Từ năm 1976, chiến dịch cải tạo tư sản do ông Đỗ Mười chủ xướng…

Văn Lang

Từ năm 1976, chiến dịch cải tạo tư sản do ông Đỗ Mười chủ xướng và trực tiếp điều hành đã khởi lên làn sóng oán ghét của người dân miền Nam suốt mấy mươi năm qua.

Vì lẽ đó, ngay sau khi báo chí đưa tin Đỗ Mười từ trần, tất cả các trang mạng xã hội đều bày tỏ sự vui mừng với niềm tin rằng nếu địa ngục có thật thì nơi đó đã sẵn sàng để chờ đón ngạ quỹ dẫn hương linh ông về chịu sự trừng phạt.

Tư liệu báo chí cho biết dưới quyền sinh sát của ông Đỗ Mười, trong chiến dịch cải tạo tư sản, 600.000 dân Sài Gòn bị tước đoạt hết tài sản và bị cưỡng bức đi kinh tế mới là khoảng sáu trăm ngàn người, tạo ra một sự hoảng sợ hoang mang chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại.

Sức mạnh kinh tế Sài Gòn đột nhiên bị huỷ hoại, đi đến kiệt quệ hoàn toàn. 
Hơn 14 ngàn cơ sở tiểu thủ công nghiệp rất cần cho nền kinh tế quốc dân, với khoảng 270 ngàn nhân công hoàn toàn bị trắng tay, đóng cửa. 

Tổng số thiệt hại tài sản trước mắt lên đến gần 21 tỷ Mỹ kim_

Tiến trình phát triển công nghệ của đất nước trong tự cường hoàn toàn không còn hy vọng để phục hồi.

Riêng về tổng số vàng, nữ trang, kim cương tịch tư từ tư bản miền Nam, tính từ tháng Năm năm 1977 tới tháng Hai năm 1978, ước lượng khoảng 35 ngàn lượng vàng.

http://www.vietnamthoibao.org/…/vntb-ong-nguyen-phu-trong-l…

CÒN ĐI MỸ LÀM GÌ NỮA !

Loc Teresa

CÒN ĐI MỸ LÀM GÌ NỮA !

Tôi có thời gian qua Mỹ khá lâu. Và nói thật đến giờ này tôi vẫn còn thấy hối hận vì sự lựa chọn đó! 

Truyền thông phương Tây đã khiến chúng ta mê muội rằng Hoa Kỳ là một xứ sở hiện đại ! 

Tôi đã từng ôm giấc mộng được học tập ở đó, đã tìm mọi cách tới được cái xứ sở siêu cường đó.

Nhưng than ôi những gì tôi chứng kiến là rất đáng thất vọng !

1. Công nghiệp

Nước Mỹ thật ra chỉ là một làng quê khổng lồ chậm phát triển !

Hồi trung học, chúng ta đã được dạy rằng, công nghiệp càng phát triển bao nhiêu thì môi trường càng bị xâm hại bấy nhiêu.

Chúng ta biết rằng một thành phố công nghiệp tất phải có nhiều ống khói, nhiều nhà máy và khói bụi khắp nơi.
Đó là biểu tượng của sự công nghiệp hóa ! Thế mà ở tại xứ Cờ Hoa này, tịnh không có một cái ống khói nào ! Họa hoằn lắm mới thấy một vài cái nhỏ tí ti để trang trí nhà cửa thôi !

Và ở Mỹ bạn cũng chỉ thấy toàn sông hồ trong sạch thôi. Chả tìm đâu ra những nhà máy giấy, nhà máy luyện thép bên bờ sông ! Không khí trong lành thanh khiết này là dấu hiệu của một xã hội sơ khai chứ gì nữa ! Chả có dấu vết gì của công nghiệp hóa cả !

2. Kinh tế

Người Mỹ hầu như không biết làm kinh tế ! 
Bạn biết đấy, nước họ có cơ man nào là xa lộ tỏa đi mọi hướng, vươn đến mọi làng mạc xa xôi, thế mà tịnh không thấy một trạm thu phí nào ! 
Thế là mất toi cả núi vàng!

Ước gì tôi có thể xây dựng vài cái trạm thu phí nhỉ ! 
Chắc chắn non tháng đã gom đủ tiền mua được cả tòa lâu đài trông ra Đại Tây Dương ấy chứ !

Hai bên xa lộ còn những cụm hồ hoang sơ tĩnh lặng. 
Thế mà chính quyền cứ để mặc cho lũ chim trời cá nước thỏa sức vẫy vùng, không nghĩ đến việc xây dựng vườn cảnh để thu lợi. 
Người Mỹ rõ ràng là không có đầu óc kinh tế tí tẹo nào !

3. Xây dựng

Trình độ xây dựng của người Mỹ còn sơ khai lắm.
Ngoài một số ít tòa nhà chọc trời tại các thành phố lớn, 
tôi dám chắc bạn rất ít gặp những công trình bê tông ở nước Mỹ. 
Nhà của người Mỹ thường làm bằng gỗ và vài thứ vật liệu khác.

Thử nghĩ mà xem, đến giờ này mà gỗ vẫn còn được dùng để xây dựng nhà cửa, thì có thể nói là trình độ kiến trúc của ngoại bang này còn thua xa trình độ của triều đại nhà Thanh xưa kia ấy chứ !

4. Văn hóa

Người Mỹ có cách suy nghĩ thật là lạc hậu và khờ khạo.

Hồi mới tới Mỹ, tôi thuê một xe chở hành lý giá 3 đô la. 
Nhưng tôi lại không có tiền lẻ. Một người Mỹ liền trả dùm tôi 3 đô la đó, và thấy tôi lỉnh kỉnh đồ đạc nên còn giúp mang lên xe nữa ! 
Người Mỹ cũng luôn sẵn sàng mở cửa giúp tôi và hỏi tôi có cần giúp đỡ gì không ? 
Thế đấy !

Ở nước ta, mấy chuyện này chỉ có vào thời Lôi Phong tức là vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước thôi – còn bây giờ lối cư xử đó quá ư lạc hậu. 
( Lôi Phong là một thanh niên mà thời Mao thường nhắc tới như một tấm gương về đạo đức).

Hồi đó người ta chuộng lối sống “ đạo đức giả ”nhưng bây giờ chúng ta không như vậy nữa.
Bây giờ chúng ta nên sống thực dụng trần trụi, đó mới là hiện đại chứ ! 
Tư duy của người Mỹ lạc hậu hơn chúng ta hàng mấy thập kỷ, và không có dấu hiệu nào cho thấy họ có thể bắt kịp chúng ta cả !

5. Ẩm thực

Người Mỹ làm như không biết thưởng thức thịt thú rừng.

Một đêm nọ, tôi cùng các bạn cùng lớp lái xe đi đến một thành phố khác, thình lình có mấy con nai nhảy xổ ra. 
Anh bạn tôi lập tức thắng lại và bẻ sang hướng khác để tránh. Ai cũng biết tai nạn loại này có thể làm hỏng cả chiếc xe. 
Thế mà chính quyền đành bó tay không biết phải xử lý tụi thú hoang này như thế nào cơ đấy !

Người Mỹ làm như cũng không biết ăn thịt thú rừng, thậm chí không có nhà hàng nào bán thịt thú rừng, họ chả thiết đến loại thịt thú rừng thơm ngon bổ như hươu nai, và cũng chả thiết lấy sừng bọn thú này để kiếm bộn tiền ! 
Người Mỹ vẫn sống cùng những con thú hoang dã đó, thậm chí còn đưa ra những biện pháp để bảo vệ chúng. Quả thật đó là một xã hội còn quá sơ khai !

6. Phong cách

Người Mỹ làm như không biết tự trọng !

Các giáo sư Mỹ không quan tâm nhiều đến bề ngoài , 
họ không hề có cái gọi là phong thái bác học. 
Giáo sư D chẳng hạn, là một giáo sư tâm lý học cực kỳ nổi tiếng thế mà giờ nghỉ ông ấy cũng thường ăn bánh bích quy với sinh viên trong văn phòng của mình, và bàn tán xôm tụ với họ về bộ phim 21, hay về minh tinh Trung Quốc Chương Tử Di ! 
Ông cũng không có phong cách uy nghi của một nhà bác học, và điều đó làm tôi thất vọng ghê gớm !

Các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ cũng không bao giờ ghi hai chữ PhD. lên danh thiếp của mình. 
Họ thậm chí cũng không biết cách thể hiện vị thế của mình. Thành ra những người học những ông thầy như vậy nếu trở thành những quan chức thì làm sao biết cách đi đứng nói năng cho đúng bộ lệ đây !

Còn ở Trung Quốc, giờ đây các công chức dường như rất biết cách để thu hút sự kính trọng của dân chúng, thậm chí đến cả vị giám đốc của một cơ quan tầm tầm ở Trung Quốc có khi còn uy thế hơn cả Tổng Thống Mỹ cơ đấy ! 
Một công dân hạng ba của Trung Quốc có khi còn xa một công dân hạng nhất của Mỹ là vậy !

7. Học đường

Học sinh tiểu học Mỹ chả có lý tưởng cao xa gì sất.

Chúng không hề có ý định đi học để trở thành ông này bà nọ trong chính quyền! 
Không hề có học đường nào dành cho chủ tịch, bí thư, 
ủy viên tương lai, như tôi đã từng thấy hồi còn nhỏ ở quê nhà. Các em không có bài tập về nhà. 
Bài tập về nhà kiểu như các học sinh như các học sinh Trung Quốc là khá xa lạ ở Mỹ.

Trường học ở Mỹ chú trọng đến đạo đức, trước hết để giúp cho các đứa trẻ trở nên những công dân có đủ tư cách , 
sau đó mới tính đến chuyện lý tưởng lâu dài. 
Trở thành công dân có đủ tư cách ư ? 
Một quan niệm nghe mới cổ hủ làm sao !

8. Y tế

Người Mỹ làm lớn chuyện một cách kỳ cục khi có bệnh.

Đầu tiên họ đi bác sĩ khám bệnh, rồi bác sĩ kê toa. 
Rồi cầm toa đó đi mua thuốc, mua xong còn phải nghe dược sĩ hướng dẫn sử dụng …ôi chao mọi việc chẳng thể nhanh gọn như ở Trung Quốc …
Tôi chả hiểu tại sao ở Mỹ lại phân biệt việc khám bệnh với việc bán thuốc … mà lẽ ra nên tách rời lợi nhuận với trách nhiệm ! 
Rõ ràng là các bệnh viện ở Hoa Kỳ không biết kiếm tiền mà ! Sao lại phải nói tên thuốc cho bệnh nhân biết chứ ? 
… chỉ có như vậy họ mới độc quyền bán thuốc với giá cao gấp cả chục lần cơ mà ! 
Có quá nhiều cơ hội làm ăn béo bở thế mà họ không biết khai thác , rõ ràng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở Mỹ chết rồi !

9.Báo chí

Ý kiến của công chúng Mỹ thật chả ra làm sao !

Đôi khi tôi hoàn toàn mất kiên nhẫn với sự ngu dốt và khờ khạo của người Mỹ . 
Chẳng hạn khi họ biết Trung Quốc có đài truyền hình và báo chí, họ đã hỏi tôi một câu ngu dốt như thế này : 
Hóa ra Trung Quốc cũng có báo chí à ? 
Nghe mà bực !

Chúng ta có những tờ báo tiếng Trung được Bộ Truyền Thông cho phép ấn hành sau khi đã rà soát một cách cẩn mật đấy chứ . 
Báo của chúng ta toàn là những bài ca tụng lên mây cả, có đâu như báo Mỹ, 
công chúng đóng góp phê bình loạn cả lên, thậm chí còn dám
“ chưởi ” cả tổng thống nữa cơ đấy! 
Báo chí chúng ta đâu có chuyện công khai mấy vụ bê bối của quan chức, bởi nếu cứ tung hê lên thì sau này ai mà muốn làm lãnh đạo nữa chứ !

10. Tâm linh

Người Mỹ có đời sống tinh thần hết sức vô vị nhạt nhẽo.

Tôi chả hiểu tại sao trước mỗi bữa ăn họ lại lẩm bẩm mấy câu thánh nghe hết sức khờ khạo : Cầu Chúa phù hộ nước Mỹ.

Thật là buồn cười quá đi : 
Nếu Chúa phù hộ nước Mỹ thì làm sao lại để nước Mỹ lạc hậu, sơ khai, đơn giản đến thế này ? Cầu Chúa có ich lợi gì chứ ? Thực tế nhất là bạn nên dành thời gian đó để đi lễ thủ trưởng !

Đó mới đúng là hiện đại chứ lỵ !

11. Lối sống

Người Mỹ chả có khái niệm về thời gian .

Bất luận chuyện lớn chuyện nhỏ, người Mỹ đều ngoan ngoản đứng vào hàng chờ đợi … Còn người Trung Quốc chúng ta – như bạn biết đấy – khôn hơn nhiều !

Bất kể đám đông như thế nào, chúng ta vẫn có kỹ năng chen lấn, điều này giúp tiết kiệm thời gian, và tránh được sự mệt mõi khi đứng chờ ! 
Nếu ai đó biết đi cổng sau thì kết quả tiết kiệm thời gian còn tuyệt hơn nữa.

Thế mà những người Mỹ lẩm cẩm lại không biết đến những điều hay ho đó cơ chứ !

12. Mua bán

Những cửa hàng ở Mỹ có một phong cách buôn bán hết sức vô lý : 
bạn có thể trả lại hàng vài tuần sau khi mua về mà thậm chí cũng không cần nêu lý do. 
Ở ta thì làm gì có chuyện cho đổi hàng mà không hò hét quát tháo nhau ra trò chứ !

13. An toàn

Nước Mỹ không an toàn ! 
Tôi nói điều này bởi có tới 95 % nhà dân không cần tới lưới chống trộm, và điều kỳ lạ này nữa là : 
chả biết mấy tên trộm đi đâu hết rồi nhỉ ?

14. Giao thông

Người Mỹ sao mà nhút nhát và yếu đuối quá vậy không biết !

Tôi nói điều này cũng bởi có tới 95 % tài xế không dám vượt đèn đỏ !’

Và mặc dầu 99 % dân Mỹ có xe hơi, vậy mà cách lái xe của họ thật lạ : 
bao nhiêu là xe cộ lưu thông nhưng không mấy khi nghe tiếng còi xe, phố xá vì thế vắng lặng đến nỗi cứ ngỡ không phải là phố xá nữa, làm sao mà bì được phố xá ồn ào náo nhiệt ở Trung Quốc cơ chứ !

15. Tình cảm

Người Mỹ rất là thiếu cảm xúc .

Có tới 95 % nhân viên không nghĩ tới việc phải làm gì cho tiệc cưới của sếp, họ chẳng bao giờ phải vắt óc tìm ra lý do để chăm sóc sếp của mình. 
Ở Trung Quốc liệu có ai điên đến mức bỏ qua cơ hội chăm sóc sếp của mình không? 
Nói cách khác, có ai dám làm điều đó không ? 
Hãy xem, người Trung Quốc chúng ta có biết bao nhiêu là tình thương mến thương với lãnh đạo !

16. Nhạy bén

Người Mỹ không nhạy bén chút nào !

99% người Mỹ đi học, đi làm , thăng quan tiến chức, 
mà không hề biết sự cần thiết của “ phong bì ” để có thể mở ra một cánh cửa ..sau !

Nguyễn Đại Hoàng chuyển ngữ

————
NGUYÊN TÁC

[ ‘Foolish and Backward Nation’: 
A Self-Effacing Chinese Satire of America

On the eve of U.S. Secretary of State Hillary Clinton’s diplomatic visit to the Middle Kingdom, a tongue-in-cheek critique of Americans has gone viral on Sina Weibo, China’s Twitter, with over 44,000 retweets and 5,400 comments. This piece, of uncertain author and origin, laughingly criticizes Americans as foolish, primitive, and naive. Lest American readers be offended, it soon becomes apparent that the essay is in fact a sharp, backhanded critique of China.Tea Leaf Nation has translated the juiciest parts (which happen to constitute most of the essay). Please enjoy. ]

Don’t Go to the U.S., A Foolish and Backward Nation

I’ve already been in the U.S. for a long time. I regret that choice. We’ve been [fooled] by Western media the whole time, making us think that the U.S. is a modernized country. Harboring hopes of studying American modern science in order to serve my motherland, I moved heaven and earth in order to make it over to this “superpower.” But the result has been very disappointing!

(1) The U.S. is actually a giant, undeveloped farming village. In middle school, teachers teach students that the more developed industry gets, the greater harm the natural environment suffers. For example, in an industrial city you should find chimneys everywhere, large factories everywhere, dust everywhere. That’s the symbol of industrialization! But the U.S.? You hardly ever see chimneys, occasionally you’ll see a few small ones but they’re just decorations for houses. Instead there are clear rivers and lakes everywhere, and there aren’t even paper factories or steel smelters by the riverbanks. The clean and fresh air is a symbol of primitive society. There’s not even a trace of industrialization!

(2) Americans don’t understand economics. Highways extend in all directions, seemingly reaching every village, but there are hardly any toll stations! What a tremendous waste of a gigantic business opportunity! I can barely keep myself from grabbing some cement and building a few toll stations; within one month I’ll definitely make enough money to buy a house with a view of the Atlantic Ocean. Also, by the side of the highway you can see quiet and undeveloped lakes. The government allows waterbirds to freely settle and poop wherever they want, neglecting even to open a scenic garden with a lake view in order to make some serious money. It’s clear Americans have no head for economics.

(3) American construction is too primitive. Besides [what you find in] a small number of large cities, there are no big cement and concrete skyscrapers. … I can scarcely believe that the U.S. seemingly has no concrete buildings. They’re all mostly made of wood and some other strange materials. Using primitive wood to build houses-it’s like these foreigners’ architecture hasn’t moved beyond pre-Qing Dynasty times. That’s feudal times!

(4) Americans’ thinking is naive and backwards. As soon as I got to the U.S., I found [renting] a luggage cart cost three U.S. dollars. I didn’t have change, an American saw that I had a lot of luggage, so they paid the three bucks for me and brought me a cart. [Americans] also always open doors for me and ask me if I need help. In my country, we already had the Lei Feng period in the ’50s and ’60s, now we think that stuff is so backwards! [Lei Feng was a young man that the Mao-era Communist government widely touted as an example of selfless virtue.] Back then, people were very hypocritical, but now we’re not that way. We do things nakedly; now that’s modernization! So Americans’ thinking is behind ours by several decades, and there are no signs they will be able to catch up.

(5) Americans don’t understand [how to eat] game. One night, I was driving with my classmates to another city and several Sika deers suddenly bounded out. My classmate immediately braked and swerved in order to avoid an accident. Apparently this sort of thing happens often, as a collision with one deer is enough to total a car. The U.S. government doesn’t know how to manage this. … Americans really don’t understand how to eat game, they don’t even have game restaurants, much less a taste for delicious wild animals-killing a deer and selling the antlers can make a lot of money! Americans live with those wild animals every day, even taking measures to protect wild animals. That’s a really primitive society.

(6) Americans don’t understand self respect. Professors at American universities have no presence (架子); they don’t have the air of distinguished scholars at all. It’s said that Professor D___ is a famous professor of psychology, but during class breaks he eats cookies in his office with his students, talks about the movie “21″ and [Chinese actress] Ziyi Zhang. He doesn’t have any of the majesty of scholarship, I was really disappointed. Also, post doctoral students never put “Ph.D” on their name cards. They don’t even understand how to show off their status. People taught by professors like this won’t even understand how to posture if they become government officials. … It seems Chinese public servants really know how to get peoples’ respect; even the boss in a minor office in my motherland is more imposing than the American President. No wonder they say a first-class citizen in China becomes a third-class citizen in the U.S.

(7) American elementary school students don’t have lofty ideals. From the start, elementary school students don’t have any intention of becoming officials. … There are none of the class presidents, class secretaries, or the committees I had when I was young. After class, it’s as if they have no homework. There’s no way you can even mention it in the same breath with Chinese primary school students’s homework. Schools place too much emphasis on a moral upbringing, making little kids focus on becoming qualified citizens first, getting to the long-term ideals later. Becoming a qualified citizen? What a corny concept.

.(8) Americans cause a big ruckus every time they see a little illness. First, they make an appointment with the doctor, and afterwards the doctor gives a prescription. Some people have to consult a qualified pharmacist. When they buy medicine, they have to go to the supermarket to get it themselves. It’s not as fast as it is with us … I don’t understand why Americans separate seeing the doctor and buying medicine … instead separating benefit from responsibility. It’s clear American hospitals have no concept of how to make money! Why tell the patients the name of the medicine? … They could monopolize the sales of medicine and raise prices 8 or 10 times. There are so many good business [opportunities] they’re not [pursuing], obviously the capitalist market economy is dead!

(9) American public opinion is nuts. Sometimes I completely lose patience with their ignorance and foolishness. For example, when they learned that China has television stations and newspapers, they actually ignorantly ask me, “China has a newspaper?!” That’s really outrageous; we not only have Chinese-language newspapers, they are meticulously produced by our Ministry of Propaganda; looking at our newspapers is like listening to a hymn, it’s nothing like American newspapers with their messy public opinions, even daring to insult the U.S. President by name…[in China] we don’t publicize the leaders’ scandals; after that, who would want to be a leader? …

(10) Americans are spiritually empty. What I can’t stand is: The majority of Americans say grace before each meal, and naively say “God bless America.” Ridiculous; if God blessed America, how did America get this backwards, this primitive, how did Americans get so simple and primitive? What’s the use of praising God? It would be more practical to spend that time praising your boss! That’s the modern way! …

(11) Americans do not have a concept of time. No matter what, they always wait in line. … We Chinese are smarter, you see. No matter how crowded it gets, we still have the skill to stuff ourselves in somewhere, this saves a lot of time and you can avoid getting tired from standing! If someone you know opens a backdoor, that saves even more time. The old Americans just don’t get this.

(12) American stores make no sense: You can return something weeks after buying it without even giving a reason. How is it that you let me return the goods without even arguing with me for a little while? …

(13) The U.S. isn’t safe. 95% of homes have forgotten to install anti-theft nets/doors/windows; another strange thing is, where’d all the pickpockets go?

(14) Americans are wimps. 95% of drivers don’t even dare to run red lights…although 99% of American adults have a car, their driving method is very strange: There are many cars on the road, but you can’t hear any horns, the streets are so quiet it’s as if they’re not streets, there’s none of the energy of a major province-level [Chinese] city.

(15) Americans lack emotion. 95% of employees don’t think their superiors’ weddings have anything to do with them, so they never find an excuse to care about their leaders; in China, do the masses ever miss a chance to care about their leaders? Put another way, who in China doesn’t dare to? Look how much feeling we’ve got.

(16) Americans aren’t sensible. 99% of Americans go through school, get jobs, get promoted, and get an operation without understanding the need to give “hong bao” [red envelopes full of cash] to open a back door. …

Nước ngập lút bánh xe sau mưa lớn ở Sài Gòn

Nước ngập lút bánh xe sau mưa lớn ở Sài Gòn

Mưa lớn sáng 2/10 khiến nhiều đường tại quận 2, Bình Tân, huyện Bình Chánh ngập sâu, người dân bì bõm đẩy xe chết máy đến nơi làm việc.

Khoảng 5h30, mưa lớn trút xuống trên diện rộng ở nhiều quận huyện tại TP HCM. Nửa giờ sau, tại Quốc lộ 1, đoạn qua huyện Bình Chánh, nước ngập lút bánh xe khiến hàng loạt phương tiện chết máy. Nước tràn vào nhà dân buôn bán ven đường khiến nhiều người không kịp trở tay.

Image may contain: one or more people, car and outdoor
Image may contain: one or more people, outdoor, nature and water
Image may contain: shoes, flower, plant and outdoor
Image may contain: one or more people, crowd and outdoor
Image may contain: 2 people, outdoor
+3

Vì sao người Miền Nam nguyền rủa ông Đỗ Mười? (M.Châu)

Van H Pham

***********

Vì sao người Miền Nam nguyền rủa ông Đỗ Mười? (M.Châu)

Nhà báo Lê Phú Khải nói rằng ông Đỗ Mười là tấn bi hài kịch của một người lãnh đạo đảng cộng sản xuất thân từ tầng lớp bình dân trong xã hội Việt Nam, nông nghiệp lạc hậu phong kiến nửa thực dân trước 1945. Ông đi làm cách mạng, từng bị thực dân tù đầy, tra tấn. Nhưng vì đi lạc vào quỹ đạo cộng sản nên bị ‘ma dẫn lối, quỷ đưa đường…!’.

Người miền Nam oán ghét ông Đỗ Mười vì lý do đơn giản hơn: sau tháng 4-1975, nhân danh ‘bên thắng cuộc’, ông đã công khai cho đánh cướp tài sản, cơ nghiệp của người dân miền Nam, bất chấp luân thường đạo lý.

Những ý kiến ghi nhận tiếp theo đây từng được đăng tải trên nhiều tờ báo quốc doanh, xin được kể lại để lý giải vì sao người miền Nam vui mừng trước cái chết của ông Đỗ Mười.

***********

Từng làm phóng viên tuyên truyền về cải tạo công thương nghiệp ở miền Bắc những năm 1960 khi còn công tác ở báo Nhân Dân, sau năm 1975 ông Đinh Phong (đã mất) lại là một trong những chứng nhân của một giai đoạn lịch sử mới. Trong ký ức của mình sau gần ba thập niên kể từ ngày ấy, nhà báo Đinh Phong trầm ngâm: “Chúng tôi vác máy đi tuyên truyền mà lòng trĩu nặng, ngơ ngác nhìn nhau hỏi tại sao lại như vậy?

Có lần, chúng tôi mang máy ra chợ Tạ Thu Thâu quay cảnh niêm phong tài sản một hộ kinh doanh hàng điện tử. Chưa kịp ghi hình ảnh nào, ông chủ hộ kinh doanh bước ra gạt máy, rồi chỉ vô mặt tôi bảo: “Chú về mà hỏi Huỳnh Văn Tiểng (giám đốc đài truyền hình lúc bấy giờ – NV) xem ngày xưa tôi đã gửi linh kiện vô chiến khu lắp ráp đài phát thanh như thế nào, hỏi coi thời chống Mỹ tôi đã giúp đỡ các ông những gì? Bây giờ tôi buôn bán, có tội tình gì mà bay bắt tôi về làm ruộng hả?”. Thời gian sau tôi có trở lại tìm ông chủ ấy nhưng không gặp, chỗ cũ đã trở thành một cửa hàng quốc doanh”.

Ông Đinh Phong kể tiếp: “Một tối, tôi tiếp hai vợ chồng anh bạn trong cơ quan. Họ đến bảo rằng cả gia đình là cơ sở điệp báo của ta trước năm 1975, họ dùng chính cửa hàng vải sợi của mình làm bình phong cho cơ sở liên lạc của cách mạng. Những câu chuyện ấy chưa kịp được xác nhận sau năm 1975 thì gia đình trở thành điểm “cải tạo” với cửa hàng vải sợi.

Tài sản bị niêm phong, mọi người trong nhà chuẩn bị nhận quyết định đi “xây dựng vùng kinh tế mới”. Tôi nghe mà toát mồ hôi, ngay trong đêm chạy đến gặp ông Dương Văn Đầy (lúc ấy là chủ tịch Q.1, TP.HCM), bảo: “Họ sắp đưa một gia đình có công với cách mạng đi kinh tế mới”. Ông Đầy nói: “Đâu được”. Tôi bảo: “Họ hẹn sáng sớm 5 giờ là phải đi rồi”. Tờ mờ sáng hôm sau, ông Đầy phải đến chặn ngay trước cửa nhà can thiệp cho trường hợp này. Vậy là quyết định mới được hủy bỏ”.

Ông Mai Chí Thọ (nguyên chủ tịch UBND TP.HCM, đã mất) kể với phóng viên báo Tiền Phong, từ một thành phố hưởng thụ, một Trung tâm công nghiệp lớn nhất, vậy mà chỉ sau mấy năm khi “Chiến dịch X1, X2” đi qua, toàn bộ nền sản xuất công nghiệp của Sài Gòn bị tê liệt tới mức cạn cùng: Nguyên vật liệu không còn, viện trợ từ các phía bị cắt đứt, cơ sở vật chất xuống cấp nhanh chóng, máy móc phương tiện “đắp chiếu” ngủ triền miên hết năm này sang năm khác.

Ông Mai Chí Thọ nói rằng Sài Gòn lúc đó dấy lên phong trào “tự túc lương thực” nhà nhà trồng rau, nuôi heo, làm đủ mọi việc để kiếm sống. Trước đó không lâu, còn là “Hòn ngọc Viễn Đông”, nay, TPHCM như trở thành một khu chăn nuôi, trồng trọt khổng lồ, thậm chí có nhiều đoạn vỉa hè bị đào xới lên để trồng khoai lang, rau cải…

“Ngay như gia đình tôi đây, hồi đó, làm Chủ tịch thành phố, anh em họ thương, phân cho ở một ngôi nhà rất rộng và đẹp kiểu château của Pháp ngày xưa. Biệt thự nằm trên khuôn viên rộng mấy ngàn mét vuông, có thảm cỏ xanh mượt rất đẹp mắt, những dãy hoa càng tô điểm thêm cho vẻ sang trọng lộng lẫy của khu biệt thự.

Phía trước nhà có bể bơi nước trong xanh phía sau có sân tennis. Thế mà chỉ sau một thời gian, bể bơi lúc đầu thả cả rô phi, sau chẳng lấy đâu ra thức ăn cho cá, vả lại cũng không có người chăm sóc nên trong bể đầy nòng nọc; thảm cỏ thì biến thành ruộng trồng khoai lang để nuôi heo…”. Ông Mai Chí Thọ nói.
**********

Tiểu sử công khai trên báo chí nhân chuẩn bị lễ tang của ông Đỗ Mười cho biết: Năm 1976: Được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị khóa IV, vào Quốc hội khóa VI, tiếp tục giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 1976-1981.

Năm 1977: Là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam.
**********

Chiều 21-3-1978, Hội trường của trường đảng Nguyễn Ái Quốc II, Thủ Đức, Sài Gòn, Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng, đọc Chỉ thị 100-CP, và triển khai kế hoạch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại TPHCM và các tỉnh phía Nam.

Đỗ Mười nói (trích băng lưu trữ): “Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ, diệt triệt để, diệt không nương tay…

Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta. Vừa qua kẻ nào vơ vét mì chính (bột ngọt), vải vóc, đường, sữa đầu cơ trục lợi, rồi lại đổ tội cho nhà nước ta chuyển ra Bắc nên thị trường khan hiếm? Chính là bọn tư sản thương nghiệp!

Kẻ nào tích trữ thóc gạo để dân ta đói? Chính là bọn đầu nậu lúa gạo. Tôi hỏi các đồng chí, kẻ nào cung cấp lương thực, thực phẩm cho tổ chức phản động trên Lâm Đồng chống phá cách mạng? Kẻ nào? Chính là bọn tư sản đấy! Bọn gian thương đầu cơ, phá hoại, bọn ngồi mát ăn bát vàng, rút rỉa máu xương đồng bào ta, ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng ta…”.

Bảy giờ sáng hôm sau, ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của Ủy ban nhân dân TPHCM. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau đó, xác nhận “Chiến dịch X-3”, bắt đầu.

Image may contain: one or more people and crowd
Image may contain: one or more people, people standing and outdoor
Image may contain: one or more people, people sitting, crowd, shoes and outdoor

Đảng còn vĩ đại vì dân thật là… vô tư!

Van H Pham
Đảng còn vĩ đại vì dân thật là… vô tư!

Cho dù cả Tổng thống Mỹ lẫn các chính khách của Đảng Cộng hòa hết sức sốt ruột nhưng họ vẫn chưa thể đưa Thẩm phán Brett Kavanaugh vào Tối cao Pháp viện… Đem chuyện chính trường Mỹ so với hiện tình chính trường Việt Nam ắt sẽ thấy “Đảng ta vĩ đại thật”!

********

Tối cao Pháp viện Mỹ là một Hội đồng với chín thẩm phán và là định chế đứng đầu hệ thống tư pháp của Mỹ. Mỗi thẩm phán trong số chín thẩm phán này được Tổng thống Mỹ lựa chọn – giới thiệu với Thượng viện. Thượng viện sẽ xem xét – bỏ phiếu chấp nhận hay từ chối.

Nếu được Thượng viện phê chuẩn, người được đề cử sẽ trở thành Thẩm phán của Tối cao Pháp viện, cùng với tám thẩm phán còn lại có quyền giải thích Hiến pháp, xác định các đạo luật liên bang hay tiểu bang, hành động của chính phủ liên bang hoặc chính quyền các tiểu bang là hợp hiến hay vi hiến. Chưa kể Hội đồng Thẩm phán của Tối cao Pháp viện còn có quyền phân định đủ loại tranh chấp, bất đồng là đúng – sai, phải – trái. Phán quyết của Tối cao Pháp viện là chung thẩm, không xét lại nữa.

Đó cũng là lý do tổ chức chính trị nào tại Mỹ cũng muốn các thẩm phán ủng hộ – chia sẻ quan điểm của mình chiếm đa số trong Tối cao Pháp viện. Đạt được mục tiêu đó, Tối cao Pháp viện sẽ là nơi giúp tổ chức chính trị giải quyết những vấn đề hóc búa, chẳng hạn như cho phép phá thai hay cấm mà vì nhiều lý do, lập pháp thúc thủ, hành pháp bó tay bởi không thể dung hòa những khác biệt nhận thức, lợi ích cả trong hệ thống lập pháp, hành pháp lẫn dân chúng.

Từ đầu tháng 8 tới nay, sau khi Thẩm phán Anthony Kennedy từ chức vì tuổi cao, sức yếu, Tối cao Pháp viện Mỹ thiếu một người. Tám thẩm phán đương nhiệm trong Tối cao Pháp viện có bốn do các Tổng thống là người của Đảng Cộng hòa đề cử, bốn còn lại do các Tổng thống là người của Đảng Dân chủ đề cử.

Tổng thống Donald Trump đã chọn – giới thiệu Thẩm phán Brett Kavanaugh, một người nhiệt thành ủng hộ các quan điểm của Đảng Cộng hòa vào Tối cao Pháp viện. Thượng viện Hoa Kỳ với 100 ghế, các thành viên Đảng Cộng hòa đang giữ tới 51 phiếu thành ra chuyện đưa thêm một thẩm phán ủng hộ Đảng Cộng hòa vào Tối cao Pháp viện tưởng như sẽ là tất nhiên…

Không ai dè việc thực hiện “chủ trương lớn” của Đảng Cộng hòa gặp trục trặc. Bà Christine Ford – một giảng viên đại học, đột nhiên tố cáo, cách nay 34 năm, Thẩm phán Kavanaugh toan cưỡng bức bà khi cả hai đang học trung học… Lúc đầu, cả Tổng thống Trump lẫn giới lãnh đạo Đảng Cộng hòa cùng cho rằng, tố cáo của bà Ford là chuyện… tầm ruồng, không thể xác minh, kết luận phải – trái, đúng – sai vì đã xảy ra cách nay ba thập niên, thậm chí lên án tố cáo ấy là âm mưu của Đảng Dân chủ – “thế lực thù địch, phản động” nhưng phản ứng của công chúng đã buộc họ phải nhượng bộ…

Ngày 27 tháng 9, Ủy ban Tư pháp của Thượng viện phải tổ chức một buổi điều trần, nghe cả bà Ford lẫn Thẩm phán Kavanaugh. Buổi điều trần được nhiều người xem là “đầy kịch tính”: Một Thượng nghị sĩ của Đảng Cộng hòa bị các nạn nhân của những vụ tấn công tình dục bao vây, chất vấn (1). Hai nữ Thượng nghị sĩ cũng của Đảng Cộng hòa cho rằng, điều trần chưa đủ. Cho đến giờ này vẫn chưa thể xác định bà Ford tố thật hay tố điêu nhưng Tổng thống Trump rồi các thành viên Đảng Cộng hòa trong Ủy ban Tư pháp của Thượng viện cùng lui thêm một bước: Yêu cầu FBI điều tra – như bà Ford và nhiều người khác đã từng đề nghị.

Chỉ vài giờ sau cuộc điều trần, tạp chí America của Jesuit (người Việt quen gọi là Dòng Tên) tuyên bố rút lại sự ủng hộ Thẩm phán Kavanaugh tham gia Tối cao Pháp viện. Cần nhớ Thẩm phán Kavanaugh là một tín đồ Công giáo và đã vài lần dẫn yếu tố từng là học sinh một tư thục danh tiếng của Dòng Tên, cũng như tuân thủ giáo lý Công giáo một cách nghiêm cẩn nhằm khẳng định ông không vô đạo đức như tố cáo của bà Ford. Trong Thư ngỏ gửi cho công chúng, America nhấn mạnh, ai tôn trọng quyền được sống của các thai nhi cũng ủng hộ Thẩm phán Kavanaugh trở thành thành viên Hội đồng Thẩm phán của Tối cao Pháp viện, song mặt khác, không thể không quan tâm đến cách thức quốc gia đối xử với nữ giới khi họ tố cáo bị quấy rối, bị tấn công và những tố cáo ấy có thể làm tiêu tan sự nghiệp của những nhân vật quyền lực. Một thành viên trong Hội đồng chủ biên của tạp chí vừa kể bảo với báo giới, sự quan tâm của America không chỉ giới hạn trong những vấn đề liên quan đến Hiến pháp mà còn bao gồm cả việc phải xem xét để quấy rối, lạm dụng tình dục được chú tâm xủ lý đúng mức vì đó cũng là đạo đức Công giáo (2).

********

Thời nào, ở đâu, các tổ chức chính trị cũng có tham vọng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối. Đảng Cộng hòa ở Mỹ cũng vậy nhưng “chủ trương lớn” (đưa Thẩm phán Kavanaugh vào Tối cao Pháp viện để gia tăng khả năng kiểm soát, chi phối cả ba nhánh quyền lực của Mỹ) là một chuyện, thực hiện được hay không là chuyện khác. Chuyện khác đó phụ thuộc vào nhận thức của dân chúng. Xem mong muốn của dân chúng như rác, không lắng nghe, cưỡng cầu – thực hiện cho bằng được các “chủ trương lớn” thì toàn Đảng sẽ đi chỗ khác chơi vì ở những kỳ bầu cử sau đó, dân chúng sẽ chọn người khác của đảng khác.

Đâu phải tự nhiên mà hết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi tới Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem việc bàn luận, vận động cho “đa nguyên, đa Đảng” là… phản quốc. Với hiện tình chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội quốc gia như lúc này, đa số người Việt chỉ bàn luận sôi nổi về “nhất thể hóa” cá nhân đứng đầu tổ chức chính trị duy nhất với nguyên thủ quốc gia, không bận tâm thân phận, tương lai của chính mình, của con cháu mình là vàng hay rác thì rõ ràng “Đảng ta” còn vĩ đại lâu, còn rất nhiều du địa để soạn thảo – ban hành – thực thi vô số “chủ trương lớn” nữa. Năm 1962, ở Lễ Kỷ niệm 32 năm ngày thành lập Đảng CSVN, ông Hồ Chí Minh rất thản nhiên tuyên bố như thế này: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng, Đảng ta thật là vĩ đại!”. Giờ, liệu có thể nói thêm thế này: Sau tất cả những gì đã và đang xảy ra, có thể khẳng định, ‘Đảng ta’ thật là vĩ đại vì dân ta thật là… vô tư?

About this website

VOATIENGVIET.COM
Thời nào, ở đâu, các tổ chức chính trị cũng có tham vọng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối. Đảng Cộng hòa ở Mỹ cũng vậy nhưng “chủ trương lớn” (đưa Thẩm phán Kavanaugh vào Tối cao Pháp viện để gia tăng khả năng kiểm soát, chi ph…  

Slovakia sắp ‘xử’ đảng Cộng sản Việt Nam?

Slovakia sắp ‘xử’ đảng Cộng sản Việt Nam?

Phạm Chí Dũng

Không còn nghi ngờ gì nữa, quốc gia được giới chóp bu Việt Nam ve vuốt là ‘đối tác thân thiện’ – Slovakia – đang chuẩn bị cho động thái ‘xử’ đối với Việt Nam, hay chính xác hơn là đối với đảng Cộng sản Việt Nam.

Thủ phạm ‘đảng Cộng sản Việt Nam’?

“The head of the Slovak diplomacy clearly and categorically emphasised that the Vietnamese party’s previous explanations of the serious suspicions of the abduction of a Vietnamese national across Slovak territory are not satisfactory.” (TASR) 
– Người đứng đầu ngoại giao Slovak đã nhấn mạnh một các rõ ràng và lớp lang rằng những lời giải thích trước đây của đảng (CS) Việt Nam về những nghi ngờ nghiêm trọng của vụ bắt cóc một người Việt trên lãnh thổ Slovak là không thỏa đáng (Danlambao).

Ngoại trưởng Slovakia Miroslav Lajcak đã thẳng thừng tuyên bố như trên trong cuộc tiếp xúc với Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh tại New York vào cuối tháng Chín năm 2018, với nội dung chủ yếu xoáy vào vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh – theo hãng thông tấn TASR của Slovakia.

Chi tiết rất đặc biệt trong tuyên bố trên là Ngoại trưởng Miroslav Lajcak đã chỉ đề cập về khách thể đảng Cộng sản Việt Nam chứ không phải nói tới ‘Nhà nước Việt Nam’ theo lối ngoại giao nói thông thường. Cách dùng từ xác quyết và mang tính phân biệt không kém xác quyết như thế cho thấy trong nhận thức và hành động ngoại giao của phía Slovakia, thủ phạm của vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Berlin vào tháng bảy năm 2017 và sau đó ‘vận chuyển’ Thanh sang Bratislava của Slovakia để từ đó bay sang Moscow của Nga rất có thể đã hiện hình như ban ngày chứ tuyệt đối không phải là ‘Trịnh Xuân Thanh tự nguyện về nước đầu thú’.

Cách thức dùng từ không còn thuần túy ngoại giao hay cố gắng mang cung cách ngoại giao của Ngoại trưởng Miroslav Lajcak cũng khá tương đồng với một cử chỉ mới đây của giới quan chức Đức khi dự lễ kỷ niệm ngày lễ quốc khánh 2/9 tại Đại sứ quán Việt Nam ở Đức.

Trong buổi lễ trên, phía Đức chỉ cử một đại diện cấp thấp với chức vụ “Abteilungsleiterin” (Trưởng phòng hay Vụ trưởng) – bà Ina Lepel – đến tham dự lễ 2/9 của Việt Nam. Chức vụ của bà Ina Lepel là vụ trưởng châu Á-Thái Bình Dương trong Bộ Ngoại giao Đức. Còn tại cuộc kỷ niệm quốc khánh 2/9 vào năm 2016, tức trước khi vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh xảy ra và khi quan hệ giữa 2 nước còn “nồng ấm”, chính phủ Đức đã cử bà Edelgard Bulmahn, Phó Chủ tịch Quốc hội Liên Bang Đức, đến tham dự lễ kỷ niệm quốc khánh Việt Nam.

“Không có hình tượng nào lột tả được thực trạng mối quan hệ hai nước hiện nay hay hơn là hình tượng Đại sứ Đoàn Xuân Hưng chìa tay ra, muốn bắt tay bà Ina Lepel đại diện chính phủ Đức, nhưng bà Ina Lepel vẫn khư khư giữ chặt túi xách” – trang Thoibao.de thuật lại một cách rất tượng hình và đối kháng về buổi lễ kỷ niệm 2/9 năm 2018.

Quả là như vậy, hình ảnh ‘hữu nghị Việt – Đức’ trên không chỉ cho thấy thái độ khinh miệt mà giới quan chức Đức dành cho giới quan chức Việt Nam, mà còn cho thấy người Đức đang cực kỳ cảnh giác trước những quan chức Việt Nam, trong bối cảnh mà hơn một năm trôi qua kể từ thời điểm mật vụ Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, vẫn chẳng có bất kỳ một lời xin lỗi hoặc ‘cam kết không tái phạm’ nào được nêu ra từ phía Việt Nam.

Thậm chí trong bài diễn văn của mình, bà Ina Lepel chỉ dùng từ ‘nhân dân’ để nói đến tình hữu nghị giữa hai nước, mà không dùng từ ‘nhà nước’ hay ‘chính phủ’. Phải chăng người Đức đã quá chán ngán thói tuyên rao ‘nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam’ và khách thể ‘đảng Cộng sản Việt Nam’?

‘Giá treo cổ’ dành cho ai?

Với cuộc gặp Phạm Bình Minh, đây là lần thứ hai trong hai tháng liên tiếp, Ngoại trưởng Slovakia Miroslav Lajcak lên tiếng về vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.

Vào đầu tháng Tám năm 2018, chỉ 4 ngày sau loại bài điều tra của tờ Frankfurter Allgemeine Zeitung của Đức và tờ Dennik N của Slovakia về ‘cựu Bộ trưởng Nội vụ Slovakia Robert Kaliňák đã giúp Bộ trưởng Công an Việt Nam Tô Lâm đưa Trịnh Xuân Thanh ra khỏi khu vực Schengen bằng chuyên cơ của chính phủ Slovakia’, Ngoại trưởng Miroslav Lajcak đã viết trong một bài bình luận trên tờ báo mạng pravda.sk, ra ngày 7/8/2018: “Không còn hoài nghi rằng kết luận của các nhà điều tra Đức về vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh là nghiêm trọng và cho thấy một sự nghi ngờ rất lớn về sự đúng đắn của thông tin do phía Việt Nam cung cấp cho đến nay. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tất cả mọi thứ được in trên báo là đúng sự thật, hoặc đã đủ để chúng tôi đưa ra tòa án. Cho đến khi nào vụ việc này chưa được kiểm tra kỹ lưỡng và các chi tiết chưa được làm rõ, thì chúng tôi không thể dựng lên giá treo cổ được” – (Thoibao.de dịch)

Đáng ngạc nhiên là từ ngữ mang tính hình tượng cực mạnh ‘giá treo cổ’ mà Ngoại trưởng Miroslav Lajcak trưng ra trong bài viết trên, bởi điều này dường như không phù hợp lắm, hoặc quá thô bạo so với âm điệu ngoại giao hoặc êm ái hoặc buộc phải tỏ ra êm ái. Từ ngữ này chỉ bộc lộ vào bối cảnh tác giả của nó không thể kềm chế được sự giận dữ và thấy không từ nào thích đáng hơn nó.

‘Giá treo cổ’ đe dọa dựng lên dành cho những quan chức Slovakia đã trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp tay cho vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh – chẳng hạn như cựu Bộ trưởng Nội vụ Robert Kaliňák. Nhưng ‘giá treo cổ’ cũng là lời cảnh cáo trực diện giới chóp bu Việt Nam.

Khác nhiều với văn phong còn cố gắng duy trì tính cách xã giao mà không muốn làm mất mặt Hà Nội trong một tuyên bố phản đối vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh của Bộ Ngoại giao Đức vào tháng Tám năm 2017, lời lẽ của người đại diện cho Bộ Ngoại giao Slovakia là quá thẳng thắn và phẫn nộ.

Cũng trong bài bình luận trên tờ báo mạng pravda.sk, ra ngày 7/8/2018, Ngoại trưởng Lajcak viết:

“Trong lúc phiên tòa tại Berlin đang diễn ra, phía Đức tuyên bố, họ đã có những dấu hiệu nghiêm trọng, rằng nạn nhân bị bắt cóc đã được đưa bằng máy bay từ Bratislava (thủ đô Slovakia) đến Moscow. Nhiệm vụ của chúng tôi là thẩm tra những cáo buộc qua thông tin liên lạc với phía Việt Nam. Bác bỏ, nếu cáo buộc không đúng.

Vì cho đến nay, Việt Nam đã không cung cấp cho chúng tôi những bằng chứng đáng tin cậy cho thấy rằng cáo buộc của các nhà điều tra Đức là không đúng, cho nên chúng tôi đã buộc phải thực hiện một bước cụ thể – để giảm đại diện ngoại giao của chúng tôi tại Việt Nam. Điều đó có nghĩa là chúng tôi không có Đại sứ tại Việt Nam vào thời điểm này – và chúng tôi không có kế hoạch bổ nhiệm một vị Đại sứ đến Hà Nội cho đến khi nào chúng tôi giải quyết xong vụ việc. Đây là một bước rất nghiêm trọng trong thực tiễn ngoại giao, biện pháp này không phải là đơn giản hoặc không đáng kể. Và nó không phải là bước duy nhất.

Nếu vụ việc này được xác định rằng Cộng hòa Slovakia đã bị Việt Nam lợi dụng, thì cần thiết phải có những biện pháp tiếp theo” (Thoibao.de)

Một cách chính thức, cuộc khủng hoảng Slovaka – Việt Nam đã bùng nổ – tròn một năm sau khi nổ ra cuộc khủng hoảng Đức – Việt. Bây giờ thì khó còn gì có thể cứu vãn được nữa.

Tháng Mười?

Một năm trước, cũng vào tháng Tám, Bộ Ngoại giao Đức đã làm một cử chỉ mà Hà Nội khó ngờ khi ra tuyên bố mạnh mẽ phản đối vụ mật vụ Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ngay tại Berlin. “Việc này cũng phá vỡ lòng tin một cách nghiêm trọng” – một nội dung trong tuyên bố phản đối của Bộ Ngoại giao Đức. Và phía Đức kết thúc bản tuyên bố phản đối bằng “Chúng tôi cũng bảo lưu quyền áp dụng thêm các hành động khác ở cấp độ chính trị, kinh tế và chính sách phát triển”.

Sau tháng Bảy năm 2017, khủng hoảng Đức – Việt đã bùng phát và kéo theo quá nhiều hậu quả. Không chỉ trục xuất vài cán bộ ngoại giao của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức về nước, Nhà nước Đức còn thẳng tay tuyên bố tạm thời đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam vào tháng 10/2017 và một tháng sau đó đã thông báo ngừng luôn hiệp định về miễn trừ visa đối với quan chức Việt Nam đi công tác ở Đức.

Hà Nội cũng khó ngờ rằng chỉ một năm sau cuộc khủng hoảng ngoại giao Đức – Việt, cơn khủng hoảng thứ hai mang tên Slovakia – Việt và cả EU – Việt đang chuyển qua giai đoạn mới: thời kỳ đóng băng kéo dài nhiều năm.

“Nếu quý vị tiếp tục nói rằng quý vị không lạm dụng lòng hiếu khách của chúng tôi và công dân bị bắt cóc của quý vị không có mặt trên chuyến phi cơ của chính phủ Slovakia, thì tôi yêu cầu quý vị hãy đưa ra lời giải thích không sai sót về việc quý vị đã đưa ông ta từ Đức về Việt Nam bằng cách nào”, và “Bất kỳ cách giải thích gây hiểu nhầm nào từ phía quý vị cũng sẽ gây ra những hậu quả cho quan hệ song phương giữa chúng ta, và chúng tôi cũng đang sẵn sàng có những hành động hạn chế trên cơ sở vì lợi ích của EU” – Ngoại trưởng Slovakia Lajcak nói thẳng thừng với Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh bên lề cuộc họp tại New York vào tháng Chín năm 2018.

Phát ngôn mang tính ‘tối hậu thư’ của Lajcak xảy ra gần như đồng thời với các cuộc gặp song phương giữa hai công tố trưởng của Slovakia và Đức gặp nhau ở Đức, và giữa bộ trưởng nội vụ của Đức và Slovakia – những cuộc gặp cho thấy tầm mức phối hợp giữa hai nước về vụ Trịnh Xuân Thanh đã được đẩy lên cao hơn nhiều so với vài ba mối liên hệ lẻ tẻ trước đây giữa cảnh sát hai nước.

Cách nói của Lajcak cũng gần như đã chắc chắn về một kế hoạch cho những hành động trả đũa tiếp theo của Slovakia đối với Việt Nam, mà đã được thống nhất bởi Tổng thống Slovakia Andrej Kiska, Thủ tướng Slovakia Peter Pellegrini cùng các cơ quan tư pháp nước này.

Không có bất kỳ lời giải thích nào từ Phạm Bình Minh với Lajcak. Cũng tương tự thái độ câm nín của người đứng đầu ngành ‘ngoại giao Việt Nam thành công chưa từng có’ trước không biết bao nhiêu lần truy vấn của Bộ Ngoại giao Đức và Bộ Ngoại giao Slovakia về vụ Trịnh Xuân Thanh.

Từ tháng Tám năm 2017 đến nay, sự im lặng kiên định và triệt để của Bộ Ngoại giao Việt Nam trước vụ Trịnh Xuân Thanh cho thấy Phạm Bình Minh không dại gì đi ‘đổ vỏ’ cho những kẻ gây ra vụ bắt cóc này. Rất có thể chính vì hành động ‘giãy ra’ như thế mà từ tháng Mười năm 2018, Phạm Bình Minh đã chính thức bị thất sủng trước Nguyễn Phú Trọng.

Chẳng bao lâu nữa, Chính phủ Slovakia – để tự bảo vệ lòng tự trọng của mình – sẽ phải tung ra một quyết định dù rất khó khăn nhưng thật sự cần thiết và cứng rắn với chính thể độc đảng ở Việt Nam và những kẻ bắt cóc.

Sau hai tháng điều tra của cảnh sát Slovakia và được sự hỗ trợ cận kề của cảnh sát Đức, thời điểm chẳng bao lâu nữa trên có thể sẽ rơi vào tháng Mười năm 2018 – chẵn một năm sau vụ Nhà nước Đức thẳng tay tuyên bố tạm thời đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.

About this website

 

VOATIENGVIET.COM
Chẳng bao lâu nữa, Chính phủ Slovakia – để tự bảo vệ lòng tự trọng của mình – sẽ phải tung ra một quyết định dù rất khó khăn nhưng thật sự cần thiết và cứng rắn với chính thể độc đảng ở Việt Nam và những kẻ bắt cóc.

Đến lượt Pakistan do dự các dự án với Trung Cộng vì lo sợ bẫy nợ

Đến lượt Pakistan do dự các dự án với Trung Cộng vì lo sợ bẫy nợ

Islamabad, Pakistan – Sau một thời gian dài trì trệ, cuộc cải tiến tuyến hỏa xa từ biển Arab đến chân dãy núi Hindu Kush đã trở thành một bài kiểm tra khả năng của Pakistan trong việc cân nhắc lại các dự án “con đường tơ lụa” của Trung Cộng, do lo sợ về nợ nần.

Đây là tuyến hỏa xa đã có từ thời thuộc địa, có trị giá 8.2 tỷ mỹ kim. Dự án hỏa xa nối liền đô thị ven biển Karachi với thành phố Peshawar ở phía tây bắc là dự án lớn nhất trong Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) của Trung Cộng tại Pakistan. Nhưng Islamabad hiện đã tỏ ra do dự về mặt chi phí và các điều khoản tài chính.

Các thỏa thuận này ngày càng vấp phải nhiều sự phản đối dưới quyền chính phủ mới của nhà lãnh đạo dân túy Imran Khan, người đã lên tiếng cảnh báo về việc tăng mức nợ và tuyên bố rằng đất nước này phải ngưng việc vay mượn nước ngoài. Gần đây, ông Khusro Bakhtyar, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch, Phát triển và Cải cách, trả lời với các phóng viên rằng Pakistan đang xem xét cách phát triển mô hình mới, để chính phủ Pakistan không phải gánh chịu tất cả rủi ro.

Chính phủ mới của Pakistan đã tỏ ý muốn xem xét lại tất cả các hợp đồng trong sáng kiến Vành đai và Con đường. Các viên chức nước này lo sợ rằng các thỏa thuận trên đã bị đàm phán sai lầm, tức quá đắt tiền hoặc quá có lợi cho Trung Cộng.

Theo hãng tin Reuters, rằng khi đối diện với sự bất bình từ phía Islamabad, Bắc Kinh vẫn sẵn sàng xem xét lại những dự án chưa bắt đầu.

Việc Pakistan tỏ ra do dự với các khoản đầu tư của Trung Cộng thể hiện khuynh hướng của hàng loạt chính phủ mới ở Sri Lanka, Malaysia và Maldives. Hiện nay, chính quyền mới ở các quốc gia này đều đang cảnh giác về các thỏa thuận được chính quyền tiền nhiệm ký kết với Trung Cộng.

Bây giờ thì họ tỉnh thật rồi.

Dat Nguyen and Nam Chu shared a post.
Image may contain: 1 person, sitting and indoor
Nguyễn Thủy Tiên

Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài, Hoa Kỳ mới hỏi tướng tài độc nhãn người Do Thái – Goshe Dayan, làm sao để thắng được CSVN.

Ông tướng độc nhãn bình thản trả lời: “Chiến trường Trung Đông có qui ước rõ địch và ta đối diện nhau và trận địa thẳng tắp, còn chiến trường Vietnam địa thế sông ngòi chằng chịt, núi non hiểm trở, lại còn người dân nông thôn miền Nam Vietnam chứa chấp bọn CS nằm vùng. Các anh không bao giờ thắng nổi Việt Cộng, mà chỉ có một cách duy nhứt là các anh rút ra khỏi VN để cho người dân họ nếm mùi CS một thời gian, sau đó các anh trở lại khỏi cần đánh cũng thắng!”

“Muốn thắng Cộng Sản phải thua chúng trước” (Moshe DAYAN)
Đó là phương châm của Tướng độc nhãn gốc Do Thái. Thắng một hiệp chưa chắc thắng cả ván cờ. Dân trí thấp, nói họ không nghe. Chỉ cần thả cho họ sống 40 năm với Cộng sản, họ sẽ tỉnh giấc rồi… SÁNG MẮT – SÁNG LÒNG.

Bây giờ thì họ tỉnh thật rồi. Nhưng cái giá sẽ phải trả là KHÁ ĐẮT.

TIỂU THƠ

TIỂU THƠ

 Phạm Tín An Ninh

Rầm!
Tôi và hai thằng bạn vừa rà thắng xe đạp trước rạp Tân Tân để vào xem phim “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” thì bị một chiếc Vélo Solex húc từ đằng sau tới. Cả ba thằng ngã xuống đất. Riêng tôi còn bị cái xe của thằng bạn đè lên bụng đau muốn nín thở. Mới loi ngoi bò dậy, chưa kịp phủi bụi trên áo quần thì nghe tiếng quát tháo:
– Ê! Bộ ba “chàng ngự lâm pháo thủ” mù cả hà. Dừng ngựa mà chẳng coi chừng phía đàng sau! Đáng đời!
Vừa ngượng vừa tức giận bởi tự dưng bị húc té nhào giữa thanh thiên bạch nhật và trước bao nhiêu nguời đẹp, chưa kịp nắm cổ áo cho một trận, thì bị thủ phạm tiếp tục tấn công phủ đầu. Đúng là cà chớn. Nhưng nhìn lên thì.. à.. cả ba thằng khựng lại: đối phương là một cô gái, tuồi ô mai, tóc còn thắt bím, ngồi trên Vélo, vòng tay trước ngực, trề môi, rồi trợn đôi mắt to như hai cái đèn “ô tô”: 
– Số còn hên đó. Cái vélo không bị hư gì. Tiểu thơ tha cho đó. Lần sau liệu hồn!
Nói xong cô bé nguýt một cái rồi rồ ga chạy mất tiêu.
Dù chưa bao giờ bị thầy Bửu Cân phán cho cái tội “con nhà không có lư hương”, bọn tôi cũng phải chửi thề một tiếng cho hả giận. Thằng Cường, đứa hiền lành ít nói nhất trong bọn tôi, xăn tay áo, xổ nho trước:
– Đ.M., con gái nhà ai trông đẹp thế mà đanh đá như bà chằn. Phải mà con trai thì biết tay tao.
Đúng là cô bé khá xinh, nhất là đôi mắt thật to và đôi môi mộng đỏ, dù có trề lên ngạo nghễ, cũng vẫn đáng yêu ghê lắm. Tôi nghĩ vẩn vơ như thế khi theo người soát vé dẫn tới chỗ ngồi. Trong rạp tối mò. Ba thằng chúng tôi vào trễ. Trên màn ảnh đang chiếu phim thời sự: Tổng thồng Ngô Đình Diệm đang kinh lý Ban Mê Thuột (nhưng không thấy cảnh ông bị ám sát hụt).
Suốt buổi hôm ấy, mắt nhìn lên màn ảnh, mà tâm trí tôi thì chỉ thấy có đôi mắt cô bé, trừ khi nào có tiếng súng nổ của ba chàng ngự lâm, tôi mới giật mình trở lại với truyện phim đôi ba phút.
Cha tôi nói đúng. Hồi mới ba tuổi, tôi đã khóc đến cả tháng trời khi mẹ tôi mất, ông bảo rồi sau này tôi sẽ là một thằng đa sầu đa cảm. Và hôm nay, dường như tôi bắt đầu biết tương tư đây.
Nha Trang cũng chẳng lớn hơn cái thành phố núi Pleiku là bao nhiêu, để ông nhà thơ nào đó “đi dăm phút trở về chốn cũ”, vậy mà cả mấy tháng rồi, tôi chưa gặp lại cô bé, mặc dù thời ấy Nha Trang đã có khá nhiều vélo solex, đủ làm tôi nhìn theo muốn ngoẹo cổ. Tôi nghĩ, chắc là cô bé từ đâu đến chơi. Trông nước da trắng hồng, có thể là từ Đà Lạt xuống thăm ai đó rồi lại biến mất như một nàng tiên trong cổ tích.
Quê tôi ở ngoài Vạn Giã. Vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, trước ở gần rạp ciné Moderne của ông Bác Ái, sau này dọn lên gần Ty Thông Tin. Chú tôi, ngoài làm chủ tiệm bán mọi vật dụng về điện, còn thầu các công trình điện. Ông bà chỉ có một cô con gái rượu, cưng như trứng mỏng, nên mọi thứ ngược xuôi giao dịch ông cần tới tôi. Để tôi lên tinh thần, bỏ bớt cái tật ham chơi và lười biếng có lẽ từ khi còn trong bụng mẹ, ông thường bảo: “Cháu còn nhỏ mà coi bộ có khả năng thương mại. Cố gắng theo chú học hỏi, sau này dám qua mặt tao nữa đó “. (Cái này thì ông nói trật lất. Vì sau này tôi trở thành lính đánh giặc, nên cả đời có buôn bán được cái gì đâu).
Cả năm cứ mong tới mùa hè là tôi dọt về quê thăm cha tôi và chơi với mấy thằng bạn nối khố, rủ nhau ra con sông quê, ngày bơi lội, tối cắm câu, ngủ ngoài trời mà đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm đâu là dải Ngân Hà có cái Cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Coi bộ vui và lãng mạn hơn ở trong cái thành phố Nha Trang này nhiều. Vậy mà mùa hè này tôi bị ông chú tôi giữ lại, sau khi thuyết phục được ông già tôi, bảo là để cho tôi tập làm quen với thương trường(!). Tôi nghe mà phát sợ, cứ như là sắp sửa bị ông đẩy tôi ra giữa chốn sa trường!
Bài học đầu tay là tôi xách cặp theo ông, đi dự một cuộc họp với mấy ông thầu khoán khác, trong một công trình “hợp tác mỗi bên cùng có lợi”. Nơi họp là một ngôi biệt thự khá đẹp nằm trên con đường Duy Tân có gió reo sóng vỗ.
Tôi rụt rè theo sau ông chú, bước vào phòng khách. Nhiều người đã có mặt. Ông nào trông cũng bệ vệ, đặc biệt có một ông mặc quân phục, oai phong cao lớn, mà coi bộ mọi người ai cũng nễ trọng. Nghe nói chuyện một hồi tôi mới biết đó là ông đại tá Đỗ Cao Trí, chỉ huy quân trường Đồng Đế. Lúc ấy tôi còn nhỏ, đâu có biết gì nhiều về lính tráng, nhưng tôi có nghe nhiều người kể chuyện tình ông đại tá này với một bà dược sĩ nào đó có tiệm thuốc tây trên đường Độc Lập. Bà này mới vừa ly thân ông chồng dược sĩ, có ông bồ là đại úy phi công trẻ tuổi đẹp trai thường đèo bà trên chiếc vespa chạy vòng vòng ngoài bờ biển, mặc dù bà có chiếc xe hơi thể thao trọc mui duy nhất ở thành phố này. Tội nghiệp ông phi công, vừa mới bị ông đại tá này nói nhỏ bạn bè làm lớn bên Không Quân cho bay ra tận ngoài vùng 1 xa tít mịt mù. (Sau này ông phi công hào hoa lấy một cô ca sĩ có giọng hát buồn… vào hồn không tên nào đó). Nghe mấy ông bàn bạc, tôi mới biết buổi họp này là để bàn việc xây cất và chỉnh trang lại toàn bộ doanh trại của quân trường Đồng Đế, mà chú tôi và mấy ông bạn thầu khoán vừa mới trúng thầu.
Tôi ngồi sau lưng ông chú, ghi ghi chép chép cứ như là… phóng viên tập sự. Nửa buổi thì ngưng họp ăn cơm. Một bữa ăn thịnh sọan từ nhà hàng mang tới. Vì thuộc hàng con nít, nên tôi được ưu tiên ra sân sau ngồi chung với mấy anh tài xế và con cháu ông chủ nhà. Vừa bước ra, chưa kịp tìm chỗ ngồi, thì tôi giật mình, sững sờ đến mấy phút. Cô bé, cô tiểu thơ… vélo solex, tông bọn tôi trước rạp Tân Tân gần ba tháng trước, đang ngồi chễm chệ tự lúc nào trong cái ghế bành duy nhất bên bàn ăn.
Lấy lại bình tĩnh, tôi đến kéo chiếc ghế bên cạnh cô bé:
– Chào tiểu thơ, chàng ngự lâm pháo thủ bị xe tông… ngã ngựa có được phép ngồi đây không ạ?
Cô bé nhìn tôi tròn xoe đôi mắt. Đôi mắt mà tôi đã tìm kiếm hơn ba tháng nay, cứ tưởng đã biến mất khỏi Nha Trang, bỗng dưng bây giờ đang mở lớn hết cỡ trước mắt tôi. Tôi ngồi yên như bị thôi miên. Dường như vừa mới nhớ ra tôi, cô bé nhoẻn miệng cười:
– À, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ! Vous cứ tự nhiên.
Tôi ngạc nhiên, cô bé coi bộ tây này còn xổ cả tiếng nôm tiếng hán. Tôi nhủ lòng: Không phải vừa đâu nghe.
Vậy mà cái cuộc trùng phùng khá bất ngờ này lại đưa đẩy tôi đến một nấc thang danh vọng: làm gia sư cho cô bé. Nói gia sư cho oai phong, chứ hồi đó chì có mỗi chữ “dạy kèm” thôi chứ sư với siếc gì.
Số là sau này, khi thực hiện công trình, tôi thường theo chú tôi đến đây, cũng có nhiều lúc tôi đến một mình để trao giấy tờ và tham khảo ý kiến của ông chủ thầu, papa của nàng. Dần dà tôi quen thân với cả nhà. Gia đình trước sống ở Đà Lạt, làm chủ mấy cái hotel. Bà vợ bị chết bởi một tai nạn giao thông ngay trên đèo Ngọan Mục, ông già buồn quá không muốn mỗi ngày nhìn thấy bóng dáng bà vợ trong thành phố sương mù, nên dọn xuống Nha Trang, trở lại nghề thầu khoán gia truyền từ mấy đời trước. Ông bà chỉ có mỗi một cô con gái, nhưng trong nhà ông nuôi nhiều cháu và gia nhân. Gặp tôi nhiều lần, và qua chú tôi, ông già cô bé nghe nói tôi cũng gốc nhà quê, hiền lành chăm chỉ, nên nhờ tôi, cứ ba tối mỗi tuần ghé lại nhà kèm cô con gái cưng của ông về môn toán và Việt văn. Cô bé vừa từ trường Domaine de Marie ở Đà Lạt chuyển xuống lớp đệ ngũ trường Nữ Trung Học Nha Trang, đọc thơ Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc mà không hiểu bà Đoàn thị Điểm và ông Ôn Như Hầu nói cái gì trong đó…  Môn toán thì tôi không biết vẽ rồng vẽ rắn, chứ cái môn Việt văn này coi bộ bao la trời biển quá, vẽ cái gì chẳng được.
Hôm đầu tiên, tiểu thơ vẫn còn cao điệu, gọi tôi là Thầy. Không biết là do lệnh của ông già, vì đề phòng tôi “tán bậy” con gái, nên phong cho tôi cái chức “bán tự vi sư nhất tự vi sư” để tôi biết phận mà giữ mình, hay là cô bé choc quê tôi không biết.
Thấy “diễn nôm điển tích” mấy câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc coi bộ không ăn khách, chẳng hấp dẫn nổi cô bé, tôi quay sang đọc thơ cho cô bé nghe. Hồi đó ở Võ Tánh có hai nhà thơ rất sớm nổi tiếng, mà dù là tên thật hay bút hiệu gì nghe cũng đẹp làm sao: Thanh Nhung và Cao Hoành Nhân, Tôn Nữ Nha Trang và Bùi Cao Hoành gì đó. Không biết có đúng hay không, nhưng tôi nghe bạn bè thêu dệt về cuộc tình lãng mạn của hai nhà thơ học trò vang bóng một thời này. Tôi chọn mấy bài thơ ướt át nhất của hai người đọc cho cô bé nghe. Và cũng lạ, không cần diễn nôm diễn nghĩa gì cả, cô bé không những hiểu rất nhanh mà còn cảm nhận đến độ lim dim đôi mắt… nhìn xa xăm.
Có một điều tôi quên nói: cô bé cũng thuộc dòng Tôn Nữ, cũng có một cái tên hay lắm: Tôn Nữ Giáng Vân. Nhưng tôi vẫn thích gọi cô bé là Tiểu Thơ, cái tên mà nàng đã tự xưng khi đụng tôi trước rạp Tân Tân. Hơn nữa tôi thấy cái tên này cũng hợp với cô bé lắm. Tôi nghĩ thầm, có lẽ nàng Tôn Nữ xứ Huế nào cũng đẹp và.. lãng mạn đa tình.
Các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, cô bé mê nhất là Hồn Bướm Mơ Tiên, nên thường bắt tôi kể lại cho nàng nghe. Mẹ nàng vốn là một phật tử ngoan đạo. Sau ngày bà chết, ba nàng cúng dường khá nhiều tiền để chỉnh trang hai ngôi chùa Tỉnh Hội, Hải Đức và cung thỉnh thêm nhiều tượng Phật. Cô bé thường theo cha lên chùa Hải Đức. Nàng bảo mỗi lần lễ Phật, nàng cứ tưởng tượng mình là “chú tiểu” Lan, nhưng lại rất sợ và bịt kín tai khi nghe có tiếng đại hồng chung, nên chắc không thể nào giả trai lên chùa tu được.
Một hôm cô bé nhất quyết bắt ông thầy phải làm cho cô bé một bài thơ. Nếu không thì không chịu học. Cái này thì đúng là tiểu thơ muốn hại “đời tư” của tôi đây. Mang tiếng là học ban C nhưng hồi giờ tôi có thơ với thẩn gì đâu, chỉ lâu lâu cùng với mấy thằng bạn trong lớp nghịch ngợm bày ra trò chơi nối vần một bài lục bát con cóc để ghẹo cô bạn nào đanh đá trong lớp. Vậy mà hôm ấy, không biết con tim nó ướt át đến cỡ nào, tôi phóng bút làm xong một bài thơ chưa đầy mười phút. Đọc qua nghe có mùi cải lương không chịu nổi, nhưng tôi cũng tự phục mình. Tôi đưa bài thơ cho nàng đọc:

Ngày tháng trôi dần theo nhớ thương
I như duyên nợ đã vấn vương
Nên tình mây nước cùng trăng gíó
Hẹn ở ngày mai một nẻo đường
YÊU vầng trăng sáng in cành lá
Và khúc nhạc lòng dâng đến hương
Ân ái giờ đây là mơ ước
Ngỡ một tâm tình một vấn vương

Cô bé đọc xong không biết có hiểu gì không, (mà thực ra bài thơ cũng có nghĩa gì đâu mà hiểu với không), gật gù khen và hỏi:
– Sao bài thơ không có tên?
– Có tên rồi đó mà tiểu thơ không thấy à?
Cô bé lật qua lật lại mảnh giấy:
– Tên với tựa gì đâu, không thấy. Trả lại thầy, không thèm.
Tôi cười, vuốt ve cô học trò:
– Thì Vân cứ ghép tất cả các mẫu tự đầu ở mỗi câu lại, sẽ thấy cái tựa liền.
Khổ thật, tôi còn phải giải nghĩa thêm mẫu tự là cái gì, thì cô ta mới tìm được cái tựa bài thơ. Cô bé đỏ mặt, vất mảnh giấy có bài thơ xuống đất :
– Không thèm chơi với Thầy nữa.
Nói là không thèm chơi, nhưng cũng kể từ hôm ấy cô bé thân thiết và gần gũi với tôi hơn. Ba nàng cũng thấy tin và quí ông gia sư nhóc tì này, vì thấy con gái cưng của mình chăm học, vui vẻ yêu đời hơn. 
Mùa hè năm đó, cô bé theo tôi về nhà quê chơi, nhân tiện có cô con gái của ông chú tôi cùng về thăm quê nội. Dường như đó là lần đầu tiên cô bé ra một vùng quê. Không biết là gió nội hương đồng hấp dẫn cô bé, hay là suốt ngày dung dăng dung dẻ làm nũng làm nịu với “ông Thầy”, cô bé ca hát líu lo và bảo là yêu… đồng quê ghê lắm. Và đó cũng là một mùa hè đẹp nhất, có ý nghĩa nhất trong đời học trò của tôi, dù ở quê tôi chẳng có cây phượng vĩ và cũng chẳng nghe có tiếng con ve sầu nào rên rỉ.
Hai năm sau, tôi rời Nha Trang vào Sài gòn học tiếp. Tôi buồn và tiếc nuối vì phải chia tay cái nghề gia sư với cô hoc trò nhỏ nhưng có đôi mắt thật to… của mình. Cô bé được ông già chở lên ga Nha Trang tiễn tôi đi. Tôi cũng cố làm ra vẻ “đi là chết ở trong lòng một ít”, làm cô bé mủi lòng muốn khóc. Ông già cứ tưởng là nhờ ơn tôi mà cô bé vừa đậu cái bằng trung học kỳ rồi, nên cũng nắm chặt tay tôi, lì xì một mớ tiền và cám ơn rối rít…
Vậy mà cái tình yêu ấy (không biết có đúng là tình yêu hay không, nhưng cứ nói như thế cho nó lãng mạn và người lớn một chút) cũng làm cho lòng tôi xốn xang một dạo.
Sau đó chỉ có vài lần tôi nhận được thư cô bé, kể chuyện những bạn bè thân quen của cô bên trường Nữ, và chuyện chiếc máy bay phản lực rơi xuống bên cạnh rạp Tân Tân, nơi mà lần đầu tiên tôi biết cô bé nhờ chiếc vélo của cô tông tôi ngã xuống bên lề đường. Nhưng lần nào cũng kèm theo một bài thơ tình… con cóc.
Năm năm sau, khi cô bé đã trở thành người lớn và quên “ông Thầy” thích đọc thơ tình cho cô học trò… lim dim đôi mắt, thì cũng là lúc tôi hát khúc Biệt Kinh Kỳ, xếp bút nghiên theo việc kiếm cung. 
Ra trường, tôi được bổ sung về một đơn vị lưu động trên vùng Cao nguyên gió lạnh mưa mùa. Năm 1972, tôi bị thương trong trận Mủa Hè Đỏ Lửa ở Kontum, được đưa về QYV Pleiku điều trị. Khi vết thương vừa lành, tôi nhận Sự Vụ Lệnh của đơn vì đề cử về Sài gòn trong đoàn “chiến sĩ xuất sắc” được Tổng Thống tiếp đón tại khu vườn Dinh Độc Lập. Thực ra là tôi có xuất với sắc cái gì đâu. Khi còn độc thân thì hăng máu lắm, chứ đã có vợ rồi thì cũng hơi lạnh cẳng, ngại cái cảnh “anh trở về dang dở đời em”. Nhưng chiến tranh đang hồi ác liệt, nếu cử chiến sĩ xuất sắc thứ thiệt đi thì thiếu người đánh giặc giỏi, mà lại hao hụt quân số tác chiến, tôi đang trong tình trạng bất khiển dụng, nên cho tôi đi là nhất cử lưỡng tiện. “Chiến sĩ xuất sắc” được ưu ái đi bằng máy bay dân sự. Tại phi trường Pleiku bụi đỏ, tôi bất ngờ gặp lại Tiểu Thơ khi tôi vừa ngơ ngác bước lên máy bay Air Vietnam và khựng lại trước đôi mắt thật to của cô hôtesse de l’air đang mỉm cười chào khách. Trong chiếc áo dài màu thiên thanh, có thêu hai con rồng trên cổ áo, nàng đẹp như một nàng tiên. Khi chiếc máy bay DC 4 đã lấy lại thăng bằng trên cao độ, nàng đến ngồi chiếc ghế trống trước mặt tôi, quay ra sau trò chuyện. Trong chớp nhoáng, tôi biết là nàng đã có chồng. Anh ta là một phi công phản lực F5, thuộc dơn vị Biên Hòa. Hai người làm đám cưới hơn một năm. Tôi nghĩ, con gái đẹp thường chọn mấy ông không quân, vừa được tiếng có ông xã hào hoa, đi mây về gió, vừa khó trở thành góa phụ. Anh phi công nào phải vừa bô trai vừa tốt số lắm mới lọt được vào đôi mắt của Tiểu Thơ này. Tôi nghĩ như thế mà lòng thì cũng thấy một chút bâng khuâng.
Chỉ nói chuyện được vài câu, nàng ghi địa chỉ của tôi ở Sài gòn, rồi hẹn sẽ cùng đức lang quân ghé đón đi Maxim nghe Lệ Thu hát bài Kỷ Vật Cho Em. Tôi cười, bảo là rất sợ bài hát này, cái bài hát mà thằng lính nào nhát gan nghe xong là không còn muốn “đáo nhậm” đơn vị nữa. 
Cuối cùng nàng đến có một mình, “ông xã” vừa mới biệt phái ra Vùng 1. Tối đó thay vì đến nhà hàng Maxim, nàng đưa tôi ra Quán Cái Chùa cho có vẻ nghệ sĩ một chút, mời “ông Thầy” uống cà phê có hương vị Tùng Đà Lạt – mà chủ nhân thường pha chế đặc biệt cho riêng nàng – để nhớ những ngày cô còn ở đó… Dường như khi đã lớn rồi, người ta lại muốn tìm về cái thời đi học. Hai đứa chỉ ngồi nhắc lại chuyện Nha Trang, chuyện mấy bài thơ con cóc, rồi chia tay không hẹn ngày tái ngộ. Thời chiến tranh mà, “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” biết đâu mà hẹn. 
Tháng 3/1975, Nha Trang rồi cả Vùng 2 mất. Bao nhiêu năm sống chết với núi rừng Hoàng Triều Cương Thổ, tôi theo đơn vị chỉ còn một phần tư quân số “di tản” vào Vũng Tàu để tái bổ sung, rồi kéo xuống tham dự những trân đánh cuối cùng cô đơn và buồn tẻ ở những địa danh xa lạ: Bến Lức, Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An, nhằm ngăn chận địch quân đang tràn về vây hãm và pháo kích Sài Gòn.
Cũng như nhiều đơn vị khác, vào giờ thứ 25, chúng tôi đánh giặc không có “đại bàng”. Lần cuối cùng tập họp anh em lại hô “tan hàng” mà không còn nghe “cố gắng” nữa, thì tôi mới biết là ông tướng tư lệnh đã có mặt trên đệ thất hạm đội Mỹ trước đó hai ngày rồi! Thôi thì, xưa nay người ta đã nói “nhất tướng công thành vạn cốt khô” mà. Cuối cùng thì miền Nam cũng thất thủ. Đám tụi tôi được người “anh em” chiến thắng mời vô trại cải tạo để được hưởng “chính sách khoan hồng của kách mệnh”!
Tám năm lưu đày từ nam ra bắc, cuộc đời thôi đành cứ như gởi theo những đám mây bay. Cái hạnh phúc bây giờ chỉ còn là những phút giây hồi tưởng. Mà hồi tưởng cũng phải “cảnh giác”, chứ không khéo cũng bị cùm vì cái tội “luyến tiếc quá khứ”. Bạn bè cùng cảnh luyến tiếc điều gì thì tôi không biết, nhưng riêng tôi lại tiếc nhớ cái tuổi học trò, và cái thời con tim mới biết yêu. Tôi lại nhớ đến Tiểu Thơ, đến đôi mắt tròn xoe của cô bé, và nhớ tới cái hạnh phúc làm “gia sư” của tôi còn hơn là nhớ tới mười mấy năm làm bạn với ông Nguyễn Bắc Sơn “ta vốn hiền khô – ta là lính cậu, đi hành quân rượu đế vẫn mang theo, mang trong đầu những ý nghĩ trong veo, xem chiến cuộc như tai trời ách nước”. Tôi hình dung bây giờ chắc nàng đang hạnh phúc ở một chốn thiên đường nào bên nước Mỹ. Ông xã là không quân mà, lại đóng ở Biên Hòa nữa. Chỉ cần một lần cất cánh nhẹ nhàng là thay đổi cả cuộc đời.
Ra tù, trở lại thành phố xưa, tôi có cảm gíác Nha Trang sao bây giờ xa lạ quá, không còn là “hang động tuổi thơ” của bọn tôi ngày trước nữa. Nhưng rồi tôi cũng đâu có được phép ở lại cái thành phố này, mà phải về tạm trú ở quê tôi ngoài Vạn Giã. Ở đó tôi chỉ còn một bà cô già sống quạnh hiu trong ngồi nhà từ đường có mái ngói âm dương của ông bà nội. Cha tôi thì cũng đã chết cách đây sáu năm trong trại cải tạo Đá Bàn. Mồ mả còn chưa biết ở đâu. Nhưng rồi tôi còn có cái may, là gần như mỗi ngày tôi đều ghé lại Nha Trang một lần, bởi tôi được ông anh bà con cho tôi làm tài xế phụ kiêm lơ xe cho chiếc xe đò nhỏ của ông chạy đường Nha Trang – Tuy Hòa. Xe chạy bằng than và khách hầu hết là mấy bà đi buôn chuyến. 
Một hôm tôi đang lui cui đứng trên mui, thì một bà khách kêu tôi nhấc hộ đội thúng của bà lên. Bà lấy hết sức đưa từng chiếc thúng lên, nhưng rồi lại bị sà xuống. Trong đôi thúng là những thỏi đường màu đen khá nặng. Tôi phải dùng một cây móc sắt đưa xuống, bảo bà móc vào để tôi kéo lên. Khi lấy sức kéo đôi thúng lên tôi bất ngờ gặp đôi mắt thật to và tròn xoe. Đôi mắt nhìn tôi tựa hồ như xoáy vào lòng tôi nhát dao đau buốt. Tôi nhảy xuống xe, nắm chặt đôi vai gầy còm của bà khách:
– Là em, là Tiểu Thơ đây à?
Nàng nhìn tôi, rồi nước mắt đầm đìa.
– Tiểu Thơ, à quên… Vân, làm sao mà em lại ra đến nỗi này.
Nàng cúi xuống im lặng, không nói một lời nào.
Ra đến Tuy Hòa, tôi gánh hộ nàng gánh đường giao cho một cái quán trong chợ, rồi mời nàng đi ăn cơm trưa. Tôi đang nóng lòng được biết về hoàn cảnh của nàng:
– Ông xã em bị kẹt ngoài Vùng 1 rồi mất tích luôn từ đó tới bây giờ. Em có đi hỏi một vài người bạn cùng phi đoàn, thì họ cho biết là anh ấy bị bắn rơi khi yểm trợ cho anh em Thủy Quân Lục Chiến rút về Đà Nẵng. Em chờ đợi xem anh có bị bắt cầm tù ở đâu không, nhưng đến bây giờ thì chắc chắn là anh đã chết thật rồi.
– Còn ba em đâu?
– Nhà cửa ba em bị tịch thu hết. Ông bị bắt đi cải tạo với lý do từng thầu xây cất doanh trại cho Mỹ trong phi trường. Chỉ một năm là ông chết.
– Vậy bây giờ Vân ở với ai?
– Em ở với con gái em. Nó gần mười tuồi rồi. Khi gặp anh ở Sài gòn là em vừa mang thai nó mà chưa biết. Mẹ con em được đền bù một căn nhà tôn nhỏ của thương phế binh hồi trước, nằm sau ga xe lửa.
Tôi nhét vào tay Vân tất cả số tiền mà tôi kiếm được hôm ấy, bảo nàng mua hộ tôi quà cho cháu gái.
Sau đó, tôi gặp lại nàng chỉ thêm hai lần nữa, vì ông anh họ tôi đã phải bán rẻ cái xe hơi cho người khác, bởi không dủ tiền sửa chữa mà còn cứ bị chính quyền trưng dụng đi chở lúa cho hợp tác xã, không trả một đồng nào. Cũng đúng vào lúc này, tôi tính chuyện vượt biên. 
Tôi kể chuyện Tiểu Thơ cho vợ tôi nghe. Bây giờ tôi thương cô như một người em gái. Vợ tôi tốt bụng, thương mẹ con cô cũng như hoàn cảnh của chính mình, sẵn sàng cùng tôi giúp mẹ con nàng đi cùng chuyến vượt biên, do chính tôi tổ chức.
Một tuần trước khi ra đi, tôi vào Nha Trang tìm đến nhà nàng. Căn nhà khóa kín cửa. Tôi chờ đến tối mà chẳng thấy mẹ con cô trở về. Tôi gõ cửa căn nhà bên cạnh. Chủ nhà lại là một anh thương phế binh, nhờ mất cả hai chân nên không bị đuổi khỏi nhà… Anh cho biết là mẹ con nàng đã dọn đi đâu cả mấy tuần rồi, không thấy về nhà.
Trời thương, chuyến vượt biên cũng đến được bến bờ, nhờ một chiếc tàu chở dầu của Vương Quốc Na Uy vớt trên biển, trước khi cơn bão ập đến. Với ân tình này, vợ chồng tôi chọn Na Uy là nơi để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.
Mùa hè năm 1989, vợ chồng tôi đưa hai cô con gái sang Mỹ học, nhân tiện ghé thăm và chia buồn gia đình ông anh họ, đi từ năm 78, định cư ở thành phố Sacramento, bắc Cali. Anh chị vừa có thằng con trai bị chết đuối khi theo cha đi câu ngoài biển.
Bao nhiêu năm gặp lại nhau, anh chị tiếp đón chúng tôi thật ân cần, nhưng không vui vì cái bàn thờ đứa con trai còn nghi ngút khói hương. Sáng hôm sau, anh chị đưa tôi đến nghĩa trang thăm mộ cháu rồi chở chúng tôi đến một ngôi chùa Sư Nữ ở gần đó, để bàn việc làm lễ cầu siêu cho cháu. Anh cho biết anh chị rất thân quen với Sư Bà trù trì, Bà rất quí anh chị không chỉ vì biết nhau từ lúc còn ở Nha Trang mà vì anh làm nghề thầu sửa chữa nhà cửa, nên cả ngôi chùa này phần lớn là do công sức của anh cúng dường. 
Ngôi chùa không lớn lắm, khu chánh điện còn đang dang dở, nhưng vườn khá rộng và trồng nhiều loại hoa. Trong chùa tiếng tụng kinh, gõ mõ càng đượm không khí trang nghiêm. Chúng tôi được một cô phật tử mời ngồi uống trà và xin chờ chừng nửa tiếng, vì Sư Bà đang cúng ngọ. 
Khi ông anh bà chị đứng bật dậy, chúng tôi chợt nhìn thấy Sư Bà vừa bước ra. Tôi ngạc nhiên vì Sư Bà còn trẻ và trông rất phương phi, nhất là hai tai thật to và dài xuống như tai các tượng Phật tôi thường nhìn thấy trong các ngôi chùa. Điều làm chúng tôi thú vị là bà rất vui vẻ cởi mở. Bà bảo bà cũng là dân Nha Trang nên rất mừng khi tiếp được người đồng hương từ tận bắc Âu đến viếng.
Sau một lúc hàn huyên, tôi biết được Sư Bà là người có trình độ học vấn cao. Bà có cử nhân Văn Khoa và đang học năm cuối cao học văn chương tại đại học Vạn Hạnh thì miền Nam thất thủ. Điều ngạc nhiên hơn là Sư Bà cho biết có khá nhiều ni cô gốc Nha trang đang tu ở chùa này, trong đó có con gái của ông chủ tiệm ảnh nổi tiếng một thời ở đường Phan Bội Châu mà ngày xưa tôi cùng đám bạn bè thường đến để chụp ảnh, con gái một bà chủ tiệm vàng trước Grande Pharmacie, và một vài ni cô nữa. 
Bà còn bảo thật là tội nghiệp, có vài cô đã gặp bao nhiêu nghịch cảnh thương tâm trên biển Đông, chồng chết con chết, chỉ còn lại một mình. Ban đầu, Bà đưa về chùa cưu mang, rồi sau đó các cô xin được xuống tóc qui y luôn. Sư Bà mời chúng tôi ở lại dùng cơm chay cùng với Bà, nhân tiện bà giới thiệu với mấy ni cô gốc Nha Trang cho biết, bởi tôi cũng là một phật tử thuần thành.
Tôi theo ông anh bà chị xuống bếp phụ dọn cơm. Nhưng ông anh ngăn lại: 
– Chú là người lạ, không nên vào bếp. Hôm nay chú thím là khách của Sư Bà mà.
Ngồi dọc theo chiếc bàn dài, gồm các ni cô và một vài phật tử, chỉ có chúng tôi là “dân sự”. Sư Bà giới thiệu chúng tôi là đồng hương, những phật tử đến từ tận Bắc Âu. Tôi vừa đứng lên chấp hai tay trước ngực, bỗng bất ngờ bắt gặp đôi mắt thật to, tròn xoe của một ni cô ngồi ở phía cuối bàn. Ni cô cũng vừa nhìn tôi rồi cúi xuống. Đôi mắt đó với tôi có một cái gì thần giao cách cảm. Đúng. Trên thế gian này chỉ có Tiểu Thơ mới có đôi mắt ấy mà thôi
Dùng cơm xong, là đến giờ nghỉ trưa của Sư Bà. Chúng tôi cám ơn Sư Bà và xin được cúng dường một số hiện kim để trùng tu chánh điện. 
Tôi từ giã Sư Bà, trong lúc mắt nhìn quanh như muốn tìm kiếm một điều gì. Nhưng tất cả chỉ có im lặng, ngoài tiếng chuông chùa ngân nga như chẳng bao giờ muốn tan đi trong không gian bao la vô tận.
Tôi bước ra khỏi cổng chùa. Chùa nằm trên một khu đất bằng phằng, nhưng sao tôi có cảm giác như mình đang lững thững bước xuống chân đồi. Tôi hình dung đến Ngọc vừa chia tay “chú tiểu” Lan lần cuối cùng ở chùa Long Giáng trong Hồn Bươm Mơ Tiên của nhà văn Khái Hưng, mà ngày xưa Tiểu Thơ đã bắt tôi phải kể đi kể lại bao nhiêu lần.

Phạm Tín An Ninh

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười qua đời

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười qua đời

Bản quyền hình ảnh  HOANG DINH NAM/GETTY IMAGES
Nguyên TBT Đỗ Mười xem duyệt binh tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/2005

Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười vừa từ trần tối ngày 1/10, Thông Tấn xã Việt Nam cho hay.

“Theo tin từ Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương, đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, sau một thời gian lâm bệnh nặng… đã từ trần hồi 23 giờ 12 phút ngày 1/10/2018, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108,” thông báo của TTXVN tối thứ Hai viết.

“Thông tin về lễ tang đồng chí Đỗ Mười sẽ được thông báo sau.”

Ông Đỗ Mười ra đi chỉ hơn mười ngày kể từ khi Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời. Tuy nhiên, thông báo này chưa nói rõ thể thức có phải là quốc tang và nếu có thì là bao nhiêu ngày cho ông Đỗ Mười.

Ông Đỗ Mười, tên thật là Nguyễn Duy Cống, sinh ngày 2/2/1917, tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Ông là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thứ ba của nước CHXHCN Việt Nam từ tháng 6/1988 đến tháng 7/1991.

Trước đó, ông từng là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam.

Ông làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 6/1991 đến tháng 12/1997.

Từ tháng 12/1997, ông làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Trước đó, hôm 28/9, báo VietNamNet dẫn lời ông Phan Trọng Kính, trợ lý của ông Đỗ Mười khẳng định: “Cụ nằm ở bệnh viện 108 gần 6 tháng nay”.

Tiến sỹ Phạm Chí Dũng nói về Sấm Trạng Trình

Từ một người nổi tiếng cứng rắn, bảo thủ ông lại gây ngạc nhiên khi ủng hộ cải cách tự do hoá kinh tế, theo một nhà quan sát từ Hoa Kỳ.

“Ông ấy đã tiếp nối được di sản tự do hóa kinh tế của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh,” nhà nghiên cứu Murray Hiebert từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) từ Hoa Kỳ nói với BBC.

“Thời gian ông làm TBT là thời gian mà Việt Nam có những dấu mốc lịch sử có ý nghĩa chiến lược sống còn và những đột phá chưa từng có về đối ngoại: gia nhập ASEAN, ký Hiệp định Đối tác và Hợp tác Toàn diện với EU, bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ, bắt đầu đàm phán BTA…”

‘Đánh tư sản mại bản’

Về di sản của cựu Tổng bí thư Đỗ Mười, trả lời BBC hồi cuối tháng Chín, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, cựu Vụ trưởng Nghiên cứu, Ban Dân vận Trung ương Đảng, hiện sống ở Hà Nội, nói:

“Một trong hai sự kiện nổi trội liên quan đến ông Đỗ Mười (cùng với việc dự Hội nghị Thành Đô) là chủ trương đánh tư sản hay còn gọi là “cải tạo công thương nghiệp”.

“Theo như tôi hiểu, ông làm điều này rất hung hăng vì học vấn ít, và cuồng tín cao.”

“Hệ lụy của việc cải tạo công thương nghiệp rất bi thảm, khốc liệt, để lại tai họa rất lớn cho dân tộc.”

“Nhưng có vẻ là trong nhiều năm ông Đỗ Mười tự hào về mình đã làm được việc kinh thiên động địa.”

“Đến lúc cuối đời, ông không có vẻ gì ăn năn, hối cải về sai lầm của mình cả.”

Đỗ Mười
Bản quyền hình ảnh   HOANG DINH NAM/AFP/GETTY IMAGES
Cựu Tổng bí thư Đỗ Mười tại đám tang cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt hồi tháng 6/2008

‘Cầu thị’

Trong khi đó, chuyên gia Lê Đăng Doanh, người từng làm thư ký kinh tế cho văn phòng của cựu Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, bình luận với BBC hồi tuần trước:

“Theo như tôi hiểu, ông Đỗ Mười là Đảng viên thực hiện nghiêm túc các chỉ thị của Đảng.”

“Chủ trương “cải tạo công thương” là của tập thể lãnh đạo, còn những người khác có chức vụ cao hơn ông ấy trong Đảng.”

“Nếu những người này không đồng tình thì mình ông ấy không thể làm gì được.”

mười
Bản quyền hình ảnh  HOANG DINH NAM/AFP/GETTY IMAGES
Ông Đỗ Mười (giữa) tại lễ tang Tướng Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội hồi tháng 10/2013

“Sau khi được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng năm 1988, ông Đỗ Mười được ghi nhận gửi lời chúc doanh nghiệp làm ăn phát tài, thực hiện đầy đủ chính sách cải cách tiền tệ, chuyển đổi tỷ giá, phát triển kinh tế tư nhân…”

“Ông cũng là lãnh đạo đầu tiên đi Nam Hàn mời gọi đầu tư vào Việt Nam.”

“Nói như vậy để thấy không nên quy trách nhiệm cá nhân cho ông Đỗ Mười vì đó là sai lầm của một thời kỳ.”

Đường nên thánh

Bang Uong

Đường nên thánh

 

Phạm Minh-Tâm

Vào ngày 14-10-2018 sắp tới đây, Hội-thánh Công-giáo hoàn-vũ vui mừng về một tin vui cả-thể. Đó là Đức cố Giáo-hoàng Phao-lô VI được Đức đương kim Giáo-hoàng Phan-xi-cô cử-hành nghi-thức tôn vinh lên bậc hiển thánh. Và trong nỗi hân-hoan này, thiết-tưởng cộng-đồng Dân Chúa Việt-Nam – và toàn thể Hội thánh Chúa Ki-tô – cũng nên chia-sẻ những cảm-nghiệm đức tin về vị Cha Chung được vinh thánh này. Đang lúc người ta nhắc đến hành-trạng của Đức Giáo-hoàng Phao-lô VI với toàn là những việc “để đời”, thì người viết lại cứ quanh-quẩn với câu ngài nói đã thành thời-danh:”Con người thời đại chúng ta thích nghe các chứng nhân hơn là các bậc thầy. Hoặc nếu có nghe các bậc thầy thì vì những vị thầy này là chứng nhân”…Bởi vì đã từ lâu, rất lâu nay, hai chữ “chứng nhân” vẫn là nỗi băn-khoăn, niềm mong đợi và tìm kiếm của cộng-đồng tín-hữu Việt-Nam.

Và quả-thực, trong suốt triều-đại giáo-hoàng của mình, Đức Phao-lô VI đã hành-xử quyền Tông-toà trong các hành-động liên-tục theo ơn-nhưng-không với lòng trách-nhiệm…đã làm việc theo “đấng bậc mình” không chút đơn-sai.

Điều mà người ta nhớ đến Đức Phao-lô VI trước hết và trên hết là ngài đã kế-tục một công-trình nhiều khó-khăn của vị tiền-nhiệm là Thánh Giáo-hoàng Gio-an XXIII, để hoàn-tất Công-đồng Vatican II. Công-đồng này đã mở đầu một kỷ-nguyên quan-trọng trong lịch-sử Hội thánh Công-giáo hoàn-vũ. Bởi vì, mọi văn-kiện của Công-đồng Vatican II đã như một nguồn sáng mới soi rọi lại nhiều vấn-đề trong Hội-thánh như Phụng-vụ, Lời Chúa, Đại-kết, Tự-do tôn-giáo và nhất là định rõ vai trò của Hội thánh trong thế-giới ngày nay…Tất cả không chỉ đòi hỏi một nỗ-lực mà còn là một ý-thức tâm-linh cao-độ khởi đi từ các nhân-đức Tin – Cậy – Mến…

Trong tấn thảm-kịch thông-thường của con người, một thảm-kịch mà ánh sáng càng tăng thì định-mệnh con người lại càng ra đen tối. Bởi thế, nhận-định ấy phải được triển-khai bằng một cuộc đối-thoại với thực-tại thần-linh; nghĩa là tôi bởi đâu mà ra và chắc-chắn tôi sẽ đi về đâu theo ánh sáng của Đức Ki-tô, như cây đèn đặt vào tay cho chúng ta hoàn-thành cuộc vượt qua vĩ-đại… Tôi được chọn làm Giáo-hoàng; sự kiện này chứng-tỏ hai điều: một là sự hèn-mọn của tôi và hai là sự tự-do của Thiên Chúa, một sự tự-do đầy nhân-từ và mạnh-mẽ…(Đỗ Xuân Quế – Suy-tư của Đức Phao-lô VI về sự chết…trang 8).

Công-đồng Vatican II được hình-thành từ nhiều trở-ngại trong quá-khứ. Vào năm 1870, Đức Giáo-hoàng Pi-ô IX triệu-tập Công-đồng Vatican I, tuyên-bố quyền tối-thượng và ơn bất-khả-ngộ của Giáo-hoàng; đồng thời, lên án chủ-trương độc-lập của Giáo-hội Pháp và nhiều vấn-đề quan-trọng khác thuộc Giáo-hội. Song Công-đồng này phải ngưng vào ngày 20-10-1870 và đình-hoãn vô-hạn-định với biến-cố Giáo-phận Rome bị sáp-nhập vào nước Ý. Khi Công-đồng Vatican II được công-bố triệu-tập thì đã có nhiều ý-kiến về tên gọi, vì cho rằng đây chính là sự tiếp nối công-trình của Vatican I, mà phần lớn các vấn-đề đã bị bỏ dở. Vì vậy, vào ngày 07-12-1959, Thánh Giáo-hoàng Gio-an XXIII đã chính-thức dùng tên Công-đồng Vatican II để khai-hội và kéo dài sang đến triều-đại Đức Giáo-hoàng Phao lô VI mới kết-thúc.

Điều đăc-biệt, Công-đồng Vatican II được triệu-tập không theo truyền-thống sẵn có là chỉ triệu-tập công-đồng khi Hội-thánh cần phải công-bố một định-tín hay giải-quyết các khúc-mắc quan-trọng. Trong hoàn-cảnh lúc đó, Giáo-hội không gặp phải biến-cố hay khủng-hoảng nào rõ-rệt cả mà chỉ vì hậu-quả của hai cuộc thế-chiến và sự phát-triển nhanh chóng của khoa-học đã ảnh-hưởng nhiều đến hướng hành-đạo và sống đạo của người Ki-tô hữu, cho nên có nhiều vấn-đề để Công-đồng này cần phải đặt ra, nhất là đặt trọng-tâm vào cách-thế có mặt của Hội-thánh trong thế-giới hiện-đại cùng với sự hiệp-nhất Ki-tô hữu.

Với hướng hàng đầu nhắm vào sứ-vụ truyền-giáo của Giáo-hội, Đức Giáo-hoàng Phao-lô VI đã có cách nhìn cởi mở và chịu đối-thoại với thế-giới bên ngoài như một sự canh-tân cần-thiết. Trước hết là phải kể đến chủ-trương đối-thoại với cộng-sản, với các anh em trong cộng-đồng Ki-tô giáo, với các tôn-giáo khác và ngay cả với những người không có tín-ngưỡng. Ngài cũng bãi-bỏ một số quy-chế trong tổ-chức của Giáo-hội như chuyển sinh-hoạt phụng-vụ từ tiếng La-tinh sang tiếng bản xứ; tổ-chức lại thành-phần nhân-sự trong nhiệm-vụ giữ trật-tự an-ninh của Tòa-thánh; giảm bớt con số cảnh-vệ gốc Thụy Sĩ; bỏ việc dùng vương-miện cũ của giáo-hoàng và các lễ-phục mang sắc-thái vương-giả cao-sang, vì ngài từng khẳng-định rằng…giáo hoàng không phải là một vị vua, nhưng là một giám mục, một mục tử, một nô bộc…Ngài cũng chấm dứt truyền-thống về nghi-thức mỗi khi khai-mạc Năm Thánh thì giáo-hoàng lấy búa đập vào bức tường che Cửa Thánh; ra quyết-định sau Năm Thánh 1975 không cho xây bức tường che Cửa Thánh trong đền thánh Phê-rô nữa.

Tưởng cũng cần mở ngoặc để nhắc đến ở đây một sự-kiện “để đời” nơi Giáo-hội Việt-Nam, thoát-thai từ Tông-hiến Laudis Canticum : vào ngày Lễ Các Thánh, 1-11-1970, Đức Phao-lô VI ban-hành Tông-hiến Laudis Canticum, chính-thức công-bố về việc dùng sách nguyện của Hội-thánh là Các giờ kinh Phụng-vụ…Bài Ca Chúc Tụng Thiên Chúa hằng vang dội muôn đời trên Thiên-quốc, đã được Chúa Giê-su Ki-tô, Vị Thượng-tế của chúng ta đưa vào trần-thế. Bài ca này, Hội-thánh không ngừng tiếp-tục hát lên, qua những hình-thức vô cùng phong-phú với một tấm lòng bền vững trung-kiên”. Và trong Tông-huấn này, có một sứ-điệp gửi đi “…Các Hội Đồng Giám Mục trong mỗi quốc gia có nhiệm vụ phải cho xuất bản sách này bằng tiếng nước mình…” đã là cơ-duyên cho một nhóm giáo-sĩ, linh-mục, tu-sĩ Việt-Nam được thể-hiện khả-năng Chúa cho mà phục-vụ Giáo-hội quê-hương mình. Đó là Nhóm Các Giờ Kinh Phụng-vụ ra đời vào năm 1971, với các thành-viên toàn là linh-mục, tu-sĩ có trình-độ cao về học-thức, về chuyên-môn, về ngoại-ngữ và cổ-ngữ; thậm-chí còn đã từng hay đang là Bề Trên Dòng, là Giám-tỉnh, là giáo sư Đại-chủng-viện…và tính cho đến nay cũng đã cống-hiến rất nhiều cho Giáo-hội Công-giáo Việt-Nam.

Đức Phao-lô VI cũng bỏ truyền-thống lâu đời của các giáo-hoàng vốn không ra khỏi Vatican. Ngài đã thực-hiện hàng loạt các cuộc tông-du qua nhiều miền đất của thế-giới như những cuộc hành-hương và tuy mỗi chuyến đi mang mục-đích khác nhau nhưng tựu-trung cùng trong tâm-tình viếng thăm thế-giới vì lợi ích của con người. Ngài đến Jérusalem, Jordanie, Istambul…để gặp gỡ các thượng-phụ của Chính-thống-giáo Ðông-phương vì muốn cùng anh em ly-giáo hoà-giải bớt những bất-đồng gây phân cách, đã xin lỗi Thượng-phụ Bartholomeo của Constantinople và kết-quả đem lại là đã cùng Thượng-phụ Giáo-chủ Athenagoras của Giáo-hội Chính-thống Constantinople xé bỏ án tuyệt-thông mà cả hai đã gieo vạ lẫn cho nhau từ năm 1054. Ngài đến Hoa-kỳ để đọc diễn văn tại Đại Hội-đồng Liên-hiệp-quốc lên án chiến-tranh và kêu gọi hòa-bình thế-giới. Ngài gặp Giáo-chủ Hồi-giáo trong tinh-thần đối-thoại và Tổng Giám-mục Canterbury của Anh-giáo để giảm bớt sự xa cách từ một quá-khứ ly-khai. Đến Châu Mỹ La-tinh, Ấn-độ, Pakistan, Columbia, Philippine, Uganda, Bồ-đào-nha, Thuỵ-sĩ …và gặp nhiều nguyên-thủ các quốc-gia… cũng không ngoài mục-đích viếng thăm theo tinh-thần phúc âm hóa đời sống và Ki-tô hoá xã-hội. Ki-tô hoá không phải là rửa tội cho người ta vào đạo mà là thể-hiện tinh-thần bác-ái, huynh-đệ như Chúa Ki-tô dạy, là truyền-đạt Giáo-lý của Đức Ki-tô bằng tâm-tình đi tìm hoà-bình và công-lý cho con người. Là lên tiếng bênh-vực cho nhân-quyền, nhất là quyền làm người và quyền sống.

Ủy-ban “Công lý và Hòa bình” của Giáo-hội đã được lập năm 1967. Tiếp đến là Thông-điệp Sự Sống Con Người (Humanae Vitae) ban-hành vào ngày 25-7-1968, xác-nhận lại quan-điểm của Giáo-hội Công-giáo không chấp-nhận các phương-pháp ngừa thai nhân-tạo như ngài đã từng tuyên-bố… là chuyên-gia về nhân-loại, chúng tôi tôn trọng con người…Vào năm 1971, để cổ-võ việc đấu-tranh cho quyền-lợi các nước nghèo, Đức Phao-lô VI công-bố Thông-điệp “Phát triển các Dân tộc” …

Tóm lại, với thời-gian tại vị không lâu nhưng Đức Phao-lô VI đã làm việc trong sự mẫn-cán tuyệt-vời của một mục-tử yêu thương đoàn chiên; của người tự nhận mình là…chuyên-gia về nhân-loại nên đã không bỏ sót một khía cạnh nào thuộc đời sống con người…cho đến cuối đời …Nhưng bây giờ trong buổi hoàng-hôn sáng tỏ này cộng thêm với ánh sáng cuối cùng của buổi chiều, điềm tiên báo hừng đông muôn thuở, một tư-tưởng khác làm tôi bận trí, đó là nỗi lo-lắng phải làm sao lợi-dụng giờ thứ mười một, là sự vội-vàng phải làm một cái gì quan-trọng trước khi quá muộn. Làm thế nào để sửa lại những gì mình đã làm không tốt; làm thế nào để lấy lại thời-gian đã mất; làm thế nào để nắm được điều cần duy nhất trong giai-đoạn cuối cùng còn được chọn này… Con theo Chúa và con thấy rằng con không thể lẻn ra khỏi sân khấu cuộc đời này. Có hàng ngàn mối dây ràng-buộc con với cộng-đồng nhân-loại, với Hội-thánh. Những mối dây này tự chúng sẽ tan đi, nhưng con không thể quên được những người có liên hệ với con, chờ đợi con làm một vài bổn-phận cuối cùng…( Đỗ Xuân Quế. Suy-niệm của Đức Phao-lô VI về sự chết…trang 10…13)

Giờ đây, trong tâm-tình tín-thác nơi ơn vô-ngộ của Hội thánh và của những định-tín khi người đại-diện Thánh Phê-rô công-bố trên toà, xin Chân-phước Phao-lô VI sắp được nâng lên hàng Hiển-thánh, cầu-bầu cho dân-tộc Việt-Nam chúng con đủ sức mạnh thắng vượt cơn khốn-khó. Cho mọi anh em trong Hội thánh Công-giáo Việt-Nam chúng con và những người đang trong trách-nhiệm lãnh-đạo Chúa giao, biết theo được gương sống đạo và làm việc theo lương-tâm ki-tô hữu của ngài; xin cho tất cả những ai chỉ vì muốn cầu-an, sống vô-cảm, chối bỏ trách-nhiệm liên-đới với xã-hội, với anh em đồng-bào mà đã vô-tình hay cố ý lý-luận rằng khi nói đến việc đấu-tranh cho quyền-lợi người nghèo, cho người bị đàn-áp bất-công, đòi nhân-quyền, đòi tự-do tôn-giáo, đi tìm công-lý và hoà-bình…như ngài đã từng dấn-thân tìm kiếm là những việc phạm đến chính-trị. A-men