Những điều sỉ nhục và căm giận

Những điều sỉ nhục và căm giận

Lưu Quang Vũ

Một đất nước luôn có kẻ dẫn đường

Cho người ngoài kéo đến xâm lăng

Cho những cuộc chiến tranh

Đẩy con em ra trận!

Những điều sỉ nhục và căm giận

Một xứ sở

Nhà tù lớn hơn trường học

Một dân tộc có nhiều gái điếm nhất thế giới

Có những cái đinh để đóng vào ngón tay

Có những người Việt Nam

Biết mổ bụng ăn gan người Việt!

Một đất nước

Đến bây giờ vẫn đói

Không có nhà để ở

Không đủ áo để mặc

Ốm không có thuốc

Vẫn còn những người run rẩy xin ăn!

Nỗi sỉ nhục buốt lòng

Khi thấy mẹ ta bảy mươi tuổi lưng còng

Phải làm việc mệt nhoài dưới nắng

Khi thấy lũ em ngày càng hư hỏng

Khi người mình yêu

Nói vào mặt mình những lời ti tiện

Khi bao điều tưởng thiêng liêng trong sạch

Bỗng trở nên ngu xuẩn đê hèn…

Image may contain: 1 person, smiling, standing and text
Image may contain: one or more people and text

NHỮNG NGƯỜI CS CÓ LƯƠNG TRI CẦN NHÌN NHẬN THẲNG THẮN, ĐỂ ĐCS CẦM QUYỀN LÀ KHÔNG THỂ.

Đỗ Ngà

Những bạn sinh viên ngồi ghế nhà trường được chính quyền chăm sóc tư tưởng rất kĩ. Những môn của Marx Lenin được nhồi vào đầu liên tục bằng một thời lượng vượt trội so với môn khác. Mà đứng trên bục giảng là những con người não phẳng, nên cứ thế chúng ủi phẳng não những bạn trẻ sinh viên.

Khi học xong, đa phần sinh viên chẳng có chút kiến thức gì, và trong đầu của họ chỉ có một suy nghĩ, rằng chúng ta đang tiến lên XHCN – một nấc thang lịch sử cao hơn TBCN. Những bộ não non nớt và suy nghĩ ngô nghê được những bộ não phẳng chứa đầy bả Marx Lenin là ủi tiếp cho thật phẳng. Và từ đó hình thành nên những trí thức chỉ biết hụp mặt vào cái máng lợn kiếm ăn và thả cửa cho CS vơ vét đất nước.

Học bao nhiêu năm về môn chính trị Marx Lenin mà sinh viên không biết đặt một câu hỏi đơn giản để phá vỡ thứ triết lí vớ vẩn đó. Một nhà nước của giai cấp công – nông thì giai cấp này được trao quyền gì? Giai cấp này có thực quyền không? Nhà nước của dân, do dân và vì dân thì dân đã được trao những quyền gì? Hãy xem sự bất lực của dân chúng khi chứng kiến thượng tầng chính trị bán đứng nhân dân thì thấy ngay dân có quyền hay không.

Một nhà nước trong sạch không thể cậy nhờ vào đạo đức của người cầm quyền. Vì đạo đức của con người sẽ không thể chống nổi một tập thể tha hóa. Khi cả bộ máy chính trị bao trùm trên một quốc gia bị tha hóa thì diệt tham nhũng là phải loại bỏ chế độ. Trò đốt lò của anh quyền lực lớn như là trò khoan lỗ vào mặt nước mà thôi, khi rút khoan lên nước sẽ lấp lại như cũ.

Một nhà nước trong sạch cần phải có quyền lực nhân dân. Với 93 triệu đôi mắt và có quyền lực trong tay, nhân dân như bộ lọc tẩy sạch ô uế bộ máy nhà nước. Ở Úc, ông thủ hiến bang New South Wales từ chức vì món quà trị giá 3.000 đô Úc, nhưng ở Việt Nam, làm thất thoát hàng ngàn tỷ chỉ rút kinh nghiệm, cướp đất đẩy hàng vạn dân Thủ Thiêm vào cảnh khốn cùng cũng ung dung hưởng lạc. Đấy là sự khác nhau giữa nơi có quyền lực nhân dân và nơi quyền lực nhân dân bị tước bỏ.

Vậy quyền lực nhân dân là gì? Đó là quyền ứng cử, quyền bầu cử tự do, quyền bỏ phiếu trưng cầu dân ý, quyền biểu tình, quyền lập đảng lập hội.

Để có quyền ứng cử, phải có đa đảng, vì khi độc đảng tất cả ứng cử viên là đảng viên ĐCS và những ứng cử viên ngoài đảng có chăng cũng chỉ là để làm màu cho có vẻ dân chủ nhằm lừa gạt toàn dân.

Quyền bầu cử tự do nó buộc người ứng cử đáp ứng nguyện vọng dân chứ không phải đáp ứng nguyện vọng đảng, điều đó dẫn tới xóa đi Quốc hội thuần chủng 1 phe kiểu quốc hội CS. Điều đó sẽ dẫn tới quốc hội phải có đủ 2 viện thượng và hạ, đồng thời phải có đa thành phần đảng phái để đại diện cho nhân dân đúng nghĩa. Và để có bầu cử tự do phải có cơ quan kiểm phiếu độc lập để loại trừ thiên vị. Chỉ có nhà nước tam quyền phân lập mới có những cơ quan độc lập với đảng phái.

Quyền biểu tình là quyền đòi hỏi chính phủ phải hành động quyền lợi vì dân. Khi dân đã biểu tình, chính phủ phải nghe lời dân thì đất nước mới an toàn với ngoại bang, và sẽ ngăn chặn kịp thời hành động sai lầm của chính phủ. Theo nguyên tắc, Hiến pháp phải trên luật pháp. Khi Hiến pháp quy định biểu tình thì luật pháp không thể xâm phạm quyền này. Thế nhưng chính quyền CS đã chà đạp lên hiến pháp đánh đập, bắt nhốt dân biểu tình thay vì bảo vệ họ. Đã quy định quyền bằng Hiến pháp – một loại luật cao nhất mà khi dân sử dụng quyền hiến định thì chính quyền lại vu là “lợi dụng”. Sống theo Hiến pháp mà còn vu là “lợi dụng” thì những bạn công an có lương tri thấy chính quyền của bạn đúng hay dân đúng?

Quyền được bỏ phiếu trưng cầu dân ý để loại bỏ những hành động bán nước trắng trợn. Như dự luật đặc khu hôm nay đây. Năm ngoái Bộ Chính Trị đã quyết bằng chữ ký của Đinh Thế Huynh và hôm nay lại đem ra cho Quốc hội diễn trò biểu quyết. Không có quyền lực nhân dân thì Bộ Chính Trị và Quốc hội đang tung hứng thủ tục bán nước trước mắt mà nhân dân hoàn toàn bất lực.

Các bạn công an và quân đội, hãy nhìn cho kỹ nhân dân đi, họ có quyền gì để sống xứng đáng một kiếp người? Thật sự, lương của các bạn là từ tiền thuế của dân, đảng thu cho những đảng viên cao cấp bỏ túi chán chê rồi họ phát lại cho bạn những đồng tiền còm cõi để xúi bạn quay họng súng vào dân bảo vệ họ. Nếu bạn có lương tri thì các bạn phải biết căm phẫn về điều này các bạn ạ. Đừng phân chiến tuyến bên ta bên địch với nhân dân. Làm thế là vô cùng gian ác. Tội dân lắm.

Điều nữa tôi muốn nói, đó là lật CS chỉ là lật những kẻ bán nước hại dân trên thượng tầng. Chính quyền hậu CS cũng cần có quân đội và công an cho đất nước. Lúc đó, đất nước cần các bạn vì chỉ có các bạn mới có nghiệp vụ cho một nhà nước mới – nhà nước vì dân. Hãy sống sao để còn đường sống cho Việt Nam hậu CS, đừng ác quá để dân phẫn nộ thì không ai cứu nổi. Sống thế là không có hậu, mà cái hậu là cuộc sống con cái của bạn và có khi cái hậu nó vận vào ngay cuộc đời bạn. Nên biết suy nghĩ đừng là thứ công cụ vô thức. Trân trọng!

Hãy xuống đường hôm nay để tránh giá treo cổ ngày mai

Hãy xuống đường hôm nay để tránh giá treo cổ ngày mai

Trần Quốc Việt (Danlambao) – Hãy xuống đường đồng loạt và liên tục dưới bóng sắc phục, dùi cui, và nắm đấm hôm nay còn hơn để con cháu ta phải xuống đường dưới họng súng Thiên An Môn và giá treo cổ của Trung Cộng ngày mai. 
Hãy đi “bão” trong đêm nay để phản kháng bằng biển âm thanh cuồng nộ cơn bão Bắc Thuộc sắp tràn vào đất liền Việt Nam vào rạng sáng ngày mai.
Chúng ta không phải là những con thú cam chịu xếp hàng đi vào lò sát sinh Hán hóa. Tinh cha Việt Nam huyết mẹ Việt Nam sinh thành nên ta. Hãy đừng làm hoen ố dòng sông tinh huyết Việt Nam luân lưu muôn đời qua hơn bốn ngàn năm lịch sử ấy khi ta hôm nay im lặng chỉ để được để yên thân và cúi mặt xuống với bao lo toan đời thường mà phó mặc cho tổ quốc và bao thế hệ sau ta phải chịu cảnh lăng trì thảm khốc toàn diện về mọi phương diện dưới bàn tay của kẻ đô hộ tàn bạo. 
Thế giới có hàng trăm nước nhưng chỉ có một nước Việt Nam. Mất nước rồi chốn nào ta quay về, mặt mũi nào ta nhìn người ngoài lúc còn sống, hồn nào ta đối mặt với cha ông ở thế giới bên kia. Tủi nhục của kẻ nô lệ mất quê hương sẽ vô bờ bến. Con cháu ta dưới bóng roi vọt và trong cơn mưa nước mắt tuyệt vọng cũng sẽ trách chúng ta vô bờ bến. 
Hãy tin vào sức bật Việt Nam và linh hồn Việt Nam bất diệt tiềm ẩn trong ta. Hãy noi gương hàng ngàn thế hệ tiền nhân để hôm nay ta hãy vượt qua mọi sợ hãi và tạm gác mọi sự qua bên để cùng nhau nắm tay đoàn kết muôn người như một để bảo vệ Việt Nam đang lâm nguy. 
Sự tồn vong của Việt Nam là trách nhiệm và lương tâm của mỗi người Việt. Vì thế mỗi người hãy lên tiếng mãnh liệt, hãy xuống đường thật đông thật mãnh liệt như sóng thần để chặn đứng tức thì nguy cơ họa xâm ngay trước mặt trước khi quá muộn. 
Tương lai sinh tử của Việt Nam nằm trong tay tôi, tay anh, tay chị, tay em, tay ông bà cha mẹ. 
Tương lai sinh tử của Việt Nam nằm ở đôi chân xuống đường của tất cả mọi người con của Mẹ Việt Nam với tiếng thét lay động lịch sử, sông núi, và hồn người: “Việt Nam muôn năm… muôn năm… muôn năm”. 
07.06.2018

Dân Làm Báo kêu gọi quý bạn đọc trong thôn cùng nhau biến suy tư thành hành động

Dân Làm Báo kêu gọi quý bạn đọc trong thôn cùng nhau biến suy tư thành hành động

Danlambao – Với hiểm hoạ mất nước từng bước, trước âm mưu của đảng CSVN biến Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc thành đặc khu chiến lược của Tàu, mỗi người chúng ta hãy chọn cho mình một hành động thích hợp nhất để cứu nước. 

Những lời than van không cứu nỗi Vân Đồn.

Những bài viết lên án cộng sản Ba Đình bán nước không đủ để giữ Bắc Vân Phong. 
Mong chờ người khác cưu mang cơ đồ Tổ Quốc thì sẽ mất Phú Quốc. 
Và Việt Nam rồi sẽ chỉ là một tiếng thở dài trong tâm tưởng.
Xin đừng chỉ nói không với những kẻ đã điếc vì tiếng gọi quyền lực. Xin đừng chỉ phân tích hiểm hoạ Bắc Thuộc cho những kẻ đã mù mắt bởi đồng tiền. Xin đừng chỉ lên án bằng lời với những kẻ đã bán rẻ lương tâm và nguồn cội. Đất sẽ mất và nước sẽ không còn khi tập đoàn bán nước vẫn độc quyền cai trị và buôn bán giang sơn. 
Hãy biến suy tư thành hành động hỡi các bạn đọc thân quý của Dân Làm Báo! 
07.06.2018

Luật sư Nguyễn Văn Đài và cộng sự Lê Thu Hà rời tù cộng sản để sang Đức

Luật sư Nguyễn Văn Đài và cộng sự Lê Thu Hà rời tù cộng sản để sang Đức

CTV Danlambao – Theo nguồn tin của một số bạn bè, vào tối thứ Năm, 07/06/2018 Ls Nguyễn Văn Đài và người cộng sự của anh là Lê Thu Hà đã rời trại giam B.14 của Bộ Công an tại xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì. Công an chở thẳng đến phi trường Nội Bài để lên đường đi sang Đức.
Chuyến bay rời Hà Nội vào lúc 11 giờ khuya và đến Frankfurt vào 5:58 sáng thứ Sáu. Cùng đi với Ls Đài là vợ – chị Vũ Minh Khánh.
Luật sư Nguyễn Văn Đài là một người hoạt động nhân quyền đã bị nhà cầm quyền CSVN bắt giam và năm 2007 và bị tuyên án 4 năm tù, 4 năm quản chế về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.
Ra tù anh tiếp tục tranh đấu cho nhân quyền và bị bắt giam vào ngày 16/12/2015. Sau hơn 2 năm bị bỏ tù không xét xử, vào tháng 4 năm 2018 anh bị xử tù 15 năm, quản chế 5 năm với tội danh “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.
Trong cùng phiên toà vào ngày 5/4/2018, chị Lê Thu Hà cũng bị kết án 9 năm tù, 2 năm quản chế với cùng “tội danh”.
Luật sư Nguyễn Văn Đài là người Việt Nam đầu tiên được Hội Thẩm Phán Đức trao giải thưởng Nhân Quyền 2017. Việc nhà cầm quyền CSVN phóng thích anh chắc hẳn đến từ sự vận động và áp lực của chính quyền Đức.
Đây có lẽ cũng là một đổi chác theo ý nghĩa của một hành động chuộc lỗi chính trị của Hà Nội sau khi đã ra lệnh cho mật vụ, công an CSVN bắt cóc Trịnh Xuân Thanh đang trốn tại Đức, vi phạm pháp lý nước Đức và mọi nguyên tắc ngoại giao của 2 quốc gia.
08.06.2018

NHỨC NHỐI CON TIM 

NHỨC NHỐI CON TIM 

Tràm Cà Mau

Đâu phải tại yêu nhiều tim đau nặng, 
Trái tim nầy riêng tặng một người thôi.
 

Nhiều người tưởng rằng, đau tim là bệnh của ai khác, chứ không phải họ. Lầm to, ai cũng có thể chết bất thần vì đau tim, mà không có một triệu chứng nào báo trước cả. Đau tim, một trong những bệnh giết chết nhiều người nhất tại nước Mỹ. Nhờ khoa học tiến bộ, biết đích danh chết vì bệnh tim. Chứ bên Việt Nam mình thì cứ gọi là “trúng gió”, trúng gió mà chết, nhiều lắm. Bị trúng gió, thì cạo gió, và xoa bóp huyệt đạo lung tung, cũng cứu được rất nhiều người. Đó cũng là một cách kích động cho trái tim đập lại, cho máu lưu thông, mà thoát chết. Cái gì cũng là “trúng gió” cả. 

Câu chuyện “trúng gió” tại Mỹ cũng rất nhiều. Trong sở tôi, có một ông chưa được 60 tuổi, buổi trưa gục đầu trên bàn và chết mà không ai biết. Ông bạn ngồi bên cạnh đến lay nhẹ và nói: “Dậy, dậy, trong giờ làm việc mà ngủ, người ta thấy kỳ lắm”. Ông nầy chết trong khi đang làm việc. Đâu phải công việc khó khăn, mệt nhọc và căng thẳng thần kinh lắm cho cam. Công việc cũng nhàn nhã, thong dong, không ai thúc hối, thế mà vẫn chết. 

Một ông khác, tuổi trên 50, còn độc thân, đi ăn trưa về, vừa buớc vào thang máy, thì quỵ xuống. Bạn đồng nghiệp kêu xe cấp cứu, đến bệnh viện thì đã chết rồi. Nhiều người ngạc nhiên, vì ông nầy trông trẻ trung, dáng vóc khỏe mạnh, lanh lẹ và độc thân, không có ai mè nheo, cằn nhằn đến độ bực mình mà chết. 

Một ông bạn, suốt đời không có triệu chứng gì về đau tim cả. Chỉ có bà vợ hay la mắng rầy rà làm ông buồn mà thôi. Một hôm ông ngồi đọc báo chờ vợ trước siêu thị. Bà vợ đẩy xe ra cửa, và nạt ông chồng: “Còn ngồi đó nữa sao? Không phụ tôi đẩy xe ư? Đàn ông gì mà lười biếng quá”. Ông vội vã đến đẩy xe cho vợ, mới đi được mấy bước thì quỵ xuống. Bà vợ nạt: “Già rồi mà đi đứng còn hấp tấp, không ý tứ gì cả. Sao không đứng dậy, mà còn định nằm vạ đến bao giờ?” Thấy chồng nằm vạ lâu, bà cúi xuống kéo áo ông, thấy hai con ngươi đứng tròng. Bà hốt hoảng la lên. Nhưng không kịp nữa. Ông đã bị đứng tim chết rồi. Chính bà kể lại và khóc lóc. 

Báo đăng, có ba ông bác sĩ gây mê, chưa đến 50 tuồi, đều chết vì bịnh tim. Cả ba ông đều không có triệu chứng gì về đau tim. Một ông vừa lái xe về nhà. Bà vợ ở phòng trên nghe tiếng ga-ra mở cửa. Chờ mãi không thấy chồng, chạy xuống ga-ra, thì thấy ông gục đầu trên tay lái mà chết. Ông đã bị đứng tim. Một ông khác, vừa chuyển thuốc mê vào cho bệnh nhân sắp mổ, thì gục xuống, và đi luôn. Một ông khác, cũng chết đột ngột tương tự. Đau tim mà chết. Không biết nghề bác sĩ gây mê nầy có lo lắng lắm không, mà giết chết nhiều người tuổi còn khá trẻ. 

Ngày nay, 50 tuổi được xem là còn trẻ, chứ ngày xưa, vua Khải Định đã ăn mừng”tứ tuần thượng thọ” rồi đó. Thời nầy, 40 tuổi thì xem như còn xuân xanh lắm, nhiều anh chưa chịu lấy vợ, nhiều chị chưa chịu lấy chồng, vì còn trẻ mà, vội chi? Bạn tôi, đi làm việc về, đút chìa vào ổ khóa cửa mãi mà không được, cứ trật ra ngoài hoài. Rồi bỗng nhiên quỵ xuống trước cửa nhà. Trong phút nguy cấp đó, anh biết không phải bị “trúng gió”, vội vã mò điện thoại cầm tay, kêu số cấp cứu911. Anh được chở kịp vào bệnh viện, và đêm đó, bác sĩ đè ra mổ tim ngay. Cứu anh sống. Nhưng không làm việc được, tay yếu không lái xe, trí óc không còn sáng suốt. Vẫn sống bình thường. Hai năm sau, trong khi đang tắm, qụy xuống, và chết vì tim. Có người phỏng đoán, anh chết vì tắm nước quá mát. Máu dồn ra ngoài da để bảo vệ thân thể, tim không còn máu, nên “đi” luôn. 

Ông bạn ngồi cạnh tôi, người Mỹ, tuổi chưa được 50, dáng người gầy, thon thả, mỗi chiều sau khi tan sở, chạy bộ ven bờ sông. Một hôm nọ, vợ ông không thấy ông về, điện thoại hỏi thăm khắp nơi. Hôm sau điện thoại vào sở xem ông có đi làm không. Đi tìm mãi, cảnh sát báo cho bà biết, tìm ra xác ông bên bờ sông. Ông chết vì bị đứng tim. 

Một ông bác sĩ mổ tim, tập thể dục mỗi ngày. Cũng không có triệu chứng gì trước về căn bệnh tim. Hôm đó ra sân quần vợt. Vừa đưa vợt lên, thì té qụy xuống, và chết luôn. Không cứu kịp. Một ông khác, trưa nào cũng lái xe đến sở của cô con gái, để cha con cùng đi ăn, và chuyện trò cho vui. Một hôm, trên đường đi, ông thấy đau trong ngực, và biết cần cấp cứu ngay. Ông rán hết sức, lái xe đến thẳng phòng cấp cứu của bệnh viện và khai là đau tim. Nhân viên bệnh viện thấy ông còn lái xe được, và để ông chờ. Chờ lâu quá, ông chết ngay trong phòng làm hồ sơ tiếp nhận cấp cứu. Đáng ra, ông phải dừng lại, và kêu xe cấp cứu ngay. Bởi lái xe, nguy hiểm cho người khác nếu ngất xỉu trên tay lái. Hơn nữa, nếu đi xe cấp cứu, bệnh viện sẽ cứu ông ngay khi mới vào. 

Nhiều người rất sợ vào nằm chờ trong phòng cấp cứu của bệnh viện. Vì trên đường thì xe hú còi ầm ỉ, gấp gáp lắm, nhưng khi đến bệnh viện, thì để cho người bệnh nằm chờ dài cổ ra, chờ cho chán chê, mà chẳng ai dòm ngó đến. Rồi chán nản quá, họ đứng dậy, ra về mà không cần báo cho bệnh viện biết. 

Bạn tôi, buổi tối ngồi xem truyền hình với đứa con trai. Khi hết phim, cháu đến thức bố dậy đi ngủ: “Bố ơi, hết phim rồi, vào đi ngủ.” Lay hoài không thấy bố dậy. Cháu bé khóc: “Bố đừng làm con sợ.” Và bạn tôi đã chết tự bao giờ mà không biết. Chỉ có hai bố con sống với nhau. Tội nghiệp thằng bé, không biết phải làm gì trong tình thế đó. Nhiều trường hợp khác nữa, thấy tận mắt, nghe tận tai, nhiều quá không kể hết được. Thế mà, tôi cũng như mọi người khác, cứ tưởng bệnh tim là bệnh của ai, chứ không phải của mình. 

Y hệt chuyện chết chóc, ai đó chết, chứ mình thì không, như sống mãi muôn đời. 

Nhiều năm trước, khi đi ra ngoài trời lạnh, tôi cảm thấy nhói nhói trong tim. (Nói theo bạn tôi, là cảm thấyđau nhè nhẹ như khi bị phụ tình). Tôi cũng không cần báo cho bác sĩ biết. Một hôm đi khám bệnh, trong lúc nói chuyện đùa cho vui, tôi tiết lộ cái “nhói nhói như bị phụ tình” đó. Ông bác sĩ nầy tử tế, đưa tôi đi đo tâm động đồ. Không biết sao hôm đó, tâm động đồ của tôi bất thường, lặng đi hai nhịp. Nhiều người cho biết, bình thường thì cảm thấy tim đau, nhưng khi đo nhịp tim, thì tim đập bình thường, nên không có dấu hiệu nào cả, bác sĩ cho là tim đập bình thường. Sau đó, tôi được đưa đi thử nghiệm nhiều cách khác nữa. Làm luôn cả thử nghiệm “phóng xạ” (nuclear scanning), bơm chất cản quang vào máu, và soi xem các cơ tim hoạt động ra sao. Tôi được nằm và chuồi vào một cái máy, như sắp phóng tôi vào trong không gian, ở các phim giả tưởng. Sau đó, được xét nghiệm bằng siêu âm xem các van tim hoạt độngcó bình thường không. Bác sĩ gia đình nói cho tôi biết, có một mạch máu rất nhỏ dưới đáy nhọn của tim bị nghẹt nhẹ. 

Về sau, tôi nói điều nầy với ông bác sĩ chuyên môn bệnh tim, ông cười và mĩa mai tôi. Vì các thử nghiệm đó, không thể kết luận nghẹt mạch máu tim. Chỉ khi nào làm thử nghiệm soi mạch máu (angiography) mời biết rõ có nghẹt hay không. Bác sĩ gia đình cho tôi uống thuốc trừ mỡ trong máu (cholesterol), uống mỗi ngày, uống đều đều. Một hôm tôi đọc được tài liệu cho biết, uống thuốc trị mỡ lâu ngày, có thể đưa đến bệnh gan trầm trọng. Bạn tôi cũng dọa tôi về bệnh gan, đưa cho tôi nhiều thống kê đáng sợ về những người bị hư gan vì uống thuốc đau tim. Có lẽ tôi thiên vị, thương lá gan hơn thương trái tim, cho nên tôi ngưng uống thuốc trừ mỡ. 

Sau đó, tôi thường nghĩ, đâu cần uống thuốc trừ mỡ, không uống, tôi vẫn sống nhăn răng ra đây, có can gì đâu. Cho đến một hôm, tôi thấy cánh tay trái mỏi trong bắp thịt, hơi tê tê, nhói nhói. Tôi tưởng vì cắt tỉa mấy cây hường mà ra. Nếu đau tay vì tỉa hoa, thì phải đau tay mặt mới đúng, nhưng tôi cố giải thích sao cho tự yên tâm mình. Nghĩ rằng, rồi bắp thịt sẽ hết đau. Nhưng sau đó, nhiều hôm đang tập thể dục nữa chừng, thì mệt dữ dội, phải ngưng tập năm bảy phút mới tập lại được. Sau đó, mỗi lần xách cái gì nặng, cũng mau mệt khủng khiếp. Những lúc đi ra ngoài trời lạnh, thì mệt ngất, đi không được, phải quay về. Thêm vào các triệu chứng đó, là thỉnh thoảng nghe nhói trong tim, ở ngực, nhưng không xác định được chắc chắn đau chỗ nào. Có đêm đang ngủ, nghe nhói tim thức giấc dậy. Những lúc nầy, là tim đau, nếu được “thăng” ngay, thì khỏe khoắn và nhẹ nhàng lắm. Không đau dớn chi nhiều cả. 

Với những lời khai bệnh như trên, ông bác sĩ gia đình vẫn cười, cho rằng chưa đáng chuyển qua bác sĩchuyên môn, và chỉ cho uống thuốc. Dù ông nầy rất tử tế, rất tốt. Khi tôi khai có ngày bị đau nhói trong ngực và mệt đến hai ba lần, ông mới chuyển qua bác sĩ chuyên môn về tim. Qua lời khai, ông bác sĩ nầy biết ngay là tôi bị nghẽn mạch máu tim. Ông giải thích, và cho tôi biết có 3 cách chữa trị. 

Thứ nhất là uống thuốc để cầm cự. Thuốc không chữa được bệnh, mà chỉ làm mạch máu giản to ra, cho máu dễ lưu thông hơn, khi nào không uống thuốc, thì mạch máu không gỉản, và lúc đó có cơ nguy. 

Cách thứ hai là đút vào chỗ nghẽn một cái ống kim loại như cái lò xò lưới, rồi cho ống phình ra, ép chất mỡ vào thành mạch máu, để máu có thể lưu thông qua “ống cống” đó. 

Cách thứ ba, là lấy ống tĩnh mạch ở chân, rồi nối bắc cầu băng qua chổ nghẽn, cho máu lưu thông theo đường mới. 

Cả ba cách, chất mỡ vẫn còn nằm đó, nguồn bệnh vẫn còn đó, nhưng máu huyết được lưu thông, thì bớt đau, hoặc bớt nguy hiểm cho tính mạng. Ông hẹn ngày, và nói sẽ đút cái “ống cống” vào mạch máu cho tôi, dễ lắm, chưa đầy nữa tiếng thì xong. Chỉ nằm bệnh viện một hôm rồi về nhà. Tôi yên chí lớn. Sá gì một hai cái ống kim loại nằm trong thân thể. Đúng ngày hẹn, ông bác sĩ cho đè tôi ra, cắt mạch máu ở háng, đút cái ống thông lên tận tim. Thật lạ, tôi không thấy đau đớn chi cả. Chỉ khi ông bơm thuốc nhuộm vào mạch máu qua cái ống, thì cảm thấy nóng nóng, ấm ấm. Tôi nhìn vào màn truyền hình, thấy màu đen tỏa ra nhiều nhánh như hệ thống thượng nguồn của sông rạch. Ông bác sĩ chỉ cho tôi chỗ mạch máu bị nghẹt. Ông nói, mạch nầy đã nghẹt 100% nếu không thì sẽ thấy máu đi vòng qua bên kia. Ông cho biết hai mạch bị nghẹt nặng, một mạch khác bị nghẹt 60%. Không thể đặt “ống cống” thông (sten) được. Ông cắt cử bác sĩ giải phẩu cho tôi, và định luôn ngày mổ banh ngực. Tôi cũng hơi ngạc nhiên, và không ngờ tình trạng trái tim của mình tệ đến thế. Rồi tôi làm đủ các thủ tục. Được dặn dò điều gì phài làm trước ngày lên bàn mỗ. Cho tài liệu đọc, để biết sơ sơ về mổ cái gì, mổ ra làm sao, và làm cái gì trong lúc mổ. 

Để biết lý lịch và kinh nghiệm của ông bác sĩ sắp giải phẩu cho tôi, tôi mở internet ra, vào Google, rồi đánh máy tên ông bác sĩ vào. Mở cái web có tên ông ấy ra, tôi sẽ biết rỏ năm sanh, học trung học ở đâu, đại học ở đâu, tốt nghiệp năm nào, làm ở nhà thưong nào bao nhiêu năm, làm gì, đưọc huy chưong, tưởng thưởng nào. Tôi không ngờ, ông bác sĩ sẽ mổ cho tôi, là trưởng khoa tim ở bệnh viện tôi sắp nằm, và ông nầy có rất nhiều kinh nghiệm trong việc mổ tim. 

Tôi về nhà, lục internet xem về mổ tim. Qua mạng lưới Google, tôi tìm mục mổ tim (open heart surgery), tìm ra được rất nhiều bài viết, phim chiếu rất rõ ràng, hay. Có nhiều mục chiếu video cuộc mổ tim. Chiếu từ khi rạch ngực, cưa đôi cái xương sụn nối với các xương lồng ngực, banh lồng ngực ra, và khâu vá, mổ, đóng lại. Xem thì hơi ớn, vì thấy ghê quá, banh toác bộ xương sườn ra, mà mằn mò, khâu vá như một ông thợ may vụng vềtập may, trong khi trái tim vẫn đập thoi thóp co bóp. Nếu không “cóc cần” mọi sự, thì e cũng lo lắm. Ai sắp mổ ngực, nếu sợ chết, thì đừng xem các video nầy mà sợ. Không thấy, không biết, thì yên tâm hơn. Đỡ sợ. 

Trước khi mổ tim mấy ngày, bệnh viện dặn dò tôi làm phải giữ gìn sức khỏe kỹ lưỡng, đừng để bị ho hen, cảm cúm, Vì nếu bị bệnh khác, thì cuộc mổ sẽ hoãn lại, hoặc bị nhiểm trùng trong khi nổ, rất khó bình phục và nguy hiểm. Họ phát cho tôi khá nhiều tài liệu để đọc, nhiều giấy tờ dặn dò làm việc gì trước, việc gì sau, phải ghi xuống giấy để nhớ theo thứ tự. Cái bàn của tôi, vung vải giấy tờ lộn xộn. Biết là có thể “đi đong” cái mạng già trong cuộc giải phẩu, tôi làm một bảng liệt kê nhắc nhở và dặn dò bà xã phài làm gì, làm gì, nếu tôi không còn nữa. Điều cần nhất là đừng có khóc lóc, buồn bả, vì chết cũng là một tiến trình của đời sống. Đừng có làm đám tang um sùm, đừng tụng kinh gõ mõ cầu siêu, cũng đừng cáo phó, đừng vòng hoa, đừng hòm tốt. Giản dị đem thiêu, rồi lấy tro. Sau đó, làm gì với mớ tro đó cũng được.

Trước khi mổ mấy hôm, tôi giữ gìn vệ sinh kỹ lắm. Mặc thật ấm áp, ăn uống điều độ, ăn chất hiền lành, ngủ nghê đầy đủ. Ít dám đi ra ngoài, tránh đám đông. Thế mà trước khi mổ hai hôm, gia đình đứa cháu kêu điện thoại, nói là còn chừng bốn mươi lăm phút nữa thì sẽ ghé thăm. Họ đi xa bốn trăm dặm để thăm tôi, lẽ nào từ chối được. Họ nói là nghe cậu sắp đi mổ, đến thăm và chúc may mắn. Tôi và vợ vôi vã dọn dẹp lại căn phòng khách bừa bãi, lộn xộn, quét nhà, lau chùi, đang bệnh mệt, lại mệt thêm, giữa mùa đông mà mồ hôi vã ra. Mấy lần vợ chồng mệt quá, gắt nhau. Cả gia đình đưá cháu gồm năm người, vừa ho hen, vừa hít mũi sụt sịt. Họ ngồi trong phòng khách mà nhảy mũi lia lịa, làm bà xã tôi sợ hải, tái mặt. Tôi cũng ngại mình bị nhiễm bệnh, chỉ cười mà không dám nói ra. Họ ngồi chơi chừng một tiếng đồng hồ. Tôi cũng mệt lắm, nhưng không dám đi nằm. Sau khi gia đình đứa cháu đi rồi, chúng tôivội vàng bày lại giấy tờ cần thiết ra bàn lại, và nhất định không bốc điện thoại. Ai kêu cũng không bắt. Bệnh viện có gì khẩn cấp thì nhắn lại trong máy. Bây giờ, tôi mới có cái kinh nghiệm là đừng đi thăm ai trước khi họ sắp lên bàn mổ, và đừng thăm họ sau khi họ mổ xong về nhà. Vì thời gian nầy, sức khoẻ của họ rất mong manh, rất dễ bị nhiễm trùng từ người khác. Vã lại, họ đang mệt, đừng làm họ mệt thêm, mình thì vì thương mến họ, đến thăm viếng, nâng đỡ tinh thần, và nếu không thăm, thì sợ bị trách là vô tình. Nhưng nếu chờ họ bình phục rồi đến thăm thì tốt hơn, vui hơn. 

Bệnh viện hẹn tôi 5 gờ sáng. Tôi phải dậy lúc 3 sáng giờ sửa soạn, 4 giờ thì anh bạn hàng xóm lái xe đưa tôi đi. Đến nơi, bệnh viện còn đóng cửa. May nhà tôi không xa bệnh viện, có nhiều bệnh nhân phải ngủ tại khách sạn đêm trước đó, để kịp giờ hẹn. Những y tá, nhân viên làm thủ tục giấy tờ trước khi lên bàn mổ rất dịu dàng, vồn vã, tử tế. Cũng làm cho tôi cảm thấy vui trước khi lên bàn mỗ. Nhắc tôi rằng, đời còn có nhiều người dễ thương lắm. Một ông y-tá già, cầm cái dao cạo điện, hỏi han tôi ngọt ngào, và ông bắt đầu cạo lông lá cho tôi, cạo từ dưới háng cạo lên bụng, ngực. Trơn tru, sạch sẽ. Ông vừa cạo vừa mĩm cười. Sau đó, tôi được đẩy vào phòng mỗ. Trên đường vào phòng mỗ, tôi nghĩ rằng, mình đã về hưu được đúng hai năm, đã được nghỉ ngơi, thong dong, đi chơi, vui thú, làm biếng, không lo lắng, không bận rộn, nhàn nhã, thảnh thơi. Thế thì hôm nay, nếu cuộc giải phẩu thất bại, cái thân nầy được chở xuống nhà xác, thì cũng khỏe, không có gì để tiếc nuối cả. Nghĩ thế, tôi sướng quá, và cười thành tiếng. Ông y-tá đẩy xe ngạc nhiên, chắc chưa thấy một “thằng điên” nào vui vẻ cười tươi như vậy trước khi được mổ tim, nguy hiểm đến tính mạng. Ông hỏi tôi cười cái gì, giờ nầy mà còn cười được, không lo lắng hay sao. Tôi cho ông biết lý do tại sao tôi cười sung sướng, ông vỗ vào chân cái bộp, và khen tôi chí lý. 

Thực tâm mà nói, thì sống chết đối với tôi, cũng không quan trọng lắm. Không chết trẻ, thì chết già. Không chết bây giờ, thì sau nầy cũng chết. Con người phải già, phải chết, để cho các thế hệ trẻ lớn lên thay thế, thế giới sung sức hơn. Cứ thử giả dụ như, con người không chết, thì bây giờ, cả thế giới đầy cả người già lụ khụ, già chiếm chín phần, trẻ chỉ một phần. Thế giới nây toàn ông bà già mấy trăm tuổi, chống gậy lê từng bước, xe lăn đầy phố phường, đường xá. Thế thì lấy ai mà sản xuất, nuôi nấng nhân loại. Bởi vậy, tôi bình tỉnh, và nghĩ rằng được sống cũng vui, mà được chết, cũng vui không kém

Vào phòng mỗ, từng y tá tự đến giới thiệu tên tuổi, và cho tôi biết phần hành của họ. Tôi cũng vui vẻchào, nói vài lời xả giao bình thường. Khi bác sĩ gây mê đến, xưng danh, và nói cho tôi biết, ông sẽ chuyền thuốc mê cho tôi. Tôi chỉ kịp chào xã giao, và sau đó, mê man ngay, không còn biết trời trăng chi nữa cả. Giá như, có chết khi đó, thì cũng được nhẹ nhàng, êm thấm, mau và tiện lắm. Tôi hoàn toànkhông biết việc gì đã xẫy ra. 

Chừng mười giờ sau, tôi mơ màng tỉnh dậy trong phòng “hồi sinh”. Nghe tiếng bà y tá kêu lớn, và vặn nhạc lớn, kêu tôi mở mắt ra, đừng nhắm mắt lại. Tôi cố gắng hết sức, mà hai mí mắt cứ kéo trì xuống, cứ he hé chút xíu, lại bị nhắm lại. Tôi cũng nhớ là mình đang qua cuộc giải phẩu tim. Nghe tiếng bà xã tôi phụ kêu với bà y tá, tôi cố gắng mĩm cười cho vợ yên lòng. Nhưng không biết miệng có cười được hay không. Khi tôi mở mắt đưọc, tôi thấy bà y tá, bà chị tôi và bà xã đang đứng bên giường lo lắng. Tôi đếm được hai mươi mấy cái ống nối vào ngực, vào họng, vào tay, vào mũi, và có tiếng xì xèo của cái máy bơm nào đó, mà tôi tưởng đâu bên cạnh giường có cái hồ nuôi cá, máy bơm nước đang chạy. Tôi thầm nghĩ, thế là cũng chưa “đi đong” cái mạng già được. Thuốc mê làm tôi hơi buồn nôn và chóng mặt.

Suốt đêm hôm đó, một bà y tá da den, mập ú, thức và chăm sóc tôi. Chừng mươi phút, mười lăm phút, bà vào châm thêm thuốc vào bình dang treo, châm thêm máu, xem lại biểu đồ nhịp tim, ghi chú vào sổ. Công việc liên miên, không biết thủ tục bắt buộc, hay bà là người có lương tâm, nên làm việc hết lòng. Rồi rút máu tôi, tiêm thêm thuốc, nhiều lần kê lại gối nằm sau lưng tôi, hỏi han tôi rất tử tế, dịu dàng. Cổ tôi khô như đốt. Bà cho tôi cục nước đá nhỏ như viên kim cương, ngậm trong miệng cho đỡ khát. Khi đó, đúng là quý viên kim cưong ngậm trong miệng. Không được uống nước. Tôi khôi hài, tự ví bà y tá là Đức Bà Quan Âm đang ban giọt cam lồ (cục nước đá) cho người khổ nạn. Suốt một đêm, bà không ngủ, loay hoay quanh giường tôi. Tôi thật tình cảm động. Có những người vì nghề nghiệp, chỉ làm cho xong bổn phận, làm vừa phài thôi. Bà y tá nầy, làm với cả tấm lòng, tưởng như tôi là thân nhân ruột thịt trong gia đình. 

Vừa mổ xong chiều hôm qua, mà sáng nay, lúc 5 giờ sáng, y tá đã bắt tôi ngồi dậy trên ghế, dây nhợ lòng thòng hơn hai chục sợi dính từ mũi, miệng, ngực, bụng, chim. Tôi không thể tưởng tượng được, có là muốn hành hạ bệnh nhân chắc. Mệt và chóng mặt lắm. Bà y tá bảo tôi phải ngồi như vậy trong một giờ đống hố. Ngồi được chừng 25 phút, hết sức chịu đựng, tôi xin bà cho mằm, vì mệt quá. 

Nằm phòng hồi sinh được hai đêm, sáng hôm sau họ đẩy tôi xuống phòng bệnh thường, và bắt tôi tập đi bộ mỗi ngày và tắm. Khiếp, vết thương dài hơn hai tấc, còn rỉ máu còn tươi, và nhiều cái lỗ trên ngực, có ống lớn bằng ngón tay nối từ trong tim, trong phổi lòng thòng ra ngoài, dính với cái máy, cái bình. Thế mà bắt tôi tắm vòi sen, tắm xong y tá dùng khăn chậm khô ngực, không dám lau. Trước khi đi mổ, bà xã tôi ép ăn, để có đủ sức khỏe mà qua cuộc giải phẩu. Tôi ăn cho vợ vui. Nhưng sau khi mổ xong, bị bón. Cái ruột già căng cứng như muốn nổ ra. Ba bốn ngày không đi tiêu được. Không được rặn, vì sợ các mối chỉ may tại nơi mổ bung ra. Hai y tá cho tôi uống nước trái mân đen, cũng không hiệu quả. Tôi phải dùng đến thủ thuật đề cho phân ra, mà cũng vô hiệu. Cái bụng cứng ngắt, rất đau đớn, khó chịu. Y tá cũng không giúp tôi được gì. Đêm nằm trên giường, tôi nghĩ thầm, chắc mình không chết vì bệnh tim, mà chết vỉ vỡ ruột già. Cứ lăn lộn mãi, có khi thiếp đi chừng năm phút. Tôi gần như mê sảng. 

Trong thời gian đau ốm, bịnh hoạn, khi nào tôi cũng giữ được tinh thần khôi hài, ngạo nghễ, xem thường, thế mà hôm nầy, tinh thần tôi xuống lắm. Khi nữa đêm, tôi hé mắt ra, trong bóng mờ, thấy một bà y tá da đen. Lúc nầy là đổi phiên trực gác của các y tá chăm sóc con bệnh. Ngọn đèn phiá sau người y tá làm thành một vòng hào quang trên đầu bà. Tôi vốn không tin theo một tôn giáo nào, và cũng chẳng tin vào thần thánh, nhưng buột miệng thều thào hỏi: “Có phải bà là thiên thần mà Thượng Đế gởi xuống để giúp tôi không?” Bà cười, nhẹ nhàng đặt tay lên trán tôi, và hỏi, bà có thể làm gì để giúp tôi không. Tôi nói với bà, là tôi có cảm tưởng cái ruột già của tôi sắp nổ tung vì bón mấy hôm nay. Bà mau mắn cho tôi thuốc nhét hậu môn. Không kết quả. Bà bảo tôi nằm nghiêng, co chân, và trải nhiếu khăn ra giường, quấn nhiều khăn làm vòng đai bao quanh vùng khăn trải. Rồi bà đưa ngón tay vào hậu môn, mà móc phân ra từ từ, từng chút một. Cẩn thận, nhẹ nhàng. Khi phần cứng của phân moi ra hết, thì phần bên trong chạy phọt ra. Tôi thấy người nhẹ như đang bay bổng lên không trung. Như trên vai mọc cánh, đang bay lượn giữa trời. Khỏe hẵn. Bà y tá dọn giường, và cho tôi viên thuốc ngủ. Tôi cám ơn bà. Nụ cười trên môi bà hiền từ làm tôi liên tưởng đến những bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi nắm lấy tay bà mà cám ơn. Dù đã được uống viên thuốc ngủ, nhưng khi bà đi rồi, tôi vẫn cảm động thao thức mãi. Nằm không yên, tôi lấy giấy bút, trong cơn xúc động vì lòng tử tế, vì tình người lai láng, tôi viết một bài thơ, nhan đề là “Belinda”, tên của bà y tá. Có lẽ cũng là loại thơ con cóc. E rằng, lời lẽ cũng ngô nghê như một ông ngoại quốc làm thơ bằng tiếng Việt. Viết xong bài thơ, tôi yên tâm ngủ một giấc dến sáng. 

Đêm hôm sau, tôi đưa cho bà. Đọc xong, bà cảm động, ôm tôi mà khóc. Bà nói riêng cho tôi biết, bà là nữ Mục Sư đang điều hành một nhà thờ tin lành trong thành phố nầy. Đúng là bà có trái tim của một nữ Thánh. Có lẽ, trước khi đi mổ lớn, chỉ nên ăn thức ăn lỏng, đừng ăn chất đặc, chất xơ, vì thế nào cũng bị bón. Ông bác sĩ giải phẩu cho tôi cũng rất tử tế. Nhiều hôm sau ca mổ, đã 9 giờ đêm, ông còn ghé thăm tôi, hỏi han kỹ lưỡng, dịu dàng. Cái lưng ông còng xuống, có lẽ do cứ cúi xuống lâu trên bàn mổ mải thành còng lưng. Tôi nghĩ, đa số những người làm việc trong bệnh viện nầy, ngoài mục đíchmưu sinh, còn cả một say mê nghề nghiệp, và cả tấm lòng nhân từ. 

Sau khi mổ, vết cắt lớn, mà tôi không thấy đau đớn, nhức nhối gì cả. Hồi phục rất mau, vết thương kéo da cũng nhanh, làm các y tá và bác sĩ ngạc nhiên. Cũng nhờ một ông bà con có kinh nghiệm dặn, khi nào cảm thấy đau nhức sơ sơ, thì xin thuốc giảm đau ngay, đừng để cho đau quá, vì phải có thời gian, thuốc mới hiệu nghiệm. Trong thời gian dưỡng bệnh, tôi ráo riết ôn lại tiếng Pháp để chuẩn bị đi chơi Âu Châu, nên cũng không có thì giờ nghĩ đến bệnh, đến đau đớn. 

Dẫm lên chân bác sĩ, tôi viết sơ về các bệnh dau tim, như múa một đường quyền hoang dại. Sách viết rằng, bệnh liên quan đến tim, rất nhiều khi là “những bước chân âm thầm“, không báo trước. Bệnh tim có nhiều loại khác nhau. Thông thường nhất là suy tim, nghĩa là tim không chuyển vận máu đủ cho nhu cầu. Cứ 100 ngưòi Mỹ, thì có 1 người bị bệnh nầy. Nước Mỹ có hơn 2 triệu người suy tim. Tốn phí bệnh viện rất lớn. Trong một năm, những người bị suy tim chết đến 15%, Kế dến đau tim bẩm sinh, sinh ra đã bị đau tim rồi, vì cấu tạo tim mạch không được bỉnh thường. Cứ 1000 em bé sinh ra, có đến 6 đến 8 em bị đau tim bẩm sinh. Bệnh nầy chữa được, bác sĩ sẽ mổ và điều chỉnh lại. Sau nữa là nghẽn mạch máu tim và động tim. Một năm có hơn 1.5 triệu người Mỹ bị bệnh nầy. Sẽ có hơn 500 ngàn ngưòi chết, và khoảng 300 ngàn người đưọc mổ tim. Kế đến là bệnh tim đập sai nhịp và bất tỉnh. Sau đến là van tim bị hư hỏng, rồi đến bệnh mạch máu bị thương tật, bị phình, teo. Cuối cùng là màng bao tim bị bệnh

Ai muốn biết rõ hơn, xin vào thư viện mượn cuốn “Mayo Clinic Heart Book” mà đọc, rất hay, viết cho người thường đọc. Kinh nghiệm của những người đau tim cho biết, khi có ít hay nhiều triệu chứng sau đây, thì đừng nên coi thường: đau ngực, thở gấp, hay mệt, sưng, bất tỉnh, nhức đầu lâm râm, nhịp đập tim bất thường, tê tay hay chân, màu da không bình thường, té xỉu, thay dổi bất chợt về thị giác, nói năng, và cảm xúc

Khi nào thì nên đi bác sĩ? Khi triệu chứng đau tim mới có, triệu chứng càng lúc càng nặng, triệu chứngtrở nên trầm trọng, triệu chứng làm thành lo lắng, triệu chứng tái diễn. Những người yêu nhiều thì thường bị nhói tim, không biết có chuyển qua bệnh đau tim không. Nhưng những người ăn nhiều chất béo bổ, chắc chắn sẽ đau tim, cho nên có rất nhiều người sợ các chất béo, ngọt, mặn, như sợ thuốc độc. Lo lắng, bị áp lực, muộn phiền nhiều cũng sinh ra đau tim. Bởi vậy, có ông Mỹ đau tim nằm chung bệnh viện với tôi, nói đùa rằng: “Bà nào muốn làm goá phụ sớm, thì cứ cằn nhằn ông chống cho nhiều vào, rồi thế nào cũng được mãn nguyện sớm.” Mấy bà nghe, háy nguýt ông sắc như dao chém./.

Đảng làm luật bán nước

Đảng làm luật bán nước

Ngô Nhân Dụng

Ngày 15 tháng Sáu, Đảng Cộng sản sẽ cho biểu quyết Luật Đặc khu, hàng ngàn người thuộc hàng trăm tổ chức đã lên tiếng phản đối. Vì cả nước đang nghi ngờ dự luật này sẽ mở đường cho Cộng sản Trung Quốc có ngày sẽ chiếm nước ta.

Dự luật này sẽ lập ba đặc khu kinh tế tại ba vùng biển: Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa), và Phú Quốc (Kiên Giang); với quy chế hành chính đặc biệt ưu đãi giới đầu tư. Mối lo chính của giới trí thức nước ta là các đặc khu này sẽ mở cửa cho các công ty Trung Cộng lợi dụng các ưu quyền để xâm nhập và bắt rễ, để có ngày nước Việt Nam sẽ biến thành như Tân Cương, Tây Tạng.

Nhà phân tích Nguyễn Quang Dy ở trong nước, nhận định: Trong khi Trung Quốc ráo riết quân sự hóa và kiểm soát Biển Đông, … chắc họ sẽ tăng cường bành trướng thế lực để chiếm các vị trí hiểm yếu trên đất liền. Đặc khu kinh tế là một miếng mồi ngon mà họ thèm muốn…

Ông dẫn ý kiến của chuyên gia kinh tế Vũ Quang Việt, ở Mỹ, nhận xét rằng các quy định trong dự luật về đặc khu chủ yếu nhằm vào thị trường địa ốc (property) và đánh bạc (casino) chứ không nhằm thu hút đầu tư công nghệ cao. Casino và nghề mại dâm sẽ phát triển “vì đây là nơi duy nhất (tại Việt Nam) các hoạt động này được phép hành nghề tự do”; sẽ gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm.

Trong khi đó, ông Vũ Quang Việt nhấn mạnh, “cái mà Việt Nam cần là công nghệ cao và giáo dục để tăng năng suất lao động, phát triển công nghiệp và kinh tế trí thức, chứ không phải là phát triển địa ốc và casino”. Ông nhắc lại rằng năng suất lao động của Việt Nam vào loại thấp nhất thế giới (thấp hơn Singapore 15 lần).

Một điều đáng lo nhất là dự luật này mở đường cho bọn tham quan bán nước công khai. Chức “chủ tịch đặc khu” được trao quyền hành như những vua con để tiếp tay tài phiệt nước ngoài; như Võ Kim Cự đã làm tay sai cho Formosa ở Vũng Áng; với quyền cho nhà đầu tư nước ngoài thuê đất 70 năm, 99 năm nếu Thủ tướng đồng ý. Ngay tên gọi chức vụ này “Trưởng khu hành chính” cũng rập theo chức “hành chánh trưởng quan” mà Trung Cộng đặt cho người đứng đầu Hồng Kông hiện nay. Thế kỷ 19, nhà Thanh đã phải nhượng Hương Cảng cho người Anh với thời hạn 99 năm, sau khi bại trận mấy lần. Bây giờ Cộng sản Việt Nam tự nguyện hiến dâng.

Những ưu đãi giành cho tài phiệt ngoại quốc có thể biến các đặc khu thành lãnh địa của họ. Họ chỉ cần đầu tư 110 tỷ đồng ($5 triệu đô la) sẽ được cấp thẻ tạm trú 10 năm, được miễn thuế thu nhập trong vòng 5 năm và giảm tiếp 50% sau đó. Họ được miễn thuế thuê đất 30 năm, có thể bán lại tài sản và tài sản được thừa kế. Họ được quyền thuê người nước ngoài vào làm việc 180 ngày trong một năm, không cần giấy phép lao động.

Những ưu đãi này sẽ dẫn đến một làn sóng di dân mới, đặc biệt là giới lao động không có nghề chuyên môn từ Trung Quốc. Các xí nghiệp Trung Cộng đã đưa công nhân của họ tràn ngập khắp nước ta, lập các “thành phố Tàu” từ Formosa Hà Tĩnh tới các mỏ bauxite ở Tây Nguyên.

Ông Nguyễn Quang Dy nhắc lại: “trước đây hầu hết các dự án lớn tại Việt Nam rơi vào tay các tập đoàn Trung Quốc, … Ngoài Vũng Áng (đã nằm trong tay Trung Quốc), Vân Phong và Cửa Việt là hai vị trí chiến lược hiểm yếu đang bị Trung Quốc nhòm ngó. Từ Bắc Trung bộ đến Nam Trung bộ, nhiều vị trí phòng thủ chiến lược đã và đang được giao cho doanh nghiệp làm dự án mà không tính đến yếu tố an ninh quốc gia. Tại Đà Nẵng và Nha Trang, nhiều vị trí phòng thủ chiến lược dọc bờ biển đã bị các doanh nghiệp Trung Quốc chiếm”. Và lo lắng: “không có lý gì các đặc khu kinh tế đó lại không rơi vào tay họ và biến thành các tô giới của Trung Quốc’.” Ông viết: “Ninh Bình không phải là đặc khu kinh tế, nhưng đã là ‘vương quốc’ riêng”.

Khi có tranh tụng giữa người nước ngoài và người Việt, Luật Đặc khu còn cho phép các bên được lựa chọn toà án nước ngoài xét xử. Điều kiện này không khác gì những đòi hỏi tài phán mà các đế quốc Tây phương đã bắt triều đình nhà Thanh bên Tàu và nhà Nguyễn ở nước ta phải theo trong thế kỷ 19. Khi đó, các đế quốc đã dí súng vào đầu đám vua quan để được quyền “ngoại tài phán” trong các tô giới. Bây giờ Cộng sản Việt Nam tự nguyện hiến dâng.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải, Vũng Tầu lo rằng: “…chắc chắn ba Đặc khu ấy sẽ là ba thành phố Trung Hoa khổng lồ. Và chỉ trong vòng 30 năm vừa tăng trưởng dân số… và di dân, tối thiểu mỗi nơi ít nhất có từ 7 triệu đến 10 triệu người. Vài ba chục triệu người Trung Hoa nối đời sinh ra trên mảnh đất 99 năm ấy…” Ông báo động: “Thử xem dân tộc Uyghur ở Trung Á bị… nhập vào lãnh thổ Trung Hoa từ cuối thế kỉ 19… Năm 1949, tỉ lệ người Hán trên vùng lãnh thổ này chỉ chiếm 4%. Tới năm 2000 người Hán đã chiếm tỉ trọng 46%. Vài năm gần đây người Hán đã áp đảo với tỉ lệ 60/40.

Nhưng trên đây chỉ là những mối lo xa nếu chúng ta sống trong thời bình. Mối lo gần hơn, như ông Nguyễn Quang Dy nêu lên là, “Nếu xung đột tại Biển Đông xảy ra thì ba đặc khu Vân Đồn, Vân Phong, và Phú Quốc có ý nghĩa chiến lược hiểm yếu,… không chỉ đối với Việt Nam mà còn cả các nước ASEAN”. Bởi vì, “Nếu ba vị trí chiến lược đó bị đối phương (Trung Quốc) chiếm thì coi như hết cờ (và “xong phim”).

Ông giải thích: “Vân Đồn… án ngữ cửa ngõ phía Đông Bắc, để ngăn chặn thủy quân Trung Quốc xâm nhập bằng đường biển, như thời Ngô Quyền chống quân Nam Hán (938), thời Lý Thương Kiệt chống quân Tống (1075- 1077), thời Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên Mông (1287-1288). Nếu Vân Đồn có vị trí chiến lược… nhìn ra Vịnh Bắc Bộ, thì Phú Quốc có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ phía cực Nam nhìn ra Ấn Độ Dương, trong khi Vân Phong có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ Miền Trung nhìn ra Biển Đông”.

Nhà báo Thiên Điểu mô tả: “Vân Đồn rõ ràng chỉ phục vụ cho hàng hóa Trung Quốc ra Biển Đông. Nghĩa là Việt Nam chỉ thu được tiền ‘cho thuê bến bãi’ là chính; nhưng sẽ không dễ cạnh tranh với cảng Phòng Thành; Thẩm Quyến…” ở bên Tàu. Trong khi đó, “Phú Quốc có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ phía cực Nam nhìn ra Ấn Độ Dương,… bất cứ ai cũng hiểu được giá trị của Phú Quốc nếu các tuyến hàng hải (nối vùng Đông Nam Á tới Australia, Nhật Bản, Trung Đông, châu Âu, châu Phi) được hình thành cho những tàu tải trọng lớn của thế giới đi qua.

Ông Nguyễn Quang Dy nhắc nhở: “…người ta đã chóng quên bài học xấu về các dự án lớn như ‘đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng’, khai thác bauxite Tân Rai và Nhân Cơ; cũng như kinh nghiệm xấu tại Chu Lai (Quảng Nam, 2003), Dung Quất (Quảng Ngãi, 2005), Nhơn Hội (Bình Định, 2005), Chân Mây (Thừa Thiên, 2006), Vân Phong (Khánh Hòa, 2006), Phú Yên (2008).

Ông đặt câu hỏi Tại sao các nơi đó thất bại? Và trả lời: “không cải tổ thể chế để kiểm soát quyền lực và tham nhũng, thì các mô hình phát triển tương tự sẽ lặp lại bài học ‘lợi bất cập hại”.

Nhận xét này vạch ra tai họa của nước Việt Nam hiện nay: Một chế độ độc tài đảng trị, ra lệnh cho quốc hội bù nhìn làm ra những đạo luật bán nước. Không ai ngoài đảng được quyền tự do phát biểu ý kiến, không ai được tự do lập hội, lập đảng để tranh đấu bảo vệ tổ quốc.

Nhật báo Người Việt hoan nghênh và ủng hộ bản ý kiến của giới trí thức Việt Nam trong và ngoài nước ký ngày 30 tháng 5 năm 2018, yêu cầu các đại biểu: “KHÔNG biểu quyết thuận để thông qua dự luật Đơn vị Hành chính-Kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc”. Và “KHÔNG tiếp tay cho đám tư bản đứng sau đề án này”.

Tuy nhiên, chúng ta không hy vọng Việt Cộng sẽ chịu lắng nghe những lời nói phải. Bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã thú nhận: “Bộ Chính trị đã chỉ đạo, (quốc hội) phải bàn để ra luật”. Biết hậu quả của dự luật này, phải nói rằng họ sẽ cho ra một đạo luật bán nước.

Nhà văn Nhất Chi Mai, là sinh viên chuẩn bị ra trường của Đại học Y Dược ở Việt Nam, đã chỉ mặt Đảng Cộng sản để hỏi: “Vì sao tôi cho rằng nguy cơ mất nước quá rõ ràng? Năm 1958 trong Công hàm Phạm Văn Đồng các vị đã giao chủ quyền Hoàng Sa cho Trung Cộng. Năm 1988 Lê Đức Anh ra lệnh ngưng nổ súng cho Trung Cộng chiếm Gạc Ma ở Trường Sa, 64 chiến sĩ Việt Nam làm bia cho bọn Tàu bắn. Năm 1979 Trung Cộng kéo quân xuống… đòi dạy cho tập đoàn Lê Duẩn một bài học, 6 vạn quân và dân Việt Nam tử thương. (Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã ở châu Âu) các vị đã nhận Trung Quốc làm cha đỡ đầu trong Hội nghị Thành Đô. Năm 1999 các vị lại cắt ẢI NAM QUAN, THÁC BẢN GIỐC cho Trung Cộng.

Dự Luật Đặc khu là một bước nữa trên con đường bán nước của Đảng Cộng sản.

N.N.D.

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/mot-du-luat-ban-nuoc/

Lại thêm người chết trong đồn công an ‘trong tư thế treo cổ’

Lại thêm người chết trong đồn công an ‘trong tư thế treo cổ’

Vợ và con trai bên cạnh quan tài ông Nguyễn Hữu Tấn, chết với vết cắt rất sâu vòng quanh cổ chỉ sau một ngày bị công an tỉnh Vĩnh Long bắt giữ hồi Tháng Năm, 2017. (Hình: Facebook Lê Nguyễn Hương Trà)

CÀ MAU, Việt Nam (NV) – Một người đàn ông 31 tuổi được báo cáo là “chết trong tư thế treo cổ” tại nhà tạm giữ của công an thành phố Cà Mau.

Trong bản tin hôm Thứ Ba, 5 Tháng Sáu, 2018, tờ Thanh Niên thuật lại theo báo cáo ngày 5 Tháng Sáu, 2018, của công an thành phố Cà Mau, cho biết: “Khoảng 3 giờ 35 phút cùng ngày (5.6), cán bộ nhà tạm giữ phát hiện ông Nguyễn Việt Khoa (31 tuổi, ngụ khóm 3, phường 8, thành phố Cà Mau) trong tư thế treo cổ tại buồng giam số 1, khu C của nhà tạm giữ.”

Năm nào cũng xảy ra hơn chục vụ nghi can hay người bị tạm giữ chết bất thường tại trụ sở công an các nơi tại Việt Nam. Phần lớn vu cho họ tự tử. Đây là các chối tội giết người quen thuộc của công an CSVN dù những dấu hiệu tra tấn, nhục hình dẫn đến cái chết của họ nhìn thấy rất rõ bằng mắt thường. Pháp y của công an CSVN là “người nhà” nên luôn luôn vo tròn bóp méo các chứng cớ để giúp đám điều tra viên thoát tội.

Dù vậy, cũng không thấy tờ Thanh Niên cho hay ông Khoa có được khám nghiệm pháp y hay không. Không thấy có hình ảnh nào của Nguyễn Việt Khoa sau khi chết mà chỉ viết thòng thêm câu quen thuộc, “Hiện vụ việc đang được điều tra làm rõ.”

Một vụ khác, hồi đầu Tháng Tư vừa qua, cũng tờ Thanh Niên cho hay (và cũng theo báo cáo của “Ủy Ban Nhân Dân” thành phố Cà Mau) thì “lực lượng chức năng tiến hành mời” ông Nguyễn Trọng Tý, 57 tuổi, “về trụ sở để làm rõ. Nhưng ông Tý không chấp hành.”

Lý do là, trưa ngày 1 Tháng Tư, 2018, ông Tý bị bà L.T.H, 37 tuổi, ngụ khóm 4, P.6, thành phố Cà Mau, đến công an P.7 “trình báo việc mình bị ông Nguyễn Trọng Tý chửi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”

Tờ báo viết, “Khi lực lượng làm nhiệm vụ ra về thì ‘bất ngờ ông Tý tự bật ngửa và té xuống nền xi măng’ rồi tử vong sau đó.”

Không có một cuộc điều tra độc lập nào để biết sự thật “tự bật ngửa và té xuống nền xi măng rồi tử vong” của ông Tý hay ông ta chết vì một nguyên nhân nào khác.

Trong năm 2017, ít nhất có 13 người đã chết tại trụ sở công an CSVN tại các địa phương dù chỉ mới bị tạm giữ một vài giờ hay một hai ngày.

Đầu Tháng Năm, 2017, ông Nguyễn Hữu Tấn, một tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, ăn chay trường, sống bằng nghề bán hủ tíu chay dạo, đã chết với vết cắt rất sâu vòng quanh cổ chỉ sau một ngày bị công an tỉnh Vĩnh Long bị bắt giam khi vu cho ông “tàng trữ” cờ vàng ba sọc đỏ của VNCH. Thân nhân ông cho hay nhà của họ không có cờ VNCH nào hết. Để chạy tội giết người công an nói “trong khi bị giam, ông Tấn đã lấy dao rọc giấy của điều tra viên khi ông ta vắng mặt để tự tử.”

Công an Vĩnh Long còn đưa ra chứng cứ với một video clip mờ mờ ảo ảo và ông lại mặc quần áo tù sọc dù ông mới bị bắt, chưa có án để bị bắt mặc quần áo tù nhân. Khi nhìn thi thể ông Tấn, thân nhân thấy sọ ông bị móp sâu, cổ có 3 vết cắt rất dài và rất sâu không kể những vết tích khác vì không thể tự gây ra được những thương tích đó.

Thân nhân ông Tấn bác bỏ những lời chối tội rất vụng về của công an Vĩnh Long và đòi làm rõ đến cùng để truy tố kẻ gây ra cái chết dã man cho ông, nhưng rồi vụ việc vẫn bị công an nhận cho chìm xuồng.

Hồi năm 2015, Bộ Công An CSVN báo cáo với Quốc Hội rằng trong thời gian ba năm từ 2012-2014, “số người bị bắt, tạm giữ hình sự lên tới trên 200 nghìn người.” Trong số đó “đã xảy ra 226 trường hợp chết tại nhà tạm giữ, trại tạm giam trên toàn quốc. Nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp tử vong này được Bộ Công An lý giải là do bệnh lý và do đối tượng bị tạm giữ, tạm giam tự sát.” Nhiều báo tại Việt Nam đưa tin.

Sau báo cáo vừa kể, những năm sau, không thấy Bộ Công An báo cáo tiếp về các trường hợp chết bất thường khi người ta vừa mới bị tạm giam. Còn người dân thì vẫn tiếp tục chết đột ngột dù nhà cầm quyền CSVN đã ký vào công ước quốc tế về chống tra tấn và nhục hình của Liên Hiệp Quốc từ Tháng Mười Một, năm 2013. (TN)

Bùi Nguyễn Quỳnh Nga, qua Mỹ 6 năm, thủ khoa đại học Cal Poly Pomona

Bùi Nguyễn Quỳnh Nga, qua Mỹ 6 năm, thủ khoa đại học Cal Poly Pomona

Bùi Nguyễn Quỳnh Nga, sinh viên quản trị kinh doanh thủ khoa của Cal Poly Pomona. (Hình: Cal Poly Pomona cung cấp)

Thiện Lê/Người Việt

ROSEMEAD, California (NV) – Sinh viên đại học trên toàn nước Mỹ đã và đang vào mùa tốt nghiệp, trong đó có rất nhiều sinh viên gốc Việt. Tuy nhiên, không phải ai cũng có vinh dự được đọc bài phát biểu trong lễ tốt nghiệp trước hơn 10,000 sinh viên như Bùi Nguyễn Quỳnh Nga, một sinh viên gốc Việt của đại học California State Polytechnic Pomona, hay gọi tắt là Cal Poly Pomona.

* Qua Mỹ muộn nhưng học không muộn

Bùi Nguyễn Quỳnh Nga học ngành quản trị kinh doanh tại Cal Poly Pomona. Cô sinh ra ở Quảng Ngãi và mới sang Mỹ 6 năm. Cũng như nhiều người Việt trẻ đến Mỹ để định cư, cô rất coi trọng chuyện học vấn. Nhưng trường hợp của Nga rất đặc biệt.

Cô kể với phóng viên Người Việt rằng mình đang là sinh viên đại học năm thứ ba ở Việt Nam, chỉ còn hai học kỳ nữa là tốt nghiệp và nhận bằng thì bố mẹ quyết định đưa cả nhà sang Mỹ để đoàn tụ gia đình với ông bà nội ở Rosemead, California.

“Bố mẹ muốn Nga và những người em có một cuộc sống tốt hơn, có những điều kiện tốt hơn,” Nga kể.

Cô kể thêm về những khó khăn trong những ngày tháng đầu tiên sau khi qua Mỹ.

“Rào cản lớn nhất với Nga là ngôn ngữ vì giấy tờ phải chờ đợi hơn 10 năm nên Nga không nghĩ mình sẽ đi Mỹ thật. Khi qua đến đây thì người ta nói rất khó nghe vì học tiếng Anh ở Việt Nam, phát âm rất khác. Rào cản thứ hai là tài chính vì qua đây mình phải bắt đầu lại từ đầu, phải vừa đi học vừa đi làm để giúp bố mẹ có được cuộc sống ổn định hơn.”

Đối với hòa nhập vào cuộc sống ở xã hội Mỹ, cô cho biết các bạn bè ở trường rất dễ dàng và rất thân thiện nên Nga cảm thấy rất thoải mái. Cuộc sống thì hiện đại và rất dễ đáp ứng. Là một người từng học đại học ở Việt Nam, cô cho rằng hai nước khác xa nhau vì sinh viên ở Mỹ được nhà trường hỗ trợ rất nhiều từ tài chính đến thời gian và được quyền lựa chọn lớp học thoải mái để phù hợp với giờ giấc của từng người. Trường còn tạo điều kiện cho sinh viên tham gia các chương trình học và gặp gỡ những cựu sinh viên đã đi làm để chia sẻ kinh nghiệm của mình.

Về chuyện học, Nga kể: “Mỗi ngày Nga đều đi học bình thường ở trường rồi còn đi dạy kèm cho những sinh viên cùng ngành để giúp họ về những môn yếu. Ngoài ra, Nga còn làm phụ tá, dạy cho các sinh viên học ngành tài chính hiểu biết thêm về trao đổi, mua bán cổ phiếu.

Trong email mà Cal Poly Pomona gửi đến nhật báo Người Việt, nhà trường cho biết Nga thường dùng kiến thức, hiểu biết về tài chính để giúp mọi người và các công ty cải thiện tình hình của mình. Nga kể: “Nga dùng kiến thức về tài chính mà mình học được để giúp những người không hiểu biết nhiều về thị trường để người ta làm ăn tốt hơn.”

Nga (áo tím, giữa) và gia đình tại nhà ở Rosemead. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)

Đường đến thủ khoa

Khi sang Mỹ, Nga vào học đại học cộng đồng và có điểm GPA 4.0. Sau đó, cô chuyển lên Cal Poly Pomona và tốt nghiệp với điểm GPA 3.97, là thủ khoa của ngành quản trị kinh doanh. Vì vậy, cô được trường mời phát biểu tại lễ tốt nghiệp trước hơn 10,000 sinh viên vào ngày 9 Tháng Sáu tới đây.

Nhưng điều gì khiến Nga nỗ lực học hành như vậy? Cô cho hay: “Nga nghĩ con đường cơ bản nhất để thành công là con đường học hành. Nga muốn cố gắng để những người em của mình noi theo và chứng tỏ được bản thân rằng tuy là mình qua Mỹ sau, nhưng cũng có thể cố gắng hơn được những người khác.”

Cảm nghĩ của Nga về việc được phát biểu trước 10,000 sinh viên ra sao? Cô chia sẻ: Nga nghĩ mình qua sau người ta, điều kiện không bằng, nhưng cố gắng và nỗ lực của mình sẽ xứng đáng. Nga cảm thấy rất hãnh diện cho cả bản thân và cho gia đình.

Nga còn cho biết một số điều mà cô muốn nói tại lễ tốt nghiệp của Cal Poly Pomona.

“Nga muốn cám ơn những giáo sư và các nhân viên nhà trường đã giúp đỡ mình trong lúc đi học. Nga cũng muốn cám ơn gia đình và bạn bè lúc nào cũng bên cạnh để giúp đỡ mình. Nga muốn nói với các bạn cùng tốt nghiệp khóa 2018 rằng tốt nghiệp không phải là mục đích cuối cùng, mà chỉ là mở rộng một cánh cửa mới để tiến đến sự nghiệp mới. Tuy sẽ có nhiều trắc trở, nhưng Nga muốn mọi người giữ tinh thần cố gắng như lúc còn đi học và phải cố hơn nữa để theo đuổi được sự việc mình muốn làm.”

Với các bạn sinh viên trẻ tuổi, Nga tâm sự: “Khi đi học tất nhiên sẽ có nhiều khó khăn, trở ngại nhưng các bạn đừng nản lòng, đặc biệt là các bạn mới qua như Nga phải cố nhiều nữa để theo đuổi được ước mơ của mình.”

Gia đình Nga thì nghĩ sao về việc Nga là thủ khoa và được mời phát biểu trước toàn trường như vậy? Tuy không gặp được bố mẹ của Nga để hỏi cảm nghĩ, những phóng viên Người Việt được gặp bà Trần Thị Hương, bà nội của Nga.

Bà Hương cho biết: “Gia đình tui rất hãnh diện có một đứa cháu ngoan và rất chịu khó học hành từ hồi nhỏ đến giờ.”

Về tương lai sau khi tốt nghiệp, Nga cho biết cô đang đi phỏng vấn tìm việc ở một vài chỗ và cho rằng tương lai của mình đang rộng mở. (Thiện Lê)

Đề án đặc khu của Việt Nam: Ảo tưởng thành công

Nguyễn Anh Tuấn
RFA
2018-06-06

 

Thâm Quyến, Trung Quốc vào năm 2007

Thâm Quyến, Trung Quốc vào năm 2007

 AFP

Mô tả vẻ hào nhoáng của Thâm Quyến để bảo vệ đề án đặc khu của Việt Nam thật không thỏa đáng, bởi lẽ không lý giải được vì sao trong hơn 4300 đặc khu trên toàn thế giới tính đến thời điểm này, mà rất nhiều trong số đó được truyền cảm hứng từ thành công của Thâm Quyến, trường hợp thành công không phải chiếm đa số, trong khi con số đặc khu phải vật lột trong tình trạng “bỏ thì thương, vương thì tội” (white elephants/voi trắng) gây lãng phí nguồn lực quốc gia thì không hề nhỏ.

Bởi vậy cần một cách tiếp cận khác: Chỉ ra các điều kiện cần thiết để có một chương trình đặc khu thành công theo kinh nghiệm quốc tế, từ đó so sánh với đề án đặc khu của Việt Nam để ước lượng khả năng thành công của đề án này trước khi lựa chọn một thái độ đối với nó.

Hai học giả Douglas Zeng (TQ, World Bank), Hyung-Gon Jeong (HQ, KIEP) – là những người có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu về đặc khu, trong một báo cáo có tên Thúc đẩy Tăng trưởng Năng động và Sáng tạo ở Châu Á: Trường hợp Đặc khu Kinh tế và Trung tâm Kinh doanh ấn bản bởi Viện Chính sách Kinh tế Quốc tế Hàn Quốc (KIEP) năm 2016, sau khi phân tích các trường hợp đặc khu thành công ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Hong Kong, Singapore, Dubai đã chỉ ra 10 điều kiện/yếu tố để một chương trình đặc khu có thể thành công,
như là bài học cho các nước đang phát triển. [1] Khuôn khổ bài viết có hạn nên không thể phân tích đối chiếu chi tiết từng vùng đặc khu Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc, mà chỉ điểm qua các điều kiện/yếu tố này, và dựa trên đó đưa ra những nhận định về đề án đặc khu của Việt Nam.

Đầu tiên, chìa khóa cho một chương trình đặc khu thành công đến từ cách tiếp cận “toàn thể chuỗi giá trị” (whole of value chain). Nôm na là xem quốc gia ấy nằm ở đâu trong chuỗi giá trị toàn cầu, muốn tiến lên vị trí nào cao hơn, và chương trình đặc khu sẽ đóng vai trò gì trong tiến trình ấy. Như Việt Nam chẳng hạn, đang ở phân khúc thấp nhất của chuỗi giá trị toàn cầu với một nền kinh tế phụ thuộc vào lãnh vực sản xuất lấy gia công thâm dụng lao động (hàng điện tử, dệt may…) làm chủ lực, thì chương trình đặc khu này sẽ giúp nâng tầm nền kinh tế quốc gia thế nào khi những nơi được chọn đều nằm xa các vùng động lực kinh tế, và lại quá chú trọng tới những lãnh vực tách biệt như casino, nghỉ dưỡng…?

Điều kiện thứ hai là một khuôn khổ thế chế hiệu quả vốn đòi hỏi cao về tính minh bạch, dễ đoán định, và khả năng tránh được những rủi ro như can thiệp chính trị hoặc đầu cơ đất đai. Trong bối cảnh các nhóm lợi ích bè phái hoành hành ở Việt Nam, chương trình đặc khu đang được giới thiệu chưa đưa ra bất kỳ giải pháp nào ngăn chặn hiện tượng này, nếu như không muốn nói là còn đang hợp thức hóa nó. Nạn đầu cơ đất đai một thời gian dài ở cả 3 địa phương, tệ hơn, còn gợi ý rằng chương trình đặc khu của chính phủ đã thất bại ngay cả khi chưa bắt đầu.

Môi trường kinh doanh hấp dẫn là điều kiện thứ ba cho một dự án đặc khu thành công, và cũng là điểm mà các viên chức chính phủ Việt Nam tỏ ra tự tin nhất khi mà họ thường xuyên đề cập tới mức thuế suất thấp trong đề án của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh đang tồn tại hàng ngàn đặc khu khắp thế giới, miễn giảm thuế (fiscal incentives) không còn đủ hấp dẫn vì đã trở nên quá bình thường. Vậy thì câu hỏi là nếu Singapre nổi bật với chính quyền trong sạch và minh bạch, Hong Kong thừa hưởng di sản thông luật Anh với hệ thống tư pháp độc lập, Hàn Quốc tạo ấn tượng về năng lực bộ máy, Trung Quốc với danh mục đầu tư chọn-bỏ (negative list), thì chương trình đặc khu của Việt Nam có gì đặc biệt để chào hàng các nhà đầu tư tầm cỡ quốc tế?

Yếu tố thứ tư là lập kế hoạch, thiết kế và vận hành chương trình đặc khu một cách cẩn trọng, bắt đầu ngay từ nhu cầu của nền kinh tế. Ngoại trừ một vài cái tên đã gom đất trước ở ba địa phương, có bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam hiện tại mong chờ đặc khu? Hay điều họ thực sư cần là chính phủ đẩy nhanh hơn việc cắt giảm thủ tục hành chính vốn đã và đang hành hạ họ hàng thập kỷ vừa qua? Thêm nữa, dĩ nhiên các viên chức chính phủ sẽ luôn cho rằng họ đã chuẩn bị chu đáo cho đề án này, song thực tiễn thất bại ở các khu kinh tế trước đó (vốn cũng được xếp là một loại đặc khu) thật khó để dư luận không hoài nghi về triển vọng của đề án lần này.

‘Có bột mới gột nên hồ’ – Đội ngũ lao động chất lượng cao là điều kiện thứ năm quyết định thành công của chương trình đặc khu. Và đây cũng là điểm mà đề án của Việt Nam yếu nhất. Trong khi Hong Kong – cảng thị sầm uất Á Đông với truyền thống pháp trị Tây phương trăm năm dễ dàng thu hút chuyên gia khắp nơi trên thế giới, Singapore tự tin với hệ thống giáo dục vượt trội ở châu Á, đủ sức cung ứng nguồn nhân lực chất lượng toàn cầu, Trung Quốc trông cậy vào Hoa Kiều lúc chập chững làm đặc khu, thì Việt Nam có gì? Một hệ thống giáo dục lạc hậu bởi giáo điều ý thức hệ mà điển hình là chương trình giáo dục chính trị marxist bắt buộc bậc đại học; đã thế lại chẳng thể khai thác được nguồn lực kiều dân như Trung Quốc khi mà hồ sơ hòa giải dân tộc vẫn đang bế tắc.

Điều kiện thứ sáu là tiếp thu công nghệ và sáng tạo không ngừng. Đề án đặc khu của Việt Nam đúng là có mang kỳ vọng thu hút được những dự án công nghệ cao, song như đã nói ở điểm 1, vì không đặt trong tương quan với thực trạng nền kinh tế hiện nay, kỳ vọng này khả năng cao chỉ là một ảo vọng.

Vị trí chiến lược và khả năng kết nối tạo thành điều kiện thứ bảy cho thành công của đặc khu. Đúng là cả ba vị trí được chọn có một số thuận lợi, nhưng nếu so với các trường hợp điển hình thành công trên thế giới như Thâm Quyến, Thượng Hải (TQ), Masan (Hàn Quốc), Singapore, Hong Kong thì khó có thể nói là vượt trội? Cả ba vị trí đó có nằm trên tuyến thương mại hàng hải quốc tế nào không? Có gần thị trường quốc tế rộng lớn nào không? Có được hậu thuẫn bởi thị trường hoặc tổ hợp công nghiệp nội địa nào không? Hoàn toàn không.

Yếu tố thứ tám là liên kết với nền kinh tế quốc gia. Những trường hợp đặc khu thành công đều chứng tỏ được khả năng kết nối các nhà đầu tư quốc tế với các doanh nghiệp địa phương, giúp lan tỏa ảnh hưởng tích cực cho toàn bộ nền kinh tế. Trong khi đó, 30 năm thu hút hơn 170 tỷ USD đầu tư nước ngoài (FDI) nhưng với trọng tâm đặt sai chỗ, Việt Nam đã thất bại trong việc xây dựng nền công nghiệp hỗ trợ tạo đà cho nền sản xuất quốc nội, thì làm sao có thể tin rằng chính phủ lần này sẽ thành công với 3 địa điểm vừa tách biệt về mặt địa lý, vừa khác biệt với phần còn lại của nền kinh tế.

Sự hài hòa giữa phát triển công nghiệp và phát triển xã hội/đô thị là điều kiện thứ chín góp phần cho thành công của đặc khu. Đó phải là những đô thị đáng sống với môi trường trong sạch, hạ tầng phát triển và chi phí cư trú không quá đắt đỏ (ít nhất là giai đoạn ban đầu). Với trường hợp Việt Nam, thực tiễn đầu cơ đất đai và phá hoại môi trường thời gian vừa qua, đặc biệt là ở Phú Quốc, Vân Đồn đang khiến khả năng xây dựng những đô thị đáng sống như trên trở nên xa vời.

Cuối cùng, chương trình đặc khu thành công cần một cơ chế đánh giá hiệu quả khách quan để biết khi nào nên tiếp tục hay dừng lại. Với số tiền khổng lồ dự kiến lấy từ ngân sách quốc gia đầu tư cho các đặc khu, quả thật rất thiếu sót khi đề án hoàn toàn vắng bóng một cơ chế đánh giá như thế để có thể rút ra kịp thời trong trường hợp không thành công như mong đợi.

Tóm lại, xét trên cả 10 điều kiện/yếu tố góp phần vào thành công của một đặc khu theo kinh nghiệm quốc tế, chương trình đặc khu của Việt Nam tỏ ra thật kém cạnh tranh và thiếu triển vọng. Những người bảo vệ đề án này có thể có những lý giải khác nhau, song không khó để nhận ra đối tượng hưởng lợi lớn nhất từ đề án này. Trong dự thảo luật, họ được gọi tên là “nhà đầu tư chiến lược”, còn trên thực địa họ chính là một vài tập đoàn đã gom đất ở ba địa phương này với giá rẻ mạt trong nhiều năm qua, đang chờ luật thông qua sẽ kéo theo hàng tỷ USD mỗi năm (chắt bóp từ ngân sách quốc gia vốn đang eo hẹp) đổ về đầu tư giúp tăng giá trị dự án của họ lên gấp nhiều lần. [2]

PS: Bài không đề cập tới những nguy cơ có yếu tố Trung Quốc, với ý tưởng rõ ràng rằng, ngay cả khi chưa tính tới yếu tố Trung Quốc thì đề án cũng không đáng được ủng hộ khi xét tới tính khả thi và triển vọng thành công của nó.


[1] http://www.kiep.go.kr/eng/sub/view.do…

[2] Dự kiến ngân sách nhà nước thời gian tới phải bỏ ra 7.5 tỷ USD cho Phú Quốc, 3.5 tỷ USD cho Vân Phong và 1.7 tỷ cho Vân Đồn – đều là những con số khổng lồ đối với tình trạng ngân sách thâm thủng của Việt Nam hiện nay.

http://baodauthau.vn/…/von-nha-nuoc-chi-la-von-moi-cho-dac-…

CHỐNG CÁC TAY SAI CỦA QUỶ VƯƠNG

CHỐNG CÁC TAY SAI CỦA QUỶ VƯƠNG

Nếu tôi là Đức Giêsu, tôi sẽ buồn phiền chán nản vô cùng: vừa bị thân nhân gia đình bôi nhọ là: “Ông ấy mất trí”, lại bị nhóm kinh sư từ thành đô Giêrusalem đến xem xét rồi chụp mũ: “Ông ấy bị quỷ vương Bengiêbút ám nhập và dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ”.

Đó là những bẫy rất tâm lý và cực kỳ nguy hại của sa tan, để đánh bại chương trình cứu độ của Đấng Cứu Thế như nó đã đánh bại chương trình sáng tạo của Thiên Chúa.  Trước kia nó đã mặc lốt con rắn cuốn lôi con người bỏ Thiên Chúa mà theo nó phạm tội ăn trái cấm (Bài đọc 1).  Bây giờ, nó núp bóng dưới dạng thân nhân, và kinh sư âm mưu tráo trở công việc cứu độ của Đức Giêsu biến thành công việc của nó.  Đức Giêsu đã mạnh mẽ phản kháng những lừa bịp độc hại của sa tan.  Người liền gọi dân chúng, những con người hiền lành chất phác đến nghe để Người giải tỏa cho họ khỏi nọc độc bịp bợm của rắn quỷ, bằng kiểu luận lý dễ hiểu, ai cũng có thể thấy rõ được: “Nước nào chia rẽ, nước ấy sẽ mất; nhà nào chia rẽ, nhà ấy sẽ tan”.

Một tiền đề sát với đời sống cụ thể của họ và rất sắc bén để dẫn tới áp dụng kết luận:“Vậy satan chống lại satan, satan tự chia rẽ satan, thì chúng không thể tồn tại, tất nhiên chúng dẫn đến diệt vong”.

Người đau đớn quay sang nói với bọn kinh sư, tay sai của quỷ rằng: “Nếu Ta nhờ Bengiêbút mà trừ quỷ thì bè phái các người nhờ ai mà trừ quỷ?  Bởi thế, chính họ sẽ xét xử các ngươi”.

Đồng thời Người cũng cho họ thấy rõ sự thật hiển nhiên là: “Ta đã nhờ Thiên Chúa mà trừ quỷ thì quả là nước Thiên Chúa đã đến trên các ngươi” (Mt. 12, 27-28).

Nói đến đây, đáng lẽ ra các kinh sư là những người thông Kinh thánh, họ phải nhớ ra việc Elia xưa đã nhờ Thiên Chúa mà trừ diệt những kẻ dựa vào quỷ Bengiêbút thời vua Akhap và Ôkhôgia vua Israen. Ôkhôgia khi bị đau liệt, ông đã sai sứ giả đi cầu khẩn Bengiêbút.  Thiên Chúa đã thúc giục tiên tri Elia đi đón sứ giả và nói: Ở Israel không có Thiên Chúa sao mà các ngươi lại đi cầu khẩn Bengiêbút?  Cho nên Thiên Chúa phán thế này: Ngươi sẽ chết trên giường ngươi nằm.  Ôkhôgia cố chấp không nghe lời cảnh cáo của Elia, còn sai quan quân tất cả hai lần trăm người đến bắt Elia.  Elia đã nói: Nếu ta là người của Thiên Chúa, thì lửa hãy từ trời xuống thiêu đốt các ngươi đi.  Và lửa từ trời đã thiêu đốt sạch bọn chúng, và cả nhà vua cũng chết, trừ đoàn sứ giả thứ ba biết khấn xin người của Thiên Chúa thì được sống (2V. 1, 2-17).

Những hạng người cầu khẩn tà thần ma quỷ, những người khăng khăng cố chấp những tà thuyết mù quáng, những hạng người ác ý thay trắng ra đen, xuyên tạc công việc của Thiên Chúa sang công việc của quỷ thần, những hạng người đó đã xúc phạm đến Chúa Thánh Thần, chúng chẳng bao giờ được tha thứ, chúng lì lợm đến diệt vong.

Chỉ có những người ngay lành thiện chí như dân chúng, biết nhận ra lẽ phải, biết lắng nghe lời Thiên Chúa, biết đón nhận những việc lành phúc đức, mới thực sự “là mẹ, và anh em của Đức Giêsu”.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết siêng năng chạy đến xum họp chung quanh bàn tiệc thánh Lời và Mình Máu Thánh Chúa, như đám đông dân chúng xưa kia đã ngồi vây quanh Người để lắng nghe.  Xin cho chúng con nhận biết và thực thi thánh ý Thiên Chúa để được vinh phúc trở nên là mẹ và anh em với Người.  Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm

(trích trong “Xây Nhà Trên Đá”)

From Langthangchieutim

TÀU CẨU BẮT ĐẦU LO

Image may contain: 2 people

Nguyễn Vô added a new photo to the album: HÁM NHÂN QUỐC – TRUNG CẨU.

HÁM NHÂN QUỐC-TRUNG CẨU

BÀI 085: TÀU CẨU BẮT ĐẦU LO

Trong nội bộ Trung cẩu bắt đầu có sự phân tán rất mạnh, sau khi chàng trai du học sinh đưa ra công trình nghiên cứu, chứng minh Hoàng sa và Trường Sa là của Việt Nam. Rất nhiều bản đồ cổ của chính nước Trung Hoa chỉ ra rằng: “Cực Nam của họ chỉ đến đảo Hải Nam. Đó là điều không thể chối cãi”.
(PV Đô thị – hut ham cau Binh Duong lược dịch).

Có tới trên 50 bản đồ Hoàng sa và 170 bản đồ cổ Trung hoa, cùng 4 bộ sách Atlas được chàng trai sưu tầm. Và công trình nghiên cứu của anh được công bố tại ĐH Yale cuối tuần qua. Chàng trai nghiên cứu sinh Trần Thắng đã làm cho bất cứ ai tham gia hội thảo phải thán phục. Trong đó có rất nhiều Giáo sư, Tiến sĩ đến từ Trung cộng phải ngả mũ.

Đây được coi là nguồn tư liệu từ chính trong đất nước Trung cộng, khi mà Thắng cất công sang tận Trung cộng để sưu tầm từ 2010.

Được biết cha ruột của Thắng trước công tác tại đội xe hut ham cau binh duong. Ông đã có gắng tạo điều kiện cho con mình ra ngoài thế giới.
Trong đó có đến 3/4 là bản đồ cổ của Trung hoa, và 1/4 bản đồ do Phương Tây và Việt nam vẽ gần đây, từ năm 1618 đến 1859. Rất nhiều bản đồ cổ xưa nhất của Trung hoa, có tính liên tục, hệ thống suốt hàng ngàn năm trước và sau công nguyên. Đều chỉ ra rằng điểm cực Nam của Trung hoa dừng lại đảo Hải Nam. Chỉ duy nhất bắt đầu từ năm 1946 chính quyền Tưởng Giới Thạch mới vẽ ra định nghĩa vùng biển 11 đoạn, sau đó dần dần chuyển thành 9 đoạn. Điều đặc biệt hơn nữa, Chính nhà nước Trung hoa vào năm 1933, cũng đã phát hành lãnh thổ chỉ đến đảo Hải Nam. Nhưng vì thấy bên Tưởng Giới Thạch vẽ cả vùng biển tiếp dưới. Do vậy không để mất mặt trước chính quyền Tưởng. Chính quyền Trung Hoa đại lục đã cho thu hồi hết và ra lại bản đồ mới. Nhưng họ vô tình không thể thu hồi hết những gì mình đã phát hành, có đóng dấu chính quyền.

Các nhà nghiên cứu Trung cộng cũng phải công nhận sự thật.

Và trong nội bộ Trung cộng bắt đầu có dấu hiệu không rõ ràng. Chỉ vì một vài nét bút vẽ thêm vào bản đồ của Tưởng, đã khiến cho chính Quyền Trung cộng hiện nay phải đối phó và trở thành kẻ thù với hầu hết các nước xung quanh.

Theo công trình nghiên cứu, khi đi sâu vào hồi ký của Tưởng, hoàn toàn có thể nhận ra rằng. Tưởng cảm nhận được tương lai, và yếu thế trong việc đối phó với Công sản do Mao trạch Đông đứng đầu. Ông ta liền suy nghĩ mưu kế lâu dài, sẽ chuyển hết quân tinh nhuệ của mình ra ngoài đảo Đài Loan. Nhưng không quên để lại 11 nét bút bằng bút mực. Để tạo cho chính quyền Mao phải giải quyết vụ việc với các nước láng giềng, thay vì chăm chăm đối đầu với mình.

Chính mưu kế (thâm độc , hèn hạ – mượn gió bẻ măng) và 11 nét bút nguệch ngoạc của chính quyền Tưởng. Mà giờ đây, toàn bộ hệ thống chính quyền cộng sản Trung cẩu phải căng mình đối phó. Họ không thể từ bỏ, vì họ đã trót cố đấm ăn xôi:
– Giờ bỏ, thì chắc chắn dân chúng sẽ lật đổ chính quyền.
– Còn nếu họ cố gắng chiếm, thì giờ đây họ phải đối mặt với thách thức không chỉ là các nước láng giềng, mà còn rất nhiều nước lớn trên thế giới như: Mỹ, Nhật … và đặc biệt là dự luận và cộng đồng Thế giới.

Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia người Australia nghiên cứu các vấn đề về Biển Đông, cũng phải thốt lên rằng : “Người Việt thật quá tài năng! Niềm tự hào của nước Việt trên đất Mỹ … Thật đáng ngưỡng mộ!”.

Ông cũng nhận xét bộ sưu tập của Chàng trai Trần Thắng sẽ chỉ ra điểm mâu thuẫn lớn trong tuyên bố: “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa.

Trao đổi với PV Đô thị – rut ham cau, anh Thắng cho biết: “Hiện công trình nghiên cứu sẽ được anh dịch sang nhiều thứ tiếng, để truyền bá rộng rãi đến mọi người dân trên Thế giới, nếu muốn tìm hiểu. Và đặc biệt là người dân tại chính Trung cộng, đang khá phân vân trước ngã tư đường. Khi mà họ đang bị chính quyền Cộng sản trung cộng che đậy và dẫn dắt thông tin”.

Ông Thắng nói: “Việt Nam đã và đang được các Học giả Quốc tế đấu tranh bảo vệ lợi ích trên Biển Ðông. Chính phủ nước Việt Nam nên lập quỹ về Biển Ðông, giúp điều kiện phát triển thông tin về Biển Ðông. Từ ngân sách này, chúng ta có thể dịch sách, các công trình nghiên cứu, phim tài liệu và tài liệu về Biển Ðông sang tiếng Anh và tiếng Trung”.

Ông cũng cho rằng quỹ Biển Ðông cũng sẽ hỗ trợ cho các công trình nghiên cứu Biển Ðông.

(Trần Phước Đạt – Bloomington, MN)
http://vnexpress.net/…/nguoi-goc-viet-trien-lam-ban-do-hoan…