Cho con thấy Chúa

Từ khi em bị bệnh, có lẽ chẳng có ai tới thăm em; thậm chí dượng của em còn nói với vú nuôi là đừng cho nó ăn để nó chết, và nếu nó chết thì cũng đừng mang về nhà nhưng hãy mua quan tài và đưa ra Bình Hưng Hoà mà hoả thiêu. Nhưng ngoại không làm được điều này, nó đi trái với lương tâm và những gì ngoại nghiệm thấy trong lòng. Ngoại vẫn chăm sóc, yêu thương, động viên em, không ngại khó ngại khổ, không sợ bẩn. Mọi sinh hoạt của em đều một tay ngoại chăm sóc.
https://dongten.net/2018/09/09/cho-con-thay-chua/

DONGTEN.NET
“Thiên Chúa ở đâu trong cuộc đời của tôi?”. Có lẽ, đó là câu hỏi mà tôi và bạn thường hay đặt ra khi chúng ta gặp phải đau khổ, thất bại hay nghi ngờ một điều gì đó về Thiên Chúa. Phải chăng, chúng ta hãy tự vấn chính mình: ….  

TRẦN HUỲNH DUY THỨC – NIỀM HY VỌNG CỦA VIỆT NAM

Image may contain: 6 people, people standing and indoor
Image may contain: 17 people, people standing and text
Image may contain: 8 people, people standing and indoor
Image may contain: 10 people, people standing and wedding
Thanh Niên Công Giáo

TRẦN HUỲNH DUY THỨC – NIỀM HY VỌNG CỦA VIỆT NAM

#TNCG – (08/9/2018) Sau Thánh lễ Chúa nhật Linh mục Nguyễn Đình Thục cùng Giáo dân Xứ Song Ngọc đã hiệp ý cầu nguyện cho tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức đang tuyệt thực ngày thứ 25 để phán đối trại giam ra quy định mới hạn chế về thư tín đối với anh, cũng như phản đối sức ép từ nhà chức trách buộc anh phải nhận tội để được đặc xá.

Năm 2009, anh Thức bị bắt với cáo buộc ban đầu là “trộm cước viễn thông”, tuy nhiên sau đó bị chuyển tội danh thành “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79.

Anh Thức bị tuyên án 16 năm tù giam trong phiên tòa đầu năm 2010. Tổ chức Ân xá quốc tế sau đó gọi phiên tòa là “sự nhạo báng công lý”.

CTV / TNCG

“EM PHẢN ÔNG ẤY RỒI…” NHƯNG ÔNG ẤY VẪN ĐẤU TRANH VÌ TẤT CẢ CHÚNG TA

Image may contain: 2 people, people standing
Image may contain: 1 person, text

Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng and Nguyễn Lê Mỹ.

“EM PHẢN ÔNG ẤY RỒI…” NHƯNG ÔNG ẤY VẪN ĐẤU TRANH VÌ TẤT CẢ CHÚNG TA

Pham Doan Trang

Tôi vốn không phải người “có khiếu” về chính trị và cũng từng không quan tâm đến chính trị chút nào. Năm 2006, tôi có lần đi thi tuyển vào văn phòng AFP tại Việt Nam và… trượt chỏng gọng vì không trả lời được câu hỏi “tứ trụ” (tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội) ở Việt Nam là những ai.

Ngày 13/6/2009, luật sư Lê Công Định bị bắt. Một cậu bạn đồng nghiệp của tôi ở VNN nhắn tin báo, tôi còn chẳng biết Lê Công Định là ông nào. Cậu này phải nói rõ: “Chồng hoa hậu Ngọc Khánh ấy”. Lúc đó tôi mới “ừ, à, à thế à” rồi lục tục phá tường lửa vào BBC Việt ngữ đọc tin về Lê Công Định. Lại phải mất một thời gian nữa tôi mới lờ mờ biết là trước anh Định vài tuần, có một nhân vật bí hiểm nữa cũng bị bắt vì tội “chống nhà nước”, người ấy là “ông Trần Huỳnh Duy Thức, doanh nhân, chủ của blog Trần Đông Chấn”. Ông Thức bị bắt ngày 24/5/2009.

Tôi cũng vẫn không quan tâm đến chính trị, hay nói đúng hơn, không quan tâm đến giới đấu tranh dân chủ, giới đối kháng, bởi tôi nghĩ rằng họ không liên quan gì đến tôi hay công việc (làm báo) của tôi. Tuy vậy, chỉ hơn hai tháng sau khi luật sư Lê Công Định bị bắt, đến lượt tôi xộ khám bất thình lình vào tối 28/8/2009. Không khó để hình dung xem với một phóng viên “lề phải” hoàn toàn không có va chạm, tiếp xúc gì với chính quyền công an trị, thì việc đùng một cái bị tống giam 9 ngày là điều khủng khiếp đến mức nào. Song 9 ngày cũng để lại cho tôi vài trải nghiệm có ích, trong đó, có những ấn tượng đầu tiên về Trần Huỳnh Duy Thức và một số tù nhân lương tâm khác, qua lời kể của người bị giam cùng phòng.

Tất nhiên, Yến – người phụ nữ ở chung phòng giam với tôi – cũng chưa bao giờ có dịp tiếp xúc hay trông thấy anh Trần Huỳnh Duy Thức. Nhưng chị từng ở cùng thư ký của anh Thức; người thư ký này bị bắt cùng dịp với sếp. Vốn dĩ công an cộng sản có lối bắt giam đồng thời cả loạt người, thứ nhất để tạo ấn tượng đây là “băng nhóm có tổ chức”, thứ hai là cứ bắt khai thác thông tin cái đã, kiểu gì chẳng ra tội, có gì xử lý (thả hoặc giam tiếp) sau.

Chị Yến kể lại những gì chị biết về anh Thức qua lời kể của thư ký, một cách thành thật và đầy trân trọng. “Nó bảo, chị ạ, em phải thừa nhận với chị là em làm việc với nhiều sếp rồi, thực sự em chưa thấy ai giỏi như ông Thức. Giỏi mà tốt. Ông ấy có tầm nhìn, làm gì cũng có tính chiến lược, kinh doanh thành công. Nhiều việc ông ấy nhìn ra từ sớm, ông ấy đã gửi thư cảnh báo từ rất sớm rồi. Cái nhà nước này mà nó nghe ông ấy thì đã không lụn bại, thất bại về kinh tế đâu. (Đó là năm 2009, khi kinh tế Việt Nam đã bắt đầu suy thoái, nhiều người nói là do ảnh hưởng muộn của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 – NV). Mà ông ấy tốt với em, với nhân viên lắm, rất quan tâm đến mọi người”.

Một tối nọ, đi cung về, cô thư ký ấy ôm mặt khóc, nói với chị Yến rằng: “Em phản ông ấy rồi, chị ạ. Bọn nó bảo sẽ thả em, nhưng bắt em phải làm nhân chứng tố cáo ông Thức. Rồi em đọc lời tố cáo, bọn nó ghi âm, quay phim lại. Em còn con nhỏ, em không thể ngồi tù được. Em phản ông ấy rồi. Em có tội với ông ấy. Đấy là ông sếp em yêu quý nhất, phục nhất. Thế mà em lại phản ông ấy…”.

Tôi ngồi nghe, ngẩn mặt, vì nhớ lại vụ anh Lê Công Định “nhận tội trên tivi”, 5 ngày sau khi bị bắt. Lúc ấy, tôi không hề biết công an Việt Nam có truyền thống làm đủ trò ti tiện, bẩn thỉu nhất để buộc người bị bắt phải thú tội, xin khoan hồng… để chúng quay phim đưa lên tivi chiếu cho cả nước xem, coi như đấy là bằng chứng mạnh nhất khép tội người bất đồng chính kiến. Bài này công an ta học từ quan thầy Bắc Kinh mà ra. Tôi cũng không biết tất cả những cái đó thật ra chỉ chứng tỏ bộ máy công an lạm quyền, bức cung, vi phạm nhân quyền trầm trọng, chứ không có bất kỳ giá trị pháp lý nào.

Tôi chỉ thấy thương cho cô thư ký của anh Trần Huỳnh Duy Thức, và thương cả anh Thức. Vừa thương vừa tiếc xót: Giá như cái nhà nước này biết trọng dụng thay vì vùi dập nhân tài.

Đó là suy nghĩ của hồi ấy, cách đây 9 năm. Chứ như bây giờ thì tôi chẳng kỳ vọng, chẳng tiếc nuối bất kỳ điều gì ở nhà nước cộng sản cả; tôi chẳng coi nó là nhà nước.

Sau này tôi cũng tìm đọc các bài viết của anh Trần Huỳnh Duy Thức. Thú thật là với đầu óc ngông nghênh của một đứa tốt nghiệp kinh tế tại “Harvard của Việt Nam” (cách Đại học Ngoại thương tự gọi mình), cộng thêm tinh thần “không bao giờ sùng bái cá nhân”, tôi không có nhiều ấn tượng từ các bài viết ấy. Nhưng tôi rất nhớ vẻ mặt thán phục của chị Yến khi nói về anh Thức – dường như chị cảm nhận và chia sẻ hoàn toàn với người thư ký của anh Thức những tình cảm tốt đẹp về anh. Không dễ có nhà bất đồng chính kiến nào được yêu mến, nể trọng đến thế.

Và con người ấy đã chấp nhận ngồi tù gần hai thập niên, kiên quyết không rời Việt Nam, để đấu tranh cho tự do của dân tộc bằng chính tự do của mình, trong bối cảnh người người, nhà nhà trốn chạy khỏi Việt Nam (rất tiếc là trong số này, dân “đấu tranh” khá đông). Chỉ riêng điều ấy thôi đã khiến tôi phải kính phục anh bội phần.

Mong anh Thức giữ được tính mạng, sức khỏe, tinh thần, để trở về tự do. Mong lắm thay. Chúng tôi, chúng ta còn mong sẽ có thể làm phim, viết sách về anh… nhưng ngay cả khi không có bộ phim hay cuốn sách nào về Trần Huỳnh Duy Thức, thì tên anh cũng đã đi vào lịch sử Việt Nam rồi.

Nhà báo Phạm Đoan Trang

* * *

Nguồn: https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10156964817523322&id=641613321

Tinh thần của dân tộc Việt Nam sẽ mãi mãi trường tồn.
Ls. Lê Công Định (Định Công Lê)

HAY LÀ DÙNG LẠI SÁCH CỦA VNCH? 

Image may contain: 3 people, people smiling
Image may contain: one or more people
Image may contain: 1 person, text
No automatic alt text available.

Văn Lang is with Văn Lang.

HAY LÀ DÙNG LẠI SÁCH CỦA VNCH? 
(Đã cố viết cho gọn, nhưng bài vẫn khá dài, các bạn ráng đọc. Hì hì…)

Chiều nay bỏ vài tiếng đọc từ đầu đến cuối quyển “Em Học Vần Lớp Năm” của Bộ Văn Hoá Giáo Dục VNCH xuất bản năm 1969 (viết tắt Q1). Lại xoay qua đọc tiếp giáo trình dạy đánh vần theo sách “Tiếng Việt 1 Công Nghệ Giáo Dục” của ông Đại (viết tắt Q 2). Thấy được đôi điều…

1- Trẻ con đi học ở VNCH không phải mua sách giáo khoa mà được nhà trường cho mượn. Trẻ con thời nay thì phải bỏ tiền mua sách từng năm.

2- Lời ngỏ cùng học trò ở Q1 được viết ngắn gọn, giản dị, chân tình khuyến khích các em giữ gìn sách cho đàn em sau này (Về điểm này, tôi nhớ khi trả sách lại cho nhà trường, mẹ phải mượn bàn ủi than để ủi phẳng lại những trang sách bị cuốn mép). Sách thời nay chả ai lưu tâm việc đó, xài mau hư thì càng bán thêm được sách!

3- Trong ba lần xuất bản Q1, từ 1964 đến 1969 không hề thay đổi nội dung. Vì sách đã được soạn thảo một cách tỉ mỉ và cẩn thận, không cần sửa chữa, bổ sung gì thêm.
Q2 thì không viết đã xuất bản mấy chục lần rồi, và có lẽ mỗi lần đều có thay đổi. (Đơn cử, ở bài đầu tiên học tách tiếng, ít nhất cũng thay đổi hình vẽ). Hệ quả là: đứa em năm sau lên lớp lại phải mua sách mới, không dùng sách của anh chị để lại được.

4- Phần giới thiệu ở Q1 gồm 8 trang, trình bày rõ ràng các bước dạy trẻ con từ dễ đến khó dần, phụ huynh chỉ cần đọc sơ qua là có thể theo đó học kèm với con mình. 
Phần giới thiệu phương pháp dạy ở Q2 thì ôi thôi là dài, đọc mà muốn nhức đầu vì cí nhiều khái niệm lạ.

5- Về phương pháp dạy.

5.1- Phần Tách tiếng: ở Q1, trước khi bước vào học chữ, học trò cũng được học tách câu thành từng tiếng y như Q2, nhưng không phải tách bằng những “mô hình” (chữ mà người lớn nghe còn tá hoả) hình tròn, vuông, tam giác, mà chỉ bằng từng chữ kèm hình ảnh đơn giản nhưng rất thật để học trò có thể dễ dàng tự mình đoán trước câu đang học tách tiếng ấy. Việc tách tiếng này được dạy trong hai buổi học đầu, rất nhẹ nhàng cho việc tiếp thu của trẻ. 
Mặt khác, những câu để học tách tiếng ở Q1 được thiết kế thật đơn giản với những tiếng cũng rất đơn giản. Nhờ đó, nhìn mặt chữ thôi, các em có thể nhớ được: 
“tơ bẻ cà”, “tí, tơ đi bộ” ở bài đầu đến 
“ba tí về nhà”, “má tí về nhà” ở bài thứ 7. 
Bất cứ học sinh nào cũng có thể tự đoán được nội dung câu theo hình vẽ.

Điều đó hoàn toàn khác với bài học tách tiếng ở Q2, với hai câu dài 14 chữ kèm theo hình bông sen và cái mặt một ông già: 
“Tháp Mười đẹp nhất bông sen/Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”.

Rất áp đặt câu vào hình, và học sinh chỉ việc thụ động đọc theo cô, chứ không thể chủ động đoán được bông sen với cái mặt ông già kia là câu gì. 
Hơn nữa, từng tiếng trong câu cũng quá phức tạp, nhìn mặt chữ, các em chẳng thể nào nhớ nổi (Dù chưa học chữ, nhưng nếu mặt chữ đơn giản thì có thể nhớ được sơ lược).

Hãy so sánh 2 bài:

Ở Q1: hình một bé gái khom lưng hái cà kèm với câu đơn giản “tơ bẻ cà” (không cần viết hoa tên bé Tơ, một chi tiết khá bất ngờ nhưng hết sức hợp lý). (xem Hình 3)

Ở Q2: hình ao sen và một khuôn mặt ông già, hai hình tách riêng, kèm theo một câu dài sòng sọc chẳng liên quan gì đến hình ảnh: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen/Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”. (xem Hình 4)

Bạn thấy bài nào thực tế, gần gũi, trực quan, giản dị, dễ tưởng tượng, dễ nhớ mặt chữ (dù bài này chưa học chữ) và mang tính chủ động, không bị áp đặt hơn?

5.2- Học chữ.

Ở Q1:
– Kiểu chữ: chọn kiểu chữ đơn giản nhất, chữ Script (chỉ cần vẽ được vòng tròn và gạch thẳng là có thể viết được mọi chữ cái) và chỉ viết chữ thường. Sau này, khi các em đã rành rẽ, sẽ giới thiệu chữ hoa, và kiểu chữ viết đẹp ở cuối sách.

– Thứ tự dạy: dạy từ chữ dễ dàng nhất, 
chữ i (chỉ gạch dọc một nét, thêm cái chấm là i, rồi thêm cái gạch nghiêng thành í). 
Bài sau đó dạy 
chữ t (gạch dọc 1 gạch ngang), kết hợp i ở bài trước thành ti, thêm dấu sắc ra tí, thêm dấu hỏi thành tỉ.
Cứ tăng dần độ khó của chữ, l, o, c, a, d, đ…và đưa dần các dấu thanh. Bài sau, chữ mới kế thừa và phát triển thêm chữ đã học. Những chữ/tiếng được chọn lọc thật đơn giản kèm theo hình minh hoạ rất thật và gần gũi bài học.

Ở Q2:
– Ngay bài học chữ đầu tiên, học trò phải học những chữ khó: “a, b, ba, ba ba, bà ba”. 
Nét cong khó hơn nét thẳng, chữ a, b khó hơn chữ i, vì phải kết hợp nét cong và nét thẳng. Vậy mà ngay lần đầu cầm bút, học trò phải viết ngay những nét khó này, rồi còn ham hố thêm dấu thanh vào nữa chứ! 
Bài học chữ thứ hai, chữ “c, a, ca, cá, cà, ca ba”. 
Bài sau: “d, da, dạ, da cá, bà ạ”. 
Rồi “đ, đa, đá, đa đa, đá à, dạ, bà ạ”
Tiếp “e, bé, đe, dẻ, be bé, e dè, da dẻ”
. . .
Không hề tuân theo quy tắc dạy từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

(Ở trên là trích từ giáo án, không có sách GK, nên không biết kèm theo những chữ trừu tượng thì hình minh hoạ sẽ ra sao).

6. Hiệu quả dạy học. 
Không cần biết dạy theo kiểu gì, nhưng điều rõ ràng là:

– Cách truyền đạt càng đơn giản, hình ảnh càng trực quan, gần gũi thì học trò sẽ dễ tiếp thu.

– Mức độ phải từ dễ nhất rồi từ đó dần tăng độ khó và có sự tiếp nối giữa các bài thì việc học sẽ nhẹ nhàng.

– Và cuối cùng là hiệu quả.

Học sinh miền Nam trước kia được dạy theo sách “Em Học Vần” chỉ cần 17 tuần (1 học kỳ) là xong phần ráp vần, từ chữ đơn giản đến chữ phức tạp. Để rồi xong một học kỳ, học sinh có thể đọc trôi chảy những bài tập đọc mang đậm chất làng quê rất thân thương nhưng lại chứa đựng nhiều âm khó, chẳng hạn bài này:

“CON CHÓ CỦA ANH XUÂN

Chó xù trong nhà thoăn thoắt chạy ra. Tai xụ lông xù, mắt sâu hoăm hoắm. Nó nhảy bổ lại chỗ cưỡng đậu. Cưỡng hoảng hốt bay lên nóc nhà.

Xuân quát: “Xù! Xù!”
Xù ngoan ngoãn chạy trở lại. 
Nó liếm chưn Xuân, đuôi ngoe ngoảy. 
Xuân vuốt đầu nó, nói với Chi, Tí:
“Hai em ra sông coi xù vớt banh”. 
Xuân vào nhà lấy banh. Xù vụt chạy trước ra mé sông. Xuân, Chi, Tí lẹ chân theo kịp Xù.

Xuân liệng banh ra giữa sông. Xù nhảy ùm xuống nước. Nước xoáy, chó trồi lên hụp xuống. Nó loay hoay mãi mới đớp được banh. Nó ngoạm trái banh cố lội vô bờ. 
Nó đem banh giao tận tay Xuân. Xuân thưởng nó miếng bánh, nó ăn ngoem ngoém hết cả.”

Một điều rất quan trọng nữa là, sau này khi học lên lớp cao hơn, học sinh lớp trước ít bị lỗi chánh tả.

Hãy nhìn lại 800.000 học sinh cả nước trong những năm qua được dạy theo công nghệ giáo dục của ông Đại.

Phải mất 35 tuần (2 học kỳ) để hoàn thành phần ráp vần và đọc trôi chảy (không có sách, nên không biết độ khó của bài tập đọc ra sao, có nhiều từ ngữ rất ư là “khó hiểu”, kiểu như từ “quện nhau” không?).

Điều tệ hơn nữa là, dường như thế hệ sau này phạm lỗi chánh tả rất nhiều, viết sai chánh tả và văn phạm ngay cả trên báo chí và sách văn học.

7. Kết luận.

Ngày 23.10.2017, bộ GD đã đánh giá bằng văn bản về sách “Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục”:

– Chưa giúp học sinh phát triển kỹ năng nói và nghe.

– Chưa chú trọng hướng dẫn giúp học sinh đọc hiểu bài, như tìm hiểu nghĩa của từ, nội dung của câu và đoạn văn, trả lời câu hỏi đọc hiểu. Vì vậy học sinh có thể đọc thành tiếng một văn bản nhưng không hiểu nghĩa.

– Chưa đáp ứng tốt mục tiêu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, hạn chế này thể hiện rõ nhất qua phần ngữ liệu. 
– . . .

Vậy thì, sau bao nhiêu lần “cải tiến” mà thực tế áp dụng chỉ toàn cho thấy những bước “cải lùi”, có nên chăng, hãy dẹp hết mọi đề án cải cách giáo dục từng gây điêu đứng và tốn kém vô lối cho bao nhiêu thế hệ học sinh, phụ huynh và xã hội, để trở về với quyển sách cũ đã từng góp phần tạo nên nhiều thế hệ học sinh thực sự rành rẽ tiếng Việt. Quyển EM HỌC VẦN của VNCH?

TRÍ THỨC NGÂY THƠ

TRÍ THỨC NGÂY THƠ

Một nền giáo dục có chủ trương xuyên suốt là nhồi sọ để thực hiện ý đồ chính trị cho ĐCS. Nền giáo dục đó, làm sao khuyến khích sáng tạo nhỉ? Nền giáo dục đó làm sao khuyến khích học sinh là “chính mình” được nhỉ? Thế mà có kẻ làm clip để bào chữa cho cách dạy ô vuông hay tam giác gì đấy và cho rằng, phương pháp ấy sẽ làm cho học sinh “sáng tạo” gì gì đấy nhỉ?

Nền giáo dục XHCN chỉ là cái ngọn được sinh ra từ cái gốc độc tài CS. Vậy cái gốc sờ sờ ra đó thì bày đặt cải cách, rồi cải tiến, rồi cải lùi, rồi áp dụng phương pháp công nghệ gì gì đó để làm chi nhỉ? Các anh, các chị “trí thức” làm clip để chứng minh “sự đúng đắn” của thứ “công nghệ giáo dục” gì gì đó để là gì nhỉ? Tội nghiệp các anh chị lắm, cố chứng minh ngọn cây đó là ngọn cây táo trong khi cái gốc là gốc cây Mã Tiền độc hại sờ sờ ra đó. Đúng là một đám trí thức ngây thơ.

Công bố ‘nhiều sai phạm’ trong quy hoạch KĐT Thủ Thiêm

Công bố ‘nhiều sai phạm’ trong quy hoạch KĐT Thủ Thiêm

  • 8 tháng 9 2018
  • BBC
Thu Thiem
Bản quyền hình ảnhJUN TRAN
Người dân Thủ Thiêm bức xúc khi trao đổi với các Đại biểu Quốc Hội ngày 9/5

Kết luận của Thanh tra chính phủ công bố tối 7/9 về Khu đô thị (KĐT) mới Thủ Thiêm cho hay có nhiều sai phạm trong quy hoạch và đền bù, theo truyền thông Việt Nam.

Cuộc thanh tra được tiến hành trong hai tháng, từ 15/5 – 11/7, việc ‘hoàn thiện và lấy ý kiến các bên’ diễn ra hai tháng sau đó, trước khi được công bố chính thức.

Theo kết luận này, quyết định của Thủ tướng chính phủ năm 1996 phê duyệt quy hoạch KĐT mới Thủ Thiêm theo bản đồ 1/5.000 là ‘đúng thẩm quyền’.

Phát hiện ‘vi phạm’ trong qui hoạch Thủ Thiêm, TP.HCM bị qui trách

Phát hiện ‘vi phạm’ trong qui hoạch Thủ Thiêm, TP.HCM bị qui trách


Tọa lạc tại Quận 2 bên bờ đông sông Sài Gòn, Khu đô thị mới Thủ Thiêm là một dự án qui hoạch được thủ tướng phê duyệt vào năm 1996 nhằm phát triển khu vực này thành một trung tâm kinh tế và văn hóa hiện đại của thành phố. (Hình: Zing.vn)
Tọa lạc tại Quận 2 bên bờ đông sông Sài Gòn, Khu đô thị mới Thủ Thiêm là một dự án qui hoạch được thủ tướng phê duyệt vào năm 1996 nhằm phát triển khu vực này thành một trung tâm kinh tế và văn hóa hiện đại của thành phố. (Hình: Zing.vn)

Thanh tra Chính phủ Việt Nam kết luận việc qui hoạch Khu đô thị mới Thủ Thiêm ở Thành phố Hồ Chí Minh đã để xảy ra những “khuyết điểm, vi phạm” dẫn đến khiếu nại kéo dài của người dân, đồng thời qui trách nhiệm trực tiếp cho nhà chức trách địa phương và Ủy ban Nhân dân Thành phố, theo một báo cáo công bố hôm thứ Sáu.

Bản báo cáo 10 trang của cơ quan đặc trách giải quyết khiếu nại cũng kêu gọi chính phủ “xử lí nghiêm” những tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc phê duyệt qui hoạch, điều chỉnh qui hoạch, thu hồi đất, đến bù, tái định cư và lưu trữ hồ sơ, tài liệu, bản đồ.

Tọa lạc tại Quận 2 bên bờ đông sông Sài Gòn, Khu đô thị mới Thủ Thiêm là một dự án qui hoạch được thủ tướng phê duyệt vào năm 1996 nhằm phát triển khu vực này thành một trung tâm kinh tế và văn hóa hiện đại của thành phố. Nhưng từ đầu những năm 2000 tranh chấp đã bùng ra giữa người dân và chính quyền về ranh qui hoạch và chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng bị coi là phi lí và thiếu thỏa đáng.

Kết luận của Thanh tra Chính phủ là thắng lợi, dù chỉ là một phần, cho những cư dân đã khiếu kiện dai dẳng và gay gắt hơn 10 năm qua từ các cấp địa phương cho tới trung ương ở Hà Nội.

Một trong những vấn đề bức xúc nhất trong cuộc tranh chấp liên quan tới việc Ủy ban Nhân dân Thành phố qui hoạch 4,3 hectare đất thuộc Khu phố 1, Phường Bình An, Quận 2. Qua điều tra, Thanh tra Chính phủ kết luận phần diện tích đất này không nằm trong ranh qui hoạch được thủ tướng phê duyệt, và việc thu hồi đất “chưa đủ cơ sở pháp lý.”

“Việc khiếu nại của người dân về ranh quy hoạch đối với 4,3 ha thuộc Khu phố 1, phường Bình An, quận 2 nằm ngoài ranh quy hoạch [Khu đô thị] Thủ Thiêm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 367/TTg của Thủ tướng Chính phủ là có cơ sở, cần sớm được xem xét và có giải pháp giải qưyết phù hợp,” báo cáo của Thanh tra Chính phủ kết luận.

Việc thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng có trường hợp đang khiếu nại chưa phù hợp qui định, chưa đúng thời điểm thu hồi đất, nhất là khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực, báo cáo nói thêm. Thanh tra Chính phủ cũng qui trách Ủy ban Nhân dân Thành phố là không có kế hoạch triển khai thực hiện xây dựng nhà tái định cư trước khi thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, và việc thực hiện còn chậm, còn một số hạn chế, bất cập dẫn tới những khiếu kiện.

Thanh tra Chính phủ kiến nghị Ủy ban Nhân dân Thành phố ra soát từng trường hợp người dân đang khiếu nại để bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phù hợp. Cơ quan này cũng kêu gọi thủ tướng có “biện pháp xử lý phù hợp” đối với những tổ chức, cá nhân có liên quan đến các khuyết điểm, vi phạm được nêu trong bản báo cáo.

Một số cư dân bị ảnh hưởng phản ứng với sự phấn khởi dè dặt về kết luận của thanh tra. Họ chỉ ra rằng còn “nhiều” diện tích đất nằm ngoài ranh qui hoạch bị thu hồi nhưng không thấy nhắc tới trong bản báo cáo.

“Tui đọc kết luận mà buồn thêm chớ không mừng chút nào,” trang tin điện tử Zing dẫn lời cư dân Lê Thị The, 75 tuổi, nói. Bà nói bà có đất bị thu hồi không nằm trong khu 4,3 hectare.

“Chắc tui lại ra Hà Nội nữa. Nghĩ đến việc cứ đi đi lại lại miết, hết đời người rồi cũng không biết có đòi lại được gì cho con cháu không,” bà được dẫn lời nói.

Thư một linh mục Công giáo gửi báo The New York Times:

 “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,

hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn (Tv 61, 2)”

Ave-Maria

Vincente Nguyễn Văn Hà, tttl

Thư một linh mục Công giáo gửi báo The New York Times:

Anh bạn phóng viên thân mến.

Tôi chỉ là một linh mục Công giáo bình thường. Tôi cảm thấy hạnh phúc và tự hào về ơn gọi của mình. Trong 20 năm qua, tôi đã sống ở Angola với tư cách là một nhà truyền giáo.

Tôi đọc trong nhiều phương tiện truyền thông, đặc biệt là tờ báo của bạn, sự phóng đại của chủ đề linh mục ấu dâm, nhưng trong một cách bệnh hoạn, vì chỉ tìm kiếm chi tiết trong đời sống các linh mục, các sai lầm trong quá khứ.

Có một trường hợp linh mục ấu dâm, trong một thành phố của Mỹ, trong những năm 1970, một trường hợp ở Úc trong thập niên 1980, và cứ như thế, có trường hợp mới đây hơn…. Chắc chắn rằng tất cả các trường hợp này đáng bị khiển trách!

Có các bài báo được cân nhắc và cân bằng, có các bài khác lại phóng đại, đầy thành kiến và thậm chí hận thù nữa. Tôi tự cảm thấy đau đớn nhiều về sự dữ lớn lao rằng các người đáng lẽ là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, lại là con dao găm trong cuộc sống của các người vô tội. Không có từ ngữ nào để biện minh cho các hành vi như vậy. Không có nghi ngờ rằng Giáo Hội phải là đứng về phia kẻ yếu, và người nghèo. Vì lý do này, tất cả các biện pháp mà người ta có thể dùng để ngăn ngừa và bảo vệ nhân phẩm của trẻ em sẽ luôn luôn là một ưu tiên.

Nhưng sẽ là kỳ cục hết sức khi có ít tin tức và sự thiếu quan tâm đến hàng ngàn các linh mục khác, đã hiến đời mình và phục vụ hàng triệu trẻ em, thanh thiếu niên và các người bất hạnh nhất ở bốn phương trời của thế giới.

Tôi nghĩ rằng đối với tờ báo của bạn, các điều sau đây không hề được quan tâm đề nói tới:

1) Tôi phải di chuyển qua các con đường đầy mìn do chiến tranh trong năm 2002, để giúp đỡ các em nhỏ đang chết đói từ Cangumbe đến Lwena (Angola), bởi vì cả chính quyền không thể làm được và cả các tổ chức phi chính phủ không được phép làm;

2) Tôi đã chôn cất hàng chục trẻ em chết do việc dời chỗ vì chiến tranh;

3) Chúng tôi đã cứu sống hàng ngàn người dân ở Mexico, nhờ một trung tâm y tế duy nhất hiện hữu trong một vùng có diện tích 90.000 km2, với việc phân phát thực phẩm và các loại giống cây trồng;

4) Chúng tôi đã có thể cung cấp giáo dục và trường học trong mười năm qua cho hơn 110.000 trẻ em;

5) Cùng với các linh mục khác, chúng tôi đã cứu trợ cho gần 15.000 người ở các trại du kích quân, sau khi họ đã đầu hàng và giao nạp vũ khí, bởi vì thực phẩm của chính phủ và của Liên Hiệp Quốc không thể đến được với họ;

6) Không phải là tin tức thú vị khi một linh mục 75 tuổi, Cha Roberto, rảo qua thành phố Luanda ban đêm, chăm sóc các trẻ em đường phố, dẫn họ đến một nơi trú ngụ, để cho họ không bị ngộ độc bởi xăng dầu mà họ hít để kiếm sống, như là người ném lửa;

7) Việc xoá nạn mù chữ cho hàng trăm tù nhân cũng không phải là tin hay;

8) Các linh mục, như cha Stéphane, tổ chức các nhà tạm trú cho các thanh thiếu niên bị ngược đãi, đánh đập, hãm hiếp, để họ tạm lánh;

9) Linh mục Maiato, 80 tuổi, đến thăm từng ngôi nhà một của người nghèo, an ủi người bệnh và người tuyệt vọng;

10) Không phải là tin hấp dẫn khi hơn 60.000 trong số 400.000 linh mục và tu sĩ hiện nay đã rời đất nước và gia đình của họ để phục vụ anh em mình tại các quốc gia khác trong các trại phong, bệnh viện, trại tị nạn, cô nhi viện cho trẻ em bị cáo buộc là phù thủy, hoặc cho trẻ em mồ côi do cha mẹ chết vì AIDS, trong các trường học dành cho người nghèo nhất, trung tâm dạy nghề, trung tâm tiếp nhận người nhiễm HIV……

11) Nhất là các linh mục dành đời mình trong các giáo xứ và cứ điểm truyền giáo, động viên mọi người sống tốt hơn và nhất là thương mến người khác;

12) Không phải là tin hấp dẫn khi bạn tôi, Cha Marcos Aurelio, để giải cứu trẻ em trong cuộc chiến ở Angola, đã đưa các em từ Kalulo đến Dondo và khi trên đường trở về, cha bị bắn chết; và một tu sĩ tên là Phanxicô và năm nữ giáo lý viên, bị chết trong một tai nạn, khi họ đi giúp đỡ các vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh nhất của đất nước;

13) Hàng chục các nhà truyền giáo tại Angola đã chết vì thiếu các phương tiện y tế, chỉ vì bệnh sốt rét đơn giản;

14) Nhiều người khác đã bị tung xác lên trời do mìn nổ, khi đi thăm các tín hữu; quả vậy, trong nghĩa trang ở Kalulo, có mộ các linh mục đầu tiên đến khu vực ấy… không ai sống hơn 40 tuổi cả….;

15) Không phải là tin hấp dẫn, khi một linh mục “bình thường” sống công việc hàng ngày của mình, trong các khó khăn và niềm vui của mình, sống âm thầm cả đời vì lợi ích của cộng đoàn mình phục vụ;

Sự thật, là linh mục chúng tôi không cố gắng để có tên trong tin tức, nhưng chỉ mang “Tin Mừng”, và Tin Mừng này, không ồn ào, đã bắt đầu vào buổi sáng Phục Sinh. Một cây ngã gây tiếng ồn nhiều hơn cả cánh rừng đang mọc và phát triển.

Người ta gây nhiều tiếng ồn cho một linh mục phạm một lỗi lầm, hơn là gây tiếng ồn cho hàng ngàn linh mục hiến đời mình cho hàng chục ngàn trẻ em và người nghèo khó.

Tôi không muốn làm một biện hộ cho Giáo Hội và các linh mục.

Một linh mục không phải là một anh hùng, cũng không phải là một người rối loạn thần kinh. Linh mục chỉ là một con người bình thường, và với bản tính con người của mình, tìm cách theo Chúa và phục vụ Ngài trong anh chị em của mình.

Linh mục có nhiều khổ đau, nghèo đói và sự mỏng giòn như các người khác; nhưng linh mục cũng có vẻ đẹp và hùng vĩ như mọi thụ tạo khác…. Việc nhấn mạnh một cách ám ảnh bẩm sinh và phá hoại về một đề tài đau đớn, trong khi mất tầm nhìn chung của công việc, tạo ra thật sự các biếm họa tấn công vào hàng linh mục Công Giáo, do đó tôi cảm thấy bị xúc phạm.
Tôi chỉ yêu cầu anh, người bạn phóng viên thân mến, hãy tìm kiếm Chân, Thiện, Mỹ. Điều này sẽ làm lớn mạnh nghề nghiệp của bạn.

Chào anh trong Đức Kitô,

Linh mục Martin Lasarte, SDB
“Quá khứ của con, Lạy Chúa, con phó thác cho lòng Thương xót của Chúa; hiện tại của con, cho Tình yêu Chúa; và tương lai của con, cho sự Quan Phòng của Chúa”.
(St. Padre Pio)

http://conggiao.info/linh-muc-la-nhu-the-dothu-mot-linh-muc-cong-giao-gui-bao-the-new-york-times-d-14762

From: NguyenNThu & huynhthuyquyen

Thuốc “thiên nhiên” ngừa bệnh, giúp sống lâu khỏe mạnh

Thuốc “thiên nhiên” ngừa bệnh, giúp sống lâu khỏe mạnh

Trong cuộc sống vội vã, đầy căng thẳng, và khi tuổi tác và sức khỏe chúng ta từ từ yếu kém đi thì thiền tập và những khóa tĩnh tâm thanh lọc thân tâm, ăn uống theo dưỡng sinh giúp cho cơ thể cũng như tâm hồn chúng ta nhẹ nhàng thanh tịnh hơn.

 Trong cuộc sống hàng ngày, con người không thể tránh khỏi mắc các loại bệnh từ bệnh nhẹ cho đến bệnh nặng. Tuy nhiên, khi bị bệnh mọi người đều nghĩ đến việc uống thuốc và hy vọng sẽ nhanh chóng khỏi bệnh, mà không bao giờ biết thay đổi thói quen sống của mình.
Thực tế có rất nhiều loại “thuốc” dưỡng sinh bảo vệ sức khỏe, so với việc uống các loại thuốc Đông, Tây,… thì loại “thuốc” này không hề có tác dụng phụ, và quan trọng là không mất bất cứ một đồng tiền nào.

“Thuốc” chống ung thư tốt nhất: Đi bộ

Đi bộ là phương pháp ngừa ung thư tốt nhất. “Đi bộ có thể được xem như một loại thuốc phòng ngừa ung thư hiệu quả!” Hiệp hội các tổ chức từ thiện Anh và Macmillan Cancer Aids đã cho rằng, nếu chúng ta có thể đi bộ 2km mỗi ngày hoặc đi bộ khoảng 20 phút sẽ giúp phòng ngừa ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại tràng. Hơn nữa có thể giảm nguy cơ tử vong tới 50%. Vì vậy, đi bộ là phương pháp ngừa ung thư tốt nhất.

“Thuốc” giúp sống lâu nhất: Cười

Tiếng cười có thể đẩy nhanh nhịp tim và cung cấp oxy cho não. Nhiều người cho rằng muốn sống lâu, cần ăn thực phẩm đại bổ như nhân sâm, nhung hươu. Tuy nhiên, tất cả không bằng một hành động nhỏ chính là nở nụ cười. Theo một nghiên cứu của Tây Ban Nha cho rằng con người càng cười nhiều thì càng khỏe mạnh. Tiếng cười có thể đẩy nhanh nhịp tim và cung cấp oxy cho não.

Lisa Rosenberger, một nghiên cứu viên tại Trung tâm y tế Đại học Rush ở Chicago, nói rằng cười là một loại thể dục dưỡng sinh. Những người có tính hài hước sẽ có hệ thống miễn dịch khỏe mạnh, tỉ lệ bị nhồi máu cơ tim giảm khoảng 40% và tuổi thọ trung bình có thể tăng thêm 4 năm rưỡi.

“Thuốc” bảo vệ tim mạch tốt nhất: Ngồi thiền

Ngồi thiền có thể tăng cường khả năng của tim, thúc đẩy tuần hoàn máu. Sau khi ngồi thiền một lúc, sẽ khiến những suy nghĩ của bạn chậm lại, giúp trấn tĩnh được cảm xúc, tâm tính được xoa dịu. Khi bạn không ngủ được, có thể ngồi bắt chéo chân để thiền định. Ngoài ra, ngồi thiền còn có lợi cho việc ngăn ngừa và điều trị đau khớp, giúp hệ thống hô hấp, rất hữu ích cho việc thở đều.

“Thuốc” chống lão hóa: Ngủ

Nên đi ngủ trước 23 giờ để vừa đảm bảo sức khỏe tổng thể vừa giúp đẹp da, trì hoãn lão hóa. “Thuốc” này so với những mỹ phẩm đắt tiền có tác dụng hơn gấp nhiều lần. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thời gian hoạt động của qui trình chuyển hóa tế bào biểu bì ở người là từ 10 giờ tối đến 2 giờ sáng ngày hôm sau.

Nếu chúng ta có thể có giấc ngủ ngon trong thời gian này, chúng ta có thể đẩy nhanh qui trình chuyển hóa và trì hoãn lão hóa da. Ngược lại, thức đêm nhiều sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tái sinh của tế bào, rút ngắn tuổi thọ của tế bào da, dẫn đến đẩy nhanh qui trình lão hóa da.
Chuyên gia kiến nghị, tất cả mọi người nhất định phải ghi nhớ đi ngủ trước 23 giờ để vừa đảm bảo sức khỏe tổng thể vừa giúp đẹp da, trì hoãn lão hóa.

“Thuốc” chống mất trí nhớ tốt nhất: Chăm chỉ đọc sách

Đọc sách báo nhiều hơn chính là phương pháp tốt nhất để ngăn ngừa chứng mất trí nhớ. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, người có trình độ giáo dục càng thấp, sau này nguy cơ mất trí nhớ càng cao. Do vậy, nếu những đứa trẻ có nền giáo dục tốt thì có thể giúp phòng ngừa tình trạng sa sút trí nhớ trong tương lai.

Nếu người lớn tuổi cũng duy trì thói quen học tập, có thể bảo vệ, duy trì nhận thức của bản thân. Vì vậy, đọc sách đọc báo nhiều hơn, mỗi ngày nỗ lực nhớ một vài cái mới xảy ra gần đây hoặc học tập để tìm hiểu kiến thức, khiến đại não luôn ở trạng thái vận động và học tập, đây chính là phương pháp tốt nhất để ngăn ngừa chứng mất trí nhớ.

“Thuốc” bổ sung canxi tốt nhất: Phơi nắng

Phơi nắng là phương pháp tốt nhất để bổ sung canxi. Phơi nắng có thể giúp cơ thể hấp thu được vitamin D, hơn nữa vitamin D giúp hấp thụ canxi vào xương tốt nhất. Canxi đi vào xương tham gia qui trình tạo xương, giúp cơ thể có vóc dáng chuẩn, săn chắc và vững chãi.

From: KimBằngNguyễn  & Do Tan Hung

Chiếc Lon Guigoz…

Chiếc Lon Guigoz…

Tôi đã lang thang trên “net” chiều nay nhưng không thể nào tìm ra hình ảnh của chiếc lon “gô”, người bạn ngày nào của tôi.

Bao bì của các món hàng sản xuất mỗi ngày mỗi tân tiến, mới lạ, đẹp đẽ và gọn nhẹ. Bây giờ người ta đựng sữa bột trong những bao bằng giấy dày hoặc bằng thứ kim loại mỏng, không như bằng chiếc hộp nhôm không rỉ sét, dày dặn như cái thời xa xưa đó. Người vẽ kiểu của chiếc lon “gô” ngày nào chắc cũng đã ra người thiên cổ, không còn để cái đám tù tập trung trong các trại tù Cộng Sản sau này gặp gỡ để nói một lời cám ơn về một thứ đồ dùng, một bao bì mà sau khi dùng sản phẩm, có thể vứt bỏ, nó lại được dùng như một vật tiện dụng và hữu ích qua nhiều năm tháng.

Loại sữa Guigoz của Hòa Lan được nhập cảng vào Việt Nam nhiều nhất là sau khi người Pháp trở lại Việt Nam vào khoảng năm 1956. Vào thời ấy lon sữa bột Guigoz không lấy gì làm đắt. Một công chức trung bình ở miền Nam cũng có thể nuôi con bằng loại sữa bột này. Có hai loại sữa Guigoz, loại trắng cho trẻ sơ sinh, và loại màu vàng cho tuổi từ một năm trở đi. Loại sữa bột này phổ biến đến nỗi hầu như gia đình trung lưu nào cũng nuôi con bằng sữa Guigoz, và những chiếc lon nhôm, dày dặn, với dung tích 0.75 lít, có chiều cao 18cm, đường kính 8cm, không rỉ sét này thường được các bà nội trợ cất giữ để đựng thực phẩm ở trong bếp, trừ muối, nó có thể đựng đường, ớt, tiêu hành hay các thức ăn khô.

Tuy chiếc lon Guigoz tiện dụng nhưng thật ra nó không có giá trị gì, nó có thể ra nằm ngoài đống rác. Từ năm 1965 trở về sau, miền Nam đã nhập cảng nhiều loại sữa bột khác dành cho trẻ em; nhưng chiếc lon sữa Guigoz vẫn còn tồn tại trong hầu hết gia đình vì nó bền, chắc, khó móp méo hay hư hỏng. Thế mà chiếc lon Guigoz đó lại trở thành người bạn thân thiết từ Mùa Hè năm 1975 khi tôi phải giã từ quân đội, bỏ lại vợ con và thành phố yêu đấu để trình diện đi tù, làm cái công việc của một người lính thất trận.

Thoạt đầu chiếc lon chỉ mang theo mớ thức ăn khô dùng tạm cho vài ngày, nhưng về sau khi thức ăn đã hết, chiếc lon kia đã đổi chức năng để từ đây gánh vác một phần tháng ngày gian khổ cho tôi. Về sau khi thấy tôi không còn hy vọng gì quay trở lại với gia đình trong một thời gian ngắn, chiếc lon sữa Guigoz kia đã không rời tôi nửa bước như một người bạn tri kỷ có thể chia ngọt xẻ bùi với nhau, khi với một nắm rau bên vệ đường, khi với một con nhái bén, có khi với một mẫu sắn thừa sau ngày thu hoạch còn sót lại trong đám đất bị cày xới.

Có khi chiếc lon ấy trở thành một bình trà với những đọt chè xanh, đậm đà hơn một tuần Thiết Quan Âm thời phong lưu hay mở ra một ngụm cà phê sảng khoái đánh lừa khứu giác với những hạt bo bo cùng với mấy hạt ngô rang cháy. Nó cũng trở thành người bạn mỗi sáng với những công việc vệ sinh thường nhật bên “lán” tù, và cũng tội nghiệp cho chúng tôi trong một miền Bắc không có thừa lấy một manh giấy báo hay một mẫu giẻ rách, nó đã theo những người tù mỗi lần vì nhu cầu phải đi thăm… “lăng Bác”.

Ngày xưa chiếc lon kia mang một cái tên ngoại quốc khá đẹp từ xứ Hòa Lan có nhiều nhà máy xay gió, những cánh đồng cỏ bất tận và những đàn bò bình yên, đến miền Nam với hình dáng tròn trịa, mới mẻ; nay nó mang một cái tên xấu xí trần tục trong một xã hội đói nghèo, lạc hậu. Nó là “gô”, là “cống” hay có người gọi nó là “hăng gô”(?) những cái tên rất khó bề giải thích. Nó dần dần trở thành đen điu, xấu xí, hèn mọn, móp méo qua những lần bị nung nóng trên bếp lửa của trại tù hay trên đám cỏ khô giữa cánh rừng bạt ngàn hay bên dòng suối nhỏ trong những buổi trưa, để thêm một chút “cải thiện” với nắm rau “tàu bay” hay một mẫu khoai mài.

Những ngày có thăm nuôi, nó cũng chắt chiu nắm mì gói hay chút ruốc thịt mang cho “sang cả” thêm cho bữa ăn khốn khổ của người tù. Những lúc chẳng có gì, một “gô” nước lã cũng đầy bụng. Chiếc lon “gô” ngày nay đã đen điu hình dáng nhưng chưa bao giờ chịu để mình bẩn thỉu, nó đã nhiêu lần được kỳ cọ như chủ nhân đã kỳ cọ cái thân thể gầy còm khốn khổ của người tù dưới suối sau một ngày kiệt sức, vắt mồ hôi.

Đêm về, chiếc lon kia cũng lặng lẽ ở trên đầu nằm cùng với mớ chăn chiếu lẫn lộn với những mảnh nhung y sờn rách, bạc màu, để sáng mai thức dậy trong tiếng kẻng tù gắt gỏng. Chưa có một vật dụng nào thiết thân với người tù như cái lon “gô” đen điu ấy. Bộ áo quần tù có thể thay đổi, đôi dép có thể mòn vẹt, nhưng chiếc lon “gô” đã bền bỉ với thể chất cũng như tấm lòng với người tù qua những đoạn đường gian khổ, những ngày lên nương xuống rẫy, những sáng Mùa Đông giá buốt cũng như những trưa Hè đổ lửa. Nó gần gũi, khắng khít không rời người tù đi đâu nửa bước. Thế mà…

Như những ông già H.O. trên đất Mỹ, tôi thường đẩy xe cho vợ đi chợ mua thức ăn. Những hàng hóa, thực phẩm bày biện trong những ngôi chợ to lớn, chỉ gây ngạc nhiên cho tôi lúc đầu tiên mới đặt chân đến Mỹ cách đây hàng chục năm, bây giờ trở nên quen thuộc và thường tình đến nhàm chán. Những kệ hàng bán đầy khoai lang đủ loại hay những đống khoai mì đầy ắp, những mớ cải xanh, những bó rau muống tươi tắn, những củ su hào mập mạp… không hề nhắc nhở hay cho tôi một suy nghĩ nào về những tháng ngày tù tội, thiếu thốn mà những củ khoai, những nắm rau xanh đó như một nỗi mơ ước thèm thuồng thường nhật của một người tù.

Nhưng có một buổi nọ, khi đẩy chiếc xe đi chợ đến bên kệ hàng bày bán khoai mì, không hiểu sao lần này tôi dừng lại, cổ họng như nghẹn ngào, những giọt nước mắt như muốn trào ra. Trong một thoáng tôi bỗng nhớ lại hình ảnh của nồi sắn luộc không bóc vỏ với những mẫu sắn rơi vãi nhuộm một màu tím sẫm, hình ảnh của người bạn tù say sắn, té từ chỗ ngủ ở tầng trên xuống nền gạch và những tiếng la cầu cứu trong đêm. Những củ sắn nằm trên kệ hàng ở đây, là một món ăn chơi của những người no đủ, không hề có một giá trị gì với đời sống của một con người bình thường này trên mảnh đất giàu có như nước Mỹ.

Chúng ta thật đã nhàm chán với những bữa tiệc tùng sang trọng, mỗi tuần không dám ăn tới ba quả trứng gà, bắt đầu thấy sợ thịt, không bao giờ đụng đến bơ, sữa hay phó mát. Phần tôi, đã nhiều lần đi qua những ngôi chợ khác nhau mà lòng thấy dửng dưng trước những món thực phẩm tầm thường như nhìn một vật xa lạ chưa lần nào gặp gỡ hay gắn bó trong cuộc đời mình.

Phải chăng những vật hèn mọn này, những củ khoai lang, những miếng sắn luộc này đã từng ám ảnh chúng ta trong giấc ngủ ngày nào ? Và tôi nhớ ra một điều, khi được ra khỏi nhà tù, tôi đã quên hẳn và vất bỏ ở xó xỉnh nào đó cái lon “gô” đen đúa, người bạn thân thiết của những tháng ngày tù tội của tôi.
Tôi đã đi một vòng khá xa, từ Bắc vào Nam, từ Tây sang Đông, qua bao nhiêu cánh rừng, qua bao nhiêu eo biển, bỏ lại sau lưng quê hương và quá khứ của tôi. Đôi khi tôi cũng đã quên tôi, nói gì đến những vật tầm thường hèn mọn như thế !

Tạp ghi Huy Phương.

No automatic alt text available.