NĂM CÁCH THỨC ĐƠN GIẢN ĐỂ ĐEM CẦU NGUYỆN VÀO TRONG NGÀY SỐNG

NĂM CÁCH THỨC ĐƠN GIẢN ĐỂ ĐEM CẦU NGUYỆN VÀO TRONG NGÀY SỐNG

Young boy’s bedtime prayer.

Bạn quá bận và không có giờ để cầu nguyện? Dưới đây là năm cách đơn giản giúp bạn có thể thực hiện giờ cầu nguyện ngắn trong ngày.

1/ Xét mình trước giờ ăn trưa, ăn tối hay trước khi đi ngủ. Bạn dừng lại đôi chút để tạ ơn Chúa vì những ơn lành Chúa đã ban trong buổi sáng, trong ngày hôm nay, và duyệt xét lại xem Thiên Chúa đã hiện diện với bạn ở đâu, vào thời khắc nào trong ngày. Thái độ biết ơn là thái độ cốt lõi của cầu nguyện.

2/ Thong dong. Bạn đang có một cuộc hẹn? Thay vì vội vã, bạn hãy thong thả hơn và chú ý vào những ơn thường hằng: cây cối, bầu trời, con người và tất cả những gì đang diễn ra xung quanh bạn. Đối với những nơi gần, bạn có thể đi bộ thay vì đi xe. Thiên Chúa đang gặp gỡ bạn ở đâu trên con đường ấy? Nơi công việc, nơi sự thay đổi của từng người mà bạn quan sát giống như bạn nhận ra sự thay đổi của các mùa và sự thay đổi của những tia sáng xuyên qua những cành lá.

3/ Thức dậy sớm hơn mười phút. Ngồi lại với Chúa trong thinh lặng trước khi ngày mới bắt đầu. Sự thinh lặng giúp chúng ta nghe tiếng Chúa rõ ràng hơn; đồng thời, sự thinh lặng tự nó cũng “nói” với cõi lòng chúng ta bằng sự giao tiếp vượt trên ngôn từ.

4/ Tập trung vào hơi thở. Mặc dù có những kỹ thuật tuyệt vời giúp tập trung cầu nguyện, nhưng bạn hãy thử áp dụng cách thức đơn giản này: khi hít vào, hãy tưởng tượng bạn đang hít tình yêu và sự săn sóc của Thiên Chúa; khi thở ra, bạn đang trao dâng tình yêu lại cho Ngài. Bạn hãy thử làm như vậy trong khoảng năm phút hoặc lâu hơn.

5/ Lắng nghe. Thiên Chúa hiện diện ở trong các mối tương quan của chúng ta với những người khác. Vì vậy, thông thường chúng ta cần phải chú ý những gì chúng ta muốn nói, nhưng một cách đơn giản hơn, việc chăm chú lắng nghe những gì người khác nói cũng có thể giúp chúng ta nhận biết sự hiện diện của Thiên Chúa. Thiên Chúa hiện diện ở đâu trong tư tưởng, hy vọng hay lòng khao khát của những người chúng ta đang trò chuyện?

Ta cần một khoảng thời gian dài thinh lặng cầu nguyện trước khi bắt đầu ngày mới. Không có khoảng thời gian như vậy, thật khó để ta là chính mình. Tuy vậy, điều này không phải lúc nào cũng khả thi, ví dụ khi bạn đang chăm con nhỏ. Nhưng ngay cả khi có nhiều thời gian hơn, những cách cầu nguyện nhỏ này sẽ giúp bạn đụng chạm đến một Thiên Chúa sống động như bạn đã gặp gỡ Ngài trong ngày sống. Dù chúng ta có ít hay nhiều thời gian, Thiên Chúa vẫn luôn mời gọi chúng ta đi vào trong tương quan thân tình với Ngài trong từng giây phút của ngày sống.

Chuyển ngữ: Pr. Nguyễn Văn Đương, (S.J dongten.net)

Vụ cưỡng chế Vườn rau Lộc Hưng là “cách thu hồi đất trá hình!”

Thuong Phan and 3 others shared a post.
Image may contain: 1 person, text
Đài Á Châu Tự Do

Vụ cưỡng chế Vườn rau Lộc Hưng là “cách thu hồi đất trá hình!”

Nhóm 17 Luật sư Lộc Hưng đại diện cho 20 hộ dân bị cưỡng chế “phá dỡ nhà xây dựng trái phép” hôm 4/1 và 8/1 vừa ra Thông báo số 2 khẳng định việc cưỡng chế của chính quyền vừa qua là cách thức thu hồi đất trá hình.

“Nói một đằng, làm một nẻo”

Thông báo được đăng tải trên fanpage Công Lý cho người dân Vườn Rau Lộc Hưng (VRLH) chiều ngày 25/1 cho biết, các hộ dân này vừa gửi đơn tố cáo hành vi hủy hoại tài sản do nhiều người dưới sự chỉ đạo của một số lãnh đạo chính quyền Phường 6, Quận Tân Bình thực hiện từ ngày 4 đến ngày 8 tháng 1/2019, khi không có các quyết định hành chính theo quy định như: Quyết định thu hồi đất, Quyết định cưỡng chế, Thông báo cưỡng chế đối với các hộ dân ở đây.

Theo đó, chính quyền Phường 6, Quận Tân Bình chỉ xuất trình cho báo chí một văn bản duy nhất là Thông báo ghi ngày 29/12/2018, cho biết kế hoạch phá dỡ các nhà xây dựng trái phép sau thời điểm 01/01/2018.

Tuy nhiên trong thực tế, lực lượng cưỡng chế đã phá dỡ cả các nhà xây dựng trước thời điểm 01/01/2018, chiếm giữ toàn bộ đất VRLH (kể cả đất của các hộ chỉ trồng rau, không có nhà hay công trình xây dựng trên đất).

Nhóm Luật sư Lộc Hưng (LSLH) kết luận: “Đây là cách thức thu hồi đất trá hình, không có cơ sở pháp luật nhằm chiếm đoạt trái phép đất của các hộ dân ở đây.”

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thằng Bất Hảo

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thằng Bất Hảo

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Nhiều người cho rằng, Cambodia đã đi trước Việt Nam một bậc về mặt dân chủ, rằng xã hội dân sự đã nở hoa, rằng quốc gia này sẽ là người tiên phong của vùng Đông Dương về tự do, dân chủ và sự phát triển kinh tế – kinh trị. Vài năm sau, chúng ta bắt đầu khóc than về một nền dân chủ kiệt sức và hấp hối. Điều gì đã xảy ra?

Nguyễn Quốc Tấn Trung

Bởi tính hà tiện (và cũng vì thói quen luôn thức sớm) tôi hay rời Bangkok lúc trời còn tối, và đến Phnom Penh khi vừa sáng bạch. Chuyến bay đầu ngày bao giờ cũng rẻ, ít ra thì cũng rẻ hơn được năm/bẩy Mỹ Kim. Đỡ được đồng nào hay đồng đó.

Phi đạo vắng ngắt nhưng phi trường thì ồn ào hơn thường lệ vì có nguyên cả một đoàn du khách Trung Hoa (gần cả trăm người) đang lào xào trò chuyện hơi lớn tiếng. Tôi gặp họ hoài, ở khắp mọi nơi, nghe riết cũng quen nên không có gì để phàn nàn cả. Hơn nữa – tự thâm tâm – tôi tận tình chia sẻ với nỗi “hạnh phúc vỡ oà thành tiếng” của hằng tỉ con người (vừa được xổ lồng) sau hơn nửa thế kỷ bị giam cầm, trong bức màn sắt

Khác với Lào hay Thái, tuk tuk ở xứ Cao Miên nhiều quá – tá lả khắp nơi – nên tiếng mời chào (khẩn thiết) nghe mà thương cảm. Tôi phóc đại lên cái xe gần nhất, nói nhỏ:

  • River side! Ra mé sông!

Gọn ghẽ vậy thôi nhưng cũng đủ cho chú em tài xế biết rằng tuy khách hàng bộ dạng hơi lớ ngớ nhưng là dân bụi đời chuyên nghiệp, khỏi cần phải ra giá (hay mặc cả) lôi thôi. Ngoài Việt Nam và California ra, Phnom Penh – có lẽ – là nơi tôi chôn chân lâu nhất, đủ lâu để biết về phố xá (gần) như dân bản xứ.

          Nam Vang đi dễ khó về

          Trai đi có vợ, gái về có con

Tui đã quá cái tuổi vợ con từ lâu lắm rồi nhưng vẫn lui/tới đây hoài hoài vì người Việt của mình ở đây đông quá, và khổ lắm. Nước sạch nhiều người cũng không có mà uống nữa, chớ đừng nói chi đến chuyện xa xôi như ăn chơi hay ăn học. Đến với họ, đôi lúc, cho nó có cái tình – tình đồng bào – chớ tôi đã ớn thức ăn của Miên (cũng như của Lào và của Thái) tới tận ngón chân út luôn rồi!

Tuy hơi mất công (chút xíu) nhưng tôi buộc phải tìm cho ra thức ăn Việt Nam, bằng mọi cách và mọi giá. Trên đường Preah Sisovath, dọc bờ sông, tiệm Chiang Mai Riverside có món Vietnamese Sour Soup (bảo đảm là không dở) dù cả chủ nhân lẫn đầu bếp đều không phải là người Việt. Tuy còn hơi sớm, tôi vẫn gọi một tô canh chua cá (sao tui không ưa canh chua tôm nha) với lời căn dặn “cho nhiều rau ngổ, càng nhiều càng tốt.”  Thực đơn chiều tui cũng tính luôn rồi: cá rô kho tộ của Ngon Restaurant (trên đại lộ Sihanouk Boulevard) tiêu rắc lấm chấm như mè, cay suýt xoa, thơm đậm đà, và ngon thấm thía.

Sáng thì tôi có chuyện phải vô làng nổi Kampong Luong, nằm cuối Biển Hồ, thuộc tỉnh Pursat. Từ Phnom Penh đến đây chỉ cỡ chừng 150KM nhưng dám có tới cả trăm bức hình của Hun Sen: khi ngồi, lúc đứng. Xen giữa là những bảng hiệu của Cambodian People’s Party (Đảng Nhân Dân Cam Bốt) với ảnh phóng lớn của đảng phó, và đảng trưởng. Lại cũng chính là cái bản mặt của thằng chả luôn, chớ còn ai vô đó nữa!

Không thấy vua cha Norodom Sihanouk, hoàng hậu Norodom Monineath hay vua con Norodom Sihamoni đâu ráo trọi. Trên thế giới này – có lẽ – chưa bao giờ, và không nơi đâu, có một quốc gia theo chế độ quân chủ lập hiến nào khác mà hoàng gia lại mờ nhạt (và thủ tướng lộng hành) như thế cả.

Hồi đầu năm ngoái, ở những tỉnh lỵ heo hút – lâu lâu – tôi còn thấy lưa thưa vài tấm bảng trưng Cambodia National Rescue Party. Nay thì hết nhẵn, cái đảng này đã bị Hun Sen “giải thể” hồi tháng 11 năm ngoái. Tờ Cambodia Daily cũng vậy, cũng bị đánh (thuế) cho “sụp tiệm luôn rồi. Phnom Penh Post thì đã sang tay qua một ông chủ mới (nghe đâu) cũng là chỗ quen biết, và thân thiết, với Hun Sen.

Thiệt là quá đáng nhưng … chưa hết!

Tất cả 125 dân biểu quốc hội đều là người của Đảng Nhân Dân Cam Bốt, 58 trong số 62 thượng nghị sỹ cũng vậy, cũng đều nằm trong túi áo của Hun Sen ráo trọi. Còn chính Hun Sen thì đã chui gọn trong túi quần của Tập Cận Bình.

Photo: AFP/Tang Chhin Sothy

Coi như là tiêu tan một giấc mơ dân chủ.

Nguyễn Quốc Tấn Trung, bỉnh bút của tạp chí Luật Khoa, nhận xét:

“Nhiều người cho rằng, Cambodia đã đi trước Việt Nam một bậc về mặt dân chủ, rằng xã hội dân sự đã nở hoa, rằng quốc gia này sẽ là người tiên phong của vùng Đông Dương về tự do, dân chủ và sự phát triển kinh tế – kinh trị. Vài năm sau, chúng ta bắt đầu khóc than về một nền dân chủ kiệt sức và hấp hối.”

Tới bữa nay thì, cái “nền dân chủ” này đã chết (“ngắc”) rồi, tôi thầm nghĩ vậy khi đi tà tà ngang qua Court of Appeal Office of the Prosecutor General – nằm cạnh bờ sông Tonle Sap. Mới vài ba năm trước (chính xác là ngày 10 tháng 12 năm 2014, Ngày Quốc Tế Nhân Quyền) tôi chứng kiến cả chục ngàn người dân Cam Bốt – sau khi tuần hành – đã tụ tập nơi đây để đòi hỏi chính quyền phải phóng thích những tù nhân lương tâm của xứ sở họ.

Cũng chính tôi –  ngay chiều hôm đó – đã vui sướng viết bài tường thuật (“Dư Âm Của Một Ngày Lễ Lớn”) cho RFA, với những lời có cánh: “Ai mà dè cái xứ Chùa Tháp này lại đàng hoàng và văn minh dữ dội vậy, Trời?”

Ảnh (tnt) chụp hôm 10/12/2014

Những ngày vui, cũng như niềm vui, thường ngắn. Riêng nỗi hân hoan vui mừng mà tôi dành cho nước Cambodia e hơi quá ngắn. Tôi cay đắng (nghĩ thêm) như thế, sau khi đọc xong bài báo (“Thái Lan Hành Trình Dân Chủ Gập Ghềnh”) của L.S Nguyễn Văn Thân.

Tuy gập ghềnh và với nhiều sóng gió nhưng nước Thái Lan vẫn kiên tâm đi tới. Còn Hun Sen thì dẫn đất nước Cambodia bước lùi, theo lộ trình chuyên chế, cùng với Trung Hoa Lục Địa của Tập Cận Bình.

Nguyễn Quốc Tấn Trung, tác giả bài báo “Nền Dân Chủ Cambodia Hấp Hối” còn viết thêm: “Bắt đầu những năm 2010, Trung Quốc trỗi dậy như một thế lực có tầm ảnh hưởng quốc tế, và Cambodia trở thành một trong những ‘chư hầu’ nhận viện trợ đều đặn từ Bắc Kinh. Giới lãnh đạo Cambodia dần được tháo bỏ xiềng xích phương Tây, và trở mặt.”

Đoạn văn thượng dẫn khiến tôi chợt nhớ đến bức thư của Thủ Tướng Sirik Matak, gửi đại sứ Hoa Kỳ John Gunther Dean, hồi cuối thế kỷ trước:

Nam Vang, ngày 16 tháng 4, năm 1975.

Thưa Quý Ngài và Ông Bạn,

Tôi thành thật cảm tạ ngài đã viết thư và còn đề nghị giúp tôi phương tiện đi tìm tự do. Than ôi! Tôi không thể bỏ đi một cách hèn hạ như vậy! Đối với Ngài và nhất là đối với xứ sở vĩ đại của Ngài, không bao giờ tôi lại có thể tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do. Quý vị từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng thể làm được gì hết. Ngài ra đi, tôi cầu chúc Ngài và xứ sở của Ngài được hạnh phúc dưới bầu trời này. Nhưng xin Ngài nhớ cho rằng nếu tôi phải chết ngay đây và trên đất nước tôi yêu dấu thì tuy đó là điều đáng tiếc, nhưng tất cả chúng ta đều sinh ra và cũng sẽ chết vào một ngày nào đó. Tôi chỉ ân hận một điều là đã lỡ lầm đặt niềm tin quá lớn ở nơi quý vị, những người bạn Hoa Kỳ!

Thành tín,

Sirik Matak

Bằng vào kinh nghiệm máu xương của người tiền nhiệm thì Hun Sen có thể “trở mặt” với cứ phương nào (bất kể Đông/Tây) khi cần, nếu vì quyền lợi của đất nước Cambodia. Đương sự, tiếc thay, lại “trở mặt” ngay với chính đồng bào và dân tộc của mình, chỉ để bảo vệ cho tài sản của gia đình và phe nhóm. Đó mới là chuyện đáng buồn, và đáng nói: thằng khốn nạn!

Mồ Côi

Image may contain: one or more people
Ngoc Hoang Vu

Mồ Côi

Nó…thân phận đứa trẻ mồ côi
Ánh đèn hàng xóm đã lên ngôi
Nó vẫn lang thang nơi nghĩa địa
Nuốt nghịch cảnh sự tình thấm thía
Bụng đói cơm,nghĩa địa là nhà
Cố mím môi nước mắt vẫn oà
Cay đắng mất mẹ cha là thế
Mỗi bữa ăn thay canh bằng lệ
Mẹ cha ơi nỡ để con côi
Nhìn bè bạn dạ nó bồi hồi
Chúng diễn phúc,trời ơi diễm phúc
Đây thiên đường,đây là địa ngục
Đời vô thường giây phút khác nhau
Kẻ giàu sang phú quý …cơ cầu
Nó bất hạnh cút côi là thế
Đảng vinh quang,phải chăng trong chuyện kể
Hay chỉ là để lừa mị,.. nó và tôi

Bài phiếm luận Năm Hợi Nói chuyện Heo

 Bài phiếm luận Năm Hợi Nói chuyện Heo của Duy Hân

 Nguyễn Ngọc Duy Hân

 

Trong năm vừa qua mọi người rất là xôn xao về các cuốn sách dạy tiếng Việt tại quê nhà. Ngoài bài học vỡ lòng gồm các ô vuông, tam giác – không phải chữ viết a, b, c – các trẻ em còn được dạy đánh vần sai như con dơi bị viết lộn ra thành “con rơi”, hình con heo được ghi chú là “Chú Ỷ”. Bậc phụ huynh thắc mắc có ai ra chợ muốn mua một ký thịt heo mà lại nói là bán cho tôi một ký “chú ỷ” bao giờ. Thế mà sách Việt Cộng lại dạy như thế. Giữa lúc các vấn đề sách giáo khoa, tiếng Việt theo lối Bùi Hiền tạm thời lắng đọng để mọi người hồ hởi mừng các trận đá banh,  có nàng vui đến nỗi cởi hết cả quần lẫn áo, thì năm mới Kỷ Hợi lại đang đến. Chúng ta sắp sửa đón thêm một cái Tết, dù buồn hay vui, dù giàu hay nghèo, dù ở Việt Nam hay Hải Ngoại thì mùa Xuân truyền thống cũng về. Thôi thì hãy tạm quên các chuyện rắc rối trong năm cũ, để cùng nhau bàn về chuyện “Chú Ỷ” trong Xuân Kỷ Hợi 2019 này nhé.

 Chuyện xưa kể rằng khi Ngọc Hoàng mở đại hội và triệu tập các loài vật để đặt tên cho 12 con giáp, thì con chuột là con vật đến phó hội sớm nhất nên được đứng đầu bảng. Vì thế người ta bắt đầu đếm từ Tý, rồi tới Sửu, Dần, Mẹo…. cuối cùng là Hợi vì con heo chậm chạp nên đến sau cùng. Thế nhưng trong thực tế Heo có chậm nhất không, có ở dơ không, có ngu không? Mời bạn cùng tôi điểm qua các sách báo, thơ nhạc về loài thú đặc biệt này nhé.

Từ xưa, tục ngữ ca dao ta đã nhắc nhiều tới loài heo qua các câu:

“Đàn bà không biết nuôi heo là đàn bà nhác”

“Con gà cục tát lá chanh, con lợn ủ ỉn mua hành cho tôi”.

“Cưới em một thúng xôi vò, một con lợn béo, một vò rượu tăm”.

hoặc câu “Nói toạc móng heo”. 

Người ta cũng so sánh miệng lưỡi cứ “trơn như mỡ heo”, “đẻ như heo” “mập như heo”, “làm biếng như heo”, hoặc chê trách người gian dối “mượn đầu heo nấu cháo”, vụng về chữa “lợn lành thành lợn què”, vô duyên gian tà mắt nhìn “thao láo như mắt lợn luộc”, “lấc cấc như quạ vào chuồng lợn”. Để hù các ông lôi thôi ham hố nhiều vợ, người ta cũng đã có câu “Hai vợ nằm chèo queo, ba vợ ra chuồng heo mà nằm!” coi bộ rất đúng với thực tế.

Thời trước, con lợn được vẽ trên các bức tranh dân gian Đông Hồ, trên tấm lịch treo tường của gia đình là để thể hiện sự sung mãn, hạnh phúc. 

Thời thơ Đường Luật còn thịnh hành, nhà thơ Nguyễn Khuyến trong thơ gửi bạn đã viết:

Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu

Lụt lội năm nay bác ở đâu?

Mấy ổ lợn con rày lớn bé,

Vài gian nếp cái ngập nông sâu? Ông đã nhắc tới “ổ lợn” tức là hình ảnh điển hình trong căn nhà ở vùng quê Việt Nam.

Thi sĩ nổi tiếng Vũ Hoàng Chương cũng nhắc tới con heo trong bài Vịnh tranh gà lợn:

Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành

Gà lợn om sòm rối bức tranh.

 

Một nhân vật đặc biệt trong tiểu thuyết Tây Du Ký là Trư Bát Giới – với hình ảnh con heo trên đường đi thỉnh kinh với Tam Tạng – cũng rất đáng nhắc tới trong bài tản mạn này. Bát Giới luôn làm những người đi chung bị rắc rối vì tính lười biếng, thói háu ăn và háo sắc trước những cô gái đẹp. Thế mà cuối cùng chàng mặt heo Trư Bát Giới cũng đã tu thành chánh quả. Điều này cho thấy dù hoàn cảnh, tâm tính có xấu như thế nào, vẫn còn nhiều cơ hội để tu thân tích đức, miễn đừng cố chấp không nhận ra mình sai và phải biết mở lòng ra để thay đổi. Sau này, các Tú Bà ở Trung Hoa có thói quen cúng Trư Bát Giới để cầu nguyện cho làm ăn được khấm khá. Chắc vì muốn thân chủ mang chút “lợn lòng”, có máu hiếu sắc như họ Trư nên bà chủ Hooker mới van vái cùng ông Tổ họ Trư như thế.

Trong Kinh Thánh, Chúa Giêsu đã dùng một chuyện ngụ ngôn về đứa con trai hoang đàng để nói lên lòng nhân từ của Chúa. Câu chuyện này hầu như ai đạo Công Giáo cũng biết và có liên hệ tới con heo. Sau khi đòi người cha chia gia tài rồi ăn chơi hết tiền, cậu em đã phải xin làm người chăn lợn thuê. Nó đói quá muốn ăn nồi cám của lợn như không ai cho. Sau này đứa con hoang đàng hối hận quay về và người cha nhân từ đã tha thứ. Cũng trong Phúc âm ghi lại một chuyện khác, Chúa Giêsu đã thực hiện một phép lạ đuổi quỷ ám để con quỷ phải nhập vào một bầy lợn, sau đó bầy lợn này đã phải chết.

Ở Hy Lạp từ thời thượng cổ, theo trường ca Odyssée của Homère, lợn được cho là quý và không nuôi trong chuồng mà thả rong (nếu theo kiểu ngày nay thì nói là “Lợn đi bộ”, giống như nuôi gà đi bộ – thịt ngon không bị mềm như gà công nghệ). Nhiều chuyện thần thoại, truyền thuyết về các thần có liên hệ đến heo đã được truyền tụng.

Tại nước Pháp, lợn cũng được thả đi lại tự do tại ngay thủ đô Paris. Mãi đến năm 1131 khi đàn heo gây tai nạn lưu thông làm thiệt mạng con của vua Louis le Gros thì mới bị cấm. Thế đấy, chết bao nhiêu phó thường dân thì luật cấm vẫn chưa có, cho đến khi con vua mất mạng thì triều đình thấy quan tài mới đổ lệ, nên mới cho ra luật cấm heo đi lang thang. Nước Pháp ngày nay cũng đang phải đối đầu với nhiều rắc rối, dân chúng biểu tình rất bạo động gây rối loạn. Tội nghiệp ông tổng thống trẻ Macron. Ông rất thông minh giỏi giang, được cô giáo dạy học lớn hơn mình 24 tuổi vừa làm vợ, vừa làm cố vấn mà cũng chưa giải quyết được “loạn”. Đáng khen là ông Macron đã dám đứng lên chính thức nhận mình nói sai, xin lỗi dân chúng. Có người nói cứ đem những người dân Pháp quá khích, đòi hỏi quá đáng về Việt Nam để bị Cộng sản đàn áp, sẽ “thuần” được ngay!

Từ xưa, thịt heo là một thực phẩm ngon lành bổ dưỡng cho loài người. Ở Việt Nam, thịt heo được dùng rất nhiều đặc biệt trong cưới hỏi, lễ giỗ, đình đám, có thể chế biến ra hàng trăm món khác nhau. Từ giò heo, da heo, lỗ tai heo, lòng heo … hầu như không bỏ sót phần nào, được chế biến thành các món ăn rất độc đáo. Bên cạnh những lợi ích về mặt dinh dưỡng, ngày nay một số bộ phận của heo cũng được các nhà khoa học sử dụng để thay thế những bộ phận hư hỏng của con người qua phương pháp ghép dị chủng “xenotransplantation”. 

Lợn quý như vậy, nhưng người Hồi giáo lại coi là con vật dơ bẩn, cấm không được ăn thịt. Trong đạo Do Thái cũng cấm không cho ăn thịt heo. Ngược lại Kinh Thánh Công giáo lại cho phép vì trong Matthew đoạn 15, câu 10 đã giải thích “Không có gì đi vào miệng của con người làm cho con người dơ bẩn. Chỉ có những gì đi ra từ miệng người mới có thể làm con người dơ bẩn.” 

Cũng như có tôn giáo thờ bò, có đạo kiêng không dám động tới con chuột, trong khi đối với người khác thì thịt bò là ngon số một, chuột là loài vật dơ dáy ghê tởm, điên gì mà thờ! Bởi mới thấy tư tưởng phong tục các nơi rất trái ngược nhau. Không ai có thể khẳng định đâu là sai, đâu là đúng, chỉ phải hiểu biết và hành xử “theo thuở, theo thì” thì mới tránh rắc rối mà thôi. 

Người Tây Đức đã thành công trong việc huấn luyện heo ngửi mùi để tìm ra ma túy thay cho chó quân cảnh nhưng người đạo Hồi lại phản đối, nên chương trình này ngưng phát triển

Báo chí cũng đăng đã có người làm phụ tá hành chánh cho công ty Rising Star – một cơ sở có liên hệ mật thiết với Hồi giáo – bị sa thải vì ăn thịt heo. Và mặc dù Kinh Qur’an chỉ cấm ăn thịt heo, nhưng chuyện cấm kỵ nhiều khi đã leo thang tới mức cấm cả hình tượng, sách truyện viết về heo. Như tại thành phố Leicester miền Trung nước Anh, cảnh sát đã tịch thu một bộ sưu tập gồm 17 con heo làm bằng sứ, được trưng bày tại cửa sổ nhà bà Nancy Bennett. Căn nhà này nằm trên cùng con đường với một ngôi đền Hồi giáo. Tín hữu đi qua, cảm thấy bộ heo sứ xúc phạm tới tôn giáo của mình, bèn yêu cầu cảnh sát ra tay. Thế mới rõ mỗi tôn giáo, mỗi người đều suy nghĩ rất khác nhau, mình nên tôn trọng và ngược lại cũng đừng bắt người khác phải nghĩ theo cách của mình.

Theo tin báo The Guardian, bà Barbara Harris, hiệu trưởng trường Park Road ở Batley, Tây Yorshire, đã ra lệnh cho nhân viên loại bỏ hết sách vở có liên hệ tới heo, như cuốn sách nổi tiếng Ba Chú Heo Con (Three Little Pigs), vì sợ xúc phạm tới trên 60% học sinh theo Hồi giáo. Ủy Ban Hồi giáo Anh quốc (Muslim Council of Britain) đã phải can thiệp để sửa lại lệnh cấm, cho giữ lại sách truyện trẻ em về heo, chỉ cấm ăn thịt.

Thế nhưng một đoạn trong phim “Peppa Pig” cũng là phim hoạt họa nổi tiếng cho trẻ em làm tại Anh cũng đã bị cấm chiếu. Gia đình Heo con trong phim chuyện này rất dễ thương, cả thế giới theo dõi và đồ chơi, hình tượng “Peppa Pig” bán khắp nơi, thậm chí được xâm trên người giới trẻ. Nơi bị cấm là nước Úc khi chiếu đoạn phim cho là loài nhện rất dễ thương, vô hại trong khi tại Úc có nhiều giống nhện độc, sợ các em lầm mà chơi với nhện độc. Cũng có đoạn phim bị chỉ trích vì vẽ gia đình “Peppa Pig” ngồi xe hơi mà không cài dây an toàn (seat belt). Thế mới biết giáo dục trẻ em rất là quan trọng, các nước Tây Phương quan tâm từng chi tiết, còn giáo dục Xã Hội Chủ Nghĩa hiện nay thì sao?

Một chuyện khác cũng xảy ra tại Anh, vào tháng 3 năm 2005. Ông Leroy Trought, chủ tiệm rượu ở Bristol bị quan tòa bắt phải đổi tên bãi đậu xe từ “Porking Yard” thành “Parking Yard”. Ông Trought bị kết tội vì đặt tên bãi đậu xe của mình có chữ “pork” là thịt heo, làm phiền lòng các tín đồ Hồi giáo người Somali – thường lui tới ngôi đền gần đó. Thế đấy, đâu phải ở xứ Tự Do rồi muốn làm gì thì làm. Chẳng hạn muốn đặt tên con cái là gì thì đó quyền chọn lựa của cha mẹ, nhưng hình như chưa thấy ai dám đặt tên con là Hồ Chí Minh. Thế nhưng mới đây ở Canada lại có người viết sách ca tụng Hồ Chí Minh theo lệnh của Đảng, dù biết là ngày nay sự thật đã phơi bày, hiếm có ai tin vào huyền thoại bác Hồ nữa. Biết sai, biết gian dối mà vẫn cứ làm thì bị liệt kê vào “tội trọng” đó quý vị ạ!

Tại Liên Xô, Tổng bí thư Nikita Khrushchev đã hãnh diện về nguồn gốc chăn lợn của mình, kể chuyện thuở ấy đi chăn heo tiền lương rất rẻ. Chắc quý vị cũng biết Tổng bí thư nhà nước Việt cộng Đỗ Mười xuất thân từ nghề hoạn lợn. Khác cái là bí thư nước Nga không ngại nói về quá khứ của mình, còn ai ở Việt Nam mà dám nói xấu về nghề xưa của bí thư Đỗ Mười thì chắc phải đổ tới mười cuốn lịch trong khám, cũng không ai dám viết tắt hai chữ Đỗ Mười thành Đ.M.

Một vài nhân vật cầm tinh con lợn khá nổi tiếng như tổng thống Mỹ Ronald Reagan, sinh năm Tân Hợi – 1911, Lý Quang Diệu của Singapore sinh năm Quý Hợi – 1923. Tưởng Giới Thạch – Tổng thống Trung Hoa, Cựu Thống Đốc Arnold Schwarzenegger (California, USA) cũng sinh vào năm Hợi. Những nhân vật này không làm biếng, không ăn hại như heo mà đã tạo tên tuổi.

Nam tài tử đẹp trai George Clooney trong điện ảnh Hollywood đã khóc thảm thiết khi chú heo mọi nặng 136 ký mà ông nuôi trong 18 năm, tên là Max từ giã cõi sống. Max được xem là “người tình” của George Clooney, có mối quan hệ với ông lâu hơn bất cứ một phụ nữ nào khác.

Trong Tam Quốc Chí, cũng có câu chuyện liên hệ tới Lợn. Đó là chuyện Tào Tháo đa nghi giết lầm cả nhà Lữ Bá Xa gồm 8 người, chỉ vì họ Lữ chuẩn bị giết heo đãi quan quân của Tào Tháo, mà Tháo tưởng lầm họ đang tìm cách giết mình. Ôi tiếc thay “tấm lòng” của Lữ đã bị “tống lầm” vào cõi chết chỉ vì sự nghi kỵ. Bản thân tôi cũng có khi nghi ngờ, ghen hờn, hiểu lầm sự việc. Năm mới này tôi sẽ quyết tâm sửa tánh xấu này.

Tôi cũng để ý tìm xem trong chuyện Chưởng của Kim Dung có bộ môn võ công nào nhắc tới con heo như thế giới võ lâm đã có bộ môn võ Hầu của con khỉ, Đả cẩu bổng pháp của Cái Bang theo cử động của loài chó, mà chưa tìm ra. Thế nhưng trong ngành Võ của Việt Nam ta, nổi tiếng có võ sư Phan Thọ đã hạ gục một con heo rừng rất hung tợn phá hoại mùa màng hoa màu, tấn công cả người. Con heo này nặng gần 2 tạ hung hăng xông vào húc Phan Thọ, không hổ danh là “Người có bộ tay hay nhất Bình Định”, ông đã chiến thắng và để lại di tích để chưng bày là bộ răng nanh dài quá khổ của nó.

Người ta vẫn chê nhau là “Ngu như Heo”, có cha mẹ chửi con là “Tao có cho mày ăn cám heo đâu mà mày ngu dữ vậy hả con?” Điều này oan cho heo vì thực tình nó là giống vật rất tinh khôn.

Từ xưa heo rừng đã biết chà thân mình vào cây thông có nhựa, rồi nằm xuống cát để lông trở thành chiếc áo giáp chai cứng bảo vệ mình. Như vậy có phải heo đã rất tân tiến trong ngành “fashion” tạo quần áo thời trang cho mình không? Heo cũng rất thông minh đoàn kết, chúng biết cùng nhau kết hợp để đẩy sập hàng rào cùng trốn thoát. Nói tới hai chữ “đoàn kết” tôi lại hỡi ơi, trong công cuộc tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ Việt Nam hiện nay, đoàn kết rất cần thiết nhưng rất khó để làm được. Đôi khi vô tình lại đánh lộn, tức là đánh lầm, đánh sai “target” trúng người phe ta, không đánh trúng kẻ thù chung là Cộng Sản. Mong rằng khi lộn rồi thì hãy tỉnh táo ngưng ngay, đừng đánh đấm nhau nữa.

Cũng có câu chuyện bà Jo Altsman sống một mình, bà nuôi con heo con để làm bạn. Vào một buổi sáng, bà bị ngất xỉu vì bệnh tim. Chú heo con này liền chạy thẳng ra đường, nằm giả chết cho người ta chú ý. Thế nên có một thanh niên dừng lại nhìn. Con heo chồm lên, cắn quần anh ta lôi vào nhà. Chàng thanh niên nhờ thế đã gọi được xe cấp cứu đến giúp bà lão. 

Hiện nay có một vài loại heo Việt Nam được bán tại Hoa Kỳ làm thú vật nuôi trong nhà như “pet” với giá khá mắc. Heo này được huấn luyện rất tinh khôn. 

Heo cũng là một trong những động vật nuôi con bằng sữa mẹ và biết thương con, có tình mẫu tử chăm lo cho đàn con. Loài này cũng bị cho là ở dơ như heo, nằm đâu ị đó nhưng thực ra heo rất thích sạch sẽ, ưng được người ta vỗ về, gãi lưng và nói chuyện. Mỗi khi được tắm sạch sẽ, chúng kêu ủn ỉn sung sướng và “ngoan” hẳn ra. Sỡ dĩ heo thường hay ủi vào các vũng sình là vì nó muốn dùng cách đó để chống thoát nước khi trên mình heo không có tuyến bài tiết mồ hôi. Vậy giống lợn này thông minh lắm chứ nhỉ!

Dưới thời vua Boabdil (1482-1492), có câu chuyện về chàng thiếu niên tên là Benito đã ráng đi săn lợn rừng dâng lên cho vua để cứu mạng em gái. Khi đi săn, Benito đã gặp một con lợn rừng bẩm sinh mù cả hai mắt, ngậm đuôi con lợn rừng đi trước để được dắt đi, nghĩa là chúng biết nương tựa, giúp đỡ lẫn nhau.

Thời Việt Vương Câu Tiễn, nếu trong nhà có con gái mới sanh sẽ được làng thưởng cho 2 bình rượu và một con heo, nếu đẻ con trai thì được thưởng một con chó. Vậy tính ra đẻ con gái được lợi hơn phải không?

Năm 1918, trận dịch cúm Tây Ban Nha (Spanish Flu) đã giết hại hơn 20 triệu người trên khắp thế giới mà virus gây ra dịch này có nguồn gốc từ bệnh cúm heo. Gần đây năm 1998, virus Nipah xuất phát từ heo đã làm trên 100 người thiệt mạng ở Mã Lai, ngoài ra còn có dịch “lở mồm long móng” rất nguy hiểm. Ấy chết, con người cũng có bệnh lở mồm, long móng đó, khi mồm miệng ác độc nói gian nói xấu hại nhau, khi dùng móng vuốt hãm hại người ngay, thay vì động viên khuyến khích nhau cùng làm người Việt nở mày nở mặt, thì biến nhau thành “lở này, lở mặt”!

Một bất công khác nữa là hình ảnh heo trong thơ nhạc rất hiếm hoi. Trong chuyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, người ta thống kê được 49 loài vật như Uyên, Phượng, Rồng, Hùm, Sói, Mèo, Gà, Trâu, Ngựa …. nhưng thi hào không hề nhắc tới Heo Lợn trong tác phẩm lớn này. Trong các bài hát ngoại trừ nhạc thiếu nhi như nhạc sĩ Ngọc Lễ trong bài “Con heo đất” thì ít thấy hình tượng con heo trong đó. Khi tôi “gú-gồ” ráng tìm có câu hát nào thì thấy được mấy bài có chữ Heo, nhưng là heo… may, tức là loại gió nhẹ không dính líu gì tới loài lợn cả! 

Cuối cùng thì thấy được bài Đám Cưới Trên Đường Quê của Hoàng Thi Thơ có câu:

Chà! nhà ai có ông rể quý. 

Chà! nhà ai có cô dâu hiền. 

Ồ! ngộ thay có con lợn quay… 

Bạn có biết thêm bài hát nào khác không? Các nhạc sĩ năm nay xin hãy sáng tác thêm nhạc có tên loài heo này, 12 năm nữa nếu còn sức tôi sẽ viết bài nhắc tới tác phẩm của quý nhạc sĩ.

Khi loài người đóng phim nhà nghèo không mặc quần áo để khiêu dâm, thì người ta lại gọi đó là phim “con heo”. Tội con heo chưa, nếu tính tới chuyện ấy thì heo thua xa các con thú khác mà. Sẵn đây cũng xin mở ngoặc là báo chí Tây phương đã báo động sự việc ghiền phim con heo đã trở thành một căn bệnh của thế kỷ 21. 

Ngộ cái là loại thịt heo “Ba Chỉ” tức là 3 lớp thịt, lớp mỡ liền với nhau, tiếng Anh lại gọi là Bacon- cũng bắt đầu cùng bằng chữ “Ba”, không biết có liên hệ ý nghĩa gì đây! Sẵn đây cũng xin nhắc tới món thịt heo xông khói, món “ham”, “hotdog”, “saugage” rất nổi tiếng của Tây phương nhiều chất bổ, ít chất béo, ăn liền không phải tốn nhiều giờ chuẩn bị. Phía ta thì có món cháo lòng dồi rất khoái khẩu, ăn kèm với đĩa lòng heo luộc chấm mắm tôm thì tuyệt vời. Người ta đo được bộ ruột con heo có thể dài tới 21 mét, tha hồ làm thành dồi! Rồi tới giò chả tức là món chả lụa, chả quế, xong ăn thêm vào cái nem nướng cuốn bánh tráng thì “hết phản”. Ngày Tết thì phải có món thịt heo cổ truyền kho Tàu với trứng, Tàu ở đây không phải là ba Tàu Trung Cộng đâu nhé. Rồi phải kể tới món lỗ tai heo ngâm dấm mà dân nhậu rất thích:  

Ngày tư, ngày Tết,

Mứt ngọt ăn ớn chết

Thủ cái tai heo

Nhậu kiệu, ngon ra phết!

Các món bún với thịt heo thì có bún mọc, bún thang, bún thịt nướng vừa thơm, vừa béo, vừa đậm đà. Ấy là còn chưa kể tới món thịt đông không thể thiếu trong những ngày đầu năm, món sườn sốt chua ngọt, thịt heo nấu với măng hầm, cơm tấm bì, mà bì là làm từ da heo… Các bà đẻ ăn kiêng mà có thịt heo kho khô thì rất đúng sách vở. Nếu nhà có đám cưới, tiệc tùng mà đặt nguyên con heo quay thì sang ơi là sang. Nếu tô phở miền Bắc nổi tiếng nhờ thịt bò, thì món hủ-tíu thịt heo của người miền Nam cũng vang danh không kém. Đến bánh ngọt mà cũng có loại bánh Tai Heo dòn rụm ngọt ngào, không được gọi là bánh Tai Lợn hay Tai Chú Ỷ bạn nhé, tên bánh Tai Heo đã được cầu chứng rồi, đổi khác không ai hiểu đâu. Ngược lại bánh có ba lớp có màu xanh lá cây, màu trắng với lớp nước dừa béo ngậy thì phải gọi là bánh Da Lợn, không phải bánh Da Heo đâu nhé!

Thời quý anh chiến sĩ, công chức Việt Nam Cộng Hòa bị bắt đi tù Cải tạo, nếu người nhà dành dụm được tiền để làm món “chà bông” (người miền Bắc gọi là ruốc) đi thăm nuôi thì quý vô cùng. Tới bây giờ ở Canada đã gần 40 năm, tôi vẫn mê món chà bông này. Một người bạn từng sống ở trong trại “Lao động Cải tạo” kể lại chuyện họ đói rách khổ nhục vô cùng. Mỗi năm ngày Tết hoặc “Lễ Độc Lập 2 tháng 9” tù cải tạo mới được vài miếng thịt heo nhỏ bằng ngón tay. Món canh rau dại hôm ấy mới có chút váng mỡ do cán bộ luộc thịt ăn với nhau, còn nước luộc bỏ rau vào nấu canh cho anh em tù. Anh bạn bảo nồi canh hôm đó đã được “heo lội ngang” qua. Nhờ heo “quá cảnh” mà dù sao cũng có chút nước béo, chất thịt. Lao động nói lái lại là Long Đạo, hèn chi Cộng Sản không tiếc lời ca tụng Lao động là vinh quang!

Ngày 1 tháng 1, 2019 luật An Ninh Mạng được chính thức áp dụng tại Việt Nam. Luật này đã thêm vào để gọng sắt kềm kẹp của Cộng Sản đối với người dân càng mạnh hơn. Chữ an ninh mạng đọc gần giống như chữ “animal” trong tiếng Anh – nghĩa là thú vật – nên dân cư mạng gọi là luật Súc Vật. Người luôn trà trộn vào các diễn đàn, sinh hoạt cộng đồng, gây xáo trộn mất đoàn kết trong hàng ngũ chống Cộng bị gọi là “Dư Lợn Viên” (bắt nguồn từ chữ “Dư Luận Viên”). Mới đây vụ cưỡng chiếm vườn rau Lộc Hưng đã làm biết bao người uất ức. Thật khổ với chế độ tàn ác này, năm mới này chúng ta nên có thái độ ra sao?

 Người Nhật nổi tiếng có món thịt bò Kobe, tức là bò được nuôi bằng âm nhạc, đấm bóp và thức ăn đặc biệt nên mềm ngon và rất mắc tiền. Người ta gần đây cũng thí nghiệm cho heo nghe nhạc. Chưa biết kết quả rõ ràng ra sao, nhưng chủ trại chăn nuôi thấy chúng ăn uống đều, lớn nhanh và tốt nhất là đằm tính hẳn. Khi heo đằm tính thì các hiện tượng như cắn nhau, nhảy loạn xạ, nổi điên giảm xuống tránh được các hiện tượng gãy chân, dập xương. Kể cả người làm trong trại chăn nuôi cũng thấy dễ chịu hẳn khi đi trong trang trại có tiếng nhạc, quả là một công đôi ba chuyện.

Người lớn, nhất là trẻ em thường để dành tiền lẻ trong cái ống heo hay con heo đất, khi được khá nhiều tiền thì đập ra mà xài. Báo Việt Nam có loan tin những màn ”đập heo” trăm triệu tặng vợ khiến bà con rất ngưỡng mộ.

“Nuôi heo chọn giống, đẻ con chọn dòng” loài heo đực Yorshire, Ladrace, Duroc với bảo đảm 100% giống Mỹ rất được nhà chăn nuôi ưa chuộng.

Nếu heo nhà mắc chứng heo gạo, hay nhiễm vi khuẩn tiêu chảy, chứng cảm cúm thì người nuôi rất khổ tâm. Người quen với tôi kể chuyện nuôi heo ở quê nhà, có khi phải cho heo ăn lá cần sa để chữa bệnh. Cứ kiểu này ăn thịt heo coi chừng bị ghiền cần sa. Sẵn đây cũng xin nhấn mạnh tiếng Việt khi dùng phải cẩn trọng, đừng đánh dấu lộn, thí dụ viết:

Heo, Gạo là món ăn chính của người Việt, nếu bỏ mất dấu phẩy ở giữa thành: Heo gạo là món ăn chính của người Việt thì bỏ bu! Ăn heo mắc bệnh gạo thì không tốt chút nào, nói chi là món ăn chính!

Nghĩ lại đời một con heo cũng sung sướng, không phải cày sâu cuốc bẫm, được chăm sóc nằm ăn cho béo, dù bị “thịt” sau đó nhưng người đời phải mang ơn vì đã cống hiến thực phẩm quý cho con người.  Đến chất thải của heo cũng được dùng làm phân bón trồng trọt rất tốt.

Có một giống cá đặc biệt tiếng Anh tên là Dolphin, không hiểu sao tên tiếng Việt là cá Heo. Có lẽ vì giống cá này có vú và tròn trùng trục giống như heo? Cá heo rất thông minh, diễn được nhiều trò hay. Nếu bạn chưa đi thăm Marine Land ở Niagra Falls Canada, SeaWorld ở San Diego California, hoặc Florida Hoa Kỳ xem cá voi múa, thì nên đi sớm đi nhé, hay lắm.

Để tạm kết bài tản mạn năm Hợi nói chuyện heo này, tôi xin ghi lại một câu chuyện rất ác xảy ra thời Lưu Bang Hán Cao Tổ. Lưu Bang hồi ấy rất sủng ái người phi tần tên là Thích Cơ. Vì ghen ghét nên sau khi Lưu Bang băng hà, Thích Cơ đã bị Lữ Thái hậu (vợ Lưu Bang) sai người chặt chân tay, móc mắt, đốt tai, bắt uống thuốc thành câm, cho ở nơi tối tăm dơ dáy rồi gọi đó là “Nhân Trư”, nghĩa là người lợn.

Lữ thái hậu cho gọi Huệ Đế vào để xem nhân trư, biết đó là Thích phu nhân, Huệ Đế phải khóc rống lên. Bị ám ảnh, Huệ Đế mắc bệnh và chết yểu khi mới 22 tuổi. Thế mới biết lòng ghen hờn đã làm người ta trở nên xấu xa tàn ác như thế nào. Trong cuộc sống, chúng ta có thể không quá ác như bà họ Lữ này, nhưng “ác với dân” như bọn cầm quyền hiện tại, ác với nhau cũng hay xảy ra. Làm sao để tránh làm việc ác và chống cái ác?

Năm Kỷ Hợi đang đến, ước gì chúng ta ai cũng ngày một hoàn thiện hơn, đất nước được ánh sáng Tự Do Dân Chủ chiếu soi, Việt Nam có thể bắt đầu lại để phát triển hơn. Tôi vẫn hay bi quan, nghĩ rằng mảnh đất hình chữ S này đã mắc phải lời nguyền, nên nguy cơ bị Tàu Cộng biến thành nô lệ kiểu mới rất có thể xảy ra trong tương lai gần – nếu người dân im lìm không tranh đấu. Bản đồ Việt Nam hình cong như chữ “S”, chữ “S” là bắt đầu của chữ “Sầu”, nhưng thôi năm mới mình hãy cố gắng lạc quan, đổi chữ “S” thành chữ “Sướng”. Muốn sung sướng, phát triển thì phải cố gắng để thực hiện, không phải một sớm một chiều, không phải ngồi chờ sung rụng.  

Có làm thì mới có ăn

Không dưng đâu dễ mà rằng Trời cho!

 

Được làm người, hẳn phải hơn loài vật, loài heo, vậy hãy sống ích lợi nhất trong hoàn cảnh của mình. Vâng, để bản thân, gia đình, đất nước được ích lợi, tốt đẹp, hãy sử dụng cả khối óc và con tim để hành động, đừng chần chừ nữa….

 Nguyễn Ngọc Duy Hân

Đường Nó Đi Trùng Điệp Bất Nhân

Đường Nó Đi Trùng Điệp Bất Nhân

Nguyệt Quỳnh

23-1-2019

“Tôi biết nó, đồng bào miền bắc này biết nó/ Việc nó làm, tội phạm nó ra sao” — Nguyễn Chí Thiện

Lâu nay, trong tiếng gào khóc của người dân oan khắp ba miền đất nước, hoà trong nước mắt bao giờ cũng có những kể lể, trách mắng, đầy phẫn uất với tiếng “nó”: nó đến kìa; nó rình rập; nó ác lắm… hay chúng nó tàn nhẫn lắm!

Nó là lực lượng cưỡng chế lên đến hàng ngàn người với đầy đủ các ban ngành và với đầy đủ quyết tâm cùng nhẫn tâm, mà anh Hoài Công Trực, một người dân ở vườn rau Lộc Hưng mô tả: “… với lực lượng đó, dùng để đánh lấy lại Hoàng Sa cũng thắng thì làm sao người dân chúng tôi chịu nổi”.

Thời nào cũng vậy, thời nào cũng có những phường cường hào ác bá chuyên đi bóc lột, cướp đất, bức hiếp những người dân thấp cổ bé miệng. Nhưng nay, bọn cường hào lại là kẻ cầm chịch, là chính quyền thì người dân biết đi đâu mà đòi oan sai?

Thế cho nên tự bao giờ, người dân nghèo quê tôi đã oán ghét, gọi chính quyền bằng một đại danh từ chứa đầy cảm xúc của sự rẻ rúng và khinh miệt: “Nó”.

***

Tiếng nức nở ở vườn rau Lộc Hưng lại vang lên như một tiếng chuông gõ vào ký ức của mọi người dân VN. Tiếng gào khóc ấy đã vọng lên từ đất nước này từ lâu lắm rồi, từ những vụ cướp đất ở Cần Thơ, Cồn Dầu, Dương Nội, Tiên Lãng, Long An, Dak Nông, Thủ Thiêm…

Và rồi ngày nay, ở Lộc Hưng, ngay những ngày cận tết. Ngày tết là ngày thiêng liêng, ngày đoàn tụ của gia đình, của ông bà tổ tiên, người khuất mặt. Dân ta bảo “đói muốn chết ba ngày tết vẫn no” hay “giận gần chết ngày tết cũng thôi”. “Nó” quả thực đã không còn là người VN truyền thống. Không thể nhân danh gì để có thể đánh vào đồng bào mình ngay những ngày giáp tết; mà lại nhắm vào những con người lương thiện, nghèo khó, lam lũ!

Nhìn cảnh người dân vườn rau Lộc Hưng nhớ nhà, quay lại nằm ngủ ngay trên cái tổ ấm đã bị đập phá tan nát; không biết bạn có như tôi, chợt đau xót như nhìn thấy chính mình cũng đang cố bám víu vào cái mảnh đất chữ S đã tan hoang, xác xơ đến tội nghiệp này!

Một người dân Lộc Hưng nằm ngủ ngay trên nền nhà của mình vừa bị đập nát. Ảnh trên mạng

Hai trăm hộ dân với hàng trăm con người vừa lâm cảnh đói rét, lang thang vào những ngày cuối năm. Sự yếu đuối, cô thế của họ làm tôi chạnh nhớ đến hình ảnh người mẹ liệt sĩ ở Hà Đông. Khi cùng đường, khi tuyệt vọng, con người ta đành đem cả sự trần trụi, cô thế của mình ra làm vũ khí. Người mẹ này đã khỏa thân gào khóc đến lạc giọng ngay trước trụ sở tiếp dân của trung ương đảng và thanh tra chính phủ: “Con của tôi chết hết rồi. Còn một mình tôi nữa thôi đảng ơi. Tôi ăn gì, uống gì đây đảng ơi. Tôi lấy gì mà sống đây đảng ơi.”

Một người dân oan khỏa thân, gào khóc trước trụ sở tiếp dân của trung ương đảng và thanh tra chính phủ. Ảnh trên mạng

Nhưng oán giận hay gào khóc đâu có thay đổi được gì. Nước mắt và sự khổ đau cùng cực dường như đã có mặt trên đất nước này hơn nửa thế kỷ. Ngay từ những ngày đầu, khi CS mới nắm chính quyền rồi cho phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất. Câu thơ của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện ngày ấy mà đã thành tiên tri “đường nó đi trùng điệp bất nhân”.

Nhưng nếu bảo cộng sản ác, lãnh đạo cộng sản bất nhân, vậy chúng ta là ai?

Chúng ta là chứng nhân của nửa triệu nông dân chết oan trong Cải Cách Ruộng Đất; chúng ta có mặt khi CS nhân danh cách mạng chôn sống hàng nghìn người dân vô tội trong biến cố Mậu Thân; chúng ta hiện diện khi chúng chia chác, cướp đất, xô đẩy lớp lớp dân nghèo vào cảnh cùng khổ, không nhà không cửa, màn trời chiếu đất…

Với từng đó những tội ác mà chúng ta vẫn im lặng, vẫn làm ngơ thì sự hiện diện của chúng ta cũng hoàn toàn vô nghĩa. Khi coi sự bất công đối với người khác không là sự bất công đối với mình thì nạn nhân kế tiếp sẽ là ai?

Chúng ta là sản phẩm của chính mình.

Một ngày nào đó khi quay trở về nhà, mái ấm của chúng ta cũng chỉ còn là một đống đổ nát như vườn rau Lộc Hưng. Một ngày cuối năm nào đó, chúng ta cũng sẽ co ro trên mảnh đất trống của mình trong khi căn nhà chung VN đã là một bãi rác cho ngoại bang rồi.

Tai họa này sẽ không chừa một ai, ngay cả những đảng viên, cán bộ nằm trong guồng máy của chế độ. Đối với một chính quyền “non yếu” chúng ta còn chung tay góp sức được; nhưng với một chính quyền “bất nhân với đồng bào”, nếu chúng ta không phải là người chận đứng cái ác thì còn ai vào đây? Hãy nhớ đến những cán bộ cao cấp như Đinh La Thăng còn phải cầu xin được đối xử như một con người.

 Chính chúng ta đã tạo nên một xã hội bất ổn, chính chúng ta đã trao quyền lực tuyệt đối vào tay một đảng phái bất xứng. Để rồi ngày hôm nay, với luật ANM, nhiều người dân VN còn tin rằng chúng ta đã “hoàn toàn trắng tay” về những gì gọi là quyền con người!?

Ai đó đã từng nói: “Chúng ta nghĩ mình là gì thì mình sẽ trở thành thế ấy.” Tờ giấy bạc 20 đồng sẽ luôn luôn có cái giá trị của 20 đồng, dù nó được xếp vuốt phẳng phiu hay bị bàn chân người đời dẫm nát. Hãy dám sống với cái hệ giá trị của chính mình. Đây không phải là lần đầu đất nước này, dân tộc này phải sống với thử thách.

Khi luật ANM cấm nói, chúng ta sẽ tiếp tục và phải tiếp tục nói lên sự thật. Hãy bắt đầu một cuộc sống có trách nhiệm, sống với danh dự và nhân phẩm. Chỉ có duy nhất điều này mới có thể nâng tâm hồn chúng ta, nâng dân tộc chúng ta thoát ra khỏi số phận sắp bị diệt vong.

ỨNG NGHIỆM LỜI CHÚA

ỨNG NGHIỆM LỜI CHÚA 

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt 

Chúa Giêsu luôn sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.  Tin Mừng nhiều lần đề cập đến điều này.  Chẳng hạn như: được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, Người vào sa mạc ăn chay cầu nguyện.  Hôm nay được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, Người đi rao giảng khắp miền Galilê.  Trở về Nagiaréth, Người đọc Sách Thánh trong hội đường đúng đoạn nói về Ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn.  Nhiều lần Tin Mừng nói Chúa Giêsu tràn đầy hoan lạc trong Chúa Thánh Thần.  Nhờ đâu được như thế?  Một phần nhờ việc đọc Sách Thánh.

Chúa Giêsu thường xuyên đọc Sách Thánh.  Tin Mừng hôm nay diễn tả: “Rồi Chúa Giêsu đến Nagiaréth, là nơi Người sinh trưởng.  Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sabbat, và đứng lên đọc Sách Thánh.”  Yêu mến và gắn bó với hội đường, nên Chúa Giêsu thường xuyên đến sinh hoạt với mọi người trong hội đường.  Yêu mến và gắn bó với Sách Thánh nên Chúa Giêsu thường xuyên đọc Sách Thánh.  Còn hơn thế nữa, sau khi đọc, Người đứng ra giải nghĩa cho mọi người.  Đó là nếp sinh hoạt bình thường của Người.  Nếp sinh hoạt này đã thành thói quen từ khi Người còn nhỏ bé.  Nên ngay từ khi lên 12 tuổi, Người đã có thể đối đáp với các bậc tiến sĩ trong Đền Thờ Giêrusalem.

Chúa Giêsu kính cẩn đọc Sách Thánh.  Chúa Giêsu không đọc Sách Thánh theo thói quen.  Người đọc một cách trịnh trọng kính cẩn.  Ta hãy chiêm ngắm thái độ của Người theo lời diễn tả của thánh Luca: “Họ trao cho Người cuốn sách tiên tri Isaia. N gười mở ra và đọc… Người cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống.  Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người.  Người bắt đầu nói với họ.”  Thật là trang nghiêm kính cẩn.  Thái độ của Người ảnh hưởng đến cả hội đường.  Nên khi Người đọc mọi người chăm chú nhìn Người.  Chúa Giêsu trân trọng việc đọc Sách Thánh vì Người luôn thao thức tìm thánh ý Chúa Cha.  Người đọc Sách Thánh để tìm hướng dẫn cho cuộc đời.  Người đọc Sách Thánh để mong chu toàn thánh ý Chúa Cha.  Người nhận biết thánh ý Chúa Cha qua những trang Sách Thánh.  Người cố đọc giữa những hàng chữ để tìm thánh ý Chúa Cha.

Chúa Giêsu nghiêm túc thực hành lời Sách Thánh.  Khi nói với mọi người rằng: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”, Chúa Giêsu muốn nói đến hai điều.  Điều thứ nhất: Người tìm thấy thánh ý Chúa Cha qua đoạn Sách Thánh.  Với thái độ kính cẩn, với lòng khiêm tốn hiếu thảo lắng nghe, Chúa Giêsu đã đọc được thánh ý Chúa Cha qua đoạn sách tiên tri Isaia.  Biết lời tiên tri Isaia ứng nghiệm vào sứ mạng của mình.  Điều thứ hai: Biết được thánh ý Chúa Cha rồi, Chúa Giêsu cương quyết thực hành.  Người coi đó là chương trình hành động.  Người coi đó là chỉ nam hướng dẫn.  Dù sứ mạng của Người vừa mới khởi đầu, Người cũng cương quyết hoàn thành.  Suốt đời Người sẽ thực hành chương trình này.  Vì thế đoạn sách Isaia ứng nghiệm vừa do thánh ý Chúa Cha vừa do ý chí của Chúa Giêsu quyết tâm thực hành thánh ý Chúa Cha.

Đây là mẫu gương cho ta.  Đó là kết quả của Ơn Chúa Thánh Thần.  Hãy thường xuyên đọc Kinh Thánh để ta luôn được tiếp xúc với Thiên Chúa.  Hãy kính cẩn tìm thánh ý Chúa trong Kinh Thánh chắc chắn ta sẽ được ơn Chúa soi sáng cho biết đường đi.  Nhất là hãy quyết tâm thực hành Lời Chúa mà ta đã đọc.  Ta sẽ được tràn đầy Ơn Chúa Thánh Thần.  Thật vậy, chẳng ai có thể say mê Kinh Thánh nếu không được Ơn Chúa Thánh Thần lôi cuốn.  Chẳng ai tìm được thánh ý Thiên Chúa nếu không được Ơn Chúa Thánh Thần soi sáng.  Chẳng ai có thể thực hành Lời Chúa nếu không được Ơn Chúa Thánh Thần nâng đỡ.  Như một phản hồi hai chiều.  Càng được Ơn Chúa Thánh Thần ta càng say mê Kinh Thánh.  Càng say mê Kinh Thánh ta lại càng để Chúa Thánh Thần hướng dẫn cuộc đời.  Cuộc đời sống theo Ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn sẽ hoàn toàn ứng nghiệm ý định của Thiên Chúa cho bản thân và cho tha nhân.  Đó chính là cuộc đời đạt được mục đích cao quý nhất.

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt 

From Langthangchieutim

Chính quyền thành phố Hồ Chí Minh nợ cư dân Lộc Hưng lời xin lỗi?

“Công chúng rất là ngạc nhiên và bức xúc khi nghe tin vụ cưỡng chế ở vườn rau Lộc Hưng, quận Tân Bình, TP.HCM xảy ra vào những ngày giáp Tết. Tôi cho rằng đó là một việc làm rất vô nhân đạo. Tôi ngạc nhiên vô cùng!

Hồi năm 2003, tại Nha Trang, Khánh Hòa nơi tôi ở cũng có một cuộc cưỡng chế gần Tết như thế. Lúc đó, Mặt trận Tổ quốc của Trung ương đã có công văn gửi yêu cầu là không nên cưỡng chế vào những dịp giáp Tết vì như thế rất là phản cảm.

Thế thì từ năm 2003 đến giờ là hơn 15, 16 năm mà sự việc lại lặp lại ngay tại trung tâm của TP.HCM. Đó là một điều rất đau buồn, rất đáng phẫn nộ, rất đáng lên án,” nhà báo Võ Văn Tạo nhận địnhh.

RFA.ORG
Liệu rằng Chính quyền TP.HCM sẽ phải nhận lỗi với các hộ dân ở vườn rau Lộc Hưng, giống như đã nói lời xin lỗi với người dân Thủ Thiêm sau 20 năm Dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm được triển khai?

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Chiều Tảo Mộ

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Chiều Tảo Mộ

 blank

Ai liều tảo mộ chiều nay

Mà hương tảo mộ bay đầy hoàng hôn

Phùng Cung

 
“Vừa rồi tôi có đi Tây Nguyên dự lễ bỏ mả của gia đình ông Y Ngông Niết Đam. Người Eđê có một tục lệ rất đặc biệt. Khi nhà có người chết, gia đình con cháu hàng ngày vẫn nuôi nấng, vẫn mang cơm nước ra mộ, khi có điều kiện họ làm lễ bỏ mả. Đó là bữa tiệc linh đình chia tay vĩnh viễn với người chết. Sau đó họ không quan tâm đến ngôi mộ ấy nữa, để linh hồn người chết được siêu thoát, không còn vướng víu cõi trần.” (Trần Đăng Khoa. Chân Dung và Đối Thoại. Hà Nội: Thanh Niên, 1988).

Bãi mả, thực ra, không phải là “một tục lệ rất đặc biệt của người Eđê” mà là tập tục chung của nhiều sắn dân bản địa – ở Việt Nam:

“Đối với người Roglai – sắc dân sống rải rác các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, và Lâm Đồng – lễ cúng bỏ mả có nghĩa là người sống từ giã người chết. Lễ này được cử hành sau mùa gặt hái đầu tiên, tính từ ngày người chết qua đời. Mùa gặt hái hoàn tất, mọi người đều rảnh rang nên lễ cúng bỏ mả làm linh đình lắm. Có giết trâu mổ bò, mới thầy cúng làm lễ cho người khuất rồi đãi làng nước. Sau lễ bỏ mả là hết, ngôi mộ không được ai chăm sóc nữa.

Người Rhadé, đa số sinh sống tỉnh Darlac và Quảng Đức, cũng có lệ bỏ mả vào mùa gặt năm sau. Người nhà ra mộ khóc lóc một lần cuối rồi mộ bị bỏ hẳn. Kỷ niệm của người chết cũng chìm dần vào quên lãng.

Người Bahnar – sắc dân sống ở Đông Nam Kômtum, Tây Bắc Pleiku, và phía Tây Bình Định – cũng chỉ chăm sóc mộ phần một năm… Sau đó họ làm lễ tạ rồi san phẳng, và từ đây không còn ai ngó tới.” (Toan Ánh. “Tang Lễ Của Đồng Bào Thượng.” Nhật báo Cách Mạng Quốc Gia, Sài Gòn 01 Sept 1963).

Bỏ mả, hay bãi mả là điều bắt buộc trong nếp sống du canh. Tục tảo mộ hằng năm, chắc chắn, chỉ bắt đầu khi nhân loại tiến đến giai đoạn định canh. Còn tôi thì phải  mãi cho đến cuối 2014, mới được rủ đi tảo mộ (lần đầu) khi đang lơ ngơ giữa một chiều Xuân, nơi đất lạ.

Cái nắng của những buổi chiều cuối năm thường khiến tôi hay bị nặng lòng, dù ở bất cứ đâu. Nhưng phải trải qua một buổi chợ chiều, chợ tết, ở một làng quê nơi đất lạ thì mới hiểu ra thế nào là nỗi buồn xa xứ.

Dân Việt túm tụm dọc mé sông Tonle Sap, đoạn chẩy qua xã Phsar Chhnang (tỉnh Kampong Chhnang) có thể đông đến vài ngàn. Tuy thế, cái đám người trôi sông lạc chợ nhếch nhác, te tua, rách nát này không tạo nổi không khí Tết cho khu chợ cạnh bờ.

 blank

Kampong Chhnang 2014
May mà vẫn còn vài cái cặp đèn lồng đỏ, năm bẩy cây quất, và mấy chậu cúc vàng của những gia đình gốc Hoa nên hè phố trông cũng đỡ phần ảm đạm. Tôi cứ nhìn mãi một em gái nhỏ, đứng bán đôi cành mai đã héo mà không khỏi cảm thấy có đôi chút bận lòng.

Như mọi người Việt khác ở bến sông này, tôi cũng là kẻ phiêu bạt không nhà nên chả có chỗ để cắm hoa. Muốn biếu em một số tiền nho nhỏ, đủ để sắm sửa một bữa cơm chiều cuối năm tươm tất cho gia đình nhưng đang loay hoay biết chưa biết cách sao cho tế nhị thì chợt nghe tiếng đồng hương quen thuộc:

–        Sao ông thầy lang thang gì mình ên vậy ? Đi tảo mộ với tụi em nha, gần xịt  thôi hà.

Thấy tôi hơi ngần ngừ, bà vợ rụt rè thêm:

–        Dạ, sẵn bữa nay có làm gà với mua được xị rượu để cúng nên mới dám mời ông thầy …

Nghe cách xưng hô nên tôi đoán là họ có con đang theo học ở trường làng Kandal, dưới bến sông. Không ai biết tôi tên gì cả, họ chỉ thấy ông già này thường lui tới ngôi trường này và hay chơi đùa với lũ trẻ con nên gọi tôi bằng “thầy” cho nó tiện việc sổ sách – thế thôi.

Phải nhìn thấy cảnh nuôi gà trên những túp lều nổi tả tơi, và những bữa cơm đạm bạc quanh năm (toàn với khô hay cá vụn nhỏ li ti) của những người suốt đời sống lênh đênh thì mới hiểu được rằng được mời ăn gà là một hân hạnh không thể chối từ – dù tôi chả mặn mà gì với gà và vịt!

May mà từ chợ đến nghĩa địa gần thật, chỉ chừng hơn cây số. Đang là mùa khô, nước rút nên mới lộ ra vài chục tấm mộ bia thô kệch và xấu xí. Chải ai sống qua tuổi sáu mươi. Khi còn tại thế (chắc) họ chưa bao giờ được giáp mặt với một ông nha sĩ, hay bác sĩ – dù chỉ một lần.

blank

Kampong Chnnang 2014

Sau khi thắp hương, nhổ cỏ, vun sới mộ phần, mọi người ngồi quanh chuyện trò ăn uống. Dường như ai cũng cảm thấy mãn nguyện vì đã làm xong chút bổn phận, cuối năm, với kẻ đã khuất.

Khó có thể ngờ rằng được đó là lần tảo mộ cuối cùng của cộng đồng người Việt ở xã Phsar Chhnang. Năm sau, từ Phnom Penh, thông tín viên Sơn Trung ̣(RFA) tường thuật: “Làng nổi của người Việt bị di dời… Theo thông báo của chính quyền tỉnh Kampong Chhnang thì việc di dời sẽ được thực hiện từ ngày 10 tháng 10 và chấm dứt trước ngày 25 tháng 10 năm 2015.”

 

Tháng 10 thì Á Châu vẫn còn mưa, và mưa tầm tã. Bia mộ vẫn còn chìm sâu dưới nước. Với cái “thông báo” bất ngờ (và bất nhơn) trên thì chắc chắn không ai có cơ hội tạ mả, trước khi tiếp tục trôi xuôi theo kiếp lục bình.

Ở trời Âu, có những kẻ may mắn hơn nên được nằm yên mãi mãi trong những mộ phần và được thăm viếng thường xuyên:

“Tôi vào tiệm tạp hóa Tàu ở Luân Đôn mua một thẻ nhang ngắn rồi xuống Portsmouth, bắt phà qua Normandy… Bây giờ là mùa đông. Khi phà tiến gần vào bờ cho đến khi cặp bến Ouistreham nằm phía cực đông của bờ biển Normandy, trời còn rất tối. Sao Mai sáng long lanh, các ngọn đèn rải thưa quanh bến tàu, ánh sáng vàng đứng bóng, không hắt hiu…

Tôi đi bộ dọc bờ biển từ hướng đông, bắt đầu từ chỗ giáp mép biển của con kênh đào từ Caen (cách biển chừng 16 cây số). Cứ khoảng 100 thước, một tấm biển tưởng niệm, hình ảnh thế hệ các người lính hôm nay thuộc binh chủng đã đổ bộ, và tên tuổi của một người lính tử trận ngày 6.6.1944…

Từ nơi này đi bộ hai cây số đến nghĩa trang đồng minh ở làng Ranville, ngôi làng đầu tiên trên đất Pháp được giải phóng sau khi người lính Dù chiếm giữ cầu Pegasus. Trên bản đồ là nghĩa trang của Anh, nhưng ở góc bên trái từ cổng vào có 330 bia mộ người lính Đức, chia cùng mảnh đất nghĩa trang với 2.235 người lính nhảy dù thuộc quân đội Anh, Úc, New Zealand, Bỉ, Pháp, Ba Lan…

blank

Nghĩa trang Quân đội Đồng minh Ranville: Các ngôi mộ của người lính Đức ở khu vực phía xa bên trái. Ảnh HĐT/12.2018

Mỗi ngôi mộ người lính Đức đều có bia như các ngôi mộ của người lính đồng minh, tên tuổi, ngày sinh và ngày chết, chỉ khác là huy hiệu binh chủng được thay bằng dấu Thập tự Sắt. Dưới bầu trời xám đục, đài thánh giá trắng có hình cây kiếm mũi hướng xuống đất nổi bật ngay giữa nghĩa trang. Những linh hồn nơi đây không còn chiến tranh nữa. Kiếm đã cắm hay cất. Không có một chữ ‘hòa giải’ nào trong nghĩa trang chung này. Nhưng các bia mộ của người lính Đức và người lính đồng minh nằm bên nhau. Người sống không thù hận nên người chết yên lành.” (Hồ Đắc Túc. “Những Mộ Phần Bên Nhau”. Dân Luận 01/01/201̣9).

Cùng lúc với Hồ Đắc Túc, Ngô Thanh Tú cũng đi tảo mộ ở quê nhà (Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà) nhưng với tâm trạng hoàn toàn không thư thái:

“Cứ mỗi bước chúng tôi đi đều phải chịu sự giám sát của ít nhất hai bảo vệ nơi này. Ánh mắt soi mói, những câu hỏi vô duyên, như: chụp hình để làm gì? Có động cơ gì không? làm chúng tôi vô cùng khó chịu. Người bạn đi cùng tôi nói, dường như cái chủ trương truy cùng giết tận còn được áp dụng cho cả người chết. Chế độ này ko chỉ trả thù người chết mà còn sợ họ đội mồ sống dậy nên kiểm soát rất chặt chẽ.”

 blank

Ảnh lấy từ FB TĐM

FB Từ Đức Minh cho biết thêm: “Với bản chất thú tính, bất chấp luân lý và tình người . Người Cộng Sản không cần biết thế nào là nghĩa tử, nghĩa tận . Họ chủ động giáo dục cho đám con trẻ gọi mộ người lính Việt Nam Cộng Hòa là ‘mả ngụy’, ‘mả giặc’. Người ta canh tác rau trên mộ, tưới nước phân dơ bẩn, thả trâu bò lội giẫm đạp lên mộ. Khốn nạn hơn nữa , họ cho người đào giữa ngôi mộ và trồng lên đó những cây to. Mấy năm sau cây lớn làm xập mộ…

Người đang sống ở Lộc Hưng mà họ còn ủi cho xập nhà, xập cửa thì xá gì đến chuyện mộ bia ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà!

CHỊ MÈ

https://vietbao.com/a289929/chi-me

CHỊ MÈ

Nguyễn Đại Thuật

Đầu năm tôi vào học lớp nhất trường tiểu học, gia-đình tôi có thêm một người giúp việc. Lúc bấy giờ gia đình tôi đã có một chị giúp việc lớn tuổi chuyên lo về công việc đi chợ, nấu ăn, giặt giũ quần áo, lo giữ nhà cửa sạch-sẽ.

Cha mẹ tôi có tất cả năm người con, và trong tương lai gần mẹ tôi sẽ có thêm một đứa con nữa. Có lẽ vì vậy mẹ tôi đã thuê thêm chị Mè. Cha mẹ tôi có một cơ-sở làm ăn tương đối lớn, bận rộn công chuyện suốt ngày, mấy anh chị em chúng tôi thiếu người săn sóc, nên chị Mè được giao cho công việc nầy.

Chị Mè còn trẻ lắm, chị khá đep, tóc ngắn ngang vai, kiểu tóc mà thời bấy giờ người ta gọi là tóc thề. Chị gốc người làng Trà-Kiệu, thuộc tỉnh Quảng-nam, cả làng theo đạo Thiên-chúa, nơi người ta nói đã có lần Đức Mẹ hiện ra.

Hàng ngày chị Mè tắm rửa, thay quần áo, lo cho ăn uống và đưa đón anh chị em tôi đi học.

Chị Mè không biết chữ, nhưng chị thuộc kinh Chúa, đêm nào chị cũng đọc kinh trước khi ngũ. Cha mẹ tôi gốc đạo Phật, nhưng tôi chưa có dịp đi chùa lần nào, cũng chưa biết ông Phật là ai, nhưng qua chị Mè, tuổi thơ tôi thấm nhuần rất nhiều về đạo lý của Thiên-chúa do chị kể. Chị đã dạy cho tôi thuộc kinh Kính Mừng, Kinh Lạy Cha và tôi đã được nghe chuyện rước mình Thánh Chúa, nếu ai nhận mình Thánh Chúa không để tự tan trong miệng, nuốt liền vô bụng thì mình Thánh Chúa sẽ biến thành lửa đố cháy ruột để trừng phạt. Chị khuyên tôi làm điều tốt, không nên làm điều ác, làm điều tốt sẽ được lên Thiên-đàng gặp Đức-Chúa Trời, làm điều ác sẽ bị đọa vào Hỏa-ngục, bị quỷ ăn thịt, bị đốt thành lửa.

Mỗi sáng Chúa-nhật, chị được cha mẹ tôi cho phép đi dự thánh lễ ở nhà thờ Con gà. Khi trở về nhà, chị thường kể lại cho tôi nghe những gì chị được nghe cha xứ đã giảng. Có một buổi sáng Chúa nhật chị chuẩn bị đi lễ nhà thờ, lúc bước xuống cầu thang thì guốc chị bị đứt quai, chị không có guốc khác thay thế, chị không đi dự lễ nhà thờ được, chị ngồi khóc bên chân cầu thang.Tôi phải xin phép mẹ tôi cho chị mượn guốc thay thế. Chị mừng quá, ôm tôi hôn rất nhiều lần vào má và không quên lắp bắp lời cám ơn. Có lẽ nhìn cảnh chị mừng rỡ khi có guốc tạm thay thế vào buổi sáng hôm đó nên vào lúc chị từ nhà thờ về nhà, cha tôi bảo mẹ tôi cho tiền chị mua đôi guốc mới. Tôi nghe cha tôi nói với mẹ:

– Mình cho con Mè tiền mua đôi guốc mới, guốc nó mòn và đứt quai không đi được”.

Tôi nghe tiếng mẹ tôi:

– Cứ sáu tháng tôi trả tiền công cho nó một lần, tôi mới trả cho nó chưa tới năm ngày, nói nó lấy tiền đó mua”. 

Cha tôi cười, nói:
– Bà nầy hay thật, tiền đó nó nhờ tôi gởi hết về cho cha mẹ nó rồi, bà biết mà”.

Tôi không nghe mẹ tôi nói gì thêm. Chiều hôm đó, mẹ tôi dẫn chị ra chợ mua guốc. Đôi guốc sơn màu đen rất đẹp. Khi chị đem đôi guốc bằng gỗ vông của chị vứt đi, tôi nhìn thấy đôi guốc của chị mòn đến nổi không có đủ bề dày để giữ chiếc đinh khi đóng quai.

Chị Mè không biết chữ, thời đó chính quyền của ông Ngô-Đình-Diệm khuyến khích dân chúng đi học trong kế khoạch xóa nạn mù chữ, vì vậy có những lớp học Bình-dân giáo-dục mở ban đêm cho dân chúng không biết chữ, bận công việc ban ngày, đêm có thời giờ đi học. Cha mẹ tôi cho chị đi học lớp Bình-dân giáo-dục trong đình của khu phố. Lúc đầu chị không chịu đi, tôi hỏi, chị nói:”chị lớn cái đầu rồi mà còn đi học, mắc cỡ chết đi dược”.

Rồi trước tết năm đó mấy ngày, cha mẹ tôi cho chị về quê thăm gia-đình và phải trở ra làm việc những ngày tết. Sau tết, chị xin được đi hoc lại lớp bình dân giáo dục. Cha mẹ tôi cũng không hỏi lý do tại sao trước đây chị từ chối nay lại đòi đi. Nhưng sau tối đầu tiên đi học trở về nhà, tôi cắc cớ hỏi chị: “Hôm nay chị Mè vào lớp có mắc cỡ không?” 

Chị đập khẽ vào đầu tôi nói: “Có mà ít ít thôi, không bằng hôm trước Tết chị về quê, khi vào làng, bị mấy thanh thiếu niên giăng giây chận đường xem giấy tờ, bắt đọc chữ trước khi cho vào làng. Chị đâu có đọc được, mấy đứa đó đưa chị vào trụ sở hội-đồng xã, họ bắt chị làm ký giấy cam kết phải đi học cho biết đọc biết viết. Nếu kỳ sau chị về làng mà bị kiểm soát, không đọc được chữ thì họ không cho vào làng. Hôm đó chị mắc cỡ muốn chun đầu xuống đất luôn. Gặp toàn mấy thanh niên thiếu nữ và người quen trong làng, họ khuyên chị nên theo lớp Bình-dân học vụ. Kỳ sau về làng, bị kiểm soát, không đọc chữ được chắc là họ không cho vô làng quá, xấu hổ lắm! “. 

Bên cạnh nhà tôi có một hẽm nhỏ, đầu hẻm có một tiệm hớt tóc. Người hớt tóc thuê mái hiên của một căn nhà để mở tiệm. Mấy anh em trai tôi là thân chủ của anh chủ tiệm hớt tóc nầy. Mỗi một tháng rưỡi, anh em tôi được chị Mè dẫn ra đây giao cho anh chủ tiệm, rồi trở lại trả tiền để đón về. Chủ tiệm là anh Cường, người ta gọi anh Cường chay, bởi vì anh ăn chay, không ăn thịt cá. Theo lời của một bà bán rong bún ốc kể cho mẹ tôi nghe nhân một buổi sáng cả nhà tôi ăn bún của bà. Anh Cường chay ngoài việc hớt tóc anh còn biết nghề xem chỉ tay, được nhiều người tin cậy, trong đó có bà. Anh xem chỉ tay chứ không nhận tiền của một ai. Anh là người cùng làng với bà ở An-Cựu thành phố Huế.

Anh Cường chay có một người cậu đi tu ở chùa Từ Hiếu. Anh học hết năm đệ lục trường Quốc-học thì bỏ học vì nhà quá nghèo. Anh là con trai một nên không bị đi lính. Anh học nghề hớt tóc của người cậu và được người dì em của mẹ đem vào Đà nẵng hành nghề, vì ở An-Cựu có nhiều người làm nghề hớt tóc nên khó kiếm sống. Do tiết lộ của bà bán bún, thỉnh thoảng mẹ tôi mời anh Cường qua nhà nhờ xem chỉ tay. Mẹ tôi thường khen anh Cường chay với cha tôi:

– Thằng Cường chay xem chỉ tay hay thật, nó nói tôi trúng như gần hết”.

Tôi không nghe mẹ tôi nói anh Cường chay đã nói đúng những gì, nhưng mỗi lần nghe mẹ tôi nói như vậy cha tôi “hừ” lên một tiếng:

– Bà toàn tin những điều nhảm nhí”.

Mẹ tôi còn nhanh nhẩu mời mấy bà bạn đến nhà để nhờ anh Cường chay xem chỉ tay nữa. Những lúc như vậy, cha tôi không vui, mặt ông nhăn nhó, bỏ đi khỏi cửa hàng đang buôn bán. Tuy nhiên, những lúc cha tôi đi Sài-Gòn mua hàng trở về đều có quà cho anh Cường chay, có lẽ để trả ơn những lúc anh đã xem chỉ tay cho mẹ tôi.

Khi tôi bắt đầu vào năm học lớp đệ thất, chị Mè cũng đã biết đọc. Không biết ai cho chị quyển Thánh kinh, chị nâng niu, giữ gìn rất kỹ. Chị để quyển Thánh kinh trên đầu tủ, buổi tối, trước khi đi ngủ, chị rửa tay rồi mới lấy xuống đọc. Có lúc tò mò muốn biết trong Thánh kinh viết những gì, tôi hỏi mượn để xem, chị đồng ý cho mượn nhưng bắt tôi phải rửa tay và nhiều lần nhắc tôi không được để sách trên ghế ngồi, như vậy sẽ bị Chúa phạt.

Rồi có một thời gian, tự nhiên tôi nghe mẹ tôi hay la rầy chị Mè; mỗi lần bị la như vậy tôi thấy chị Mè đúng trong góc nhà bếp khóc, hai mắt đỏ hoe. 

Mẹ tôi la chị:
– Sao lúc nầy mi cứ dở dở ương ương, y như người trên mặt trăng, làm trước quên sau, làm gì hư nấy, lúc nào cũng thẩn thờ như bị ai hớp hồn. Chỉ việc pha sữa tới giờ cho em bú mà cũng quên để cho thằng nhỏ khóc ầm cả lên.” 

Tôi chưa bao giờ nghe chị trả lời mẹ tôi khi bị la mắng như vậy. Chỉ im lặng và khóc. Khác với những kỳ đi hớt tóc trước, kỳ nầy chị Mè tự nhiên nhắc tôi đi hớt tóc từ ba ngày trước. Đến hôm chị dẫn tôi vừa ra đến cửa thì cha tôi bảo: 

“Nó lớn rồi tự đi hớt tóc một mình, khỏi cần đưa đi.”

Chị Mè quay lui vào nhà, mặt chị xịu xuống và buồn. Khi tôi bước vào tiệm hớt tóc, anh Cường chay thay vì chào tôi như trước đây, anh bước ra khỏi tiệm nhìn trước nhìn sau con hẽm rồi đi trở vào hỏi tôi:
– Sao nay chị Mè không đưa em đi?” 

Tôi trả lời: 

       – Cha em nói em lớn rồi không cần chị Mè đưa đi… 

Tôi nghe anh Cường thở dài. Suốt buổi hớt tóc hôm đó, anh Cường không nói thêm với tôi một lời nào… Khi từ tiệm hớt tóc về nhà, chị Mè gội đầu cho tôi, chị hỏi:

– Anh Cường có hỏi gì chị không? Tôi lắc đầu. Chị lại hỏi lần nữa:
 
– Bộ anh ấy không hỏi gì chị sao?”.

Tôi lại lắc đầu.Tôi lại nghe chị thở dài và chờ mãi không thấy chị dội nước lên đầu khiến tôi phải nhắc chị. Mãi đến tối hôm đó tự nhiên tôi nhớ lại lời anh Cường có hỏi tôi vừa lúc tôi đến hớt tóc. Tôi xuống bếp tìm chị. Chị đang đọc quyển Kinh thánh. 

Tôi nói với chị:
– Bữa ni anh Cường có hỏi, sao chị Mè không dẫn em đến hớt tóc, em trả lời cha em nói em lớn rồi đi một mình được, không cần chị Mè đưa đi.

Tôi thấy mặt chị rạng rỡ lên, chị nâng quyển Thánh-kinh lên hôn. Lúc tôi ra khỏi bếp, tôi nghe chị nói vọng theo:
– Lần sau đừng quên như vậy nghe em, tội chị lắm!

Mấy hôm sau, ngày Chúa-nhật, sau khi chơi đá banh trở về, lúc đi ngang nhà thờ Con Gà, chen lẫn giữa những người dự Thánh lễ ra về, trên đường đi, tôi nhìn thấy anh Cường chở chị Mè sau xe đạp. Buổi trưa khi chị Mè gọi cửa để vô nhà, tôi mở cửa. Chị vừa vào trong cửa, tôi cười và nói lớn:

– Lúc nãy, em thấy anh Cường chở chị sau xe đạp!”.

 Chị nhào tới đưa tay bịt miệng tôi, nhưng cha mẹ tôi đã nghe và đã thấy. Mặt chị đỏ gay, cúi đầu đi một mạch vào trong. Vừa lúc đó mẹ tôi nói với cha tôi:

– Hèn chi mấy tháng ni nó cứ thẩn thờ, quên trước, quên sau, nó thương thằng Cường chay rồi…mới có bấy nhiêu tuổi!

Cha tôi cắt ngang lời mẹ tôi, nói diễu:

– Hay ghê! chớ bà yêu tôi lúc bao nhiêu tuổi? Con Mè năm ni nó mười bảy tuổi rồi, lúc đó bà còn nhỏ thua nó một tuổi…bộ quên rồi sao?

Tôi chỉ nghe mẹ tôi “hừ” một tiếng rồi bỏ lên lầu.

Chuyện anh Cường chay và chị Mè thương nhau những ai ở trong hẽm gần tiệm hớt tóc của anh Cường đều biết. Bà chủ nhà cho anh Cường thuê mái hiên trước nhà để làm tiệm hớt tóc đã có lần kể cho mẹ tôi nghe lúc đó có tôi bên cạnh. Mấy ngày trước đó, ông thầy tu, cậu anh Cường ngoài Huế vào thăm anh Cường, có đến tiêm hớt tóc chơi, bà nghe người cậu nói chuyện với anh Cường: “Cậu và có thể cả mẹ cháu cũng không chấp nhận cuộc hôn nhân nầy. Cháu, con nhà thờ Phật bao nhiêu đời nay rồi mà cưới con Mè gốc đạo Thiên Chúa đến khi cháu chết thì ai cúng cơm cho, bộ cháu muốn làm ma đói?”

Anh Cường phân trần:
– Đâu có sao, lấy chồng thì phải theo đạo chồng, cùng quá thì đạo ai nấy giữ, cậu nói giúp cháu để bà chấp thuận hai cháu cưới nhau”. 

Người cậu lắc đầu lia lịa:
– Cậu biết là không được đâu, nhưng cậu sẽ cố nói giúp cho cháu, được hay không thì cậu chưa biết. Rồi ông gằn giọng:

– Hết người thương sao lại thương con nhà theo đạo Chúa! 

Ông hỏi anh Cường tuổi của chị Mè, bấm đốt ngón tay, miệng lẩm nhẩm: “Tuổi hai đứa không có gì xung khắc, nhưng cái đạo của ông Chúa và ông Phật xung khắc…không biết tính sao đây?”

Không bao lâu sau khi nghe lõm được chuyện anh Cường chay muốn cưới chị Mè, chị xin phép cha mẹ tôi nghỉ vài hôm để về Trà-Kiệu chờ ngày gia-đình anh Cường từ Huế vào xin lễ hỏi. Thời gian đó anh Cường cũng nghỉ hớt tóc. 

Ngày trở lại làm việc, chị Mè buồn thiu, chị không nói chuyện với ai, ngay cả tôi chị cũng không nói một lời. Ngày Chúa-nhật chị cũng không đi lễ nhà thờ. Càng ngày chị càng thẩn thờ hơn. Mẹ tôi cũng la rầy chị nhiều hơn vì chị lơ là công việc hàng ngày, đến nổi cha tôi phải ngăn mẹ tôi nặng lời với chị:

“Mình hãy thông cảm cho con Mè, gia-đình nó không cho thằng Cường chay cưới nó vì thằng Cường chay không chấp nhận bỏ Phật theo Chúa, nó mất tinh thần nên sao lãng công việc nhà, lần hồi tinh thần nó sẽ ổn định, làm việc bình thường trở lại.

Định kỳ hớt tóc của tôi tháng đó bị gián đoạn, anh Cường chay đóng cửa tiệm không rõ lý do. Ngày anh mở cửa làm việc trở lại cũng là ngày bà chủ nhà cho anh Cường chay thuê mái hiên làm tiệm hớt tóc qua nhà nói chuyện với mẹ tôi và tối hôm đó mẹ tôi kể lại cho cha tôi trong bữa cơm: “Thằng Cường chay đã đổi ý, chịu bỏ Phật, theo Chúa để được cưới con Mè. Mẹ thằng Cường chay không chịu, đòi cắn lưỡi tự tử và bà ta đã làm thật. Gia-đình thằng Cường chay phải chở bà vào nhà thương Huế cấp cứu, may mà cứu kịp.”

Rồi không hiểu sao, chị Mè vui vẻ trở lại, công việc nhà chị làm không còn bị mẹ tôi quở trách nữa. Chị tiếp tục đi lễ nhà thờ mỗi Chúa nhật, anh Cường chay chở chị đi lễ và đón chị trở về bằng chiếc xe đạp đầm mới mua. Chị Mè tiết lộ cho tôi biết, buổi tối hết công việc, chị sẽ xin phép cha mẹ tôi tập đi xe đạp, chị nhờ tôi: “Tối nào chị tập đi xe đạp, em giúp chị đóng của và mở cửa cho chị được không?” 

Tôi đồng-ý, hỏi chị: “Xe đạp đâu mà chị tập?”

Chị trả lời không đắn đo: “Xe đạp anh Cường mới mua”. 

Biết được chuyện chị Mè được anh Cường chay đưa đón đi lễ nhà thờ mỗi sáng chúa nhật bằng xe đạp, mẹ tôi nói với cha tôi:

      – Từ đây ra nhà thờ Con gà chỉ có hai trăm thước mà đưa với đón, bày đặt! 

Cha tôi lại cười: 

     – Nguời ta yêu nhau mà em!”

Tôi học chưa hết năm đệ lục, chị Mè xin nghỉ việc vì giao ước làm việc ba năm chấm dứt. Cha mẹ tôi đồng ý.

Lúc bấy giờ mấy anh chị em tôi đã lớn, đứa em nhỏ nhất ba tuổi đã có chị hai tôi săn sóc những khi nghỉ học hay những lúc rảnh rỗi. Cha mẹ tôi cũng không còn cần chị Mè. Mùa hè năm đó tôi lang thang cùng lũ bạn nơi họ đạo Tam-tòa, tình cờ tôi gặp chị Mè, chị cho tôi biết đang cùng chung với người bạn mở một tiệm may quần áo tại đây. Chị đưa tôi và lũ bạn về tiệm may của chị và pha nước chanh cho uống. Đang uống thì anh Cường chay đạp xe đến, vứt xe bên vệ đường, đi nhanh vào tiệm may, mặt anh cau có có vẻ bực bội.

Anh nắm tay chị Mè kéo vào sau nhà. Thấy không khí lúc đó không vui, tôi và lũ bạn im lặng rời tiệm may. 

Về gần đến nhà, ngang qua hẻm có tiệm hớt tóc của anh Cường chay, nhìn thấy có vài người tụ tập trước tiệm hớt tóc, tò mò tôi dừng lại, tôi biết anh Cường chay không có trong tiệm, anh đang ở tiệm may của chị Mè.

Một người đàn bà tóc đã bạc đang ngồi bệt dưới đất trong tiệm hớt tóc, mặt mày bơ phờ, tóc tai rũ rượi, hai tay đập vào nền đất, miêng rên ư ử : “Con ơi là con ! Mè ơi là Mè! con ở đâu mà mấy tháng ni không về với cha mẹ? Cường ơi là Cường! mi giấu con gái tau ở mô ? hãy đem nó trả lại cho tau…không thì tau đập đầu chết ở đây cho mi hả dạ…”

Mấy người hiếu kỳ đứng xem nói với nhau:
“Cường chay với con Mè thương nhau, xin cưới nhau nhưng hai bên cha mẹ không thuận vì khác đạo nên hai đứa nó lén lút sống chung. Bữa ni mẹ con Mè từ quê ra tìm nó, đến đây nằm vạ đòi con gái.”

Tôi rời đám đông, ra đến đầu hẽm thì vừa lúc anh Cường chay đạp xe chở chị Mè chạy vào hẽm.

Tối hôm đó chị Mè đưa mẹ qua xin phép cha mẹ tôi cho ngủ nhờ để sáng hôm sau trở lại quê. Anh Cường chay đứng ngoài cửa, tôi nghe anh thở dài, còn chị Mè hai mắt đỏ hoe. 

Mấy ngày liên tiếp sau đó tiệm hớt tóc của anh Cường chay đóng cửa, bà chủ nhà lại qua nói chuyện với mẹ tôi:

“Hôm con Mè đưa mẹ về quê, khi qua đò, con Mè nhảy sông tự tử, nhờ nước sông cạn nên con Mè được vớt lên, chở vô bịnh xá quận Điện-Bàn cứu chữa. Bác sĩ nói cái thai trong bụng con Mè không bị ảnh hưởng gì. Thằng Cường chay không làm việc mấy bữa ni, nó đi thăm con Mè ở bịnh xá.” 

Bà lại thở ra: “Trai gái thời nầy loạn rồi, chưa thành vợ thành chồng mà đã ăn nằm với nhau để có chửa!”.

Từ đó, tôi không còn được gặp hay được nghe tin tức nào liên hệ đến anh Cường chay và chị Mè. 

*****

Sau những năm tháng chiến tranh ác liệt Quốc Cộng, miền Nam Việt-nam thua cuộc. Chiến tranh chấm dứt, nhưng lòng người lại ly-tán. Đất nước như nồi canh chay bị vỡ, người dân xông xáo khắp nơi, tìm đường ra khỏi biên giới, làm người Do-Thái lang-thang, tạo lập cuộc sống mới nơi xứ người. Trong dòng người nầy có gia-đình tôi. Qua những năm tháng tạo lập đời sống mới, lần lượt cha mẹ tôi qua đời, linh-vị được thờ tại một ngôi chùa nhỏ phía Nam thành phố Paris nước Pháp. Chùa có tên là Tây-Phương. Vị sư Trụ-trì chùa, Thượng-tọa Như-Hóa mới đây đã viên-tịch, một thầy khác, Thượng Toạ Giác-Miên, được mời từ Népal qua thay thế, nhưng tôi chưa có dịp diện-kiến. 

Rằm tháng bảy âm-lịch trong năm 2000, tôi điện thoại đến chùa xin ghi danh lễ cầu siêu cho cha mẹ nhân ngày xá tội vong nhân. Hôm đó, tôi vừa đến chùa thì lễ cũng đã bắt đầu.Tiếng đọc kinh, tiếng chuông mõ hòa quyện cùng khói nhang thơm làm tâm thần tôi thanh-thản, tôi cố lắng nghe âm thanh tên, tuổi cùng pháp-danh của cha mẹ tôi sẽ được đọc lên trong buổi lễ..tôi đang chờ…tên của cha mẹ cùng Pháp-danh của một phật-tử nào đó được đọc lên, kế tiếp …và kế tiếp…

Tôi giật mình, không tin vào tai tôi..Théresa Hứa-thị Mè, sinh ngày 12 tháng ba năm 1943 tại làng Trà-Kiệu tỉnh Quảng Nam, tạ thế ngày 10 tháng 2 năm 1999 tại thành phố Marseilles nước Pháp… thầy chủ trì chánh lễ vừa đọc đến đây thì tiếng chuông mõ bổng ngừng lại, hàng Phật-tử dự lễ sát chánh điện ngơ ngác, lao xao. Một tăng sinh còn trẻ nhưng vốn quen việc nghi lễ trong chùa vội vàng thay thế Thầy đọc tiếp danh sách cầu siêu trong tiếng xì xào mất trật tự…rồi có tiếng yêu cầu gọi xe cấp cứu.

Khi biết thầy Giác-Miên bị ngất xỉu, phản ứng theo thói quen của một bác-sĩ, tôi bước nhanh đến bàn thờ Phật. Thượng-tọa Giác-Miên đang quỳ, nhưng cả phần thân người bên trên gục xuống hàng chuông mõ phía trước. Tôi nâng mặt thầy lên, quàng tay sau lưng thầy, đỡ nhẹ thầy nằm xuống mặt thảm trước chánh-điện. Tôi thực hiện những tác động cấp cứu dành cho một người bị ngất xiủ. Vài phút sau thầy bắt đầu tỉnh lại. Một vài Phật-tử giúp tôi dìu thầy về phòng riêng. Tôi tiếp tục theo dõi huyết áp và nhịp tim của Thầy. Tôi nghe hơi thở của thầy dần dần bình thường trở lại, nhưng hai mắt của thầy vẫn nhắm như ngủ. Tôi căn dặn vị thị-giả những điều cần thiết phải săn sóc khi thầy tỉnh hẳn. Vừa quay người định ra khỏi phòng, tôi nghe tiếng thầy Giác-Miên thều thào: “Bác sĩ, bác sĩ có phải là chú Kính ở Đà Nẳng không?” 

Tôi quay người lại, thầy thều thào tiếp:

– Chú không nhớ thầy sao? Nghe cái giọng đặc biệt Quảng-Nam, Đà-nẵng của chú, thầy nhận ra ngay…Thầy là Cường chay, ngày xưa hớt tóc cho chú đó.

Tôi cúi xuống nhìn kỹ mặt thầy: hai mắt đã mở, hai bên khóe mắt có vài giọt nước chảy dọc theo hai bên sóng mũi. Tôi nhận ra được thầy Giác-Miên là anh Cường chay. Tôi ngồi xuống bên cạnh thầy, hai tay nắm tay của thầy. Xúc động làm tôi ứa nước mắt…mới đó mà đã hơn hai mươi lăm năm. Cái âm thanh Theresa Hứa thị-Mè vừa được đọc lên trong lễ cầu siêu lại hiện trong đầu tôi…và tôi chợt hiểu, có thể đó là lý do thầy Giác-Miên ngất xỉu!

Những tháng năm sau đó tôi viếng chùa Tây-Phương thường xuyên hơn, có lẽ vì anh Cường chay là Thượng Toạ Giác-Miên trụ trì. Một hôm, tôi gặp thầy xin nhận một lễ quy-y cho toàn gia-đình của tôi. Nhân lúc trong phòng làm việc chỉ còn mình thầy, tôi đánh bạo hỏi:
 
– Chắc thầy còn nghĩ đến chị Mè phải không? 

Thầy không trả lời, mặt trở nên suy-tư, xa vắng. Tôi hỏi tiếp:

– Hồi đó, sau khi chị Mè nhảy sông tự-tử, thầy có gặp được chị ấy không? 

Thầy bối rối và do dự khá lâu rồi mới bắt đầu nói chuyện của thầy với giọng buồn rầu:

– Mô Phật! Mấy mươi năm nay thầy đã chôn quá khứ của thầy trong lời kinh, tiếng chuông tiếng mõ mà hình như nghiệp vẫn chưa dứt được, còn theo mãi cho đến ngày nay…
 
… Trước khi Mè nhảy sông tự vẫn, thầy và Mè đã chuẩn bị sẵn sàng vào Lâm-đồng sinh-sống. Lúc bấy giờ Mè đã có thai. Chú biết, thầy và Mè thương nhau. Sự ngăn cản của hai bên gia-đình không cho hai đứa cưới nhau càng quyết liệt thì hai đứa càng bất chấp tai tiếng. Sau khi được cứu chữa bình-phục, Mè trở về quê. Hai đứa đã quyết định ngày giờ gặp nhau để bỏ xứ ra đi. Ngày hẹn đã đến, thầy chờ không gặp được Mè. 

Ngày hôm đó đồng bào trong quê gồng gánh cùng gia-súc lũ lượt từ trong xóm làng xa xôi tràn ra quốc lộ. Người ta kể cho nhau nghe trận chiến đã xẩy ra đêm hôm trước ở làng Trà-Kiệu. Giải-phóng quân Cộng -sản Việt-Nam đã tấn công làng, đốt phá cơ sở chính-quyền địa-phương bắt dẫn đi chỉ điểm những viên chức chính quyền. Đạn pháo binh từ trong đồn địa phương quân cũng như từ quận bắn vào làng. Gần sáng, máy bay từ Đã-nẵng bay vào yểm trợ. Bom đạn quân đội hai bên làm làng Trà-Kiệu tang-hoang…Không biết dân làng ai chết ai sống, mạnh ai nấy chạy. Cái gì lấy được thì mang theo. Cả mấy ngày tiếp theo, thầy đi đến các làng xã quanh làng Trà-Kiệu, vào các bịnh-viện lớn, bịnh-xá nhỏ tìm Mè, Mè vẫn biệt tăm. Nửa tháng sau thầy theo chân dân làng được cho phép trở về đến trước nhà Mè, ngôi nhà đã bị cháy rụi. Mấy tháng chờ đợi sau đó, tin-tức về sự sống của Mè vô vọng, thầy trở về Huế và thầy xin xuất gia với người cậu…
Sau khi tốt nghiệp Phật-học viện Nha-trang năm 1970 thầy được học bỗng đi học bên Ấn-độ…rồi ở tu luôn tại bên ấy. Các đây vài tháng thượng-tọa Như-Hoá viên-tịch, thầy được chuyển về đây thay thế. 

Tôi hỏi thầy:
– Danh sách lập để được cầu siêu hôm rồi không phải do thầy lập sao?

“Không!.Do một phật-tử chuyên trách từ thời còn thầy Như-Hóa.” 

Tôi nói tiếp:
– Như vậy thì chị Mè không bị chết trong hôm làng Trà kiệu bị giặc tấn công và người xin lễ cầu siêu xưng là con gái của chị Mè… nhưng không rõ có phải là con chị Mè với thầy hay con sau nầy với người khác…” 

Thầy không trả lời câu hỏi của tôi, thầy chỉ gật đầu… rồi lắc đầu… rồi thở dài. 

Tôi hỏi tiếp:
– Thầy có muốn tìm sự thật về chị Mè những tháng năm sau này nầy không? 

Thầy trả lời dè dặt:
– Chú Kính giúp thầy việc nầy thì quý hoá lắm. Từ hôm đó đến nay, thầy suy nghĩ hoài mà không biết làm gì và làm như thế nào. 

Tôi vừa thương thầy vừa ái-ngại cho thầy, đoán biết trong thầy con sóng tình cảm xa xưa trở về đang làm thầy giao-động.

Nhờ vào số điện-thoại lưu trong phiếu xin lễ cầu siêu, tôi liên lạc với con gái chị Mè. Không khó khăn lắm khi tôi tự giới thiệu với con gái chị Mè, ngày xưa, rằng thời chiến tranh chị Mè làm việc trong gia-đình tôi ba năm, từ khi chị Mè thôi việc, tôi không có tin tức của chị…Vừa qua, nhân dự lễ cầu-siêu tại chùa Tây phương, có nghe tên của chị Mè được đọc trong buổi lễ, nên nay liên lạc để hỏi thăm. Đầu giây, cô gái tự nhận là con gái duy nhất của chị Mè, đang cùng chồng và con cái sống ở một làng vùng ngoại ô Bắc Paris. Qua trao đổi nhận biết nhau, con gái chị Mè mời tôi đến thăm nhà nhân dịp cuối tuần. 

Một tuần sau đó tôi đến thăm con gái chị Mè. Nhà nằm trong một trang trại nuôi gà công-nghiệp. Con gái chị Mè tự giới thiệu tên là Michelle, có chồng là người Pháp chủ trại gà và có ba con. Sau những bỡ ngỡ ban đầu hai chúng tôi trở nên thân thiện rất nhanh. Tôi đã kể cho Michelle kỷ niệm giữa tôi và chị Mè ngày xưa lúc chị giúp việc cho gia-đình tôi.Tôi cũng đã giới thiệu cuộc sống hiện tại của tôi…và cả buổi sáng ngày cuối tuần hôm đó tôi đã được nghe Michelle kể về mẹ của mình, chị Mè.

Michelle sống với mẹ vùng Chợ Đệm Thủ-Đức, mẹ có một quán may nhỏ chuyên sửa quần áo lính cho các sinh-viên sĩ quan Trường bộ binh Thủ-Đức nên cuộc sống của hai mẹ con rất ổn-định. Những năm tháng đó, Michelle không bao giờ được mẹ kể cho biết gia-đình thân thuộc có ai và ở đâu. 

Khi hỏi về cha của mình, chị được mẹ nói là thất lạc trong chiến tranh không biết chết sống thế nào. Tên cha được ghi trong giấy khai-sinh là Lê-chí-Cường, sinh-quán tại Huế. Năm 1975, khi miền Nam Việt-nam bị thay đổi chính quyền, mẹ chị vẫn sống bằng nghề may. Michelle được nhận làm tiếp-viên cho khách-sạn Caravelle nhờ thông thạo Pháp ngữ. Tại đây, Michelle quen biết với một du-khách Pháp và một năm sau hai người cưới nhau. Chồng của Michelle là đảng-viên đảng Xã-hội Pháp, làm xã trưởng của một xã nhỏ vùng ngoại ô thành-phố Marseilles. 

Michelle và mẹ cùng qua Pháp một ngày. Mẹ được nhận phụ giúp việc săn sóc các nữ tu Thiên chúa giáo về hưu tại địa phương. Năm 1999, mẹ chị bị phát hiện ra bịnh ung-thư lá lách ở giai đoạn cuối. Trong chống chọi với căn bịnh ngặt nghèo, biết là mình không thoát khỏi sự chết, mẹ đã kể lại một phần đoạn đời của mẹ…. 

Sau cái đêm làng Trà-Kiệu bị giặc tấn công chiếm đóng, gia-đình mẹ tản-cư vào tạm trú nhà một người bà con tại thị-xã Tam-kỳ. Cuộc chiến trở nên ác-liệt, gia-đình mẹ không trở về làng cũ. Cháu được mẹ sinh ra vài tháng sau đó. Cuộc sống cơ cực, hai mẹ con bị gia-đình đối xử lạnh nhạt vì mẹ sinh con trước có phép cưới. Quá đau khổ, quẩn-trí, một đêm mẹ định để cháu lại cho bà ngoại, lén ra sông tìm cái chết. Trên đường đi khi ngang qua một căn nhà trong một xóm nhỏ, mẹ nghe tiếng khóc, tiếng của một đứa trẻ: “Mẹ ơi! mẹ đâu rồi? Mę đi đâu rồi? Con sợ quá…” Trong đêm khuya, tiếng khóc đòi mẹ của đứa trẻ như xé lòng mẹ, đánh thức lương tâm và trách nhiệm của mẹ mà trong một phút giây nông nổi mẹ đã định làm chuyện dại dột… Và mẹ đã quay trở về nhà. 

Trong cùng cực của cuộc sống, một may mắn đến với mẹ… người bạn cùng may chung với mẹ ở Đà-nẵng trước đây, vừa có chồng là lính phục vụ trong quân-trường Sĩ-quan trừ bị Thủ-Đức, gặp lại mẹ, rủ mẹ cùng hợp tác may chung tại quán may ở Chợ Nhỏ mà bạn mẹ theo chồng dọn về đây. Cuộc sống bắt đầu ổn- định, mẹ đã nhiều lần về Đà-nẵng, về Huế tìm ba, nghe nói ba đã đi tu ở nơi xa và ba đã như một cánh chim lạc trong bốn phương trời vô-định… 

Michelle ngừng một chốc, thở ra, kể tiếp:
“Mẹ cũng có kể cho cháu về mối tình ngang trái của mẹ… mẹ không còn kỳ-vọng gặp ba trước khi nhắm mắt mẹ đã căn dặn cháu phải làm theo lời mẹ, sau khi mẹ chết… mẹ nói:
 
– Khi mẹ chết rồi, cháu phải thờ mẹ trong một ngôi chùa nào đó…ngày xưa, vì vấn đề tín-ngưỡng mà tình duyên của mẹ ngang trái. Ba của cháu đã xin từ bỏ đạo Phật của mình theo đạo Thiên-Chúa để được cưới mẹ, nhưng gia-đình của ba không thuận, bà nội, tức mẹ của ba cháu đòi tự vẫn nếu ba con quyết định bỏ Phật. Nay vì tấm lòng của ba, ba bỏ đạo của mình để được cưới mẹ, tuy chuyện không thành. Tôn giáo thường dạy con người có linh-hồn sau khi chết sẽ về an nghỉ ở một nơi nào đó, thì như vậy, Phật sẽ che chở linh hồn mẹ và mẹ sẽ gặp được ba cháu, không còn bị giới luật của tôn giáo ràng buộc, ngăn cấm.”

“Cháu đã làm theo lời mẹ, đem di-ảnh của mẹ thờ tại chùa Tây-Phương mấy năm nay, từ khi cha mẹ chồng cháu nghỉ hưu, giao cơ-sở chăn nuôi cho chồng cháu quản lý vừa lúc chồng cháu hết nhiệm-kỳ xã trưởng.” 

Tôi đã kể lại cho thầy Giác-Miên câu chuyện gặp gỡ Michelle ngày hôm đó. Qua điện thoại giọng thầy đầy khích-động. Tôi cho thầy biết, Michelle chưa biết thầy là thân sinh của cháu vì lý do tôi chưa xin sự chấp thuận của thầy…thầy nói: “Phải cho Michelle biết… làm thế nào để tạo sự thuận-tiện thầy cũng chưa biết… thôi chờ vài hôm nữa mình bàn tính lại.”

Sự bàn tính tạo thuận tiện cho cha con thượng-tọa Giác Miên và Michelle gặp nhau đang trong dự trù thì một buổi sáng tôi đang còn ngủ có tiếng reo điện thoại đánh thức tôi dậy. Một người nào đó từ chùa Tây-Phương báo cho biết tin thượng-tọa Giác-Miên đang công phu sáng đã bị đột quỵ, được xe cứu thương chở vô bịnh viên cấp cứu. Thay vì vào nơi làm việc, tôi lái xe chạy thẳng vào bịnh viện thăm thượng-tọa Giác Miên; nhân viên tại đây báo cho biết Thượng-tọa đã ra đi, bác-sĩ không cứu kịp.

Sau lễ an-táng thượng-tọa Giác Miên, tôi đến thăm Michelle một ngày cuối tuần. Tôi chuyển cho Michelle một bao thơ của thượng-toạ Giác Miên đã viết sẵn. Bao thơ được tìm thấy trên bàn làm việc của thầy, nhờ tôi trao lại. Michelle nhìn tôi vẻ bối rối khi nhận thơ. Tôi yên lặng ngồi nhìn Michelle e-dè mở thư ra đọc. Tôi thoáng thấy có những tấm hình đen trắng kèm theo thư cùng bản sao một thẻ căn cước… Mặt Michelle càng lúc càng trở nên căng thẩng đầy xúc động…những giọt nước mắt chảy ra từ hai khóe mát, lan dài trên má. Tôi đứng dậy đến gần cửa sổ nhìn ra ngoài, tránh nhìn các hình ảnh cảm động đang diễn ra trước mặt.

Một tiếng nấc, rồi những tiếng thổn thức tiếp nối. Tôi quay lại, mặt của Michelle cúi xuống, hai tay ôm đầu, hai vai run-rẩy. 

Chờ Michelle bớt xúc động, tôi đến ngồi bên cạnh, giúp nhặt lên thư và hình ảnh bị rơi xuống đất. Trong một tấm hình, tôi nhìn thấy anh Cường chay và chị Mè chụp chung bên bờ con sông Hàn ở Đà-nẵng, hai người âu yếm choàng vai nhau… và bản sao thẻ căn-cước bằng tiếng Pháp có in hình anh Cường chay ghi: Lê-chí-Cường sinh năm 1940 tại Huế… Việt-nam…. 

Michelle nhận thư và hình ảnh từ tay tôi, ôm tất cả vào ngực… lại thổn thức: “Mẹ ơi ! Ba ơi !”.
 
Tôi từ giã ra về.

Michelle tiễn tôi ra cổng trang trại. Tôi nghe có tiếng gà gáy trong một góc nào đó từ bên trong xa… Nắng buổi chiều vàng vọt trãi dài trên các ngọn cây. Tôi thoáng nhìn thấy anh Cường chay đang chở chị Mè trên xe đạp chạy từ nhà thờ Con Gà về xóm chùa Hải-Châu, nơi anh Cường chay có tiệm hớt tóc.

Nguyễn-đại-Thuật
Paris ngày 16/01/2019.