coi như bộ cương lĩnh gốc của mình, có những điều xem ra trái khoáy với hiện thực. Ví dụ trong bản tuyên ngôn ấy hai nhà sáng lập chủ nghĩa cộng đồng từng có dự báo và lên án cái gọi là chủ nghĩa “cộng sản” phong kiến. Thế mà những người “cộng sản” theo khuynh hướng đệ tam lại dựng lên cái mô hình Xô viết rất gần với chủ nghĩa phong kiến, dù đã đặt một cái tên khác, chủ nghĩa xã hội hiện thực.
Quan niệm đất đai chẳng khác gì quan niệm phong kiến: “Phổ thiên chi hạ mạc phi vương thổ”. Nghĩa là đất ở dưới gầm trời đâu cũng là đất của nhà vua! Hoặc như ban lãnh đạo trước sau đều thành vua tập thể. Hoặc như Chương IV của bản tuyên ngôn ấy có ghi rõ: “Thái độ của những người ‘cộng sản’ đối với các đảng đối lập”. Xem ra những người lãnh đạo Đảng “cộng sản” Việt Nam hoặc không thuộc Kinh Thánh của mình, hoặc là đã vất bỏ kinh thánh, coi Mác chỉ như cái bung xung danh nghĩa, chứ thật sự thì đã không còn giữ cái gốc gác của mình nữa rồi.
Lập trường chính thống của ban lãnh đao của dảng cộng sản Việt Nam trước sau vẫn coi ai nói đa đảng đều là phản động, suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, là chống đảng, chống nhà nước. Thế mà trong cái Tuyên ngôn ấy, chương IV, sau khi dẫn chứng về sự hợp tác giữa những người cộng sản với những đảng đối lập khác ở Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Ba Lan… đã có một kết luận:
“Sau hết, những người ‘cộng sản’ ở mọi nơi đều phấn đấu cho sự đoàn kết và liên hợp của các đảng dân chủ ở tất cả các nước”.
Như thế, Tuyên ngôn “cộng sản” đâu có bài xích đa nguyên, đa đảng! Trái lại nó còn nhấn mạnh đến thái độ phấn đấu cho sự đoàn kết và liên hợp giữa cộng sản và dân chủ. Chỉ từ khi phong trào cộng sản chuyển sang lập trường đệ tam thì các đảng dân tộc dân chủ mới bị coi là kẻ thù của cộng sản, thậm chí những khuynh hướng khác trong đảng cũng bị đàn áp.
Rõ ràng cương quyết giữ độc đảng, không đoàn kết, không liên hợp, thậm chí thủ tiêu những đảng đối lập đâu có phải là lập trường Mác- xít, nó chính là phản bội lại chủ nghĩa Mác. Trong khi lên giọng nào là chủ nghĩa Mác là kim chỉ nam, là chủ đạo… nhưng hành động trong hiện thực lại khác, làm sao giữ được tính chính danh, chính thống, mà không khiến cho xã hội nghi ngờ là mình đã đánh mất mình, lại đang đi theo tà thuyết?
Khi đứng lên làm cuộc Khởi nghĩa Tháng Tám, nhân dân Việt Nam đã chọn cho mình thể chế chính trị dân chủ cộng hòa, đa nguyên đa đảng.
Đừng để đánh mất chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Tháng Tám. Mà cũng đừng trở thành kẻ phản bội khi vứt bỏ thánh kinh của mình.
Bài này tôi viết đã lâu, được đăng ở một vài trang mạng, nay nhân có hội thảo kỷ niệm 170 năm Tuyên Ngôn Cộng sản do Ban Tuyên giáo tổ chức, tôi chép lại bài cũ, viết thêm đôi điều làm rõ ý của mình, mong góp vào cái nhận thức đúng đắn của xã hội.
Bản Tuyên ngôn ấy ra đời ngót gần hai thế kỷ, chắc chắn là có nhiều lạc hậu cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Việc coi nó còn nguyên giá trị cả về lý luận, cả về thực tiễn, hoặc nó đang soi đường chỉ lối “đúng đắn” cho đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta của lãnh đạo Ban tuyên giáo và những người gọi là nhà tư tưởng cộng sản hay Mác Lê nin… là quyền của họ.
Cá nhân tôi cho rằng nó chỉ có giá trị “xã hội học lịch sử”, với ý nghĩa nó là một tác phẩm được Mác và Ăng ghen viết ra đã 170 năm nay. Hàng triệu người đã đọc nó và tưởng rằng đang thực hiện lý tưởng của nó thì trên thực tế đã làm cho cả trăm triệu sinh mạng bị giết chết, đã đẩy nhân loại đi vào một khúc quanh lịch sử bi thảm, làm cho nhiều dân tộc biến dạng, băng hoại thảm thương…rồi chính mình phải từ bỏ.
Bây giờ thì cái Đệ tam quốc tế đã bị giải thể, rồi cả Liên xô và hệ thống phe XHCN Đông Âu cũng tan rã. Cái gọi là chủ nghĩa Mác- Lê nin cũng đã phá sản cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Ngay cả Trung Hoa, từ 1960 thế kỷ trước họ chính thức vứt Lê Nin, đến 1970 họ thảo luận với nhau “Nên kiên trì chủ nghĩa Mác nào” và họ kết luận, chỉ lấy cái phép biện chứng của Mác coi thực tế là thước đo. Rồi họ đề xướng lý thuyết “mèo trắng mèo đen”, lại đề “Ba đại diện”, “Xã hội hài hòa”, nay thì đưa tư tưởng Tập Cận Bình thành quốc sách!
Về lý tưởng, Tuyên ngôn ấy nêu ra 4 mô hình chủ nghĩa xã hội, một là CNXH phong kiến kiểu Đức, hai là CNXH không tưởng, ba là CNXH tư sản. Điều trớ trêu là những tính chất phong kiến và không tưởng lại đầy rẫy trong các nhà nước XHCN! Trong thực tiễn cái mô hình nhà nước xô viết là “siêu phong kiến”. (Xem Chế độ phong kiến ở Liên Xô- Anatoly Tille, năm 1992 xuất bản với tên: Luật pháp của sự phi lý- Luật pháp phong kiến xã hội chủ nghĩa. Năm 2003, xuất bản ỏ Mỹ có tên: Cuộc cách mạng tội ác vĩ đại ở nước Nga- Mafia nắm quyền.
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều trí thức ở nước ta nhận xét rằng, trong xã hôi VN hiện nay đầy rẫy những thiết chế kiểu phong kiến rất lỗi thời. Ông Nguyễn Văn An cựu ủy viên Bộ chính trị cũng từng nói Bộ Chính trị là vua tập thể. Có người bình luận vui là trong “chế độ làm chủ tập thể” tất sinh ra vua tập thể!
Tác giả bài này, trong nhiều cuộc hội thảo do những ban ngành TW tổ chức từng trình bày nhận xét, những thiết chế phong kiến đầy rẫy ở chế độ ta có lý do tồn tại vì một thời gian dài nền kinh tế đã vận hành với những phương thức mang bản chất phong kiến, một là đổi chác, hai là cống nạp, ba là tước đoạt (những cuộc cải tạo nông nghiệp, cải tạo công thương, đổi tiền, duy trì kéo dài kinh tế phi thị trường rồi gắn thêm cái đuôi XHCN…Thực chất cái gọi là kinh tế nhà nước là chủ đạo ở VN mang dấu ấn kinh tế phong kiến triều đình rất rõ, chúng hoạt động theo mệnh lệnh chính trị và bất chấp lời lỗ như trước đây theo chỉ dụ của nhà vua!).
Trong một bài viết cũng nhân kỷ niệm Tuyên ngôn CS đăng trên tờ Quan hệ Quốc tế (tên cũ) tôi có nhận xét chỉ duy cái CNXH tư sản trong mô hình “Xã hội –Dân chủ” ở châu Âu là đã có những thành công. Khi đăng, ban biên tập đề nghị sửa thành hai chữ thành công nhất định). Như thế là những mô hình CNXH mà tuyên ngôn phê phán thì trước sau các đảng cộng sản ở các nước XHCN đều tích cực thực hiện. Các hình thức XHCN hiện thực mà các đảng cộng sản thực hiện, đều rất đậm đà chất phong kiến, không tưởng, kể cả chất tiểu tư sản phiêu lưu, ngoại trừ mô hình chủ nghĩa xã hội tư sản đã có ich lớn trong phục hưng châu Âu sau thế chiến thứ hai.
Về cái XHCN mà Mác và Ăng ghen mong ước bấy giờ chỉ thấy mấy tư tưởng định hướng:
– Một là tư tưởng “Theo ý nghĩa đó, những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành luận điểm duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu.
– Hai là “giai cấp vô sản từng nước phải xóa bỏ giai cấp tư sản và tự mình trở thành dân tộc. (Sau thấy nói thế võ đoán nên đổi thành giai cấp của dân tộc).
– “Đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tương kế thừa của quá khứ”.
– “Dùng sự thống trị chính trị của mình từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản…”
– “Những biện pháp sau đây sẽ được áp dụng phổ biến”: tước đoạt sở hữu ruộng đất, áp dụng thuế lũy tiến cao, tịch thu tài sản…, tập trung tín dụng, giao thông vận tải vào nhà nước, …kế hoạch chung, tổ chức các đạo quân công nghiệp, đặc biệt cho nông nghiệp, xóa bỏ đối lập thành thị và nông thôn…
Tóm lại là những chỉ thị rất sơ sài cảm tính, không hề có luận chứng vững vàng. Mà thực tế đã bác bỏ, đã chứng tỏ sự sai lầm hồ đồ của chúng.
Tuy nhiên ít ra trong Tuyên ngôn cũng có ba tư duy, khá hợp lý, không kể ý kiến đoàn kết, hợp tác với các đảng dân tộc dân chủ kể trên, một là “phát triển tự do cá nhân là tiền đề phát triển tự do của xã hội”, hai là “giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả trẻ em”, ba là ”giai cấp tư sản không thể tồn tại nếu không luôn luôn cách mạng hóa công cụ sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa toàn bộ những quan hệ xã hội”, thì đều bị các đảng cộng sản vứt vào sọt rác. Vì cho đó là quan điểm tư sản!
Nhưng điều đáng nói hơn cả là chừng ba mươi năm sau khi công bố tuyên ngôn, cả hai ông đều cho rằng, không có một lý tưởng cộng sản nào cả, đó là những ý nghĩ “trẻ con” lúc còn trẻ và đã vứt bỏ, lúc cuối đời! (Xem bài tựa của F. Ang ghen viết cho cuốn Những cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp của K. Marx).
Như thế thì nhân loại kỳ cục thật, cái mà người ta đã vứt bỏ, lại ôm lấy vào mình, coi như của quý. Sự kỳ cục đó đã khiến cho cả trăm triệu người phải chết oan uổng, nhiều dân tộc bị băng hoại, trong đó có Việt Nam chúng ta. Còn Nghị viện Châu Âu thì đã ra nghị quyết lên án những nước theo cái Tuyên ngôn ấy mà làm cộng sản. Nghị quyết ấy có số 1481 của Hội Đồng Nghị viện Châu Âu, viết “…Những chế độ độc tài toàn trị cộng sản gồm khối Liên xô, Đông Âu trong thế kỷ XX và một số chế độ cộng sản hiện vẫn còn nắm quyền ở 4 nước trên thế giới, đều là những quốc gia vi phạm nhân quyền…, vi phạm quyền tự do tư tưởng, xúc phạm lương tâm con người, cấm tự do báo chí và tự do chính trị; độc tôn, độc quyền, độc đảng…Không thể dùng quan điểm quyền lợi quốc gia mà lấp liếm, biện hộ sự lên án của nhân loại. Quốc hội chung Châu Âu cực lực lên án tất cả mọi vi phạm quyền con người trong các chế độ cộng sản, coi nó như tội ác chống nhân loại”!
Gần đây đọc Nam Hoa Kinh của Trang tử, thấy có câu chuyện sau: Vua Hoàn công ngồi đọc sách, Luân Biển kẻ làm thợ đẽo bánh xe tiến lên, dám hỏi: Cái mà nhà vua đang đọc là lời gì vậy. Đáp, là lời của thánh nhân. Thưa, thánh nhân còn chăng? Đã chết rồi. Thế thì cái mà nhà vua đọc chỉ là cặn bã của người xưa mà thôi. Quả nhân đọc sách, kẻ đẽo bánh xe sao được bàn càn. Nói thông thì được, không thông thì chết. Luân Biển thưa, tôi lấy việc của tôi mà xét, đẽo bánh xe chậm thì ngọt, mà không bền, mau thì chối mà không vào. Không chậm, không mau, hiểu nó ở tay, ứng vào lòng, miệng không nói ra được. Tôi không thể đem để bảo cho con, con tôi cũng không thể học. Cho nên đã bảy mươi mà già đời vẫn làm nghề đẽo bánh xe. Người xưa và cái không thể học của họ đều đã chết cả rồi. Vậy thì cái nhà vua đọc chỉ là cặn bã của người xưa mà thôi.
Tôi bàn thêm: học lấy cặn bả mà làm nên được trí tuệ, xưa nay chưa từng nghe nói!






