
Nóng: Hé lộ khối tài sản khổng lồ của ông Tất Thành Cang


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)

NHỮNG CON SỐ … LỊCH SỬ.
Giao Chỉ, San Jose
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 , tất cả quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đều trở thành đối tượng của “chế độ lao động cải tạo”, một chính sách do cộng sản Việt Nam du nhập từ Trung cộng và được tôi luyện từ miền Tây Bá Lợi Á của thiên đường Sô viết.
Tài liệu của Viện Bảo TàngViệt Nam tại San Jose ghi nhận số lượng tù cải tạo như sau:
– Năm 1975 QLVNCH có 980.000 quân nhân gồm 1/10 cấp Tá và cấp Tướng tổng cộng 9.600, cấp úy là 80.000, còn lại là hạ sỹ quan và binh sĩ.
– Cấp Tướng tại ngũ đến 30 tháng 4 năm 75 là 112; bị tù cải tạo: 32 vị, 80 tướng lãnh di tản và 1 số nhỏ không bị bắt giam.
– Ðại tá có 600, bị tù 366.
– Trung tá có 2.500, bị tù 1.700.
– Thiếu tá có 6.500, bị tù 5.500.
– Cấp úy có 80.000, bị tù 72.000. Trong số này bao gồm cả nữ quân nhân cũng như thành viên đảng phái và các cấp chính quyền.
Ðây là con số ghi nhận được từ phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, không có tài liệu của các trại giam phía cộng sản để đối chiếu; và không có con số chính xác tù cải tạo bị chết trong khi giam cầm.
Ghi chú: Tất cả danh từ “cải tạo” thực sự đều là tù chính trị.
NHỮNG NGƯỜI TÙ KHÔNG ÁN
Không kể thành phần bị bắt trước 1975 nhưng không được trao trả tù binh sau 1973, thì thời gian tù “cải tạo” kéo dài từ 1 năm đến 17 năm. Từ 1975 đến 1992.
Năm 1988 gần như là năm cuối cùng, hầu hết tù được trả tự do.
Suốt 4 năm tiếp theo chỉ còn lại 120 tù bị giam tại Z30D gọi là Trại Thủ Ðức tại Hàm tân. Trong số này có 9 vị tướng lãnh. Ðại tá Phạm Duy Khang khóa 6 Võ bị, làm thư ký Trại còn nhớ tên từng người. 4 Thiếu tướng: Lê Minh Ðảo, Ðỗ kế Giai, Trần Bá Di, Nguyễn Ngọc Sang, và 5 Chuẩn Tướng: Lê Văn Thân, Hoàng Lạc, Mạch Văn Trường, Trần Quang Khôi, Phạm Duy Tất.
Cấp Ðại tá có 22 người, 20 thiếu tá và các thành viên cảnh sát, đảng phái.
Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai tả lại quang cảnh khi tất cả mọi người được thả hết chỉ còn mấy ông Tướng. Trại Hàm Tân hoàn toàn vắng lặng. Cộng sản cho xe chở 5 ông tướng về chuyến cuối cùng. Vì đường đi thuận tiện, xe về Saigon đến nhà các vị Tướng khác hết 1 vòng, Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai là người về sau cùng. Ông bước xuống xe, tâm trạng thực băn khoăn khó tả. Tù vừa tròn 17 năm. Những ông tướng khác vềtrước ông chừng nửa giờ nên tướng Giai là người sau cùng, theo ý nghĩa tiêu biểu của lịch sử.
Hỏi chuyện ngục tù, ông Giai nhắc lại câu danh ngôn của người xưa: “Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng“ (Tướng quân thua trận, không thể nói mạnh).
Lại hỏi rằng, suốt thời kỳ 17 năm có thấy cộng sản hay thế giới tự do vào quay phim hay chụp hình để bây giờ có thể đi tìm dấu tích của những năm dài “cải tạo”; vị chỉ huy trưởng binh chủng Biệt động quân cho biết, dường như chẳng thấy gì.
NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN:
1975 : Hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị cộng sản tập trung “cải tạo”.
1980 : Sau 5 năm tranh đấu, dư luận Mỹ và thế giới áp lực Hà Nội phải thả tù .
1982 : Tại Pháp, Phạm văn Ðồng, Thủ tướng Hà Nội thách thức sẽ trả tự do nếu Mỹ nhận hết tù cải tạo.
1982 : Ngoại trưỡng Mỹ điều trần tại Quốc hội cho biết sẽ nhận 10.000 tù chính trị Việt Nam và gia đình.
1985 : Lần đầu tiên, cơ quan IRCC, Inc. tại San Jose nhận được 1 video tape do phóng viên tự do Hoa Kỳ quay tại Việt Nam. Trong đó có ba đoạn hết sức đặc biệt:
1) Phi công Việt Nam Cộng Hòa, vừa được tự do
2) Vợ con tù thăm nuôi tại Hàm tân;
3) Ban văn nghệ của Trại Hàm Tân;
4) Phỏng vấn 1 người tù cụt chân cấp Thiếu tá.
1985 : Hoa Kỳ và Việt Nam gặp nhau tại New York bàn về việc thả tù cải tạo.
1987 : Lần đầu tiên nhà báo Thụy Ðiển được vào làm phóng sự tại Trại Nam Hà, tiếp theo Hà Nội bắt đầu chuyển thêm tù cải tạo vào Nam và trả tự do từng đợt .
Tháng 7 năm 1988 : Phái đoàn Funseth đi Hà nội họp về việc nhận tù cải tạo.
Tháng 8 năm 1988 : Hà Nội đơn phương loan báo đình chỉ việc thảo luận.
Tháng 1 năm 1989 : Lần đầu tiên Hồng thập tự Hoa Kỳ được phép gửi quà cho tù “cải tạo”.
Một chiến dịch gửi quà được phát động tại hải ngoại .
Tháng 4 năm1989 : Phái đoàn Quốc hội Cali về Việt Nam thảo luận về đề tài xã hội và tù “cải tạo”. Có các thành phần tỵ nạn Việt Nam cùng đi. Ðại diện IRCC trách nhiệm tiểu ban tù chính trị. Phái đoàn yêu cầu trả tự do cho Võ Ðại Tôn. Phỏng vấn thu thanh Phan Nhật Nam vừa được tự do tại Saigon.
Tháng 6 tháng 1989 : Thượng viện Mỹ tuyên bố yêu cầu Hà Nội trả tự do cho tù “cải tạo” và Hoa Kỳ sẽ đón nhận .
Tháng 7 năm 1989 : Phái đoàn Hoa kỳ về Việt Nam ký thỏa ước nhận định cư tù “cải tạo”
Tháng 8 tháng 1989 : Báo San Jose Mercury News gửi phóng viên về Saigon làm một loạt bài phỏng vấn “tù cải tạo” sắp ra đi có gia đình chờ đợi tại San Jose.
Tháng 1 tháng 1990 : 15 gia đình H.01 đi chuyến đầu tiên đến phi trường San Francisco, có 4 gia đình về Bắc Cali. 11 gia đình chuyển tiếp đến các tiểu bang khác và Quận Cam
Tháng 8 năm1993: Ðại tá Phạm Duy Khang, sau 17 năm tù đã trở về đợt sau cùng với 120 người. Ông đến San Jose và dự lễ thượng kỳ ngày 8/8/1993 .
Sau đó các đợt HO bổ túc và chương trình đoàn tụ gia đình HO lần lượt tiếp diễn suốt 15 năm từ 1994 đến 2009. Cho đến tháng 4 năm 2009 vẫn còn gia đình thuộc diện “tù cải tạo” đến Hoa Kỳ.
NHỮNG THIÊN ANH HÙNG CA
Trước năm 75, Miền Nam xây dựng hai nền cộng hòa đã tồn tại hết sức hào hùng qua hai chiến dịch tấn công của địch. Chúng ta đã đứng vững trong trận Mậu Thân 68 và vượt qua trận mùa hè 72.
Sau 1975 miền Nam thất thủ nhưng vẫn còn ghi thêm hai thiên anh hùng ca bất tử.
Người chiến sĩ sống còn sau trận “cải tạo” và toàn dân miền Nam thành công với những chuyến đi của thuyền nhân tỵ nạn.
Chúng tôi đã có bài viết về thuyền nhân và riêng bài này xin dành cho câu chuyện tù “cải tạo”. Lần lượt đã kể ra những con số lịch sử, những người tù không án, những ngày tháng không quên, những dữ kiện tuy khô khan cằn cỗi nhưng chính là máu xương của một đạo quân, của một thể chế dân chủ không còn nữa.
Từ những con số này chúng ta hãy đi tìm nhân chứng và thu hồi di sản dành cho trang sử gửi thế hệ tương lai.
ÐI TÌM NHÂN CHỨNG
Trong số muôn vàn lãnh vực, xin đưa ra một vài thí dụ để chứng minh về câu chuyện tù “cải tạo.” Trong hơn 10 năm tù đày, người tù Miền Nam đã sáng tạo biết bao di vật để dùng và để làm quà kỷ niệm gởi cho mẹ, cho vợ, cho con. Chúng tôi cần những di vật đó. Chúng tôi đã có, nhưng chưa đủ.
Thư từ là những liều thuốc thần diệu đểngười tù nhờ đó mà sống trong hy vọng. Chúng tôi cần giử lại những lá thư của tình yêu, bằng hữu và gia đình. Chúng tôi đã có, nhưng chưa đủ.
Chúng tôi thường nghe nói khi người cha đi tù, thì mẹ đi bán thuốc lá bên lề đường. Khi cha về phải đi đạp cyclo. Trong suốt 20 năm, chúng tôi đi tìm những tấm hình như thế nhưng không có. Cho đến năm 2008 mới tình cờ có được các hình ảnh quý giá. Nhưng vẫn còn đón chờ thêm các tài liệu tương tự.http://www.take2tango.com/MyFiles/image/News/05-2009/Tuan%2010/NhanChung-04.jpg
Chúng tôi được biết có nhiều gia đình cả hai vợ chồng đều đi tù cải tạo. Cả cha con đều bị tù và nhiều anh em một nhà cùng chung số phận. Chúng tồi còn cần thêm những sử liệu như thế.
CAN TRƯỜNG TRONG CHIẾN BẠI
Vị tướng hải quân vùng một, phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại có xuất bản một tác phẩm hồi ký. Ông lấy câu chuyện đứt phim 1975 để đặt tựa cho cuốn sách. Tình cờ chúng tôi có được tấm hình chụp hai chiến binh của sư đoàn 3 bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị bắt làm tù binh tại Quảng Trị khi Cộng quân tấn công 1972. Hình này nằm trong bộ sưu tầm độc đáo của một phóng viên Anh quốc.
A wounded ARVN in pain beside another prisoner at fire base QuangTri overrun by NVN, March 1972 (Another VietNam, Tim Page Colection). http://www.take2tango.com/MyFiles/image/News/05-2009/Tuan%2010/NhanChung-05.jpg
Hai chiến binh Cộng Hòa bị địch quân giải về khu tập trung tù binh bên kia biên giới và một phóng viên của cộng sản Hà Nội đã chụp được tấm hình chân dung bất hủ xứng đáng gọi là “Can trường trong chiến bại”. Khuôn mặt người lính số 2 dựa vào người chiến binh số 1., Anh số 1 có thể là sĩ quan. Anh sỹ quan trẻ này bị thương ở tay còn băng bó, mặt còn mang dấu của các mảnh trái pháo, ánh mắt buồn bã nhưng vẫn đầy vẻ bất khuất.
Suốt đời tôi, chưa bao giờ nhìn thấy một gương mặt đầy ẩn dụ như vậy.
Bài viết sẽ đăng kèm tấm hình độc đáo này. Giờ này anh ở đâu?
Trên tài liệu DVD do IRCC, Dân Sinh và Viện Bảo Tàng San Jose sẽ phát hành ngày quân lực 2009, chúng tôi phổ biến rộng rãi để nhắn tin đến bốn phương trời ngõ hầu tìm cho được người lính chiến bại có nét mặt can trường của sư đoàn 3 bộbinh.
THIẾU TÁ ÐỘC CƯỚC LÊ HỮU CƯƠNG
Câu chuyện sau cùng xin nói vềngười tù cải tạo Lê Hữu Cương, khóa 16 võ bị Ðà Lạt, quận trưởng Củ Chi. Số là ngay từ đầu năm 1985 tình cờ chúng tôi gặp được một anh phóng viên Hoa Kỳ tặng cho video tape quay phóng sự Saigon từ 1984, trong đó có những đoạn hết sức đặc biệt. Câu chuyện một phi công cựu tù, mới được tự do có mở tiệm bán đồ nhậu tại Saigon. Ðối thoại bằng Anh ngữ. Xin hãy tưởng tượng lúc đó là năm 1985, chúng tôi coi phim mà lòng dạ nôn nao. Xúc động dâng lên khóe mắt. Anh em cùng ngồi xem mà mặt mũi ai nấy hết sức căng thẳng. Cho đến nay chúng tôi vẫn không biết anh phi công này là ai.
Một đoạn khác, quay tại trại tù Z30D tại Hàm Tân. Trại tù khang trang sạch sẽ và rất ít người. Ai mà chẳng biết là cộng sản đã cho dọn dẹp và lùa tù đi làm, chỉ còn lại cả trại trống vắng. Phóng viên quay phim và anh chàng làm phóng sự đi cùng một thông dịch viên. Ban văn nghệ của trại được giới thiệu hát một bài. Khán giả duy nhất là anh phóng viên Mỹ. Nhạc trưởng là ca sĩ chính nét mặt hết sức đau khổ và cam chịu. Ông trả lời cấp bậc là thiếu tá, đã ở trại này nhiều năm. Dường như cũng từ Nam Hà chuyển về.
Một đoạn khác là cảnh tù “cải tạo” được vợ con lên thăm. Xin lưu ý đây là thời điểm của năm 1984 ở trại tù Miền Nam và cảnh này được trình diễn cho báo Mỹ quay phim. Tuy nhiên nếu lưu ý vẫn nhìn ra được những nỗi đoạn trường.
Sau cùng, chúng tôi được xem đoạn phim đặc biệt. Một tù cải tạo cụt chân ngồi cầm cặp mắt kiếng. Mắt anh rất sáng và dáng ngồi bình thản.
Gần như bất chợt, anh phóng viên hỏi bằng anh ngữ và người tù trả lời trực tiếp cũng bằng anh ngữ. Anh cấp bậc gì? -Thiếu tá. Anh có đủ ăn không? -Có được ăn, nhưng biết thế nào là đủ. Người tù hỏi ngược lại? Phóng viên Mỹ nói: Có phải người công an này đứng đây nên anh không trả lời? (Ðến đây phóng viên ra hiệu yêu cầu quản giáo đi ra). Không đủ ăn phải không? Not enough? Trả lời, – Yes, not enough. Anh có điều gì nhắn gởi với tổng thống Reagan không? – Tôi muốn được tự do. Tôi muốn rằng thế giới tự do cứu chúng tôi. Cho chúng tôi được tự do càng sớm càng tốt.
Máy quay phim chiếu xuống bàn tay cầm mắt kiếng. Rồi chiếu lên khuôn mặt người tù với ánh mắt ngời sáng như ánh thép trong ngục tù.
Chúng tôi bị ánh mắt này theo đuổi trong nhiều năm. Suốt 20 năm, từ 1985 đến 2005 đã có ý hỏi thăm về người thiếu tá cụt chân này là ai, còn sống hay đã chết.
Năm 2005 Asia quay video tại Hoa Thịnh Ðốn kỷ niệm 30 năm biệt xứ, chúng tôi có cơ hội giới thiệu dự án viện Bảo Tàng và đồng thời có chiếu đoạn phim này trong phần tài liệu.
Tiếc thay, dù đã có hàng chục ngàn khán giả nhưng vẫn không ai nhận ra người tù bất khuất.
Mãi đến năm 2007 vừa qua, chúng tôi tìm được tin tức thì nhân chứng không còn nữa. Người đó là thiếu tá Lê Hữu Cương, khóa 16 võ bị, mới ra trường đã bị thương với cấp bậc trung úy. Anh bị cưa một chân nhưng tiếp tục tại ngũ. Tốt nghiệp chỉ huy tham mưu và học xong lớp quân chánh thì về làm quận trưởng Củ Chi. Ông là một trong số rất hiếm hoi các sỹ quan cấp tá, mất một chân mà vẫn còn làm chi khu trưởng tại vùng đất dữ nhất của miền Ðông Nam phần.
Sau 1975 ông đã bị tù, giải ra Bắc, rồi đưa về miền Nam và tình cờ gặp phóng viên Mỹ tại Hàm Tân. Thiếu tá Cương H0 đến Hoa Kỳ đúng ngày 4/7/1991 và cư ngụ tại Orange County. Trong suốt thời gian dài trên 10 năm sống tại miền Nam Cali, Lê Hữu Cương đã sinh hoạt với giới văn nghệ, báo chí, nhưng chính ông và anh em cũng chẳng ai được xem đoạn phim quay trong tù mà ông đóng vai chính.
Năm 2000, Lê Hữu Cương viết hồi ký về cuộc đời có kể lại đoạn được hỏi chuyện trong tù bởi phái đoàn Mỹ. Trong cuốn tự chuyện này, chúng tôi mới được đọc qua đã thấy được hai điều phải ghi lại, Lê Hữu Cương sinh trưởng tại Huế và đã gặp thảm kịch đau thương khi mẹ và ba em gái của ông bị cộng sản giết trong kỳ Mậu Thân.
Câu chuyện thứ hai cần phải ghi lại là tinh thần tương trợ hết sức hào hùng của các cựu sinh viên sỹ quan Ðà Lạt khóa 16 thể hiện trong tù đã giúp cho Lê Hữu Cương, dù chỉ có một chân đã sống còn.
Nhưng tiếc thay khi bộ phim Asia phổ biến năm 2005 thì sau đó chúng tôi cũng đã được tin Lê Hữu Cương đã qua đời tại Miền Nam California.
Nhân chứng của một trang sử H0 không còn nữa.
Major Le, Huu Cuong 1970 SaiGon and 1984 Ham Tan, VietNam (Photo from Video). http://www.take2tango.com/MyFiles/image/News/05-2009/Tuan%2010/NhanChung-06.jpg
Ðó là lý do chúng tôi viết bài này phổ biến trên báo, đọc bài này trên các chương trình phát thanh và ghi lại các hình ảnh có được trên DVD phát hành ngày quân lực tháng 6 năm 2009.
Xin hãy đọc báo, xin hãy xem hình, xin hãy nghe radio, xin hãy đón coi DVD để thấy rằng lịch sử đã được gom lại như thế nào? Phải được thu hồi như thế nào? Cần được tập trung như thế nào? Trước khi di sản mai một và nhân chứng không còn nữa.
Xin hãy liên lạc về IRCC, Inc. số 1445 Koll Circle, suite 110, San Jose, CA 95112. Tel: 408-392 9923 để có được đoạn phim đối thoại hào hùng duy nhất trong tù của thiếu tá độc cước Lê Hữu Cương, người nhân chứng không còn nữa. Bộ DVD “Chân dung người lính VNCH” của viện Bảo tàng Việt Nam còn có hình ảnh người phi công ngồi hát bản tình ca trên hè phố Sài Gòn ngay từ 1984. Người vợ thăm chồng “cải tạo”, ông nhạc trưởng của ban văn nghệ Hàm Tân ca vang bản nhạc vui với bộ mặt sầu thảm như dao cắt trong lòng. Và sau cùng là hình ảnh người lính vô danh của sư đoàn 3 bộ binh tiêu biểu cho danh hiệu “Can trường trong chiến bại”.
Xin hãy cùng chúng tôi lên đường đi tìm nhân chứng cho thiên anh hùng ca của QLVNCH sau tháng tư 1975.
Giao Chỉ, San Jose
From: anh TRUONG LE gởi


Van Pham is with Nguyễn Lai.
TRUYỆN NGẮN – Phạm Tín An Ninh.
NGƯỜI BÁN SÁCH TRÊN BÃI BIỂN NHA TRANG!!!
Tôi trở về thăm quê hương sau hơn mười lăm năm, kể từ ngày vượt biển ra đi. Tôi quyết định điều này qua bao nhiêu đêm ưu tư trằn trọc. Tôi chẳng còn ai thân quen bên ấy để về thăm. Mẹ tôi mất hồi tôi mới lên năm. Cha tôi chết cuối năm 1977 trong trại tù cải tạo Đá Bàn, khi tôi đang ở một trại tù khác tận núi rừng Việt Bắc và mãi năm năm sau tôi mới nhận được tin buồn. Đứa em gái mà tôi thương quí nhất, mang hình ảnh của người mẹ mà tôi chỉ còn mơ hồ trong ký ức, cũng đã kết liễu cuộc đời ở cái tuổi tưởng chừng lúc nào cũng có cả một bầu trời xanh bao la trước mặt. Còn bạn bè tôi, thằng chết, đứa ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời.
Biết là lần trở về này, rồi cũng chẳng khác gì cái ngày cách đây mười sáu năm, từ một trại tù miền Bắc trở về, tôi bơ vơ lạc lõng trên chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Tôi cũng không có ý định về đây để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa. Những “hang động tuổi thơ” chắc cũng đã biến mất trước bao nhiêu giông tố năm nào bất ngờ ụp xuống. Bây giờ chỉ còn sót lại chút ít trong lòng những người tha phương lưu lạc. Bản thân tôi có quá nhiều đớn đau và mất mát ngay trên chính cái thành phố một thời xinh đẹp này. Tôi sợ phải nhìn lại cái quá khứ hãi hùng và tang thương đó. Tôi về chỉ để làm một điều, mà nếu không làm được, lòng tôi sẽ ray rứt khôn nguôi. Có lẽ đến khi chết tôi vẫn không làm sao nhắm mắt.
Tôi về để tìm lại phần mộ của cha và em tôi, cải táng đem về an táng bên cạnh phần mộ của mẹ tôi trong nghĩa trang gia tộc ở quê tôi ngoài Vạn Giã. Điều ước mơ của cha tôi, mỗi lần ông kể cho tôi nghe về mẹ tôi và chuyện tình khá lãng mạn nhưng cũng nhiều cay đắng của ông bà. Cha tôi được chôn cất sơ sài trên núi Đá Bàn, bên ngoài một trại tù cải tạo lúc xưa. Còn em gái tôi, được gia đình một cô bạn thân chôn cất tại một nghĩa trang ngoài Đồng Đế. Khó khăn và may mắn lắm tôi mới tìm được tin tức về mộ phần của cha và em tôi sau hơn hai mươi năm. Nhờ một người bạn cùng tù với cha tôi, chính tay ông đã đào huyệt cho cha tôi; và gia đình cô bạn thân của em gái tôi, vượt biên từ năm 1978, hiện định cư tận bên Hòa Lan, cung cấp chi tiết và vẻ cả bản đồ hướng dẫn cho tôi.
Ngồi trên máy bay, tôi lo lắng đủ điều. Mộ em tôi nằm trong một nghĩa trang, dù chưa được xây, nhưng có tấm bia đúc bằng xi-măng nên có lẽ dễ tìm; nhưng phần mộ của cha tôi, nằm trong núi và cái trại cải tạo ngày xưa bây giờ đã biến thành một khu kinh tế mới. Gần ba mươi năm rồi, có biết bao sự đổi thay.
Cuối cùng thì tâm nguyện của tôi cũng hoàn thành được một nửa. Trái ngược với những lo lắng ban đầu, tôi dễ dàng tìm ra phần mộ của cha tôi. Mặc dù bối cảnh chung quanh thay đổi, nhưng bà con ở vùng kinh tế mới này đa số là dân thành phố bị cưởng bách “tự nguyện” lên đây, một số ngày xưa là lính và công chức. Biết đây là mộ của những người tù cải tạo, nên họ thương mà rào lại và giữ gìn. Những dịp cuối năm họ đều thắp hương, tảo mộ và kẻ lại tên trên những tấm bia bằng gỗ, dù đã rong rêu qua bao nhiêu mùa mưa nắng. Riêng phần mộ của em tôi, mò mẫm suốt cả hai tuần tôi vẫn tìm không ra. Cả khu nghĩa trang bây giờ thay đổi. Người chết nhiều quá. Nhiều ngôi mộ mới xây, nhưng cũng có một số đã được cải táng, dời đi nơi khác. Nhà cửa cất san sát bên nghĩa địa. Người sống bây giờ ở chung với người chết. Tôi bắt chước người xưa khấn vái, xin hồn thiêng em tôi về chỉ cho tôi ngôi mộ của em nằm. Nhưng lời vái của tôi vẫn không thiêng.
Tôi thuê người cải táng phần mộ của cha tôi. Đi từng nhà trong khu kinh tế mới cám ơn lòng tốt của mọi người. Đưa hài cốt của cha tôi về an táng bên cạnh mẹ tôi, trong nghĩa trang gia tộc, thuê thợ xây lại tất cả những ngôi mộ đã bao nhiêu năm không có ai chăm sóc.
Còn một ngày nữa là hết hạn visa. Tôi muốn đi một vòng, tìm lại chút gì của Nha-Trang xưa. Mùa hè Nha-Trang bây giờ dường như nóng bức hơn ngày xưa. Tôi thuê một chiếc xích lô chạy dọc theo con đường Duy-Tân cũ. Vừa để cho mát, vừa muốn tìm lại những lùm cây dương ngày trước, thuở chúng tôi và bạn bè hẹn hò sau những lúc tan trường. Một số lùm dương vẫn còn đó, nhưng trơ trọi, điêu tàn. Tôi bảo anh phu xe cho tôi xuống trường Võ-Tánh. Anh phu xe còn trẻ, thắng xe lại, ngạc nhiên. Tôi hiểu, nên tôi bảo tôi sẽ chỉ đường, anh cứ theo tôi. Ngôi trường cũ, nơi tôi có biết bao kỷ niệm của ba năm theo học, bây giờ không những cái tên trường, mà tất cả đều trở thành xa lạ. Những hàng cây phía trước không còn. Ngôi trường đứng chơ vơ, chẳng còn sót lại chút gì thơ mộng, gây trong tôi một cảm xúc bẽ bàng hơn là thương tiếc. Bất giác tôi nhớ đến em tôi. Đứa em gái xinh đẹp dễ thương, đã cho tôi cái ấm áp của cả một gia đình, trong những ngày chúng tôi lớn lên không có mẹ. Em học bên trường Nữ Trung Học, nhưng thường đến đây chờ tôi để hai anh em cùng ra biển. Em tôi thích tắm biển, nhưng ngại đến đó một mình nên thường rũ tôi đi theo hộ tống. Tôi tha hồ làm tình làm tội mấy anh chàng muốn đến làm quen, tán tỉnh em tôi. Tôi đi bộ dọc theo bãi biển, tìm đến khu có nhiều cây dừa trước trường Bá-Ninh lúc trước, nơi ngày xưa em tôi thường ngồi ở đó.
Tôi đưa mắt nhìn một vòng từ xa. Nơi bậc xi măng tiếp giáp bãi cát, một người tàn tật đang khó nhọc dùng cánh tay duy nhất còn lại giữ thăng bằng trườn xuống. Trông anh ta giống như một con cóc. Len lỏi trong đám người đi tắm, anh hướng về phía tôi ngồi. Lưng anh mang túi vải chứa đầy sách, và kéo lê trên cát một cái túi vải nữa, cũng toàn là sách. Anh lê lết từng quãng, từng quãng ngắn. Bất ngờ anh ta ngước lên. Thấy tôi gật đầu chào, anh ta nhìn tôi cười rạng rỡ, để lộ hàm răng trắng. Khuôn mặt tuấn tú, râu quai hàm, vầng trán cao với mấy sợi tóc vắt ngang rất nghệ sĩ. Anh dùng bàn tay duy nhất lôi một cuốn sách trong túi vải đang nằm trên mặt cát và từ từ mở ra. Tôi liếc qua. Cuốn sách có cái tựa viết bằng tiếng Anh, nói về chuyện chuyến tàu Titanic. Tôi nhớ đến cuốn phim cùng tên, mới quảng cáo rầm rộ trên truyền hình Nauy mà tôi chưa kịp đi xem. Bỗng tôi tròn mắt ngạc nhiên khi nghe anh mở lời chào và giới thiệu cuốn sách bằng tiếng Anh mà anh phát âm rất lưu loát, không thua kém gì những người Việt đã sinh sống lâu năm ở nước ngoài. Anh lầm tưởng tôi là người Nhật hay Đại Hàn gì đó. Tôi thán phục anh vô cùng và bảo với anh tôi là người Việt, định cư ở Nauy, nên trình độ tiếng Anh của tôi chỉ vừa đủ nói dăm ba câu xã giao, chứ làm gì có thể thưởng thức được văn chương. Tôi cám ơn anh và móc ví ra định biếu anh một chút tiền, nhưng anh vội đưa tay ngăn lại
– Cám ơn anh, nhưng xin anh để dành tiền cho những người còn nghèo khổ hơn tôi.
Anh nhỏ nhẹ bằng một giọng thân thiện và lễ độ.
Câu nói và thái độ của anh làm tôi rất đỗi ngạc nhiên. Vì từ khi trình giấy thông hành vào nước, trước những người mang lon, đội mão đại diện cho cả môt quốc gia mà cũng không có được phong thái thanh tao như anh; và chẳng lẽ ở trong cái thành phố ”mũi nhọn du lịch” này lại còn nhiều người khốn khổ hơn anh ?
Tôi đành mua một cuốn sách để anh vui lòng nhận tiền, nhưng rồi thấy anh cứ loay hoay moi hết túi nọ đến túi kia, để tìm đủ tiền thối lại cho tôi.
Tôi muốn hỏi thăm anh vài câu, nhưng anh đã nhoẻn miệng cười và gật đầu chào tôi rồi vội vàng lết sang mấy người khách nước ngoài đang nằm phơi nắng trên hàng ghế phía trước.
Từ hôm ấy, hình ảnh người tàn tật bán sách trên bãi biển Nha-Trang cứ lẩn quẩn trong đầu và theo tôi về tới Nauy; để rồi nếu có ai đó lỡ lời nói điều gì không mấy tốt về những người nghèo khổ ở Việt nam, tôi có cảm tưởng như đang xúc phạm đến anh, người bán sách khả kính mà tôi bất ngờ được gặp.
Năm sau, tôi lấy một tháng hè về lại Việt Nam. Lần này tôi mua vé và nhờ cha cô bạn của em tôi, từ Hòa Lan, cùng về với tôi. Ông là người đã giúp chôn cất em tôi ngày trước. Tôi không ngờ là mình phải về lại Việt nam lần thứ hai. Một điều mà trước đây tôi không hề nghĩ tới.. Nhưng tôi phải làm tròn bổn phận của người anh với cô em gái, mà nếu trước kia tôi lo lắng cho nó chu đáo hơn, biết đâu bây giờ nó còn sống để cho tôi khỏi cảnh côi cút một mình.
Sau một chuyến bay dài, tôi mệt đừ người. Tôi trở về từ vùng Bắc Âu lạnh lẽo, bây giờ lại gặp cái nắng oi nồng của vùng nhiệt đới. Sau khi thuê khách sạn xong, tôi chạy ngay ra biển tắm. Nằm dài trên bãi cát, tôi bỗng nhớ tới người bán sách năm xưa. Tôi thả bộ theo bờ biển về hướng mấy cái lều có bóng dáng nhiều người ngoại quốc đang từ khách sạn kéo ra, bỗng mắt tôi sáng lên khi nhìn thấy người tàn tật đang lê lết theo sau. Cũng hai cái túi vải đựng sách. Đúng là anh tàn tật bán sách năm trước chứ còn ai. Tôi mừng thầm như sắp sửa được gặp lại con người mà bấy lâu nay tôi thường nghĩ tới với lòng mến mộ. Tôi suy nghĩ làm cách nào để anh ta vui lòng nhận sự giúp đỡ của mình. Nhưng người tàn tật lúc nào cũng bám sát vào những người nước ngoài. Tôi để ý thấy người ta cũng không mua sách và chỉ cho anh tiền. Tôi ngạc nhiên khi thấy anh ta cười, hớn hở nhận tiền rất điệu nghệ, không nghe anh nói cái câu thật tử tế mà một năm trước anh đã lễ phép nói với tôi “Cám ơn anh, nhưng xin anh để dành cho những người còn nghèo khổ hơn tôi”. Một cái gì đó thật đẹp vừa bị sụp đổ trong lòng. Tôi cảm thấy người nóng hừng hực. Không biết là sức nóng giữa ban trưa hay vì máu nóng bốc lên đầu. Tôi cắm đầu chạy lao vào những đợt sóng cuồng nộ đang từ ngoài khơi đổ vào bờ.
Nước biển trong xanh, sóng biển như những cánh tay ôm tôi vào lòng vuốt ve, dỗ dành. Mặt nước mênh mông, trãi rộng đến những dãy núi mờ xanh tận cuối chân trời. Tôi nghe văng vẳng trong không gian như có ai đang dạo đàn bản Nha Trang Ngày Về. Thiên nhiên phần nào giúp tâm hồn con người rộng mở và dễ cảm thông hơn.
Sau một hồi quần với sóng biển, tôi cũng tạm quên người tàn tật bán sách đã làm tôi hụt hẫng. Nhưng khi vừa bước lên bờ cát thì tôi lại trông thấy anh ta đang o bế mấy người nước ngoài và đưa tay xin cả thức ăn thừa. Tôi nghi ngờ, có thể là người tàn tật này không phải là người tàn tật năm xưa. Tôi đến gần hỏi thăm. Nhưng chưa hỏi hết câu hắn đã “Đ.m. cái khứa đói rã họng ra mà còn làm cao ấy hả. Chết mẹ nó rồi..”
Chỉ nghe cái giọng lỗ mãng của hắn, tôi đủ biết chắc hắn ta không phải là anh – người tàn tật bán sách mà năm trước tôi đã gặp -. Tôi theo người bán sách này với ý định hỏi thăm thêm về anh cho ra lẽ, nhưng thấy hắn ta chẳng mấy tha thiết. Hắn di chuyển chậm, nhưng mắt hắn lại quan sát thật nhanh về những đám người đang xuống bãi ở quãng xa. Và khi đi ngang qua chỗ ngồi của người đàn bà bán cua luột, hắn hất hàm bảo: ” Đó, vợ khứa đó!”
Tôi liền chụp ngay cơ hội, hy vọng tìm ra manh mối. Nhưng khi tôi lân la lại gần, thấy chị bán cua luột này có vẻ nghiêm trang khác với những người bán hàng rong bình thường, tôi không biết phải bắt đầu làm sao. Tôi mua hết con cua này tới con cua khác mà chẳng ăn con nào. Và cứ mỗi lần chị định quảy gánh đi chỗ khác, tôi gọi giật lại mua thêm một con nữa để giữ chân chị. Vừa lúc chị nhận ra người khách mua cua này cũng có gì khác thường, tôi buột miệng : “Chị là vợ của người tàn tật bán sách trên bãi biển này mấy năm trước ?”. Chị ngớ người ra, im lặng nhìn tôi. Có lẽ thấy tôi là một người xa lạ sao lại tò mò vào một chuyện riêng tư. Tôi kể cho chị nghe cái cảm tình đặc biệt mà tôi đã dành cho anh ấy. Tôi muốn tìm cách giúp anh một phần nào nỗi thống khổ tật nguyền. Tôi tha thiết muốn biết về anh. Dường như những lời chân thật của tôi làm cho chị xúc động. Chị nhìn tôi, đôi mắt thật buồn:
– Em không phải là vợ của anh ấy. Tụi em cùng cảnh khổ nên đùm bọc lấy nhau mà sống. Một số người đùa, gán ghép tụi em rồi quen gọi thế thôi, anh ạ. Anh ấy đã chết cách nay hơn tám tháng. Em đã lo chôn cất anh ấy.
Lòng tôi thắt lại, một phần vì cảm thương anh trong cảnh khốn cùng, một phần ân hận là giá năm trước mình tìm cách giúp đỡ anh, biết đâu đã cứu được anh. Tôi có ý muốn nhờ chị đưa tôi ra mộ để thắp cho anh nén hương. Chị ngại ngùng nhưng cuối cùng gật đầu hẹn bốn giờ chiều chờ tôi trước khách sạn tôi ở.
Tôi thuê chiếc taxi, và xin phép cùng ngồi với chị ở băng ghế sau để dễ dàng trò chuyện. Trên đường ra nghĩa trang, chị say sưa tâm tình cùng tôi, như từ lâu lắm chị không có dịp nói ra những điều bao năm dấu kín trong lòng. Chị tên Trang. Cha chị trước kia là một trung sĩ địa phương quân, bị thương năm 1968, trong trận tết Mậu Thân, nên được giải ngũ. Mẹ chị mất từ khi chị còn bé lắm. Cha chị không chịu tục huyền mà ở vậy nuôi đứa con độc nhất của mình. Nhờ số tiền trợ cấp ban đầu, ông mua được một căn nhà tôn trong khu dành cho thương phế binh, nằm phía sau ga xe lửa. Ông xin được cái chân bán vé cho hãng xe đò Phi Long ở bến xe Xóm Mới. Lương ba cọc ba đồng cộng với tiền hưu bỗng hàng tháng, ông dành dụm cố lo lắng cho cô con gái học hành. Năm 1974, xong lớp 12, chị thi đậu vào trường sư phạm. Sau ngày Nha-Trang “giải phóng”, chị bị loại ra bởi lý lịch “ngụy quân” của cha. Lúc này, gia đình trở nên bi đát. Cha chị, tất nhiên, không còn được lãnh tiền hưu bỗng ngày trước, chị không tìm ra bất cứ việc gì làm. Cuối cùng cha chị đành phải bán một nửa căn nhà vốn đã chật chội để mua một chiếc xích lô làm phương tiện sinh nhai. Còn chị thì đi bán hàng rong từ dạo ấy.
– Đến bây giờ ông cụ vẫn còn đạp xích lô? Tôi tò mò hỏi.
– Ông mất lâu rồi anh ạ. Tội nghiệp, ông thương anh Bá lắm, xem anh ấy như con.
Tôi ngạc nhiên:
– Anh Bá nào?
– Người tàn tật bán sách đó.
Đến bây giờ tôi mới biết tên của anh.
Chị cho biết anh Bá ngày xưa là trung úy phi công. Máy bay của anh bị bắn rơi vào những ngày Sài gòn nguy khốn, khi yểm trơ cho mặt trận Long Khánh của Sư Đoàn Tướng Đảo.
Anh được anh em bộ binh tiếp cứu, nhưng anh bị thương rất nặng, phải đưa về tổng y viện Cộng Hòa. Sau cuộc giải phẫu khá dài, anh tỉnh lại. Nhưng khi biết được mình bị mất hai chân và một cánh tay, anh ngất xỉu và hôn mê suốt cả một tuần. Ngay sau khi Sài gòn vừa “giải phóng”, anh bị đuổi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa khi vết thương chưa lành. Gần hai tháng sau cha em gặp anh ấy trên bến xe Xóm Mới. Biết được phần nào hoàn cảnh thương tâm, cha em lấy xích lô chở anh về nhà chăm sóc vết thương và anh sống với cha con em từ dạo ấy.
– Anh ấy không có thân nhân. Tôi hỏi
– Anh có một cô em gái ở đây, nhưng mà chết lâu rồi. Ban đầu không nghe anh nói điều này. Mãi sau này thấy trên đầu giường của anh có thờ tấm ảnh của một cô con gái và có nhiều đêm rất khuya anh ngồi bất động trước tấm ảnh, cha em hỏi mấy lần, anh mới bảo đó là cô em gái duy nhất của anh.
– Anh không còn bạn bè?
– Nghe nói anh đang học một khóa phi hành ở đâu bên Mỹ, rồi nhờ có trình độ anh ngữ khá, anh được lưu lại Mỹ làm sĩ quan liên lạc không quân. Nghe tin miền Nam nguy khốn, anh tình nguyện xin về chiến đấu. Vừa về nước, anh ra chiến trường ngay và bị nạn khi đang bay phi vụ thứ hai. Có lẽ vì vậy mà không nghe anh nhắc tới bạn bè.
Xe dừng lại, tôi bước xuống trả tiền và bảo anh tài xế chờ tôi hoặc có thể quay lại sau 30 phút. Tôi bước vào nghĩa trang khi lòng còn vương vấn một câu chuyện buồn. Tiếng chuông nhà thờ từ đâu vọng lại càng làm cho lòng tôi chùn xuống. Đi quanh co một lúc, chị Trang bảo tôi dừng lại và chỉ cho tôi ngôi mộ của anh Bá, nằm bên cạnh ngôi mộ của cô em gái. Cả hai ngôi mộ được xây bằng đá đơn giản, trên tấm bia có cả tấm ảnh
Tôi ngạc nhiên khi thấy trên mộ bia anh Bá có hình một thập tự giá, vì đây là nghĩa trang Phật giáo. Tôi đến trước mộ anh, thắp ba nén hương thâm khấn vái cho anh được sống an bình trong một thế giới chẳng còn thù hận, và nói lên lòng cảm mến của một người đồng đội cũ. Tôi nhìn kỹ tấm ảnh của anh trên mộ bia, tấm ảnh chụp lúc anh còn là sinh viên sĩ quan không quân, phong độ, hào hùng. Trông khuôn mặt quen quen. Có lẽ do bộ quân phục làm tôi nhớ tới khuôn mặt của những bạn bè ngày trước.
Tôi bước sang mộ cô em gái, thắp ba nén hương cho một người không hề quen biết. Tôi tò mò bước lên xem tấm ảnh trên mộ bia. Bỗng đầu óc tôi choáng váng, mắt tôi mờ đi như chẳng còn trông thấy những gì trước mặt. Trời ơi, có điều gì lầm lẫn hay không? Người trong tấm ảnh chính là An Bình, cô em gái yêu dấu của tôi.
Tôi cố gắng lấy lại bình tĩnh, mở đôi mắt thật to để nhìn kỷ lại tấm ảnh. Không thể lầm lẫn được. Chính tấm ảnh của em tôi mà tôi vẫn treo trên bàn thờ cùng với ảnh của cha và mẹ của tôi. Tôi vẫn thường đứng hằng giờ trước những tấm ảnh này mỗi khi thấy mình quá đỗi cô đơn trên xứ lạ quê người. Làm sao tôi có thể nhầm lẫn được. Bỗng dưng tôi khóc sụt sùi.
Trang nhìn tôi ngạc nhiên:
– Anh có quen biết em gái anh Bá?
Tôi im lặng không trả lời, bảo chị cùng đi với tôi. Chiếc taxi vẫn còn đợi tôi tự nãy giờ. Tôi móc bóp tìm địa chỉ của cha cô bạn thân của em tôi, đã từ Hòa Lan về đây trước tôi hai ngày, và chúng tôi hẹn gặp nhau ngày mai. Bác trọ ở nhà một người em trong khu cầu Xóm Bóng. Tôi đưa địa chỉ cho anh tài xế. Chỉ hơn năm phút sau là anh ta đã tìm được. May mắn là bác có ở nhà. Tôi xin lỗi bác là đã đến tìm bác sớm hơn ngày hẹn. Báo cho bác là tôi đã bất ngờ tìm được mộ của em tôi. Xin bác cùng đi với tôi ra nghĩa trang để xác nhận lại vị trí ngôi mộ của em tôi mà ngày trước bác đã có lòng chôn cất hộ.
Trở lại nghĩa trang, tôi đề nghị bác dẫn đường, như muốn để xác minh chắc chắn là bác biết rõ ngôi mộ ấy. Bác mò mẫm gần 30 phút mới tìm được ngôi mộ của em tôi. Bác ngạc nhiên là ngày ấy bác chỉ kịp dựng một tấm bia, chứ không có xây mộ đá như bây giờ, và trên bia cũng chỉ có tên chứ không có hình ảnh của em tôi.
Tự nãy giờ Trang vẫn còn ngạc nhiên, không biết rõ việc gì. Tại sao cô gái này là em gái duy nhất của anh Bá mà cùng là em gái của tôi ? Tôi xin lỗi vì xúc động quá, tôi sẽ kể cho Trang nghe trên đuòng về nhà.
Tôi đưa cha cô bạn của em tôi về lại nhà trọ, cám ơn bác và hẹn gặp lại bác vài hôm sau. Trên đường về, tôi kể lại cho Trang nghe về hoàn cảnh của gia đình tôi. Tôi đi lính xa nhà, mỗi năm chỉ về phép một đôi lần.
An Bình, đứa em gái duy nhất của tôi ở Nha-Trang với cha tôi. Ông là một thầy giáo, ngày xưa dạy ở trường Pháp-Việt lúc tôi mới lên ba. Sau ngày về hưu ông được bà con mời làm chủ tịch hội đồng xã. Ông bị bắt vào trại cải tạo Đá Bàn sau ngày Nha-Trang ”giải phóng”, rồi vì tuổi già sức yếu, không chịu nổi sự tra tấn, ông đã chết gần một năm sau đó. Em gái tôi nối nghiệp cha, sau khi tốt nghiệp ở trường sư phạm Qui Nhơn, vì hoàn cảnh gia đình, được về dạy ở Nha trang. Có lần tôi về phép, em kể cho tôi nghe về mối tình của em với một chàng sinh viên sĩ quan không quân. Em có đưa cả tấm ảnh cho tôi xem và hẹn sẽ giới thiệu với tôi khi chàng ta ở Mỹ trở về. Em lo lắng vì anh là người Bắc di cư, công giáo, không hiểu có khó khăn gì cho cuộc hôn nhân. Tôi bảo nó yên tâm, ba tôi theo tây học, nên ông quan niệm về tôn giáo rộng rãi lắm.
Sau khi cha tôi vào trại cải tạo, căn nhà của chúng tôi bị chính quyền mới tịch thu để làm hợp tác xã mua bán. Em tôi không được tiếp tục dạy học nữa nên ra Xóm Bóng ở chung với cô bạn học nối khố tự ngày xưa, chắt chiu số tiền còn dành dụm được để thăm nuôi cha tôi. Ngay sau ngày Sài-gòn mất, em có vào tìm thăm tôi và người yêu của cô. Hơn hai tuần đi thăm hỏi khắp nơi, em tôi về nằm khóc cả mấy ngày liền, nói với tôi là người yêu của nó đã chết mất xác ở chiến trường Long-Khánh. Tôi an ủi em tôi, bảo nó về Nha-Trang cố gắng thay tôi lo lắng cho cha, chờ ngày cha và tôi trở về sum họp. Tôi vào tù hơn sáu tháng, hai lần được phép gởi thư về nhà, vẫn không thấy em gái hồi âm. Cho mãi trước khi được chuyển ra Bắc, tôi mới nhận được thư của cô bạn thân của nó, báo tin là nó không kiếm được việc gì làm, túng quẫn, buồn chán, nên đã uống nguyên một ống thuốc ngủ. Gia đình cô chở vào bệnh viện, nhưng không cứu được, vì không tìm ra thuốc giải.
Chị Trang suy nghĩ miên man và như chợt nhớ ra được điều gì. Chị bảo khi còn sống, anh Bá không đi làm vào ngày chủ nhật. Anh đi lễ nhà thờ rồi ra mộ suốt cả ngày. Chính anh đã dành dùm tiền bạc thuê người xây lại ngôi mộ và mua phần đất dành cho mình. Khi chôn cất anh xong, chị tìm thấy một tập nhật ký dấu kỹ dưới đầu giường. Chị vẫn còn để trên bàn thờ, chờ ngày giáp năm thì đốt luôn. Chị bảo tôi cùng về nhà với chị, để chị trao lại cuốn nhật ký, kỷ vật duy nhất của một người cùng sống chung trong cảnh khốn cùng với cha con chị trong gần ba mươi năm, và bây giờ mới biết đó là người yêu của cô em gái thương quí của tôi.
Chị bảo taxi dừng lại trước một ngõ tắt phía sau ga xe lửa. Tôi trả tiền, theo chị băng qua hai con đường sắt, đi quanh co theo mấy con hẻm thì đến nhà. Tôi xin phép thắp hương trước bàn thờ của ba chị và Bá, trên một cái kệ nhỏ bằng gổ treo trên vách. Tôi khẩn khoản xin chị nhận một số tiền để chăm sóc ngôi mộ của ông cụ, em gái tôi và Bá, một ít làm vốn buôn bán để đỡ vất vả hơn xưa. Tôi xin nhận Trang là cô em kết nghĩa và từ nay Trang là ngưỡi thân quen duy nhất của tôi còn lại ở Nha-Trang. Chia tay, tôi đi bộ về khách sạn, cầm theo cuốn nhật ký trên tay, mà cứ tưởng như mình vừa nhận một món quà quí giá của người thân gởi về từ một cõi nào đó thật xa xăm.
Ngày 2/5
Vết thương còn đau đớn và máu còn thấm đỏ qua mấy lớp băng, vậy mà mình bị người ta đuổi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa, trong hoàn cảnh tứ cố vô thân. May mắn nhờ một ân nhân nghèo nhưng lại giàu lòng bác ái, đùm bọc, nuôi nấng và chăm sóc vết thương.
Nhiều lần, trong vực sâu tuyệt vọng, mình không muốn sống thêm một ngày nào nữa, nhưng lòng mình lúc nào cũng hướng về chúa Kitô, và xin phó thác tất cả ở nơi Ngài.
…
Ngày 20.6
Cuối cùng, thì mình quyết định trở về Nha-trang, bởi lẽ mình không còn có một chỗ nào khác để trở về. Mình về đây để tìm lại những kỷ niệm đẹp đẽ nhất của đời mình, của những ngày mình còn có An-Bình. Từ ngày gặp An-Bình, mình nghĩ là mình đã thuộc về Nha-Trang, miền thùy dương rạt rào thơ mộng này. Đau đớn thay, hôm nay mình chẳng phải là mình ngày trước, mà chỉ là một kẻ tật nguyền thê thảm. Mình sẽ không bao giờ gặp lại An-Bình, mà chỉ mong về đây để được sống với hình ảnh của nàng
Ngày 08/7
Ngày hôm nay có lẽ là ngày đau đớn nhất trong đời mình. Đau đớn hơn cả cái ngày mình tỉnh dậy trong quân y viện và biết mình trở thành một người tàn phế. Mình lê lết khắp nơi hỏi thăm tin tức An-Bình, được biết là em đã quyên sinh. An-Bình ơi, xin em hãy tha thứ cho anh. Trong vận cùng của một đất nước mà anh chỉ là một thằng lính hèn mọn nhỏ nhoi, làm sao có thể giữ được bầu trời Nha-Trang này cho em, và cho những kỷ niệm của chúng mình..
Một hồi chuông nhà thờ làm tôi giật mình. Ngẫng đầu lên mới biết mình đang đừng trước nhà thờ đá. Tôi thẩn thờ bước lên những bậc “tam cấp”, đến trước tượng Đức Mẹ. Tôi là người ngoại đạo, không biết phải cầu nguyện như thế nào. Tôi chấp hai tay trước ngực, kính cẩn xin Thiên Chúa Từ Bi và Đức Mẹ Maria cứu vớt linh hồn của hai người hoạn nạn và xin cho họ được cùng phục sinh với Chúa để tình yêu của họ mãi mãi vĩnh hằng trong một thế giới bình an, không còn có hận thù.
Tôi không còn ý định dời ngôi mộ em tôi về bên cạnh cha mẹ tôi. Tôi về quê, quỳ trước mộ cha mẹ tôi để xin phép được xây lại hai ngôi mộ của em tôi và Bá chung trong một vòng thành. Không ai có quyền chia rẽ họ thêm một lần nữa, dù bây giờ chỉ còn là một thế giới vô hình.
Cũng như lần trước, ngày cuối cùng, tôi thuê xích lô đi một vòng dọc theo con đường Duy Tân cũ. Con đường đẹp nhất của Nha-Trang. Những cơ sở công quyền, những dinh thự của cán bộ bây giờ đựơc dựng lên nguy nga đồ sộ. Nhìn lá cờ màu đỏ trên mấy nóc nhà, bỗng dưng tôi lạnh toát cả người. Chẳng lẽ những thay đổi “to lớn”ấy mà phải xây trên máu xương, trên những đớn đau, chia lìa thảm khốc của bao nhiêu thế hệ đã từng một thời góp sức tạo nên cái thành phố hiền hòa thơ mộng này. Bỗng chốc, tôi không còn nhìn thấy thành phố Nha-Trang đâu nữa. Trước mắt tôi bây giờ chỉ còn là một bãi tha ma, dài ra, vô tận. Tôi nghe trong gió văng vẳng tiếng đàn dạo bài Nha-Trang, mà ngày xưa đài phát thanh Nha-Trang dùng làm nhạc hiệu mở đầu. Tôi nhớ tới cái chết thảm khốc của nhạc sĩ Minh-Kỳ, tác giả bản nhạc quen thuộc một thời này, ông cũng đã bị giết vào tháng 8/75, khi cùng bị nhốt chung với tôi trong trại tù cải tạo An Dưỡng, Biên Hòa.
Nhạc phẩm Nha Trang – Minh Kỳ
https://www.youtube.com/watch?v=o110Z1SAD94

Giáo sư Trương Nguyệt Thành được các trường đại học lớn ở Mỹ đón chào.
Ông có thơ ngây khi nhiệt thành đem tài năng về đóng góp cho quê hương đất nước !?
Giáo sư Trương Nguyện Thành đã rời đại học Hoa Sen về lại Mỹ sau khi Sở Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định cho rằng giáo sư người Mỹ gốc Việt này ‘không đủ kinh nghiệm’ làm hiệu trưởng, dù Hội đồng Quản trị nhà trường đã tín nhiệm bầu ông.
Giáo sư Thành chia sẻ: “Hội Đồng Quản Trị của ĐH Hoa Sen đề cử tôi vào vị trí Hiệu trưởng với số phiếu 16/18 (2 phiếu trắng) một phần nói lên sự tín nhiệm vào khả năng của tôi. Còn việc công nhận vị trí Hiệu trưởng của một trường đại học tư thục là theo luật Giáo dục đại học của Việt Nam.
Các nhà khoa học, có nhiều thành tựu nghiên cứu, có tri thức cao từ các nước tư bản, phương Tây, … về Việt Nam giảng dạy hay tham gia các hoạt động khoa học trong nước đều không chịu được những vướng mắc không đáng có khiến họ rốt cuộc phải ra đi, …
Đến nước Mỹ năm 1980, trở thành một nhà khoa học tiếng tăm lẫy lừng. Giáo sư Trương Nguyện Thành trở về Việt Nam nguyện đem tài năng cống hiến cho quê hương, xứ sở, …
Nhưng tiếc thay! ông phải ra đi, gác lại giấc mơ dang dở.
Những tài năng người Việt nỗi tiếng trên thế giới khi muốn quay về – một lòng một dạ – cống hiến cho quê hương, liệu họ có trăn trở như các giáo sư đã từng trở về để rồi đắng cay, lẻ loi.
Nhiều nhân tài người Việt đã lặng lẽ rũ áo ra đi…
Thật đáng sợ!



Vào tháng 1 năm 1845, Karl Marx, vì các hoạt động báo chí cấp tiến, bị trục xuất khỏi Pháp theo yêu cầu của chính phủ Phổ (Prussia).
Tờ báo ‘Tiến Lên’ bị chính quyền Pháp đóng cửa và quyết định trục xuất, do Bộ trưởng Nội vụ François Guizot ký, buộc Marx phải cùng vợ ôm đứa con gái đầu lòng, Jenny Caroline, sang trú ngụ ở Brussels.
Tại đây, gia đình Marx sống tới năm 1848 và cũng ở Brussels, Marx lập ra Đảng Công nhân Đức và hoạt động mạnh trong Liên đoàn Cộng sản.
Brussels cũng là nơi ông cùng Friedrich Engels ra Tuyên Ngôn Cộng sản.
Nhưng nước Bỉ theo dõi kỹ Marx và các hoạt động ‘mang tính phản loạn’ của ông.
Marx và các đồng sự bị lôi ra tòa vì các tội như ‘phỉ báng quan chức’, ‘tẩy chay thuế’ và cuối cùng, ông bị Bỉ coi là “kẻ cực đoan” và trục xuất về Đức.
Ông sống tại Cologne và làm chủ bút báo Neue Rheinische Zeitung vào tháng 6/1848.

Chưa đầy một năm sau, vào tháng 5/1848, tờ báo bị chính phủ Phổ trấn áp và Marx bị đuổi khỏi quê hương.
Marx lại trở về Paris nhưng đến tháng 9 thì Pháp trục xuất ông một lần nữa.
Không còn biết đi đâu, ông đưa cả gia đình sang Anh.
Marx bị bác đơn xin nhập tịch Anh ra sao?
London thành nơi gia đình ông sống cho đến khi cả Jenny và Marx qua đời.
Khi Marx đến Anh, chính phủ nước này đang do thủ tướng, Lord John Russell, thuộc đảng Whig lãnh đạo.
Marx tiếp tục viết nhiều tác phẩm kinh tế, chính trị và không quên có bài đả phá chính giới Anh và đích thân thủ tướng John Russell.

Ông gọi bá tước John Russell là ‘kẻ nhỏ mọn, lùn, ham quyền lực, giỏi dối trá’ và công kích cả các luật mà đảng Whig đưa ra tại Anh.
Có vẻ như các bài Marx đăng trên báo Neue Oder-Zeitung (1855) bên Đức về cá nhân John Russell không ảnh hưởng gì đến chuyện Anh cho Marx định cư.
Chính phủ Russell phải lo các vấn đề lớn như Nạn đói ở Ireland, cạnh tranh với Pháp về hàng hải, chiến tranh Crimea nên hẳn không để ý đến một người Đức lưu vong viết bài đăng trên báo tận bên Đức.
Quả vậy, trong thời gian sống tại London, Marx nói và viết vẫn bằng tiếng Đức, và hay đến diễn thuyết tại các cuộc tụ họp của kiều dân Đức.
Sống tại 28 Dean Street, khu Soho (không xa một quán ăn Việt Nam ngày nay ở số 42-43), hàng ngày, ông đến Thư viện Anh Quốc (British Library) để đọc và viết.
Cũng tại Reader Room trong British Library ông đã viết ‘Das Capital’ bằng tiếng Đức, cuốn sách được cho là Kinh Thánh của chủ nghĩa cộng sản toàn cầu.
Các tác phẩm của ông chỉ xuất bản được tại Anh nhờ tiền và ý tưởng của người bạn tốt, Friedrich Engels, nhà tư bản có xưởng máy ở Manchester.

Nhưng cảnh sát Anh thời Victoria, vốn luôn theo dõi các nhóm nhập cư và hoạt động chính trị của họ, đã để ý đến Marx.
Trong các bài báo của mình, Marx vận động cho phong trào xã hội chủ nghĩa và ý tưởng cộng sản, cả hai thứ đều không được chính giới Anh chấp nhận.
Ông cũng nhắc nhiều đến người Ireland và phong trào độc lập của họ, chủ đề hết sức đau đầu cho giới chức Anh.
Có ý kiến rằng vì Marx là người ‘tự nguyện vô tổ quốc’ nên chủ nghĩa cộng sản ông cổ xúy cũng là một thứ ý thức hệ phi dân tộc, phi tổ quốc.
Thực tế lại hơi khác: Marx đã xin nhập tịch Anh nhưng bị chính quyền bác.
Tài liệu từ thư khố National Archives nói hồ sơ cảnh sát London năm 1874 viết rằng Karl Marx nộp đơn xin nhập tịch.
Ông còn nhờ một số người khác chứng nhận ông ‘là một công dân khả kính’.
Ngoài chuyện cảnh sát Anh coi ông là “một người Đức chuyên xúi bẩy”, và vận động cho tư tưởng cộng sản nên “khó có thể thành kẻ trung thành với Nhà Vua”, ông cũng bị cho là không có thu nhập.
Khoản thu duy nhất của ông là bản sao ghi nhận cổ phần của ông là 4 bảng Anh, đầu tư vào tờ Industrial, một báo bình dân.
Đây cũng là khoản đầu tư duy nhất mà người ta biết cho tới này về ông tổ của chủ nghĩa cộng sản.
Trong mục nghề nghiệp, Karl Marx ghi: ‘doctor of philosophy’ (tiến sĩ triết học), học vị của ông ở Đức, nhưng bị coi là ‘nghề nghiệp không ra tiền’ (no gainful employment).
Không nghề nghiệp, không quốc tịch, ông lại đã từ bỏ quốc tịch quê hương cũ và không được chính phủ Phổ cho tái nhập tịch.
Vì thế, chính thức là từ năm 1845 khi bị trục xuất khỏi Pháp lần đầu cho đến lúc chết, Marx là một người vô tổ quốc.
Khi ông qua đời, cảnh sát London cũng ghi nhận tư cách của ông như vậy: stateless.

Sự tôn thờ Karl Marx như một lãnh tụ tinh thần còn đến từ các nét chính trong cuộc đời sôi động và vất vả của ông, tạo sự gần gũi với giới bình dân.
Bỏ sang một bên các nỗ lực thần thánh hóa Marx, cuộc đời ông thực sự đầy các bước thăng trầm.
Xuất thân từ gia đình khá giả, có vợ là nữ bá tước, em gái của thủ tướng nước Phổ, ông trở nên nghèo túng, bệnh tật suốt đời.
Cuộc đấu tranh tư tưởng ‘vì cộng đồng nhân loại’ theo lý tưởng của mình cũng khiến Marx rơi vào cảnh lưu đày.
Ông chết tại Anh vì viêm phổi năm 1883, ba năm sau khi vợ ông, Jenny von Westphalen-Marx chết vì ung thư gan.
Hai ông bà có bảy người con nhưng vì cuộc sống túng thiếu, chỉ có ba người sống đến tuổi trưởng thành.
Dù cả gia đình theo đạo Tin Lành và có ông nội Levy Mordechai là giáo sĩ Do Thái, khi chết Karl Marx được chôn cất ở khu cho người vô thần trong nghĩa địa Highgate, London.
Những gì Marx viết ra nay đúng sai ra sao còn nhiều bàn cãi.
Chủ thuyết của ông thì qua mỗi thế hệ, người ta lại tự biên tự diễn đi một chút cho hợp với nhu cầu của họ.
Nhưng đọng lại cuối cùng có lẽ vẫn là cuộc đời ‘sống nghèo chết khổ’ của một trí thức tỵ nạn đến từ Đức.
Ông muốn dùng ngôn ngữ, lập luận triết học để thay đổi xã hội tư bản, tựa như từ ‘đấu tranh từ trong lòng địch’.
Ngày nay, nước Anh và London đã thay đổi nhiều nhưng cũng không quá nhiều.
Nơi Marx sống ở Dean Street, Soho không còn là nơi cho người nhập cư nghèo, mà thành khu phố ăn chơi, thời thượng, đầy các quán xá tấp nập tối ngày.

Nghĩa địa Highgate nhờ ngôi tượng ở mộ Marx mà thành nơi hành hương của các fan, và họ bán vé vào cửa để thu tiền.
Nhưng Anh Quốc vẫn có vua, hoàng tử, công nương, công chúa và một thị trường chứng khoán to.
Họ cũng cố giữ những nghi lễ quý tộc và chế độ tư hữu đất đai và đồng vốn tư không hề đổi.
Khoảng cách giàu nghèo về thu nhập trung bình tại Anh 10 năm qua tạm coi là không đổi: giàu thì vẫn giàu, nghèo thì khó khăn hơn một chút nhưng chưa quá tệ.
Người nhập cư, tỵ nạn, và cả ‘người rơm’ tứ xứ vẫn cố vào Anh, và nếu đủ thời gian sẽ xin quốc tịch.
Riêng năm 2017, 220 nghìn người vào Anh từ EU và 285 nghìn từ bên ngoài EU.
Không ít người trong số này, giống Marx ngày xưa, sẽ muốn nhập tịch để làm thần dân Nữ Hoàng chứ không muốn sống cảnh vô tổ quốc.

Chu Văn An to Bàn Luận về Kinh Tế – Chính Trị
CỦI XƯA ĐANG PHÁT LỘ
Khu đô thị mới Thủ Thiêm – Quận 2 – TPHCM là mảnh đất rộng 930ha nằm ngay bên bờ con sông Sài Gòn, đối diện khu trung tâm sầm uất sang trọng số 1 thành phố. Do có vị trí tuyệt đẹp như vậy nên Thủ Thiêm tất yếu đã trở thành miếng mồi thơm hấp dẫn các đại gia bất động sản và một số quan chức biến chất của TP Hồ Chí Minh và Trung Ương. Từ 2002, lãnh đạo thành phố mà lúc đó ông Lê Thanh Hải là chủ tịch thanh phố đã vội vã ra lệnh thu hồi đất khi chưa thực hiện những quy định bắt buộc của pháp luật. Sự vô trách nhiệm thấy rất rõ khi dự án khu đô thị mới Thủ Thiêm được gọi một cách mỉa mai là dự án BỐN KHÔNG: “không dự án đầu tư, không quy hoạch chi tiết, không phương án bồi thường, không nhà tái định cư”. Không dừng lại ở đó, với dã tâm ‘thu hồi đất với chi phí thấp nhất’, Lê Thanh Hải đã chỉ đạo đàn em lấy giá đất từ năm 1995 (theo quyết định 05 ngày 4/1/1995) để bồi thường cho dân từ năm 2002 đến giờ bất chấp các quy định của Quốc hội và Chính phủ bồi thường sát giá thị trường.
Sự bất hợp lí ở đây là chênh lệch giá bồi thường và giá thị trường vượt quá sức tưởng tượng của mọi người, theo quyết định 135/QĐ-UB ngày 21/11/2002 của UBND TPHCM, giá bồi thường đất ở là khoảng 2 triệu đồng một mét vuông, đất nông nghiệp 200.000 đồng một mét vuông, còn giá thị trường thì cao vót, đất ở trong dự án 70 triệu đồng, đất nông nghiệp bằng 40% khoảng 28 triệu đồng. Trong lúc Quốc hội và Chính phủ trịnh trọng thông cáo với quốc dân rằng từ năm 2003 sẽ bồi thường đầy đủ những thiệt hại mà nhà nước gây ra khi thu hồi đất của dân, bồi thường sát giá thị trường, thì ở Sài Gòn, Lê Thanh Hải lại bất chấp hết tất cả quy định của cấp trên để neo giá bồi thường hơn chục năm quá vô lý làm hại dân đen. Chênh lệch giá bồi thường lên đến hàng chục thậm chí hàng trăm lần chắc chắn phải làm đem đến những quyền lợi khổng lồ nhưng hoàn toàn phi pháp cho Lê Thanh Hải và ê kíp. Tính sơ sơ mỗi mét vuông đất các quan làm ‘vênh’ ra được 30 triệu đồng thì tỗng số tiền dân Thủ Thiêm bị ‘nẫng’ mất sẽ là một con số với vô số những số 0 đằng sau: 270.000.000.000.000 đồng tương đương (lớn gấp 3 lần số tiền thiệt hại của vụ án Vinasin. Không còn nghi ngờ gì nữa, vụ ‘cướp đất’ ở Thủ Thiêm và vụ Vinasin là 2 vụ án tham những lớn nhất trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Năm 2008, sau khi làm sóng phẫn nộ của người dân Thủ Thiêm về các quy định bồi thường quá vô lí ‘nổ tung’ trên các tờ báo uy tín của cả nước, thành phố và quận 2 đã tìm cách ‘xoa dịu’ nhân dân và một bản dự thảo sữa đổi bổ sung chính sách bồi thường được đưa ra trưng cầu ý kiến cử tri cho có vẻ dân chủ. Cử tri, trong đó có nhiều cựu chiến binh và đảng viên trung kiên, đã thẳng thừng bác bỏ dự thảo này vì lý do dự thảo không bồi thường sát giá thị trường theo luật Đất Đai 2003 và nghị định 197 của Chính Phủ mà hỗ trợ theo kiểu bố thí cho thêm chút đỉnh không đáng kể. Cho dù nhân dân đã bác phương án sữa đỗi bổ sung nhưng ‘chính quyền của dân do dân vì dân’ quận 2 mà đứng đầu là Bí thư quận Tất Thành Cang và Chủ tịch quận Lê Trọng Sang (đều là những đệ tử thân tín của Lê Thanh Hải) vẫn cứ đệ trình thành phố và thanh phố vẫn cứ ngang nhiên phê duyệt một quyết định vừa trái quy định của trên vừa trái ý cử tri (quyết định 06 ngày 21/1/2009). Đừng nghĩ đầu óc lãnh đạo ta ‘đậu phụ’ mà lầm to, để đảm bảo an toàn cho mình, trước khi liều mình đặt bút ký vào một quyết định trái luật của UBND, Nguyễn Thành Tài – Phó CT UBND TPHCM đã yêu cầu Lê Thanh Hải chủ trì cuộc họp của tập thể Thường trực thành ủy vào tháng 12/2008 để thông qua chủ trương không thực hiện theo luật Đất Đai 2003 và các nghị định của Chính Phủ, chỉ hỗ trợ thêm cho dân Thủ Thiêm. Thế là tập thể thành ủy TPHCM đã quyết, mà có quyết sai đi chăng nữa thì cũng chẳng thể nào xử được cả tập thể thành ủy. Phương thức ‘phạm tội có tổ chức’ theo luật hình sự là tình tiết tăng nặng nhưng theo luật của Đảng thì chính là một tình tiết giảm nhẹ (thậm chí nhẹ như không), vì vậy phương thức này được đem ra vận dụng thường xuyên.
Nói tóm lại là những gì mà lãnh đạo TPHCM đã quyết thì sẽ mãi mãi không thay đổi mặc rằng luật và nghị định có thay đổi thế nào và bao nhiêu lần đi nữa. Cứ yên tâm vậy đi!
Nhờ ơn chính sách mới của ông Hải gia đình tôi hơn 8 trăm mét vuông đất cách đường Đồng Khởi mắc nhất Sài Gòn hơn 200 mét sẽ chỉ mua được hơn 2 mét vuông đất ở đường Đồng Khởi. Quả là cuộc sống của tôi còn tủi nhục rẻ rúng hơn kiếp nô lệ?
Ra hàng
Sau khi đã thu gom được một diện tích đất khá lớn, bước tiếp theo phải tính là ‘ra hàng’ hay nói theo giọng của giới kinh doanh là ‘hiện thực hóa lợi nhuận’. Lãnh đạo thành phố đã chọn mặt Đặng Thành Tâm để gởi vàng, mà Đặng Thành Tâm là ai, là nhà tư bản giàu số một VN, là chủ tịch tịch hoặc giám đốc của các công ty kếch sù như Sài Gòn Invest, Kinh Bắc, Tập đoàn Tân Tạo (bà Hai Tâm chị ruột của thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng làm chủ tịch), Đặng Thành tâm đã xin được bộn các dự án nhờ vào những mối quan hệ ‘tế nhị’ với các vị lãnh đạo đất nước trong đó có nhân vật chính của vụ Vinasin-Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Theo tiết lộ của báo chí, trong lúc giá đất thị trường quận 2 liên tục sốt nóng thì lãnh đạo thành phố lại tính cho Công viên Phần mềm của Đặng Thành Tâm một cái giá không thể ‘lạnh’ hơn: 10 triệu đồng một mét vuông (1.500 tỷ cho diện tích 15,9ha). Cũng theo báo chí, Đặng Thành Tâm đã đem đất này đi góp vốn pháp định với đối tác nước ngoài được 1.500USD một mét vuông. Ly kỳ hơn nữa là tháng 07 năm 2009 (một năm sau khi mua đất và tiến hành dự án), chủ đầu tư dự án Công viên phần mềm vẫn chưa đóng một xu tiền đất cho nhà nước. Sẽ còn rất nhiều dự án nữa được giao đất và tiền đất của dân sẽ tiếp tục ùn ùn chảy ra khỏi túi dân vô túi các tư bản thân hữu và các quan chức tham nhũng. Đống tiền khổng lồ kiếm được từ vụ áp phe Thủ Thiêm sẽ đóng vai trò thế nào trong vụ chạy ghế trong các đại hội sắp mở màn thời gian tới?
Cổ nhân có nói ‘Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan’. Vẫn biết quan thì phải ‘cướp’ mới là quan nhưng cướp với mức độ chóng mặt như vậy thì dân có mà cạp đất mà ăn.
Lộ diện ô dù: Nguyễn Tấn Dũng
Tình hình cướp bóc đang xuôn xẻ thì năm 2006 ông Nguyễn Minh Triết trúng cử chức Chủ tịch nước và bắt đầu sinh hoạt tổ đại biểu Quốc hội tại quận 2. Từ khi sinh hoạt tại đây ông Triết không có được một ngày tận hưởng cuộc đời chủ tịch nước mà suốt ngày phải ‘lãnh đủ’ những bức xúc của cử tri Phường Thủ Thiêm vì bị bóc lột một cách quá tàn bạo bởi ‘bàn tay sắt’ của chính quyền. Quá bực mình chịu không nổi những tâm tư trách móc của dân, trong buổi sinh hoạt cử tri Thủ Thiêm tháng 11/2007, ông Triết giơ nắm đấm lớn tiếng tuyên bố: không ngờ vụ đô thị mới Thủ Thiêm lại nghiêm trọng như vầy, tôi cảm thấy rất xót xa, tôi sẽ về yêu cầu Thủ tướng đưa đoàn thanh tra Chính phủ liên nghành vào thanh tra toàn diện khu đô thị mới Thủ Thiêm. Hãy đợi đấy! (Coi bộ mới xem phim hoạt hình của Nga!).
Biết trước tình hình bất ổn, Lê Thanh Hải đã cầu cứu ô dù của mình là Nguyễn Tấn Dũng và một kịch bản thường gặp đã diễn ra trước mắt của ông Triết chủ tịch nước và toàn dân: thành phố xin được nghiêm khắc tự thanh tra và ông Dũng đã ‘vui vẻ nhận lời’ (không cho Thanh tra Chính phủ vô thanh tra thành phố vì lí do Thanh tra… bận). Chắc là Thanh tra Chính phủ chỉ chuyên làm những vụ án ‘chuột nhắt’, không làm ‘chuột cống’. Trong lịch sử cách mạng của đất nước, Nguyễn Tấn Dũng cũng đã có quyết định tương tự là cản trở thanh tra Chính phủ vô thanh tra con cưng Vinasin, kết cục là Vinasin đã chìm ngay khi chuẩn bị ra khơi kéo theo gần 5 tỷ USD tiền thuế của dân.
Tiếp nối hành động bao che cho tập đoàn tham nhũng Lê Thanh Hải, cá nhân Thủ tướng Dũng đã qua mặt tập thể (không đúng thẩm quyền) chính phủ ngang nhiên hợp thức hóa cho sai phạm của TPHCM bằng công văn 977/VPCP-KNTN ngày 3/10/2008 cho phép TPHCM thu hồi đất khu đô thị mới Thủ Thiêm mà không cần làm phương án bồi thường như nghị định của Chính phủ đã qui định.
Bắt được tín hiệu tốt từ ngài Thủ tướng, được nhận những đồng tiền hậu hĩnh mà chính quyền gọi là ‘tiền dự án’, cán bộ quận 2 thi nhau đàn áp ép dân kết hợp với lừa phỉnh để dân nhẹ dạ kí chấp nhận chính sách bồi thường bất lương. Quốc hội thì như đã bịt mắt bịt tai trước vụ án lớn nhất lịch sử đất nước.
Dân đen chúng tôi muốn Quốc hội phải chứng tỏ sự dũng cảm mà mội đại biểu đều có trong trái tim mình tổ chức thanh tra 2 vụ án siêu nghiêm trọng là vụ Vinasin và khu đô thị mới Thủ Thiêm. Còn nhiều chi tiết chấn động nữa, nếu Quốc hội muốn biết chân tơ kẽ tóc vụ tiêu cực này xin cứ hỏi đồng chí chủ tịch Triết là biết hết. Chúng tôi mong nhận được thông tin địa chỉ nơi ở của các lãnh đạo thành phố và quận 2 có dính líu đến vụ Thủ Thiêm và gia đình để có dịp sẽ viếng thăm và vận động thuyết phục các ‘đồng chí’ trở về đúng con đường mà đảng đã chọn. Cầu trời khấn phật phù hộ cho kẻ thù của nhân dân là Lê Thanh Hải, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Trung Tính,Tất Thành Phong, Lê Trọng Sang đột nhiên có liêm sỉ và tự nguyện không ứng cử trong đại hội đảng thành phố và trung ương tới đây.
(Dân đen)
Ảnh: Nguyên Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải trình bày với nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về quy hoạch đô thị của Thủ Thiêm. Ảnh: Việt Dũng

Đập nhà, cướp đất đẩy 15 ngàn hộ dân ra ngoài đường. Họ phải sống lang bạt rày đây mai đó mười mấy năm trời, không làm ăn kiếm tiền được gì chỉ ròng rã đi kêu oan còn bị cho là PĐ. Họ phải ra tận Hà Nội để khiếu kiện, vất vưỡng ngoài đường đến nỗi có cả 1 cái làng Thủ Thiêm ở ngay thủ đô. Người dân Thủ Thiêm họ biểu tình hoài mà tuyệt nhiên báo chí không 1 dòng tin.
Hôm nay mới chỉ có dân oan Thủ Thiêm được cất lên tiếng nói (được lên báo). Vẫn còn cả triệu dân oan khắp dải đất hình chữ S đang ngày ngày kêu oan mà không được đoái hoài.
| Bài viết ngày 10 tháng 5 trên báo Người tiêu dùng. Ảnh: chụp lại màn hình |

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Ngoài bất bình và phẫn nộ về chiếm đất quy hoạch, tái định cư tại khu đô thị Thủ Thiêm, dân quận 2 còn yêu cầu “làm rõ” việc ủy ban “đổi đất lấy đường” có giá “trên trời” 1,000 tỷ đồng/cây số.
Truyền thông Việt Nam loan tin, chiều 9 Tháng Năm, tổ đại biểu Quốc Hội đơn vị số 7, đứng đầu là bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, chủ tịch “Hội Đồng Nhân Dân” thành phố, dẫn đầu có buổi tiếp xúc với cử tri quận 2. Tham dự còn có ông Nguyễn Phan Như Khuê, phó trưởng đoàn đại biểu Quốc Hội.
Ngoài ra còn có đại diện Thường Trực Ủy Ban thành phố, các sở Quy Hoạch-Kiến Trúc, Tài Nguyên-Môi Trường, Tư Pháp, Chánh Thanh Tra thành phố để trả lời thắc mắc của người dân liên quan đến dự án khu đô thị Thủ Thiêm.
Theo báo “Zing.vn,” tại cuộc họp, ông Nguyễn Tiến Hịnh, phường Thành Mỹ Lợi, quận 2 đề nghị chính quyền phải làm rõ với người dân về “con đường dát vàng” chưa đầy 12 cây số nhưng dự kiến “ngốn” 12,000 tỷ đồng ở khu đô thị mới Thủ Thiêm.
“Người dân Thủ Thiêm chưa nhận được thành quả ở Thủ Thiêm. Sau hơn 15 năm dự án khởi động, người dân chưa thấy quảng trường, khu vui chơi, bệnh viện, trường học… ở đâu, mà chỉ thấy mọc lên nhà cao tầng, villa. Tôi đề nghị phải có thanh tra dự án quy hoạch đô thị mới Thủ Thiêm,” ông Hịnh gay gắt nói.

Vấn đề thu hồi đất và tái định cư tại Thủ Thiêm cũng được người dân quan tâm. Ông Hịnh cho hay, vào năm 2012, gia đình ông nhận được quyết định thu hồi đất. Nghĩ đây là việc mở rộng trung tâm thành phố, xây dựng khu đô thị mới, gia đình ông đồng ý chuyển tới nơi tái định cư. Ông được đền bù 2 triệu đồng/mét vuông và phải bù thêm 40 triệu đồng/mét vuông mới có thể vào được nơi ở mới.
“Thành phố giải thích nơi này có thang máy, ở trung tâm nên đắt tiền. Chúng tôi đâu có cần và nếu cần thì lấy đâu ra từng ấy tiền mà mua chung cư để ở?,” ông Hinh nói.
Tương tự, bà Nguyễn Thị Kim Phượng, ở phường Bình An, cũng cho biết vào năm 2012, nhà bà bị cưỡng chế, không được đền bù, 4 người trong gia đình trở thành vô gia cư, phải chia nhau ở 4 nơi. Hiện nay, bà Phượng vẫn dựng chòi ở lại nền nhà cũ để bám đất.
Trước đó, dư luận đặt câu hỏi, với chi phí xây dựng 4 con đường trong khu đô thị mới Thủ Thiêm, quận 2, tổng chiều dài gần 11.9 cây số mà công ty Đại Quang Minh công bố đầu tư tới 12,000 tỷ đồng. Nhiều người ví von đó là đường dát kim cương, tính ra khoảng 1,000 tỷ cho mỗi cây số.
Công ty Đại Quang Minh được giao xây dựng 4 con đường tại khu đô thị mới Thủ Thiêm gồm đại lộ vòng cung dài 3.4 cây số; đường ven hồ trung tâm dài 3 cây số; đường ven sông Sài Gòn dài 3 cây số và đường vùng châu thổ dài 2.5 cây số. Bề rộng các con đường từ 11.6 – 55 mét tùy đoạn.
Với hình thức hợp đồng BT (đổi đất lấy hạ tầng), nhà cầm quyền thành phố đồng ý giao cho Đại Quang Minh 79 ha đất trong khu đô thị mới Thủ Thiêm, phường Thủ Thiêm và phường An Lợi Đông để phát triển các dự án bất động sản.

Tiếp đó, ngày 19 Tháng Sáu, 2015, công ty Đại Quang Minh và nhà cầm quyền thành phố tiếp tục ký kết hợp đồng BT thực hiện dự án xây dựng cầu Thủ Thiêm 2. Tổng mức đầu tư là 3,082 tỷ đồng, xây dựng dự án có quy mô 6 làn xe, tổng chiều dài 1,465mét, trong đó phần cầu dài 885.7 mét.
Đổi lại, công ty Đại Quang Minh được giao quỹ đất với tổng diện tích 26 ha tại khu chức năng số 6, khu đô thị mới Thủ Thiêm để thực hiện các dự án bất động sản.
Tổng cộng, công ty Đại Quang Minh đã được giao 105 ha đất tại Thủ Thiêm, nơi được coi là đất vàng tại Sài Gòn.
Báo Người Tiêu Dùng dẫn ý kiến nhiều chuyên gia về xây dựng công trình giao thông đường bộ, cho biết mức giá trên 12,000 tỷ đồng để đầu tư cho 11.9 km (tức trên 1,000 tỷ đồng/km) đường bộ là con số quá bất hợp lý. Kể cả việc giải thích nền đất ở Thủ Thiêm yếu, buộc phải đầu tư công phu hơn thì đó cũng là cái giá “trên trời.”
Một lãnh đạo công ty chuyên đầu tư xây dựng cầu đường thuộc Bộ Giao Thông-Vận Tải khẳng định, đường nội thị mà lãnh đạo Sài Gòn ký đầu tư đến mức 1,000 tỷ đồng/cây số là quá bất hợp lý, chẳng khác nào là “đường dát vàng,” vì nếu đầu tư xây dựng đường cao tốc siêu trường, siêu trọng 4 làn đường (20 mét ngang) thì cũng chỉ cần đầu tư tối đa không quá 200 tỷ đồng/cây số, nếu 8 làn đường (40 mét ngang) đường nội thị trong thành phố thì chắc chắn chi phí đầu tư phải thấp hơn 400 tỷ đồng/cây số (không bao gồm chi phí bồi thường).
Hiện người dân cần biết là điều bí ẩn gì đang che giấu sau phi vụ này, ai là người đã vung tay trực tiếp ký bản hợp đồng siêu lớn này, lợi ích thực sự đang chảy vào “túi” quan chức hay thương nhân? (Tr.N)
ĐỒNG NAI, Việt Nam (NV) – Thương lái Trung Quốc đang cho người ồ ạt thu mua rễ cây hồ tiêu với giá khá cao, khiến nông dân ở Đồng Nai đua nhau chặt cây để đào lấy rễ đem bán.
Theo Sở Nông Nghiệp Đồng Nai, lợi dụng giá hồ tiêu đang thấp, hiện thương lái không thu mua hồ tiêu mà đi gom mua rễ cây hồ tiêu để bán cho các doanh nghiệp mang qua Trung Quốc với giá khá cao để làm gì thì chưa rõ.
“Trước mình chặt thì gom rễ đốt, giờ họ mua thì mình bán. Tôi thu được 4 triệu đồng tiền bán rễ nhưng thật sự tôi không biết họ mua để làm gì,” ông Hải cho biết.
Nói với báo VNExpress, ngày 9 Tháng Năm, ông Lê Đình Hưng, phó chủ tịch ủy ban xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc, cho biết hiện tượng này diễn ra trong khoảng 2 tháng nay. Tại xã này đang có 4 thương lái thu mua rễ cây hồ tiêu với giá 20,000 đồng/kg tươi và 80,000-90,000đồng/kg khô. Sau khi thu mua họ bán lại cho công ty Âu Nga.
“Qua làm việc với công ty Âu Nga, đơn vị này cho biết sẽ bán lại cho một doanh nghiệp khác ở Sài Gòn để xuất qua Trung Quốc làm thuốc bắc,” ông Hưng nói.
Khảo sát của ủy ban xã Xuân Thọ ghi nhận, hiện tại ở xã đã có 14 hộ trồng tiêu đào rễ bán cho thương lái với diện tích hơn 10 héc ta, phần lớn diện tích tiêu nông dân chặt bỏ để bán rễ đều là cây già, năng suất thấp.