Với ơn Chúa, sẽ lặp lại tại Việt Nam.

Gorbachyov được bầu làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô ngày 11 tháng 3 năm 1985. 
Ngày 15 tháng 3 năm 1990, Gorbachyov được bầu làm Tổng thống đầu tiên của Liên bang Xô viết.
Sau vụ đảo chính tháng 8 năm 1991, đảng cộng sản Liên xô bị tan rả và sau đó là tan rả của Liên Bang Xô Viết.
Với ơn Chúa, sẻ lặp lại tại Việt Nam.

About this website

 

VI.WIKIPEDIA.ORG
Mikhail Sergeyevich Gorbachyov (trợ giúp·chi tiết) (phiên âm tiếng Việt: Mi-kha-in Goóc-ba-chốp; tiếng Nga: Михаи́л Серге́евич Горбачёв, Mihail Sergeevič Gorbačëv; IPA: [mʲɪxʌˈil sʲɪrˈgʲejɪvʲɪʨ gərbʌˈʨof] thường được Anh hoá thành…

ĐỖ MƯỜI, KẺ HỦY HOẠI MIỀN NAM

ĐỖ MƯỜI, KẺ HỦY HOẠI MIỀN NAM
(02/10/2018)
Châu Minh Dũng
_________

Rạng sáng ngày 2/10/2018, các báo “lề đảng” đồng loạt đưa tin: Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười qua đời. Theo một bài viết trước đó trên RFA, Đỗ Mười đã bị bệnh phổi và thận giày vò trong sáu tháng. Không chỉ mang bệnh, ở tuổi 101, Đỗ Mười đã kịp chứng kiến một loạt sự kiện bất lợi cho chế độ của ông ta trong hai thập niên gần đây. Đó là đoạn kết dành cho kẻ đã gây tội với hàng chục vạn gia đình miền Nam, rồi góp phần đẩy đất nước vào vòng trói buộc của Trung Quốc.

Hiếm có lãnh đạo cộng sản nào gây được quá nhiều tội ác như Đỗ Mười, dung lượng một bài viết không thể thống kê hết. Tuy nhiên, hai tội lớn nhất vẫn là: Chiến dịch “đánh tư sản” đã hủy hoại kinh tế miền Nam, đẩy hàng triệu người vào vùng “kinh tế mới” và Hội nghị Thành Đô, sự kiện đã khởi động quá trình đưa Việt Nam vào vòng lệ thuộc Trung Quốc từ năm 1990 đến nay.

Chiến dịch X-1, X-2, X-3 và một miền Nam tang thương

Sau ngày miền Nam bị cưỡng chiếm hồi Tháng Tư Đen với máu và nước mắt, Đỗ Mười và các lãnh đạo cộng sản phát động các chiến dịch trừng phạt và cướp bóc, với mục tiêu là những đồng bào mà họ vừa tuyên bố “giải phóng”. Đầu tiên là chiến dịch X-1, nhắm vào các sĩ quan quân đội, cảnh sát và tình báo của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, khởi sự từ năm 1975, đến tận năm 1990 vẫn có người phải “học tập cải tạo”, mà thực chất là bị giam cầm và tra tấn.

Dù trước đó Tổng thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, những người cộng sản vẫn không buông tha cho đồng bào của họ ở bờ nam sông Bến Hải, đẩy hàng chục vạn gia đình vào cảnh chia lìa. Những người vợ và con cái trong gia đình bị đưa đi vùng kinh tế mới, thật ra là đày ải ở rừng thiêng, nước độc, còn những người đàn ông thì bị tống vào trại tù. Nơi đó, có những trò tra tấn và sỉ nhục rất phi nhân tính đã diễn ra. Có người sống sót trở về nhưng thân tàn ma dại, có người không bao giờ được dịp trở về gặp lại vợ con họ nữa.

Các chiến dịch X-2 và X-3 được phát động song song từ năm 1978, nhằm cướp bóc một cách có hệ thống trên hầu hết các tỉnh thành phía Nam. Đối tượng của chiến dịch X-2 là tất cả những thành phần kinh tế tư nhân, từng được thừa nhận trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Những người dân chỉ quen lo làm kinh tế, thậm chí từng nuôi giấu và hỗ trợ lính Bắc Việt, bỗng dưng mang tội “phá hoại nền kinh tế mới”. Sản nghiệp của họ bị hủy hoại chỉ trong một đêm.

Nhà báo Huy Đức đã ghi lại lời nhận định của Thành ủy Sài Gòn về kết quả chiến dịch X-2: “Bọn tư sản mại bản bị cô lập rất cao, chúng đã mất hết chỗ dựa về mặt quân sự và chính trị. Lực lượng kinh tế của chúng đã bị sứt mẻ và đang bị tan vỡ dưới sự tiến công của ta”. Rõ ràng lúc ấy chiến tranh đã kết thúc, Đỗ Mười và các “đồng chí” của ông ta vẫn xem đồng bào là kẻ địch. Họ vẫn tự hào khi tiếp tục làm đất nước nghèo đi, khiến bao nhiêu người tan cửa nát nhà.

Riêng chiến dịch X-3 tập trung vào khu vực Sài Gòn và tạo ra vết sẹo đến giờ vẫn chưa lành trên thành phố từng là “hòn ngọc Viễn Đông”. Chiều 21/3/1978, Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng và Chỉ thị 100 – CP để triển khai kế hoạch “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”. Lúc ấy, Đỗ Mười đã nói: “Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta”.

Những lời lẽ bệnh hoạn và phi nhân tính như vậy lại có thể được thốt ra từ miệng một lãnh đạo cấp cao của chế độ. Càng kinh khủng hơn là đã có những người miền Nam cả tin, thực hiện đúng theo những lời sắt máu này. Sáng 23/3/1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh ở Sài Gòn phải đóng cửa theo lệnh Thành ủy, rồi bị niêm phong và tịch thu tài sản. Báo Tiền Phong số 40, 1978 kể chuyện, một cô tên là Lý Mỹ đã giúp các cán bộ trấn lột sạch sẻ tài sản của gia đình cô.

Bên canh việc cướp bóc, khoảng 60 vạn dân sau khi bị tịch thu tài sản, còn bị đày đến các “vùng kinh tế mới”, nói thẳng ra là những khu đất khỉ ho cò gáy, thiếu thốn đến cả những công trình dân sinh cơ bản. Bản thân chương trình “kinh tế mới” cũng chẳng đem lại lợi ích gì, vì đến năm 1990 thì lãnh đạo cộng sản Việt Nam vẫn phải bám chân Trung Quốc nhằm tránh nguy cơ sụp đổ kinh tế. Các chiến dịch X-1, X-2, X-3 đã khiến hàng triệu người miền Nam mất sạch tài sản và bị ly tán. Đỗ Mười đã chứng minh rằng một tay hoạn lợn làm lãnh đạo thì vẫn tư duy như hoạn lợn, chỉ có thể phá chứ không thể xây.

Về bản chất, chiến dịch X-2, X-3 không khác gì “Đêm Thủy tinh” (Kristallnacht) do phát xít Đức phát động vào ngày 9 và 10/11/1938. Lúc ấy, các lãnh đạo Đức Quốc xã huy động lực lượng SA tấn công nhà cửa, các công trình tôn giáo và khoảng 7000 cơ sở kinh doanh của người Do Thái. Khoảng ba vạn người Do Thái bị bắt giữ, bị cướp sạch tài sản và trở thành tù nhân trong các trại tập trung của phát xít Đức.

Ở đây, ta thấy những người cộng sản tàn ác không thua phát xít và gian xảo hơn cả phát xít. Họ không công khai hành động cướp bóc mà gọi đấy là “cải tạo công thương nghiệp”, gọi những nhà tù của họ là “vùng kinh tế mới”, rồi khéo léo tiến hành trong một thời gian dài. Nhờ sự gian xảo, lãnh đạo cộng sản vẫn kéo dài được hơi tàn của chế độ đến ngày nay, trong khi nước Đức Quốc xã chỉ tồn tại được hơn bảy năm sau “Đêm Thủy tinh”.

Hội nghị Thành Đô và sự phản bội dân tộc

Gần 15 năm sau khi các chiến dịch X-1, X-2, X-3 được phát động, kinh tế Việt Nam ngày càng trì trệ. Đỗ Mười và những đồng chí của ông ta đã tiếp nhận một “hòn ngọc Viễn Đông” với những tiềm lực kinh tế từng giúp Việt Nam Cộng Hòa thịnh vượng, rồi họ tàn phá và hủy hoại nó một cách có hệ thống. Số tiền khổng lồ mà các cán bộ cộng sản cướp được từ dân miền Nam trong các đợt “đánh tư sản” cũng không giúp chế độ thoát khỏi cơn khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vào đầu năm 1990, giữa làn sóng thoái trào của khối cộng sản quốc tế.

Có lẽ vì đã gây ra quá nhiều oan nghiệt, Đỗ Mười và những đồng sự không dám để chế độ cộng sản Việt Nam kết thúc như vậy. Lối thoát duy nhất của họ là sự viện trợ kinh tế từ Bắc Kinh. Hội nghị Thành Đô được tổ chức đầu tháng 9/1990 tại tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc đã mở ra giai đoạn Bắc thuộc mới trong lịch sử dân tộc. Từ đó đến nay, từng phần lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam dần dần rời vào tay Trung Quốc, thông qua các hành động xâm chiếm công khai ở thác Bản Giốc, Ải Nam Quan hay Biển Đông, hoặc quá trình xây dựng ngấm ngầm những khu vực gần như “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, như nhà máy thép Formosa (vỏ Đài Loan, ruột Trung Quốc) ở cảng Vũng Áng.

Có thông tin cho rằng các lãnh đạo cộng sản đã chấp nhận để nước Việt Nam từ từ trở thành một khu tự trị thuộc Trung Quốc trong vòng 30 năm (1990-2020). Đến giờ đó vẫn là thông tin chưa được kiểm chứng do Hoàn Cầu thời báo và Tân Hoa Xã lan truyền. Một số sĩ quan quân đội, công an và cựu đảng viên ở miền Bắc như thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, đại tá Nguyễn Đăng Quang đã yêu cầu lãnh đạo chế độ bạch hóa nội dung Hội nghị Thành Đô. Điều lạ thường là các lãnh đạo không thừa nhận, cũng không phủ nhận hay đính chính thông tin trên.

Dù mật ước Thành Đô về chuyện sáp nhập Việt Nam vào Trung Quốc có thật sự tồn tại hay không, Hội nghị Thành Đô vẫn là thất bại nặng nề trong lịch sử ngoại giao Việt Nam. Phía Việt Nam đã để Trung Quốc “gác lại quá khứ” (nghĩa là rũ bỏ luôn trách nhiệm bồi thường chiến tranh), thậm chí đã nhân nhượng đến mức loại Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch khỏi đoàn dự hội nghị, theo đúng yêu sách từ phía Trung Quốc. Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng có trách nhiệm không thể chối cãi trong chuyện để Việt Nam gần như thuần phục trước Trung Quốc, từ vấn đề chủ quyền đến quan hệ kinh tế, xã hội.

Lãnh đạo của người Việt hay tay sai của Trung Quốc?

Trên danh nghĩa, Đỗ Mười là một cựu lãnh đạo cấp cao của nhà nước Việt Nam hiện tại, nhưng điều lạ là hầu hết các “thành tựu” trong sự nghiệp của ông ta lại phục vụ cho Trung Quốc nhiều hơn là Việt Nam. Các chiến dịch X-1, X-2, X-3 đã làm Sài Gòn và các tỉnh miền Nam nghèo đi một cách có hệ thống, góp phần dẫn đến tình trạng bất ổn chính trị, suy yếu kinh tế và xã hội bất an vào đầu năm 1990. Đỗ Mười và các đồng chí của ông ta đã làm nghèo đất nước và khi đất nước sa sút thì càng dễ rơi vào vòng thao túng của Trung Quốc.

Sau khi phá hoại các tiềm lực kinh tế tư nhân của đất nước, Đỗ Mười lại có mặt trong đoàn dự Hội nghị Thành Đô, rồi góp phần biến sự kiện này thành một vết ô nhục trong lịch sử Việt Nam. Cuộc đời Đỗ Mười là bằng chứng cho thấy công cuộc “giải phóng” của các lãnh đạo và quân đội cộng sản Bắc Việt đã giúp các lãnh đạo Trung Quốc từng bước hiện thực hóa dã tâm trói buộc và thôn tính Việt Nam, điều mà hàng chục đời vua Trung Quốc đã không làm được.

Có thông tin chưa được kiểm chứng cho biết thực tế Đỗ Mười chết gần như cùng lúc với Trần Đại Quang. Thông tin này đã râm ran trong dư luận “lề dân” mấy ngày nay, nhưng người đầu tiên nói với chúng tôi lại không phải ở phía đấu tranh dân chủ, mà là một đảng viên sống gần trung tâm Sài Gòn. Nếu đó là sự thật thì các đồng chí của Đỗ Mười đã lùi ngày chết của ông ta vì sợ trùng tang Chủ tịch nước, theo cái cách họ buộc ông Hồ phải chết “đúng quy trình”, kẻo trùng ngày Quốc khánh.

Đỗ Mười đã chết nhưng tội của ông ta chưa kết thúc. Nền kinh tế Sài Gòn sau những năm tháng bị hủy hoại, giờ vẫn chưa thể khôi phục danh hiệu “hòn ngọc Viễn Đông”. Các chiến dịch “học tập cải tạo” và “đánh tư sản” đã khiến hàng triệu người Việt phải tị nạn, có người bỏ xác ngoài khơi, nhiều người giờ vẫn chưa thể quay về quê hương. Nhiều gia đình tướng tá, quan chức cộng sản giờ vẫn sống yên ổn trong những khu đất, khu nhà họ cướp được từ người miền Nam.

© Copyright Tiếng Dân

BAOTIENGDAN.COM
Đỗ Mười, kẻ hủy hoại miền Nam Bởi AdminTD – 02/10/2018 Tweet Share 0 +1 Pinterest 0 Email Châu Minh Dũng 2-9-2018 Rạng sáng ngày 2/10/2018, các báo “lề đảng” đồng loạt đưa tin: Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười qua đời. Theo một bài viết trước đ….

Cuộc đời và cái chết rất buồn của bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (MTGPMN)

Cuộc đời và cái chết rất buồn của bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (MTGPMN)

Posted on 30.03.2013 by saohomsaomai


Cố bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

BBT.- Bài viết của Mai Thanh Truyết dưới đây có phần đúng sau ngày MTGPMN bị “chặt đầu”. Bài còn thiếu ở phần cuộc đời bà Hoa, có thể gọi là quan trọng lý do thúc đẩy bà theo CS, từ ngày học tại Pháp cho đến ngày chia tay Bs Trần Kim Tuyến tại quán ăn Thủ Đức đi vào khu. Muốn cho đầy đủ, tác giả nên hỏi lại các nhân vật sau đây: Bs Trần Văn Đỗ, BộTrưởng Ngoại Giao VNCH, người Chị ruột bà Hoa cũng là bác sĩ, làm viện Pasteur Saigon, Bs Nguyễn Văn Thọ, TGĐ Thông Tin Đệ Nhứt CHVN và Bs Trần Kim Tuyến.

*******

Cuộc đời và cái chết của bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

 Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25-2-2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2.

Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên.

Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.

Sự im lặng của CS Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trải và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam


Ông Huỳnh Văn Nghị và vợ – BS Dương Quỳnh Hoa, chụp ở chiến khu năm 1970

BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40.

Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự.
LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.
Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.
Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN.
Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN. (MTDTGPMN) dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu -Mỏ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.
Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS.
Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán.
Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.
Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đỡ theo.
Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bỏ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.
Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.

Ô.B DQH và Đảng Cộng sản VN


Bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris 1973.

Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vỡ lẽ ra.
Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau: “Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng”.
Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàng không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.

Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ.
Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định…
Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ: “Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”.

Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng.
Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước.
Trong thời gian nầy Bà tuyên bố: “Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân.”
Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9, 10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đỡ của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin.

Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc.
Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì …nhân dân (của Đảng!).
Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội : “Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.


Ký giả Morley Safer
Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳnh Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vừa kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là:
”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẻ thù tiềm ẩn.”

Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói: ” Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại.”

BS DQH và Vụ kiện Da Cam


Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đổi lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.
Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003.
Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát.
Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:
– Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;
– Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;
– GS, BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;
– Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng: ”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp”. Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.


Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoản. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:
– Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;
– Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;
– Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);
– Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và
– Những người cùng cảnh ngộ.
Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để
(1) đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và
(2) yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và
(3) để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.
Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.


Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề.
Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi.
(Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).
Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.
Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đầu bị chứng ngứa ngáy ngoài da.
Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ.
Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai.
Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường.
Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẩu.
Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).
Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.


Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn.

Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004.
Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. “Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.”
Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.
Bà còn thêm rằng: ”Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”

Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện.
Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.

Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quãng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.


Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương.
Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003.
Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta, những người Việt trong và ngoài nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cưỡng quyền.
Tổ quốc là đất nước chung – Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại.
Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đấu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH.

Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.
Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

Mai Thanh Truyết

NHỮNG CHÍNH KHÁCH ĐÁNG KÍNH TRỌNG

Ngoc Minh Do and Nguyễn Nhật Quang shared a post.
Image may contain: 2 people, people smiling
Like cho VIỆT NAM

NHỮNG CHÍNH KHÁCH ĐÁNG KÍNH TRỌNG

1- Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu: Bậc “khai quốc công thần” của quốc đảo sư tử. 
– Sau khi qua đời, theo di chúc, thi hài Lý Quang Diệu được hỏa táng và không yêu cầu mét vuông đất nào để xây lăng mộ. Trong đám tang ông, đoàn linh xa chỉ có 7 chiếc đưa di hài cựu Thủ tướng tới đài hóa thân.
– Về tài sản: Ông chỉ có một ngôi nhà cũ và dặn người thân bán đi cho quỹ từ thiện sau khi ông mất.
– Tượng đài: Ông không có tượng đài nào ngoài trời, chỉ có tượng đài trong lòng dân.
– Khi ra đi, ông không để lại gì cho riêng mình, ngoài một đất nước phát triển hàng đầu thế giới!

2- Cựu Thủ tướng Nhật Bản Murayama: Không nhận lương hưu của Chính phủ trợ cấp, tự đạp xe đi chợ, sống bình dị ở thôn quê.
– Sau khi mãn nhiệm vị trí Thủ tướng Nhật Bản không lâu, Murayama cũng xin từ nhiệm vị trí trong Quốc hội đất nước. Cả nhà ông, già trẻ lớn bé đã lặng lẽ đưa nhau về quê hương ở Oita, thuộc đảo Kyushu (Nhật Bản) để sinh sống.
– Người dân trên đảo Kyushu thường bắt gặp một ông già gày gò, lịch lãm, nhưng giản dị (ít người biêt ông từng là Thủ tướng đất nước giàu có nhất nhì thì giới) tự đạp xe ra chợ mua đồ ăn hàng ngày…
– Người ta thường nói: Khi lãnh đạo của một nước về hưu mà cuộc sống trở nên bình dị thì chứng tỏ tỷ lệ tham nhũng của nước đó thấp và ngược lại. Hầu hết các cựu Thủ tướng của nước Nhật đều có cuộc sống giản dị đến mức bình dân sau khi nghỉ hưu.

3- Tổng thống đương nhiệm Cộng hòa Croatia Kollinda Grabar Kitarovics: Không chỉ là một nữ chính khách xinh đẹp, trẻ trung, thông minh tài giỏi, mà còn tận tụy như một bà nội trợ hoàn hảo cho chính Tổ quốc mình.
– Sau khi nhậm chức, bà đã yêu cầu bán phi cơ riêng của Tổng thống, bán 35 xe Mercedes Benz của Văn phòng Tổng thống đưa vào ngân sách quốc gia.
– Bà đã tự cắt giảm 50% lương của mình và các Bộ trưởng trong nội các.
– Bà cũng đã giảm 40% lương các Đại sứ, các Tổng lãnh sự quán.
– Bà còn yêu cầu xóa quỹ hưu trí dành riêng cho các Đại biểu quốc hội.
– Nữ Tổng thống này có thể viết và nói 7 ngoại ngữ thông thạo và sống bình dị như tất cả mọi người dân.
– Từ khi bà giữ chức Tổng thống, GDP của Croatia tăng 24%.
_St_

Hà Văn Duy
1.10

Từ năm 1976, chiến dịch cải tạo tư sản do ông Đỗ Mười chủ xướng…

Văn Lang

Từ năm 1976, chiến dịch cải tạo tư sản do ông Đỗ Mười chủ xướng và trực tiếp điều hành đã khởi lên làn sóng oán ghét của người dân miền Nam suốt mấy mươi năm qua.

Vì lẽ đó, ngay sau khi báo chí đưa tin Đỗ Mười từ trần, tất cả các trang mạng xã hội đều bày tỏ sự vui mừng với niềm tin rằng nếu địa ngục có thật thì nơi đó đã sẵn sàng để chờ đón ngạ quỹ dẫn hương linh ông về chịu sự trừng phạt.

Tư liệu báo chí cho biết dưới quyền sinh sát của ông Đỗ Mười, trong chiến dịch cải tạo tư sản, 600.000 dân Sài Gòn bị tước đoạt hết tài sản và bị cưỡng bức đi kinh tế mới là khoảng sáu trăm ngàn người, tạo ra một sự hoảng sợ hoang mang chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại.

Sức mạnh kinh tế Sài Gòn đột nhiên bị huỷ hoại, đi đến kiệt quệ hoàn toàn. 
Hơn 14 ngàn cơ sở tiểu thủ công nghiệp rất cần cho nền kinh tế quốc dân, với khoảng 270 ngàn nhân công hoàn toàn bị trắng tay, đóng cửa. 

Tổng số thiệt hại tài sản trước mắt lên đến gần 21 tỷ Mỹ kim_

Tiến trình phát triển công nghệ của đất nước trong tự cường hoàn toàn không còn hy vọng để phục hồi.

Riêng về tổng số vàng, nữ trang, kim cương tịch tư từ tư bản miền Nam, tính từ tháng Năm năm 1977 tới tháng Hai năm 1978, ước lượng khoảng 35 ngàn lượng vàng.

http://www.vietnamthoibao.org/…/vntb-ong-nguyen-phu-trong-l…

CÒN ĐI MỸ LÀM GÌ NỮA !

Loc Teresa

CÒN ĐI MỸ LÀM GÌ NỮA !

Tôi có thời gian qua Mỹ khá lâu. Và nói thật đến giờ này tôi vẫn còn thấy hối hận vì sự lựa chọn đó! 

Truyền thông phương Tây đã khiến chúng ta mê muội rằng Hoa Kỳ là một xứ sở hiện đại ! 

Tôi đã từng ôm giấc mộng được học tập ở đó, đã tìm mọi cách tới được cái xứ sở siêu cường đó.

Nhưng than ôi những gì tôi chứng kiến là rất đáng thất vọng !

1. Công nghiệp

Nước Mỹ thật ra chỉ là một làng quê khổng lồ chậm phát triển !

Hồi trung học, chúng ta đã được dạy rằng, công nghiệp càng phát triển bao nhiêu thì môi trường càng bị xâm hại bấy nhiêu.

Chúng ta biết rằng một thành phố công nghiệp tất phải có nhiều ống khói, nhiều nhà máy và khói bụi khắp nơi.
Đó là biểu tượng của sự công nghiệp hóa ! Thế mà ở tại xứ Cờ Hoa này, tịnh không có một cái ống khói nào ! Họa hoằn lắm mới thấy một vài cái nhỏ tí ti để trang trí nhà cửa thôi !

Và ở Mỹ bạn cũng chỉ thấy toàn sông hồ trong sạch thôi. Chả tìm đâu ra những nhà máy giấy, nhà máy luyện thép bên bờ sông ! Không khí trong lành thanh khiết này là dấu hiệu của một xã hội sơ khai chứ gì nữa ! Chả có dấu vết gì của công nghiệp hóa cả !

2. Kinh tế

Người Mỹ hầu như không biết làm kinh tế ! 
Bạn biết đấy, nước họ có cơ man nào là xa lộ tỏa đi mọi hướng, vươn đến mọi làng mạc xa xôi, thế mà tịnh không thấy một trạm thu phí nào ! 
Thế là mất toi cả núi vàng!

Ước gì tôi có thể xây dựng vài cái trạm thu phí nhỉ ! 
Chắc chắn non tháng đã gom đủ tiền mua được cả tòa lâu đài trông ra Đại Tây Dương ấy chứ !

Hai bên xa lộ còn những cụm hồ hoang sơ tĩnh lặng. 
Thế mà chính quyền cứ để mặc cho lũ chim trời cá nước thỏa sức vẫy vùng, không nghĩ đến việc xây dựng vườn cảnh để thu lợi. 
Người Mỹ rõ ràng là không có đầu óc kinh tế tí tẹo nào !

3. Xây dựng

Trình độ xây dựng của người Mỹ còn sơ khai lắm.
Ngoài một số ít tòa nhà chọc trời tại các thành phố lớn, 
tôi dám chắc bạn rất ít gặp những công trình bê tông ở nước Mỹ. 
Nhà của người Mỹ thường làm bằng gỗ và vài thứ vật liệu khác.

Thử nghĩ mà xem, đến giờ này mà gỗ vẫn còn được dùng để xây dựng nhà cửa, thì có thể nói là trình độ kiến trúc của ngoại bang này còn thua xa trình độ của triều đại nhà Thanh xưa kia ấy chứ !

4. Văn hóa

Người Mỹ có cách suy nghĩ thật là lạc hậu và khờ khạo.

Hồi mới tới Mỹ, tôi thuê một xe chở hành lý giá 3 đô la. 
Nhưng tôi lại không có tiền lẻ. Một người Mỹ liền trả dùm tôi 3 đô la đó, và thấy tôi lỉnh kỉnh đồ đạc nên còn giúp mang lên xe nữa ! 
Người Mỹ cũng luôn sẵn sàng mở cửa giúp tôi và hỏi tôi có cần giúp đỡ gì không ? 
Thế đấy !

Ở nước ta, mấy chuyện này chỉ có vào thời Lôi Phong tức là vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước thôi – còn bây giờ lối cư xử đó quá ư lạc hậu. 
( Lôi Phong là một thanh niên mà thời Mao thường nhắc tới như một tấm gương về đạo đức).

Hồi đó người ta chuộng lối sống “ đạo đức giả ”nhưng bây giờ chúng ta không như vậy nữa.
Bây giờ chúng ta nên sống thực dụng trần trụi, đó mới là hiện đại chứ ! 
Tư duy của người Mỹ lạc hậu hơn chúng ta hàng mấy thập kỷ, và không có dấu hiệu nào cho thấy họ có thể bắt kịp chúng ta cả !

5. Ẩm thực

Người Mỹ làm như không biết thưởng thức thịt thú rừng.

Một đêm nọ, tôi cùng các bạn cùng lớp lái xe đi đến một thành phố khác, thình lình có mấy con nai nhảy xổ ra. 
Anh bạn tôi lập tức thắng lại và bẻ sang hướng khác để tránh. Ai cũng biết tai nạn loại này có thể làm hỏng cả chiếc xe. 
Thế mà chính quyền đành bó tay không biết phải xử lý tụi thú hoang này như thế nào cơ đấy !

Người Mỹ làm như cũng không biết ăn thịt thú rừng, thậm chí không có nhà hàng nào bán thịt thú rừng, họ chả thiết đến loại thịt thú rừng thơm ngon bổ như hươu nai, và cũng chả thiết lấy sừng bọn thú này để kiếm bộn tiền ! 
Người Mỹ vẫn sống cùng những con thú hoang dã đó, thậm chí còn đưa ra những biện pháp để bảo vệ chúng. Quả thật đó là một xã hội còn quá sơ khai !

6. Phong cách

Người Mỹ làm như không biết tự trọng !

Các giáo sư Mỹ không quan tâm nhiều đến bề ngoài , 
họ không hề có cái gọi là phong thái bác học. 
Giáo sư D chẳng hạn, là một giáo sư tâm lý học cực kỳ nổi tiếng thế mà giờ nghỉ ông ấy cũng thường ăn bánh bích quy với sinh viên trong văn phòng của mình, và bàn tán xôm tụ với họ về bộ phim 21, hay về minh tinh Trung Quốc Chương Tử Di ! 
Ông cũng không có phong cách uy nghi của một nhà bác học, và điều đó làm tôi thất vọng ghê gớm !

Các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ cũng không bao giờ ghi hai chữ PhD. lên danh thiếp của mình. 
Họ thậm chí cũng không biết cách thể hiện vị thế của mình. Thành ra những người học những ông thầy như vậy nếu trở thành những quan chức thì làm sao biết cách đi đứng nói năng cho đúng bộ lệ đây !

Còn ở Trung Quốc, giờ đây các công chức dường như rất biết cách để thu hút sự kính trọng của dân chúng, thậm chí đến cả vị giám đốc của một cơ quan tầm tầm ở Trung Quốc có khi còn uy thế hơn cả Tổng Thống Mỹ cơ đấy ! 
Một công dân hạng ba của Trung Quốc có khi còn xa một công dân hạng nhất của Mỹ là vậy !

7. Học đường

Học sinh tiểu học Mỹ chả có lý tưởng cao xa gì sất.

Chúng không hề có ý định đi học để trở thành ông này bà nọ trong chính quyền! 
Không hề có học đường nào dành cho chủ tịch, bí thư, 
ủy viên tương lai, như tôi đã từng thấy hồi còn nhỏ ở quê nhà. Các em không có bài tập về nhà. 
Bài tập về nhà kiểu như các học sinh như các học sinh Trung Quốc là khá xa lạ ở Mỹ.

Trường học ở Mỹ chú trọng đến đạo đức, trước hết để giúp cho các đứa trẻ trở nên những công dân có đủ tư cách , 
sau đó mới tính đến chuyện lý tưởng lâu dài. 
Trở thành công dân có đủ tư cách ư ? 
Một quan niệm nghe mới cổ hủ làm sao !

8. Y tế

Người Mỹ làm lớn chuyện một cách kỳ cục khi có bệnh.

Đầu tiên họ đi bác sĩ khám bệnh, rồi bác sĩ kê toa. 
Rồi cầm toa đó đi mua thuốc, mua xong còn phải nghe dược sĩ hướng dẫn sử dụng …ôi chao mọi việc chẳng thể nhanh gọn như ở Trung Quốc …
Tôi chả hiểu tại sao ở Mỹ lại phân biệt việc khám bệnh với việc bán thuốc … mà lẽ ra nên tách rời lợi nhuận với trách nhiệm ! 
Rõ ràng là các bệnh viện ở Hoa Kỳ không biết kiếm tiền mà ! Sao lại phải nói tên thuốc cho bệnh nhân biết chứ ? 
… chỉ có như vậy họ mới độc quyền bán thuốc với giá cao gấp cả chục lần cơ mà ! 
Có quá nhiều cơ hội làm ăn béo bở thế mà họ không biết khai thác , rõ ràng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở Mỹ chết rồi !

9.Báo chí

Ý kiến của công chúng Mỹ thật chả ra làm sao !

Đôi khi tôi hoàn toàn mất kiên nhẫn với sự ngu dốt và khờ khạo của người Mỹ . 
Chẳng hạn khi họ biết Trung Quốc có đài truyền hình và báo chí, họ đã hỏi tôi một câu ngu dốt như thế này : 
Hóa ra Trung Quốc cũng có báo chí à ? 
Nghe mà bực !

Chúng ta có những tờ báo tiếng Trung được Bộ Truyền Thông cho phép ấn hành sau khi đã rà soát một cách cẩn mật đấy chứ . 
Báo của chúng ta toàn là những bài ca tụng lên mây cả, có đâu như báo Mỹ, 
công chúng đóng góp phê bình loạn cả lên, thậm chí còn dám
“ chưởi ” cả tổng thống nữa cơ đấy! 
Báo chí chúng ta đâu có chuyện công khai mấy vụ bê bối của quan chức, bởi nếu cứ tung hê lên thì sau này ai mà muốn làm lãnh đạo nữa chứ !

10. Tâm linh

Người Mỹ có đời sống tinh thần hết sức vô vị nhạt nhẽo.

Tôi chả hiểu tại sao trước mỗi bữa ăn họ lại lẩm bẩm mấy câu thánh nghe hết sức khờ khạo : Cầu Chúa phù hộ nước Mỹ.

Thật là buồn cười quá đi : 
Nếu Chúa phù hộ nước Mỹ thì làm sao lại để nước Mỹ lạc hậu, sơ khai, đơn giản đến thế này ? Cầu Chúa có ich lợi gì chứ ? Thực tế nhất là bạn nên dành thời gian đó để đi lễ thủ trưởng !

Đó mới đúng là hiện đại chứ lỵ !

11. Lối sống

Người Mỹ chả có khái niệm về thời gian .

Bất luận chuyện lớn chuyện nhỏ, người Mỹ đều ngoan ngoản đứng vào hàng chờ đợi … Còn người Trung Quốc chúng ta – như bạn biết đấy – khôn hơn nhiều !

Bất kể đám đông như thế nào, chúng ta vẫn có kỹ năng chen lấn, điều này giúp tiết kiệm thời gian, và tránh được sự mệt mõi khi đứng chờ ! 
Nếu ai đó biết đi cổng sau thì kết quả tiết kiệm thời gian còn tuyệt hơn nữa.

Thế mà những người Mỹ lẩm cẩm lại không biết đến những điều hay ho đó cơ chứ !

12. Mua bán

Những cửa hàng ở Mỹ có một phong cách buôn bán hết sức vô lý : 
bạn có thể trả lại hàng vài tuần sau khi mua về mà thậm chí cũng không cần nêu lý do. 
Ở ta thì làm gì có chuyện cho đổi hàng mà không hò hét quát tháo nhau ra trò chứ !

13. An toàn

Nước Mỹ không an toàn ! 
Tôi nói điều này bởi có tới 95 % nhà dân không cần tới lưới chống trộm, và điều kỳ lạ này nữa là : 
chả biết mấy tên trộm đi đâu hết rồi nhỉ ?

14. Giao thông

Người Mỹ sao mà nhút nhát và yếu đuối quá vậy không biết !

Tôi nói điều này cũng bởi có tới 95 % tài xế không dám vượt đèn đỏ !’

Và mặc dầu 99 % dân Mỹ có xe hơi, vậy mà cách lái xe của họ thật lạ : 
bao nhiêu là xe cộ lưu thông nhưng không mấy khi nghe tiếng còi xe, phố xá vì thế vắng lặng đến nỗi cứ ngỡ không phải là phố xá nữa, làm sao mà bì được phố xá ồn ào náo nhiệt ở Trung Quốc cơ chứ !

15. Tình cảm

Người Mỹ rất là thiếu cảm xúc .

Có tới 95 % nhân viên không nghĩ tới việc phải làm gì cho tiệc cưới của sếp, họ chẳng bao giờ phải vắt óc tìm ra lý do để chăm sóc sếp của mình. 
Ở Trung Quốc liệu có ai điên đến mức bỏ qua cơ hội chăm sóc sếp của mình không? 
Nói cách khác, có ai dám làm điều đó không ? 
Hãy xem, người Trung Quốc chúng ta có biết bao nhiêu là tình thương mến thương với lãnh đạo !

16. Nhạy bén

Người Mỹ không nhạy bén chút nào !

99% người Mỹ đi học, đi làm , thăng quan tiến chức, 
mà không hề biết sự cần thiết của “ phong bì ” để có thể mở ra một cánh cửa ..sau !

Nguyễn Đại Hoàng chuyển ngữ

————
NGUYÊN TÁC

[ ‘Foolish and Backward Nation’: 
A Self-Effacing Chinese Satire of America

On the eve of U.S. Secretary of State Hillary Clinton’s diplomatic visit to the Middle Kingdom, a tongue-in-cheek critique of Americans has gone viral on Sina Weibo, China’s Twitter, with over 44,000 retweets and 5,400 comments. This piece, of uncertain author and origin, laughingly criticizes Americans as foolish, primitive, and naive. Lest American readers be offended, it soon becomes apparent that the essay is in fact a sharp, backhanded critique of China.Tea Leaf Nation has translated the juiciest parts (which happen to constitute most of the essay). Please enjoy. ]

Don’t Go to the U.S., A Foolish and Backward Nation

I’ve already been in the U.S. for a long time. I regret that choice. We’ve been [fooled] by Western media the whole time, making us think that the U.S. is a modernized country. Harboring hopes of studying American modern science in order to serve my motherland, I moved heaven and earth in order to make it over to this “superpower.” But the result has been very disappointing!

(1) The U.S. is actually a giant, undeveloped farming village. In middle school, teachers teach students that the more developed industry gets, the greater harm the natural environment suffers. For example, in an industrial city you should find chimneys everywhere, large factories everywhere, dust everywhere. That’s the symbol of industrialization! But the U.S.? You hardly ever see chimneys, occasionally you’ll see a few small ones but they’re just decorations for houses. Instead there are clear rivers and lakes everywhere, and there aren’t even paper factories or steel smelters by the riverbanks. The clean and fresh air is a symbol of primitive society. There’s not even a trace of industrialization!

(2) Americans don’t understand economics. Highways extend in all directions, seemingly reaching every village, but there are hardly any toll stations! What a tremendous waste of a gigantic business opportunity! I can barely keep myself from grabbing some cement and building a few toll stations; within one month I’ll definitely make enough money to buy a house with a view of the Atlantic Ocean. Also, by the side of the highway you can see quiet and undeveloped lakes. The government allows waterbirds to freely settle and poop wherever they want, neglecting even to open a scenic garden with a lake view in order to make some serious money. It’s clear Americans have no head for economics.

(3) American construction is too primitive. Besides [what you find in] a small number of large cities, there are no big cement and concrete skyscrapers. … I can scarcely believe that the U.S. seemingly has no concrete buildings. They’re all mostly made of wood and some other strange materials. Using primitive wood to build houses-it’s like these foreigners’ architecture hasn’t moved beyond pre-Qing Dynasty times. That’s feudal times!

(4) Americans’ thinking is naive and backwards. As soon as I got to the U.S., I found [renting] a luggage cart cost three U.S. dollars. I didn’t have change, an American saw that I had a lot of luggage, so they paid the three bucks for me and brought me a cart. [Americans] also always open doors for me and ask me if I need help. In my country, we already had the Lei Feng period in the ’50s and ’60s, now we think that stuff is so backwards! [Lei Feng was a young man that the Mao-era Communist government widely touted as an example of selfless virtue.] Back then, people were very hypocritical, but now we’re not that way. We do things nakedly; now that’s modernization! So Americans’ thinking is behind ours by several decades, and there are no signs they will be able to catch up.

(5) Americans don’t understand [how to eat] game. One night, I was driving with my classmates to another city and several Sika deers suddenly bounded out. My classmate immediately braked and swerved in order to avoid an accident. Apparently this sort of thing happens often, as a collision with one deer is enough to total a car. The U.S. government doesn’t know how to manage this. … Americans really don’t understand how to eat game, they don’t even have game restaurants, much less a taste for delicious wild animals-killing a deer and selling the antlers can make a lot of money! Americans live with those wild animals every day, even taking measures to protect wild animals. That’s a really primitive society.

(6) Americans don’t understand self respect. Professors at American universities have no presence (架子); they don’t have the air of distinguished scholars at all. It’s said that Professor D___ is a famous professor of psychology, but during class breaks he eats cookies in his office with his students, talks about the movie “21″ and [Chinese actress] Ziyi Zhang. He doesn’t have any of the majesty of scholarship, I was really disappointed. Also, post doctoral students never put “Ph.D” on their name cards. They don’t even understand how to show off their status. People taught by professors like this won’t even understand how to posture if they become government officials. … It seems Chinese public servants really know how to get peoples’ respect; even the boss in a minor office in my motherland is more imposing than the American President. No wonder they say a first-class citizen in China becomes a third-class citizen in the U.S.

(7) American elementary school students don’t have lofty ideals. From the start, elementary school students don’t have any intention of becoming officials. … There are none of the class presidents, class secretaries, or the committees I had when I was young. After class, it’s as if they have no homework. There’s no way you can even mention it in the same breath with Chinese primary school students’s homework. Schools place too much emphasis on a moral upbringing, making little kids focus on becoming qualified citizens first, getting to the long-term ideals later. Becoming a qualified citizen? What a corny concept.

.(8) Americans cause a big ruckus every time they see a little illness. First, they make an appointment with the doctor, and afterwards the doctor gives a prescription. Some people have to consult a qualified pharmacist. When they buy medicine, they have to go to the supermarket to get it themselves. It’s not as fast as it is with us … I don’t understand why Americans separate seeing the doctor and buying medicine … instead separating benefit from responsibility. It’s clear American hospitals have no concept of how to make money! Why tell the patients the name of the medicine? … They could monopolize the sales of medicine and raise prices 8 or 10 times. There are so many good business [opportunities] they’re not [pursuing], obviously the capitalist market economy is dead!

(9) American public opinion is nuts. Sometimes I completely lose patience with their ignorance and foolishness. For example, when they learned that China has television stations and newspapers, they actually ignorantly ask me, “China has a newspaper?!” That’s really outrageous; we not only have Chinese-language newspapers, they are meticulously produced by our Ministry of Propaganda; looking at our newspapers is like listening to a hymn, it’s nothing like American newspapers with their messy public opinions, even daring to insult the U.S. President by name…[in China] we don’t publicize the leaders’ scandals; after that, who would want to be a leader? …

(10) Americans are spiritually empty. What I can’t stand is: The majority of Americans say grace before each meal, and naively say “God bless America.” Ridiculous; if God blessed America, how did America get this backwards, this primitive, how did Americans get so simple and primitive? What’s the use of praising God? It would be more practical to spend that time praising your boss! That’s the modern way! …

(11) Americans do not have a concept of time. No matter what, they always wait in line. … We Chinese are smarter, you see. No matter how crowded it gets, we still have the skill to stuff ourselves in somewhere, this saves a lot of time and you can avoid getting tired from standing! If someone you know opens a backdoor, that saves even more time. The old Americans just don’t get this.

(12) American stores make no sense: You can return something weeks after buying it without even giving a reason. How is it that you let me return the goods without even arguing with me for a little while? …

(13) The U.S. isn’t safe. 95% of homes have forgotten to install anti-theft nets/doors/windows; another strange thing is, where’d all the pickpockets go?

(14) Americans are wimps. 95% of drivers don’t even dare to run red lights…although 99% of American adults have a car, their driving method is very strange: There are many cars on the road, but you can’t hear any horns, the streets are so quiet it’s as if they’re not streets, there’s none of the energy of a major province-level [Chinese] city.

(15) Americans lack emotion. 95% of employees don’t think their superiors’ weddings have anything to do with them, so they never find an excuse to care about their leaders; in China, do the masses ever miss a chance to care about their leaders? Put another way, who in China doesn’t dare to? Look how much feeling we’ve got.

(16) Americans aren’t sensible. 99% of Americans go through school, get jobs, get promoted, and get an operation without understanding the need to give “hong bao” [red envelopes full of cash] to open a back door. …

Nước ngập lút bánh xe sau mưa lớn ở Sài Gòn

Nước ngập lút bánh xe sau mưa lớn ở Sài Gòn

Mưa lớn sáng 2/10 khiến nhiều đường tại quận 2, Bình Tân, huyện Bình Chánh ngập sâu, người dân bì bõm đẩy xe chết máy đến nơi làm việc.

Khoảng 5h30, mưa lớn trút xuống trên diện rộng ở nhiều quận huyện tại TP HCM. Nửa giờ sau, tại Quốc lộ 1, đoạn qua huyện Bình Chánh, nước ngập lút bánh xe khiến hàng loạt phương tiện chết máy. Nước tràn vào nhà dân buôn bán ven đường khiến nhiều người không kịp trở tay.

Image may contain: one or more people, car and outdoor
Image may contain: one or more people, outdoor, nature and water
Image may contain: shoes, flower, plant and outdoor
Image may contain: one or more people, crowd and outdoor
Image may contain: 2 people, outdoor
+3

Vì sao người Miền Nam nguyền rủa ông Đỗ Mười? (M.Châu)

Van H Pham

***********

Vì sao người Miền Nam nguyền rủa ông Đỗ Mười? (M.Châu)

Nhà báo Lê Phú Khải nói rằng ông Đỗ Mười là tấn bi hài kịch của một người lãnh đạo đảng cộng sản xuất thân từ tầng lớp bình dân trong xã hội Việt Nam, nông nghiệp lạc hậu phong kiến nửa thực dân trước 1945. Ông đi làm cách mạng, từng bị thực dân tù đầy, tra tấn. Nhưng vì đi lạc vào quỹ đạo cộng sản nên bị ‘ma dẫn lối, quỷ đưa đường…!’.

Người miền Nam oán ghét ông Đỗ Mười vì lý do đơn giản hơn: sau tháng 4-1975, nhân danh ‘bên thắng cuộc’, ông đã công khai cho đánh cướp tài sản, cơ nghiệp của người dân miền Nam, bất chấp luân thường đạo lý.

Những ý kiến ghi nhận tiếp theo đây từng được đăng tải trên nhiều tờ báo quốc doanh, xin được kể lại để lý giải vì sao người miền Nam vui mừng trước cái chết của ông Đỗ Mười.

***********

Từng làm phóng viên tuyên truyền về cải tạo công thương nghiệp ở miền Bắc những năm 1960 khi còn công tác ở báo Nhân Dân, sau năm 1975 ông Đinh Phong (đã mất) lại là một trong những chứng nhân của một giai đoạn lịch sử mới. Trong ký ức của mình sau gần ba thập niên kể từ ngày ấy, nhà báo Đinh Phong trầm ngâm: “Chúng tôi vác máy đi tuyên truyền mà lòng trĩu nặng, ngơ ngác nhìn nhau hỏi tại sao lại như vậy?

Có lần, chúng tôi mang máy ra chợ Tạ Thu Thâu quay cảnh niêm phong tài sản một hộ kinh doanh hàng điện tử. Chưa kịp ghi hình ảnh nào, ông chủ hộ kinh doanh bước ra gạt máy, rồi chỉ vô mặt tôi bảo: “Chú về mà hỏi Huỳnh Văn Tiểng (giám đốc đài truyền hình lúc bấy giờ – NV) xem ngày xưa tôi đã gửi linh kiện vô chiến khu lắp ráp đài phát thanh như thế nào, hỏi coi thời chống Mỹ tôi đã giúp đỡ các ông những gì? Bây giờ tôi buôn bán, có tội tình gì mà bay bắt tôi về làm ruộng hả?”. Thời gian sau tôi có trở lại tìm ông chủ ấy nhưng không gặp, chỗ cũ đã trở thành một cửa hàng quốc doanh”.

Ông Đinh Phong kể tiếp: “Một tối, tôi tiếp hai vợ chồng anh bạn trong cơ quan. Họ đến bảo rằng cả gia đình là cơ sở điệp báo của ta trước năm 1975, họ dùng chính cửa hàng vải sợi của mình làm bình phong cho cơ sở liên lạc của cách mạng. Những câu chuyện ấy chưa kịp được xác nhận sau năm 1975 thì gia đình trở thành điểm “cải tạo” với cửa hàng vải sợi.

Tài sản bị niêm phong, mọi người trong nhà chuẩn bị nhận quyết định đi “xây dựng vùng kinh tế mới”. Tôi nghe mà toát mồ hôi, ngay trong đêm chạy đến gặp ông Dương Văn Đầy (lúc ấy là chủ tịch Q.1, TP.HCM), bảo: “Họ sắp đưa một gia đình có công với cách mạng đi kinh tế mới”. Ông Đầy nói: “Đâu được”. Tôi bảo: “Họ hẹn sáng sớm 5 giờ là phải đi rồi”. Tờ mờ sáng hôm sau, ông Đầy phải đến chặn ngay trước cửa nhà can thiệp cho trường hợp này. Vậy là quyết định mới được hủy bỏ”.

Ông Mai Chí Thọ (nguyên chủ tịch UBND TP.HCM, đã mất) kể với phóng viên báo Tiền Phong, từ một thành phố hưởng thụ, một Trung tâm công nghiệp lớn nhất, vậy mà chỉ sau mấy năm khi “Chiến dịch X1, X2” đi qua, toàn bộ nền sản xuất công nghiệp của Sài Gòn bị tê liệt tới mức cạn cùng: Nguyên vật liệu không còn, viện trợ từ các phía bị cắt đứt, cơ sở vật chất xuống cấp nhanh chóng, máy móc phương tiện “đắp chiếu” ngủ triền miên hết năm này sang năm khác.

Ông Mai Chí Thọ nói rằng Sài Gòn lúc đó dấy lên phong trào “tự túc lương thực” nhà nhà trồng rau, nuôi heo, làm đủ mọi việc để kiếm sống. Trước đó không lâu, còn là “Hòn ngọc Viễn Đông”, nay, TPHCM như trở thành một khu chăn nuôi, trồng trọt khổng lồ, thậm chí có nhiều đoạn vỉa hè bị đào xới lên để trồng khoai lang, rau cải…

“Ngay như gia đình tôi đây, hồi đó, làm Chủ tịch thành phố, anh em họ thương, phân cho ở một ngôi nhà rất rộng và đẹp kiểu château của Pháp ngày xưa. Biệt thự nằm trên khuôn viên rộng mấy ngàn mét vuông, có thảm cỏ xanh mượt rất đẹp mắt, những dãy hoa càng tô điểm thêm cho vẻ sang trọng lộng lẫy của khu biệt thự.

Phía trước nhà có bể bơi nước trong xanh phía sau có sân tennis. Thế mà chỉ sau một thời gian, bể bơi lúc đầu thả cả rô phi, sau chẳng lấy đâu ra thức ăn cho cá, vả lại cũng không có người chăm sóc nên trong bể đầy nòng nọc; thảm cỏ thì biến thành ruộng trồng khoai lang để nuôi heo…”. Ông Mai Chí Thọ nói.
**********

Tiểu sử công khai trên báo chí nhân chuẩn bị lễ tang của ông Đỗ Mười cho biết: Năm 1976: Được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị khóa IV, vào Quốc hội khóa VI, tiếp tục giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 1976-1981.

Năm 1977: Là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam.
**********

Chiều 21-3-1978, Hội trường của trường đảng Nguyễn Ái Quốc II, Thủ Đức, Sài Gòn, Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng, đọc Chỉ thị 100-CP, và triển khai kế hoạch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại TPHCM và các tỉnh phía Nam.

Đỗ Mười nói (trích băng lưu trữ): “Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ, diệt triệt để, diệt không nương tay…

Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta. Vừa qua kẻ nào vơ vét mì chính (bột ngọt), vải vóc, đường, sữa đầu cơ trục lợi, rồi lại đổ tội cho nhà nước ta chuyển ra Bắc nên thị trường khan hiếm? Chính là bọn tư sản thương nghiệp!

Kẻ nào tích trữ thóc gạo để dân ta đói? Chính là bọn đầu nậu lúa gạo. Tôi hỏi các đồng chí, kẻ nào cung cấp lương thực, thực phẩm cho tổ chức phản động trên Lâm Đồng chống phá cách mạng? Kẻ nào? Chính là bọn tư sản đấy! Bọn gian thương đầu cơ, phá hoại, bọn ngồi mát ăn bát vàng, rút rỉa máu xương đồng bào ta, ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng ta…”.

Bảy giờ sáng hôm sau, ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của Ủy ban nhân dân TPHCM. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau đó, xác nhận “Chiến dịch X-3”, bắt đầu.

Image may contain: one or more people and crowd
Image may contain: one or more people, people standing and outdoor
Image may contain: one or more people, people sitting, crowd, shoes and outdoor

Đảng còn vĩ đại vì dân thật là… vô tư!

Van H Pham
Đảng còn vĩ đại vì dân thật là… vô tư!

Cho dù cả Tổng thống Mỹ lẫn các chính khách của Đảng Cộng hòa hết sức sốt ruột nhưng họ vẫn chưa thể đưa Thẩm phán Brett Kavanaugh vào Tối cao Pháp viện… Đem chuyện chính trường Mỹ so với hiện tình chính trường Việt Nam ắt sẽ thấy “Đảng ta vĩ đại thật”!

********

Tối cao Pháp viện Mỹ là một Hội đồng với chín thẩm phán và là định chế đứng đầu hệ thống tư pháp của Mỹ. Mỗi thẩm phán trong số chín thẩm phán này được Tổng thống Mỹ lựa chọn – giới thiệu với Thượng viện. Thượng viện sẽ xem xét – bỏ phiếu chấp nhận hay từ chối.

Nếu được Thượng viện phê chuẩn, người được đề cử sẽ trở thành Thẩm phán của Tối cao Pháp viện, cùng với tám thẩm phán còn lại có quyền giải thích Hiến pháp, xác định các đạo luật liên bang hay tiểu bang, hành động của chính phủ liên bang hoặc chính quyền các tiểu bang là hợp hiến hay vi hiến. Chưa kể Hội đồng Thẩm phán của Tối cao Pháp viện còn có quyền phân định đủ loại tranh chấp, bất đồng là đúng – sai, phải – trái. Phán quyết của Tối cao Pháp viện là chung thẩm, không xét lại nữa.

Đó cũng là lý do tổ chức chính trị nào tại Mỹ cũng muốn các thẩm phán ủng hộ – chia sẻ quan điểm của mình chiếm đa số trong Tối cao Pháp viện. Đạt được mục tiêu đó, Tối cao Pháp viện sẽ là nơi giúp tổ chức chính trị giải quyết những vấn đề hóc búa, chẳng hạn như cho phép phá thai hay cấm mà vì nhiều lý do, lập pháp thúc thủ, hành pháp bó tay bởi không thể dung hòa những khác biệt nhận thức, lợi ích cả trong hệ thống lập pháp, hành pháp lẫn dân chúng.

Từ đầu tháng 8 tới nay, sau khi Thẩm phán Anthony Kennedy từ chức vì tuổi cao, sức yếu, Tối cao Pháp viện Mỹ thiếu một người. Tám thẩm phán đương nhiệm trong Tối cao Pháp viện có bốn do các Tổng thống là người của Đảng Cộng hòa đề cử, bốn còn lại do các Tổng thống là người của Đảng Dân chủ đề cử.

Tổng thống Donald Trump đã chọn – giới thiệu Thẩm phán Brett Kavanaugh, một người nhiệt thành ủng hộ các quan điểm của Đảng Cộng hòa vào Tối cao Pháp viện. Thượng viện Hoa Kỳ với 100 ghế, các thành viên Đảng Cộng hòa đang giữ tới 51 phiếu thành ra chuyện đưa thêm một thẩm phán ủng hộ Đảng Cộng hòa vào Tối cao Pháp viện tưởng như sẽ là tất nhiên…

Không ai dè việc thực hiện “chủ trương lớn” của Đảng Cộng hòa gặp trục trặc. Bà Christine Ford – một giảng viên đại học, đột nhiên tố cáo, cách nay 34 năm, Thẩm phán Kavanaugh toan cưỡng bức bà khi cả hai đang học trung học… Lúc đầu, cả Tổng thống Trump lẫn giới lãnh đạo Đảng Cộng hòa cùng cho rằng, tố cáo của bà Ford là chuyện… tầm ruồng, không thể xác minh, kết luận phải – trái, đúng – sai vì đã xảy ra cách nay ba thập niên, thậm chí lên án tố cáo ấy là âm mưu của Đảng Dân chủ – “thế lực thù địch, phản động” nhưng phản ứng của công chúng đã buộc họ phải nhượng bộ…

Ngày 27 tháng 9, Ủy ban Tư pháp của Thượng viện phải tổ chức một buổi điều trần, nghe cả bà Ford lẫn Thẩm phán Kavanaugh. Buổi điều trần được nhiều người xem là “đầy kịch tính”: Một Thượng nghị sĩ của Đảng Cộng hòa bị các nạn nhân của những vụ tấn công tình dục bao vây, chất vấn (1). Hai nữ Thượng nghị sĩ cũng của Đảng Cộng hòa cho rằng, điều trần chưa đủ. Cho đến giờ này vẫn chưa thể xác định bà Ford tố thật hay tố điêu nhưng Tổng thống Trump rồi các thành viên Đảng Cộng hòa trong Ủy ban Tư pháp của Thượng viện cùng lui thêm một bước: Yêu cầu FBI điều tra – như bà Ford và nhiều người khác đã từng đề nghị.

Chỉ vài giờ sau cuộc điều trần, tạp chí America của Jesuit (người Việt quen gọi là Dòng Tên) tuyên bố rút lại sự ủng hộ Thẩm phán Kavanaugh tham gia Tối cao Pháp viện. Cần nhớ Thẩm phán Kavanaugh là một tín đồ Công giáo và đã vài lần dẫn yếu tố từng là học sinh một tư thục danh tiếng của Dòng Tên, cũng như tuân thủ giáo lý Công giáo một cách nghiêm cẩn nhằm khẳng định ông không vô đạo đức như tố cáo của bà Ford. Trong Thư ngỏ gửi cho công chúng, America nhấn mạnh, ai tôn trọng quyền được sống của các thai nhi cũng ủng hộ Thẩm phán Kavanaugh trở thành thành viên Hội đồng Thẩm phán của Tối cao Pháp viện, song mặt khác, không thể không quan tâm đến cách thức quốc gia đối xử với nữ giới khi họ tố cáo bị quấy rối, bị tấn công và những tố cáo ấy có thể làm tiêu tan sự nghiệp của những nhân vật quyền lực. Một thành viên trong Hội đồng chủ biên của tạp chí vừa kể bảo với báo giới, sự quan tâm của America không chỉ giới hạn trong những vấn đề liên quan đến Hiến pháp mà còn bao gồm cả việc phải xem xét để quấy rối, lạm dụng tình dục được chú tâm xủ lý đúng mức vì đó cũng là đạo đức Công giáo (2).

********

Thời nào, ở đâu, các tổ chức chính trị cũng có tham vọng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối. Đảng Cộng hòa ở Mỹ cũng vậy nhưng “chủ trương lớn” (đưa Thẩm phán Kavanaugh vào Tối cao Pháp viện để gia tăng khả năng kiểm soát, chi phối cả ba nhánh quyền lực của Mỹ) là một chuyện, thực hiện được hay không là chuyện khác. Chuyện khác đó phụ thuộc vào nhận thức của dân chúng. Xem mong muốn của dân chúng như rác, không lắng nghe, cưỡng cầu – thực hiện cho bằng được các “chủ trương lớn” thì toàn Đảng sẽ đi chỗ khác chơi vì ở những kỳ bầu cử sau đó, dân chúng sẽ chọn người khác của đảng khác.

Đâu phải tự nhiên mà hết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi tới Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem việc bàn luận, vận động cho “đa nguyên, đa Đảng” là… phản quốc. Với hiện tình chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội quốc gia như lúc này, đa số người Việt chỉ bàn luận sôi nổi về “nhất thể hóa” cá nhân đứng đầu tổ chức chính trị duy nhất với nguyên thủ quốc gia, không bận tâm thân phận, tương lai của chính mình, của con cháu mình là vàng hay rác thì rõ ràng “Đảng ta” còn vĩ đại lâu, còn rất nhiều du địa để soạn thảo – ban hành – thực thi vô số “chủ trương lớn” nữa. Năm 1962, ở Lễ Kỷ niệm 32 năm ngày thành lập Đảng CSVN, ông Hồ Chí Minh rất thản nhiên tuyên bố như thế này: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng, Đảng ta thật là vĩ đại!”. Giờ, liệu có thể nói thêm thế này: Sau tất cả những gì đã và đang xảy ra, có thể khẳng định, ‘Đảng ta’ thật là vĩ đại vì dân ta thật là… vô tư?

About this website

VOATIENGVIET.COM
Thời nào, ở đâu, các tổ chức chính trị cũng có tham vọng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối. Đảng Cộng hòa ở Mỹ cũng vậy nhưng “chủ trương lớn” (đưa Thẩm phán Kavanaugh vào Tối cao Pháp viện để gia tăng khả năng kiểm soát, chi ph…  

Slovakia sắp ‘xử’ đảng Cộng sản Việt Nam?

Slovakia sắp ‘xử’ đảng Cộng sản Việt Nam?

Phạm Chí Dũng

Không còn nghi ngờ gì nữa, quốc gia được giới chóp bu Việt Nam ve vuốt là ‘đối tác thân thiện’ – Slovakia – đang chuẩn bị cho động thái ‘xử’ đối với Việt Nam, hay chính xác hơn là đối với đảng Cộng sản Việt Nam.

Thủ phạm ‘đảng Cộng sản Việt Nam’?

“The head of the Slovak diplomacy clearly and categorically emphasised that the Vietnamese party’s previous explanations of the serious suspicions of the abduction of a Vietnamese national across Slovak territory are not satisfactory.” (TASR) 
– Người đứng đầu ngoại giao Slovak đã nhấn mạnh một các rõ ràng và lớp lang rằng những lời giải thích trước đây của đảng (CS) Việt Nam về những nghi ngờ nghiêm trọng của vụ bắt cóc một người Việt trên lãnh thổ Slovak là không thỏa đáng (Danlambao).

Ngoại trưởng Slovakia Miroslav Lajcak đã thẳng thừng tuyên bố như trên trong cuộc tiếp xúc với Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh tại New York vào cuối tháng Chín năm 2018, với nội dung chủ yếu xoáy vào vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh – theo hãng thông tấn TASR của Slovakia.

Chi tiết rất đặc biệt trong tuyên bố trên là Ngoại trưởng Miroslav Lajcak đã chỉ đề cập về khách thể đảng Cộng sản Việt Nam chứ không phải nói tới ‘Nhà nước Việt Nam’ theo lối ngoại giao nói thông thường. Cách dùng từ xác quyết và mang tính phân biệt không kém xác quyết như thế cho thấy trong nhận thức và hành động ngoại giao của phía Slovakia, thủ phạm của vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Berlin vào tháng bảy năm 2017 và sau đó ‘vận chuyển’ Thanh sang Bratislava của Slovakia để từ đó bay sang Moscow của Nga rất có thể đã hiện hình như ban ngày chứ tuyệt đối không phải là ‘Trịnh Xuân Thanh tự nguyện về nước đầu thú’.

Cách thức dùng từ không còn thuần túy ngoại giao hay cố gắng mang cung cách ngoại giao của Ngoại trưởng Miroslav Lajcak cũng khá tương đồng với một cử chỉ mới đây của giới quan chức Đức khi dự lễ kỷ niệm ngày lễ quốc khánh 2/9 tại Đại sứ quán Việt Nam ở Đức.

Trong buổi lễ trên, phía Đức chỉ cử một đại diện cấp thấp với chức vụ “Abteilungsleiterin” (Trưởng phòng hay Vụ trưởng) – bà Ina Lepel – đến tham dự lễ 2/9 của Việt Nam. Chức vụ của bà Ina Lepel là vụ trưởng châu Á-Thái Bình Dương trong Bộ Ngoại giao Đức. Còn tại cuộc kỷ niệm quốc khánh 2/9 vào năm 2016, tức trước khi vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh xảy ra và khi quan hệ giữa 2 nước còn “nồng ấm”, chính phủ Đức đã cử bà Edelgard Bulmahn, Phó Chủ tịch Quốc hội Liên Bang Đức, đến tham dự lễ kỷ niệm quốc khánh Việt Nam.

“Không có hình tượng nào lột tả được thực trạng mối quan hệ hai nước hiện nay hay hơn là hình tượng Đại sứ Đoàn Xuân Hưng chìa tay ra, muốn bắt tay bà Ina Lepel đại diện chính phủ Đức, nhưng bà Ina Lepel vẫn khư khư giữ chặt túi xách” – trang Thoibao.de thuật lại một cách rất tượng hình và đối kháng về buổi lễ kỷ niệm 2/9 năm 2018.

Quả là như vậy, hình ảnh ‘hữu nghị Việt – Đức’ trên không chỉ cho thấy thái độ khinh miệt mà giới quan chức Đức dành cho giới quan chức Việt Nam, mà còn cho thấy người Đức đang cực kỳ cảnh giác trước những quan chức Việt Nam, trong bối cảnh mà hơn một năm trôi qua kể từ thời điểm mật vụ Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, vẫn chẳng có bất kỳ một lời xin lỗi hoặc ‘cam kết không tái phạm’ nào được nêu ra từ phía Việt Nam.

Thậm chí trong bài diễn văn của mình, bà Ina Lepel chỉ dùng từ ‘nhân dân’ để nói đến tình hữu nghị giữa hai nước, mà không dùng từ ‘nhà nước’ hay ‘chính phủ’. Phải chăng người Đức đã quá chán ngán thói tuyên rao ‘nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam’ và khách thể ‘đảng Cộng sản Việt Nam’?

‘Giá treo cổ’ dành cho ai?

Với cuộc gặp Phạm Bình Minh, đây là lần thứ hai trong hai tháng liên tiếp, Ngoại trưởng Slovakia Miroslav Lajcak lên tiếng về vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.

Vào đầu tháng Tám năm 2018, chỉ 4 ngày sau loại bài điều tra của tờ Frankfurter Allgemeine Zeitung của Đức và tờ Dennik N của Slovakia về ‘cựu Bộ trưởng Nội vụ Slovakia Robert Kaliňák đã giúp Bộ trưởng Công an Việt Nam Tô Lâm đưa Trịnh Xuân Thanh ra khỏi khu vực Schengen bằng chuyên cơ của chính phủ Slovakia’, Ngoại trưởng Miroslav Lajcak đã viết trong một bài bình luận trên tờ báo mạng pravda.sk, ra ngày 7/8/2018: “Không còn hoài nghi rằng kết luận của các nhà điều tra Đức về vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh là nghiêm trọng và cho thấy một sự nghi ngờ rất lớn về sự đúng đắn của thông tin do phía Việt Nam cung cấp cho đến nay. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tất cả mọi thứ được in trên báo là đúng sự thật, hoặc đã đủ để chúng tôi đưa ra tòa án. Cho đến khi nào vụ việc này chưa được kiểm tra kỹ lưỡng và các chi tiết chưa được làm rõ, thì chúng tôi không thể dựng lên giá treo cổ được” – (Thoibao.de dịch)

Đáng ngạc nhiên là từ ngữ mang tính hình tượng cực mạnh ‘giá treo cổ’ mà Ngoại trưởng Miroslav Lajcak trưng ra trong bài viết trên, bởi điều này dường như không phù hợp lắm, hoặc quá thô bạo so với âm điệu ngoại giao hoặc êm ái hoặc buộc phải tỏ ra êm ái. Từ ngữ này chỉ bộc lộ vào bối cảnh tác giả của nó không thể kềm chế được sự giận dữ và thấy không từ nào thích đáng hơn nó.

‘Giá treo cổ’ đe dọa dựng lên dành cho những quan chức Slovakia đã trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp tay cho vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh – chẳng hạn như cựu Bộ trưởng Nội vụ Robert Kaliňák. Nhưng ‘giá treo cổ’ cũng là lời cảnh cáo trực diện giới chóp bu Việt Nam.

Khác nhiều với văn phong còn cố gắng duy trì tính cách xã giao mà không muốn làm mất mặt Hà Nội trong một tuyên bố phản đối vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh của Bộ Ngoại giao Đức vào tháng Tám năm 2017, lời lẽ của người đại diện cho Bộ Ngoại giao Slovakia là quá thẳng thắn và phẫn nộ.

Cũng trong bài bình luận trên tờ báo mạng pravda.sk, ra ngày 7/8/2018, Ngoại trưởng Lajcak viết:

“Trong lúc phiên tòa tại Berlin đang diễn ra, phía Đức tuyên bố, họ đã có những dấu hiệu nghiêm trọng, rằng nạn nhân bị bắt cóc đã được đưa bằng máy bay từ Bratislava (thủ đô Slovakia) đến Moscow. Nhiệm vụ của chúng tôi là thẩm tra những cáo buộc qua thông tin liên lạc với phía Việt Nam. Bác bỏ, nếu cáo buộc không đúng.

Vì cho đến nay, Việt Nam đã không cung cấp cho chúng tôi những bằng chứng đáng tin cậy cho thấy rằng cáo buộc của các nhà điều tra Đức là không đúng, cho nên chúng tôi đã buộc phải thực hiện một bước cụ thể – để giảm đại diện ngoại giao của chúng tôi tại Việt Nam. Điều đó có nghĩa là chúng tôi không có Đại sứ tại Việt Nam vào thời điểm này – và chúng tôi không có kế hoạch bổ nhiệm một vị Đại sứ đến Hà Nội cho đến khi nào chúng tôi giải quyết xong vụ việc. Đây là một bước rất nghiêm trọng trong thực tiễn ngoại giao, biện pháp này không phải là đơn giản hoặc không đáng kể. Và nó không phải là bước duy nhất.

Nếu vụ việc này được xác định rằng Cộng hòa Slovakia đã bị Việt Nam lợi dụng, thì cần thiết phải có những biện pháp tiếp theo” (Thoibao.de)

Một cách chính thức, cuộc khủng hoảng Slovaka – Việt Nam đã bùng nổ – tròn một năm sau khi nổ ra cuộc khủng hoảng Đức – Việt. Bây giờ thì khó còn gì có thể cứu vãn được nữa.

Tháng Mười?

Một năm trước, cũng vào tháng Tám, Bộ Ngoại giao Đức đã làm một cử chỉ mà Hà Nội khó ngờ khi ra tuyên bố mạnh mẽ phản đối vụ mật vụ Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ngay tại Berlin. “Việc này cũng phá vỡ lòng tin một cách nghiêm trọng” – một nội dung trong tuyên bố phản đối của Bộ Ngoại giao Đức. Và phía Đức kết thúc bản tuyên bố phản đối bằng “Chúng tôi cũng bảo lưu quyền áp dụng thêm các hành động khác ở cấp độ chính trị, kinh tế và chính sách phát triển”.

Sau tháng Bảy năm 2017, khủng hoảng Đức – Việt đã bùng phát và kéo theo quá nhiều hậu quả. Không chỉ trục xuất vài cán bộ ngoại giao của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức về nước, Nhà nước Đức còn thẳng tay tuyên bố tạm thời đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam vào tháng 10/2017 và một tháng sau đó đã thông báo ngừng luôn hiệp định về miễn trừ visa đối với quan chức Việt Nam đi công tác ở Đức.

Hà Nội cũng khó ngờ rằng chỉ một năm sau cuộc khủng hoảng ngoại giao Đức – Việt, cơn khủng hoảng thứ hai mang tên Slovakia – Việt và cả EU – Việt đang chuyển qua giai đoạn mới: thời kỳ đóng băng kéo dài nhiều năm.

“Nếu quý vị tiếp tục nói rằng quý vị không lạm dụng lòng hiếu khách của chúng tôi và công dân bị bắt cóc của quý vị không có mặt trên chuyến phi cơ của chính phủ Slovakia, thì tôi yêu cầu quý vị hãy đưa ra lời giải thích không sai sót về việc quý vị đã đưa ông ta từ Đức về Việt Nam bằng cách nào”, và “Bất kỳ cách giải thích gây hiểu nhầm nào từ phía quý vị cũng sẽ gây ra những hậu quả cho quan hệ song phương giữa chúng ta, và chúng tôi cũng đang sẵn sàng có những hành động hạn chế trên cơ sở vì lợi ích của EU” – Ngoại trưởng Slovakia Lajcak nói thẳng thừng với Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh bên lề cuộc họp tại New York vào tháng Chín năm 2018.

Phát ngôn mang tính ‘tối hậu thư’ của Lajcak xảy ra gần như đồng thời với các cuộc gặp song phương giữa hai công tố trưởng của Slovakia và Đức gặp nhau ở Đức, và giữa bộ trưởng nội vụ của Đức và Slovakia – những cuộc gặp cho thấy tầm mức phối hợp giữa hai nước về vụ Trịnh Xuân Thanh đã được đẩy lên cao hơn nhiều so với vài ba mối liên hệ lẻ tẻ trước đây giữa cảnh sát hai nước.

Cách nói của Lajcak cũng gần như đã chắc chắn về một kế hoạch cho những hành động trả đũa tiếp theo của Slovakia đối với Việt Nam, mà đã được thống nhất bởi Tổng thống Slovakia Andrej Kiska, Thủ tướng Slovakia Peter Pellegrini cùng các cơ quan tư pháp nước này.

Không có bất kỳ lời giải thích nào từ Phạm Bình Minh với Lajcak. Cũng tương tự thái độ câm nín của người đứng đầu ngành ‘ngoại giao Việt Nam thành công chưa từng có’ trước không biết bao nhiêu lần truy vấn của Bộ Ngoại giao Đức và Bộ Ngoại giao Slovakia về vụ Trịnh Xuân Thanh.

Từ tháng Tám năm 2017 đến nay, sự im lặng kiên định và triệt để của Bộ Ngoại giao Việt Nam trước vụ Trịnh Xuân Thanh cho thấy Phạm Bình Minh không dại gì đi ‘đổ vỏ’ cho những kẻ gây ra vụ bắt cóc này. Rất có thể chính vì hành động ‘giãy ra’ như thế mà từ tháng Mười năm 2018, Phạm Bình Minh đã chính thức bị thất sủng trước Nguyễn Phú Trọng.

Chẳng bao lâu nữa, Chính phủ Slovakia – để tự bảo vệ lòng tự trọng của mình – sẽ phải tung ra một quyết định dù rất khó khăn nhưng thật sự cần thiết và cứng rắn với chính thể độc đảng ở Việt Nam và những kẻ bắt cóc.

Sau hai tháng điều tra của cảnh sát Slovakia và được sự hỗ trợ cận kề của cảnh sát Đức, thời điểm chẳng bao lâu nữa trên có thể sẽ rơi vào tháng Mười năm 2018 – chẵn một năm sau vụ Nhà nước Đức thẳng tay tuyên bố tạm thời đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.

About this website

 

VOATIENGVIET.COM
Chẳng bao lâu nữa, Chính phủ Slovakia – để tự bảo vệ lòng tự trọng của mình – sẽ phải tung ra một quyết định dù rất khó khăn nhưng thật sự cần thiết và cứng rắn với chính thể độc đảng ở Việt Nam và những kẻ bắt cóc.

Đến lượt Pakistan do dự các dự án với Trung Cộng vì lo sợ bẫy nợ

Đến lượt Pakistan do dự các dự án với Trung Cộng vì lo sợ bẫy nợ

Islamabad, Pakistan – Sau một thời gian dài trì trệ, cuộc cải tiến tuyến hỏa xa từ biển Arab đến chân dãy núi Hindu Kush đã trở thành một bài kiểm tra khả năng của Pakistan trong việc cân nhắc lại các dự án “con đường tơ lụa” của Trung Cộng, do lo sợ về nợ nần.

Đây là tuyến hỏa xa đã có từ thời thuộc địa, có trị giá 8.2 tỷ mỹ kim. Dự án hỏa xa nối liền đô thị ven biển Karachi với thành phố Peshawar ở phía tây bắc là dự án lớn nhất trong Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) của Trung Cộng tại Pakistan. Nhưng Islamabad hiện đã tỏ ra do dự về mặt chi phí và các điều khoản tài chính.

Các thỏa thuận này ngày càng vấp phải nhiều sự phản đối dưới quyền chính phủ mới của nhà lãnh đạo dân túy Imran Khan, người đã lên tiếng cảnh báo về việc tăng mức nợ và tuyên bố rằng đất nước này phải ngưng việc vay mượn nước ngoài. Gần đây, ông Khusro Bakhtyar, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch, Phát triển và Cải cách, trả lời với các phóng viên rằng Pakistan đang xem xét cách phát triển mô hình mới, để chính phủ Pakistan không phải gánh chịu tất cả rủi ro.

Chính phủ mới của Pakistan đã tỏ ý muốn xem xét lại tất cả các hợp đồng trong sáng kiến Vành đai và Con đường. Các viên chức nước này lo sợ rằng các thỏa thuận trên đã bị đàm phán sai lầm, tức quá đắt tiền hoặc quá có lợi cho Trung Cộng.

Theo hãng tin Reuters, rằng khi đối diện với sự bất bình từ phía Islamabad, Bắc Kinh vẫn sẵn sàng xem xét lại những dự án chưa bắt đầu.

Việc Pakistan tỏ ra do dự với các khoản đầu tư của Trung Cộng thể hiện khuynh hướng của hàng loạt chính phủ mới ở Sri Lanka, Malaysia và Maldives. Hiện nay, chính quyền mới ở các quốc gia này đều đang cảnh giác về các thỏa thuận được chính quyền tiền nhiệm ký kết với Trung Cộng.