Sự thật đằng sau phương pháp trị bỏng ‘tuyệt vời’ của Trung Quốc

“… ở Trung Quốc, trong một ca phẫu thuật bệnh nhân bị bỏng nặng, người ta đã che phủ tạm thời gần 90% cơ thể bệnh nhân bằng da người.”

Tôi hỏi bác sĩ phẫu thuật, “Làm sao ông có thể giữ lạnh được một miếng da lớn như thế?”, và ông ta nói, “Không, chúng tôi không sử dụng bất cứ phương pháp giữ lạnh nào”, “Vậy ông nào thế nào?”, ông ấy nói, “Chúng tôi chỉ sử dụng [da] người còn tươi…”

TRITHUCVN.NET
Các bác sĩ Trung Quốc đã công bố phương pháp điều trị bệnh nhân bỏng nặng mới. Nhưng sự thực đằng sau phương pháp này khiến cho người ta phải rùng mình.

Hãy thức tỉnh!

Image may contain: 1 person, sitting

Nguyễn Xuân Diện is with Nguyễn Đăng Quang and 5 others.

KTS. Trần Thanh Vân: CÁC ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, HÃY THỨC TỈNH !!!!

KTS. Trần Thanh Vân: 

Hãy thức tỉnh!

Xin các vị Đại biểu Quốc hội hãy thức tỉnh, nếu không sẽ trở thành những kẻ bán nước, để rồi tên tuổi của các vị sẽ bị ghi vào sử sách, vết nhơ này không thể nào rửa được.

Cách đây 9 năm, ngày 10/8/2009, tôi đã viết bài “Đại địa mạch quốc gia”, đăng trên TuanVietNam. Mặc dù chỉ là một kiến trúc sư cảnh quan, có hiểu biết chút ít về Phong Thủy, tôi có thể khẳng định Cảng Vân Đồn – Đền Cửa ông đã được cha ông ta chú ý từ rất sớm.

Khi viết bài trên, tôi đã nghiệm ra rằng, việc hai vị tướng tài Trần Khánh Dư và Trần Quốc Tảng bị phạt nặng và bị đưa đi “đầy ải” ở KHU VỰC BIÊN CƯƠNG VÂN ĐỒN đều có chủ ý, với sắp xếp của Tiên Tổ và Hồn thiêng sông núi. Nhờ phục sẵn ở đó nhiều năm, nên hai người con có tội đã hiểu rất rõ địa thế sông núi, đã thuộc làu giờ giấc, chu trình lên xuống của dòng nước, nên đã giúp Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đánh các tướng giặc lừng danh Ô Mã Nhi, Thoát Hoan, Phàn Tiếp … một trận đánh oai hùng, khiến chúng bị đại bại.

Các vị tướng nhà Trần đã để lại cho hậu thế một câu chuyện về trận đánh vang dội trên BẠCH ĐẰNG GIANG năm 1288, kết thúc ba lần xâm lược Đại Việt của Đế quốc Nguyên Mông, một đội quân hung hãn, thiện chiến, mở đầu là Thành Cát Tư Hãn, đến Hốt Tất Liệt… đã từng đánh thắng khắp châu Á sang châu Âu, nhưng đến Bạch Đằng Giang, chúng đã để lại nỗi nhục muôn đời, như lời Bạch Đằng Giang Phú của Trương Hán Siêu viết:

“Đến nay nước sông tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù không rửa nổi”

Nhà văn lịch sử lão thành Hoàng Quốc Hải đã bỏ ra nhiều năm hoàn thành bộ tiểu thuyết BÃO TÁP TRẦN TRIỀU, gồm 6 tập, dài trên 3000 trang, trong đó có cuốn HUYẾT CHIẾN BẠCH ĐẰNG GIANG, dài 591 trang, kể kỹ lưỡng trận chiến lẫy lừng, trong đó Chiêu Minh Vương – Thượng tướng Trần Khánh Dư – một Hoàng tử có tội bị đuổi khỏi cung đình, trở thành anh chàng bán than chèo thuyền trên sông nước và Đức ông Trần Quốc Tảng, người con thứ ba của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, vì bị nghi có mưu đồ làm phản, đã bị đẩy ra biên ải… đều được ghi tên vào sử sách.

Ngày nay Đền Cửa Ông và Cảng Vân Đồn vẫn còn đó, là một quân cảng tuy nhỏ nhưng vô cùng lợi hại. Khi nhà Văn Hoàng Quốc Hải ra thăm quân cảng Vân Đồn để lấy thêm tư liệu cho cuốn tiểu thuyết, ông được nghe những chia sẻ rất tâm huyết, rất chân thành, tỏ lòng kính phục về tầm nhìn và tài quân sự của cha ông xưa.

Thế mà, hôm nay nghe nói các đại biểu quốc hội, những người đại diện cho tiếng nói của dân tộc, của nhân dân đang định dâng đất này cho quân giặc?!

Ô hô…

Đau đớn thay!

Không rõ các vị Đại biểu Quốc Hội có hiểu gì về vùng đất linh thiêng này không?

Không rõ các vị Đại biểu Quốc Hội có đọc sách và có một chút kiến thức gì về công lao giữ gìn đất nước của cha ông ta không?

Xin các vị Đại biểu Quốc hội hãy thức tỉnh, nếu không sẽ trở thành những kẻ bán nước, để rồi tên tuổi của các vị sẽ bị ghi vào sử sách, vết nhơ này không thể nào rửa được.

Kính mời các vị đọc lại bài viết dưới đây, trước khi quyết định có đặt bút ký Luật Đặc Khu, giao những vùng đất hiểm yếu cho người nước ngoài trong thời hạn 99 năm.

Trần Thanh Vân 
2-6-2018

Nhà máy nhiệt điện Việt Nam và hiểm họa đáng báo động: 15 triệu tấn tro thải sẽ đi đâu về đâu?

TINHTAMVN.COM
Một ước tính rất lo ngại vừa được đưa ra trong một hội nghị của Tập đoàn điện lực Việt Nam. Tổng lượng tro thải từ nhà máy nhiệt điện hiện là 8,1 triệu tấn/năm, sẽ tăng lên 15 triệu tấn vào 2020 và 20 triệu tấn năm 2030. Ch….

KHÓC TRONG VÔ THỨC

Image may contain: outdoor
Image may contain: sky, outdoor, nature and water
Image may contain: 1 person, selfie and closeup
Image may contain: outdoor, text and water
Đỗ Cao Cường is with Đỗ Cường.

KHÓC TRONG VÔ THỨC

Ngày hôm nay, tôi định dành cả buổi để nghiên cứu kỹ hồ sơ, dựng phim về những người dân oan ngoài Hà Nội, nhưng vô tình đọc được tin tức về những người đồng bào bị lũ cuốn trôi, chứng kiến cảnh những đứa con Tây Bắc nằm sõng soài, bất lực trước quê hương, đất nước, nhiều ngôi nhà che mưa che nắng nay đã không còn, tài sản, gia súc, gia cầm cũng bị lũ cuốn theo… thật khó mà cầm lòng cho được.

Năm nào cũng vậy, một năm mấy bận, con mất mẹ, vợ mất chồng, nhiều đứa trẻ đỏ hỏn quanh năm thiếu ăn thiếu mặc, nhiều đứa trẻ nuôi hy vọng là được ra thủ đô chơi một lần cho biết, vậy mà, giờ đã không kịp nữa rồi.
Tôi cũng xin phép được nói thẳng, thiên tai chỉ là một phần, còn phần khác, chính quyền định đổ tội cho ai?

Các bạn cứ ngẫm mà xem, từ bao đời nay, đồng bào vẫn sinh sống yên bình, dựng nhà dựng cửa giữa vùng thung lũng, lấy vợ sinh con, sau bao thế hệ mà có làm sao đâu. Vậy mà, chỉ trong vòng mấy năm nay, sao mà khổ quá trời!
Trong chuyến đi thực hiện phóng sự “Tiếng kêu cứu từ rừng Tây Nguyên” của mình, mặc dù rất âm thầm, nhưng không hiểu sao sau khi làm việc với kiểm lâm, vừa ra khỏi cổng trạm thì lập tức có vài thanh niên lạ mặt bám theo, tôi đoán được rằng họ đã báo cho nhau biết, nên mới có câu chuyện “con voi chui lọt lỗ kim, còn con kiến thì không”.

Một thanh niên chở 2 thớt gỗ dễ dàng bị phát hiện, bị khởi tố, còn nhiều xe gỗ được chở âm thậm, qua bao nhiêu trạm mà lại không ai biết?
Nhiều người dân địa phương đã phải thốt lên rằng, “còn rừng nữa đâu mà làm phóng sự hả chú”.

Chắc cũng chỉ mấy năm nữa thôi, nhiều trận lũ lịch sử cũng sẽ tìm đến đồng bào Tây Nguyên, không riêng gì miền Trung, miền Bắc. Chính ông chủ tịch huyện Buôn Đôn cũng đã thừa nhận với tôi, “giám đốc vườn quốc gia chính là lâm tặc”.
Cùng với đó, việc xây dựng các đập thủy điện không minh bạch, không tính toán kỹ về khoảng cách an toàn, mức độ, lưu lượng… cũng là nguyên nhân gây ra lũ.
Còn nhớ thời điểm năm 2015, thủy điện Sông Miện 5 xây vượt thiết kế và tích nước vượt quy định an toàn cho phép, nhiều người dân Hà Giang kêu cứu, sau đó họ bất lực ngồi nhìn, và bây giờ họ vẫn đang ngồi nhìn nhau, nhưng ngồi ở bên kia suối vàng.

Công trình thủy điện không phép, với nhiều sai phạm, nhưng không hiểu sao nó vẫn ngang nhiên tồn tại, tôi biết, bạn biết, nhưng nói ra thì người ta lại quy cho mình cái tội phản động.

Làm thủy điện không minh bạch, phục vụ các nhóm lợi ích, muốn xả lúc nào thì xả, làm sân golf, biệt thự, trang trại cũng không minh bạch, chiếm hết đất rừng, làm cháy rừng, phá rừng nguyên sinh trồng cây công nghiệp không mang lại hiệu quả lâu dài…

Và cuối cùng, nhiều cánh rừng nguyên sinh đã bị chặt hạ không thương tiếc… kéo theo đó là người, gia súc cũng chết theo, ruộng nương, xóm làng tiêu điều, đồng bào vốn đã khổ nay còn khốn khổ hơn.

Một số chết rồi còn đỡ, chứ sống mà cứ phải nhìn cảnh nhiều người thân bị lũ cuốn trôi, chó cưng, nhà cửa, quê hương cũng không còn, đêm xuống thì quần áo ướt nhèm, không biết ngủ ở đâu, cũng chỉ biết ngồi khóc, khóc từ ngày này qua ngày khác, sống như thế, có khi còn khổ hơn là chết.

SỐNG TẠM

Đất nước tôi sao mà buồn đến thế
Hết cây xanh bị chặt đến rừng thiêng bị phá
Biển đầy tôm cá bất lực trước nhân tai
Ruộng lúa hoang mang, cò bay đâu hết cả?
Giếng nước trong lành là ký ức đã ngủ quên
Tuổi thơ khốn khó nghèo nàn, em tôi ơi đừng khóc
Mùa đông không áo không quần, em còn đứng đợi ai?
Cơn lũ này chưa qua, lũ sau đã lại về
Người mẹ già còng lưng đợi con mình đi biển.
Sao mãi chẳng chịu về, các con ơi?
Nước mắt cứ rơi…
Vì những gánh hàng rong còn dang dở
Phường thu hết rồi, u biết lấy gì nấu cháo nuôi em?
Thôi tối nay cố nhịn, đừng buồn, con yêu nhé
Rồi sớm mai u lại gánh hàng rong ra chợ
Dù ngày mai có chết, ta vẫn phải lê lết, các con ơi.

THƯA MẸ VIỆT NAM

THƯA MẸ VIỆT NAM

 Tiến sĩ Nguyễn Thị Tịnh Thy- Giảng viên Đại học Sư Phạm Huế.)

Mẹ ơi!
Khi Cha nói với Mẹ rằng
Ta là giòng giống của Rồng
Nàng là giòng giống của Tiên
sống với nhau hoài không đặng
Sao Mẹ không nhắc Cha câu gừng cay muối mặn
Sao Mẹ không trả lời Cha
Đi mô đem thiếp đi cùng
đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp theo
Khi Cha bảo Mẹ đem năm mươi con lên núi
Sao Mẹ không trả lời Cha
Lấy chồng thì phải theo chồng
chồng đi đường rắn đường rồng cũng theo
Khi Cha hứa với Mẹ nếu gặp khó khăn
Nàng hãy cùng các con gọi to về biển
Sao Mẹ không trả lời Cha
Chúng ta thà no đói có nhau 
râu tôm nấu với ruột bầu
thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn
Sao Mẹ chấp nhận để một trăm đứa con phải chia ly đôi ngả
Để cuống rốn chúng con bị cắt đứt làm hai
Sao Mẹ chịu khổ đau một mình mà không nói với ai
dắt díu năm mươi con đi lên miền núi thẳm
để năm mươi thiếu vắng hơi mình
Ước chi ngày xưa Mẹ cứ bên Cha cho trọn nghĩa tình
dù vất vả đắng cay 
dù chịu nhiều cơ cực
nuôi chúng con bằng nước sông Hồng 
với cơm tấm, ổ rơm
bên ướt Mẹ nằm…
Để đêm đêm dưới ánh trăng rằm
Chúng con được nghe lời Mẹ dạy
Rằng anh em như thể tay chân
Chị ngã em nâng
Gà cùng một mẹ…

Chúng con lớn lên
Cách núi ngăn sông 
Xa mặt cách lòng
Năm mươi đứa xa cha như nhà không nóc
Năm mươi đứa thiếu mẹ quên chín chữ cù lao
không biết quý câu một giọt máu đào
bao bận nồi da xáo thịt
Chúng con chia nhà Mẹ thành hai ngõ
ngõ Đàng Ngoài và ngõ Đàng Trong
ngõ bên này và ngõ bên kia sông 
Vì danh lợi
vì tiền tài
vì nhiều điều khác nữa
mà có ngày xem nhau là nước lửa
Rồi bất hiếu bàn nhau
rạch ngang mình Mẹ
cầu Hiền Lương đè nặng buồng tim

Mẹ ở đâu giữa hai miền Bắc Nam 
Khi bao con gái của Mẹ hóa thành hòn vọng phu
bao con trai thành chiến sĩ trận vong hoặc thành liệt sĩ 
Dẫu ở bên nào 
cũng đều là con Mẹ
tàn hại lẫn nhau
Đứa nào cũng nói trước nói sau
là vì muốn chấm dứt nỗi đau
vì muốn giúp Mẹ được nối liền thân ngọc
nên đứa nào cũng súng gươm hằn học
trút xuống đầu nhau vô số nỗi tai ương 
Làm sao có thể nối liền vết thương 
bằng phát súng nhát gươm 
chứ không phải bằng sợi chỉ
sợi chỉ dài se từ những tình thương

Nhân danh gì mà chúng con ngợi ca 
hoặc chì chiết sự sống lẫn cái chết của nhau
Nhân danh gì mà gọi nhau là địch
đếm xác anh em xây thắng lợi cho mình
Ai cũng nói là yêu Mẹ với tất cả tâm tình
Ai cũng bảo là hoàn toàn vì Mẹ
Càng yêu Mẹ nhiều càng phải giết anh em?

Mẹ có ngờ đâu
các con lớn khôn
không muốn hát câu nhiễu điều phủ lấy giá gương
không muốn hát câu bầu ơi thương lấy bí
mà thích hát trên những xác người
Chúng con hát trên những xác người bài hát hân hoan
Chúng con say sưa ngợi ca lý tưởng của mình
không nghĩ đến Mẹ thế nào khi nhìn anh em con chém giết

Chẳng có ai cần biết
Mẹ ở đâu trong những trận tương tàn
trong tiếng súng đêm ngày dội về đinh tai nhức óc
Mẹ đứng ở trời Nam để ngóng về đất Bắc
hay đứng giữa dòng Bến Hải
lấy nước sông làm dịu nỗi xót lòng…

Mẹ sinh ra chúng con trong cùng một bọc
Những tưởng để thương nhau
Đâu nghĩ đến ngày sau 
trăm đứa con trai xé nát bọc đồng bào
xẻ chia thân mẹ
Mấy trăm năm vết cắt cũ vẫn còn 
Mấy mươi năm vết xẻ mới vẫn chưa liền sẹo 
Trăm đứa con vẫn còn đi muôn nẻo
trăm tấm lòng vẫn chưa hết hờn căm
Ai cũng nói cuộc đời có bao lăm
mà chẳng ai chịu nhường ai một bước
Cũng là một từ đất nước
mà trong một ngày
có người gọi là giải phóng quê hương
có người kêu là ngày quốc hận
Rồi kẻ cười người khóc
người đoàn tụ kẻ biệt ly
người hồ hởi đeo huy chương đứng trước máy truyền hình
kẻ uất hận nuốt tủi hờn trong bóng tối
Hơn bốn mươi năm rồi
chưa một ai nói với Mẹ là chính mình có lỗi
mà chỉ chực chờ đổ lỗi cho nhau 

Mẹ ơi!
Ngang trái trái ngang
hận thù thù hận
khổ đau đau khổ
vòng luẩn quẩn không cởi ra mà càng thít chặt
Đường đời lắm thương đau
nhiều gập ghềnh lắt lẻo
chẳng có đứa con nào chịu nắm tay Mẹ dắt
nên đã lạc lối lầm đường 
chẳng đứa nào chín bỏ làm mười
nên chúng xát muối vào lòng nhau mỗi khi có thể
Khép lại lịch sử… vẫn biết là như thế
Sao chỉ khép với người ngoài 
còn với anh em thì cày đi xới lại
mát dạ người này thì rát dạ người kia

Vì sao?
Vì sao?
Có phải vì xa cách nhau
từ cái thuở Mẹ Cha mỗi người mỗi ngả
nên bây giờ đứa con nào cũng thế
thích bán anh em xa mua láng giềng gần
dù không khác máu nhưng vẫn tanh lòng…

Mẹ đau!
Mẹ đau!
Hãy nhắc cho kỹ, nhớ cho sâu
Khi con hát bài ca chiến thắng
là khi mẹ dâng trào cay đắng
Sung sướng chi mà nối liền khúc ruột mình bằng xác những đứa con

Mẹ có ngờ đâu
sau khúc khải hoàn
Con của mẹ thay chiến hào bằng nhà tù khắp chốn
để giam giữ anh em
Chiến tranh không còn 
nhưng máu vẫn đổ
bao nhiêu đứa con Mẹ bị chôn sấp dập ngửa trên rừng vàng
bao nhiêu đứa chìm sâu dưới biển bạc 
bao nhiêu đứa cập bến rồi vẫn lênh đênh phiêu dạt
Con rồng cháu tiên, lá ngọc cành vàng
phải có ngày nâng niu bàn chân thiên hạ
kiếm đồng tiền nương náu phận lưu vong
Nuốt oán nuôi thù phục hận long đong đất khách
như dã tràng xe cát
Giàu sang thành đạt hiển hách nơi xứ người
khác nào mặc áo gấm đi đêm

Xưa Mẹ vọng phu
bây giờ vọng tử
héo hon, mòn mỏi
vọng các con về dưới mái yêu thương
nơi có những hàng tre xanh mát con đường 
quên hết muộn phiền không còn thù hận…

Làm sao?
Làm sao?
Chúng con có thể cùng nhau
cúi đầu trước Mẹ
hóa giải thù xưa nói lời tạ tội
Để nước mắt thôi rơi
để tóc Mẹ xanh 
để lòng Mẹ mát
để vết thương bao nhiêu năm chà xát
không còn hành hạ Mẹ ngày đêm

Dẫu biết rằng không thể đợi chờ thêm 
Không thể đợi chờ thêm….
Nhưng…..
Làm sao?
Phải làm sao?
Thưa Mẹ Việt Nam?

(Huế, tháng 4 năm 2018)

Câu Chuyện Về Chữ Nhẫn

Có một nhà sư chọn tu pháp Nhẫn nhục Ba la mật, sau nhiều năm tháng nỗ lực tu tập thì sư cũng thành tựu được rất nhiều công hạnh, trụ vững như kim cương khi bình an trước mọi nghịch cảnh, bị người khách ganh ghét, lăng nhục, mưu hại sư vẫn luôn nở nụ cười trên môi thản nhiên như không.

Rất nhiều người tán thán sư và thường xuyên đến chỗ sư để đàm đào và thực tập hạnh tu này, sư luôn vui vẻ tiếp đón và chia sẻ những kinh nghiệm thuu5c tập được cho họ.

Một hôm có một thanh niên đến tham quan chùa, anh ngưỡng mộ hạnh tu của sư nhưng vì mới tìm hiểu đạo nên không biết chuyện gì để tham vấn, nhìn quanh thấy trên tường treo tấm bảng gỗ có một chữ sư viết rất bay bướm, anh liền hỏi:
-Thưa Thầy, đây là chữ gì ạ?
Sư trả lời đầy vẻ tự hào:
– Chữ Nhẫn viết theo lối thư pháp, ta phải tập viết hàng trăm lần mới được như ý đấy con à.
Anh gật gù vẻ tán thưởng, sau khi đi lòng vòng ngó nghiêng đây đó anh đứng trước tấm bảng gỗ gãi đầu gãi tai:
-Thưa Thầy chữ gì đây ạ?
Nhà sư tươi cười trả lời:
– Ta tu hạnh nhẫn nhục nên viết chữ Nhẫn đó mà.
Một chút sau, anh lại ngắm nghía tấm bảng và hỏi:
– Thưa Thầy, thầy viết chữ gì đây ạ?
– Chữ NHẪN!
Trước khi ra về anh lại tần ngần trước tấm bảng:
– Thưa Thầy, chữ gì đây ạ?
Nhà sư không chịu nổi nữa , nộ khí xung thiên:
– Chữ nhẫn! nhẫn ! nhẫn! Đồ ngu , ngu gia truyền ! Có một chữ mà nãy giờ hỏi hoài, hỏi hoài! Cút ngay!

Lời bàn:
Chữ Nhẫn được ghép từ hai chữ: Đao ở trên và Tâm ở dưới. Tâm (tức là trái tim) mà không chịu nằm yên thì Đao (tức con dao) sẽ phập xuống tức thì. Vậy đấy, tự mình mà nhẫn nhịn được thì đao kề cổ vẫn bình yên vô sự, bằng không thì tai họa sẽ giáng xuống đầu mình trước tiên

Cách viết chữ nhẫn:

Chữ ĐAO (con dao) ở trên và chữ TÂM (con tim) ở dưới. Lưỡi dao ấy ở ngay trên tâm, và nếu như gặp chuyện mà không biết nhẫn nhịn thì tránh sao khỏi đau đớn, có nhẫn nhịn mới chuyển nguy thành yên, bại thành thắng, dữ thành lành …
“… Có khi nhẫn để yêu thương
Có khi nhẫn để tìm đường tiến thân
Có khi nhẫn để xoay vần
Thiên thời, địa lợi, nhân tâm hiệp hòa
Có khi nhẫn để vị tha
Có khi nhẫn để thêm ta, bớt thù
Có khi nhẫn: tỉnh giả ngu
Hơn hơn, thiệt thiệt đường tu khó lường
Có khi nhẫn để vô thường
Không không, sắc sắc đoạn trường trần ai
Có khi nhẫn để lắng tai
Khôn khôn, dại dại nào ai tránh vòng
Có khi nhẫn để bao dung
Ta vui người cũng vui cùng có khi
Có khi nhẫn để tăng uy
Có khi nhẫn để kiên trì bền gan …”

Có 12 loại “NHẪN”:
Nhẫn Nại = công việc nhiều rắc rối khó khăn, tiến hành chậm chạp, vẫn quyết trí làm cho được.
Nhẫn Nhục = Việt Vương Câu Tiễn thất bại, chịu đủ thứ hành nhục, khổ phiền, nằm gai nếm mật, chờ thời cơ phục quốc.
Nhẫn Nhịn = Chờ cho đúng thời cơ, chờ cờ đến tay, không nôn nóng. Đôi khi để kẻ khác giành lấy tiên cơ, ưu thế trước.
Nhẫn Thân = Phục Hổ Tàng Long để kẻ thù đang thế mạnh không tìm diệt mình. Khi lành bệnh, đủ lực sẽ xuất hiện chọc trời khuấy nước.
Ẩn Nhẫn = Trốn tránh, chịu đàm tiếu, xúc xiểm, không còn tỏ ý ham danh đoạt lợi. Có khi trốn tránh luôn, cũng có khi do thời chưa đến.
Nhẫn Hận = Ức lắm, thù lắm, bị xử ép nhưng không tỏ rõ thái độ bất bình, oán hận.
Nhẫn Hành = Thấy đã có thể hành động được rồi, nhưng còn kiên tâm chờ thêm cho chắc.
Nhẫn Trí = Khôn khéo hơn thượng cấp rất xa, nhưng giả ngu khờ hết mức.
Nhẫn Tâm = Thấy ác, thấy nạn, bỏ qua không có thái độ bênh vực, cứu giúp.
Tàn Nhẫn = Bất Nhẫn, tự làm những việc không màng tới lương tâm.

From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

Chính lối giáo dục và hoàn cảnh ở những nước CS đã biến người dân của họ trở thành loại người thích sống ngoài kỷ luật ở những nước tư bản.

Quoc Vo shared a post — with Haiviet Hoang.

Bàn ngoài vấn đề này một chút, chính lối giáo dục và hoàn cảnh ở những nước CS đã biến người dân của họ trở thành loại người thích sống ngoài kỷ luật ở những nước tư bản.

Băng đảng ở những nước tư bản cầm đầu bởi những người xuất thân từ những nước XHCN là 1 cánh khác trong xã hội đen hiện nay.

Điều ông này nói không có gì mới lạ, cứ nhìn cảnh đám cờ đỏ CSVN ở Đức thì ta hiểu ngay vấn đề.

Chắc chắn rằng tình báo công an ở những nước Âu châu đã chú ý loại người miền Bắc CSVN để đề phòng.

Việt Nam phản ứng trước cáo buộc là “tội phạm có tổ chức”

Trần Bang and 2 others shared a post.
Image may contain: 1 person

Đài Á Châu Tự Do

Việt Nam phản ứng trước cáo buộc là “tội phạm có tổ chức”

Ngày 24/6, trang web của đài Tiếng nói Việt Nam dẫn lời của ông Hồ Minh Tuấn, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước CHXHCN Việt Nam tại Cộng hòa Séc cho biết, phát biểu của Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Hạ viện Cộng hòa Séc là “hoàn toàn không phù hợp với sự phát triển tốt đẹp của mối quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống giữa hai nước những năm qua”.

Cũng theo VOV, Đại sứ quán Việt Nam tại Séc đang xem xét ý kiến phản đối phát biểu của ông Zaoralek thông qua kênh ngoại giao chính thức.

Hôm 21/6/2018, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Cộng hòa Séc cho rằng, “Việt Nam là tội phạm có tổ chức và trở thành mối đe dọa an ninh quốc gia hàng đầu”.

Trang Vietinfo.eu, một trang tin tức của cộng đồng người Việt sinh sống tại Châu Âu thuật lại những chỉ trích gay gắt của cựu Ngoại trưởng Séc trong khuôn khổ bàn luận về vấn đề ngân sách tài chính năm 2017 của ngành ngoại giao nước này.

Trước đó, Thư ký nhà nước Séc Miloslav Stasek mô tả cho các nghị sĩ tình hình cấp thị thực nhập cảnh Cộng hòa Séc tại một số quốc gia. Ông này lưu ý tình hình phức tạp vẫn tiếp tục diễn ra ở Việt Nam và đề tài này cần tranh luận chuyên môn.

Hồi tháng 4/2016, trong cuộc trả lời phỏng vấn của RFA về phiên tòa xét xử mật vụ Nguyễn Hải Long (người Séc gốc Việt), nhà báo Lê Trung Khoa, chủ bút trang Thoibao.de đã cho rằng trong mắt một số người Châu Âu và kiều bào ở Đức thì “Việt Nam là một nhà nước tội phạm”.

Từ tháng 10/2017, Đức đã phát lệnh truy nã quốc tế đối với Trung tướng Đường Minh Hưng, hiện là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an.

Một số tình tiết tại phiên tòa xét xử vụ bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh cũng cho thấy, Bộ trưởng công an Tô Lâm có dính líu trong vụ này. Các nước bị “lợi dụng” để đưa cựu cán bộ dầu khí về VN có thể bao gồm cả Ba Lan, Slovakia và Cộng hòa Séc.

NÓI SAI TÔI CHÊT LIỀN – 3

Fb Tân Thái Bá 

NÓI SAI TÔI CHÊT LIỀN – 3

Không có sự giúp đỡ
Của tư bản thối tha
Về phát triển kinh tế,
Thì đất nước chúng ta

Đã cán đích cộng sản
Từ một chín bảy lăm.
Thứ cộng sản hang động,
Nghèo đói và tối tăm.

Tiếc, cái đáng học nhất
Là dân chủ, nhân quyền
Các bố lại không học.
Nói sai tôi chết liền.

TRƯỚC KHI QUỐC HỘI BẤM NÚT VỀ LUẬT ĐẶC KHU

Hoa Kim Ngo shared a post.
Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: 1 person, smiling, suit

Nguyễn Xuân Vượng

Nhà văn Tạ Duy Anh, tác giả cuốn tiểu thuyết “Mối Chúa” bị đình chỉ xuất bản năm ngoái vì động chạm tới “uy tín” của bề trên… 

Bà con hãy tham khảo ý kiến của anh về “Luật đặc khu” sắp được QH bấm nút thông qua.

TRƯỚC KHI QUỐC HỘI BẤM NÚT VỀ LUẬT ĐẶC KHU

Lão Tạ 
(Tạ Duy Anh)

Có thể trên thực tế Quốc hội dưới sự lãnh đạo của đảng đã bấm nút về Luật Đặc khu rồi, hoặc ai không định bấm rồi sẽ phải bấm (như biểu quyết sáp nhập Hà Tây vào với Thủ đô) nhưng tôi vẫn kiên nhẫn nói thêm với các vị đôi điều.

Các vị đã từng cho phép thành lập những Tập đoàn kinh tế nhà nước, với lý lẽ để tạo nhiều quả đấm thép đưa nước ta bắt kịp Hàn Quốc. Khi đó ai nói khác đi là bị dọa “Bộ chính trị đã đồng ý”. Giờ thì nhìn đấy, mô hình Tập đoàn kinh tế là thảm họa chưa có lối thoát cho đất nước, là nơi công nghệ rác thải của Trung Quốc làm mưa làm gió trên lưng người dân Việt. Và thay vì mau mau sánh kịp Hàn Quốc, chúng ta tụt lại so với họ thêm một quãng dài miên man.

Các vị đã từng cho phép khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên cũng với lý lẽ để tạo nguồn thu cho ngân sách và tăng trưởng quốc gia. Khi đó giới trí thức ra sức can ngăn, đều bị quý vị bỏ ngoài tai còn người can ngăn thì bị coi là phá hoại, là thế lực thù địch. Trong Quốc hội nếu có ai nói khác đi là bị dọa “Bộ chính trị đã đồng ý”. Giờ thì các vị đã thấy trắng mắt ra chưa? Lỗ nặng chưa phải là thảm họa đáng sợ nhất. Môi trường bị tàn phá tan nát chưa phải là thảm họa kinh khủng nhất. Hãy hình dung mấy chục năm các cơ sở của Trung Quốc không làm kinh tế, mà chuẩn bị cho việc to lớn hơn là thôn tính lãnh thổ, thì điều gì xảy ra hẳn các vị có thể hình dung, mặc dù thực lòng tôi nghi ngờ lòng yêu nước và trí tuệ của đa số quý vị.

Các vị đã từng cho phép khu công nghiệp Fomosa, tập đoàn kinh tế bị xua đuổi khắp nơi vì gây ô nhiễm vào tọa chiếm vùng xung yếu về an ninh của bờ biển Hà Tĩnh, với thời hạn tới 70 năm, cũng vẫn với lý lẽ để tạo cú huých cho tăng trưởng kinh tế, tạo bức tranh sáng cho đầu tư nước ngoài, vực dậy một vùng nghèo đói và nào là đánh thức tiềm năng…Giờ thì quý vị thấy hậu quả đã nhãn tiền. Tôi dám đảm bảo, thứ mà Fomosa tạo ra cho đất nước chúng ta, chỉ bằng một phần rất nhỏ thứ mà nó làm mất đi của đất nước. Đấy là chưa kể, trong 70 năm dài dằng dặc, sẽ còn bao nhiêu sự cố kinh hoàng như đã xảy ra, đi kèm sẽ là những cuộc nổi loạn không ai dám nói trước có thể kiểm soát của ngư dân.

Tôi không phải là người cứ muốn là nói lấy được, càng không là tín đồ của chủ nghĩa dân tộc một mực bài Trung Quốc. Có nhiều thứ chúng ta còn xa mới làm được như Trung Quốc. Đó là một sự thật. Nhưng sự thật mà tôi muốn nói ra trước tiên, là chúng ta đang tự trở thành miếng mồi ngon dưới con mắt của con sư tử Đại Hán chưa khi nào tàn bạo và tham lam như hiện nay.

Còn quá nhiều ví dụ khác mà tôi không còn hứng thú và sức lực để dẫn ra. Nhưng những thứ mà tôi đã dẫn và chưa dẫn, không phải để khía thêm nỗi bẽ bàng mà các quý vị đã và sẽ nhận đủ, mà chỉ để nhắc các vị nhớ lại, trước khi quyết định một vấn đề to lớn hơn tới vận mệnh và số phận của đất nước: Vấn đề thành lập các đặc khu kinh tế. Tôi cho rằng, mạng xã hội, với tình cảm quá sốt sắng, đang có sự nhầm lẫn khi hướng chú ý vào sự lựa chọn giữa hậu quả nhỏ và hậu quả lớn. 99 năm hay 70 năm, hay 50 năm không phải là vấn đề. Vấn đề là có cần phải thành lập các đặc khu trong bối cảnh hiện nay (xét cả về xu hướng phát triển, tiến bộ công nghệ, đòi hỏi của hoàn cảnh đất nước và nhất là KHI MÀ CHÚNG TA, BAO GỒM CẢ CÁC ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, BIẾT RÕ TRUNG QUỐC đang muốn gì ở cái mảnh đất hình chữ S này?) Mục tiêu cuối cùng của họ là biến cả Việt Nam thành một ĐẶC KHU của họ. Nếu tôi là Tập Cận Bình, thì tôi cũng sẽ làm thế, nhân danh lợi ích dân tộc Trung Hoa. Vì thế (tôi đang nói với tất cả) thay vì trách họ nham hiểm (trách Trung Quốc nham hiểm khác nào trách sao họ có tới một tỉ rưỡi người!), hãy trách mình trước: Vì sao mình lại dại dột để cho họ dắt mũi, vì sao mình không có chiến lược bài bản như họ, vì sao mình thiếu vắng những nhà lãnh đạo có tầm nhìn như họ…Vấn đề đó không ai giải quyết thay người Việt, vì thế, không ai có lỗi ngoài chính chúng ta. (Tôi thấy lạ, khi tận giờ này vẫn có người lập luận rằng chúng ta gặp khó vì Hoa Kỳ nước đôi, vì Nga thực dụng, vì Camphuchia hai ba bốn mặt, vì Lào thân Trung Quốc hơn, vì thế giới tối mắt trước lợi ích…)

Trở lại chuyện đang bàn. Đừng lấy ví dụ thành công của Thâm Quyến hay bất kì sự thành công của các đặc khu nào khác làm lý lẽ thuyết phục cho sự ủng hộ luật đặc khu. Cũng không cần phải mang sự thất bại của mô hình này ở đâu đó ra để tăng trọng lượng cho ý kiến phản đối. Chúng ta nên tham khảo kinh nghiệm của thế giới, nhưng đã đến lúc người Việt phải tập thói quen độc lập khi đưa ra những quyết định liên quan đến sự tồn vong của mình. Trên tinh thần đó, tôi đồng ý với nhà báo Huy Đức là chúng ta không cần phải có đặc khu kinh tế, không cần ưu đãi nơi này hơn nơi khác khiến đất nước thêm chia rẽ, trong khi tốn tiền xây thành trì cho tội phạm và tư bản thân hữu, mà hãy tạo một không gian mà sự kiếm sống để hưởng hạnh phúc của người dân trở nên thuận lợi, nhân bản cho cả cái đất nước này. Đừng hành hạ dân, hãy tạo ra một thế chế mà không quan chức nào muốn và có thể tự biến mình thành con mối chúa kéo theo cả đàn mối đục khoét đất nước, đừng bỏ rơi người tài chỉ vì họ không thích thú với các nguyên tắc chính trị hiện hành, hay khi họ căm ghét sự xu nịnh, không chịu nói như vẹt. Và xin đừng cố gắng biến nhân dân thành vật thế chấp cho các mục tiêu tù mù…Chỉ cần ngần ấy thôi, tự đất nước sẽ thanh bình, sẽ phát triển, sẽ giầu có mà không cần phải “lót ổ cho phượng hoàng” khi biết trước là diều cắt, cú vọ sẽ nhảy vào trước.

Các quý vị có tự hỏi và có biết là người dân đang hỏi: Vì sao Quốc hội lại sốt sắng với luật Đặc khu đến thế? Một bộ luật đụng chạm đến an nguy quốc gia, đến sự tồn vong của nòi giống, đến cuộc sống của nhiều thế hệ tương lai, mà sao lại cập rập trong thảo luận, trong tập hợp ý kiến người dân? Khôn ngoan của người Việt để đâu hết cả rồi? Tôi không muốn làm kẻ nói bừa, nhưng tôi tin rằng nhất định là có khuất tất.

Vài hôm nữa, với danh nghĩa là cơ quan quyền lực tối cao, quý vị có thể bấm nút thông qua luật đặc khu, bất chấp mọi sự phản đối và lo lắng của người dân cùng với giới sỹ phu (tôi muốn dùng lại từ này). Nhưng tôi muốn chân thành khuyên quý vị, làm diễn viên tồi quá lắm chỉ đáng chê cười vì thế, nếu vì miếng cơm manh áo mà phải thủ vai thì cũng được. Nhưng đừng tự biến mình thành tội đồ, khi biết rõ hoặc linh cảm thấy khả năng đó là rất cao. Dân tộc này có thể tha thứ mọi tội lỗi-như lịch sử từng cho thấy-trừ tội theo chân Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống.

TẠ DUY ANH.

VÁN BÀI ĐÃ NGỬA

VÁN BÀI ĐÃ NGỬA

GNsP – “Cần luật này bảo vệ chế độ này, không thể để muốn nói gì thì nói, muốn chửi ai thì chửi.” Lời khẳng định này của Tổng Bí Thư chính là nguyên nhân sâu xa khiến 86,86% Đại biểu quốc hội đã nhấn nút thông qua Dự thảo Luật An Ninh Mạng. Thế nhưng:

1-Có phải “luật là để bảo vệ chế độ”?

Có câu “quan nhất thời, dân vạn đại”, lịch sử cho thấy dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều chế độ, các thể chế lãnh đạo rồi cũng sẽ thay đổi, chỉ có vai trò của người dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước là trường tồn. Do vậy, luật là để bảo vệ người dân. Mà muốn bảo vệ được người dân thì luật phải thuận lòng dân. Do vậy “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” là một tư duy giá trị về việc “lấy dân làm gốc” trong áng hùng thư Bình Ngô Đại Cáo của nhà chí sĩ Nguyễn Trãi viết sau khi nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi trong cuộc chiến chống quân Minh kéo dài 10 năm (1418–1427).

Và điều kiện tiên quyết để thực hiện đường lối lãnh đạo giàu tính nhân bản này đó đất nước đó, xã hội đó phải thực thi quyền tự do dân chủ, tầng lớp lãnh đạo là những người biết lắng nghe, biết đối thoại, nguyện vọng của người dân được tôn trọng, mà một trong các hình thức thể hiện nguyện vọng của người dân đó là quyền tự do biểu đạt chính kiến, tự do ngôn luận. Đây cũng là quyền công dân được Hiến Pháp, pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế quy định.

Tuy nhiên, vì “luật pháp Việt Nam bảo vệ chế độ hơn là bảo vệ người dân” như nhận định của luật sư Võ An Đôn, nên Quốc hội đã đi ngược lại với ý muốn của người dân khi mà đã có đến hơn 65.000 công dân ký tên yêu cầu Quốc Hội không thông qua Dự thảo Luật An Ninh Mạng trong bản kiến nghị do nhóm Hate Change khởi xướng. Đồng thời, có đến 93% trong số hơn 64.000 người đã chọn “không đồng ý với Luật An Ninh Mạng” trong một cuộc trưng cầu ý kiến diễn ra trong vòng 24 giờ do trang Luật Khoa Tạp Chí tổ chức. Bên cạnh đó, vào ngày 10/6, một cuộc biểu tình đồng diễn ra khắp cả nước để phản đối Luật Đặc Khu và Luật An ninh Mạng.

“Lấy dân làm gốc” là một trong những đường lối lãnh đạo ưu việt được các vị lãnh tụ tài ba và đạo đức của các thời đại lựa chọn, nếu muốn bảo vệ giang sơn xã tắc của mình. Vâng! Bảo vệ giang sơn xã tắc chứ không phải bảo vệ chế độ. Bởi lẽ giang sơn xã tắc là của toàn dân. Chế độ là của một nhóm người đang lãnh đạo người dân theo thể chế họ muốn mà thôi.

Chúng ta đồng ý với ông Tổng Bí Thư rằng: “Trên thế giới, rất nhiều nước có luật này”. Cụ thể là 138 quốc gia đã ban hành Luật An Ninh Mạng theo số liệu thống kê của Liên Hiệp Quốc.Tuy nhiên, nội dung chính của Luật An Ninh Mạng của các nước đều nhằm cải thiện tình hình an ninh thông tin của các doanh nghiệp trong kỷ nguyên số và cơ quan công quyền, cũng như bảo vệ tốt hơn người dân trên môi trường mạng Internet, chứ không phải là công cụ để bịt miệng người dân.

Cùng là các quốc gia ban hành Luật An Ninh Mạng nhưng rõ ràng Đức, Singapore không hề giống Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc đã thiết lập một hệ thống kiểm duyệt Internet chặt chẽ với mục đích ngăn chặn người sử dụng Internet ở Trung Quốc truy cập các tư liệu gây bất lợi cho chế độ, tránh “nguy cơ” người dân tự do tìm hiểu thông tin các từ khoá liên quan đến dân chủ, các sự kiện “nhạy cảm” như “Lục Tứ”, “Chiến tranh biên giới Liên Xô – Trung Quốc năm 1969”,“sự kiện thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 4/6/1989”, Pháp Luân Công và ngay cả từ Chân-Thiện-Mỹ vì đó chính là nguyên lý của Pháp Luân Công cũng như tin tức của nhóm bất đồng chính kiến.

Vấn đề là Luật An Ninh Mạng tại Việt Nam sẽ là bản sao của Trung Quốc. Điều này có cần thiết phải chứng minh khi mà với Luật Đặc Khu thì người Trung Quốc có thể sẽ hiện diện “đông như quân Nguyên” trên mảnh đất hình cong như chữ S này với thời gian rất ư lâu dài?

2-Tại sao “không thể để muốn nói gì thì nói”?

Trong một thể chế mà người dân thực sự có quyền tự do ngôn luận thì tại sao “không thể để muốn nói gì thì nói”? Nếu họ nói sai thì chính quyền phải nói cho họ biết “họ sai ở chỗ nào”, đối thoại với họ trong tinh thần dân chủ, còn “nếu như họ nói phải thì tại sao lại cấm và nhốt họ?”. Không kể những người kém ý thức khi sử dụng trang mạng xã hội, một người dân có văn hóa và hiểu biết thì không thể “muốn chửi ai thì chửi”. Tuy nhiên, nếu các lãnh đạo Đảng, Nhà nước là những người tha hóa, mất đạo đức, thiếu nhân phẩm thì không thể nào “ngăn chặn hành vi gây mất uy tín, xúc phạm nhân phẩm, danh dự” của người dân đối với họ.

Vì lẽ, người giữ chức vụ cao trong xã hội được xem là người của công chúng. Do vậy mỗi khi vấp sai trái, họ phải chịu áp lực từ dư luận. Ở các nước tự do dân chủ và văn minh, người dân không đặt lãnh tụ, giới lãnh đạo vào chính sách thần thánh hóa. Vì thế, ngay cả khi người dân xúc phạm danh dự của giới cầm quyền thì điều đó cũng không có nghĩa là họ phạm luật.

Bà Park Geun-hye bị người dân tố cáo nhiều tội danh nghiêm trọng ngay trong khi bà còn giữ chức vụ Tổng Thống Hàn Quốc nhưng không một người dân Hàn Quốc nào bị cấm đoán không được “muốn nói gì thì nói”, ngược lại cựu Tổng Thống đã bị truất phế và có thể đối mặt mức án ít nhất là 10 năm tù.

Ngay sau khi lễ nhậm chức của Tổng Thống Donal Trump, có cả triệu người Mỹ xuống đường biểu tình, phản đối Tân Tổng Thống, nhưng không có đoàn biểu tình nào bị các lực lượng công vụ, cảnh sát đàn áp, bắt bớ vì người dân đã “muốn chửi ai thì chửi”, kể cả người bị chửi là người quyền lực nhất nước Mỹ.

Với luật An Ninh Mạng thì người dân chỉ được phép tiếp cận những thông tin mà nhà cầm quyền cho là tốt đẹp. Vì thế, mọi sự che đậy khiến tạo môi trường cho những bất đồng chính kiến ngấm ngầm phát triển như dung nham trong lòng núi lửa. Một đất nước thực sự an bình, một chế độ thực sự yên ổn là khi người dân “tâm phục, khẩu phục” đường lối lãnh đạo của chính quyền chứ không phải chỉ “ bằng mặt mà không bằng lòng” vì họ là người yếu thế trước cường quyền. Khi sự bất bình của người dân giống như những mạch ngầm đã có trong lòng đất và mọi trật tự trên bề mặt quả địa cầu giống như “trật tự xã hội” trong một chế độc tài chỉ là bề nổi, thì sự phản kháng của người dân sẽ là những trận động đất bất ngờ. Cuộc tổng biểu tình khắp nước vào ngày 10-06 vừa qua đã là một minh chứng cụ thể.

Giờ thì tuyên bố của ông Tổng Bí Thư như chẳng khác nào “ván bài đã lật ngửa” trong canh bạc vận mệnh của người dân và đất nước.

 Trong tay những người dân có tâm huyết với đất nước lúc này có thể là những quân bài xấu vì “quyền tự do ngôn luận bị tước đoạt”, vậy “hãy để sự khôn ngoan biến họ thành người chơi giỏi”, vì đó là cách để người dân không “bị dẫn dắt trong ngu dốt và câm lặng, như bầy cừu được dẫn đến lò mổ” – George Washington.

Điền Phương Thảo

Con đường dân chủ thực tiễn cho Việt Nam (phần 1&2)

Con đường dân chủ thực tiễn cho Việt Nam (phần 1&2)

Hate Change

Chánh Nguyễn

Phần 1:

Có được một đời sống ấm no, không sợ hãi trong một xã hội phát triển ổn định là nguyện vọng của mọi dân tộc trên thế giới. Tất cả những diễn biến lịch sử, những phát triển kinh tế, xã hội, và những khám phá khoa học đều đưa đến một kết luận chính trị chung. Chỉ có thể chế dân chủ với một hệ thống chính phủ mà quyền lực của người cầm quyền đương thời bị giới hạn, kiểm soát theo những nguyên tắc dân chủ mới có thể đáp ứng được nguyện vọng của xã hội một cách dài lâu. Chỉ có một chính quyền được dân bầu lên, bị dân kiểm soát, do dân thay đổi thì mới giữ được bản chất là chính quyền của dân và vì dân.

Sự ưu việt của thể chế dân chủ không còn là một đề tài trong những cuộc tranh luận nghiêm túc ngày nay. Ngay chính độc tài cũng công nhận, cũng phô bày “dân chủ” như một món đồ giả. Giả vụng về, trắng trợn: Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên. Giả mập mờ, lấp liếm: Dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ tư bản. Thế nhưng những cải cách để đưa đến một thể chế dân chủ ở Việt Nam, nếu có, thì vẫn rất chậm, rất miễn cưỡng.

Chính quyền đương thời nào cũng có động lực củng cố và triến khai quyền lực của mình. Khi nền tảng dân chủ chưa có thì chính quyền sẽ chống lại, tìm cách triệt hạ mọi xu hướng đối lập, ngay cả chém giết khi họ thấy cần. Đài Loan và Nam Hàn đều trải qua giai đoạn này dưới thời Tưởng Giới Thạch và Phát Chính Hy (cả hai đều chống cộng). Vấn đề không phải là chủ thuyết hay nhận thức mà là bản chất tự nhiên. Chính quyền Việt Nam đương thời, dân tộc Việt, xã hội Việt cũng không là ngoại lệ.

Trong nước đã xuất hiện một số người chống lại chính quyền hay chính sách của chính quyền. Nhưng nhiều người vẫn ta thán rằng chưa có phong trào và nhân vật đối lập nào có được sự ủng hộ sâu rộng của quần chúng. Một quan điểm đang thịnh hành trong số những người chống chính quyền trên mạng là quá nhiều người Việt chưa đủ trí tuệ để nhận ra tội ác của chế độ, chưa đủ dũng khí để chống lại chính quyền, và vô cảm truớc những tệ nạn xã hội mà nhà nước phải chịu trách nhiệm. Một dân tộc Việt ngu, hèn, và trơ là lý do họ thường nêu ra để giải thích sự tham gia tương đối tẻ nhạt của người dân trong phong trào đấu tranh cho dân chủ.

Sự mâu thuẩn lớn trong quan điểm này là tư duy độc tài – tự đặt mình lên trên để nhìn xuống và miệt thị số đông trái ý mình – của một số người đang lớn tiếng hô hào dân chủ. Có thể nghi ngờ họ không hiểu dân chủ thật sự là gì. Thái độ của họ không tạo ra sự tin tưởng rằng nếu được quần chúng ủng hộ thì họ sẽ không đi vào vết xe đổ của Mohamed Morsi. (Được dân Ai Cập bầu lên sau khi chế độ độc tài của Hosni Mubarak sụp đổ, Morsi và đảng Huynh Đệ Hồi Giáo đã nhanh chóng tập trung quyền lực chống lại mọi hoạt đông dân chủ.) Dù vô tình, chính họ đã là một dẫn chứng hùng hồn cho sự ngụy biện của chính quyền rằng đa đảng, đa nguyên chỉ đưa đến loạn lạc. Không có gì lạ khi họ không được đa số người Việt trong nước hổ trợ.

Một số Đảng viên, cựu Đảng viên lão thành cũng đã nhận ra sự cần thiết của cải cách dân chủ. Nhưng những lời kêu gọi cải cách của họ vẫn chưa và có lẽ cũng sẽ không có hiệu lực gì. Họ không có quyền, không còn nắm những chức vụ quan trọng. Ảnh hưởng của họ, nếu có, chỉ trên bình diện tư duy, tinh thần. Nhưng chính quyền đương thời chống những hoạt động dân chủ không phải vì thiếu suy nghĩ, cần được thức tĩnh mà chỉ vì sự bám víu quyền lợi, một bản chất cố hữu của con người. Những nhân vật như George Washington và Nelson Mandela đều là ngoại lệ, hiếm có. Khách quan mà suy luận thì cái xác suất trong giới lãnh đạo của Việt Nam hiện nay có người đủ quyền và đủ lòng để tiến hành cải cách như Mikhail Gorbachev ở Liên Xô trước đây là rất thấp.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi tất cả những kiến nghị, tâm thư, đề xuất… của những người mong có được một cải cách thể chế thật sự đều đã không đi đến đâu. Ủng hộ dân chủ bằng phương pháp đưa thư, đệ đơn này không những đã không có hiệu quả thực tế mà lại còn có vấn đề về khía cạnh tư tưởng. Có thể nói những người chọn con đường này đã mặc nhiên chấp nhận chính quyền là một thực thể trên dân, có tư cách ban phát cho dân. Dù họ là người có lòng yêu nước, thương dân thì đây vẫn là tư duy lạc hậu của thời phong kiến, hoàn toàn trái ngược với lý tưởng dân chủ.

Có lẽ vì nhận thấy sự quan trọng của tư duy và phương pháp trong cuộc đấu tranh chống độc tài, một số người đã cho rằng cần phải có một đội ngũ trí thức ưu tú để hướng dẫn quần chúng đấu tranh đòi dân chủ. Thành phần trí thức đi tiên phong này có thể sẽ được đào tạo, học hỏi ở nước ngoài rồi về nước lãnh đạo quần chúng. Họ sẽ là những người vững vàng với lý tưởng, không ngại gian khổ, hy sinh. Sách lược này không phải là mới, đã được áp dụng thành công bởi Hồ Chí Minh cùng các đồng chí của ông để chống lại chế độ thực dân Pháp. Nhưng trong thực tế ngày hôm nay thì sách lược này không thể thực hiện được.

Câu hỏi quan trọng là những người trí thức này sẽ nói gì, sẽ làm gì để được quần chúng tín nhiệm, tự nguyện đi theo cho họ hướng dẫn, lãnh đạo. Họ sẽ nói gì, làm gì để người dân chịu gánh thêm gian khổ, có thể bị tù đày và hy sinh mà không sợ cảnh “tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa”? Ngoài trường hợp không thực tiễn là có siêu nhân xuất hiện, câu trả lời khách quan sẽ là gáo nước lạnh tạt vào giấc mơ tranh đấu dân chủ theo sách lược này.

Hơn nữa, khác với những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỷ trước, đây không phải là một cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Tất cả những liên hệ đến thế giới bên ngoài sẽ bị chính quyền đương thời tuyên truyền là tay sai của ngoại bang. “Thế lực thù địch”, một khái niệm mơ hồ mà chính quyền vẫn dùng để biện minh cho sự đàn áp những hoạt động dân chủ, đột nhiên sẽ hết mơ hồ. Những người trí thức này sẽ bị chận bắt trước khi họ có cơ hội lãnh đạo, hướng dẫn quần chúng. Đây là một sách lược tranh đấu dân chủ vô kế khả thi nếu người lãnh đạo phải là “trí thức ưu tú” thuộc một trường phái nhất định.

Những diễn biến chung quanh vụ Trung Quốc kéo giàn khoan xâm phạm lãnh hải Việt Nam vào tháng Năm vừa qua ( tháng 5/2014) đã làm rõ nét hịện trạng giới hạn cũng như một con đường đấu tranh dân chủ có hiệu quả trong tương lai. Phản ứng và thái độ của quần chúng từ những người cành sát biển, phóng viên, đến ngư dân, sinh viên, người già, giới trẻ… chứng tỏ rất nhiều người Việt, có thể là đa số, không hèn và vô cảm, không thờ ơ với vận nước khi có một mục tiêu rõ rệt như chống ngoại xâm. Rất nhiều người đã nhận định chính xác rằng phải có cải cách thể chế mới có thể bảo vệ được chủ quyền lâu dài. Thái độ bí ẩn và phản ứng khó hiểu của chính quyền trong vụ này chứng tỏ rằng đặt tin tưởng vào một chế độ độc tài trong việc bảo vệ chủ quyền chung của đất nước cũng nguy hiểm như tin rằng họ sẽ tạo ra một xã hội chung ngày càng giàu mạnh hơn. Thế nhưng khi câu hỏi ai, tổ chức nào sẽ thay thế nhóm lãnh đạo và Đảng Cộng Sản Việt Nam đuợc đặt ra trên mạng thì những người kêu gọi chống chính quyền đã không có câu trả lời thoả đáng. Phản ứng của họ gây ra ấn tượng là chính họ đang bị bế tắc trong tư duy và trong sự vận động đa đảng, đa nguyên.

Không thể gạt qua câu hỏi này bằng cách nghi ngờ động lực và trình độ của người hỏi như nhiều người vẫn làm. Bất kể người hỏi là ai, đây là một câu hỏi chính đáng cả trên nguyên tắc và trong thực tế đấu tranh dân chủ. Một câu hỏi quan trọng đòi hỏi câu trả lời rõ ràng, nghiêm túc.

Trước hết, đây là một câu hỏi thực tế về thực lực đối kháng. Đưa ra một viễn ảnh cụ thể để chứng tỏ sẽ có đủ đối trọng là một việc làm cần thiết nếu muốn được quần chúng tin theo. Cũng là một việc làm vô vọng. Dù muốn hay không, đại dìện duy nhất cho nước Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc hôm nay là nhà cầm quyền đương thời, một chính quyền đã có quan hệ ngoại giao chính thức với các quốc gia lớn. Không một nước dân chủ nào sẽ nhảy vào hổ trợ vũ lực chống chính quyền đó. Ngoại lệ duy nhất, trên nguyên tắc, là khi có nội loạn, nội chiến gây ra quá nhiều chết chóc cho dân lành. (Thực tế thì vẫn rất khó như phản ứng của Anh và Mỹ với tay độc tài Assad ở Syria đã chứng tỏ.) Thế là cách duy nhất để khả dĩ có đủ đối trọng lật đổ chính quyền vẫn phải là sự ủng hộ đông đảo của quần chúng. Nhưng những người kêu gọi cách mạng, đấu tranh lật đổ chính quyền lại không có sự ủng hộ này. Họ vẫn không thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn tạo ra bởi những tư tưởng lỗi thời, không thích hợp với thực tế ngày nay.

“Nhân dân vùng lên” là một câu khẩu hiệu, không phải là đường lối chính trị. “Dân hèn, ngu, và trơ đông như quân Nguyên” là một biện minh cho sự thất bại chính trị, không phải là một nhận định hữu ích thực tiễn.

Tạo nên một cuộc cách mạng quần chúng để lật đổ chế độ hiện hành chỉ là một ảo tưởng vì hai lý do cơ bản. Thứ nhất là khi không thấy có đối trọng, không thấy có hy vọng thành công, ta thường chọn con đường để có được những nhu cầu thực tế trước mắt theo bản năng sinh tồn. Người mà nhu cầu thiết yếu của họ bị đe doa sẽ có khuynh hướng vùng lên, liều chết kháng cự, nhưng trong thực tế hiện nay thì tỉ lệ của những người như thế không đủ để làm cách mạng.

Lý do thứ hai là sự tàn độc không phải là mục đích, là nguyện vọng của nhà cầm quyền độc tài hiện nay ở Việt Nam. Nó chỉ là phương tiện để giữ vững độc quyền, đặc lợi. Chính quyền sẽ thắt nới tùy hoàn cảnh để vừa giữ vững quyền lợi vừa tránh nạn “cùng tắc biến”. Họ đã thành công và không có dấu hiệu gì là họ sẽ thất bại trong tương lai gần như nhiều người vẫn hy vọng.

Hô hào quần chúng xuống đường đối kháng chính quyền và miệt thị họ ngu, hèn khi họ không đáp ứng là việc làm vô ích, phi dân chủ và gây phản cảm, nhất là từ những người đang được sống ngoài vòng cương toả của chế độ độc tài.

Thỉnh nguyện không được, vùng lên lại chẳng có mấy ai. Tiến trình dân chủ sẽ như thế nào?

Câu hỏi “Ai sẽ thay Đảng…?” chính là một cơ hội để những người trí thức chống độc tài khẳng định lại bản chất và mục đích của cuộc tranh đấu cho dân chủ nhằm thu hút sự ủng hộ của quần chúng. Trên nguyên tắc, người đấu tranh dân chủ đúng nghĩa không tranh đấu cho quyền lãnh đạo của một người hay một đảng. Người đấu tranh dân chủ đúng nghĩa tranh đấu cho cái quyền được chọn lựa: Mỗi người dân một lá phiếu. Đấu tranh để có quyền chọn lựa như thế là mới chính là đấu tranh dân chủ. Không phải mọi phong trào chống độc tài đều là đấu tranh dân chủ. Đặt sự chọn lựa đảng phái, chủ thuyết, người lãnh đạo… trước khi có quyền chọn lựa sẽ biến cuộc đấu tranh này thành một sự xung đột giữa những thế lực khác nhau, dễ khiến người dân nghi ngờ hơn là tin cậy.

Cuộc đấu tranh dân chủ chân chính là cuộc đấu tranh để mọi người dân thật sự có quyền chọn lựa. Chọn lựa cụ thể như thế nào thì tùy dân, là quyền của dân. Theo tinh thần bất hủ của Voltaire (khi ông nói về quyền tự do ngôn luận), người đấu tranh dân chủ chân chính hẳn phải có tâm niệm: Dù tôi không đồng ý với sự chọn lựa của họ, tôi vẫn tranh đấu đến cùng cho quyền được chọn lựa của họ. Người đấu tranh dân chủ chân chính sẽ chống lại mọi khuynh hướng giới hạn quyền chọn lựa của người dân. Ngoại trừ độc tài đương quyền, không ai chống lại mục tiêu và con người đấu tranh như thế: Đấu tranh bất bạo động cho quyền được chọn lựa của mỗi người, của mọi người, bất chấp đảng phái và chính kiến.

Chỉ bằng cách khẳng định thật rõ ràng rằng mục tiêu đấu tranh là cái quyền được chọn lựa của mỗi người, của mọi người mới có thể thu hút được sự hổ trợ của đông đảo quần chúng. Từ những người vẫn nghĩ rằng Đảng CSVN đã có công trong sự giành độc lập, thống nhất đất nước cho đến những người vẫn tin rằng CS là một đại họa của dân tộc, tất cả (trừ độc tài đương quyền) đều muốn có được cái quyền ấy. Đây là mục tiêu quan trọng tối hậu. Bên cạnh nó, những tranh chấp về các diễn biến lịch sử, đúng sai của những chủ thuyết chính trị, công tội của những nhân vật lịch sử v.v… chỉ là những vấn đề để nghiên cứu và tranh luận khi trà dư tửu hậu, khi đã có được một thể chế dân chủ.

Dĩ nhiên là độc tài đương quyền sẽ tìm mọi cách, dùng mọi thủ đoạn để trấn áp tất cả những hoạt động đấu tranh dân chủ. Họ sẽ đưa ra mọi lý lẽ để phân hoá, để chứng tỏ cuộc đấu tranh dân chủ chỉ là một sự tranh giành quyền lợi hay có ý đồ làm loạn. Đấu tranh thành công cần phải có đủ một số yếu tố. Quan trọng nhất là làm thế nào để có thể tạo được sự ủng hộ đông đảo, dù âm thầm, của quần chúng. Lý tưởng dân chủ – cái quyền được chọn lựa của mỗi người –  tự nó chỉ là một khái niệm trừu tượng đối với những người phải quần quật, đầu tắt mặt tối để mưu sinh. Tư tưởng và phương pháp đấu tranh cụ thể để có được một tiến trình dân chủ thành công là nội dung của Phần II.

_____

Phần 2:

Thế giới qua hơn nửa thế kỷ nay đã chứng tỏ rằng bất bạo động là phương pháp đấu tranh duy nhất thực sự hữu hiệu trong việc xây dựng nền tảng dân chủ. Có nhiều lý do để tránh mọi hình thức bạo động. Thực tiễn đơn giản nhất là khi chính quyền độc tài nắm hết mọi công cụ của bạo lực thì chiến thắng bằng bạo động là chuyện không tưởng. Hy vọng có được hổ trợ vũ lực từ bên ngoài trong hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam cũng hoang đường không kém. Chắc chắn không mấy ai nhân danh dân chủ mà lại cổ súy bạo động chống chính quyền. Nhưng đấu tranh bất bạo động hữu hiệu cần phải theo một số nguyên tắc mà hầu như ít ai chú ý.

Tranh chấp dưới bất cứ hình thức nào cũng nhằm tạo ra áp lực buộc đối phương phải nhượng bộ. Tranh đấu bạo động thì áp lực chính là quân sự. Trong những cuộc đình công bất bạo động ở xứ tự do thì áp lực chính là kinh tế. Tạo ra áp lực cho đối phương cũng như chống lại áp lực của đối phương đều đòi hỏi phải trả giá. Bên thua cuộc là bên không đủ sức trả cái giá cuộc đấu tranh đòi hỏi. Người đấu tranh dân chủ phải tự hỏi họ sẽ tạo ra được áp lực gì đối với chính quyền độc tài và sẽ phải trả giá như thế nào. Hô hào xuống đường khi không có câu trả lời thấu đáo thì chỉ là một hành động bồng bột khó đem lại kết quả như ý muốn.

Phong trào Occupy Wall Street dù đã lan rộng khắp các thành phố lớn ở Mỹ với sự tham dự và ủng hộ đông đảo của thanh niên vẫn không đi đến đâu vì không tạo ra áp lực gì (và cũng không có những đòi hỏi thực tiển). Ngược lại những cuộc biểu tình của Đảng Trà (Tea Party) đã có ảnh hưởng mạnh trên chính trường Mỹ vì áp lực của lá phiếu. Trong một nước toàn trị thì áp lực của lá phiếu, hay ý dân, là một điều vô nghĩa. Vì thế mà hành động xuống đường biểu tình tự nó không phải là một hình thức tranh đấu dân chủ hữu hiệu trong mọi thời điểm. Điển hình là sự bất lực của thanh niên Hồng Kông trước những áp đặt của Bắc Kinh. Dù họ có ý thức chính trị cao và đã chuẩn bị công phu nhưng vẫn không thể tạo ra áp lực đủ mạnh để buộc Bắc Kinh phải nhượng bộ.

Bất phục tùng dân sự (civil disobedience) có thể như cây gậy thọc vào cái bánh xe của chính quyền độc tài. Gậy đủ lớn thì có áp lực đủ mạnh để làm hỏng bánh xe. Nhưng trong thực tế thì rất khó có thể hô hào người dân tạo ra một phong trào bất phục tùng dân sự chống lại chính quyền độc tài. Cái giá của hành động bất phục tùng là tù đày hay ngay cả sinh mạng. Một cái giá quá cao mà bất cứ ở đâu, thời nào cũng chỉ có một thiểu số nhỏ dám chấp nhận.

Xuống đường biểu tình, đình công, bất phục tùng dân sự để tạo ra áp lực của cử tri, áp lực kinh tế, áp lực xã hội, là những hình thức tranh đấu bất bạo động hữu hiệu với một chính quyền có lương tâm. Nhưng dưới chế độ độc tài thì những hình thức tranh đấu này sẽ không tạo ra áp lực gì và do đó sẽ thất bại như ở Hồng Kông (không đạt được mục đích là có qưyền bầu cử thật sự) nếu những người tranh đấu dân chủ chỉ dựa vào chúng.

Chà đạp nhân quyền của người đấu tranh bất bạo động, chính quyền độc tài cũng phải chịu sự phê phán của dư luận quốc tế, sự tẩy chay của những nước văn minh. Nhưng lịch sử thế giới đã chứng tỏ rằng đây là một cái giá mà mọi chế độ toàn trị sẳn sàng chấp nhận khi họ thấy cần. Cuộc thảm sát ở Thiên An Môn năm 1989 là một ví dụ đẫm máu hùng hồn. Vì vậy mà đấu tranh như thế thì phần chủ động sẽ luôn luôn nằm trong tay chính quyền, khó mà thành công được.

Áp lực duy nhất sự đấu tranh bất bạo động có thể tạo ra được trong một chế độ độc tài là một áp lực mà thoáng nghe thì có vẻ mơ hồ nhưng lại là một áp lực hữu hiệu nhất, mạnh nhất. Đó chính là áp lực của lương tâm. Lương tâm của ai? Lương tâm của người dân, lương tâm của xã hội, lương tâm của những viên chức, bộ đôi, công an trong bộ máy chính quyền. Rất có thể là lương tâm của chính những người đang cầm quyền sinh sát của chế độ. Vai trò của “lương tâm” trong cuộc đấu tranh dân chủ là một vấn đề rất tế nhị. Người đấu tranh dân chủ không thể ngây thơ, chủ quan, mà phải chấp nhận và suy tính rằng chính quyền độc tài vốn không có lương tâm, sẽ không từ một thủ đoạn nào để ngăn chặn quyền dân chủ. Nhưng đồng thời họ cũng phải thấy rõ rằng lương tâm của mỗi người, ngay cả những cá nhân trong guồng máy độc tài, cũng không bao giờ biến mất. Lương tâm con người, ngay cả những lương tâm bị che mờ vì lòng tham và thù hận, chính là đối tượng đế chiến thắng của những người đấu tranh dân chủ.

Một khi con người và xã hội cho rằng những chính sách, những biện pháp hiện hành của chính quyền là “vô lương tâm” thì cái chính quyền đó hoặc sẽ phải nhanh chóng thay đổi hoặc sẽ sụp đổ mà không cần cái giá của nhiều hy sinh xương máu. Khi người lính của chính quyền ngần ngừ tay súng, khi thượng cấp của anh ta trì hoãn lệnh bắn, khi những người có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của chính quyền không muốn tiếp tục công việc.. thì chỉ cần một diễn biến nhỏ cũng có thể nhanh chóng đưa đến một sự thay đổi chính trị sâu rộng. Rất có thể những tay lãnh đạo trong chính quyền độc tài cũng sẽ nhận ra sự tỉnh thức của lương tâm xã hội để tiến hành cải cách thật sự hòng tránh tai họa cho chính họ. Nhưng nếu không có một sự rung chuyển trong lương tâm của những thành viên trong xã hội, thì đấu tranh dân chủ sẽ khó mà thành công. Nếu không có áp lực đủ mạnh của lương tâm thì cái giá độc tài phải trả khi ra tay chém giết là rất thấp so với cái giá xương máu của người đấu tranh dân chủ.

Trong cuộc đấu tranh dân chủ này, không có thành trì để chiếm đóng, không thể đánh bại binh đoàn của độc tài, chỉ có thể xoay chuyển được lương tâm của xã hội. Vì thế mà đây không phải là cuộc tranh đấu chống quân thù. Nhưng về phía chính quyền thì càng tạo ra được ấn tượng của một cuộc chống phá bởi những “thế lực thù địch” thì càng dễ khiến xã hội thờ ơ với phong trào đấu tranh dân chủ. Có thể vì không nhận ra bản chất và mục tiêu thực tế của cuộc đấu tranh, nhiều người vẫn dùng những ngôn từ và hình thức sáo mòn để đả kích chính quyền, trong đó có nhiều phần tử họ cần phải thuyết phục và có thể thuyết phục được, như một kẻ thù để tiêu diệt. Dù vô tình, chính họ đang tiếp tay cản trở tiến trình dân chủ của đất nước với cái tư duy, ngôn ngữ, và hành động đã trở thành thói quen từ những cuộc đấu tranh bằng vũ lực của thời xưa.

Để thành công, cuộc đấu tranh dân chủ cho Việt Nam hôm nay phải có bản chất của một cuộc đấu tranh về tư tưởng, đấu tranh để thuyết phục từng cá nhân trong xã hội rằng cuộc đời của họ, tương lai con cháu họ, tương lai đất nước sẽ tốt đẹp hơn với những đòi hỏi cụ thể của những người đang dấn thân tranh đấu. Tùy hoàn cảnh, quá khứ, và tâm hồn, có người đã chọn con đường đấu tranh dân chủ, có người sẽ cảm nhận và ủng hộ, dù âm thầm, và cũng sẽ có người, trong số những người đang được hưởng độc quyền và đặc lợi, quyết chống mọi tiến triển dân chủ. Cho đến khi mà đa số người dân hiểu và đồng tình ủng hộ những đòi hỏi cụ thể của phong trào dân chủ thì trọng tâm của cuộc tranh đấu vẫn phải là sự thuyết phục quần chúng chứ không phải tổ chức những hoạt động kêu gọi chống chính quyền. (Chính quyền sẽ có những vi phạm đòi hỏi một sự phản đối mạnh như một cuộc biểu tình chẳng hạn. Nhưng người xuống đường cần phải cân nhắc tùy theo vụ việc để thuyết phục thêm được quần chúng thay vì để lọt vào cái bẩy “gây rối loạn, phá hoại đời sống” của chính quyền.)

Ngày mà bà con, bạn bè của những người dấn thân cho dân chủ không hỏi tại sao làm thế, ngày mà họ ủng hộ cuộc đấu tranh, dù chỉ là ngấm ngầm trong tư tưởng, ngày mà đa số những người chọn đứng bên lề chỉ vì họ sợ, chỉ vì họ không thể hay không dám trả cái giá chống độc tài chứ không phải vì bất đồng tình thì đó là ngày mà thành trì và súng đạn của chính quyền độc tài sẽ trở thành vô hiệu dù bên ngoài vẫn rất hoành tráng. Đây là lý do tại sao những cuộc đấu tranh dân chủ bất bạo động thành công đều có vẻ như đã bùng phát đột ngột và nhanh chóng đạt được kết quả. Thật ra đó chỉ giai đoạn kết thúc của một quá trình xoay chuyển lương tâm của xã hội đã thành công. Vấn đề là làm thế nào để thành công.

Trước hết ta hãy điểm qua những việc làm không có hiệu quả, nếu không nói là phản tác dụng trong việc thuyết phục đa số quần chúng để có được một đất nước dân chủ. Một trở ngại lớn là sự chia rẽ vì lịch sử, hay đúng hơn là vì sự đấu tố lịch sử theo cảm tính, của những người đang cùng kêu gọi dân chủ. Lịch sử Việt Nam dĩ nhiên là phức tạp, bị bóp méo, viết lại nhiều hơn lịch sử của những nước tự do. Tìm hiểu sự thật lịch sử, ngay cả ở xứ tự do, vẫn là một việc làm đòi hỏi tinh thần khách quan và trình độ nghiêm túc của các sử gia chuyên nghiệp. Khi những người không thể phân biệt đâu là sử kiện, đâu là tin đồn, không thể đánh giá được sự khả tín và biện minh của nhân chứng… mà lại hùng hục lên án hay tung hô theo cảm tính thì sẽ không thuyết phục được ai. Đây là một hành động có thể đem lại hứng thú cho những người vốn có cùng niềm tin nhưng vô dụng cho tiến trình dân chủ. Dù lịch sử có như thế nào thì con đường cần đi trước mắt vẫn không thay đổi; và nếu những tệ nạn hiện thời không đủ để rung chuyển lòng người thì sự thật lịch sử cũng chỉ là chuyện cổ tích.

Sự xung khắc không đúng lúc giữa những người cùng đấu tranh dân chủ cũng là một hành động phản tác dụng khác. Dân chủ – quyền được lựa chọn của mọi người, mỗi người dân một lá phiếu – không đòi hỏi người ta phải có ý kiến cụ thể như thế nào, mà chỉ đòi hỏi sự chấp nhận quyền chọn lựa của người khác. Đây chính là mẫu số chung cho tất cả mọi hoạt động đấu tranh dân chủ. Sự bất đồng ý kiến trong những vấn đề liên quan đến cuộc sống hằng ngày là một điều không thể tránh khỏi, và cũng chính là một yếu tố làm xã hội tiến bộ với thời gian. Những người đấu tranh dân chủ thường không có, không cần có (và cũng không nên có) cùng chính kiến ngoài lý tưởng dân chủ, đặt quyền chọn lựa của dân trên hết. Khi chưa có được quyền chọn lựa thì những tranh chấp khác chỉ làm phân tán nổ lực đấu tranh đòi quyền dân chủ. Những khác biệt này, dù quan trọng, vẫn là những vấn đề phải để hạ hồi phân giải, một khi đã có được thể chế dân chủ. Đây là điều hiển nhiên đến nhàm trên lý thuyết, nhưng thực tế thì bản chất con người vẫn có những đố kỵ, những tham vọng khiến ta khó mà bỏ qua những khác biệt về quan điểm để cùng sát cánh. Rất may là thực tế cũng không đòi hỏi mọi người mà chỉ cần một vài người có uy tín, đại diện tinh thần, của những nhóm tranh đấu dân chủ khác nhau có đủ tâm trí để nói lên và làm theo nguyên tắc thỏa hiệp dân chủ này.

Mắng chửi Cộng Sản một cách chung chung cũng phản tác dụng. Gốc rễ chỉ là thể chế và bản chất con người. “Người Cộng Sản” đã là một khái niệm vô nghĩa. Trong hàng ngũ Đảng viên và lãnh đạo hôm nay có những kẻ đã bòn rút, trấn lột dân, những kẻ mà người Cộng Sản 70 năm trước hẳn sẽ giết không tha. Và cũng trong hàng ngũ của những Đảng viên hôm nay, những kẻ được hưởng quyền lợi của chế độ toàn trị lại có những người đứng lên, chịu trả giá tù đày, để đòi cải cách, quyền dân chủ. Những người dùng một cái nhãn hiệu đã lỗi thời để chửi rủa chung chung chỉ biểu lộ tâm trí cạn cợt, chỉ có thể khích động hận thù, hoàn toàn vô ích trong cuộc đấu tranh bất bạo động. Chính những người họ đang miệt thị, những cá nhân trong guồng máy chính quyền, là người mà lương tâm sẽ quyết định tương lai dân chủ của Việt Nam.

Một đặc điểm của đấu tranh bất bạo động, đấu tranh tư tưởng là sức mạnh của phong trào tùy thuộc vào sự minh bạch, công khai của những người tranh đấu. Họ lên tiếng, họ chống đối đường hoàng dõng dạc cho nhân quyền, cho lợi ích của xã hội, cho công lý… Họ không hành sự lén lút, không tuyên truyền nặc danh. Trước những người như thế, đội ngũ an ninh chuyên điều tra, đối phó với những hoạt động chống đối bí mật sẽ trở thành vô dụng đến khôi hài, ngay cả đối với những người công an đang làm nhiệm vụ. Đây cũng là bước đầu để chuyển hoá tâm tư họ. Dù trong hoàn cảnh đối nghịch, ít người có thể nuôi lòng hận thù hay hằn học lâu dài khi đối phương rõ ràng là chống đối để cải thiện, để xây dựng, không chống đối để tiêu diệt hay đập phá.

Diễn biến Thiên An Môn 25 năm trước là một bài học đáng chú ý về khả năng thức tỉnh lương tâm của đấu tranh bất bạo động cũng như cái giá độc tài chịu trả để giữ vững chế độ. Trong bảy tuần biểu tình ôn hòa của sinh viên Bắc Kinh, người dân Bắc Kinh ngày càng ủng hộ họ. Những sinh viên này chẳng nguyền rủa Mao Trạch Đông, chửi Đảng, mà chỉ đòi tự do ngôn luận, thêm quyền dân chủ, dẹp tham nhũng… Ai có lương tâm cũng phải đồng tình, bất kể chính kiến. Đặng Tiểu Bình và đồng bọn không dám tin vào sự trung thành của những binh đoàn đang trấn thủ Bắc Kinh, những người lính đã thấy, đã nghe những sinh viên này trong mấy tuần qua. Lãnh đạo Bắc Kinh đã hoán chuyển những binh đoàn ở xa về để trấn áp. Những người lính này thật lòng nghĩ rắng nhờ có Đảng và lãnh tụ mà đời sống họ khá hơn, nước Trung Hoa được ngẩn mặt với thế giới. Đối với họ những thanh niên đang tranh đấu chỉ là quân “phản động”. Vì thế họ đã không ngần ngại giày xéo khi có lệnh. Hoàn cảnh Việt Nam và thế giới hiện nay thuận tiện hơn nhiều cho cuộc đấu tranh tư tưởng để xoay chuyển lương tâm một cách rộng lớn.

Chính quyền Việt Nam ngày nay có lẽ cũng không thua kém gì Đặng Tiểu Bình và đồng bọn về thủ đoạn chống dân chủ. Những người đấu tranh có nhiều ảnh hưởng chắc chắn phải trả giá. Họ đã và sẽ phải chịu cảnh tù đày. Nhưng tiếng nói của họ dần dà sẽ có được sự ủng hộ, dù là thầm lặng lúc đầu, của đa số quần chúng. Một chính quyền có lương tâm không thể có tù nhân lương tâm. Và những tù nhân lương tâm chính là tiếng chuông mạnh nhất để thức tỉnh lương tâm xã hội, lương tâm thế giới. Tiếng chuông của Nelson Mandela, Aung San Suu Kyi đã đem lại những thay đổi lớn cho nền dân chủ của nước họ (dù hiện vẫn có nhiều trở ngại). Những người chịu trả cái giá tù đày để nói lên điều cần nói, những người tù lương tâm, bao giờ cũng là nổi lo lớn nhất của độc tài. Chính quyền Việt Nam đã nghĩ ra được một giải pháp để tạm thời đối phó. Họ sẽ “xuất khẩu” những ai đã tạo ra ảnh hưởng lớn với lòng can trường dám chấp nhận ngục tù. Tiếng nói của người sống trong một xã hội phồn thịnh, tự do sẽ không có cái hùng tráng đầy sức thuyết phục của tiếng nói bị chận bóp vọng ra từ trong tù. Nhưng thủ đoạn này sẽ không thể làm ngưng tiếng chuông đánh thức lương tâm vì Việt Nam xưa nay vẫn có những người can trường chịu ngồi tù cho lý tưởng.

Mức độ lên tiếng kêu gọi cải cách dân chủ tùy vào tâm tư và hoàn cảnh của mỗi người, tùy vào cái giá họ sẳn sàng chịu trả để có tiếng nói công khai. Nhưng dù ít hay nhiều, những tiếng nói ấy, nếu tránh được những tranh cãi luẩn quẩn đưa ra ở trên, sẽ có tác dụng thay đổi cách nhìn và xoay chuyển lương tâm của xã hội. Trong cuộc tranh đấu này, “chiến trận” không chỉ là lúc đối đầu với công an, an ninh mà chính là trong những lúc đối thoại, tâm tình với bà con, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm… Dù muốn hay không, tác phong, nhân cách, tâm hồn, tính tình của những người đấu tranh dân chủ đều là những yếu tố thuyết phục (hay gây phản cảm) cho phong trào dân chủ. Để có thể “chiến thắng”, người đấu tranh dân chủ phải tránh gây ra cảm giác, dù đúng hay sai, là họ chống đối chính quyền vì hận thù hay vì tham vọng cá nhân hơn là vì quyền lợi chung của xã hội.

Người chọn dấn thân trên con đường đấu tranh dân chủ lúc nào cũng phải có một mục tiêu, một đòi hỏi cụ thể cho quyền lợi trước mắt của người dân. Dân chủ – quyền chọn lựa của mọi người – tuy là mục đích tối hậu nhưng cũng là một khái niệm trừu tượng đối với đa số dân. Khi một số đông cảm thấy là đời sống kinh tế đã có nhiều tiến bộ so với mười, hai mươi, ba mươi năm trước thì những lý luận trừu tượng khó làm rung động lòng họ. Những người phê phán chống đối mà không đưa ra được một giải pháp thực tiển, nhất là với ngôn từ và thái độ hằn học, sẽ dễ dàng bị dân coi thường. Tuy chế độ toàn trị là gốc rễ của hầu hết những tệ nạn trong xã hội, thực tế đấu tranh dân chủ hằng ngày cần phải tập trung vào những đòi hỏi thực tiển mà mọi người đều thấy rõ sự lợi ích của chúng. Qua quá trình đấu tranh đòi hỏi những điều này, và phản ứng của chính quyền, người dân sẽ cảm nhận cái giá trị và sự cần thiết của thể chế dân chủ cũng như bản chất tệ hại của mọi chính quyền toàn trị. Để minh họa, ta hãy tưởng tượng một phong trào có thể xảy ra trong thực tế như thế.

Mọi người, dân cũng như quan, đều lên tiếng chống tham nhũng. Hãy phát động một phong trào bài trừ tham nhũng, làm công khai những thu nhập của các quan lớn. Đây hẳn là một đòi hỏi rất hợp lý và có ích lợi thực tiển. Thu nhập minh bạch của quan chức sẽ tạo thêm lòng tin cho dân, làm quan thêm rạng rỡ – vàng thật không sợ lửa – và bớt gánh nặng cho dân, cho công quỹ vì tệ nạn đục khoét, hối lộ. Không ai có thể chống đối đòi hỏi này trên nguyên tắc. Trong thực tế thì đây là điều mà chính quyền độc tài, lũng đoạn bởi tham quan, sẽ kiên quyết chống. Và đây cũng chính là dip để người dân cảm nhận vai trò của thể chế và ủng hộ, dù thầm lặng, những hoạt động dân chủ không bị ràng buộc bởi quá khứ, hay màu cờ, sắc áo. Đây chỉ là một ví dụ. Có nhiều điều cụ thể như thế, trực tiếp liên quan đến đời sống hằng ngày, trước mắt của người dân, những đòi hỏi không liên quan đến ý thức hệ hay quá khứ chính trị, có thể tạo được sự ủng hộ rộng lớn để đem đến những cải cách dân chủ thật sự.

Bạo hành của công an, hối lộ của chính quyền địa phương, những tổ chức làm ăn gây thiệt hại cho xã hội, luật lệ bất công, v.v… đều có thể là đề tài cho những phóng sự cụ thể, những nhận định chính trị, những đòi hỏi mà đa số dân và ngay cả những Đảng viên có lòng yêu nước đều ủng hộ như ta đã thấy. Nhưng thay vì chỉ đưa ra những lời chỉ trích chung chung hay những kiến nghị, cần phải có những phóng sự chất lượng với những chi tiết và nhân vật cụ thể để vạch trần bản chất vô liêm sĩ, một sự vô liêm sĩ phi chính trị, của những người dùng quyền thế để bòn rút và che đậy tội lỗi. Trước luật pháp, dù là luật pháp khập khiển hiện hành tại Việt Nam, thì đây vẫn là những điều phạm pháp và những tên tội phạm đòi hỏi phải có sự xử lý và trừng phạt thích đáng. Nhưng khi kẻ cướp lại vừa là quan tòa vừa là cảnh sát, hệ quả tất yếu của chính quyền toàn trị, thì cách trả lời thường thấy sẽ là sự trấn áp những phóng viên, những nhà báo nói lên sự thật và những người đòi công lý cụ thể cho xã hội. Người dân sẽ nhìn những tay gian tham này và bộ máy chính quyền phục vụ chúng với cặp mắt đầy khinh bỉ. Không có một biện minh chính trị nào, quá khứ lịch sử nào có thể che lấp được cái bản chất xấu xa của những kẻ đã bị thoái hoá vì quyền lực và dục vọng thấp hèn.

Trong xã hội hiện nay, chính quyền đã không còn có thể hoàn toàn khống chế đời sống kinh tế của mọi người được nữa. Sẽ có những phóng viên, nhà báo độc lập điều tra và phơi bày sự tham nhũng, những đổi chác hại nước, hại dân, những sự bạo hành, phạm pháp của nhiều đại quan. Chính quyền chỉ có thể đối phó bằng cách chà đạp nhân quyền của họ. Bố ráp, kết tội, tống giam những người có dũng khí tìm hiểu và nói lên sự thật, phơi bày cái ai cũng cho là xấu để cải thiện xã hội, thì không chỉ là một vi phạm nhân quyền trắng trợn mà bản chất còn là một sự vô liêm sĩ, bất luận chính kiến và thời đại, đáng khinh của bạo quyền. Những người anh dũng dám đứng mũi chịu sào này chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của nhiều người, của cả thế giới, của ngay chính những người thấp cổ bé họng trong guồng máy toàn trị. Khi cai ngục đã có lòng kính trọng tù nhân thì thay đổi, cải cách thật sự chỉ còn là chuyện một sớm một chiều mà thôi. Bước đầu tiên có lẽ là chính quyền sẽ phải chấp nhận và tôn trọng quyền tự do ngôn luận, nền tảng của mọi hoạt động dân chủ. Chỉ cần một bước đầu như thế là rất có thể sẽ làm cả hệ thống toàn trị phải nghiên ngã.

Tập đoàn lãnh đạo Việt Nam hẳn cũng không phải toàn là những người u mê. Khi họ thấy lương tâm xã hội đã thay đổi, nền tảng toàn trị đã rạn nứt, rất có thể chính họ sẽ nhanh chóng tiến hành những cải cách cần thiết mà người dân đòi hỏi. Cuộc đấu tranh dân chủ như thế có nhiều triển vọng đem đến những thay đổi sâu xa và tốt đẹp về chính trị, thể chế, như từng xảy ra ở Đài Loan và Nam Hàn.

Đấu tranh như thế dĩ nhiên đòi hỏi phải có những người dấn thân, chịu trả cái giá cá nhân rất cao, nhưng lại không đòi hỏi quần chúng phải trả giá, không làm đời sống xã hội khó khăn hơn, dù tạm thời. Đấu tranh như thế tuy vẫn rất cam go nhưng có sức thuyết phục, dễ đánh thức lương tâm hơn tất cả những gào thét, nguyền rủa, hay kêu gọi người dân đứng lên lật đổ Đảng và chính quyền Cộng Sản như ta vẫn thường nghe thấy trong 40 năm qua. Đây chính là con đường đấu tranh dân chủ thực tiễn nhất. Thực tế hiện nay cũng có những lợi điểm cơ bản khiến ta có thể hy vọng vào một tiến trình dân chủ khả quan ở Việt Nam.

Người Việt không có những xâu xé lâu đời vì chủng tộc hay tôn giáo. Cùng một tiếng nói chung, giao thông, liên lạc đã không còn nhiều trở ngại về địa lý hay hành chánh, người Việt dễ có cùng chung những giá trị về chân, thiện, mỹ khi không còn bị ràng buộc bởi ý thức hệ và lòng hận thù. Từ trong lòng của chế độ, từ lớp người hoàn toàn trưởng thành trong sự giáo dục một chiều, cứng nhắc của chế độ vẫn xuất hiện những người với tài năng, khí phách và tâm hồn khiến hầu hết mọi người phải khâm phục. Bên cạnh họ hẳn phải còn rất nhiều người cũng băn khoăn, mong muốn có được một đất nước thịnh vượng. Ngay cả những người trong tập đoàn độc tài đang bị thao túng vì quyền lợi và tham vọng cá nhân cũng không thể phủ nhận sự thật hiển nhiên đến nhàm về vai trò cơ bản của pháp quyền và dân chủ. Tuy tệ nạn công lý rừng rú và nghị gật vẫn còn nhiều, Việt Nam cũng đã có những cơ sở, dù hiện thời chỉ là hình thức như phấn son tô điểm cho chế độ độc tài, để xây dựng một xã hội dân chủ. Ta đã thấy những người đấu tranh dân chủ hiên ngang tranh luận với công an, bất phục tùng trên căn bản pháp lý, và đưa đại quan ra tòa. Nếu ta có thể rũ bỏ được ý thức hệ, nhãn hiệu, và hận thù – những tàn dư, dù là tàn dư sâu đậm của quá khứ – để tập trung vào những thay đổi, đòi hỏi, chống đối để cải thiện xã hội, chính quyền, và đời sống chung thay vì đập phá thì chắc chắn sẽ có được những thành quả lớn trong tương lai gần.