Trần gian Một Khúc

Sống hòa hợp vui vẻ với mọi người xung quanh, không chấp nhất, tỵ hiềm. 

Trần gian Một Khúc

Con người ta sinh ra, ai thoát khỏi: sinh, lão, bệnh, tử ?

Sinh, Trụ, Hoại, Diệt là định luật của tạo hóa, không có cách chi thay đổi được.

Cây cối đâm chồi nảy lộc vào muà xuân, xanh tốt xum xuê trong mùa hè, lá héo vàng vào mùa thu, đến mùa đông thì lá vàng rơi rụng, chỉ còn trơ trụi cành cây. Rồi tới mùa xuân năm sau, cây lại đâm chồi nảy lộc. Cái chu kỳ sinh, trụ, hủy, diệt cứ tiếp nối nhau, không ngưng nghỉ.

Ðời người là bể trầm luân, cõi thế gian đầy những ưu tư phiền não. Vạn vật đều bị chi phối bởi luật vô thường.. 

Vừa mới sinh ra cất tiếng khóc oa oa chào đời. 

Rồi lớn lên, bước vào đời với bao nhiều mộng đẹp. Thoắt một cái, mái tóc đã điểm sương, mắt đã mờ, lưng đã mỏi, 2 chân đã chậm chạp. Rồi cuối cùng, là hai tay buông xuôi, đi vào lòng đất, bỏ lại trên thế gian tất cả các thứ mà cả đời phải bôn ba vất vả mới làm ra được..

Ðời người như giấc mộng. Người ngoại quốc cũng có câu:Life is too short. (cuộc đời quá ngắn) Thế mà, con người ta khi còn sức khỏe thì mải mê kiếm tiền, lo củng cố địa vị, danh vọng, không có thì giờ để hưởng đời đúng nghĩa.

Cũng ít ai sửa soạn tâm tư để đón nhận những cái vô thường của tuổi gìa. Ðến khi mái tóc đã điểm sương, da đã nhăn, mắt đã mờ, chân đã chậm thì mới giật mình, rồi buồn phiền, thất vọng, nuối tiếc. Khi đó, bao nhiêu tiền của cũng trở thành vô dụng. Ăn uống thì phải kiêng thứ này, cữ thứ kia vì đường lên cao, cholesterol lên cao. Ăn đồ cứng không được vì hàm răng cái rụng, cái lung lay. Ði chơi xa thì không dám vì sức khỏe kém, đầu gối đau nhức. Nghe nhạc, xem phim cũng không được vì tai đã nghễng ngãng, mắt đã kèm nhèm.

Người VN mình vốn cần kiệm, chăm làm, chắt bóp để có của ăn của để. Làm việc thì liên miên quên cả cuối tuần, bất kể ngày lễ hay ngày Tết. Làm thì nhiều, mà ít dám vui chơi huởng thụ như người Âu Mỹ..

Suốt đời cặm cụi, nhịn ăn nhịn mặc, để dành, mua cái nhà cái cửa để một mai khi chết thì để lại cho con cháu. Sống như vậy quả là thiệt thòi.

Người xưa đã nói:

Một năm được mấy tháng xuân

Một đời phỏng được mấy lần vinh hoa

Và:

Chẳng ăn, chẳng mặc, chẳng chơi

Bo bo giữ lấy của trời làm chi

Bẩy mươi chống gậy ra đi

Than thân rằng thuở đương thì chẳng chơi

Con người có tham vọng, có nhu cầu nên mới bon chen. Suốt đời cứ miệt mài lo tìm kiếm những thứ vô thường mà quên mất chữ “nhàn”. Những thứ vô thường này là nguyên nhân đưa đến lo âu, căng thẳng, mất ăn, mất ngủ. Và nếu kéo dài có thể đưa đến bệnh tâm thần.

Ông Cả ngồi trên sập vàng

Cả ăn, cả mặc, lại càng cả lo

Ông bếp ngồi cạnh đống tro

Ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm

Ðời người sống mấy gang tay

Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm

Hoặc là

Ăn con cáy, đêm ngáy o..o

Còn hơn ăn con bò, mà lo mất ngủ.

Người xưa tuổi thọ kém, ngay tới vua chúa cũng chỉ sống tới khỏang 50 tuổi. Tới 60 tuổi đã ăn mừng “lục tuần thượng thọ. Còn tới 70 tuổi, thì thực là hiếm hoi. Bởi vậy mới có câu: “nhân sinh thất thập cổ lai hy” (tức là, người ta có mấy ai mà sống được tới 70).

Ngày nay nhờ khoa học tiến bộ. Con người được sống trong điều kiện vật chất vệ sinh, và thoải mái hơn.

Những phát minh của ngành Y, Dược đã giúp nhân loại vượt qua được các bệnh hiểm nghèo, mà người xưa kêu là bệnh nan y như bệnh lao, bệnh phong cùi, bệnh suyễn. 

Ngày nay người ta sống tới 80, 90 tuổi không phải là ít. Tuy nhiên sống lâu chưa phải là hạnh phúc. Hạnh phúc là luôn cảm thấy vui vẻ, yêu đời, biết tận hưởng cuộc sống. Muốn vậy thì cần phải giữ cho thân tâm được an lạc.

Tâm thân an lạc là biết vui với những cái trong tầm tay của mình, chấp nhận những điều mình không thể nào tránh khỏi. Sống hòa hợp vui vẻ với mọi người xung quanh, không chấp nhất, tỵ hiềm.
 
Lớn tuổi thì không làm ra tiền, nhưng cũng may, ở những nước tân tiến đều có khoản tiền trợ cấp cho người gìà để có thể tự lực mà không cần nhờ cậy vào con cháu. Các cụ gìà nên mừng vì sang được xứ này, thay vì ấm ức với số tiền quá khiêm nhượng, không thể tiêu pha rộng rãi như bạn bè.

Già thì phải chịu đau nhức, mắt mờ, chân chậm, đừng nên than thân trách phận, cau có, gắt gỏng, đã không làm được gì hơn mà còn tạo sự áy náy, thương cảm cho những người xung quanh.

Ở đời mỗi người một cảnh, vui với cảnh của mình, không suy bì, thèm muốn, ganh ghét với những người xung quanh.

Biết đủ thì đủ (Tri túc, tiện túc).

Người ta bảo trên 60 tuổi, mỗi ngày sống là một phần thưởng cho thêm (bonus) của Thượng Ðế.

Vậy thì hãy nên vui vẻ, tận hưởng những ân sủng mà không phải ai cũng có được.

Ðời sống của mình vui tươi hay buồn thảm là tùy thuộc vào thái độ của mình đối với cuộc SỐNG.

 From: NguyenNThu

CHUYỆN ĐỊNH CƯ

CHUYỆN ĐỊNH CƯ

Trong tháng này, tui tiễn ba gia đình cùa ba người bạn đi định cư ở nước ngoài. Họ đều là những người thành đạt, giàu có ở Việt Nam. Rất thành đạt và tài sản tính đơn vị hàng triệu đô la.

Một bạn là doanh nhân, hai vợ chồng có tài sản khá lớn, nhiều bất động sản trên những khu phố vàng của Sài Gòn. Họ có ba đứa con đang tuổi lớn và đã có hai đứa đang học ở Mỹ. Gia đình anh đi diện EB5 định cư ở Mỹ.

Người thứ hai là một bác sĩ, anh là người thầy thuốc giỏi, từng tu nghiệp nhiều nước trên thế giới, tự hào đã nội trú nhiều bệnh viện lớn ở nước ngoài. Ở Việt Nam anh là bác sĩ có thu nhập khá cao, có biệt thự ở quận 2, có công việc ổn định. Vợ cũng là dược sĩ, có một pharmacie rất đông khách ngay trung tâm Sài Gòn. Anh chị chỉ có một đứa con gái, đang chuẩn bị vào đại học. Gia đình anh đi theo diện người chị vợ bảo lãnh đi Mỹ, hổ sơ chờ đã mười ba năm, từ lúc sự nghiêp anh chị chưa có bao nhiêu.

Người thứ ba là anh bạn học chung trưóng đại học, năm nay vừa đúng bảy mươi tuổi, đã đến tuổi già. Anh này cũng có một đời sống sung túc ở Việt Nam, hồi còn tuổi làm việc, anh là một quan chức ngân hàng, vốn là nghề của anh trước 1975. Hồi đó, sinh viên ngành ngân hàng, tài chánh ở Đại học Vạn Hạnh tốt nghiệp Cử nhân vào năm 1971-1972 đều được nhận vào các ngân hàng với chức vụ cao, một số làm ngay giám đốc các chi nhánh. Anh nằm trong số người được giao làm giám đốc. Sau 75, anh tiếp tục cho đến lúc nghỉ hưu. Nghề nghiệp thế nên cũng có thể gọi anh là giàu, có của ăn của để, có hai thằng con trai, đứa nào cũng thành đạt, một thằng có chức vụ trong ngành ngân hàng của Việt Nam, đưa kia làm chuyên viên tiền tệ ở nhà băng của Anh quốc. Nói tóm lại là thuộc giới thượng lưu ở xứ này. Bây giờ anh lại đi định cư ở Pháp theo diện bảo lãnh của người em.

Ba trường hợp nêu trên chứng minh họ đi định cư không phải vì sinh kế. Trước đây, ngoài lý do chính trị, đa phần ra đi vì đời sống ở Việt Nam thời đấy khổ quá, cả nước đói nghèo, họ đành dứt áo ra đi mong có tương lai sáng sủa, sung túc hơn. Còn bây giờ, như ba người bạn tui đó, họ ở Việt Nam rõ ràng là quá sung sướng về vật chất, họ chẳng thiếu thứ gì. Gia đình sinh hoạt như quý tộc, con cái sống như những hoàng tử và công chúa. Hàng năm họ đi du lịch khắp nơi, ở những khách sạn sang trọng, ăn những thức ăn với giá ngất trời. Nhưng họ vẫn ra đi.

Hỏi chuyện với họ, họ biết ra đi là sẽ gặp không biết bao khó khăn đang chờ trước mắt. Để làm lại một cuộc đời mới trên xứ sở xa lạ không phải là điều dễ dàng. Họ không ảo tưởng về nơi họ sẽ đến, vì họ đã từng du lịch qua đấy nhiều lần. Biết rất tường tận cuộc sống ở đó với những trở ngại khó lường.

Anh bạn bác sĩ bảo rằng anh rất yêu nghề y, nhưng khi định cư, muốn tiếp tục làm nghề, anh phải đi học lại, cũng đã gần qua tuổi năm mươi, ngổi học cũng không phải là điều dễ dàng. Và để sống, anh phải chọn một công việc nào đấy không như ý của mình.

Anh bạn doanh nhân dù có nhiều tiền nhưng để hợp thức hoá số tiền lớn đó cho hợp pháp cũng là điều khó khăn. Cho đến bây giờ, ngày đi đã đến, anh vẫn chưa hình dung con đường phía trước sẽ như thế nào?

Còn anh bạn đồng môn của tui, đã bảy mươi, sẽ chẳng có công việc gì dành cho anh nữa. Tui giỡn với anh thôi thì qua đó chiều chiều đi dạo sông Seine, hay lên đồi Montmartre ngắm mây bay hay ngồi trong khung cửa nhìn đám bồ câu bay lượn, chờ cuối đời nằm trơ trọi ở nghĩa trang xa lạ hay là trở thành một nhúm tro cốt nằm trong ngôi chùa hoặc thả bay trong gió. Anh cười buồn, một nụ cười chấp nhận.

Ai cũng buồn khi sắp rời bỏ quê hương. Ai cũng thấy đọan đường còn lại cũng lắm gian nan. Nhưng ai cũng bảo phải đi. Sức chịu đựng đã lên đến đỉnh rồi. Bởi cuộc sống không chỉ là tiện nghi, là vật chất để thụ hưởng. Mà cuộc sống còn cần phải có không khí để thở, tự do để sống, thoải mái để sinh hoạt. Sống chứ không phải để tồn tại. Sống là phải biết tương lai và tự mình định được tương lai cuộc đời mình. Những người bạn tui cho rằng ở lại là chấp nhận những bất công, những điều chướng tai gai mắt mà bất lực chẳng làm chi được. Xã hội tàn nhẫn quá, con người tàn ác quá. Ở lại là chấp nhận bị đầu độc, không chỉ bị đánh thuốc độc ở thực phẩm, ở hơi thở mà còn bị đánh độc cả tư duy. Chưa kể đất nước này, dân tộc này có còn tồn tại được không trước biết bao âm mưu thâm độc của kẻ thù và sự hà hơi tiếp sức của một bộ phận có quyền lực. Anh bạn già hỏi tui với ánh mắt buồn rầu: Cho thuê đất 99 năm thì nước Việt còn gì? Bạn trả lời tôi đi..

Anh bạn bác sĩ thì bảo không thể cho các con của mình lớn lên với một tâm hồn bệnh hoạn, một nhân cách méo mó và một cách sống giả tạo, dối lừa. Anh hỏi tui: Bây giờ ở Việt Nam, có gì là không láo? Láo tất. Do vậy tôi phải đi để tôi, gia đình tôi, con cháu tôi được sống và nghĩ suy bằng sự thật không dối lừa. Chúng tôi chọn ra đi như một cách phản kháng. Phản kháng trong im lặng. Và đành bỏ lại những thứ mà chúng tôi sẽ không bao giờ làm lại được ở xứ người.

Anh bạn doanh nhân thì bảo rằng, biết con đường trước mặt, sau lưng đầy cứt, thì tại sao không chọn con đường sạch mà đi.

Ở đây, tui chỉ đề cập đến chuyện ba người bạn của tui, tui không muốn nói đến những cán bộ, những người đã từng là quan chức của chế độ, có người từng là tổng biên tập một tờ báo lớn, những người một thời là những người đã từng tham gia hoạt động đấu tranh ở các đô thị miền Nam, họ hiện đang ở đầy xứ Mỹ, tiểu bang nào cũng có. Họ trốn chạy cái gì? Tui đã từng hỏi thế và họ cũng cười buồn. Bỏ qua những tên ăn cắp công quỹ mà trốn chạy. Những người khác đều ôm trong lòng một nỗi thất vọng không nói được.

Mà thôi, mỗi người có một cách để chọn lựa cuộc sống cho mình. Tôi chọn ở lại, các anh chọn đi. Đó cũng là chút tự do mỗi người có được chọn cho mình. Ngày xưa chỉ cần rời làng, đã mang tiếng ly hương, xa quê là nỗi đau. Bây giờ, người ta ồ ạt tìm mọi cách bỏ nước mà đi, có nỗi đau nào hơn cho một dân tộc, nhưng phải chấp nhận thôi. Tất cả các loài hoa đều vươn về phía ánh sâng, có hoa nào chịu chết rũ héo hon trong bóng tối đâu. Và ở trong bóng tối, có ai lại không nguyền rủa bóng tối, ngoại trừ những kẻ đang trục lợi từ bóng tối.

Chúc những người bạn của tôi bình an và có cuộc sống mới như ước mơ ở xứ người.

1.6.2018

DODUYNGOC

From : NguyenNThu

Lễ Tạ Ơn

Lễ Tạ Ơn 

Lm Trịnh Ngọc Danh

Ở Việt nam, thời Nhà Nguyễn, triều đình Huế, trong suốt 79 năm độc lập (1802- 1885), đàn Nam Giao luôn là nơi tổ chức nghi thức Tế Nam Giao đều đặn vào mùa Xuân hàng năm để tạ ơn trời đất cho mưa thuận gió hòa đem lại cơm no áo ấm cho toàn dân.  Đó là lễ tạ ơn của Việt Nam.  Từ năm 1886 đến 1890, không tổ chức lễ tế Nam Giao.  Bắt đầu từ năm 1891, cứ ba năm, vua nhà Nguyễn mới tế lễ Trời Đất ở đàn tế Nam Giao một lần.  Lễ tế Nam Giao cuối cùng của triều Nguyễn là vào ngày 23 tháng 3 năm 1945.  Tuy chỉ đặt hy vọng vào một thế lực thần thiêng là Trời Đất, nhưng dân tộc Việt Nam cũng có tâm tình biết ơn và tạ ơn.  Trước sự bất lực của con người, người dân Việt cũng đã cầu xin: Lạy trời mưa xuống – Lấy nước tôi uống – Lấy ruộng tôi cày – Lấy đầy bát cơm – Lấy rơm đun bếp.

Và trong quan hệ giữa người với người, người Việt cũng có những nét văn hóa biểu lộ tâm tình biết ơn người qua tục ngữ ca dao: “Uống nước nhớ nguồn.  Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.  Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.”

Trên đất nước Hoa Kỳ, hằng năm vào ngày thứ năm tuần thứ tư của tháng 11, cả nước tưng bừng mừng lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), một ngày quốc lễ.  Sau đây là đôi nét về nguồn gốc ngày lễ ấy:

Giống như tàu Noe ngày xưa, vào ngày 6 tháng 9 năm 1620, có 102 người gồm thủy thủ, đàn ông, đàn bà và trẻ con bước lên tàu Mayflower rời Anh Quốc vượt đại dương để đi tìm một vùng đất mới.  Họ là “những người hành hương” (Pilgrims) ra đi vì nỗi khát vọng tìm một vùng đất mới cho tự do tôn giáo.  Họ đi khắp nơi, và cuối cùng đã cặp bến Plymouth Rock, Massachusetts vào ngày 11 tháng 12 năm 1620.

Mùa đông đầu tiên, thời tiết khắc nghiệt, thực phẩm thiếu thốn và bệnh dịch hoành hành đã cướp đi 46 sinh mạng.  Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp ngô do người dân Da Đỏ cung cấp.  Thổ Dân rất thân thiện và tận tình giúp đỡ trong cuộc sống mới bằng cách dạy cho họ trồng tỉa, săn bắn theo phong tục địa phương.

Được sự hướng dẫn của một người Da Đỏ tên là Squanto, vào mùa Xuân và mùa Hè năm 1621, bắp lên tươi tốt hứa hẹn một vụ mùa no nê.  Mùa màng đã gặt hái xong, thực phẩm dư thừa cho cả mùa Đông.  Họ quyết định tổ chức một ngày “Hội Ngày Mùa” (Harvest Festival) để tạ ơn Thượng Đế  đã cho họ sống sót qua mùa đông đầu tiên trên xứ lạ.  Đó là ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên trên đất Hoa Kỳ vào đầu tháng 11 năm 1621.

Thực phẩm chính trong ngày lễ Tạ Ơn này gồm: bắp, bí đỏ, chim, vịt, ngỗng và gà tây.  Khách mời là Thổ Dân.  Tộc trưởng Massasoif đã dẫn 90 dũng sĩ đến dự và còn mang biếu thống đốc của nhóm người Hành Hương lúc bấy giờ là Bradford năm con nai.  Họ ăn uống vui chơi suốt tuần.

Lịch sử ngày lễ Tạ Ơn của người Mỹ cũng có nhiều thăng trầm nổi trôi theo vận nước.  Các tiểu bang thuộc địa đầu tiên không thống nhất được ý kiến chung về ngày lễ Tạ Ơn.  Khi cuộc chiến giữa các di dân Mỹ và đế quốc Anh xảy ra, và George Washington thoát khỏi cuộc bao vây ở Valley Forge, ông đã tuyên bố ngày lễ Tạ Ơn quốc gia vào ngày 26 tháng 11 năm 1789.

Mãi đến năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln thấy chiến tranh đã đến hồi kết thúc, nên chỉ định lấy ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn cho toàn quốc.  Nhưng chẳng may ông bị ám sát.  Andrew Johnson lên làm tổng thống lại duy trì truyền thống cũ, nhưng đổi lại ngày thứ năm tuần lễ thứ tư của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn.  Rồi trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến 1941, Tổng thống Franklin Roosevelt đã chỉ định lấy ngày thứ năm của tuần lễ thứ ba của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn.  Nhưng lần này ông Roosevelt bị các thương gia và các đảng viên đảng Cộng hòa chống đối dữ dội, cho rằng tổng thống đã đi ngược lại truyền thống cũ.  Hai năm sau, tổng thống Roosevelt rút lại quyết định cũ và quyết định lấy ngày thứ năm tuần thứ tư của tháng 11 làm ngày lễ Tạ Ơn cho toàn quốc mãi cho đến ngày hôm nay.

Lễ Tạ Ơn mang một ý nghĩa sâu xa.  Con người có thể khác nhau về tôn giáo, chúng tộc, màu da nhưng đều có tâm tình biết ơn và tạ ơn.  Đối với người Kitô giáo nói riêng và đối với nhân loại nói chung, tạ ơn Thiên Chúa là một tâm tình thái độ phải có đối với Đấng Sáng Tạo vũ trụ đã hằng thi ân cho con người.

Nhân dịp mừng lễ Tạ Ơn, chúng ta có dịp để xét lại tâm tình, thái độ biết ơn tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn đời và tạ ơn người.

Trước hết đối với Thiên Chúa,thánh Luca có thuật lại một câu chuyện như sau: “Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu đi qua biên giới giữa hai miền Samari và Galilê.  Lúc Người vào một làng kia, thì có 10 người phong hủi đón gặp Người.  Họ dừng lại đàng xa và kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi!”  Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế.”  Đang khi đi thì họ được sạch.  Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa.  Anh ta sấp mình dười chân Đức Giêsu mà tạ ơn.  Anh ta lại là người Samari.  Đức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao?  Thế thì chín người kia đâu?  Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?”  Rồi Người nói với anh ta: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh” (Lc 17:11-19).

Chín người được ơn chữa khỏi nhưng chỉ có một người trở lại tạ ơn Thiên Chúa.  Lòng biết ơn, tạ ơn coi bộ ít ỏi!  Thực tế cuộc sống của chúng ta cũng nói lên thực trạng đó.  Ngày xưa dân Israen được Thiên Chúa dìu đắt, nâng đỡ bao bọc để đi về miền đất hứa, thế nhưng họ vẫn không thật lòng biết tạ ơn Thiên Chúa, ngược lại còn phản lại những gì Ngài đã làm cho họ.

Phải tạ ơn Thiên Chúa, vì trong cuộc sống, chúng ta đón nhận không biết bao ân huệ của Thiên Chúa, nhưng chúng ta lại không nhận ra hay không muốn nhận ra những ân huệ ấy khi chúng ta tự xem những thành quả của công việc mình làm là do tài sức của mình.  Có khi chúng ta nghĩ những gì Thiên Chúa làm cho con người là việc Ngài phải làm.  Như thế là vô ơn!

Phải biết ơn người, biết ơn đời, vì trong cuộc sống của chúng ta hôm nay là kết quả của bao nhiêu người đã hy sinh, đóng góp làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.  Chúng ta chịu ơn biết bao nhiêu người từ tổ tiên ông bà cha mẹ, bạn bè, người thân, những nhà khoa học, văn nghệ sĩ… đến những người vô danh đã tô đẹp cho cuộc sống hôm nay.

Lễ Tạ Ơn đối với chúng ta, những người Việt tị nạn trên đất nước Hoa Kỳ, là dịp để chúng ta nhìn lại cuộc hành trình gian khổ để đi tìm tự do, để tạ ơn Thiên Chúa đã cho chúng ta có được cuộc sống hôm nay, để tạ ơn đất nước Mỹ và người Mỹ đã cưu mang chúng ta.

Mừng lễ Tạ Ơn mà chỉ nghĩ đến du lịch, tiệc tùng, đi mua sắm, xem football mà không sốt sắng tham dự Thánh lễ Tạ Ơn để tạ ơn Trời, tạ ơn người, tạ ơn đời là một thiếu sót rất lớn vậy!

Lm Trịnh Ngọc Danh

 **************************************

Có những lúc trong đời ta quên lãng

Những phước lành mà Chúa đã ban cho

Mãi bon chen, mãi vất vả âu lo

Chuyện cơm áo, chuyện hơn thua cuộc sống

 Ta chưa hiểu, tạ ơn là hy vọng

Là giục lòng, là tiếng nói đức tin

Là lời ca, rung động cõi tâm linh

Là tiếng hát, là vần thơ chúc tụng

 Thơ Đa-vit, tạ ơn trong biến động,

Giữa muôn ngàn thử thách đang bủa vây

Vẫn hoan ca, cảm tạ Chúa đêm ngày 

Lòng tin quyết, đem thành công đắc thắng

 Chúa Giê-su, trong đêm dự tiệc thánh

Ngài dâng lời cảm tạ biết ơn Cha

Bánh vỡ ra, như thịt máu chan hoà

Thành mô thức, hiến dâng ơn cứu rỗi

 Chúa cảm tạ, khi tang gia bối rối

Khi lệ buồn, Chúa khóc với Ma-ry

La-za-rô, sống lại, đã bước đi

Ban hy vọng, nguồn vui mừng khôn tả

 Trong Đức tin, chúng ta cần cảm tạ

Về ơn lành, cứu rỗi Chúa đã ban

Về tình yêu, về chăm sóc, bảo toàn

Về an ủi, về bao che, dẫn dắt 

Hãy tạ ơn, khi bình minh chim hót

Hãy tạ ơn, khi lá rụng hoàng hôn

Hãy tạ ơn, khi biển nổi sóng cồn

Khi hoa nở, trời thanh trong gió mát 

Hãy cảm tạ, cùng trăng sao trời đất

Hát reo mừng, chúc tụng Đấng đại năng

Hãy hân hoan, ca ngợi Chúa vĩnh hằng

Được tôn thánh, hiển vinh ngàn muôn thuở.

 Thanh Hữu

From: Langthangchieutim

Cường hào ác bá..

Congtrung Nguyen Cường hào ác bá..

Ai đã làm cho xã hội nhất là giới trẻ thờ ơ, dửng dưng với vận mệnh đất nước, không biết khóc cho hàng chục người cả đời cơ cực phải chết oan mỗi lần xả lũ mà lại khóc cho mỹ nam Hàn ăn sung mặc sướng cả đời? Không biết làm ăn mà đua đòi rồi đổ thừa tại, bị, vì, là..? Ai?

Ai nói nghĩa vụ quân sự là vinh quang nhưng xảo trá ra luật có thể đóng thế bằng tiền để “lánh nặng tìm nhẹ”, “tham sống sợ chết” thậm chí không thèm nhắc đến xương máu của những anh hùng chống quân Trung Quốc xâm lược biến họ thành kẻ ngu ngốc chết không biết để làm gì? Chết cho ai? Ai?

Ai làm lãnh đạo đáng ra phải gương mẫu để dẫn dắt lại ăn trên ngồi trốc, nói một đàng làm một nẻo không ngượng mồm làm biến dạng nhân cách dân tộc, méo mó nhân cách xã hội? Ai?

Ai đã lợi dụng từng biến tổ chức đoàn thể thành những nơi dung dưỡng gửi gắm cậu ấm cô chiêu, lêu lổng, con ông cháu cha chứ không còn là nơi trưởng thành của những thủ lĩnh thật sự vì lý tưởng cao cả, trong sáng, vì nước, vì dân ? ” Ai?

Thế lực thù địch nào luôn luôn tuyên truyền chính trị là một cái gì đó ghê gớm, nhạy cảm cần tránh xa để chủ quyền Tổ quốc của mình mà Trung Quốc nhảy vào không xem ta ra gì? Ai biến giặc thành liệt sĩ để lập nghĩa trang thờ phụng?

– Ai lấy tiền ngân sách hàng trăm tỷ, lấy 42.000m2 đất xây Văn miếu tại Vĩnh Phúc thờ Khổng Tử nịnh Trung quốc? Sao không để thờ Hai Bà Trưng, Triệu Thị Trinh, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Quang Trung..?

– Ai đục phá mồ mả các Anh hùng liệt sĩ chống quân Trung Quốc xâm lược?

– Ai in sách ca ngợi đặng tiểu bình là ” Một trí tuệ siêu việt “?
v.v..

Những kẻ đang vong thân cố tình xem rẻ xương máu của các bậc tiền nhân, các anh hùng liệt sĩ dưới sự ích kỷ thấp hèn của cá nhân chỉ biết “vinh thân phì gia” đã thờ ơ “ngậm miệng ăn tiền “, ” sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi “.. phải nhớ rằng, thực tế tội ác ” Trời không dung đất không tha ” của những cuộc chiến tranh xâm lược vào năm 1979, 1988.. và lịch sử đã chứng minh nhan nhản là khi đất nước rơi vào tay kẻ thù truyền kiếp như Tây Tạng, Nội Mông.. thì thứ đầu tiên mà chúng nhắm đến là khối tài sản kếch xù, là vợ con xinh đẹp của quan tướng quốc gia thua trận.. Chưa kể lúc đó là miếng mồi ngon của những tên ngu trung đang cúc cung, những đệ tử hiện lúc nào cũng leo lẻo “Thượng Đế muôn năm”, ” Vạn tuế, vạn vạn tuế .. ” sẽ nổi dậy phản chủ, cướp đoạt, bán đứng..

Hãy nhìn lại lịch sử để biết tại sao Chăm pa – Một đất nước từng hùng mạnh, từng có nền văn hoá rực rỡ bỗng dưng bị biến mất? Tại vì bọn vua chúa chỉ biết đến quyền lợi bản thân và hoàng tộc mà tham nhũng, mua quan bán tước xem thường quyền lợi, sự tồn vong của dân tộc, bất chấp nhân dân ai oán..

Một nước lớn, mạnh như Trung Quốc muốn xâm lược, thôn tính các quốc gia láng giềng đương nhiên chúng phải chuẩn bị cả trăm năm thậm chí hàng trăm năm như đã từng bỏ ra đến 500 năm xây Vạn Lý Trường Thành, chúng từng nuôi dưỡng, đào tạo ra những đao phủ man rợ Pôn Pốt, Jêng Sary.. để khi cần thì ra lệnh, điều khiển diệt chủng cả một dân tộc Khơme..

Nguyen Thang Chung no quen thoi con do COCC !
1

Ngân hàng nhà nước Việt Nam tiếp tục đưa ra thị trường 113,000 tỷ đồng

Van H Pham

**********

Ngân hàng nhà nước Việt Nam tiếp tục đưa ra thị trường 113,000 tỷ đồng

Tin Sài Gòn, Việt Nam – Chưa đầy 2 tháng nay, ngân hàng nhà nước cộng sản đã liên tục đưa ra thị trường hơn 113,000 tỷ đồng; trong đó chỉ tính riêng từ ngày 19 đến 23/11/2018, ngân hàng nhà nước đã đưa ra thị trường 5,089 tỷ đồng.

Ngày 27/11/2018, báo Trithucvn đã loan tin, theo báo cáo của Công ty chứng khoán Sài Gòn, trên kênh tín phiếu ghi nhận 2 tuần qua liên tục không phát sinh giao dịch, nhưng ngân hàng nhà nước vẫn tung ra thị trường 5,089 tỷ đồng. Đây là tuần thứ 3 liên tiếp trong tháng 11 ngân hàng nhà nước đưa ra thị trường khối lượng tiền lớn, với tổng số tiền hơn 31,000 tỷ đồng. Còn tính từ đầu tháng 10/2018 đến nay, tổng số tiền được đưa ra hơn 113,000 tỷ đồng, tương đương với 4,8 tỷ Mỹ Kim.

Về lãi suất, Việt Nam đồng trên thị trường liên ngân hàng đã tăng liên tục trong tuần qua, trước khi giảm giá mạnh vào ngày giao dịch cuối tuần.

Việc liên tục đưa một khối lượng tiền lớn ra thị trường của ngân hàng nhà nước cộng sản là để đánh lừa lòng tin của người dân về tương lai, và để cho người dân cảm thấy họ có nhiều tiền hơn để chi tiêu trước bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang bị thâm hụt mạnh, nguồn thu ngân sách không đủ để chi.

Mặt khác, tại Việt Nam ngân hàng nhà nước là đơn vị làm chủ nhà máy in tiền quốc gia, nên ngân hàng nhà nước có thể in và đưa ra thị trường số lượng tiền tuỳ thích mà không

About this website

 

SBTN.TV
Tin Sài Gòn, Việt Nam – Chưa đầy 2 tháng nay, ngân hàng nhà nước cộng sản đã liên tục đưa ra thị trường hơn 113,000 tỷ đồng; tr

Thân phận “phản động”

Ngẫm lại cũng buồn…..😔😔😔😔

Thân phận “phản động”

– Khi con bạn bị 231 cái tát, “phản động” lên tiếng để đòi công lý cho con bạn.
– Khi Formosa đầu độc biển, “phản động” kêu gào để nạn nhân được bồi thường.
– Khi đất Thủ Thiêm bị cướp, “phản động” tố cáo để tiếng nói của dân oan được lắng nghe.
– Khi tài xế bị BOT bóc lột, “phản động” đồng hành và ủng hộ.
– Khi nhà trường lạm thu, “phản động” lên tiếng để bênh vực phụ huynh và học sinh.
– Khi con bạn bị buộc uống nước giặt dẻ lau bảng, “phản động” la hét để kẻ vô lương phải trả giá.
– Khi giá xăng tăng vô lý, “phản động” tố cáo để bảo vệ quyền lợi cho chính bạn.
– Khi tướng tá công an bảo kê đường dây đánh bạc, làm tan nát bao gia đình, “phản động” lên tiếng đòi công lý được thể hiện.
– Khi CSGT mãi lộ, “phản động” share tin tức để sự thật được phơi bày.
– Khi Quốc Hội định thông qua Luật Đặc khu, “phản động” la hét để bảo vệ chủ quyền tổ quốc.
Khi… khi… và rất nhiều khi khác nữa…
NHƯNG
Khi “phản động” bị bắt, giam tù, hành hạ vì đã “phản động”, mọi người im lặng và xa lánh.
Chỉ có số “phản động” còn lại tiếp tục đấu tranh cho số “phản động” đang ở tù!

Fb Anthanh Linhgiang

Image may contain: 4 people, people standing and outdoor

Nhật dọa bỏ ngang thi công dự án Metro ở Sài Gòn

Nhật dọa bỏ ngang thi công dự án Metro ở Sài Gòn

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Quá chậm trễ trong việc thanh toán số nợ $100 triệu, nhà thầu Nhật dọa nếu đến cuối Tháng Mười Hai, 2018, không được giải quyết sẽ ngừng thi công tuyến metro số 1.

Truyền thông Việt Nam từ mấy ngày nay đề cập tới một bức thư của Đại Sứ Nhật Bản Umeda Kunio gửi cả chính quyền thành phố Sài Gòn lẫn nhà cầm quyền CSVN cảnh cáo “Áp lực lên các nhà thầu Nhật Bản đã đến mức giới hạn,” nên tuyến metro số 1 của…

Continue Reading

Ước muốn cuối cùng của một tử tù sắp ra pháp trường

Duc Thong DO shared a post.

 

Image may contain: 2 people, people standing

Viet Tran

Ước muốn cuối cùng của một tử tù sắp ra pháp trường

Một tử tù đang chờ thi hành án, anh cầu xin một điều ước cuối cùng là một cây bút chì và một tờ giấy. Sau khi viết cho một vài phút, anh nhờ nhân viên bảo vệ nhà tù gửi giúp bức thư này cho người mẹ ruột của mình.

Trong thư anh viết …

Mẹ, nếu có công lý trong thế giới này, con và mẹ nên bị kết án từ hình cùng nhau. Mẹ cũng có tội cũng như con vì những gì con đã làm.

Mẹ hãy nhớ lại đi, khi con ăn cắp chiếc xe đạp của thằng bé gần nhà. Mẹ đã giúp con giấu chiếc xe đạp đó đi để bố không nhìn thấy nó.

Mẹ có nhớ lần con lấy trộm tiền từ ví của người hàng xóm không? Mẹ đã đi siêu thị mua sắm cùng với con.

Mẹ có nhớ ai đã bênh vực con khi con cãi lại bố đến nỗi bố phải bỏ đi không? Bố chỉ muốn sửa dạy con vì con đã gian lận trong bài thi và cuối cũng là con phải bị đuổi học.

Mẹ ơi, lúc đó con chỉ là một đứa trẻ, không lâu sau con đã trở thành một thiếu niên hư nghịch và bây giờ con đang là một tử tù chờ thi hành án.

Mẹ ơi, lúc đó con chỉ là một đứa trẻ con cần được bao biện, nhưng cái thực sự con cần là được sửa trị.

Nhưng thôi, con tha thứ cho mẹ! Con chỉ muốn viết thư này để nó có thể đến được nhiều người khác đang làm cha làm mẹ, với hi vọng rằng, họ có thể nhận ra điều tạo nên người tốt kẻ xấu trên thế giới này là sự giáo dục.

Cảm ơn mẹ đã cho con cuộc sống và cũng đã giúp con đánh mất nó.

Đứa con tử tù của mẹ.

“Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà bạn có thể sử dụng để thay đổi thế giới.”

Năng lực xã hội

Image may contain: 1 person, smiling, eyeglasses and closeup
Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

Năng lực xã hội

Thứ tư, 7/11/2018,

Tôi sinh ra và lớn lên ở nông thôn miền Trung. Trong điều kiện còn chiến tranh, khó khăn nhiều mặt, một học sinh nông thôn miền Trung mà được học hết bậc Tú tài và vào được Sài Gòn để vừa đi làm vừa học đại học là rất may mắn.
Ở Sài Gòn vài tháng, tôi lại gặp một cái may định mệnh là ngẫu nhiên đọc được thông báo của Đại sứ quán Nhật về việc tuyển sinh du học với học bổng của Chính phủ Nhật Bản. Cuộc đời tôi đã sang một bước ngoặt lớn, một may mắn mà tôi chưa bao giờ mơ tới.

Tháng 4 năm 1968, tôi sang Nhật du học. Lúc đó tôi dự định học xong đại học hay nhiều lắm là xong bậc tiến sĩ sẽ về nước với hy vọng đất nước khi ấy đã hết chiến tranh, mọi người nỗ lực góp phần vào việc phục hưng xứ sở. Nhưng rồi thời thế đưa đẩy, tôi đã ở lại Nhật Bản cho đến ngày nay.

Dù không phải là con đường đã chọn ban đầu nhưng nơi đến cũng mở ra nhiều cơ hội. Là người Việt, tôi yêu quý Việt Nam, nay lại có thêm một đất nước để yêu mến. Người bạn đời của tôi cũng yêu mến Nhật Bản, yêu thích văn học Nhật Bản, đã và đang dịch nhiều tiểu thuyết, truyện ký Nhật Bản sang tiếng Việt.

Khi ra đi tôi chưa đầy 19 tuổi. Chiến tranh và điều kiện kinh tế không cho phép nên tôi chỉ quanh quẩn trong phạm vi nhỏ hẹp ở làng xóm, trường học. Vào Sài Gòn cũng không đi đâu xa, chỉ quanh quẩn ở nơi trọ, nơi làm việc và đại học. Trong hoàn cảnh bận rộn đó, ý thức về Việt Nam rất ít. Nhưng khi rời xa quê hương, tự nhiên tôi nhớ và suy nghĩ nhiều về đất nước.

Ngoài lòng tự hào dân tộc về một nước Việt có nền văn hóa thống nhất, lịch sử nhiều ngàn năm dựng và giữ nước, điều khắc sâu vào tâm tư tôi là quê hương mình nghèo quá. Tôi biết nhiều nhạc khúc ca tụng đồng quê nhưng cũng nói lên cuộc sống nghèo khó như “Nắng lên xóm nghèo”, “Quê nghèo”, “Tình nghèo”… Tôi mong chiến tranh chấm dứt nhanh, Việt Nam phải bước sang giai đoạn thoát nghèo và phát triển.

Tôi sang Nhật du học tháng 4 năm 1968. Lúc đó Nhật Bản kỷ niệm 100 năm Minh trị Duy tân và đang trong thời kỳ phát triển ngoạn mục, năm ấy cũng đánh dấu mốc Nhật vượt Tây Đức trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Sự kiện này làm tôi quan tâm, muốn học về kinh nghiệm phát triển của Nhật.

Tôi đã học về kinh tế, nhất là kinh tế phát triển tại Nhật Bản và thấy đó là điều rất ý nghĩa. Nhật Bản là nước đi sau trong trong dòng thác công nghiệp của thế giới, đã tích cực du nhập công nghệ, luật lệ, tổ chức hành chính, tri thức quản lý từ các nước tiên tiến Âu, Mỹ và đã thành công trong việc đuổi kịp các nước đi trước. Có rất nhiều nghiên cứu về sự thành công của Nhật, riêng tôi đã thử tìm một nguyên nhân tổng hợp nhất để có thể tham khảo được cho các nước đi sau Nhật. Tôi tìm ra một từ khóa để chỉ nguyên nhân đó: Năng lực xã hội.

Đó là năng lực và tố chất của những nhân tố cấu thành xã hội, cụ thể là chính trị gia, quan chức, lãnh đạo kinh doanh, trí thức và tầng lớp lao động. Mỗi nhân tố cấu thành phải có những tố chất nào để thúc đẩy kinh tế phát triển? Dĩ nhiên tố chất quan trọng của chính trị gia là năng lực lãnh đạo, của quan chức là năng lực quản lý hành chính, của giới kinh doanh là tinh thần doanh nghiệp. Nhưng trong trường hợp Nhật Bản, không phải chỉ có các tố chất đó.

Tôi nghiệm thấy rằng tố chất chung nhất của chính trị gia, của quan chức, của nhà kinh doanh Nhật Bản là lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc và phải là những người có văn hóa, có giáo dưỡng. Đặc biệt trong thời đại Minh Trị và thời kỳ phục hưng và phát triển hậu chiến, những tố chất đó biểu hiện mạnh mẽ nhất.

Tôi chỉ xin đơn cử trường hợp nhà kinh doanh. Thông thường thì nhà kinh doanh phát huy tinh thần doanh nghiệp để mưu tìm lợi nhuận chân chính. Tinh thần doanh nghiệp – entrepreneurship – thường được định nghĩa là tinh thần mạo hiểm và năng lực cách tân công nghệ, tích cực khám phá thị trường, ứng dụng công nghệ để làm ra các sản phẩm và dịch vụ cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Nhưng những nhà kinh doanh tiêu biểu của Nhật không phải chỉ có thế. Hầu hết những nhà sáng lập những công ty tiêu biểu của họ hiện nay đều xuất phát từ lòng yêu nước, từ trách nhiệm xã hội.

Lấy trường hợp Sony, một trong những công ty đại biểu của Nhật ngày nay. Trong buổi lễ thành lập công ty vào năm 1946, bài diễn văn của Ibuka Masaru, người đồng sáng lập công ty, đã gây xúc động lòng người. Ông nói: “Ta phải nỗ lực đem công nghệ góp phần vào việc phục hưng tổ quốc của chúng ta”. Giữa cảnh hoang tàn đổ nát một năm sau chiến tranh, thái độ của những người có trách nhiệm trong xã hội đã gây phấn chấn và kích thích mọi người hăng hái tham gia vào việc phục hưng đất nước.

Với năng lực xã hội như thế, Nhật Bản đã theo kịp các nước Âu Mỹ. Thật ra thời trước Thế chiến thứ hai, Nhật đã theo kịp Tây phương trong một số ngành, lĩnh vực, nhưng phải đợi đến thập niên 1960, 1970, bằng một giai đoạn phát triển cao độ, Nhật Bản mới hoàn toàn theo kịp Âu Mỹ. Giai đoạn phát triển cao độ này, bắt đầu giữa thập niên 1950 – mỗi năm phát triển trung bình 10% và kéo dài tới 18 năm – đã đưa nước Nhật thành một cường quốc kinh tế. Nhiều người nói đó là giai đoạn phát triển thần kỳ, có nhà nghiên cứu đã nói “6.000 ngày làm thay đổi nước Nhật”.

Gần đây tôi khám phá ra một điểm mà tôi thấy thú vị là kinh tế Việt Nam hiện nay rất giống với đêm trước của thời đại phát triển thần kỳ của Nhật Bản. Giữa thập niên 1950, dân số Nhật cũng khoảng 90 triệu, cơ cấu kinh tế về sản xuất, xuất khẩu cũng như sự phân bổ lao động rất giống Việt Nam ngày nay. Nhưng từ sau đổi mới, Việt Nam tăng trưởng trung bình 6,5% mỗi năm và chưa có giai đoạn phát triển cao độ. Tôi rất mong Việt Nam sớm muộn cũng sẽ có một thời đại như Nhật Bản.

Thời trung học tôi đọc nhiều tiểu thuyết trong Tự lực văn đoàn. Trong một truyện dài, Nhất Linh đã để cho nhân vật chính của mình nói về lòng yêu nước mà tôi thấy rất thích hợp trong giai đoạn chưa phát triển của Việt Nam: “Biểu hiện cho đất nước không phải là những bậc vua chúa hay danh nhân mà là đám dân thường không tên không tuổi. Dân là nước, yêu nước là yêu chung đám thường dân, nghĩ đến sự đau khổ của đám thường dân”.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn thấy đây là định nghĩa về lòng yêu nước rất đúng đắn.

Trần Văn Thọ 
(Bài viết trích từ Diễn từ của Giáo sư Trần Văn Thọ tại Lễ nhận huân chương Thụy bảo Tia vàng của Thiên hoàng Nhật Bản, ngày 15/8/2018)

Học giả quốc tế lên án Trung Quốc về các trại cải tạo ở Tân Cương

Học giả quốc tế lên án Trung Quốc về các trại cải tạo ở Tân Cương

Mai Vân

27-11-2018

Trung Quốc tăng cường an ninh ngăn chận phóng viên quốc tế tại thủ phủ Tân Cương, Urumqi. Ảnh ngày 27/11/2018. Reuters

Các nước trên thế giới phải trừng phạt Trung Quốc về tội giam cầm cả triệu người Hồi Giáo Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương. Hàng trăm học giả trên thế giới ngày 26/11/2018, đã cảnh cáo rằng nếu không làm gì, cộng đồng quốc tế sẽ mặc nhiên cho thấy là họ chấp nhận hành vi « tra tấn tâm lý thường dân vô tội ».

Trong một cuộc họp báo tại Washington, đại diện của một nhóm gồm 278 học giả trong nhiều ngành khác nhau, đến từ hàng chục quốc gia trên thế giới, đã lên tiếng yêu cầu Trung Quốc bãi bỏ các chính sách cầm cố người Duy Ngô Nhĩ. Các học giả đồng thời kêu gọi quốc tế ban hành lệnh trừng phạt nhắm vào các lãnh đạo Trung Quốc và các công ty an ninh dính líu đến chính sách đàn áp này.

Trong những tháng gần đây, Bắc Kinh đã bị chỉ trích dữ dội về việc giam giữ hàng loạt và giám sát chặt chẽ người thiểu số Hồi Giáo Duy Ngô Nhĩ và các nhóm sắc tộc khác ở vùng Tân Cương, miền tây Trung Quốc.

Vào tháng 8, một tiểu ban nhân quyền của Liên Hiệp Quốc cho biết đã nhận được nhiều báo cáo đáng tin cậy theo đó một triệu (hoặc nhiều hơn nữa) người Duy Ngô Nhĩ và các dân tộc thiểu số khác đang bị giam giữ trong các trại giống như một « trại giam khổng lồ được bí mật che giấu » trong khu vực.

Trong bản thông cáo công bố hôm 26/11/2018, nhóm gần 300 học giả quốc tế nói trên cho rằng : « Tình trạng đó phải được xem xét giải quyết để khỏi tạo ra tiền lệ xấu về việc chấp nhận hành vi đàn áp của một nhà nước nhắm vào một bộ phận cư dân của mình, đặc biệt là trên cơ sở dân tộc hay tôn giáo ».

Thông cáo cũng yêu cầu các quốc gia đẩy nhanh tốc độ xét đơn xin tị nạn đến từ cộng đồng các sắc dân thiểu số Hồi Giáo của Tân Cương, cũng như « thúc đẩy một phong trào hành động của Liên Hiệp Quốc nhằm điều tra hệ thống giam giữ hàng loạt đó, tiến tới việc đóng cửa các trại » được Trung Quốc lập ra.

Bắc Kinh luôn bác bỏ những lời chỉ trích về hành động của họ ở Tân Cương, nói rằng Trung Quốc bảo vệ tôn giáo và văn hóa thiểu số, và các biện pháp an ninh được đề ra là điều cần thiết để chống lại ảnh hưởng của các nhóm « cực đoan » kích động bạo lực ở Tân Cương.

Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã cho rằng thế giới không nên tin vào những lời đồn nhảm về Tân Cương và phải tin vào chính quyền Bắc Kinh.

Tuy nhiên, theo hãng tin Anh Reuters, sau khi chối cãi lúc ban đầu là không hề có các trại giam, các quan chức Trung Quốc đã đổi giọng, thừa nhận rằng đã có một số người phạm vào những tội nhẹ được gửi đến các trung tâm « dạy nghề », nơi họ được dạy kỹ năng làm việc và kiến thức pháp lý nhằm hạn chế các tư tưởng cực đoan.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng vào ngày 27/11/2018 lại lên tiếng khẳng định rằng chính sách Tân Cương của Trung Quốc bắt nguồn hoàn toàn từ nhu cầu chống khủng bố, và Bắc Kinh phản đối « bất kỳ thế lực nước ngoài nào đang cố gắng can thiệp vào các vấn đề Tân Cương và chính trị nội bộ của Trung Quốc ».

Trả lời báo chí, Michael Clarke, một chuyên gia về Tân Cương tại Đại Học Quốc Gia Úc ANU, một người đã ký tên vào bản thông cáo vừa được công bố, đã cho rằng Bắc Kinh đang tìm kiếm một sự tôn trọng quốc tế tương xứng với trọng lượng của Trung Quốc trong các vấn đề toàn cầu, do đó : « Cộng đồng quốc tế cần chứng minh với Bắc Kinh rằng họ sẽ không thực sự có được điều đó khi vẫn đàn áp một bộ phận đáng kể công dân của mình».

VI.RFI.FR
Các nước trên thế giới phải trừng phạt Trung Quốc về tội giam cầm cả triệu người Hồi Giáo Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương. Hàng trăm học giả trên thế giới ngày 26/11/2018, đã cảnh cáo rằng…
Trung Quốc tăng cường an ninh ngă

THÀNH HỒ KHÔNG NGẬP MỚI LẠ !!!

Image may contain: outdoor
No automatic alt text available.
Image may contain: sky and outdoor
Image may contain: outdoor
Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh and 2 others.

THÀNH HỒ KHÔNG NGẬP MỚI LẠ !!!

Báo chí đưa tin, chiều 26/8/2016, Tp. HCM ngập toàn thành phố

Bài nghiên cứu từ nhiều nguồn và tổng hợp dưới đây được phép kết luận một cách chính xác rằng:

THÀNH HỒ KHÔNG NGẬP MỚI LÀ CHUYỆN LẠ !!!

@Phan Thị Hồng.

Vì sao Sài Gòn bị ngập nước?

– Ngấm ngầm một nỗi buồn xót xa, cay đắng!

– Kiến trúc đô thị… chẳng giống ai

– Xót xa/Thảm thương cho kiến thức và trình độ các nhà quy hoạch của thành Hồ !!!

– Thật đau lòng !!!

  *     *     *

Địa chất Sài Gòn bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt. Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: đất xám. Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4% diện tích thành phố, đất xám ở Sài Gòn có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley.

Trầm tích Holocen ở Sài Gòn có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi… hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.500 ha. Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là “giồng” cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò.

Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai – Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng.

Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km². Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố.

Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m. Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng.

Một con sông nữa của Sài Gòn là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái. Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn.

Ngoài các con sông chính, Sài Gòn còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi…

Hệ thống sông, kênh rạch giúp Sài Gòn trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành.

Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía bắc Sài Gòn có được lượng nước ngầm khá phong phú. Nhưng về phía nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170–200 m (tầng trầm tích Miocen).

Tại Quận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng.

Địa hình Saigon thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Vùng cao nằm ở phía bắc – Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét. Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9. Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía nam – Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét. Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét.

Suốt thời Pháp thuộc, các nhà quy hoạch Pháp đều loại bỏ hướng phát triển Sài Gòn về phía Đông, Nam hoặc Tây Nam là các vùng đất trũng thấp, làm nền móng rất tốn kém. Sài Gòn thời cũ sở dĩ không ngập úng là nhờ có các vùng đất trũng thấp này hứng nước.

Hướng phát triển tự nhiên của Sài Gòn được xác định là hướng Bắc cao ráo. Tuy vậy, trước yêu cầu mở rộng Sài Gòn, bán đảo Thủ Thiêm nằm sát bên hông Sài Gòn luôn được nhắm tới. Người Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngay vào giữa những năm 1950 đã dồn sức vào việc xây dựng tuyến đường có lẽ vào hàng hiện đại nhất Đông Nam Á thời đó. Xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa dài 30km.

Do đó, các nhà quy hoạch đã xác định hướng phát triển chính của thành phố là lên phía Bắc, đất đai cao ráo và mở ra miền Đông Nam Bộ đầy tiềm năng công nghiệp. Ý đồ này đã được sự tán đồng của nhóm quy hoạch đô thị quốc tế Doxiadis.

Từ giữa thập niên 60, chính phủ Hoa Kỳ thông qua Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID đã hỗ trợ kỹ thuật cho phía miền Nam Việt Nam về quy hoạch đô thị. Kể từ thời gian này, rất nhiều các đồ án quy hoạch và nghiên cứu về đô thị quy mô và có chất lượng tại miền Nam được thực hiện.

Điển hình là hai đồ án quy hoạch do hai công ty rất có tên tuổi trên thế giới lúc đó thực hiện: Quy hoạch chung thành phố Sài Gòn do công ty Doxiadis Associates – Consultants on Development and Ekistics (Hy Lạp) lập năm 1965 và Quy hoạch phát triển Thủ Thiêm do công ty Wurster, Bernardi and Emmons (Hoa Kỳ) chủ trì lập năm 1972 thực hiện.

Bên cạnh đó, Frank Pavick và James Bogle lần lượt thực hiện những báo cáo chi tiết về hoạt động quy hoạch đô thị ở miền Nam và những vấn đề của thành phố Sài Gòn. Cũng tác giả Frank Pavich sau đó còn thực hiện Khảo sát sử dụng đất tại Vùng đô thị Sài Gòn cho Tổng Nha Kiến thiết và Thiết kế Đô thị. Các đồ án quy hoạch nêu trên mặc dù nghiên cứu rất kỹ lưỡng không chỉ về kiến trúc, khí hậu, đất đai mà còn cả nhu cầu giao thông giữa các khu vực và kinh tế/tài chính.

Các hồ sơ quy hoạch thường kết thúc với phần đưa ra giải pháp triển khai, tài chính dự án và cả đề xuất rất cụ thể về chính sách cũng như luôn kèm theo thiết kế chi tiết một dự án thí điểm. Quy hoạch chính yếu vẫn theo nguyên tắc được thuyết trình là:

– “… Đà phát-triển trong quá khứ, từ thành-phố cổ, thường hướng theo phía Bắc dọc theo những giải phù sa cổ. Kế-hoạch phát-triển tương lai cũng sẽ theo đường hướng nầy, và bất cứ một kế-hoạch thực-tế nào nhắm hướng dẫn sự phát-triển Thủ đô Sàigon cũng phải nhận thức ro những yếu-tố nầy, …”.

Trích “Đề xuất về hướng phát triển cho Sài Gòn trong Đồ án Quy hoạch bán đảo Thủ Thiêm năm 1972”.

Và cuối cùng, sau 1975, với những đầu óc kiệt xuất, hướng phát triển Sài Gòn về phía nam, khu vùng trũng và đầm lầy, đi ngược lại với vị trí địa lý của vùng đất này mà người Pháp và Mỹ cùng chính quyền VNCH đã loại bỏ quy hoạch đô thị.

Trong báo cáo quy hoạch phát triển Saigon 2020- 2025 xác định hướng nam, tiến ra biển đông nêu rõ: ” … Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội Saigon đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025, Thành phố sẽ phát triển với hai hướng chính là hướng đông và hướng nam ra biển.

Theo Quyết định của Chính Phủ, Sài Gòn được phát triển theo mô hình tập trung – đa cực, khu vực trung tâm là khu vực nội thành với bán kính 15 km và 4 cực phát triển. Cụ thể, phát triển thành phố theo hướng đa tâm với trung tâm tổng hợp tại khu vực trung tâm hiện hữu gồm Quận 1, Quận 3, một phần Quận 4, quận Bình Thạnh (930 ha) và khu đô thị mới Thủ Thiêm (737 ha); bốn trung tâm cấp thành phố tại bốn hướng phát triển.

Bên cạnh đó, phát triển thành phố với hai hướng chính là: hướng Đông và hướng Nam ra biển và hai hướng phụ là: hướng Tây – Bắc và hướng Tây, Tây – Nam. Việc hình thành cơ sở hạ tầng các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu đô thị mới hiện đại, cảng biển và kinh doanh vận tải biển, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển Saigon về phía Nam tiến ra Biển Đông, …”.

Rõ ràng, từ hướng phát triển trọng yếu của Sài Gòn là Bắc-Tây Bắc-Đông Bắc từ thời Pháp – Mỹ – VNCH đã trở thành hướng phát triển phụ.

Đổi lại những Phú Mỹ Hưng nhào nhoáng, những cao ốc dọc theo đường về Nhà Bè … thì bây giờ Saigon không ngập mới là chuyện lạ.

*

Bây giờ đường phố, nhà cửa Sài Gòn nước ngập thường xuyên, ngày 26/8/2016, báo chí đưa tin Sài Gòn ngập toàn thành phố, … Ngấm ngầm một nỗi buồn xót xa, cay đắng!

Thảm thương cho kiến thức và trình độ các nhà quy hoạch của thành Hồ !!!

(Bài viết được tổng hợp từ nhiều nguồn có giá trị chính và đáng tin cậy).

Ảnh 1: Quận 1, Quận 2, Quận 4, phía xa là Quận 7.

Ảnh 2: Các khu vực ngập phải kiểm soát. Ảnh: TTCN

Ảnh 3: Cơn mưa chiều 26/8/2016, nước ngập đường băng sân bay Tân Sơn Nhất, nhiều chuyến bay không thể cất cánh và hạ cánh được.

Ảnh 4: Khu trung tâm Sài Gòn thời thuộc Pháp: đường chạy dọc bên trái ảnh là đường Hai Bà Trưng hiện nay; đường bên phải là đường Phạm Ngọc Thạch (dưới), Đồng Khởi (trên); đường ngang giữa ảnh là đường Lê Duẩn… đều nằm trong tổng thể ngang – đông nam, dọc – tây bắc của thành Gia Định. Nhà thờ Đức Bà nằm trong khuôn viên xưởng chế tạo (súng đạn – xưởng thợ) – Ảnh tư liệu.