CHUYỆN TRÚ MƯA

 
Image may contain: 3 people, people smiling

Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

 

Hôm vừa rồi, đang đi dạo phố thì gặp trận mưa to, phải chạy vào trú dưới hiên một căn nhà. Cùng đứng trú mưa có vài người khác nữa, trong đó có một cô bé mặt quen quen. Suy nghĩ mãi hắn mới nhớ ra cô bé chính là một trong những nhân vật được chụp hình đăng báo, và tấm hình này không hiểu sao đã được lưu giữ cùng với một tỷ tấm hình linh tinh khác trong phôn tay của hắn.

Thế là hắn chìa cái phôn ra và gợi chuyện làm quen :
– Có phải cháu đây không?
Cô bé không giấu được vẻ ngạc nhiên, thích thú:
– Vâng cháu và các bạn cháu đấy. Úi giời ơi, thích nhỉ?
– Nhưng chuyện gì mà các cháu khóc kinh thế? Bộ ba hay má cháu chết hả?
– Không. Ba má cháu có già phải đi theo trời theo phật cũng là chuyện nhỏ, việc gì phải khóc?
– Hay là các cháu đang đi đám ma của bạn bè thân quen ?
– Không. Đi đám ma thì phải vui chứ lị. Có mấy người pê-đê múa lửa với nhảy thoát y, thích lắm chú ạ.
– Hay là các cháu đang tỏ lòng tiếc thương cho chiến sĩ và đồng bào ta bị giết hại dã man bởi bọn Trung Quốc xâm lược ?
– Ơ, chú nói hay nhỉ ? Mấy chuyện linh tinh này can dự gì tới bọn cháu. Ai chết kệ người ta đi. Cháu thấy chú coi bộ hơi rảnh.
– Thì chú đang rảnh đây, đứng trú mưa chứ có làm gì đâu. Vậy nói chú nghe tại sao trong hình này các cháu khóc ghê thế ?
Cô bé vui vẻ hẳn lên:
– A, cái hôm ấy bọn cháu ra phi trường tiển đưa ca sĩ ….lên đường trình diễn ở nước ngoài. Đông lắm, ai cũng khóc, có đứa còn tính đập đầu xuống đất tự tử, phải hai chú bảo vệ mới giữ được nó đấy. Còn cháu khóc sưng mắt phải nghỉ học hết ba ngày.
– Nó ca sĩ ra nước ngoài hát, nó lãnh khẩm tiền, mắc chi các cháu phải khóc tập thể vậy ?
– Vậy là chú Hai Lúa rồi. Chú không biết bây giờ văn minh là phải bắt chước dân Âu Mỹ, phải khóc tối đa và sẳn sàng ngất xỉu vì thần tượng ca sĩ của mình. Nhờ vậy cháu mới được chụp hình lên báo đó. Còn chú, có ai chụp hình chú không ?

Hắn cứng họng. Không phải vì đuối lý, mà vì hắn ghê sợ cho sự xuống cấp trầm trọng của cái xã hội trăm năm trồng người hiện nay. Cứ thế này thì còn gì là thế hệ tương lai, còn gì là đất nước.

Hắn bước ra khỏi mái hiên dù trời vẫn còn đang mưa. Hắn không muốn đứng đó thêm chút nào nữa. Hắn cần sự khuây khỏa. Đi dưới mưa cũng là một cách để khuây khỏa, nhất là khi trong óc của hắn lại hiện lên mấy câu thơ của cô giáo Trần Thị Lam:

Đất nước này rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu……/.

Lộc Dương.

Vượt biên. 87 người bị giết

 
 
 
Image may contain: one or more people and outdoor

Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.

87 người bị giết

Bà Nguyễn Thị Thương, 36 tuổi, tốt nghiệp Đại Học Hoa Kỳ, tu nghiệp tại Paris, Pháp. Trước 1975 Bà là Giáo Sư Đại Học Bách Khoa Thủ Đức. Bà Thương vượt biển cùng chồng là Giáo Sư Trần Quang Huy, Phân Khoa Trưởng Văn Khoa Đại Học Sài Gòn, cùng với Mẹ ruột, cậu, 2 em trai, 2 em dâu, 4 cháu gái và một con gái nhỏ 3 tuổi. Nhưng chỉ còn Bà, con gái nhỏ của bà, một người em trai của Bà và một em gái của chồng sống sót.

Ghe mang số SS0646 IA dài 13,5 m, chở 107 người khởi hành từ Rạch Giá ngày 01/12/1979. Ra khơi được 3 ngày, thuyền chạy về hướng Thái Lan, khi đã gần tới đất liền thì gặp bọn cướp biển vào ngày 03/12/1979. Hai tàu cướp Thái Lan cặp 2 bên hông thuyền tỵ nạn, bọn cướp đã ùa sang với súng và dao. Vì ghe thuyền Việt Nam quá chật hẹp, bọn hải tặc đã lùa 27 người sang tàu của chúng cho dễ lục soát vàng bạc của cải.

80 người còn lại bị khám xét cướp hết vàng bạc, vật quý. Sau đó bọn cướp buộc giây vào ghe Việt Nam vào đuôi tàu của chúng và kéo chạy. Chúng xả hết tốc lực, chạy lượn vòng qua lại làm ghe tỵ nạn nghiêng chìm như một trò chơi. Dân tỵ nạn la khóc, lạy van cho tới khi ghe chìm hẳn. Bọn cướp biển cắt giây nối và chạy bỏ mặc 80 người vùng vẫy tuyệt vọng, trong khi 27 người tỵ nạn trên tàu của chúng vật vã khóc ngất nhìn xuống biển chứng kiến người thân đang dãy dụa chết chìm.

Bọn hải tặc chạy thẳng về đảo sào huyệt KO KRA của chúng mang theo 27 người mà chúng đã tách đem lên thuyền chúng trước đó. Nhưng gần tới đảo, chúng xô đẩy tất cả đàn ông xuống biển, buộc họ bơi vào đảo. 7 người dàn ông này đều bị chết đuối vì không đủ sức bơi hoặc không biết bơi để có thể vào đến bờ, trong số này có Giáo Sư Trần Quang Huy. Còn lại 20 người sống sót sau cùng đã bị bọn cướp đưa lên đảo và lập tức chúng lại lục soát, sờ nắn khắp thân thể để tìm kiếm vật quý con cất giấu trong người. Bà BTD (xin viết tắt, giấu tên) 26 tuổi có con 4 tuổi, bị dẫn ngay vào bụi hãm hiếp mặc dù Bà đang mệt lả không đứng dậy nổi vì đói khát, kinh hoàng.

Sau đó, trong suốt 8 ngày liền bị giam giữ trên đảo, 20 thuyền nhân còn lại này đã bị quần thảo hành hạ bởi nhiều toán cướp biển khác nhau hàng ngày đổ bộ lên đảo. Các phụ nữ, cô gái phải chạy vào rừng hoặc leo lên hốc ẩn tránh. Nhưng vẫn không thoát khỏi tay bọn dâm tặc. Một lần Bà BTD quá mệt mỏi không còn sức chạy trốn nổi, đang nằm ngất ngư và được mọi người săn sóc thì bọn hải tặc lại ùa đến, đuổi tất cả mọi người chung quanh đi chỗ khác và 4 tên Thái man rợ luân phiên hãm hiếp tàn nhẫn ngay tại chỗ, khiến bà ta bị kiệt lực nằm im lìm không nhúc nhích được nữa.

Đến ngày thứ 3 trên đảo, một tàu Thái, bên hông có ghi chữ POLICE số 513 tới đảo. Bọn cướp rút lui, chạy tàu ra xa. Chiếc tàu Cảnh Sát neo sát bờ biển, họ chỉ nhìn vô bờ nhưng không lên đảo. Những người tỵ nạn Việt Nam mừng rỡ tưởng được cứu thoát, một thanh niên tỵ nạn bơi ra mang theo một lá thư cầu cứu bằng tiếng Anh để gởi cho giới chức Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc. Nhưng chưa bơi tới nơi đã bị tàu Cảnh Sát Thái nổ súng bắn xuống biển cảnh cáo. Anh ta hoảng hốt bơi quay trở vào bờ. Sau đó mọi người lại đề cử một thiếu niên 15 tuổi liều mình bơi ra cầu cứu lần nữa. Cậu này đã được Cảnh Sát cho lên tàu, nhưng chỉ cho vài gói mì và đuổi xuống biển ngay. Cuối cùng tàu Cảnh Sát này bỏ đi. Sau này mới biết họ đã không hề báo tin vào đất liền.

Ngay sau khi tàu Cảnh Sát bỏ đi bọn hải tặc lại lên đảo và tình trạng tồi tệ tiếp tục diễn ra. Đến ngày thứ 5, một tàu Hải Quân Thái Lan đi ngang qua đảo, nhóm người tỵ nạn chạy ra sát bờ vẫy gọi, làm hiệu và lần này chiếc tàu Hải Quân đã cho người lên đảo tiếp xúc và nhận bức thư nhờ chuyển về cho Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan. Ngày thứ tám, Ông SCHWEITZER Đại diện Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan ra đón họ vào đất liền.

Không lâu sau đó Bà Nguyễn Thị Thương sinh thêm đứa con gái út trong trại tỵ nạn Song Khla và Bà sống tại đó với một đứa con gái 3 tuổi và người em trai của Bà và một em gái của Ông Trần Quang Huy. Lúc bắt đầu rời Việt Nam Bà Thương đã có thai gần 9 tháng, chính nhờ vậy trong những ngày trên đảo KO KRA, Bà đã không bị hải tặc hãm hiếp.

Bà Nguyễn Thị Thương kể lại câu chuyện trên rồi khóc lặng lẽ và nói : “Chồng tôi và tôi đã đoán trước những thảm cảnh có thể xảy ra trên biển. Nhưng chúng tôi vẫn chấp nhận ra đi vì chúng tôi đã nghĩ rằng, dù thế nào cũng ít tệ hại hơn là sống dưới chế độ Cộng sản. Nhưng những đau khổ tôi đang phải chịu đã vượt qua dự đoán của chúng tôi”.

(Sưu tầm)

*
Không phải tất cà ngư dân Thái Lan là hải tặc. Nhưng phần lớn hải tặc Thái xuất phát từ Phuket và phần lớn người dân Phuket theo đạo Hồi !!!   

Ơn gọi đặc biệt của đôi bạn: cùng đi tu sau khi đã đính hôn với nhau

Ơn gọi đặc biệt của đôi bạn: cùng đi tu sau khi đã đính hôn với nhau

Javier Olivera và Trinidad Maria Guiomar sinh ra và lớn lên trong hai gia đình Công giáo quen biết nhau ở Argentina. Khi còn là trẻ thơ, họ cũng thường nhìn thấy nhau. Nhưng khi lớn lên, Olivera thật sự không còn thực hành đạo nữa. Cho đến năm Olivera 19 tuổi, sau chuyến đi Peru về, anh gặp lại cô bạn Trinidad Maria thuở bé. Anh hỏi cô có tin vào việc giữ khiết tịnh cho đến khi kết hôn không, vì đối với anh, điều này giống như một thứ mà Giáo hội đặt ra. Với sự hiểu biết và xác tín, cô gái Trinidad Maria đã trình bày với Olivera những nguyên tắc về sự thanh sạch, cả về khía cạnh đức tin lẫn lý trí. Những điều cô trình bày đã gây ấn tượng mạnh đối với Olivera.

Cha Javier Olivera và Nữ tu Maria de la Sagesse_(Courtesy_of_P_Javier_ Olivera)_CNA

Không lâu sau cuộc trò chuyện này, hai người trẻ Olivera và Trinidad Maria, đang là sinh viên ngành học luật, bắt đầu hẹn hò với nhau. Olievera lúc đó đang học tại đại học quốc gia ở Buenos Aires, còn Trinidad Maria thì học tại đại học quốc gia tại La Plata. Cha Olivera kể về thời gian hẹn hò của hai người: “Nó giống như thời gian tìm hiểu tán tỉnh nhau của bất kỳ đôi bạn nào, nhưng chúng tôi cố gắng tận dụng đời sống văn hóa qua âm nhạc, văn chương và triết học. Chúng tôi cùng nhau đọc sách, đi uống cà phê với nhau. Chúng tôi có một nhóm bạn và cùng với họ, chúng tôi tham dự các hội nghị về các tác giả Công giáo người Argentina.”

Sau khi kết bạn với Trinidad Maria, Olivera bắt đầu thực hành đức tin lại; anh cầu nguyện, đi lễ các ngày Chúa nhật; anh cũng đọc kinh Mân Côi cùng với bạn gái của mình. Cha Olivera thú nhận rằng chính nhờ Guiomar, khí cụ Chúa dùng mà cha trở lại với đức tin. Về phần mình, Trinidad Maria, sau này là sơ Marie, khi ấy cũng cảm mến người bạn trai của mình về lòng chân thành tìm kiếm chân lý mà không sợ những hậu quả. Năm họ 21 tuổi, hai bạn trẻ đã đính hôn với nhau và quyết định sẽ thành hôn sau khi họ ra trường, nghĩa là sau 2,5 năm nữa.

Một ngày kia, Trinidad Maria nhận được một tin gây ngạc nhiên mà cô không hề chờ đợi: anh của cô quyết định vào chủng viện. Cô và bạn trai của mình đã tiễn người anh vào chủng viện ở San Rafael, tỉnh Mendoza. Sau đó họ quyết định ở lại thành phố đó vài ngày, Olivera thì thăm các bạn mình đang ở trong chủng viện, còn Trinidad Maria cũng thăm các bạn đang ở trong tu viện.

Khi trở về nhà, hai người trẻ vẫn nghĩ là ông anh của cô thật điên khùng khi bỏ mọi thứ, một gia đình trong tương lai, một nghề nghiệp quan trọng. Thế rồi họ tự hỏi chính mình. “Điều gì xảy ra nếu Chúa gọi họ sống đời tu trì?” Đầu tiên họ nói “không”, nó là điều điên khùng vì họ đang có một cuộc đính hôn thật sự tươi đẹp và họ cũng đang sắm sửa các thứ, chuẩn bị để kết hôn.

Nhưng những tuần lễ trôi qua, một ý nghĩ cứ trỗi lên trong tâm hồn của chàng trai Olivera: Điều gì sẽ xảy ra nếu Chúa gọi tôi, tôi có từ bỏ mọi thứ, tại sao tôi không là một linh mục? Làm sao để biết con đường tốt nhất để lên Nước Trời dành cho tôi, đời sống linh mục hay kết hôn? Tôi có thể làm điều tốt nhất ở đâu? Sau nhiều nghi ngờ, Olivera đã quyết định nói với bạn gái của mình về mối quan tâm ơn gọi của anh. Thật ngạc nhiên, khi chính cô bạn Trinidad Maria của anh cũng đang suy nghĩ về cùng điều này, sau khi anh cô vào chủng viện. Tuy thế, hai người không vội quyết định, vì họ còn hai năm trước khi ra trường.  Một đan sĩ, linh hướng của hai người, đã nói với họ: “Đây là một vấn đề giữa từng người các con với Chúa. Không ai có thể can thiệp vào linh hồn.”

Sơ Marie chia sẻ: “Đó là một cuộc phân định dài, ít nhất 2 năm, cho đến khi Chúa tỏ rõ cho tôi đời sống thánh hiến và tôi không thể nghi ngờ rằng Người đang yêu cầu tôi tận hiến hoàn toàn.” Sau khi hoàn tất việc học, cả hai đã theo ơn gọi của mình. Năm 2008, khi họ 31 tuổi, Olivera được thụ phong linh mục cho giáo phận San Rafael, còn Trinidad Maria khấn trọn đời trong dòng các Nữ tu Chúa Giêsu nhân từ, với tên gọi Marie de la Sagesse (Maria của sự khôn ngoan).

Cha Olivera hiện là giáo sư đại học. Cha có một trang blog “Tìm ra ơn gọi của bạn”. Cha đã viết một cuốn sách về những nghi ngờ của ơn gọi, tựa đề là “Có bao giờ bạn từng nghĩ về nó? Tiếng gọi của Chúa Kitô”. Còn sơ Marie de la Sagesse hiện đang hoạt động tông đồ tại giáo xứ thánh Lôrensô thuộc giáo phận Fréjus-Toulon, miền nam nước Pháp. Nói về cuộc đời của họ, sơ Marie xem đó là một ơn đặc biệt khi cả hai được gọi hầu như cùng lúc. Chúa thật tốt lành và chu đáo, không bỏ qua một chi tiết nào. Điều tôi thật sự quý trọng chính là chúng tôi vẫn là bạn với nhau, và không chỉ chúng tôi, mà cả gia đình của chúng tôi. (CNA 12/04/2018)

Hồng Thủy

 From: Cam Tuyet & Nguyen Kim Bang

Canada: Lao xe vào người đi bộ, hàng chục người thương vong

Canada: Lao xe vào người đi bộ, hàng chục người thương vong

  • 24 tháng 4 2018
Canada, tông xe vào người đi bộ
Bản quyền hình ảnh  GETTY IMAGES
Nhân chứng nói chiếc xe tải màu trắng lao lên vỉa hè nhiều lần và tông vào người đi bộ

Ít nhất chín người chết và 16 người bị thương sau khi một người đàn ông lái xe lao vào người đi bộ ở Toronto, Canada.

Lái xe bỏ trốn khỏi hiện trường ở một giao lộ đông đúc phía bắc Canada, nhưng bị bắt ngay sau đó.

Hiện danh tính của người này chưa được tiết lộ.

Các video của người dân cho thấy hình ảnh vụ bắt giữ căng thẳng giữa cảnh sát và người lái xe gây tai nạn.

Người này chĩa một vật về phía cảnh sát, sau đó có tiếng cảnh sát hét yêu cầu ông ta bỏ vật này xuống.

Người đàn ông sau đó bị bắt mà không có vụ nổ súng nào.

Một đường dây nóng được thiết lập dành riêng cho thân nhân các nạn nhân và nhân chứng.

Cảnh sát nói họ không tin đây là hành động có chủ ý nhưng Bộ trưởng An toàn Công cộng Canada Ralph Goodale gọi đây là ‘vụ tấn công kinh hoàng’ trên Twitter.

Canada, tông xe vào người đi bộ
Bản quyền hình ảnh GETTY IMAGES
Khu vực nơi xảy ra vụ tông xe vào người đi bộ tại Toronto, Canada

Reza Hashemi, chủ một cửa hàng video trên phố Yonge, nói với BBC rằng ông nghe thấy tiếng la hét phía bên kia đường.

Ông cho biết chiếc xe tải màu trắng lao lên vỉa hè nhiều lần và tông vào người đi bộ.

Công ty cho thuê xe tải Ryder System Inc xác nhận một trong các phương tiện của họ liên quan đến vụ việc và cho biết đã hợp tác với chính quyền.

Vụ việc xảy ra tại phố Yonge, đại lộ Finch vào 13:30 giờ địa phương (17:30 GMT) thứ Hai 23/4.

Thầy giáo Đào Quang Thực nhập viện vì bị ngược đãi trong tù

Thầy giáo Đào Quang Thực nhập viện vì bị ngược đãi trong tù

RFA
2018-04-24
 

Ông Đào Quang Thực, facebooker - giáo viên tiểu học về hưu.

Ông Đào Quang Thực, facebooker – giáo viên tiểu học về hưu.

Facebook của ông Đào Quang Thực
 

Thầy Đào Quang Thực, một facebooker và là một giáo viên tiểu học về hưu, người bị bắt với cáo buộc “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền’ đã phải nhận viện cấp cứu tại bệnh viện Hòa Bình vào ngày 13 tháng 4 vừa qua do điều kiện sức khỏe ngày càng giảm vì bị ngược đãi trong nhà giam.

Cô Đào Ngọc Bích Quỳnh Trang, Con gái của thầy giáo Đào Quang Thực vào ngày 23/4/2018 đã xác nhận thông tin này cho RFA:

“Hiện nay bố em vẫn đang trong bệnh  viện đa khoa Hòa Bình, nhà không được gặp nhưng chỉ gởi tiếp tế. Bố em cứ kêu đau đầu từng cơn liên tục, huyết áp có dấu hiệu tăng, và đầu đau”

Vẫn theo cô Quỳnh Trang thì thầy Đào Quang Thực sau đó đã được chuyển đến bệnh viện 198 của bộ công an, nhưng gia đình cũng chỉ được gặp thầy Đào Quang một lần vào hôm thứ 7, 21 tháng 4. Từ đó đến nay, thầy Đào Quang Thực đã bị an ninh canh gác tại bênh viện, không cho tiếp xúc với gia đình. Theo cô Quỳnh Trang, vào ngày 22 tháng 4, mẹ cô đã cố gắng đến để xin vào thăm nhưng cũng bị xua đuổi, và chỉ được nghe tiếng thầy Quang Thực nói lớn ra cho biết ông bị ngược đãi ra sao trước khi được chuyển đến bệnh viện cấp cứu điều trị:

Bố em trong phòng nói rộng ra là 2 tháng đầu tiên lúc bố em vào người ta để cho bố em chết đói chết khát không cho tiếp tế, không cho ăn uống gì cả và 4 điều tra viên liên tục vào hỏi cung và đánh đập bố em

Ông Đào Quang Thực sinh năm 1960. Ông từng là giáo viên tiểu học suốt 30 năm và hiện đã nghỉ hưu. Vào ngày 5 tháng 10, 2017, cơ quan an ninh điều tra thuộc công an tỉnh Hòa Bình đã ra lệnh bắt tạm giam đối với ông Đào Quang Thực với cáo buộc là hoạt động nhằm lật đổ chính quyền theo điều 79 bộ luật hình sự Việt Nam.

“Anh Sáu kêu gỡ bài xuống!”

“Anh Sáu kêu gỡ bài xuống!”

Thảo Vy

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Tất Thành Cang chụp cùng ông Đinh La Thăng. Ảnh: Báo Infonet

Hiện nay, có nhà báo nào ở Sài Gòn ‘dám’ viết trên trang facebook cá nhân về những lùm xùm đất đai liên quan đến Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Tất Thành Cang, đều nhận được điện thoại từ ông Nguyễn Đức Thọ, đương nhiệm Chánh Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM, rằng: “Anh Sáu kêu gỡ bài xuống!”.

‘Anh Sáu” là cách gọi thân mật đối với Phó Bí thư Thường trực Tất Thành Cang.

Quận 2: lãnh địa của nhóm quyền lực dòng họ Lê – Trương?

Nhà báo Nguyễn Tường Minh, cựu phóng viên báo Sài Gòn Giải Phóng, hiện là chủ biên báo Người Tiêu Dùng, cho rằng đã đến lúc cần nhìn thẳng vào chuyện người dân mất đất ở Thủ Thiêm; trong đó có Hòa thượng Thích Không Tánh, chủ trì Chùa Liên Trì đã bị cướp đất thô bạo, tất cả đều liên quan đến ông Tất Thành Cang khi ông là Bí thư Quận ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 2 từ năm 2009 đến năm 2012.

Năm 1997, khi thành lập Quận 2, bà Trương Thị Hiền, vợ của ông Lê Thanh Hải được ‘bố trí’ ghế phó chủ tịch quận. Bà Hiền là em ruột bà Trương Mỹ Hoa, khi ấy là Phó Chủ tịch Nước. Chủ tịch quận 2 lúc mới thành lập là ông Chín Lực, nguyên phó Bí thư thường trực Quận 5 được điều sang.

Do biết trước thời gian sẽ chia tách quận, nên từ trước năm 1997, nhiều quan chức đã cho người thân đứng tên sang nhượng lại đất nông nghiệp ở khu vực Thủ Thiêm; trong đó có gia đình ông Lê Thanh Hải, ông Nguyễn Hữu Tín (ông Tín xuất thân từ Đảng bộ Quận 5, chức vụ cuối cùng trước khi rời chính trường là phó Chủ tịch UBND TP.HCM).

Ông Trần Minh Đức, cựu Phó Tổng Biên tập báo Tuổi Trẻ, kể: Công ty cổ phần Thế Kỷ 21 (cổ đông là các phóng viên, nhân viên báo Tuổi Trẻ) được UBND TP.HCM chấp thuận địa điểm đầu tư khu dân cư mới tại phường Bình Trưng Tây (quận 2, Sài Gòn) từ năm 1997. Việc thỏa thuận đền bù các hộ dân diễn ra nhanh chóng vì thuận mua, vừa bán. Thế nhưng dự án kéo dài đến năm 2005 vẫn bị vướng vì có 3 hộ (Nguyễn Hữu Tấn, em ruột phó chủ tịch Nguyễn Hữu Tín) không đồng ý, dù đã được tăng tiền đền bù gấp 4 lần so “dân đen”.

“Sở dĩ ba hộ có thái độ “muốn gì được nấy” vì dựa vào một số mối quan hệ quen biết. Trong quá trình thương lượng đã có nhiều cuộc điện thoại, thư tay của một số giám đốc sở, cựu lãnh đạo UBND TP, Văn phòng Chính phủ…”. Ông Trần Minh Đức nói.

Thế nhưng, lịch sử chưa bao giờ lãng quên!

“Khi mà dòng thời gian từng bị che mờ bằng quyền lực, khi mà hàng loạt khu đất sang trọng mọc lên, mang lại lợi nhuận chục ngàn tỷ cho nhiều đại chủ đất ngày nay, người ta vẫn dễ dàng bắt gặp ánh mắt đau khổ của các ông, bà cụ suốt hơn chục năm cầm đơn kêu cứu khắp nơi, với hy vọng tìm lại công bằng trong chính sách đền bù đất đai và hiểu về giá trị của sự hy sinh cho lợi ích quốc gia. Nút thắt lịch sử nằm ở đâu?”. Nhà báo Nguyễn Tường Minh đặt câu hỏi, và cho rằng một trong những nguyên do khiến tờ báo Sài Gòn Tiếp Thị phải đóng cửa, chính là việc Tổng biên tập Đặng Tâm Chánh của tờ báo này đã dũng cảm muốn tìm kiếm câu trả lời, cách đây nhiều năm. Thế nhưng, hầu như sống giữa thành phố này mà đặt câu hỏi “khó” về Thủ Thiêm, dưới vương triều cũ, ắt hẳn sẽ có cơn bão tố kéo tới vùi dập tất cả sự thật, và nhiều thứ tiếp tục rơi vào lãng quên.

“Hôm nay có thể đã khác. Nếu thực sự Chính phủ xác lập cam kết dùng sự liêm chính, kiến tạo để vận hành bộ máy lo cho dân, tôi nghĩ đã đến lúc bức màn tối che phủ quanh Thủ Thiêm cần phải kéo xuống, trả lại cho mọi người biết sự minh bạch trong suốt quá trình thu hồi đất vừa qua. Tôi nghĩ ai cũng đều muốn và sẵn sàng hy sinh tài sản của mình vì lợi ích chung của quốc gia. Chỉ là người ta không muốn mình hiến dâng tài sản cho quá trình vận hành sai trái của một số quan chức điều hành địa phương, phục vụ cho lợi ích nhóm. Rất nhiều người không dám nói ra, nhưng hầu như mọi người đều hiểu “nút thắt lịch sử” là do những con người nào từng gây ra. Và người ta cũng tin rằng, lịch sử sắp thay đổi tại Sài Gòn này.

Bởi hơn ai hết, muốn hiểu về những điều bí ẩn phía sau quyết sách tại Thủ Thiêm nhiều năm qua, người mà các cơ quan nội chính Trung ương cần truy vấn đầu tiên chính là ông 6 Cang. Đúng hay sai? Khởi tố vụ án liên quan đến Thủ Thiêm hay không khởi tố? Đó đều là quyết sách cần cân nhắc rất thận trọng của những nhà lãnh đạo có lương tri, vì dân”. Nhà báo Nguyễn Tường Minh chia sẻ.

Xem ra thì bữa tiệc nào cũng đến lúc phải tàn.

Vinalines mua tàu 661 tỉ, sau 10 năm xin bán 89,6 tỉ để cắt lỗ

Vinalines mua tàu 661 tỉ, sau 10 năm xin bán 89,6 tỉ cắt lỗ

24/04/2018 

TTO – Sau hai lần chào bán, tàu Vinalines Sky chỉ được trả giá cao nhất là 89,595 tỉ đồng, thấp hơn giá khởi điểm 93,48 tỉ, vì thế Vinalines đề nghị được bán tàu để cắt lỗ.

 
 
VanHieu Nguyen shared a link.
 

   Những chuyện đổi đời

   Những chuyện đổi đời

HUY PHƯƠNG

 

 

Thuyền nhân Việt Nam ở trại tị nạn Hồng Kông năm 1994, gần 20 năm sau biến cố 30 Tháng Tư.

Tháng Tư lại về, khơi lại biết bao nhiêu chuyện não lòng cho cả một dân tộc. Đây là giai đoạn bi thảm nhất của miền Nam. Ba Mươi Tháng Tư được xem như một cơn đại hồng thuỷ, nôm na nhân dân gọi là ngày đứt phim, ngày tan hàng, ngày quốc hận. Nhân danh “cách mạng,” đây là một cuộc xâm lăng cướp bóc tàn bạo nhất trong lịch sử dân tộc, mà chỉ có tập đoàn Cộng Sản Bắc Việt, nhắm vào những người miền Nam, đặc biệt là những người thuộc chế độ VNCH, quân đội, hành chánh, đảng phái chính trị và những người bị ghép vào tội phản động. Nếu không với lòng căm thù và ganh tỵ vô biên từ chủ trương của đảng Cộng Sản, thì khó ai có thể tiến hành một cuộc trả thù tàn bạo như thế.

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, Cộng Sản Bắc Việt bắt đầu chiến dịch đàn áp có hệ thống với hằng trăm ngàn vụ bắt bớ, đưa hàng trăm ngàn nhân viên quân cán chính miền Nam đến các trại “cải tạo,” nơi mà “thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy!” Thực chất đây là chuỗi trại tù tập trung theo kiểu Trung Cộng và Liên Xô, ở đó chúng giết dần mòn tù nhân vì đói, bệnh tật, lao động cật lực và bị giết chóc.

Từ một miền Nam an lạc, trù phú, Cộng Sản Bắc Việt sau ngày “giải phóng,” vơ vét các “chiến lợi phẩm” mang về Hà Nội, đã biến mảnh đất này thành một nơi hoang tàn, bệnh tật, đói rách, tối tăm, tưởng như nơi đây đã đi giật lùi về thời hoang dã.

Gia đình các công viên chức miền Nam đã chịu một cuộc đổi đời bi đát.

Theo Lewis Sorley (1999), một sử gia Hoa Kỳ có uy tín, có lẽ “65,000 người bị xử tử bởi những người giải phóng họ” và “có đến 250,000 người bỏ mạng trong những trại cải tạo tàn bạo.” Có hàng trăm trại tù cải tạo, rải trên khắp toàn cả nước, đã đem lại bao nhiêu cảnh khốn cùng, nhà cửa bị tịch thu, lấn chiếm, thân nhân bị đuổi việc, con cái học hành dở dang, vật vã kiếm miếng ăn, gia đình ly tán. Nhiều gia đình nghe lời dụ dỗ đường mật của chính quyền mới, “đi kinh tế mới cho chồng con mau về,” để trở thành những gia đình không nhà, cùng đường trở về sống vật vờ trên hè phố.

Vụ “nạn kiều” là một chương bi thảm nhất trong lịch sử loài người khi hàng trăm ngàn người Việt gốc Hoa trong vùng cực Bắc Việt Nam năm 1978 bị cưỡng bức về Trung Quốc. Những người Hoa nhiều đời trước, đã di dân đến Việt Nam làm ăn, sinh sống, có người không biết tiếng Hoa, không biết quê hương, gốc gác mình nơi đâu, nay được chỉ định khăn gói trở về Trung Quốc.

Ngay lúc đó, Xuân Thuỷ, Bộ Trưởng Ngoại Giao còn trơ tráo tuyên bố: “Đảng và chính phủ ta trước sau như một, vẫn đối xử với bà con người Hoa như bát nước đầy. Có một số bà con trốn đi Trung Quốc, là do bọn xấu tác động! (Bên thắng Cuộc. T1- 121.)

Quảng Ninh và Hải Phòng là hai nơi, người Việt gốc Hoa được chiếu cố nhiều nhất. Người Hoa được chở xe lửa đi từ Hà Nội đi Lào Cai rồi đến Cầu Kiều. Nhưng số phận những con người này ra sao?

Trước khi qua biên giới, công an Việt Nam tịch thu mọi giấy tờ họ mang trong người. Về phía Trung Quốc đã có người ra đón, loa nhạc vang lừng. Nhưng đến ngày thứ ba, trở về “tổ quốc” tất cả đều phải bắt buộc đăng ký đi nông trường trồng cao su Mông Xi, ai chậm trễ sẽ phải đi Tây Tạng. 90% muốn trốn trở lại Việt Nam, nhưng đây là điều bất khả.

Trước đó, một phó chủ tịch tỉnh Quảng Ninh, gốc Hoa đã rạch bụng tự tử. Trần Vĩnh Ngọc, hiệu trưởng một trường phổ thông, cha Hoa nhưng mẹ Việt, có vợ là người Việt gốc Thái Bình. Bị xếp vào diện phải “trở về Trung Quốc,” kêu ca không được, Trần Vĩnh Ngọc bắt ba đứa con “khăn quàng đỏ,” đội viên thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh lên giường, lấy chăn bông đè cho đến chết. Sau đó, Ngọc lấy búa đập vỡ đầu vợ và dùng dao đâm vào tim mình tự sát.

Không ít một số người bị cơn bão “cải tạo công thương nghiệp” xô đẩy đến đường cùng, tán gia, bại sản, bỏ thành phố, bị tù đày hay xô đuổi đi vùng “kinh tế mới,” hoặc bỏ thây trên biển cả. Không phải như lúc ban đầu, đối tượng tư sản chỉ có 92 người, mà gần 29,000 gia đình không phải chỉ là tư sản, mà trung thương, kể cả tiểu thương chợ Trời cũng bị xoá sạch, do Đỗ Mười chủ trương cùng với bầy đàn kéo từ Hà Nội vào.

Trong chiến dịch này, Cộng Sản Bắc Việt chiếm thêm 5 tấn vàng và vô số kim cương, hột xoàn. Số lượng người Sài Gòn bị mất hết tài sản tìm cách vượt biên hay bị cưỡng bức đi kinh tế mới. Con số của Hà Nội đề ra là một triệu hai trăm ngàn người Sài Gòn phải đi lập nghiệp ở các vùng kinh tế mới, tuy không thực hiện được chỉ tiêu, nhưng Sài Gòn đã trở thành hoang vắng, một đô thị “tối lửa tắt đèn.”

Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, cả một miền Nam “bị” cảnh đổi đời.

Trái lại, dân miền Bắc cũng “được” cảnh đổi đời, kiểu “chó nhảy bàn độc.” Biết bao nhiêu anh từ thợ thiến heo, thợ bẻ ghi đường sắt, thợ đóng quan tài, hay làm nghề khiêng cáng, bắt thịt heo lậu, đổi đời thành những cấp lãnh đạo đất nước, giàu có lẫy lừng!

Nguyễn Quang Lập, một nhà văn của “Bên Thắng Cuộc” trong câu chuyện nội bộ của gia đình ông, đã cho đây là “sự đổi đời kỳ diệu.”

“Sau ngày 30 Tháng Tư cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ ‘đã chết,’ giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là ‘triệu phú số một Sài Gòn.’ Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là ‘gia đình bảy đảng viên Cộng Sản.’ Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên Cộng Sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời kỳ diệu!” 

Huy Phương

Sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương

 Sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương

 

Trong nhịp sống cuồng loạn của thời đại ngày nay, chúng ta phải dừng lại trong giây phút hiện tại để sống thực sự cuộc sống trần thế của chúng ta. Chỉ có giây phút hiện tại chúng ta mới có thể xử dụng tự do nội tâm của mình cách chính xác, chúng ta mới thực sự tiếp xúc với thực tại và sự hiện hữu.

Đức cố Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận đã được Giáo Hội Hoàn Vũ nâng lên Bậc Đáng Kính vào ngày 04.05.2017.

Khi còn là Tổng Giám Mục Saigon Việt Nam, vào lúc 2 giờ chiều 15.08.1975, Ngài được nhà cầm quyền cộng sản mời đến Dinh Độc Lâp rồi bắt Ngài và đem đi trên một xe hơi có hai công an kèm hai bên, đem nhốt tù luôn… Họ đưa Ngài về giam tại Cây Vông, Nha Trang. Thành phố Nha Trang nằm trên bãi biển rộng đẹp là cơ sở tiền nhiệm của Ngài.

Thời gian bị giam nơi đây, Ngài thương xót và nhớ đàn chiên của mình ở Nha Trang và ở Saigon đang không người chăn dắt. Hằng ngày nghe tiếng chuông nhà thờ vang lên, hằng đêm nằm cô đơn nghe tiếng sóng biển, Ngài đã khóc khi nghĩ đến thân phận một giám mục trẻ mới 41 tuổi khỏe mạnh và có nhiều kinh nghiệm mục tử mà phải bị giam cầm nơi đây, Ngài nghĩ đến có thể một ngày nào họ sẽ đưa mình đi xa nên Ngài suy nghĩ, mình nên bắt chước Thánh Phaolô viết thư cho giáo dân.

 Hoang mang trong những cảm giác buồn sầu, sợ hãi, căng thẳng lẫn lộn trong tâm hồn, làm cho trái tim tan vỡ, Ngài đang phải chìm trong bóng tối dày đặc của những đêm kinh hoàng đó, Ngài được ánh sáng Chúa Giêsu Kitô soi rọi. Ngài từ từ tỉnh thức:

Tôi phải trực diện với thực tại. Tôi đang bị tù. Nếu tôi chờ đợi lúc nào có thời cơ sẽ làm việc lớn; không biết đời tôi thời cơ sẽ đến được mấy lần! Chỉ có một điều chắc chắn là tôi sẽ chết.

Hãy cướp thời cơ mỗi ngày để thực hiện cách phi thường những việc tầm thường .

 Niềm xác tín đó gây cảm hứng cho lời cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, con sẽ sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương  (trích Chứng nhân Hy Vọng )

 Quá khứ và tương lai không hiện hữu trong cái rời rạc trừu tượng của chúng nên không đạt tới sự vĩnh cửu. Sự vĩnh cửu chỉ quy hướng về giây phút hiện tại và chỉ được trao ban cho những ai hoàn toàn hiện diện vào lúc đó.

Chỉ trong giây phút này, ta mới đạt tới và sống trong hình ảnh của hiện tại vĩnh cửu  (Chứng Nhân Hy Vọng) a: P.Endokimov, Le Eta della Vita Spirituale (Các tuổi trẻ của đời sống thiêng liêng), Bologna 1968 tr.257-258)

Ngài dùng thời gian đó, sống giây phút hiện tại bằng cách viết lại những kinh nghiệm sống đức tin của Ngài để hướng dẫn con chiên của Ngài.

Giây phút hiện tại của Ngài là giây phút hy vọng.

Nhờ vậy ngày nay chúng ta có cuốn Đường Hy Vọng , một cuốn sách với 1001 câu hướng dẫn cách sống đức tin rất thiết thực.

Tại trại giam Cây Vông, anh công an gác cổng, người nào được anh cho phép mới được vào thăm, nhưng trẻ con thì không ai để ý. Có một em bé mỗi sáng đi lễ 5 giờ, cha ngoắc bé vào và dặn, về nhà nói mẹ mua cho cha những bloc lịch cũ nhé. Và từ đó Ngài viết vào ban đêm lên mặt trái của tờ lich cũ, mỗi ngày một tờ. Em bé này đem về cho các anh chị in ra phổ biến. Ngài viết trong một tháng rưỡi. Sau đó họ đưa Ngài cùng các quân nhân bị giam giữ ra ngoài Bắc.

Những giây phút sống hiện tại với tràn đầy yêu thương của Ngài trong mười một năm bị tù, có chín năm biệt giam trong phòng tối, chỉ có một lỗ nhỏ dưới sàn nằm, Ngài đã phải nằm sấp người để lỗ mũi hướng vào lỗ nhỏ đó mà hít thở không khí ngoài trời.

Vậy mà, với tình thương của Thiên Chúa, Ngài có thể thay đổi tâm hồn người khác, đã hoán cải được số đông các cán bộ công an có nhiệm vụ canh giữ Ngài, họ trở nên tốt hơn, họ biết quý trọng người khác. Họ được lãnh nhận tình yêu thương từ Ngài và tình yêu này giúp họ sống an hòa với tù nhân Nguyễn Văn Thuận. (trong tù không ai được gọi là cha Thuận hay linh mục Thuận, mà là tù nhân Thuận) Ngài dạy họ học tiếng Anh, tiếng Pháp, tiêng Nga, và Latin, họ thích thú và vui vẻ lắm.

Trong khi bất cứ ai bị nhốt trong bốn bức tường trại cải tạo cũng đều chờ đợi ngày được trả tự do. Dưới chế độ tàn ác của việt công, tất cả tù cải tạo là những Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những công chức cao cấp của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đều được phe thắng cuộc, việt cộng, bắt đi tù cải tạo. Ai ai cũng sống trong chờ đợi ngày được tự do, về với gia đình vì tất cả đều nghĩ, mình có tội tình gì đâu… Khi mời họ đi trình diện, việt công đã nói chỉ đi có 10 ngày nhưng họ đã đánh lừa tất cả. Có người 10 năm, có người 15 năm chưa ra khỏi cái trại khổ sai cải tạo của họ. Ông xã trưởng nhà tôi, nhờ vì bị thương tích nặng khi làm lao động nên mới hân hạnh, chỉ được khổ sai trong 5 năm ở trại cải tạo. Khi về đến nhà thì chỉ còn da bọc xương và nỗi sợ hãi luôn luôn ám ảnh anh trong giấc mơ, kể cả thời gian sống ở Hải Ngoại mà thỉnh thoảng vẫn mơ thấy mình bị ở tù.

Quá khứ trong tay Thiên Chúa, tương lai thì trong tay quan phòng của Thiên Chúa, chỉ có giây phút hiện tại là thời gian duy nhất hiện hữu  với chính mình, thời gian tràn trề ân sủng của Thiên Chúa.

Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến ngày tận thế .

Thiên Chúa hiện diện ở với, thì ta không thiếu thốn gì. Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu đã sống giây phút hiện tại trong yêu thương thắm thiết.

Thánh Nữ thốt lên: Ôi Giêsu, yêu thương chỉ có giây phút hiện tại .

Thánh Giacôbê: Trong khi các ngươi không biết cuộc đời mình ngày mai sẽ ra sao. Thật vậy, các ngươi chỉ là hơi nước xuất hiện trong giây lát rồi lại tan biến đi  (Gc 4,14)

Nếu ta ý thức được mình Chỉ là hơi nước trong giây lát rồi tan biến đi  thì mình chọn sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương  là tuyệt vời nhất, là ý nghĩa nhất.

Muốn sống giây phút hiện tại chúng ta phải tập ý thứcnhững gì ở trước mặt chúng ta. Nếu những gì ở trước mắt chúng ta và xung quanh chúng ta mà ta không để ý, không hay biết, là ta đang sống không có ý thức.

Ý thức trong giây phút hiện tại là khả năng của đời sống tinh thần và là tinh hoa của đời sống tâm linh.

Khi tôi nấu cơm, nhặt rau mà tôi ý thức mình đang nấu cơm, đang nhặt rau cùng với Chúa Giêsu. Tôi đang trong giây phút hiện tại của tôi. Nói cách khác Thiên Chúa có mặt với tôi, sống một cách trọn hảo trong từng phút giây với tôi.

Sáng thức dậy tôi cám ơn Chúa đã gìn giữ tôi qua một đêm an lành. Làm mọi việc chuẩn bị cho một ngày sống và ý thức rằng mình đang làm việc nên rất an bình và vui.

Cuối ngày tôi làm phút hồi tâm, nhìn lại một ngày xem những gì mình đã làm đẹp ý Chúa, những gì mình nói hay làm sai trái hoặc mất lòng ai thì xin lỗi rồi cám ơn Chúa trước khi đi ngủ.

Ngài luôn hiện diện với tôi trong từng giây phút hiện tại.

Tôi cố gắng sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương  với tất cả trân trọng trong từng ý nghĩ, từng lời nói, từng việc làm trong sinh hoạt hằng ngày.

Nhờ vậy, mỗi khi có lời nói hay cử chỉ phiền lòng ai, tôi nhận ra ngay và có cách sửa sai ngay.

Tôi sẽ luôn cảm nhận niềm vui sâu sắc và bình an trong tâm hồn. Tạ ơn Chúa.

Elisabeth Nguyễn (28.03.2018)

From: tramtubensuoi

THÁNH MARCÔ, THÁNH SỬ

THÁNH MARCÔ, THÁNH SỬ

Thánh Marcô, mặc dù mang tên Roma, nhưng lại là người Do Thái, và còn được gọi theo tên Do Thái là Gioan.  Tuy không thuộc nhóm Mười Hai Tông Đồ, nhưng rất có thể ngài đã quen biết Chúa Giêsu.  Nhiều văn gia Giáo Hội phát hiện ra chữ ký kín ẩn của thánh Marcô trong Phúc Âm của ngài, trong trình thuật người thanh niên bỏ chạy với một mảnh vải trên người, khi Chúa Giêsu bị bắt trong vườn Cây Dầu: ý nghĩa ở đây là chỉ có mình thánh Marcô đề cập đến chi tiết ấy.  Điều này còn trùng hợp với một chi tiết khác: Marcô là con trai bà Maria, một góa phụ giàu có, sở hữu ngôi nhà, nơi các tín hữu Jerusalem tiên khởi thường tụ họp.  Theo một truyền thống cổ xưa, ngôi nhà này chính là ngôi nhà có phòng Tiệc Ly, nơi Chúa Giêsu đã ăn bữa Tiệc Ly và thiết lập bí tích Thánh Thể.

Marcô có bà con với thánh Barnabas; ngài đã đồng hành với thánh Phaolô trong cuộc truyền giáo lần thứ nhất, và ở bên cạnh vị Tông Đồ dân ngoại trong những ngày cuối đời của ngài.  Tại Roma, Marcô còn làm môn đệ của thánh Phêrô.  Trong Phúc Âm của ngài, với ơn linh hứng Chúa Thánh Thần, thánh Marcô đã trung thành trình bày giáo huấn của vị Tông Đồ trưởng.  Theo một truyền thống cổ xưa được thánh Jerome kể lại, sau khi hai thánh Phêrô và Phaolô chịu tử đạo, thánh Marcô đã sang Alexandria, giảng đạo, thành lập giáo đoàn và trở thành giám mục tiên khởi ở đó.  Vào năm 825, thánh tích của ngài được dời từ Alexandria về Venice, thành phố hiện nay nhận ngài làm quan thầy.

  1. Marcô, người phụ tá của thánh Phêrô.

Ngay từ khi còn rất trẻ, Marcô đã thuộc vào nhóm các tín hữu tiên khởi ở Jerusalem, những người quen biết và được sống bên cạnh Đức Mẹ và các Tông Đồ.  Mẹ của ngài là một trong những phụ nữ đã lấy tài sản chu cấp cho Chúa Giêsu và mười hai Tông Đồ.  Marcô cũng có bà con với thánh Barnabas, một trong những nhân vật chính yếu trong thời kỳ đầu, và là người đầu tiên dìu dắt ngài trong công cuộc rao giảng Phúc Âm.  Marcô đồng hành với thánh Phaolô và thánh Barnabas trong hành trình truyền giáo lần thứ nhất, nhưng khi đến đảo Cyprus, Marcô cảm thấy không thể tiếp tục được nữa nên đã từ giã và trở về Jerusalem.  Thánh Phaolô dường như rất thất vọng về tính thay đổi của Marcô.  Về sau, khi trù định cho hành trình truyền giáo lần thứ hai, thánh Barnabas muốn đem theo Marcô, nhưng thánh Phaolô nhất định không chịu vì nhớ lại sự việc trước đó.  Cuộc tranh luận giữa thánh Phaolô và thánh Barnabas căng thẳng đến nỗi sau cùng hai vị đã chia tay, mỗi người tiến hành chương trình của riêng mình.

Khoảng mười năm sau, chúng ta lại thấy Marcô tại Roma, lần này ngài giúp đỡ thánh Phêrô.  Lời thánh Phêrô đã viết trong thư: con tôi là Marcô, minh chứng mối liên hệ lâu bền và gần gũi giữa hai vị.  Thời gian ấy, Marcô là thông dịch viên cho vị Tông Đồ trưởng, việc này đem lại một lợi điểm mà chúng ta nhận ra trong Phúc Âm được ngài viết sau đó ít năm.  Mặc dù không ghi lại một bài giáo huấn dài nào của Chúa, nhưng bù lại, thánh Marcô đã mô tả rất sinh động về những biến cố trong cuộc sống của Chúa Giêsu với các Tông Đồ.  Trong các trình thuật của ngài, chúng ta thấy hiện lên những thị trấn nhỏ ven bờ biển Galilê; chúng ta cảm nhận được những lời bàn tán của đám đông đi theo Chúa Giêsu, chúng ta như thể tiếp xúc với những cư dân của các địa phương ấy, nhìn thấy những việc kỳ diệu của Chúa Giêsu, và những phản ứng tự phát của nhóm Mười Hai.  Tóm lại, chúng ta thấy mình như giữa đám đông dân chúng, được chứng kiến các biến cố Phúc Âm.  Qua những mô tả sinh động, thánh Marcô đã in đậm vào linh hồn chúng ta một hấp lực dịu dàng nhưng không sao cưỡng lại của Chúa Giêsu mà dân chúng và các Tông Đồ đã cảm nghiệm được trong cuộc sống với Thầy Chí Thánh.  Thánh Marcô đã trung thành ghi lại những hồi tưởng thân mật của thánh Phêrô với Thầy Chí Thánh: những ký ức ấy không phai nhòa theo năm tháng, nhưng càng ngày càng sâu đậm và sinh động hơn, càng thấm thía và hứng thú hơn.  Có thể nói Phúc Âm thánh Marcô là tấm gương sinh động về giáo huấn của thánh Phêrô.

Thánh Jerome cho chúng ta biết, theo thỉnh nguyện của các tín hữu Roma, Marcô, môn đệ và thông ngôn của thánh Phêrô, đã viết Phúc Âm theo những gì ngài đã được nghe thánh Phêrô giảng dạy.  Và chính thánh Phêrô, sau khi đã duyệt bản Phúc Âm ấy, đã dùng quyền bính chấp thuận cho sử dụng trong Giáo Hội.  Đây thực sự là sứ mệnh chính trong cuộc đời thánh Marcô: trung thành ghi lại những lời giảng của thánh Phêrô.  Ngài đã để lại cho hậu thế biết bao ích lợi!  Ngày nay, chúng ta thực sự phải mang ơn thánh Marcô vì nhiệt tâm ngài đã đặt vào công việc và lòng trung thành với ơn linh hứng của Chúa Thánh Thần!  Ngày lễ kính thánh Marcô là dịp để chúng ta xét lại việc hằng ngày chúng ta đọc Phúc Âm, lời Chúa nói trực tiếp với chúng ta, như thế nào.  Chúng ta có thể tự hỏi đã bao lần chúng ta đã sống như người con hoang đàng, hoặc áp dụng cho mình lời cầu khẩn của anh mù Bartimaeus: Lạy Chúa, xin cho con được nhìn thấy – Domine, ut videam!  Hoặc lời thỉnh nguyện của người cùi: Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, xin cho tôi được sạch – Domine, si vis, potes me mundare!  Bao lần chúng ta cảm thấy tận đáy lòng rằng Chúa Kitô đang nhìn và mời gọi chúng ta hãy sát bước theo Người, kêu gọi chúng ta hãy vượt thắng một thói xấu nào đó làm chúng ta xa cách Người, hoặc như các môn đệ trung thành, hãy sống nhân ái hơn nữa với những người khó hòa hợp với chúng ta?

  1. Là khí cụ của Chúa, chúng ta phải luôn sẵn sàng thực hiện một cuộc khởi đầu mới.

Thánh Marcô đã giúp đỡ thánh Phêrô nhiều năm tại Roma, ở đó, chúng ta còn thấy ngài phụ giúp thánh Phaolô nữa.  Quả thế, con người mà thánh Phaolô thấy không thể sử dụng trong hành trình truyền giáo lần thứ hai thì nay lại là một niềm an ủi, và là một người bạn trung thành.  Vào khoảng năm 66, thánh Tông Đồ đã viết cho Timothy: Con hãy đem Marcô đi với con, vì anh ấy rất hữu ích cho công việc phục vụ của cha.  Sự kiện đảo Cyprus một thời hết sức ảm đạm, thì nay dường như đã bị quên lãng hoàn toàn.  Giờ đây, thánh Phaolô và thánh Marcô là bạn hữu và đồng sự của nhau trong công cuộc quan trọng là mở rộng vương quốc Chúa Kitô.  Thực sự đây là một tấm gương lớn lao và cũng là một bài học tuyệt vời cho chúng ta học biết: đừng bao giờ kết luận dứt khoát về một ai, khi nào cần thiết một ai, chúng ta hãy biết cách nối lại mối dây thân hữu mà đã có lúc xem như đã tan rã hoàn toàn! 

Giáo Hội hôm nay nêu lên mẫu gương thánh Marcô.  Thật là một hy vọng và ủi an khi chiêm ngưỡng đời sống vị sử gia thánh thiện này.  Mặc dù có những yếu đuối, nhưng chúng ta vẫn có thể như ngài, tin tưởng vào ơn Chúa và sự phù trợ của Mẹ Giáo Hội.  Những thất bại và những hành vi nhát đảm của chúng ta, dù lớn hoặc nhỏ, phải làm chúng ta khiêm tốn hơn, liên kết chúng ta mật thiết hơn với Chúa Giêsu, và kín múc từ nơi Chúa nguồn sức mạnh mà chúng ta đang thiếu thốn.

Chúng ta đừng để những bất toàn nên cớ làm chúng ta xa cách Chúa hoặc từ bỏ sứ mạng tông đồ, mặc dù đôi khi chúng ta đã không đáp ứng đúng mức với ơn Chúa, hoặc chúng ta đã ngần ngại khi được nhờ cậy.  Những hoàn cảnh như thế, nếu có khi nào xảy ra, chúng ta không nên ngạc nhiên, bởi vì như lời thánh Phanxicô Salê đã nói, Không có gì phải ngạc nhiên vì bệnh tật là bệnh tật, yếu đuối là yếu đuối, và gian ác là giac ác.  Tuy nhiên, hãy hết sức gớm ghét điều bạn đã xúc phạm đến Chúa, và với lòng tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa, hãy quảng đại quay lại con đường mà bạn đã từ bỏ.  

Những thất bại và những hành vi nhát đảm rất quan trọng.  Chúng khiến chúng ta trở về bên Chúa để nài xin ơn tha thứ và trợ giúp của Người.  Nhưng Chúa vẫn tin tưởng chúng ta, và chúng ta vẫn cậy trông ơn Chúa, nên chúng ta hãy lập tức làm lại và quyết tâm trung thành hơn trong tương lai.  Với ơn phù trợ của Đức Mẹ, chúng ta sẽ biết cách rút ra điều hữu ích từ những yếu đuối, nhất là khi kẻ thù, những kẻ không bao giờ nghỉ ngơi, ra sức làm chúng ta thất đảm và từ bỏ cuộc chiến.  Chúa Giêsu muốn chúng ta thuộc về Người mặc dù chúng ta đã có một lịch sử yếu đuối với những sai phạm.

  1. Sứ vụ tông đồ.

Hãy đi khắp thế gian và rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo.  Hôm nay, chúng ta đọc những lời này trong Ca Nhập Lễ.  Đây là sứ vụ tông đồ Chúa đã ban và thánh Marcô đã ghi lại.  Về sau, được ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, thánh nhân đã minh chứng lệnh truyền ấy đã được thực hiện khi ngài chép Phúc Âm: Các tông đồ ra đi và rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố tin mừng bằng những phép lạ kèm theo.  Đó là những lời thánh Marcô kết thúc Phúc Âm của ngài. 
Thánh Marcô đã trung thành với sứ vụ tông đồ mà ngài đã nghe qua lời giảng của thánh Phêrô: Hãy đi khắp thế gian.  Chính thánh Marcô và Phúc Âm của ngài đã là một thứ men hiệu quả cho thời đại ngài.  Chúng ta cũng phải trở nên một thứ men tốt cho thời đại chúng ta.  Nếu sau lần nhát đảm, thánh nhân đã không khiêm nhượng và dũng cảm làm lại, có lẽ giờ đây chúng ta không có những kho tàng lời giảng và việc làm của Chúa Giêsu để thường xuyên suy gẫm, và nhiều người, nếu không nhờ ngài, chắc cũng chẳng bao giờ biết được Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ của nhân loại.

Sứ mạng của thánh Marcô – cũng như của các Tông Đồ, của các nhà truyền giáo, của các tín hữu tốt lành luôn ra sức sống đúng với ơn gọi của mình – chắc chắn không phải là một sứ mạng dễ dàng.  Chúng ta biết ngài đã chịu tử đạo.  Ắt hẳn thánh nhân đã trải qua kinh nghiệm chịu bách hại, mệt mỏi, và hiểm nguy trong việc theo bước Chúa.

Chúng ta hãy cám tạ Thiên Chúa, cũng như các tín hữu thời các Tông Đồ, vì sức mạnh và niềm vui Chúa Kitô đã được truyền lại đến ngày nay cho chúng ta.  Mọi thế hệ Kitô hữu, mọi cá nhân đều được mời gọi lãnh nhận sứ điệp Phúc Âm và truyền thụ lại cho người khác.  Ơn Chúa không bao giờ thiếu: Non est abbreviata manus Domini – Cánh tay Chúa không bị thu ngắn.  Người tín hữu biết Chúa đã thực hiện các phép lạ từ nhiều thế kỷ trước kia, và hiện nay Người vẫn đang thực hiện.  Với ơn Chúa giúp, mỗi người chúng ta cũng sẽ thực hiện những phép lạ nơi tâm hồn thân nhân, bạn bè, và những người quen biết, nếu chúng ta sống trong mối kết hợp với Chúa Kitô qua lời cầu nguyện.

****************************** *******

Lạy Chúa là Thiên Chúa của chúng con,

Có rất nhiều điều trong chúng con đã che lấp lời của Chúa

Và ngăn trở chúng con trở thành Giáo Hội thật sự của Chúa.

Hôm nay, chúng con cầu xin Chúa:

Xin hãy gọi chúng con, như Chúa đã gọi Máccô xưa kia,

Để chúng con nói và sống Lời Chúa.

Xin Chúa hãy linh ứng chúng con qua Chúa Thánh Thần

Và xin hãy dạy chúng con sống trong hy vọng

Rằng vương quốc của Chúa sẽ đến

Và ở lại giữa chúng con

Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con

Bây giờ và muôn đời.

 

Sưu tầm

HOẠNH TÀI

 

HOẠNH TÀI

Người ta nói của hoạnh tài là thứ của cải lấy không của kẻ khác. Cướp giết người để cướp lấy tài sản về mình là hoạnh tài. Gài bẫy để lấy tiền nạn nhân là của hoạnh tài. Lừa gạt lòng tin người dân lấy sạch tiền của họ bỏ trốn, người ta gọi là của hoạnh tài. Ở đâu có của hoạnh tài, ở đó có bất công.

Trong dân gian có câu nói “bạo phát thì bạo tàn”. Có nghĩa là dùng những thủ đoạn bất chính để hốt những thứ không thuộc về mình để có sự phát tài đột biến thì đó là bạo phát. Hậu bạo phát là sự trả sạch những thứ hoạnh tài một cách nhanh chóng người ta gọi là bạo tàn hay gọi là hoạnh tử. Đã hoạnh tài thì ắt hoạnh tử đấy là những gì dân gian đúc kết được. Cái bạo tàn có khi là sự vong mạng. Từ kinh nghiệm dân gian, người ta kết luận cái bạo phát là do nhân thì bạo tàn là do thiên, con người cướp thì trờ sẽ lấy lại.

Của cải của quan chức CS toàn là của hoạnh tài. Tất cả tài sản như nhà trăm tỷ, tiền con cái du học, tiền mua nhà Mỹ, tiền mua thẻ xanh, tiền gởi ở các tài khoản ngân hàng nước ngoài vv.. đều là tiền tước đoạt từ xương máu hàng triệu đồng bào mà ra.

Người nghèo bị bệnh không có tiền chữa trị phải về nhà nằm chờ chết. Bà mẹ khổ quá bảo con đập chết mình đi cho thoát khỏi kiếp trần ai. Những mạng sống này phải chết đi cho quan đầy túi, vì nếu không bị tham nhũng, số tiền đó đã có thể xây dựng một hệ thống y tế miễn phí cho dân nghèo. Thay vì cứu mạng dân nghèo, thì số tiền đó lại chui vào các biệt phủ, cách căn nhà bên Mỹ, các tài khoản ở ngân hàng Thụy Sỹ. Đồng tiền của quan chức nó chứa máu, nước mắt và cả mạng sống dân trong đó.

ĐCS, một đảng đang sống trên khối tài sản còm cõi của dân. Dân gần trăm triệu phải nghèo đi để nuôi vài vạn thằng quan chức ăn trên ngồi trốc. 73 năm, cướp có, giết có và đẩy đưa toàn dân đến đói nghèo để những người CS ngày một giàu khủng. 73 năm là thời gian quá dài với một đời người, các thế hệ CS vẫn chưa trả giá. Do đâu mà chúng nó bạo phát nhưng chưa bạo tàn? Do cái chủ thuyết của Lenin quá ác làm dân sợ. Mà dân càng sợ thì CS càng bền. Không biết ơn Lenin sao được? Nếu không có chủ thuyết này thì bọn họ làm sao giàu như ngày hôm nay? Nếu không có chủ thuyết này thì làm sao có triệu đô này đến triệu đô khác tự rót vào túi?

Và như là điều tất nhiên, tựa con bạc cầu cơ trúng số làm mâm cơm tạ ơn hồn ma đã mang lại tiền từ trên trời rơi xuống, thì những người CS cũng thế, họ xếp hàng và tạ ơn vong hồn ác quỷ Lenin đã mang lại cho họ nguồn tiền vô tận mà không phải trả giá cho cái ác. Đấy là lý do cả đám đến tượng đài Lenin thành kính dâng hương. Chúng ta khổ chúng ta kinh tởm con người Lenin và chủ thuyết tà ác của ông ta, nhưng người CS thì ngược lại.

CS chưa trả giá, nhưng chắc chắn phải trả. Có một triều đại tàn bạo với nhân dân nào mà tồn tại được bền lâu? 73 năm so với đời người thì quá dài, nhưng so với một triều đại của lịch sử thì ngắn ngủi thôi. Liên Xô và đông Âu đã từng bạo phát và có lúc kèn cựa với thế giới tự do. Nhưng cái bạo tàn của nó đã được chứng thực bằng sự đổ nhào nhanh chóng của những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước. CSVN lẽ nào ngoài quy luật?

CHUNG THỦY (FIDELITY)

 

CHUNG THỦY (FIDELITY)

Trần Mỹ Duyệt

  Anh (em) nhận em làm vợ (chồng), và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em (anh), khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng nhu lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em (anh) mọi ngày suốt đời anh (em)”.

Trên đây là giao ước hôn phối mà hai người Công Giáo trao cho nhau trước sự chứng kiến của linh mục, hoặc một phó tế trong ngày thành hôn, cũng như trước cộng đoàn giáo dân trong thánh lễ thành hôn. Lời hôn ước này là một giao ước vĩnh viễn và bất khả phân ly: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mac 10:9). Điểm chính của nó là sự chung thủy. 

 CHUNG THỦY LÀ GÌ?

Chung là cuối. Thủy là khởi đầu. Chung thủy tức là từ lúc đầu đến lúc cuối. Từ khởi điểm đến hoàn thành. Một số những định nghĩa thông thường mà chúng ta vẫn nghe về chung thủy như:

Thủy chung: Trước sau vẫn một lòng, vẫn có tình cảm gắn bó không thay đổi (Từ Điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức).

Fidelity: Sự, lòng trung thành, thành thật, chân thành, trung trực, trung tín. (English-Vietnamese Dictionary.  Anh-Việt Từ-Điển, Nhà sách Khai Trí, xuất bản lần thứ tư).

Fidelity: loyalty to your wife, husband, or partner by not having sex with other people. (Longman Dictionary of American English, New Edition).

Như vậy, dù xét theo ý nghĩa tôn giáo, ý nghĩa của văn hóa, xã hội, hoặc ý nghĩa của tâm lý thì trong hôn nhân để giữ được lòng chung thủy, người ta không được ngoại tình, không được ly dị, và chỉ dành tình yêu, tình cảm, nghị lực và con người của mình cho một người mình yêu, mà người đó là vợ hay chồng của mình. Ngoại tình dù là trong tư tưởng hay hành động đều được coi là không chung thủy, không trung thành, và không thành thật với nhau: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.”(Mt 5:27-28)

GIỮ LÒNG CHUNG THỦY DỄ HAY KHÓ?

Một người chồng trung niên thành công và có sự nghiệp. Trong văn phòng và dưới quyền anh có nhiều thiếu nữ trẻ, đẹp, duyên dáng, và nhất là luôn làm theo ý anh. Bỗng một ngày, anh nhận ra rằng mình đã có tình cảm và tình ý với một trong những nhân viên xinh đẹp ấy. Anh biện minh cho hành động của mình rằng anh vẫn là người chồng tốt, người cha có trách nhiệm. Anh không có ý bỏ vợ anh, và anh không muốn làm đau khổ cho các con anh. Anh chỉ hành động bình thường trong tư cách lịch sự, xã giao, và nếu có thì chỉ hơi một chút thân mật thôi. Anh là giám đốc, anh có quá nhiều sức ép của xã hội, của công ăn việc làm, nên anh cần một người hiểu anh để có thể chia sẻ với anh. Những điều đó gần đây anh không tìm thấy nơi vợ của anh.   

Và một câu chuyện khác mang ý nghĩa tương tự. Người đàn ông kia một ngày nọ đã khám phá ra những dấu hiệu ngoại tình c̉ua vợ. Anh hỏi vợ, và chỉ được một câu trả lời đơn giản: “Đó chỉ là quen biết thông thường. Sự quen biết của hai người cùng một ngành nghề và trong cùng một sở làm. Một tình cảm trong sạch.” Nhưng khi người chồng hỏi thêm về tình cảm trong sạch ấy thì người vợ luôn tìm cách tránh né, làm thinh hoặc cáu giận và cho là chồng không tin mình.

Những trường hợp như vậy vẫn thường xảy ra trong cuộc sống hôn nhân của nhiều người, không phân biệt tuổi tác, thành phần xã hội, nghề nghiệp, học vấn, thành công hay thất bại. Đó là hành động ngoại tình, là không chung thủy, là phản bội tình yêu của nhau. Nhưng như một hậu quả đắng đót, là đàng sau những gian díu tình cảm, những yêu thương vụng trộm kia vẫn không khỏa lấp được trách nhiệm và lời thề chung thủy: “Dù nước đại dương cũng không thể cuốn trôi được tình yêu” (Diễm Tình Ca 8:7).

Theo tâm lý học, con người tìm kiếm tình yêu đích thực và trường cửu, và điều này nói lên sự trung tín của tình yêu, bởi vì tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa. Dan Gilbert, nhà tâm lý học thuộc Đại Học Harvard tác giả của tác phẩm “Vấp Ngã Trên Hạnh Phúc” (Stumbling on Happiness), đã thực hiện một khảo cứu trong đó hai nhóm người tham dự được chọn một trong hai cách thức thực hành một chủ đề. Nhóm đầu bị bó buộc phải trung thành với chọn lựa của mình, trong khi nhóm thứ hai có quyền thay đổi. Kết quả là những người trong nhóm thứ nhất cảm thấy hạnh phúc, vì đã trung thành với quyết định. Ngược lại những người trong nhóm thứ hai cảm thấy bất mãn về sự thay đổi.

Vẫn biết chung thủy dù xét theo ý nghĩa tâm linh hay ứng dụng của tâm lý là một bảo đảm của hạnh phúc, của tính bền vững trong hôn nhân, nhưng giữ được chung thủy vẫn luôn luôn là một điều khó, nhất là khi đã có những rạn nứt, những khủng hoảng đến từ người chồng hay người vợ.

LÀM SAO ĐỂ GIỮ ĐƯỢC LÒNG CHUNG THỦY

“Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Để khi mình hoặc người phối ngẫu vướng vào những cám dỗ của ngoại tình, của phản bội rồi mới tìm cách chữa trị e rằng rất khó. Cách tốt nhất vẫn là đề phòng và ngăn ngừa. Nhưng làm thế nào để đề phòng cho mình cũng như người phối ngẫu trước những thử thách hầu duy trì được một tình yêu bền vững, chung thủy.  

1. Biết mình muốn gì:

“Biết người biết ta trăm trận trăm thắng”. Binh pháp Tôn Tử dạy “Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách thắng”. Trong giao tế thường ngày với những người chung quanh, đặc biệt, những người khác phái tính luôn luôn đòi hỏi sự tinh tế, và tế nhị. Xàm xở, lẳng lơ, hoặc buông thả là một trong những lý do rất dễ đưa đến ngoại tình.

Sự biết mình và biết người ở đây còn áp dụng ngay giữa tương quan vợ chồng trong đời sống hôn nhân thường ngày. Tình yêu không phải là một phép mầu cho phép chúng ta có thể biến hóa mọi thứ theo ý mình, nhưng là một ân sủng, và duy trì được tình yêu là một nghệ thuật. Không phải hễ bước vào hôn nhân là tự nhiên sẽ yêu nhau, và yêu nhau mãi mãi, sẽ không làm nhau buồn chán, hoặc buồn chán vì nhau. Nó đòi hỏi một ý thức và hiểu biết rõ ràng mình là ai? Mình muốn gì? Và mình làm gì giữa mối tương quan ấy. Dù đã kết hôn bao lâu đi nữa, thì tình cảm và lối đối xử của cái “thuở ban đầu lưu luyến ấy”, vẫn là những gì người chồng hoặc người vợ muốn có nơi người phối ngẫu, mặc dù cách ứng dụng có thay đổi theo thời gian.

2. Tâm lý nhàm chán:

Làm mới lại tình yêu. Tình yêu không bao giờ già, không bao giờ nhàm chán, nhưng cách thức vợ chồng hành sử và đối đãi với nhau làm cho tình yêu trở nên già nua, nhàm chán. Tâm lý nhàm chán là một tâm lý rất thực tế trong tình yêu, tình bạn, hoặc ngay trong việc giữ gìn một đồ vật. Người Việt Nam gọi tâm lý này là: “Có mới nới cũ”. Khi người ta có những cơ hội trước mặt, có những điều kiện thuận tiện, và có những đối tượng sẵn sàng đáp ứng sự thiếu thốn tình cảm, thì tâm lý nhàm chán chính là lý do thúc đẩy đi tìm những gì mới hơn, lạ hơn, và hợp với mình hơn. Và khi đã có cái mới, người ta bắt đầu chán bỏ cái cũ.

Tuy nhiên, tâm lý nhàm chán không phải luôn luôn xảy ra khi một đối tượng khiến cho mình cảm thấy nhàm chán. Đôi khi do chính thái độ ham của lạ, thích cái mới phát xuất từ tâm lý thiếu trưởng thành của một người lại chính là động lực dẫn đến những thay đổi, mặc dù trong nhiều trường hợp sự thay đổi ấy không hẳn là tốt hơn, đẹp hơn, và giá trị hơn chính cái mình đang có.

Như vậy, người vợ cũng như người chồng đều phải luôn tìm kiếm những cơ hội thuận tiện để làm mới mẻ lại tình yêu. Một trong những cách đó là đọc sách, học hỏi, tham gia những buổi hội thảo, những dịp hồi tâm, những khóa huấn luyện. Một quan niệm rất chủ quan và thiếu trưởng thành ở đây là tự cho mình biết hết tất cả, hiểu hết tất cả. Chỉ có những ai không có hạnh phúc, hoặc gia đình gặp trở ngại mới cần đến những phương tiện này. Dưới cái nhìn văn hóa thì tình yêu là một nghệ thuật. Học hỏi, tìm hiểu luôn luôn là những cơ hội tốt để tăng thêm và làm giầu cho nghệ thuật yêu đương. 

3. Xa chước cám dỗ:

“Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ”. Lời cầu mà Chúa Giêsu đã dậy chứng tỏ rằng cám dỗ luôn luôn có đó. Và cám dỗ là những gì mà con người phải cố gắng xa tránh đừng để mình mắc phải. Bởi vì bản tính con người là yếu đuối, mà cám dỗ thì lại rất thu hút, và có mãnh lực chi phối ngay cả đối với những người tưởng mình là vững vàng.

Hình ảnh của cám dỗ, nhất là cám dỗ về sự thất trung, thay đổi, và phản bội trong hôn nhân được người xưa ví như yếu tố của củi lửa: “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Trong hôn nhân yếu tố củi lửa này chính là bản năng và những ham muốn dục vọng. Môi trường, hoàn cảnh là những chất xúc tác khiến cho củi lửa bén mau hơn. Do đó, cách tốt nhất để tránh khỏi phải sa vào chước cám dỗ của ngoại tình là phải biết tự mình xa tránh nó.

Trong áp dụng thực hành, để người chồng hoặc người vợ khỏi rơi vào những cám dỗ thì người phối ngẫu phải làm gì? Dĩ nhiên, không được đẩy người phối ngẫu mình ra khỏi vòng tay yêu thương của mình, bằng những thái độ, cử chỉ và lối sống bảo thủ, ươn lười hoặc bất cần. Cái nguy hiểm ở đây chính là một khi người yêu đã vuột khỏi tầm tay mình thì tìm cách kéo lại là một điều rất khó, và rất vất vả.      

4. Biết ơn và tha thứ:

Anh còn nợ em . Công viên ghế đá. Lá đổ chiều êm.

Anh còn nợ em. Dòng xưa bến cũ. Con sông êm đềm.

Anh còn nợ em. Chim về núi nhạn.Trời mờ mưa đêm.

Anh còn nợ em nụ hôn vội vàng. Nắng chói qua song.

Anh còn nợ em. Con tim bối rối. Anh còn nợ em.

Và còn nợ em. Cuộc tình đã lỡ. Anh còn nợ em.

(Anh Còn Nợ Em. Nhạc Anh Bằng, thơ Phan Thành Tài)

Có bao giờ chúng ta nghĩ rằng khi bước vào tình yêu là chúng ta mang nợ nhau nhiều lắm không? Nợ những buổi chiều mơ màng, lãng mạn ngồi bên nhau. Nợ những nụ hôn vội vàng khiến cho tim mình, tim em, tim anh bối rối. Và nợ những giận hờn, những lãng quên để in sâu vào lòng nhau những kỷ niệm của một lần mới yêu nhau.

Nhưng hơn tất cả, và trên tất cả là nợ một lời thề, một giao ước để tự trói buộc vào cuộc đời của nhau. Một giao ước tự do, nhưng rất linh thánh. “Anh (em) nhận em làm vợ (chồng), và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em (anh”.

 Rút ra từ cảm nhận về món nợ ấy, vợ chồng cần phải tha thứ và chấp nhận nhau. Để duy trì được tình yêu trong sáng và chung thủy, vợ chồng cần phải đọc hoặc hát cho nhau nghe, và chia sẻ với nhau lời Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô đã được nhạc sư Kim Long viết thành ca khúc bất hủ, trong đó có những ứng dụng thực hành rất tâm linh mà cũng rất tâm lý:

 Lạy Chúa xin hãy dạy con:
Tìm an ủi người hơn được người ủi an,
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết,
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.
Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh,
Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân,
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ,
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

5. Đối thoại và chia sẻ:

Đây là điểm tâm lý thực hành rất cần thiết trong hôn nhân để giúp vợ chồng hiểu nhau, yêu nhau, và có thể tha thứ cho nhau cũng như chịu đựng lẫn nhau.

Không chỉ trong lãnh vực tình yêu, đối thoại để dẫn đến cảm thông là một qui tắc ứng xử hữu hiệu giúp giải quyết mọi khó khăn trong cuộc sống. Dù là vợ chồng với nhau ta cũng vẫn không nắm chắc là đã hiểu được nhau. Những khác biệt về tâm sinh lý, thể lý, văn hóa, giáo dục, nghề nghiệp, tâm linh… luôn luôn là những rào cản khiến nhiều lúc vợ chồng không hiểu và thông cảm được với nhau. Thành kiến tiêu cực nhưng rất tác hại cho tình nghĩa vợ chồng là quan niệm về “khắc khẩu”. Không cần biết phải trái, lý lẽ, nhiều cặp vợ chồng hễ mở miệng nói chuyện là bắt đầu tranh cãi, và cái lý do sau cùng để thỏa mãn nhu cầu tranh cãi ấy là “khắc khẩu”. Thầy bói nói vậy. Nhà tướng số nói vậy. Ông thầy tử vi nói vậy. Giữa tôi và cô có tướng khắc khẩu.

Trong tự điển hôn nhân, ta phải gạc bỏ hai chữ “khắc khẩu”. Bởi vì không có việc khắc khẩu mà chỉ vì hai vợ chồng không hiểu nhau, mà nguyên nhân ấy bắt nguồn từ sự thiếu lắng nghe và chia sẻ. Người ta chả tìm thấy hai chữ khắc khẩu trong những câu chuyện lúc mới quen nhau. Lúc đó người ta nói với nhau bằng tiếng nói con tim. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI viết trong Caritas in Veritate: “Sự thật là… đối thoại và đối thoại”.  Chúng ta cần những cuộc đối thoại trong yêu thương để duy trì và làm phong phú tình yêu giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ chồng, và giữa mọi thành viên trong gia đình.

6.Với Chúa:

“Gia đình cầu kinh. Gia đình bền lâu”. Khi hôn nhân gặp khó khăn, và đời sống hôn nhân gặp thử thách chúng ta cần phải suy nghĩ và hỏi mình: “Bình rượu tình yêu của tôi và của chúng tôi có còn hay đã hết!”

Đây là câu chuyện của Thánh Kinh, câu chuyện cho tất cả mọi cuộc tình, mọi đời sống hôn nhân. Đó là trong lúc chúng ta đang vui vẻ, thì chính là lúc chúng ta không ngờ: Bình rượu tình yêu của chúng ta đã cạn: “Họ hết rượu rồi!” (Whenthe wine ran out, Jesus’ mother said to Him, “They have no more wine.” (Gioan 2:3)

Để tình yêu ngày càng thêm phong phú, để hạnh phúc lứa đôi được bền chặt, và để lời thề thủy chung được bảo đảm, vợ chồng cần phải có thời giờ cho nhau, và dĩ nhiên, cũng phải có thời giờ với Thiên Chúa. Hàng ngày hãy dâng lên Thiên Chúa những lời cầu mà Thánh Têrêsa Calcutta đã dậy: “Xin hãy biến đổi gia đình chúng con thành một gia đình Nazareth khác, nơi mà bình an, hoan lạc và yêu thương ngự trị”.

Nguyen Kim Bang gởi