Anh hùng là người ra khỏi hang tối sau cùng.

Linh Võ shared a photo.
Image may contain: one or more people

Bui Nang Phan

Anh hùng là người ra khỏi hang tối sau cùng.

Sau khi 12 thành viên đội bóng và huấn luyện viên mắc kẹt trong hang động Thái lan được giải cứu kỳ diệu ra khỏi hang, thì một vị anh hùng người Úc vẫn còn ở trong hang để bảo đảm rằng mọi thứ đã ổn thỏa.

Vị anh hùng ấy là Richard Harris, bác sĩ gây mê kiêm nhà thám hiểm hang động, là người cuối cùng rời hang vào tối qua (11/7/2018), người đóng vai trò quan trọng nhất trong cuộc giải cứu phức tạp, theo báo Úc news.com.au.

Người đàn ông 53 tuổi đã bỏ kỳ nghỉ gia đình và bay đến miền bắc Thái lan để tham gia giải cứu. Tại đây, Harris lặn ra vào nhiều lần qua những đoạn hang nhỏ dẹp, tối tăm và lạnh lẽo dài 4km, để đến với các cậu bé, kiểm tra sức khỏe xem họ có thể vượt qua thử thách nguy hiểm, giúp các em giữ bình tĩnh trong quá trình giải cứu bằng thuốc an thần.

Harris cùng với 18 thợ lặn ưu tú nhất của Navy SEAL hộ tống 5 thành viên cuối cùng đội bóng ra khỏi hang Tham luang ngày 10/7, sau khi rời khỏi hang ông nhận được tin cha ruột vừa qua đời tại quê nhà.

Hiện hàng trăm người Úc đang kêu gọi trao tặng giải thưởng “Người Úc của năm” cho ông Harris.
“Nếu có một người nào đó xứng đáng nhận giải người Úc của năm, đó là người đàn ông này”, một người viết trên Twitter. “Anh ấy thể hiện tinh thần thực sự của đất nước”.

news.com.au
Bác sĩ Richard Harris – ảnh: @AAP  

Tù chính trị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh tuyệt thực sang ngày thứ 6

Đài Á Châu Tự Do

Theo lời bà Nguyễn Thị Tuyết Lan thì Trại 5 có đáp ứng yêu cầu chuyển con gái của bà sang một phòng giam khác, không có những đối tượng thường xuyên gây gỗ, mạt sát cô Nguyễn Ngọc Như Quỳnh. Tuy nhiên phòng giam mới lại tồi tệ hơn phòng giam cũ ở chỗ không được che chắn đầy đủ; ngay cả nơi đi vệ sinh; từ bên ngoài có thể nhìn thấy tất cả.
RFA.ORG
Tù nhân lương tâm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, thường được biết đến với tên Blogger Mẹ Nấm, tuyệt thực trong tù đến ngày 12 tháng 7 là sang ngày thứ sáu.   

Lại có người chết ở đồn công an – Mai Tú Ân

Nguyen Vinh Sa is with Nguyễn Quang 

( HNPD ) Có một điều đáng buồn, đáng phẫn nộ diễn ra trong thời gian gần đây khi liên tiếp xảy ra những vụ người dân bị chết khi được mời về đồn công an. Những công dân Việt Nam đó ở mọi địa phương khác nhau, đủ mọi thành phần, lứa tuổi, có tội hay không có tội nhưng đều giống hệt nhau ở những bước đi cuối cùng của cuộc đời mình. Đó là hoàn toàn khỏe mạnh khi được mời hay bị bắt vào đồn công an nhưng lại bị khiêng ra khỏi đồn khi hồn đã lìa khỏi xác…

Như những tiếng chuông trầm buồn rung lên ai oán trong khung cảnh ma ám khi những cái chết ấy xảy ra, khi thân nhân của họ đem thi hài lạnh cứng đi xuống phố. Chúng ta sẽ không nêu tên người chết bởi sự tôn trọng đến người chết, nhưng chúng ta không thể không nhắc đến những thân xác quặt quẹo với chi chít vết thương trên người. Chúng ta không thể không nhìn thấy những vệt cắt cổ mở hoác ra hay vệt vòng dây oan nghiệt quấn quanh cổ họ. Những con người mà chỉ mới một hai ngày trước còn vui cười với gia đình, vợ con thì nay nằm im buông xuôi giữa tiếng khóc than, tiếng hờ oán cũng của gia đình, vợ con…

Chúng tôi không nắm vững được từng vụ việc chết người này nên chúng tôi không thể nói đến từng vụ việc nhưng chúng tôi sẽ nói đến tổng thể, nói đến một bức tranh buồn về những cái chết ở trong đồn công an.

Đồn công an lẽ ra phải là nơi an toàn nhất cho mọi công dân. Đó là một nơi mà nhà nước đã xây dựng kiên cố, có những người thi hành pháp luật được đào tạo để bảo vệ chặt chẽ với vũ khí trong tay đó phải là nơi để cho những người dân tin tưởng, gửi gắm tinh thần hay thể xác của mình khi có hữu sự. Đồn công an phải là một nơi an toàn nhất khi người dân vào đó bất kể đúng sai, bất kể có tội hay không. Họ đều được bảo vệ bởi luật pháp và bởi những người thi hành luật pháp ở trong đó. Tóm lại đồn công an phải là một nơi an toàn tuyệt đối cho mọi công dân. Cho dù người dân, vì một lý do nào đó mà có muốn chết thì cũng thể chết…

Nhưng rồi người chết vẫn diễn ra trong đồn công an, và những người có trách nhiệm phải bảo vệ tính mạng của họ vẫn giải thích quanh co là nạn nhân đã tự tử.
Những thi hài người chết, hay những cái quan tài rong ruổi xuống phố cùng những tiếc khóc đau xé lòng của thân nhân, rồi những hình ảnh thâm tím của những người chết oan khốc đó vẫn hiện lên như những tha nhân đau khổ không bao giờ được siêu thoát khỏi cuộc đời uất hận này.

Xảy ra những cái chết không phải là không điều tra được nhưng những người có trách nhiệm luôn tránh né hoặc dùng tiền để khỏa lấp. Trong khi cái cần làm là một cuộc điều tra tới chân tơ kẽ tóc của vụ việc thì lại không làm. Điều tra để tìm ra sự thật trong trụ sở CA là một việc quá dễ dàng vì có lắp nhiều các camera. Các lãnh đạo ngành CA phải hiểu rằng chỉ có thẳng tay với những kẻ thủ ác trong ngành thì mới đem lại niềm tin cho người dân. Nếu xảy ra chuyện thì người đứng đầu ở đó phải chịu trách nhiệm, kể cả để cho tù nhân đánh nhau hoặc tự tử…

Với những quyền lực tuyệt đối, với trang thiết bị của ngành đầy đủ thì sẽ sinh ra những kẻ ưa dùng bạo lực, ưa thể hiện sự hung bạo với những nạn nhân rơi vào tay họ. Và kết quả là những cái chết oan ức xảy ra trong cơ quan công an như một lẽ tất nhiên. 

Chẳng có cuộc điều tra độc lập nào khi có những vụ chết người đáng ngờ như thế, và thậm chí cũng không có cả cơ quan điều tra độc lập với ngành công an nữa. Chỉ có các cuộc điều tra nội bộ nên kết quả thì cũng chỉ là kết quả nội bộ. Và những cái chết đầy uất hận của người dân vẫn treo lơ lửng như những bóng ma đang lẩn quất trong các đồn công an…

Mai Tú Ân ( HNPD )

Image may contain: one or more people

LET’S SMILE!

Diep Nong is feeling happy.
LET’S SMILE!

Mỗi buổi tối trước khi đi ngũ, bạn có được một nụ hôn nhẹ lên má, hay một vòng tay âu yếm quàng qua bờ vai: hạnh phúc ấy thật ấm áp vô cùng.

Nhưng, nếu không có, không sao cả nhé bạn! Bạn hãy mở TV ra xem tin tức, xem một phát minh mới toanh đến dị thuờng, một chiếc áo fashion đẹp tuyệt trần, nghe nàng ca sỹ có nét quyến rũ ma mị cất giọng liêu trai hát những bài hát làm hồn ta say đắm, rồi mới vào cái giường thơm tho, kéo chăn ấm áp lên để có một giắc ngũ say nồng…. Đấy cũng là hạnh phúc đó bạn ạ…

Buổi sớm mai, tiếng chim ríu rít ồn ơi là ồn ở ngoài góc vườn, rồi người hàng xóm nổ máy chiếc xe thật lớn để đi làm việc, có thêm tiếng cửa garage chạy nghe ken két, con chó kêu đói ư ử làm bạn tỉnh hẳn giấc… Đừng cáu gắt bạn tôi ơi! Đó cũng là hạnh phúc lắm mới nghe được những âm thanh ấy đấy…

Bạn hãy cười thật tươi với những người yêu thương quanh bạn. Những người bạn nước da đen đủi vì dầm mưa dải nắng mà đầy chân tình, những người bạn từ thuở niên thiếu, những người bạn mới quen, ngay cả những người rất ganh ghét với bạn, hãy cười vui như chưa bao giờ vui được như thế! Bạn có biết ngày mai rồi sẽ ra sao? Phát hiện mình bị bệnh nan y thời kỳ cuối? Một khối u trong não? Một cơn đau tim bất chợt? Một cơn giông bão ghê gớm tràn về?….

Hôm nay, bạn đang sở hữu một sự sống, một sức khỏe mà có biết bao nhiêu người không có, hay đang chiến đấu từng ngày, từng giờ để giữ được nó. Vậy là bạn đã có hạnh phúc hơn nhiều người lắm rồi đấy!

Hãy cười vui lên, hãy nói những lời nói yêu thương với người mình thương ngay hôm nay, đừng chần chờ, bạn nhé.

DN

CỔ ĐỘNG VIÊN TUYỆT VỜI!

Thuong Phan and 2 others shared a post.
Image may contain: 1 person, sitting
Image may contain: 1 person, smiling, standing, child and outdoor
Image may contain: 13 people, people smiling, crowd
Image may contain: crowd and outdoor
Image may contain: 3 people, people smiling

Đạt Tiến Nguyễn

CỔ ĐỘNG VIÊN TUYỆT VỜI!

Đất nước Croatia có khoảng hơn 4 triệu dân và đã từng bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cộng sản, nhưng may mắn là Croatia đã sớm thoát khỏi chế độ cộng sản và chuyển sang chế độ dân chủ để khôi phục lại các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Cho đến thời điểm hiện tại thì đội bóng đá của Croatia đã vào tới trận chung kết của World Cup 2018, nhưng không thấy có tình trạng các cổ động viên cởi quần, cởi áo và khỏa thân chạy trên đường phố như ở Việt Nam mà chỉ thấy các cổ động viên Croatia ca hát và cầu nguyện.

Theo quan sát thì thấy huấn luyện viên, các cầu thủ và cổ động viên của Croatia đã không ngừng câu nguyện trong suốt kỳ World Cup. Thậm chí là huấn luyện viên đội bóng Croatia đã không ngần ngại tiết lộ là ông đã lần chuỗi mân côi hàng ngày cho đội tuyển bóng đá Croatia.

Phải chăng Việt Nam cần phải nhanh chóng thoát khỏi chế độ cộng sản và chuyển sang chế độ dân chủ để khôi phục lại các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc như Croatia?

Việt Nam đứng thứ 95 trong bảng xếp hạng hạnh phúc

Hai Tran and Hoa Do shared a link.
DANTRI.COM.VN
(Dân trí) – Bảng xếp hạng chỉ số hạnh phúc của Liên Hợp Quốc đã xếp các quốc gia Bắc Âu ở vị trí đầu bảng dựa trên các yếu tố về thu nhập, chính sách xã hội, sự thịnh vượng và tín nhiệm. Việt Nam xếp vị trí 95 trong danh s….

“Xưa anh là kẻ nghiện sông hồ,”

Suy Tư Chúa nhật thứ 15 thường niên năm B 15/7/2018

(Mc 6: 7-13)

Người gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trừ quỷ.  Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. Người bảo các ông: “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.” Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.

 & & &

“Xưa anh là kẻ nghiện sông hồ,”

“Đây đó lan dài gót lãng du”

(dẫn từ thơ Nguyễn Bính)

Gót lãng du, có là gót giày nện của nhà thơ đi đây đó? Nghiện sông hồ, có là nỗi niềm của người anh, lâu rày đó đây, xuất hiện ở bầu trời nhiều dấn bước theo chân Chúa, rất lâu ngày chăng?

Trình thuật thánh Máccô, nay kể về sinh hoạt của các vị thánh bước theo chân Thày, hăng say mục vụ tiếp nối công trình của Chúa ở Nam Galilê. Các ngài là nhóm tông đồ đa năng, đa dạng. Có người có gốc nguồn từ xứ miền Hy Lạp như thánh Philipphê, Anrê, còn lại là người Do thái như thánh Giacôbê, Batôlômêô, Tađêô, Simôn, vv. Các đấng bậc thuộc nhóm tuyển không giỏi về học thức, cũng chẳng đạo đức như đấng bậc khắc kỷ/khổ tu, nhưng lại hân hạnh được đi theo Đấng Ngôn Sứ luôn di chuyển. Các thánh được chuẩn bị dứt đoạn với gia đình, giòng họ, xã hội cùng chòm xóm và quyết tận hiến cho Ngài.

Một số vị như thánh Tađêo, ta được biết chỉ danh tánh, mà thôi. Còn thánh Phêrô, Giacôbê vẫn nổi danh là lãnh tụ nhà Đạo ở thế kỷ đầu. Cũng tựa như Đức Giêsu, thánh Phêrô không để lại bút tích nào để thế hệ sau này theo đó mà biết rõ. Riêng thánh Phêrô lại đã trao quyền quản cai hội thánh ở Giêrusalem cho thánh Giacôbê để đích thân khơi mào sứ vụ đặc biệt cho dân ngoại ở Syria. Các đấng bậc trổi trang về thừa sai/mục vụ phải kể đến là thánh Phaolô từng sống cùng thời với Chúa, nhưng chưa một lần giáp mặt Ngài. Thánh Phalolô cũng là tông đồ đắc lực của Chúa nhưng thánh nhân lại không ở trong cùng nhóm Mười Hai. Trái lại, thánh nhân từng bách hại người của Chúa và cuối cùng lại đã trở thành tông đồ đắc lực hơn cả. Các tông đồ của Chúa đều có chung một đặc điểm là hết lòng tin tưởng vào Thày Chí Thánh đáp lại lời kêu gọi mọi người cùng hợp tác trong rao giảng Tin Mừng.

Thật ra, có ba nhóm tông đồ gần cận Chúa hoạt động theo kiểu vòng tròn khép kín gồm các bậc vị vọng sinh hoạt rất đắc lực. Nhóm đầu là nhóm 12. Nhóm thứ hai gồm các nữ phụ, trong đó có Maria Mađalêna, chị em nhà Lazarô ở Bêthania, cùng Joanna vợ của Chuza (thượng thư của Hêrôđê), cả Maria mẹ của thánh Giacôbê nữa. Viết Tin Mừng, các thánh sử chăm chút ghi tên các nữ phụ này và coi các bà là người theo Chúa hầu để được sẻ san lời Ngài dạy và giúp chất liệu cho thế hệ nối tiếp phục vụ Hội thánh.

Các bà là những người vẫn quẩn-quanh bên Chúa khi Ngài dấn bước vào chốn khổ hình của thập tự. Và, các bà còn là chứng-nhân đầu hiện diện ở mộ phần ngay vào lúc Chúa sống lại. Trong lúc ấy, nhóm 12 lại cứ lánh mặt vì hãi sợ, chủ bại. Với người cùng thời với Chúa, sự cộng tác của bậc nữ lưu dám để chồng ở lại nhà mà theo Chúa, đã gây tai tiếng không ít cho người ngoài cuộc. Nhưng Chúa đi ngược lại qui ước vẫn có ở xã hội thời Ngài sống.

Nhóm thứ ba, là các vị có cảm tình với công trình của Chúa thi thoảng mới tham gia sinh hoạt để giúp Chúa, thôi. Các vị nổi danh như: Ladarô, Nicôđêmô, Zakê, Giuse thành Arimathêa, đều là đấng bậc không rời bỏ gia đình và xã hội mà các vị đang sống, mà chỉ phụ giúp Chúa một đôi lúc, thôi.     

Tuy các bậc nữ lưu trên, tuy đã thực hiện công việc thừa-tác cho Chúa là thế, nhưng vẫn không được Hội thánh gọi là “tông đồ” bao giờ hết. Lý do là bởi, cụm từ “tông đồ” bên tiếng Do thái có nghĩa “tamid” hoặc “tamilda” tiếng Aram, không phải là giống cái. Tự vựng Aram không có từ “tông đồ nữ” và cũng chẳng có danh từ “nữ phụ làm tông đồ” để đối chọi với từ nam tông-đồ được sử dụng rộng rãi trong văn chương chữ viết của Do thái. Tuy nhiên, với cộng đoàn Phaolô, nữ giới vẫn đồng quyền về mọi mặt với nam nhân, từ việc nguyện cầu cho đến nghi tiết phụng vụ hoặc mọi công tác được ngôn sứ thi hành.

Thời thánh Phaolô đến mãi về sau, nhóm 12 lại đã trở nên thành-phần quan trọng không thể thiếu trong Đạo. Tuy nhiên, vai trò của các ngài chỉ mang tính tượng trưng rất tri thức chứ không có thực lực ở xã hội ngoài đời. Cộng đồng người Do thái gồm tất cả 12 chi tộc phân tán rộng, trong khi đó nhóm 12 lại vỏn vẹn chỉ gồm 12 vị chuyên chăm hỗ trợ cho thánh hội ngõ hầu giúp duy trì quyền thừa kế Chúa hứa ban cho dân Ngài. Xem thế thì, nhóm 12 lại đã tượng trưng cho cộng đồng dân tộc theo cung cách thu nhỏ kiểu “bỏ túi”, khá vi mô.

Ý Chúa chỉ muốn thế. Ngài chủ trương tái tạo Israel gồm chỉ 12 chi tộc gọn nhẹ. Và, Ngài những muốn cải tổ niềm tin ở dân con mọi người, khởi từ nhóm 12 được tuyển chọn, giống hệt đất nước Israel nhờ vào ân huệ trinh trong, cô đọng. Chúa đã sai nhóm 12 của Ngài đi khắp chốn để truyền rao Tin Mừng Ngài đem đến; nhưng, các thánh cũng chẳng đi đâu thật xa, mà vẫn chỉ khu vực gần cận thôn làng bé nhỏ quê miền đồng nội có người địa phương thân thương sống quẩn-quanh đây đó qua nếp sống cơ bản theo khuôn thước xã hội vùng Địa Trung Hải thời cổ xưa.

Nói chung thì, các thôn làng nơi đó chỉ là khu chung sống rất bé nhỏ thật vắng lặng, chứ không là chốn thị thành phồn hoa phức tạp, đầy kích bốc. Các thôn làng nơi đó, chẳng có cao ốc với hội đường gì trổi bật nhưng các ngài vẫn đến tụ tập đều đặn, ít là vào ngày Sabát. Quây quần nơi phố chợ hoặc khu vực râm mát có cơ ngơi chỉ gồm những người gần gũi/thân quen thôi. Ai nấy quây quần quyết xây dựng một cộng đoàn mang tinh thần giao hoà mộng ước, rất phải lẽ.

Đức Giêsu chẳng hề khuyên bảo đồ đệ Ngài phải dựng xây tinh thần một Israel mới -mẻ như những hội thiện nguyện khác hẳn cộng đoàn. Bởi nơi đó, đã có sẵn cộng đoàn từng hoạt động hệt như thế. Ngài không thôi thúc dân con mọi người hãy rời bỏ gia đình mà đến với làng mạc rày đây mai đó thành đám du mục chẳng định hướng. Ngài không đòi họ tập trung sinh sống theo cung cách riêng tư cá thể. Nhưng, theo từng nhóm nhỏ cộng đoàn như ta thấy. Ngài không muốn mọi người sống chuyên chăm nhiệm nhặt, tức chẳng để tâm gì về thể chất, xác phàm. Điều Ngài bận tâm là dạy họ biết lắng tai nghe sứ điệp cần thiết để được chữa lành, thứ tha và về với quyết tâm đổi mới cuộc đời. Ngài muốn dân con của Ngài kiến tạo một Israel thực sự đổi mới con người mình.

Quê nhà, họ trở về cũng sẽ là các khu vực gần cận bên nhau. Chính vì gần cận, nên phần đông trong họ sẽ đi vào quan hệ mật thiết như người gần gũi rất thân quen. Mỗi làng/xã sẽ sinh hoạt theo kiểu riêng tư dễ phân biệt, ngoại trừ những khủng hoảng liên quan đến tình trạng của đất nước họ. Thật khó cho người ở ngoài chịu trở về sống ở thôn làng nơi mà người cùng làng lại xử sự cách khác nhưng đôn hậu, mật thiết. Muốn được thế, người người phải tham gia nhập cư theo cung cách hiền hoà, phải lẽ. Chính đó là ý Chúa muốn sai phái đồ đệ ra đi từng nhóm đến với thôn làng để các ngài không bị ai ám hại, hoặc gây khó. Đằng khác, đi từng cặp, cũng để thực hiện sứ vụ thừa sai cho dễ hơn là chỉ một mình đơn độc, không người giúp.

Ra đi về với thôn làng hiền lành, các thánh được dặn không mang theo cơm áo, gạo tiền. Cũng chẳng bận tâm chuyện sửa soạn giày dép, áo mão hoặc gậy gộc dù đi xa. Nhưng vẫn gọn nhẹ. Giản đơn. Đi như thế, mới giống cung cách của người túng thiếu/nghèo hèn, ở trong huyện. Chẳng khó dễ, cũng chẳng gây trở ngại cho ai, dù người ấy có là giới cầm quyền hoặc những vị chỉ tính chuyện tranh giành, chấp nhất. Lệ làng về tính hiếu khách sẽ là kim chỉ nam giúp các thánh thực hiện tính giản đơn, hèn mọn, không câu nệ. Nhất nhất nơi nào các thánh đến, cũng không dừng lại lâu. Không đi quanh quất/khất thực, mất thể diện. Và, chỉ chấp nhận những gì người nhà bố thí cho ăn mặc mà thôi. Nói chung, các thánh vẫn phải ăn ở hiền lành, cư xử cho phải phép cả với người hiếu khách, lẫn kẻ ngược ngạo, bạo hành.

Đến đâu, các ngài cũng nên chuyện trò thân mật. Kể cho nhau nghe những việc được Chúa quan tâm dạy bảo; nếu cần, phải chữa lành và tha thứ theo cách thế hiền từ Thày từng làm mẫu. Và, việc chữa lành Chúa dặn, cần được tiếp tục và hành xử đầy lòng tha thứ, để người người có cơ hội gần cận Chúa. Làm như thế, mới chứng tỏ được rằng: Nước Trời đã đến với thôn làng bé nhỏ để người người hoàn thiện cuộc sống, như Chúa muốn.

Trình thuật thánh Máccô kể hôm nay, được đặt chung với trình thuật về cuộc đời hoạt động công khai của Chúa quyết đổi mới Israel như Hội thánh Nước Trời, theo ý Chúa. Áp dụng vào với thánh hội thời hiện tại, thật cũng khó. Khó, là bởi các đấng bậc chủ quản hôm nay, vẫn tự hào mình là các đấng bậc kế vị nhóm 12, nhưng lại không dám rời bỏ của cải, bạc tiền cùng những thứ xa hoa, lộng lẫy để về sống đời chân chất, mọn hèn. Vấn đề đặt ra cho các đấng bậc đang chủ trì Hội thánh hôm nay, là: làm sao sống giản dị như Thày mình đòi hỏi. Có thế, mới yêu cầu mọi người sống như mình.

Tuy là khó, nhưng không có nghĩa là thánh hội mình không có lối thoát để bắt chước Chúa và nhóm 12 chấp nhận sống bình dị như người thường ở huyện. Tức, không giàu và cũng chẳng sang, chỉ làng nhàng đủ sống. Tức, sống dễ dàng, không áp đặt cấu trúc/luật lệ nào cầu kỳ, bắt buộc phải phấn đấu. Nhưng, quyết áp dụng nguyên tắc nhập thế và nhập thể, hầu chịu hạ mình xuống để sống hoà đồng cùng các người em mọn hèn, ở trần thế. Để được thế, Hội thánh hôm nay còn phải ngang qua nhiều hành trình xuyên suốt, rất quyết tâm.

Trình thuật theo thánh Máccô hôm nay sẽ là khởi điểm với đầy quyết tâm như thế. Quyết tâm dấn bước. Vui vẻ chấp nhận đời bình dị của người bình thường ở huyện, chốn thấp hèn. Để rồi, thánh hội mình dám xác chứng với người bình thường ở mọi nơi rằng: họ mới là dân con thực thụ, của Đức Chúa.

Trong tâm tình đó, có lẽ cũng nên ngâm tiếp lời thơ vừa khởi xướng rất như trên, rằng:

“Xưa anh là kẻ nghiện sông hồ.

Đây, đó, lan dài gót lãng du.

Về, chẳng có kỳ, đi chẳng hẹn.

Như, mây mùa thu, lá mùa thu.”

(Nguyễn Bính – Chú Rể Là Anh)

Là anh hay em, cũng một chú rể bình dị ở huyện nhà. Là, kẻ những “nghiện sông hồ”, “đây, đó, lan dài gót lãng du” rất mùa thu. Mùa, của những đi mà không hẹn. Về, cũng chẳng kỳ hạn. Vẫn ra đi dựng xây thánh Hội giản đơn. Bình dị, lành thánh. Tuy rất nghèo hèn, nhưng hạnh ngộ.          

                         Lm Kevin O’Shea DCCT biên soạn – 

 Mai Tá lược dịch

“Ðã có những lúc chán chường “

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 15 Thường niên năm B 15-7-2018

“Ðã có những lúc chán chường “
Chán cho đời sao buồn quá.
Mắt có những lúc đã hoen mờ,
Vì sầu không đâu, không tên.”

(Văn Phụng – Chán nản)

 (Thư Philípphê 1: 7-10)

 Chán nản lắm ư? Chán hết mọi chuyện trên đời, hay chỉ “chán cho đời sao buồn quá” hoặc chán chết, hết mọi chuyện? Thế, bạn và tôi có chán cả câu truyện kể rất đáng chán như bên dưới:

“Có lần, hai nhân viên thuộc công-ty khí đốt nọ, một người đã lớn tuổi, người kia hãy còn trẻ đang đi kiểm tra tình hình thời sự ở vùng ngoại ô nọ. Hai vị đỗ xe ở cuối đường rồi đi bộ đến xem từng nhà một. Sau khi kiểm tra khí đốt ở căn nhà cuối đường xong, nhân viên lớn tuổi đề-nghị chạy đua về chỗ đỗ xe với người trẻ tuổi để chứng-tỏ là ai khoẻ hơn ai.

 Trong khi chạy hết tốc-lực đễn chỗ đỗ xe họ bỗng thấy người đàn bà ở căn nhà mà họ mới vừa ra khỏi cũng đang hộc tốc chạy theo sau, vừa thở vừa la ơi ới. Hai người bèn dừng lại xem chuyện gì xảy ra mà bà la to thế:

-Có chuyện gì thế, thưa bà?

-Chúa, Phật ơi! Tôi cũng đang tự hỏi xem có chuyện gì xảy ra mà hai ông chạy bán sống bán chết đến như thế. Khi thấy hai ông tự dung chạy trối chết như thế, tôi bèn nghĩ: hay hơn hết, tôi cũng nên chạy theo xem có chuyện gì xấu không? Thì ra, chả có chuyện gì cả. Thật rõ chán.” (Truyện do St kể)

À thì ra, “chả có chuyện gì cả, thật rõ chán!” đúng là câu nói cửa miệng của nhiều người, suốt một đời.  Thế nhưng, đời người còn chán hơn nhiều giả như ta gặp đủ thứ người hoặc đủ thứ chuyện, mà người nào, chuyện gì cũng đều “chán như cơm nếp nát”, hết mọi sự. Bạn không tin như thế ư? Thì đây, mời bạn và tôi, ta nghe thêm một truyện kể khác, cũng rất ư là “chán mớ đời”, sau đây:

“Truyện rằng,

Trong khách sạn lớn thuộc hạng sang ở thành-phố, có bà khách đi thang máy thấy anh gác thang suốt ngày cứ đứng lên ngồi xuống mở cửa đóng cửa cho khách trú ngụ, rất ư là đáng chán, bèn buông lửng một câu hỏi nhỏ, rằng:

-Lên lên xuống xuống mãi thế này, anh có thấy chán hoặc nản lắm không?

-Dạ thưa không. Nghề của con mà, thím.

-Lên nhiều mới chán vì mệt chứ đi xuống thì có gì đâu mà phải phàn nàn, đúng thế phải không?

-Dạ thưa không phải thế.

-Thế thì, xuống nhiều mới chán chứ gì?

-Dạ cũng không phải thế.

-Thế thì khi nào anh thấy chán chường nhất?

-Dạ, khi gặp phải các cụ, cứ là hỏi mãi có một chuyện không biết chán, ạ!”(Truyện kể nghe đến chán nhưng vẫn kể)

Quả có thế. Việc gì, cứ lặp đi lặp lại nhiều lần cũng đều đáng chán hết. Chí ít, là viết phiếm, viết bài hoài hoài đến …chán chết. Vâng. Nội mỗi tự vựng “Chán chết” thôi, cũng hàm ngụ đủ thứ chuyện ở trong đó. Có khi là, “chán đến chết”. Có lúc, là: “chán muốn chết”. Ấy chết, lại nói gì thế? Chán đến độ muốn chết sao? Thế, bạn có cam đoan rằng: chết rồi hết chán không? Cái đó, xin hạ hồi phân giải. Nay, ta bàn chuyện rất “đáng chán”, nhưng không thể làm khác được. Đó là, phiếm luận hay phiếm loạn, cho giải cơn sầu/buồn đến chán ngán, hôm nay hoặc mai rày.

Vâng. Không gì đáng chán và phát chán, như việc bàn mãi chuyện thần-học, hoặc học về thần riết rồi cũng nản, hết muốn viết tiếp. Như, tâm trạng của bần đạo ở đây bây giờ. Thôi thì, chỉ xin nói thêm một sự với bạn, rằng thì là: không bàn chuyện thần-học thì mấy cha, mấy nội bàn chuyện gì bây giờ? Luân lý, đạo đức hoặc tu-đức, tu tỉnh với tỉnh tu đâu cơ chứ?

Vậy thì, mời bạn, và mời tôi ta nhập cuộc. Thế nhưng, trước khi đi vào cuộc, hãy để lòng mình trùng xuống với tâm tư, tình-tự của bài hát “chán chường” mà nghe tiếp những lời như:

    Tay đôi tay yếu đuối, dâng lên chới với giữa trời.
Than van cho thân kiếp đoạ đày.
Đời bao xót xa. Nhìn lá rơi, mùa Thu chết rồi!
Gió gió cứ rít lên. Xuyên qua tim tôi. Xuyên qua làn môi.
Gió gió đã cuốn đi Bao nhiêu ước mơ – Ôi, xa vời!
Sóng sóng đã cuốn đi. Cuộc đời tốt tươi.
Buồn ơi, chán ơi!

Ðã có những lúc chán chường. Chán cho đời sao buồn quá.
Mắt có những lúc đã hoen mờ. Vì sầu không đâu, không tên.
Tay đôi tay yếu đuối. Dâng lên chới với giữa trời.

Than van cho thân kiếp đoạ đày.
Đời bao xót xa.
Nhìn lá rơi, mùa Thu chết rồi!
Gió gió cứ rít lên. Xuyên qua tim tôi.
Xuyên qua làn môi. Gió gió đã cuốn đi
Bao nhiêu ước mơ – Ôi, xa vời!
Sóng sóng đã cuốn đi Cuộc đời tốt tươi
Buồn ơi, chán ơi!

(Văn Phụng – bđd)

Như đã kể, còn gì chán ngán cho bằng, ở nhà Đạo, lại cũng thấy những giây phút chán ngán, chán nản khi có người viết thư về hỏi đấng bậc, nhưng câu như:

“Thưa Cha,

Con vẫn hiểu là Đức Giáo Hoàng Phanxicô có lần bảo rằng: Hỏa ngục không có thật và linh-hồn của những người từng chối bỏ Chúa, cuối cùng rồi cũng biến mất. Thưa, có thật là Đức Giáo Hoàng từng nói thế không?”

 Đúng ra, bổn đạo nói trên phải hỏi là Đức Giáo Hoàng có ý gì khi nói thế, mới ra nhẽ. Thôi thì, hỏi thế nào thì hỏi. Đấng bậc vị vọng nhà Đạo cũng xung phong giải đáp thắc mắc, cho ngọn ngành để bá quan văn võ trong Đạo hiểu được ý của Đấng bậc rất trên cao. Và câu trả lời, được ghi như thế này:

“Có điều khá chắc chắn là: Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã không nói điều đó. Giống như mọi Kitô-hữu, ngài cũng tin vào hỏa-ngục và lâu nay ngài nói về chuyện ấy một vài lần trong thời gian năm năm trên cương-vị một Giáo-chủ.

 Sự thể về câu nói vốn dĩ làm nhiều người hiểu lầm, là do vị ký-giả hồi hưu nay đã 93 tuổi đời, trước đây ông từng là tổng-biên-tập tờ La Republica và tuyên-bố mình vô thần vốn dĩ là bạn thân của Đức Giáo Hoàng.

 Trong buổi bàn luận với Đức Thánh Cha Phanxicô xảy ra hồi gần đây, cụ ông Scalofari có viết trên báo vào ngày 28/3/2018 rằng: Đức Giáo Hoàng có nói với cụ là: “Hỏa ngục không có thật”, thế nên linh-hồn của những ai chối bỏ Chúa vào cuối đời mình thì cũng chỉ chấm-dứt hiện-hữu, thôi.        

 Theo ông Greg Burke là phát-ngôn-viên tòa thánh Vaticăng thì Đức Giáo Hoàng Phanxicô “có mời ông đến bàn chuyện nhân mùa Phục Sinh”, nhưng buổi này nhất quyết không phải là buổi phỏng-vấn chính-thức như các lần trước. 

Các lần phỏng vấn Đức Giáo Hoàng trước đây, vào năm 2013 và 2015, cụ Scalfari đã không ghi chú và cũng chẳng thu băng điều gì, nên về sau buộc phải viết lại những lời đối-đáp dựa nhiều vào trí nhớ, và lần này cũng thế.

 Thực tế cho thấy, Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng đã nhiều lần đề-cập đến Hỏa ngục. Có lần, vào năm 2014, để cảnh-giác nhóm Mafia băng-đảng, Đức Giáo-Hoàng có nói: “Hãy hồi hướng trở về! Nay, vẫn còn nhiều thời-gian để rồi không ai phải rơi xuống chốn lửa ngục. Đó là những gì đang chờ đón quí vị nếu quí vị cứ tiếp tục theo con đường này. Bà con, ai cũng có cha có mẹ: hãy nghĩ đến các ngài, Hãy khóc lên một tiếng rồi hồi hướng trở về.”

 Và rồi, trong tông-thư ngài viết vào Mùa Chay năm 2016, ngài có viết: “mối hiểm-nguy vẫn còn đó, chỉ cần liên-tục chối bỏ không mở rộng cửa tâm-hồn cho Đức Kitô đang gõ vào cửa ngõ của người nghèo, thì người tự-hào, giàu sang và quyền-thế rồi kết cục cũng sẽ tự lên án chính mình và sẽ đầm mình trong vực thẳm đầy cô-đơn tức Hỏa-ngục.”

 Giáo-huấn Hội thánh về Hỏa ngục vẫn còn đó, nói rất rõ. Trong Sách Giáo lý Hội thánh Công-giáo, ta đọc được những giòng chữ như: “Ai chết với tội trọng mà không chịu hối-cải cùng chấp-nhận tình thương nhân-lành của Chúa có nghĩa là cứ ở lại mãi trong sự chia cách tách rời họ mãi do mình tự-do chọn lựa. Tình-trạng tự tách rời khỏi sự kết-hợp mật-thiết với Chúa và những vị lành thánh gọi là ‘Hỏa ngục’. (Sách Giáo Lý Hội thánh Công giáo đoạn 1033). Sách Giáo lý còn tiếp tục dạy: “Giáo-huấn Hội-thánh khẳng-định sự hiện-hữu vô cùng vô tận của Hỏa ngục.” (GLHTCG đoạn 1035)

 Thành ra, Hỏa ngục là có thật. Và chắc chắn một điều, là: không phải Chúa tống khứ con người xuống Hỏa ngục nhưng đúng hơn, chính những ai từ chối không nhận-lãnh tình thương của Chúa a vì thế mới chối bỏ Chúa và ở lại mãi trong tình-cảnh rời xa Ngài mãi mãi do chính những người ấy tự chọn.

 Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô thứ 16 cũng bình-luận, bảo rằng: “Trong trường hợp nào đi nữa, Thiên-Chúa không bao giờ thúc ép một ai vào con đường cứu-độ. Chúa chấp-nhận tự do của con người. Ngài không là phù-thủy chỉ biết mỗi việc cuối cùng rồi ra cũng xóa bỏ mọi sự vẫn xảy ra lâu nay rồi cuối cùng cũng đem đến cho mọi người mối phúc-hạnh họ trông chờ.

 “Thiên-Chúa đích-thực là người Cha, là Đấng Tạo Hóa ban phát tự do cho mọi người, cả khi họ sử-dụng nó để chống lại Ngài. Vì lý do đó, mà lòng Ngài luôn muốn cứu rỗi con người, nhưng điều này không có nghĩa là Ngài can-dự vào việc cứu hết mọi người. Ngài ban cho ta quyền chối-bỏ lòng tốt của Ngài. Thiên-Chúa thương yêu ta; nên ta chỉ cần tỏ ra khiêm hạ để cho phéo Ngài yêu thương mình, là đủ.” (X. God is Near Us, Ignatius 2003, tr. 36-37)…

Thành thử, ta hãy lợi-dụng những lúc người đời tung ra những “tin thất thiệt” sai sự thật, để nói chuyện với người khác về Hỏa ngục. Càng nói nhiều càng tốt. Với ta, chưa bao giờ là cơ hội thuận-tiện để bàn bạc về Thiên-đàng và Hỏa ngục, bằng lúc này đây.” (X. Lm John Flader, “Francis takes Hell deadly seriously: bank on it”, The Catholic Weekly 15/4/2018 tr. 21)

Có tranh-luận về nỗi chán chường, hoặc như đấng bậc nhà Đạo gọi là “Hỏa ngục” nơi con người, rồi ra cũng chẳng thuyết phục được mấy ai. Bởi, mỗi người trong cương-vị của mình, ít nhiều đều đã có kinh-nghiệm bản thân về những điều như thế. Thế nên, thay vì cãi/tranh dài dòng đến vô tận, thì bạn và tôi cũng nên quay về với lời ca ở trên để cùng cảm-tức những tình-tự của người viết mà thấm-thía.

Hôm nay hoặc mai rày trong cõi đời trải dài nhiều lữ-thứ, cũng không nên để tâm nhiều đến những biện-luận chỉ khiến người viết và/hoặc người đọc ngày thêm xa lánh, tránh mặt nhau. Chi bằng, ta cứ hát lên lời ca trên, để rồi hòa cùng một nhịp với tác-giả bài rất lao xao, rộn rạo như sau:

“Đời bao xót xa.
Nhìn lá rơi, mùa Thu chết rồi!
Gió gió cứ rít lên. Xuyên qua tim tôi.
Xuyên qua làn môi. Gió gió đã cuốn đi
Bao nhiêu ước mơ – Ôi, xa vời!
Sóng sóng đã cuốn đi. Cuộc đời tốt tươi
Buồn ơi, chán ơi!

(Văn Phụng – bđd)

Bạn và tôi, chắc cũng như mọi người đều biết: nhạc-sĩ Văn Phụng là tác-giả chuyên viết nhạc vui để mọi người quên nỗi chán chường của cuộc đời. Hôm nay đây, sở dĩ ông viết những giòng thơ đầy ý nhạc lã chã buồn như thế, cũng chỉ để an ủi bạn và tôi, trong chuỗi ngày dài nhiều nghĩ suy về cuộc đời, mà thôi.          

Nhận định thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta quay về vườn thượng-uyển với lời vàng của bậc thánh-hiền chứa đựng nhiều niềm vui hơn, như sau:

“Tôi có những tâm tình như thế đối với tất cả anh em,

đó là điều hợp lý,

bởi vì tôi mang anh em trong lòng tôi.

Khi tôi bị xiềng xích,

cũng như lúc tôi bênh vực và củng cố Tin Mừng,

anh em đều thông phần vào ân sủng tôi đã nhận được.

Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi:

tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả,

với tình thương của Đức Kitô Giêsu.

Điều tôi khẩn khoản nài xin,

là cho lòng mến của anh em ngày thêm dồi dào,

khiến anh em được ơn hiểu biết và tài trực giác siêu nhiên,

để nhận ra cái gì là tốt hơn.

Tôi cũng xin cho anh em được nên tinh tuyền

và không làm gì đáng trách,

trong khi chờ đợi ngày Đức Kitô quang lâm.

(Thư Phillíphê 1: 7-10)      

 Trần Ngọc Mười Hai

Nay nhất quyết

không hát nhạc buồn nhiều chán ngán

của bất cứ ai đang buồn chán

chốn nợ đời

mà thôi.

LOAN BÁO TIN MỪNG

LOAN BÁO TIN MỪNG

Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam ghi lại tên tuổi hai vị giáo sĩ truyền giáo nổi tiếng: Đức Cha Lambert de la Motte và Đức Cha Francois Pallu.  Vào thế kỷ 17, Toà Thánh đã đặt hai giám mục này làm Giám Quản Tông Toà đầu tiên ở Việt Nam: Đức Cha Lambert de la Motte phụ trách Đàng Trong (từ sông Gianh trở vào Nam) kiêm Camquchia, Lào, Thái Lan. Đức Cha Francois Pallu phụ trách Đàng Ngoài (từ sông Gianh trở ra Bắc) kiêm Trung Quốc.

 Đức Cha Francois Pallu là người pháp, từ bỏ gia đình và quê hương vào ngày 3.1.1662, ngài dùng tàu buồm vượt qua Địa Trung Hải rồi men theo đường bộ một thời gian lâu dài, qua hết các nước Trung Đông, Vịnh Ba Tư, Ấn Độ mới đến Thái Lan.  Năm 1670, trên đường đến miền Bắc Việt Nam, lúc đi ngang qua Huế, thuyền của ngài bị một cơn bão đánh giạt vào Philippin.  Ngài bị người Tây Ban Nha bắt bỏ tù rồi đem giải về Tây Ban Nha.  Với sự can thiệp của Toà Thánh, Tây Ban Nha trả tự do cho Đức Cha.  Tuy phải trải qua nhiều gian khổ, nhưng tim ngài vẫn luôn sáng chói một niềm hy vọng.  Ngài nói: “Tôi phải đem Tin Mừng đến tận Trung Quốc.”  Vừa được trả tự do, ngài tìm mọi cách đến Bắc Kinh, và cuối cùng thân xác ngài được chôn vùi tại đây theo như ngài mơ ước.  Một câu nói của ngài đáng cho chúng ta ghi nhớ: “Tôi tự cho mình hạnh phúc nếu có thể đem xương cốt mình bắc một nhịp cầu tới Bắc Việt và tới Trung Quốc!”

 *********************************

 Thưa anh chị em, cuộc đời truyền giáo của Đức Cha Francois Pallu tại đất nước ta cũng như biết bao nhà truyền giáo khác trên thế giới gắn liền với đời tông đồ và cái chết tử đạo của mười hai Tông Đồ.  Chính Chúa Giêsu tuyển chọn Nhóm Mười Hai để nhóm này ở lại bên Ngài và để được huấn luyện.  Mục tiêu của huấn luyện là để các ông trở nên những người được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa.  Ngay từ khi còn ở trần gian, Chúa Giêsu đã thấy mình đứng trước một cánh đồng mênh mông, có biết bao nhiêu người cần được nghe Tin Mừng cứu độ.  Ngài thấy mình cần những cộng tác viên nhiệt thành cho công cuộc truyền bá Tin Mừng.  Chúa Giêsu đã trao tất cả những gì mình có cho Nhóm Mười Hai: quyền rao giảng, chữa bệnh, trừ quỷ.  Hoạt động của các ông là một sự nối dài và mở rộng sứ vụ của mình Chúa Giêsu.

Chia tay Thầy Giêsu, Nhóm Mười Hai lên đường.  Đâu là hành trang của người tông đồ?  Chúa Giêsu trả lời: “Không được mang gì khi đi đường.”   Không bánh trái, không bao bì, không tiền bạc, không mặc hai áo.  Như thế, các ông lên đường với tất cả sự nhẹ nhàng.  Càng nhẹ nhàng thì càng dễ thi hành sứ mạng và càng được tự do hơn.  Tuy nhiên sự nhẹ nhàng này thật là một thách đố.  Khi người tông đồ phải lên đường với hai bàn tay trắng, không có lộ phí, không có lương thực dự trữ, lúc đó họ phải hoàn toàn lệ thuộc vào lòng nhân hậu của Thiên Chúa và lòng tốt của tha nhân.  Ra đi tay trắng như thế là chấp nhận mọi bất trắc có thể xẩy ra dọc đường, nhưng cũng là đặt mình thường xuyên dưới sự quan phòng của Chúa.  Chính Chúa lo mọi sự cho tôi, để tôi chuyên tâm lo việc của Chúa.  Sự an toàn của tôi không dựa vào những phương tiện trần thế, nhưng vào chính Thiên Chúa.

Chúa Giêsu cũng dạy cho các ông biết thái độ phải có khi đến với dân chúng.  Nếu được đón tiếp thì hãy ở lại, không tìm một nhà khác tiện nghi hơn.  Người tông đồ cần có đời sống nghèo, đón nhận những gì được trao cho mình với lòng biết ơn.  Nếu không được đón tiếp thì cũng không nên nản lòng.  Cử chỉ giũ chân ra đi cho thấy người tông đồ chẳng hề muốn lấy đi điều gì ở nơi đã từ chối đón tiếp mình.

Anh chị em thân mến, hôm nay, Chúa Giêsu Phục Sinh cũng sai chúng ta đến với thế giới.  Thế giới không phải là chuyện xa xôi.  Thế giới là nơi chúng ta đang sống, đang làm việc.  Thế giới là gia đình, bạn bè, là trường học, cơ quan, xí nghiệp.  Thế giới là nơi giải trí, nơi du lịch, bãi biển.  Thế giới là sách báo, phim ảnh, video, quảng cáo.  Thế giới là mọi ngành khoa học, nghệ thuật, văn chương.  Chúng ta ở trong thế giới và Chúa muốn sai chúng ta đi vào thế giới của mình trong tư cách là người Kitô hữu.  Kitô hữu là người có khả năng biến đổi thế giới mình đang sống để nó biến thành thế giới của Thiên Chúa.  Các Tông Đồ đã rao giảng, đã mời gọi con người hoán cải để đón nhận Nước Thiên Chúa gần bên.  Tất cả những gì phá huỷ phẩm giá con người, loại trừ sự sống của Thiên Chúa, đều phải bị loại trừ.  Kitô hữu là người phải hoán cải trước khi mời gọi người khác hoán cải, phải tỉnh thức trước khi đánh thức người khác, phải thuộc về Chúa trước khi trừ quỷ.

Thế giới hôm nay cũng là một thế giới bị thương tích, cần được chữa lành.  Bệnh tật của thân xác và bệnh tật của tinh thần vẫn hoành hành trên thế giới.  Con người đau khổ vì mất lòng tin, lo âu, tuyệt vọng.  Con người nô lệ cho chính những sản phẩm của mình.  Tiến bộ khoa học kỹ thuật lại đặt ra những vấn đề mới mà tự sức con người không giải quyết được.  Kitô hữu là người tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, băng bó vết thương của thế giới bằng sự hiện diện đầy yêu thương.

Chúng ta không rõ nếu hôm nay Chúa Phục Sinh chỉ thị cho chúng ta, thì Ngài sẽ nói gì trước khi ngài sai chúng ta ra đi.  Chắc Ngài sẽ nói khác với đoạn Tin Mừng hôm nay, những ý chính vẫn không thay đổi.  Ngài dạy chúng ta tin cậy vào quyền năng của Thánh Linh hơn là vào khả năng và phương tiện tự nhiên của mình.  Ngài nhắc nhở chúng ta tín thác vào Cha trên trời, và chuyên cầu cầu nguyện, vì chẳng ai có thể rao giảng Tin Mừng nếu không có tình bạn thân thết với Chúa.

Mỗi Thánh Lễ Chúa Giêsu tập họp chúng ta lại thành một cộng đoàn môn đệ của Ngài, để rồi sai chúng ta ra đi loan truyền Tin Mừng Phục Sinh của Ngài cho mọi người ở mọi nơi.  Tin Mừng này chỉ có thể được công bố bằng cuộc sống làm chứng của mỗi người chúng ta và của Giáo Hội, một cuộc sống trung thành với Chúa Giêsu nghèo khó và chịu đóng đinh thập giá.  Đó là bằng chứng đáng tin của tình thương cứu độ mọi người.

Trích trong “Niềm Vui Chia Sẻ”

SỰ PHẪN NỘ MANG TÊN KAILASH SATYARTHI

Bang Uong

Kailash Satyarthi Sinh Ra Tại Một Đất Nước Phật Giáo, Từ Nhỏ Đã Được Dạy Cách Chấp Nhận Và An Tâm Với Cuộc Sống. Đó Là Cách Khôn Ngoan Nhất Để Sống, Nhưng Ông Không Chịu Chấp Nhận Như Vậy.

Ông luôn thấy trăn trở, phẫn nộ, nhất là trước thực trạng nô lệ trẻ em. Với những nỗ lực không mệt mỏi, Kailash đã tạo ra động lực mạnh mẽ thay đổi xã hội, tạo ra sự cộng hưởng, chia sẻ với cộng đồng, làm giảm bớt sự đau khổ cho con người và để có một xã hội tốt đẹp hơn.

Cùng với hoạt động Pakistan Malala Yousafzai, đã được trao giải Nobel Hòa bình vào năm 2014 “Vì cuộc đấu tranh chống lại sự đàn áp trẻ em và cho các quyền của tất cả trẻ em được học hành”, Satyarthi là người Ấn Độ thứ hai đoạt giải Nobel Hòa bình sau Mẹ Teresa vào năm 1979.

HÀO PHÓNG, VỊ THA VÀ CHU ĐÁO

“Khai thác lao động trẻ em là bất hợp pháp và vô đạo đức. Nếu không phải bây giờ, thì là khi nào? Nếu không phải chúng ta, thì là ai? Nếu chúng ta có thể trả lời những câu hỏi cơ bản này, thì có lẽ chúng ta mới có thể xóa đi những vết nhơ của chế độ nô lệ”. Đây là những gì Kailash Satyarthi, người đi đầu trong phong trào chống chế độ nô lệ trẻ em, cho biết.

Kailash Satyarthi sinh ngày 11/1/1954 tại Vidisha, Ấn Độ. Ông đã tiến hành các hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi cho trẻ em ở 144 quốc gia. Hoàn thành bằng kỹ sư điện tại Viện Công nghệ Ashock, và tham gia giảng dạy ở Trường Cao đẳng Bhopal. Ông là Tổng thư ký Mặt trận giải phóng lao động nô lệ và là Chủ tịch của Chiến dịch toàn cầu vì giáo dục. Những tác phẩm của ông nhận được các danh hiệu và giải thưởng quốc gia và quốc tế, giải Nobel Hòa bình năm 2014.

Được coi như người dẫn đường cho việc bãi bỏ lao động trẻ em ở Ấn Độ, Kailash Satyarthi đã giải cứu được hàng ngàn trẻ em khỏi các hình thức nô lệ.

Cho đến nay, tổ chức của ông, Bachpan Bachao Andolan, đã giải phóng hơn 80 nghìn trẻ em và giúp đỡ các em tái hội nhập, phục hồi chức năng và giáo dục thành công. Kailash Satyarthi giải cứu trẻ em và phụ nữ lao động nô lệ trong các nhà máy đông đúc bẩn thỉu, những nơi có điều kiện lao động thiếu thốn và nguy hiểm luôn rình rập. Để đạt được một thế giới hòa bình, điều quan trọng là các quyền của trẻ em và những người trẻ tuổi được tôn trọng.

Theo truyền thống của Mahatma Gandhi, Kailash Satyarthi đã tiến hành một cuộc đấu tranh hòa bình để ngăn chặn sự bóc lột lao động trẻ em. Ông cũng đã góp phần vào sự phát triển của các công ước quốc tế về quyền của trẻ em.


Khi Kailash Satyarthi đi học, ông thấy hai cha con cậu bé nhỏ tuổi hơn mình làm công việc sửa chữa trong trường học và đánh giày. Thay vì được đến lớp, cậu bé đánh giày cả ngày với cha mình. Cảm thấy xấu hổ và phẫn nộ vì việc này, Kailash Satyarthi vận động các bạn quyên góp sách giáo khoa và tiền cho những em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn. Năm 26 tuổi, ông từ bỏ công việc là kỹ sư điện tham gia đấu tranh chống lại chế độ nô lệ trẻ em ở Ấn Độ. Ông đã tổ chức các đội đột nhập và giải cứu trẻ em khỏi các nhà máy nơi họ bị bóc lột sức lao động.

Có tới 650 triệu trẻ em bị buộc phải làm việc trên thế giới, và đóng góp lớn nhất của Kailash Satyarthi là ông đã thay đổi cách suy nghĩ của mọi người về nạn nô lệ và đưa nó thành một vấn đề quốc tế. Kailash mạo hiểm cuộc sống của mình mỗi ngày để cố gắng giải phóng những đứa trẻ. Một trong những mục tiêu của ông Kailash trong cuộc sống là để tạo ra sự khác biệt, ngăn chặn đói nghèo và quan tâm đến quyền con người.

ĐỐI MẶT VỚI HIỂM NGUY

Lao động trả nợ là một hình thức nô lệ thời hiện đại, những người lao động mất đi quyền tự do lựa chọn. Họ buộc phải làm việc nhiều giờ với mức lương rẻ mạt. Hàng triệu trẻ em đang ở trong hoàn cảnh như vậy, gia đình các em có thể đã vay một khoản tiền từ một chủ sử dụng lao động và các em bị buộc phải lao động để trả nợ. Thậm chí có những gia đình có nhiều thế hệ cùng làm việc cho một chủ. Các điều kiện lao động trả nợ là hoàn toàn vô nhân đạo. Có những đứa trẻ chỉ 6, 7 tuổi và làm việc 14 giờ một ngày, bị đánh đập, bị ngược đãi. Những chủ sử dụng lao động thường chỉ cho ăn nửa khẩu phần vì cho rằng nếu được ăn đầy đủ, đứa trẻ sẽ trở nên buồn ngủ và chậm chạp. Đó thực sự là chế độ nô lệ thời trung cổ.

Satyarthi và đồng nghiệp của ông đã nhiều lần bị tấn công khi giải cứu nô lệ trẻ em ở các xưởng thợ may tại Delhi. Năm 2004 khi cố gắng giải cứu những lao động trẻ em khỏi sự kiểm soát của Mafia địa phương, Satyarthi và đồng nghiệp đã bị đánh đập dã man, văn phòng bị lục soát. Trong một cuốn phim tài liệu được sản xuất bởi Guardian Films, Satyarthi đã chỉ huy một cuộc đột kích để giải cứu một cô gái bị bắt làm nô lệ. Ông kể lại: “Hai đồng nghiệp của tôi đã bị bắn và bị đánh tới chết. Đây không phải là một cuộc chiến dễ dàng”.

Kailash Satyarthi và tổ chức của ông tin rằng đây là sự vi phạm nhân quyền tồi tệ: “Chúng tôi cố gắng xác định những khu vực mà tệ nạn sử dụng lao động trẻ em diễn ra phổ biến. Chúng tôi sẽ tiến hành các cuộc đột kích bí mật để giải thoát trẻ em, trả lại cho gia đình”. Họ vận động các tổ chức xã hội, các nhóm tôn giáo, những người hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của xã hội nhằm mục đích thay đổi tình hình. Những cuộc tuần hành do Kailash Satyarthi tổ chức có tới hơn một nửa là trẻ em, những người được giải thoát khỏi cảnh nô lệ tham gia. Họ là những minh chứng rõ ràng của ách nô lệ và giúp truyền thông điệp tới mọi người dân.

Thế giới đã công nhận những đóng góp của Kailash Satyarthi trong việc bãi bỏ lao động trẻ em. Ông đã tổ chức và lãnh đạo hai cuộc tuần hành lớp trên khắp Ấn Độ để nâng cao nhận thức về lao động trẻ em. Được trao giải thưởng Robert F. Kennedy Nhân quyền năm 1995 và các giải thưởng Nhân quyền Raoul Wallenberg năm 2002, 2007. Ngày 10/12/2015, Kailash Satyarthi đã được trao giải Nobel Hòa bình vì cuộc đấu tranh chống lại sự đàn áp trẻ em và thanh thiếu niên.

THAY ĐỔI NHẬN THỨC

Thành lập Tổ chức Bachpan Bachao Andolan (BBA), Kailash Satyarthi đã mang lại hy vọng cho hàng triệu trái tim, giấc mơ và nụ cười cho những người lao động nô lệ. Ông cũng là Chủ tịch của Trung tâm quốc tế về lao động trẻ em và giáo dục (ICCLE) ở Washington, Hoa Kỳ. Ngày toàn cầu chống lao động trẻ em là một phong trào nhằm huy động các nỗ lực toàn cầu để bảo vệ và thúc đẩy quyền của trẻ em, đặc biệt là quyền được nhận một nền giáo dục tự do và không bị bóc lột về kinh tế.

Được dẫn dắt bởi Kailash Satyarthi, cuộc diễu hành trên toàn thế giới với hàng ngàn người tuần hành đã đưa ra thông điệp chống lao động trẻ em. Nó đã vươn tới nhiều nơi trên thế giới, và đỉnh điểm là tại Hội nghị ILO tại Geneva. Tiếng nói của những người biểu tình đã được nghe và phản ánh trong dự thảo Công ước ILO chống các hình thức lao động trẻ em. Sau đó, nó đã được 172 quốc gia phê chuẩn, trở thành bản quy ước được thông qua nhanh nhất trong lịch sử.

Tập đoàn quốc tế độc lập Goodweave, đứa con tinh thần của ông Kailash Satyarthi đưa ra sáng kiến dán nhãn xã hội tự nguyện để đảm bảo rằng các tấm thảm được sản xuất không sử dụng lao động trẻ em. Sáng kiến này mang lại cho doanh nghiệp sự lựa chọn thay thế tích cực và đạo đức cho người tiêu dùng trên toàn thế giới. Để kiếm được các nhãn GoodWeave, xuất khẩu thảm và nhập khẩu phải được cấp phép theo chương trình chứng nhận GoodWeave và ký một hợp đồng ràng buộc về mặt pháp lý. Mỗi nhãn được đánh số và nguồn gốc sản xuất có thể được kiểm tra. Tiêu chuẩn chứng nhận GoodWeave bao gồm cả tiêu chuẩn về môi trường và xã hội, nhằm tiếp tục sứ mệnh chấm dứt lao động trẻ em bằng cách giải quyết gốc rễ của vấn đề.

Trên con đường đấu tranh vì quyền lợi trẻ em, Satyarthi không hề bị nản lòng bởi sự thờ ơ của những người có trách nhiệm, điều mà ông đã thấy ở rất nhiều nơi. Về chủ nghĩa cực đoan, ông cho rằng: Nếu trẻ em được giáo dục, chúng có thể đã tìm kiếm được các cơ hội tốt hơn trong cuộc sống chứ không phải trở thành món hời cho các nhóm cực đoan.

Với Kailash Satyarthi, chế độ nô lệ là không thể chấp nhận và là một tội ác chống lại loài người. Cuộc chiến đấu để xóa bỏ chế độ nô lệ sẽ còn kéo dài và luôn là một thách thức. Thái độ phẫn nộ của Kailash Satyarthi trước sự mất tự do của những số phận trên đất nước của ông đã trở thành động lực thúc đẩy ông đấu tranh không ngừng nghỉ cho lý tưởng của mình.

Phạm Hoàng

Lời Chúa

 Matthiêu 20:6-15

6 Hôm ấy, Đức Giê-su nói với các Tông Đồ rằng: “Anh em hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en. 7 Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. 8 Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy. 9 Đừng kiếm vàng bạc hay tiền giắt lưng.

10 Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi dép hay cầm gậy. Vì thợ thì đáng được nuôi ăn. 11 “Khi anh em vào bất cứ thành nào hay làng nào, thì hãy dò hỏi xem ở đó ai là người xứng đáng, và hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi.

12 Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy.

13 Nếu nhà ấy xứng đáng, thì -bình an của anh em sẽ đến với họ; còn nếu nhà ấy không xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ trở về với anh em. 

14 Nếu người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi nhà hay thành ấy, anh em hãy giũ bụi chân lại.

15 Thầy bảo thật anh em, trong Ngày phán xét, đất Xơ-đôm và Gô-mô-ra còn được xử khoan hồng hơn thành đó.”

Thầy Bạch gởi