
Bây giờ đã bị đối xử là công dân hạng 2 rồi thì 99 năm nữa con cháu chúng ta sẽ ra sao?
Phản đối Luật đặc khu cho Tàu khựa thuê đất 99 năm!
[3T]

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)

Bây giờ đã bị đối xử là công dân hạng 2 rồi thì 99 năm nữa con cháu chúng ta sẽ ra sao?
Phản đối Luật đặc khu cho Tàu khựa thuê đất 99 năm!
[3T]

Nguyễn Hữu Thao is with Thao Hữu Nguyễn.
Các quan toà nhìn đây
Thế này là khốn nạn
Muôn dân đang ai oán
Đang căm phẫn các ông!

‘Con xin mẹ hàng tháng phải thăm con một lần để mẹ biết con thế nào, tính mạng con ra sao. Khi con ở trại tạm giam Khánh Hòa, họ từng nhốt con hai tháng trong một phòng không có lỗ thông hơi mà con vẫn chịu đựng được. Nhưng ở trong đây bây giờ con không chịu nỗi nữa.’- blogger Mẹ Nấm

CỘNG TÁC VỚI ƠN CHÚA
Chuyện kể rằng một bà già bị đau răng, bà đã làm Tuần chín ngày để kính thánh Antôn, vì người ta nói: Thánh Antôn “chuyên trách” về bệnh này.
Hết tuần chín ngày bà vẫn còn đau. Lúc đó một vị linh mục đến thăm. Bà liền hỏi:
– Xin cha nói cho con biết: có phải thánh Antôn chuyên trách bệnh đau răng không?
Vị linh mục nói:
– Bà hãy nghe tôi: Đây là địa chỉ của nha sĩ. Hãy đến đó và nói là tôi giới thiệu, họ sẽ làm không công cho bà.
Bà già la lên:
– Trời đất ơi, một ông linh mục vô thần.
Thánh Antôn tự nhủ:
– Kể ra cũng đau lòng, để nhận lời cầu nguyện của bà, chính ta đã gởi đến cho bà vị linh mục này. Thế mà…!
****************************** ****
Nếu bà già trong câu chuyện suy niệm bài Tin Mừng hôm nay, chắc bà sẽ không làm cho thánh Antôn phải thất vọng. Người phụ nữ xuất huyết trong bài Tin Mừng và bà già đau răng trong câu chuyện trên, cả hai đều tin tưởng vào Chúa. Nhưng niềm tin của họ có sự khác biệt rất lớn. Người phụ nữ xuất huyết nghĩ mình phải làm điều gì đó chứ không chỉ tin suông. Bà đến với Chúa chứ không chờ Chúa đến với mình. Bà già đau răng thì cầu nguyện rồi chờ phép lạ. Bà không chịu làm gì nữa.
Ông Giairô cũng tin rằng Chúa có thể cứu sống con gái ông. Ông làm hết sức mình. Con gái ông hấp hối không thể đến với Chúa được, nên ông đã xin Chúa đến chữa cho con gái ông.
Cộng tác với ơn Chúa là điều kiện để Chúa ban ơn. Chúng ta không thể chỉ thụ động chờ Chúa làm phép lạ, nhưng hãy sử dụng hết những phương tiện bình thường Chúa ban. Phần còn lại tùy Chúa định liệu cho ta. Thánh Ignatio de Loyola đã cho chúng ta lời khuyên bất hủ này: “Hãy làm như thể mọi việc tùy thuộc chúng ta, và hãy cầu nguyện như thể mọi việc tùy thuộc Thiên Chúa.” Mc Kenzie nói: “Khi ta cố gắng làm những gì có thể, Thiên Chúa sẽ làm những điều ta không thể.”
Thiên Chúa ban cho chúng ta quyền tự do, Người không thể thúc ép, nhưng để chúng ta toàn quyền sử dụng tự do của mình. Thiên Chúa không đối xử với chúng ta như những con bù nhìn, nhưng luôn coi trọng chúng ta như những cộng tác viên của Người.
Trong các phép lạ Chúa làm, Người đều cần sự cộng tác của con người.
– Trong tiệc cưới Cana, Chúa chỉ làm phép lạ khi người ta đã “múc nước đổ đầy các chum” (Ga 2,7).
– Trong phép lạ về bánh, Người chỉ làm cho bánh hóa nhiều khi “có 5 chiếc bánh và 2 con cá” (Mc 6,35-43).
– Khi chữa mắt cho người mù, Người chỉ thoa bùn vào mắt anh, còn phần anh phải đi rửa ở hồ Silôê mới được sáng mắt (Ga 9,1-40).
Thiên Chúa muốn chúng ta sử dụng hết các khả năng của mình, và Người sẵn sàng can thiệp khi cần. Ngạn ngữ Tây phương có câu: “Hãy tự giúp mình trước rồi Trời sẽ giúp sau.”
***********************
Lạy Chúa, Chúa yêu thương chúng con với trái tim của người cha người mẹ, Chúa để chúng con hoàn toàn tự do đáp lại tình yêu Chúa. Xin cho chúng con luôn biết sống ngoan ngoãn, thảo hiếu, đẹp lòng Chúa. Xin dạy chúng con biết cộng tác với ơn Chúa, để được Chúa ban thêm ơn trợ giúp trong những cơn gian nan khốn khó. Amen!
Thiên Phúc – Trích trong “Như Thầy Đã Yêu”
From: Langthangchieutim

Tòa án liên bang Đức ở Berlin đang tiếp tục xử vụ án quốc tế bắt cóc tháng 7/2017, một vụ án dư luận CHLB Đức cho là nghiêm trọng chưa từng có, như thời chiến tranh lạnh của thế kỷ trước.
Cả lập pháp, hành pháp và tư pháp CHLB Đức chung một quyết tâm xét xử công khai, đến nơi đến chốn vụ án lớn này để không cho nó tái diễn, đe dọa nền an ninh của quốc gia hùng cường này.
Bà thủ tướng A. Merkel, tổng chưởng lý liên bang, trực tiếp chỉ đạo vụ án lớn này. Riêng việc hỏi cung bị can cũng là nhân chứng quan trọng Nguyển Hải Long đã kéo dài 3 phiên và còn kéo dài sang tận tháng 7 và tháng 8, đủ thấy tòa án làm việc tỷ mỷ, thận trọng, công khai, minh bạch ra sao.
Vụ án càng kéo dài lại có thêm tình tiết mới. Không phải chỉ có CHLB Đức và Tiệp mà nay CH Slovaque cũng liên quan khi ông Tô Lâm lấy cớ tăng quan hệ với nước này đã xin họ giúp một chuyên cơ đặc biệt và bộ trưởng Công an Slovaque nhẹ dạ đồng ý. Máy bay này phải bay qua không phận Ba Lan đến nước Nga, lẽ ra phải báo trước 10 ngày theo điều lệ hàng không nhưng đã bay ngay hôm đến và danh sách VIP – nhân vật quan trọng – không qua thẩm tra hộ chiếu có tên nhân vật Slovaque nhưng thật ra chỉ toàn người Việt. Nay cả Slovaque và Ba Lan đều giật mình ngỡ ngàng vì không ngờ vô tình liên quan đến vụ bắt cóc quốc tế phạm pháp này.
Thời Báo De ở Đức cho biết tại phiên tòa Berlin, bà Trần thị Phương Nga (thư ký tòa án ghi nhầm là Trần Dương Nga) vợ ông Trịnh Xuân Thanh khai rằng theo bà có 12 tướng, sĩ quan cấp cao ngành Công an có can dự ít nhiều vụ bắt cóc này, gồm có: Thượng tướng Tô Lâm, trung tướng Đường Minh Hưng, trung tướng Lê Mạnh Cường (phó Tổng cục trưởng Tình báo), Phạm Văn Hiếu, Lưu Trung Việt, Vũ Quang Dũng, Vũ Hồng Minh, Đào Công Duy, Vũ Trọng Kiên, Đặng Tuấn Anh và Nguyễn Thế Đôn.
Tại phiên tòa gần đây, nhân chứng Nguyễn Vân Anh, bạn gái của Vũ Đình Duy, cũng khai rõ các mối quan hệ với tướng Tô Lâm, với Đào Quốc Oai và Nguyễn Hải Long.
Phiên tòa đã dần dần bóc dỡ và công khai một loạt tên tuổi người Việt và quan chức ngoại giao Việt Nam hoạt động hoặc bị tình nghi liên quan đến vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh trên đất Đức, ngoài viên đại sứ bị cảnh cáo, viên đại tá tình báo Nguyễn Đức Thoa đã bị trục xuất, còn có Nguyễn Hải Long đang khai trước tòa, nay có thêm N.V. Tiến, nguyên lao động tại Đông Đức, nay làm nhà hàng ở Berlin, chơi thân với đại tá Thoa, nay lại có thêm Lê Đức Trung, bí thư thứ nhất Sứ quán, và Việt kiều L.K. Phong.
Phát hiện mới mẻ nhất là sứ quán Việt Nam ở Paris – Pháp cũng đã góp phần đắc lực trong vụ bắt cóc, như có nhiều ghi âm điện thọai giữa tướng Tô Lâm nói từ Pháp đi các nơi về vụ bắt cóc, rồi người trong sứ quán Paris thuê xe ô tô lớn và nhỏ đi sang Berlin / Đức và Brno / Tiệp. Có tin 1 cán bộ sứ quán sắp bị chính phủ Pháp trục xuất do sự can dự phạm pháp này, danh tính chưa công bố. Pháp luôn đồng tình với Đức là hạt nhân của khối Liên Âu.
Gần đây có tin phía Việt Nam sẽ đồng ý cho bố con Trịnh Xuân Thanh quay về CHLB Đức, trở về với tình hình trước cuộc bắt cóc, nhưng tin này chưa rõ nguồn, có thể chỉ là quả bóng thăm dò.
Xem ra vụ án này có thể xét xử kéo dài đến cuối năm. Mọi quan hệ Việt Nam – CHLB Đức, Việt Nam – Tiệp, Việt Nam – Slovaque, Việt Nam – Ba Lan, Việt Nam – Pháp sẽ căng thẳng kéo dài. Một tá 12 ông tướng Công an và cả ông Nguyễn Phú Trọng sẽ có thể gặp khó khăn, rất phiền toái nếu có việc đặt chân trên đất Liên Âu.
Theo tiến sĩ Gerhard Will, nhà nghiên cứu chính trị Đức, vụ án sẽ kéo dài sang năm 2019 với nhiều khó khăn căng thẳng giữa Việt Nam và Liên Âu, làm đình trệ mối quan hệ toàn diện chính trị, kinh tế, thương mại, ngoại giao, đầu tư, viện trợ… cho đến khi lãnh đạo Việt Nam giật mình tỉnh ngộ, nhận lỗi, xin lỗi và cam kết không tái phạm, vì rõ ràng bắt cóc là chủ trương của đảng và Nhà nước VN mang tính chất côn đồ bạo lực không thể bỏ qua.
Nếu Hà nội một mực giữ ý kiến Trịnh Xuân Thanh tự nguyện về nước, không có vụ bắt cóc, tòa án liên bang Đức sẵn sàng để ngỏ cho các luật sư và các bị can từ Việt Nam sang Berlin để thanh minh và tranh tụng công khai để Hội đồng xét xử rộng đường xem xét kỹ thêm và kết luận trước các nhà báo quốc tế.
Khả năng này không có, thì sẽ đến lúc 2 nước chính thức gặp nhau, phía Đức sẽ trình bày hồ sơ vụ án rất cụ thể với đầy đủ nhân chứng, vật chứng, hình ảnh hiện vật, Việt Nam sẽ hết đường chối cãi… Chẳng lẽ tất cả do phía Đức bịa đặt tưởng tượng ra hay sao.
Copy VOA
(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link vn510.com hoặc vn73.com để vượt tường lửa)

Sự hiểu biết chính trị đi kèm với sức mạnh đòi hỏi quyền lợi của người dân. Thời trước năm 2000 chẳng thấy biểu tình, nhưng càng về sau biểu tình càng dễ xảy ra.
Phải nói tri thức chính trị đến với nhân dân bởi 2 con đường chính. Thứ nhất là giáo dục khai phóng và thứ nhì là từ internet. Nếu không CS thì con đường giáo dục khai phóng đã tạo cho con người tiếp cận với nhiều trường phái triết học và tìm hiểu được bản chất của nhiều nền chính trị khác nhau. Từ đó, nhân dân mới có được ý thức chính trị.
Với Việt Nam, tìm kiếm tri thức chính trị từ ngả giáo dục đã bị bịt kín vì sự nhúng tay của chính quyền CS vào trong giáo dục quá sâu. Đến hôm nay, lớp lớp giảng viên, giáo viên từ giáo dục đại học trở xuống còn dốt nát về tri thức chính trị rất nhiều. Với Việt Nam, con đường tìm kiếm tri thức là con đường chui như là học lén, đọc lén trên Facebook và các nguồn khác trên internet. Giống như những giọt cà phê nhỏ giọt, sự khai trí với người dân vô cùng cực nhọc và kết quả chậm chạp vì mọi con đường bị CS tìm cách chặn lại.
Trước đây trăm năm, cụ Phan Chu Trinh đã đưa ra con đường trí tuệ Khai Dân Trí – Chấn Dân Khí – Hậu Dân Sinh trong thời đại mà đa phần dân chúng không biết chữ thì quả là con đường không hợp thời. Dân dốt chỉ cần bảo họ giết địa chủ để cướp của thì họ sẽ làm vì lợi ích thiết thực với họ, vì thế họ chẳng thể hiểu đến dự án chính trị ở tầm cao như vậy. Đến ông Hồ Chí Minh còn không hiểu nổi chính sách này nói chi dân không biết chữ. Và hiểu không tới nên chê cụ Phan là “cải lương”. Ngày đó ông Hồ Chí Minh thấy đường hướng khai dân trí là không thể, vì dân trí cao họ sẽ lật tẩy ông ta ngay. Như ngày nay vậy, người ta đã lật tẩy bản chất Hồ Chí Minh và giải ảo về nhân vật này rất rõ ràng. Chỉ còn kẻ dốt nát mới sùng bái nhân vật này.
Con đường dùng súng đạn chém giết và triệt tiêu đối lập để cướp lấy quyền lực nó chỉ tồn tại cùng với xã hội ngu dân. Vì đơn giản, khi có trí tuệ con người ta kinh tởm tội ác. Cho nên CS phải nhồi sọ bằng giáo dục tuyên truyền để duy trì ngu dân là vậy.
Khi mở cửa kinh tế thì công nghệ thông tin cũng vào. Internet trở thành tiện lợi cho những giao dịch kinh tế thì nó cũng mang tri thức chính trị vào khai sáng cho người dân đang tăm tối. Nếu cấm internet thì chẳng ai làm ăn với CS, nhưng cho internet thì dân được khai sáng là mối nguy cho CS. Điều này CS đã thấy từ đầu chứ không phải đến hôm nay họ mới nhận ra. Nhưng từ lúc mở cửa, họ vẫn ỷ y nòng súng sẽ giải quyết vấn đề. Và họ chấp nhận cho internet vào nhưng chặn những luồng tư tưởng chính trị bằng tường lửa và đe doạ.
Ngày nay, dân trí khá hơn nên CS nhận thấy mối nguy cho họ là quá lớn. Thực chất họ cho rằng ý thức chính trị cao là mối nguy là bởi vì họ vẫn giữ nguyên quan điểm cũ. Thực chất, đứng trước một dòng nước bạn có 2 lựa chọn, một là chống nó, hai là bạn xuôi theo nó. Vì não trạng không mở ra được nên CS chọn cách chống lại xu thế của thời đại.
Với người như tôi luôn ủng hộ sự khai sáng tư tưởng. Tôi tuyên bố, CS có đe dọa cỡ nào tôi cũng viết. Còn internet là tôi còn chơi tới cùng với lệnh cấm này. Và mong rằng, những người đang có xu hướng ủng hộ dân chủ cũng theo tới cùng. Đất nước này không phải là của CS mà là của chúng ta. Là người dân, tôi muốn nói cho đến khi người dân ý thức vai trò làm chủ của mình mà dám đòi hỏi quyền lợi.


****************
Những Gì Đáng Sợ Hơn Cái Chết?
“Chết diễm phúc phải là chết già, trên giường, và có người chung quanh khóc ầm ĩ”.
Ít nhất đó là hình ảnh hầu hết người Việt chúng ta được dậy từ thuở nhỏ. Hơn thế nữa, chúng ta còn nghĩ hình ảnh “chết lý tưởng”, “chết êm ả” đó cũng là ước muốn chung của loài người. Chí ít cũng bao gồm mọi người thuộc văn hóa Đông phương.
Nhưng thật thế không?
Có ngay thí dụ: Một trong những điều giới võ sĩ đạo Nhật sợ nhất là phải chết già, chết trên giường. Họ tha thiết cầu phật khấn thần để đừng phải chết như vậy. Cảnh một samurai lưng còng, chân tay run rẩy, không cử động được theo ý muốn, ngay cả đi đứng cũng phải cậy dựa vào người khác là cơn ác mộng đối với họ. Rõ ràng viễn cảnh trở nên “vô dụng” đối với họ đáng lo hơn cái chết.
Và có thể nói hầu hết chiến binh phương Đông, từ Mông Cổ đến Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, đều khoái được “da ngựa bọc thây” hơn nằm giường.
Sang đến văn hóa phương Tây thì người ta lại càng không thích để lại hình ảnh chết già. Người càng có học, có tài, có tiếng càng muốn cả người thân lẫn công chúng chỉ nhớ tới thời điểm cực thịnh mà họ đẹp nhất, thành công nhất, quyền thế nhất, hay sáng chói nhất về trí tuệ. Rõ ràng họ quan tâm đến di sản họ để lại hơn cái chết rất nhiều.
Do đó, quan điểm ‘chết già là sướng’ chẳng đáng được điểm cao đến thế đâu. Và ngược lại ‘chết lúc chưa già’ cũng chưa chắc đáng sợ như ta vẫn nghĩ. Còn lắm thứ đáng sợ hơn cái chết nhiều.
Nhiều cán bộ lớn tuổi tâm sự điều mà họ sợ nhất vào cuối cuộc đời là phải nhìn lại những gì họ đã làm hay không làm trong những năm dài đã qua. Từ đó, họ sợ những nạn nhân đang chờ họ ở thế giới bên kia hơn sợ cái chết, vì chết chỉ là ngưỡng cửa bước qua trong khoảng khắc. Với thời đại Internet, chúng ta có thể thấy được khá nhiều lãnh đạo đảng đi qua giai đoạn cuối đời như vậy, kể cả những hung thần một thời như Tố Hữu, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, …
Cũng có lãnh đạo sợ phải đối diện những người bạn đang chờ họ bên kia thế giới hơn cả cái chết. Đó là những đồng đội mà họ từng phản bội hay bỏ rơi để giữ an toàn cho bản thân, kể cả những người đứng lên theo lời kêu gọi của họ. Chúng ta có thể thấy loại ân hận đó ở những ông Võ Văn Kiệt, Võ Nguyên Giáp, …
Và cũng có những lãnh đạo sợ phải thừa nhận mình đã sống qua cả một cuộc đời vô ích, vô nghĩa, vô vị. Vì quá lo an toàn cho bản thân mà chẳng để lại được gì, chẳng hoàn thành được gì. Mà cái chết, tức lằn ranh sau cùng của an toàn, vẫn đến, chẳng né tránh được. Hơn thế nữa, họ phải thừa nhận chính họ là một phần của cỗ máy đem lại điêu linh cho biết bao người khác. Chúng ta có thể nhận ra loại tâm tư này ở những ông Phạm Văn Đồng, Trần Quang Cơ, …
Trong tình trạng thê thảm của dân khí hiện nay, chúng ta khó còn cảm được lời dạy của cha ông: Chết vinh hơn sống nhục. Nhưng 5 chữ đó là kết tinh kinh nghiệm sống của biết bao cuộc đời. Một trong những lý do chết vinh hơn sống nhục là vì “sống nhục” chỉ được một thời gian ngắn rồi vẫn dẫn đến cái chết, mà luôn là “chết nhục”. Mọi hối tiếc vào lúc sắp “chết nhục” đều đã quá trễ.
Qui luật đó ứng dụng cho cả nhân loại chứ không riêng gì người Việt. Gần 80 năm trước, hàng triệu người Do Thái khi gần chết trong trại tập trung của Đức Quốc Xã mới quặn lòng hối tiếc đã không tham gia kháng chiến vì sợ chết; hối tiếc đã không mang thân ra hứng đạn cản đường cho vợ con chạy trốn vì sợ chết; hối tiếc đã riu ríu kéo cả nhà lên xe vào trại tập trung vì sợ chết, … để rồi giờ đây vẫn chết, chết riêng từng người, chết từng phần cơ thể vì kiệt lực, và chết với nhận thức từng người trong gia đình mình ở đâu đó cũng đang chết dần ở mức dưới hàng súc vật như mình. Đối với họ cái đau của hối tiếc lớn hơn cái đau của sự chết.
Ngày nay, tại nước ta, cả dân tộc đang bị đẩy vào loại chọn lựa đó. Gần nhất là những bà con tại 4 tỉnh miền Trung đang sống dở chết dở vì thảm họa môi trường do Formosa gây ra. Nhiều người đang phân vân: đứng lên đấu tranh đòi tẩy rửa môi trường bây giờ có thể bị trấn áp nhưng dẫu có chết đi nữa thì vẫn hơn cảnh ngồi nhìn từng người trong gia đình nhiễm ung thư, đau đớn nhiều năm tháng, rồi lần lượt ra đi, kể cả bản thân mình. Cái đau của hối tiếc sẽ lớn hơn nhiều cái đau của sự chết. Còn nếu đứng lên đấu tranh giành lại môi sinh bây giờ, gia đình mình sẽ sống.
Dĩ nhiên câu hỏi lương tâm này cũng được đặt ra cho từng người chúng ta chứ chẳng riêng gì bà con 4 tỉnh miền Trung. Chất độc nay không chỉ có trong cá mà trong hầu hết mọi loại thực phẩm và không từ một ai trên cả nước. Liệu chúng ta có dám chấp nhận để đứng lên mạnh mẽ đòi nhà cầm quyền phải đóng ngay các cánh cửa dẫn chất độc vào Việt Nam? hay ngồi chờ ngày ung thư đến đón từng người trong gia đình ra đi?
Và còn nhiều quốc nạn khác nữa, đặc biệt là số phận của đất nước sau thời điểm 2020. Liệu chúng ta có dám chấp nhận để đứng lên bảo vệ chủ quyền đất nước ngay bây giờ, bất kể những kẻ cứ nhất định ôm chân quân xâm lược? hay ngồi chờ ngày “chết nhục” dưới chân chủ mới như dân tộc Tây Tạng? Đến lúc đó có muốn chọn lại cũng đã quá muộn.
oOo
Chẳng ai muốn tìm lấy cái chết nhưng nghĩ cho cùng chết có phải là chuyện khủng khiếp nhất chưa?
Linh mục giáo xứ Thọ Hòa trước nhà tù Biên Hòa yêu cầu thả ngay lập tức một phụ nữ đã mất tích hơn 10 ngày. Phạm Ngọc Hạnh, một người mẹ năm con, đã tham gia vào các cuộc biểu tình ôn hòa chống lại luật an ninh mạng và các đơn vị hành chính và kinh tế đặc biệt. Những vận động dân chủ và tự do cho người dân Việt Nam đã khiến vị linh mục bị nhà cầm quyền theo dõi chặt chẽ.
Hà Nội (AsiaNews) – Cuộc phản đối của Cha Nguyễn Duy Tân “là hình ảnh đẹp của một mục tử dũng cảm chăm sóc cho đàn chiên của mình”. Cha Paul Văn Chi, phát ngôn viên của Liên Hiệp Truyền Thông Công Giáo Việt Nam, đã bình luận như trên về đoạn video cho thấy một linh mục đã can đảm đến một trung tâm giam giữ của cảnh sát để đòi trả tự do cho một tín hữu. Trong những ngày qua, bộ phim đã được lan truyền rất nhanh trên internet.
Bất kể những đe dọa đàn áp tàn bạo đang bao trùm lên xã hội, ngày 19 tháng 6, Cha Tân, linh mục chính xứ Thọ Hòa (tỉnh Đồng Nai), đã đến trại tạm giam của công an Biên Hòa (30 km về phía bắc Sàigòn). Ngài đã yêu cầu được gặp một giáo dân bị mất tích hơn 10 ngày. Cảnh sát dường như ngạc nhiên trước sự can đảm của ngài vì ngài nói với họ hành động của họ là không đúng với luật pháp khi bắt giữ một người biểu tình ôn hòa.
Lần cuối cùng người ta nhìn thấy chị Phạm Ngọc Hạnh, mẹ của năm đứa con, là ngày 10 tháng 6, khi cô tham gia một cuộc biểu tình ôn hoà ở công viên trung tâm Đồng Nai. Các videos thu được tại hiện trường và được công bố trên các mạng xã hội cho thấy chị Hạnh đã bị một nhóm công an mặc thường phục hành hung và bắt đi. Kể từ đó gia đình đã không được biết tin chị.
Vị linh mục chánh xứ lên tiếng phản đối cảnh sát vì họ tấn công và bắt giữ một người phụ nữ hòa bình, là người chỉ muốn bày tỏ một cách hợp pháp sự bất đồng của mình đối với các dự luật về an ninh mạng và các đơn vị hành chính và kinh tế đặc biệt. Đối với hàng triệu người Việt Nam, dự luật thứ hai, thường được gọi là luật “đặc khu”, là nhằm “bán đứng” đất nước cho Trung Quốc. Hàng ngàn người trên khắp đất nước đã bị bắt sau cuộc biểu tình ngày 10 tháng Sáu tại một quốc gia nơi chế độ cộng sản áp dụng một chính sách kiểm duyệt gắt gao và tỏ ra bất khoan dung với những chỉ trích.
Cuộc phản đối của Cha Tân tại trại tạm giam Biên Hòa chưa giúp đem lại tự do cho chị Hạnh và đã thu hút sự chỉ trích từ giới truyền thông nhà nước. Tuy nhiên, Cha Paul Văn Chi đánh giá cao lòng can đảm mục tử của Cha Tân thể hiện “vào một trong những thời điểm khó khăn nhất trong lịch sử dân tộc”.
Chính Cha Tân, 50 tuổi, cũng là nạn nhân của sự đàn áp từ phía nhà cầm quyền Việt Nam. Hai tuần trước, ngài đã bị chặn lại tại sân bay Tân Sơn Nhất không cho xuất cảnh khi ngài định đáp chuyến bay đến Malaysia với 24 linh mục khác của giáo phận Xuân Lộc. Công an cửa khẩu nói ngài “không được phép ra nước ngoài, theo yêu cầu của sở công an tỉnh Đồng Nai”. Về vấn đề này, Cha Tân cho biết:
“Tôi nghi ngờ rằng bài phát phiểu biểu của tôi trong Hội đồng Liên tôn với Liên minh châu Âu vào ngày 16/5 ở chùa Giác Hoa, do tôi nói sự thật quá nên có khi mất lòng cộng sản cho nên họ trả thù tôi bằng cách là cấm tôi xuất cảnh.”
Cuộc họp đó có sự tham dự của đại sứ Đức và các quan chức của Cao ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền (UNHCHR). Cha Tân, cùng với đại diện của các tôn giáo khác, đã cáo buộc chế độ vi phạm nhân quyền của người dân một cách tùy tiện.
Là một tiếng nói bênh vực dân chủ và tự do, linh mục chính xứ Thọ Hòa từ lâu đã bị nhà cầm quyền theo dõi chặt chẽ. Ngày 4 tháng 9 năm ngoái, ngài đã bị tấn công bởi “Hội Cờ Đỏ”, một nhóm côn đồ ủng hộ chính phủ trong cố gắng kiềm chế xã hội.
Source: Asia News – Hanoi, diventa virale la protesta di p. Tân, ‘pastore coraggioso’ (Video)
Bỏ phiếu bằng chân.Cái cột đèn biết đi nó cũng đi. Vì sao?



Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.
43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp nhà nước với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng. Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước. Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất? Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe: “Vì tương lai con cái!”.
Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình. Thật chua chát khi hơn 40 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác. Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận. Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường. Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc…
Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường! Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp. Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh. Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách. Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về. Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc. Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau bốn năm.
Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ. Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD. Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng! Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột. Quê hương chôn rau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…
Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi? Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng! Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt. Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu. Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội. Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”. Có thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài? Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp, các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút, các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn?…
Bây giờ, bước ra đường là thấy lo: Lo nạn cướp giật, móc túi; lo tai nạn giao thông; lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm; lo hít khói bụi bị ung thư; lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc… Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo. Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần! Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy? Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước. 28 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô. Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền. Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.
Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ: “Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng, nhưng vẫn còn cố nấn ná… Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”. Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?
***
Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này. Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948. Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia. 70 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.
Còn chúng ta? Sau 73 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và tàu bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về? Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại? Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái. Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở: “Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.
Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam
Nguyễn Thị Oanh – 27/06/2018

NGU MÀ THÍCH THỂ HIỆN.
Để anh nói cho bọn bò đỏ biết về chế độ VNCH mà đảng và bác Hồ của các em có nằm mơ cũng không bao giờ làm được đâu nè:
– Thứ nhất: Lương 1 công chức của VNCH dư sức nuôi sống gia đình (cả chục người) nè.
– Thứ 2: Học sinh trường công lập từ lớp vở lòng đến hết tú tài toàn phần, chẳng tốn một xu học phí nào, nè.
– Thứ 3: Bệnh viện công chẳng thu 1 cắc viện phí nào của người bệnh. Nếu bệnh nhân không có người nuôi, bệnh viện cử người phục vụ giặt giũ và cơm nước tử tế, nè.
– Thứ 4: Chính phủ xây viện dưỡng lão cho người già, xây viện cô nhi cho trẻ mồ côi. Tất cả đều được chăm sóc y tế định kỳ và có người phụng dưỡng luôn nè.
– Thứ 5: Chính phủ mở quán cơm xã hội phục vụ hoàn toàn miễn phí cho người vô gia cư, người lỡ độ đường ăn thoải mái nè.
– Thứ 6: Chính phủ bỏ tiền ra mua lại đất của các phú ông, điền chủ để cấp lại cho những người không có đất canh tác hoặc những người mới định cư ( luật người cày có ruộng) đây nè.
– Thứ 7: Người dân được quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do biểu tình, kể cả tự do chửi chính phủ luôn nè.
– Thứ 8: Người dân được quyền ra ứng cử hoặc được quyền đề cử người mình tín nhiệm. Và chính người dân chọn người lãnh đạo thông qua lá phiếu dưới sự giám sát chặt chẽ của các tổ chức quốc tế. Phải không nè!
Chỉ sơ sơ 8 điều trên, chế độ VNCH đã thực hiện từ nửa thế kỷ trước, trong hoàn cảnh đất nước bị chiến tranh, tang tóc. Còn hiện nay đất nước hòa bình và được sự viện trợ tối đa của toàn thế giới. Đảng và bác hồ của các em đã làm được như chính phủ VNCH chưa? Chúng em nói đi! Đảng đã làm được cái quần què gì cho dân tộc này?
Hãy nhớ rằng, nhờ đảng và bác Hồ nên Miền Bắc mới có chiêu ỉa ra rồi sử dụng lại. Món này có tên gọi là «phân bắc» chứ trong nam không có giống độc đó đâu! Biết phân bắc là gì chưa? Nó cũng giống như «hốt cứt mà ăn» vậy đấy!
Đã ngu còn cào bàn phím!