Học giả: Một cuộc diệt chủng “lạnh” đang diễn ra tại Trung Quốc

About this website

 

TRITHUCVN.NET
Nghiên cứu đăng tải trên tạp chí của Hiệp hội Các học giả Nghiên cứu Diệt chủng Quốc tế IAGS đã gọi cuộc đàn áp Pháp Luân Công tại Trung Quốc là một cuộc diệt chủng “lạnh” (cold genocide) – một danh từ khá mới được sử dụng tr…

Tuyệt thực có ý nghĩa gì trong thế giới hiện đại?

Tuyệt thực có ý nghĩa gì trong thế giới hiện đại?

Có bao giờ bạn tự hỏi, người ta biểu thị sự phản kháng bằng tuyệt thực để làm gì, và vì sao lại có chuyện tuyệt thực?

Tuyệt thực đã có trong lịch sử của loài người từ rất lâu, thậm chí hình thức này đã nằm trong ghi chép của luật pháp Ireland cổ xưa. Nếu ai đó nhận ra điều sai trái của bạn và tự mình nhịn đói đến chết trước cửa nhà bạn, đó là một món nợ danh dự và công lý mà suốt cuộc đời mà bạn phải gánh.

Trong đời sống hiện đại, Mahatma M. Gandhi (1869-1948), người tiên phong của phong trào sự bất tuân dân sự, đã phát động nhiều cuộc tuyệt thực và ăn chay để phản đối sự cai trị hà khắc của người Anh tại Ấn Độ. Con đường bất bạo động của ông tạo ra một giá trị khác của việc biểu tình: Những người tuyên bố tuyệt thực hay tham gia tuyệt thực không mang ý nghĩa của “chống lại”, mà họ hành động dựa trên sức mạnh tinh thần để đòi hỏi việc đạt được một giá trị phổ quát mang tính đại chúng.

Tuyệt thực trong việc phản kháng, bất tuân dân sự thường bị các chế độ độc tài hay cộng sản bóp méo là một hình thái như “nằm vạ”, nhưng thực chất các cuộc “nằm vạ” đó cao quý ở chỗ là các yêu cầu của người tuyệt thực thường nhắm đến một quyền lợi chung của cộng đồng, hay công bằng xã hội. Tuyệt thực được giáo sư Sharman Apt Russell, tác giả của Hunger: An Unnatural History (tạm dịch Nhịn đói: Một lịch sử bất thường) dẫn ra với những ví dụ đáng kính trọng, và thành quả của nó đã thúc đẩy nền văn minh và nhân ái của con người.

Một trong những người tuyệt thực đầu tiên được ghi vào sử sách đầu thế kỷ 20, là trường hợp của bà Marion Wallace-Dunlop (1864-1942). Là người đấu tranh cho nữ quyền và yêu cầu cho phái nữ phải được quyền bỏ phiếu bầu như nam giới, bị bắt giam, bà đã từ chối các bữa ăn. Khi bác sĩ trong trại giam đến yêu cầu bà dùng đến các phần ăn, bà đã tuyên bố “ Ăn, là một quyền tự quyết của tôi”. Bà đã được trả tự do khỏi nhà tù Holloway sau 91 giờ tuyệt thực.

Nhưng cũng có chính quyền bất chấp cái chết của công dân mình. Chẳng hạn như trường hợp Bobby Sands (1954-1981), người đấu tranh cho việc cải thiện chế độ lao tù ở Bắc Ireland vào năm 1981. Đó là vết nhơ khó tả của chính quyền bấy giờ và bị ghi vào sử sách nhân loại như một hệ thống khủng bố con người. Trong mắt thế giới, loại chính quyền để cho công dân của mình tuyệt thực đến chết vì quan điểm khác biệt, là loại vô liêm sỉ.

Việc phản kháng bất bạo động là hình thức phổ biến và được rất nhiều người thực hiện, bao gồm những người không phải là chính trị gia. Mia Farrow – nữ diễn viên điện ảnh cũng đã áp dụng cách tuyệt thực để phản đối cuộc xung đột ở Darfur trong năm 2009. Chính quyền Khartoum (Sudan) đã dùng quân đội và công an để trấn áp và khuất phục dân chúng tại Darfur rằng chỉ có họ mới có quyền duy nhất lãnh đạo đất nước.

“Tuyệt thực trở thành một hình thái văn hóa được tổ chức để kiếm tìm công lý trong thế kỷ 20” (“It has become an established cultural form of seeking justice in the 20th Century), nữ giáo sư Sharman Apt Russell đã khẳng định như vậy, trong sách của mình.

Tuy nhiên bà Russell cũng cảnh báo rằng, sức mạnh của vấn đề tranh đấu bằng tuyệt thực là được sự quan tâm liên tục của công chúng. Sức mạnh của việc tuyệt thực sẽ yếu dần nếu công chúng bị chính quyền tổ chức đánh lãng qua các sự kiện khác như giải trí, các vụ bê bối dàn dựng… Công lý và tính mạng của người tranh đấu phụ thuộc và sức quan tâm và chia sẻ lan rộng của cộng đồng. Thế kỷ 21, cộng đồng mạng là một sức mạnh vô lượng trong việc hậu thuẫn và giải cứu những người chọn đấu tranh bằng tuyệt thực.

Tuyệt thực không phải là hình thức hay nhất trong các loại tranh đấu, tuy nhiên vì hiệu quả của nó, nên tuyệt thực đã được sử dụng bởi cả hai phong trào bạo động và bất bạo động. Ý nghĩa phát đi khắp nơi cho thấy một hình ảnh quan trọng rằng ước muốn ôn hòa và chính nghĩa của người tranh đấu, đại diện cho sự tuyệt vọng và bất tín của nhân dân đối với nhà cầm quyền.

Nhà nghiên cứu xã hội học Michael Biggs từ đại học Oxford ghi nhận rằng thường thì các chính quyền đối diện với các trường hợp tuyệt thực, sẽ không sớm có các hành động nhượng bộ nhằm thách thức sức mạnh tinh thần và chịu đựng của các nhà tranh đấu. Nhưng càng kéo dài, chính quyền càng nhận được số lượng dân chúng căm ghét dành cho họ ngày càng lớn hơn. “Tính bất tuân dân sự và bất hợp tác của người dân dành cho chính quyền ngày càng lớn, đó là khởi đầu cho những hỗn loạn và sụp đổ của một chế độ coi thường mạng sống và tiếng nói của người dân”, Michael Biggs viết.

Trở lại với trường hợp đau lòng của nghị sĩ Bobby Sands, khi ông mất vì suy kiệt từ cuộc tuyệt thực cho việc đòi cải thiện chế độ lao tù, đám tang của ông tại Belfast đã có đến 100.000 tham dự, mở đầu cho tiền đề của một cuộc đổi thay. Trong thời hiện đại, việc đưa đám tang của một người tuyệt thực đến chết vì công lý và cộng đồng, hoặc chỉ tưởng niệm tại nhà, đó là những cam kết dứt khoát về việc không còn chấp nhận chế độ đương nhiệm.

Hầu hết những người đấu tranh bằng tuyệt thực muốn sử dụng mạng sống của mình như một cam kết sẵn sàng trả giá cho đổi thay. Tuyệt thực không có nghĩa là người tranh đấu muốn kết cục là cái chết, nhưng họ sẵn sàng chấp nhận cái chết, như một cột mốc để chính quyền xét lại tự cách cầm quyền của mình, trước sự giám sát và phẫn nộ của nhân dân.

Việc tuyệt thực trong lao tù cũng vẫn hay xảy ra. Vì bởi trong trại giam, khó có hình thức nào biểu tình được, ngoài tuyệt thực. Trong tù, chính phủ chính xác là nơi phải chịu trách nhiệm cho cuộc sống của tù nhân, nếu tù nhân chết, lời kết án sẽ nhắm vào chính phủ từ người dân cũng như các quốc gia khác đang có thông tin theo dõi về tình trạng trên.

Thế kỷ 21, đám đông dân chúng có thể gửi thỉnh nguyện thư cho tòa án quốc tế để xét xử quan chức/chính quyền chịu trách nhiệm về thảm trạng. Trường hợp của Giang Trạch Dân bị tòa án Tây Ban Nha truy nã về việc thảm sát con người (2013) do đơn tố cáo từ một người Tây tạng tên là Thubten Wangchen, là một ví dụ. Theo cáo quyết, tất cả những quốc gia liên đới ngoại giao và chính sách nhân quyền với Tây Ban Nha đều có nghĩa vụ truy nã và bắt giữ Giang Trạch Dân, bất chấp việc ông ta nguyên là Chủ tịch Trung Quốc.

————–
PHỤ LỤC
————–
Một người tuyệt thực có thể kéo dài mạng sống đến bao lâu?

Nếu được uống nước, một người tuyệt thực dẻo dai có thể sống đến 60 ngày, tuy nhiên, với thể trang yếu và mang bệnh, bất kỳ ai cũng có thể chết trong vòng 8 đến 10 ngày. Một trong lý do có thể giúp kéo dài sức chịu đựng, khi glucose – lượng đường trong cơ thể cạn kiệt – thường là từ 3-5 ngày. Cơ thể sẽ chuyển qua việc dùng chất béo có sẵn trong cơ thể để làm năng lượng sinh tồn. Nhưng như vậy đồng nghĩa với việc chất béo xuất hiện trong máu vượt mức, sẽ trở thành nguy hiểm. Tim, gan và thận sẽ là những bộ phận bị tổn thương nhanh trong giai đoạn này.

Theo lời khuyên của các bác sĩ, những người tuyệt thực nên uống nhiều nước, uống vitamin, đường và muối… sẽ có thể kéo dài mạng sống của mình thêm đôi chút. Trong trường hợp của ông Trần Huỳnh Duy Thức ở trại giam Nghệ An hiện nay, được biết ông chỉ uống nước và từ chối mọi thành phần bổ sung.
— Nhạc sĩ: Tuấn Khanh-
Ps: xin chia sẻ rộng rãi ạ!
———
Chúng ta hãy cùng nhau thắp nến và hướng tâm về anh Trần Huỳnh Duy Thức.

Image may contain: night

Lời nguyện của Mahatma Gandhi

Lời nguyện của Mahatma Gandhi

Bạn thân mến, ngày nay, vì quá bận rộn, ta thường quên cầu nguyện với Thiên Chúa, dù không quên xem điện thư. Tôi mạn phép sáng tác tập hình ảnh này, dựa trên lời nguyện của ông Mahatma Gandhi để nhắc nhở mình …

Lạy Chúa, xin giúp con dám nói lên sự thật trước kẻ mạnh,
và đừng nói dối để được kẻ yếu tán thưởng. 

Nếu Chúa cho con tiền bạc, xin đừng lấy đi hạnh phúc của con.
Và nếu Chúa cho con sức mạnh, xin đừng lấy đi khả năng lý luận của con.

Nếu Chúa cho con thành công, xin đừng lấy đi đức khiêm nhu nơi con.
Nếu Chúa cho con đức khiêm nhu, xin đừng lấy đi lòng tự trọng của con.

Xin giúp con nhận biết được khía cạnh khác của mọi sự việc.
Xin đừng để con kết án đối phương phản bội chỉ vì họ không chia sẻ quan điểm của con. 

Xin dạy con yêu thương kẻ khác như yêu thương chính bản thân mình,
Xin dạy con phán đoán chính bản thân mình như phán đoán kẻ khác.

Xin đừng để con say men chiến thắng khi đạt được thành công,
và cũng đừng để con thất vọng khi thất bại.  

Nhưng hãy dạy cho con nhớ rằng:
thất bại là thử thách dẫn đến thành công.  

Xin hãy dạy cho con biết rằng:
lòng khoan dung là mức độ cao nhất của sức mạnh.
Và ý muốn trả thù là biểu hiện đầu tiên của sự yếu đuối.
  

Nếu Chúa không ban cho con của cải,
xin hãy ban cho con lòng trông cậy.

Và nếu Chúa không ban cho con thành công,
xin ban cho con ý chí mạnh mẽ thắng vượt thất bại.

Nếu Chúa không ban cho con sức khỏe,
xin hãy cho con ân sủng Đức Tin.  

Nếu con có làm ai tổn thương,
Xin ban cho con sức mạnh để xin lỗi họ.

Và nếu có ai làm con tổn thương,
Xin cho con lòng độ lượng và sức mạnh để tha lỗi cho họ.

Lạy Chúa, nếu con có quên Ngài, thì lạy Ngài, xin đừng quên con! Amen! 

Làm sao để có thể tha thứ trong gia đình

Làm sao để có thể tha thứ trong gia đình

Bị tổn thương ít nhiều là điều dường như không tránh khỏi trong hầu hết đời sống các đôi vợ chồng và gia đình. Dù những tổn thương có được bộc lộ ra qua những lời lẽ tức giận và phê phán đi nữa hoặc được dấu kín trong âm thầm và lặng lẽ rút lui, chúng cũng gây hậu quả là xói mòn tình cảm và sự tin tưởng.

Thường, đó không là những vấn đề lớn, nhưng chỉ là những chuyện nhỏ nhặt hằng ngày tích tụ lại như những viên gạch đá dần xây nên bức tường, cho tới khi những người phối ngẫu cảm thấy mình bị vong thân đến mức không còn có thể ở gần bên nhau được nữa.

Tha thứ trong hôn nhân phục hồi lại sự hợp nhất ở đâu có chia rẽ. Tạo lại một cặp đôi từ hai con người phối ngẫu đang tức giận hay bị thương tổn. Phải trưởng thành ở một mức nào đó người ta mới có thể tha thứ sau khi bị xúc phạm, bởi lẽ điều đó có nghĩa rằng là một người phối ngẫu chọn đặt người bạn đời trước mặt mình. Việc ấy cho thấy người đó coi việc phục hồi lại mối quan hệ vợ chồng quan trọng hơn là minh giải ai đúng ai sai hay trả thù.

Tha thứ quả là khó khăn. Vì vợ chồng xúc phạm nhau hằng ngày trong chuyện nhỏ chuyện to nên họ phải thực hành sự tha thứ thường xuyên hầu giữ các vết thương tổn không nghiêm trọng thêm.

Ngôn ngữ bộc lộ cũng quan trọng: không chỉ nói “anh rất tiếc” nhưng là “em tha lỗi cho anh nhé!”, không chỉ là “không có gì” nhưng là “em tha thứ cho anh”. Khi thương tổn nghiêm trọng tới mức gây ra sự li thân, cách li, thì sự tha thứ cần thiết cho cả hai phía; nó giải phóng đôi bạn khỏi nỗi căm giận để mà làm lành yêu thương trở lại.

Thế nhưng, tha thứ còn là gì hơn nữa chứ không chỉ nói lên lời tha thứ. Gần gũi nhau về thể xác có thể làm dịu và chữa lành thương đau. Một chút hài hước có thể làm dịu bớt tình hình căng thẳng. Một chút lãng mạng cũng có thể làm mềm lòng con tin cứng cỏi nhất.

Hòa giải cũng tốt cho sức khỏe thể lí và tâm lí của mỗi người. Người ta viết nhiều về tác hại của tâm trạng giận dữ đối với sức khỏe. Nhiều người kể họ ngủ được sâu hơn, bớt căng thẳng, bớt đau bao tử, ít nhức đầu hơn khi để cho cơn giận dữ ra đi và chấp nhận tha thứ. Tha thứ làm giảm nguy cơ bị viêm loét, bị đau tim, và cao máu.

Tha thứ rất quan trọng trong gia đình. Trẻ nhỏ mà biết trong gia đình có căng thẳng, xung đột giữa cha mẹ, bị tác động nặng nề. Khi vợ chồng tha thứ cho nhau, bầu khí gia đình được cải thiện và con cái học gương thứ tha của cha mẹ.

Tha thứ cũng quan trọng trong cộng đoàn. Khi một nạn nhân tha thứ cho người tội phạm hại mình, sự kiện lan truyền ra nhanh chóng vì thái độ đáp trả thông thường là trả thù. Nhưng thách đố tha thứ công khai nhắc chúng ta nhớ đến lời mời gọi và gương của Chúa Giêsu hãy tha thứ cho kẻ xúc phạm đến ta.

Tha thứ đòi hỏi chấp nhận nguy cơ và can đảm. Tha thứ đòi hỏi ta phải có một niềm tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa, và tin vào lòng tốt của người kia. Tha thứ đòi hỏi từ bỏ mình, và nhìn nhận rằng một cuộc hôn nhân được gầy dựng bởi tình yêu, với một lịch sử và một sự cam kết dấn thân, thì quan trọng hơn những dị biệt nhỏ (hoặc to). Điều đó không nhất thiết có nghĩa là chấp nhận hành động xúc phạm hay quên đi thương tổn. Tha thứ là nói rằng “Chúng ta quan trọng hơn tôi”.

Trong đức tin Công giáo, tha thứ và chữa lành là ân sủng của Bí tích hôn nhân. Nhiều cặp chỉ có thể tha thứ sau khi cầu nguyện xin Chúa ban ơn cho biết chấm dứt oán hận, xa lìa nhau. Tha thứ mang lại tự do, sự sống mới cho đôi bạn và cho mối quan hệ của họ.

TIẾN TRÌNH của sự tha thứ có thể đi qua các bước sau đây:

  1. Nhìn nhận mình bị xúc phạm và đau đớn.
    2. Chấp nhận (quyết định) tha thứ.
    3. Nhớ rằng tha thứ cần thời gian (là một tiến trình).
    4. Nhớ rằng tha thứ là ta ‘chết đi một ít’, không dễ dàng cũng không vui thích gì.
    5. Nếu thấy khó tha thứ cứ bước tới và nghĩ về gương tha thứ của các bậc thánh đức như Chúa Giêsu, Oscar Romero, Gioan Phaolô II, … để lấy thêm tinh thần.
    6. Hãy biết tha thứ cho bản thân.
    7. Tưởng nghĩ đến những điều bạn yêu nơi người bạn đời của bạn, và nhận ra mình còn cảm thấy yêu và cảm thương nàng/chàng.
    8. Nhớ lại có lúc nào ai đó đã từng tha thứ cho bạn, và đã biết ơn biết bao vì người ấy đã ân cần với bạn tha thứ cho bạn.
    9. Xét đến những hậu quả ngắn và dài hạn của sự việc chưa chấp nhận tha thứ.
    10. Cầu nguyện xin Chúa ban cho sự can đảm và tình yêu đủ để tha thứ.
    11. Ăn mừng việc hòa giải, và nhận biết ơn sủng ban cho mối quan hệ của bạn.
    12. Khi bạn có nhớ đến nỗi đau của vết thương cũ, hãy nhắc đi nhắc lại sự giao hòa, tha thứ đã làm, tình yêu đã đổi mới.

LỮ-Y

Mật ước Thành Đô 1990 trên đường trở thành hiện thực?

Mật ước Thành Đô 1990 trên đường trở thành hiện thực?

Hoàng Tất Thắng (Danlambao)  Treo cờ nước khác trên tổ quốc Việt Nam, hay chính thức xử dụng đồng CNY tại Việt Nam tức xóa bỏ mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế quốc gia, có phải là các hành động gấp rút sau cùng của Hà Nội, nhằm thực thi hoàn tất mật ước Thành Đô, mà bộ sậu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, thay cho đảng cộng sản Việt Nam lén lút ký kết với Bắc Kinh năm 1990, để đưa tổ quốc Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Hoa vào năm 2020, trong quyết tâm thà mất nước, hơn là mất đảng của bọn chúng. Hỡi nhân dân Việt Nam, chúng ta không còn nhiều thời gian để chần chờ, trong quyết định sinh tử đối với vận mệnh tương lai của đất nước.

*

Tháng 8/1989 chính phủ liên hiệp Ba Lan thành lập sau một cuộc bầu cử dân chủ và với ưu thế tuyệt đối thuộc về công đoàn Đoàn Kết Ba Lan.

Tháng 11/1989 bức tường ô nhục Bá Linh sụp đổ, Erich Honecker, tổng bí thư đảng cộng sản và chủ tịch nhà nước Đông Đức bỏ trốn sang Lienxo và sau đó là Chile.

Tháng 12/1989, Nicolae Ceausescu, tổng bí thư và chủ tịch nhà nước cộng sản Romania bị xử tử, đánh dấu sự kiện lần đầu tiên một lãnh đạo cao nhất của một đảng cộng sản toàn trị, bị hành quyết bởi cuộc cách mạng đứng lên lật đổ chế độ cộng sản của người dân.

Trong khi đó tại thành trì vô sản Liên Sô, tổng bí thư đảng cộng sản mới lên cầm quyền là Mikhail Gorbachev vẫn đang phất cao ngọn cờ Glasnost (cởi mở) và Perestroika (tái cấu trúc), lồng trong bối cảnh bị ghẻ lạnh khi tham dự lễ kỷ niệm 40 năm thành lập nhà nước Đông Đức, cũng như bị Lienxo và các nước cộng sản Đông Âu, đang hoảng loạn vì bảo dữ mùa thu cộng sản (Autumn of Nations) đang tới nên đã hoàn toàn dửng dưng, thờ ơ, nói đúng hơn là không đếm xỉa gì đến nỗ lực đưa ra sáng kiến cần triệu tập gấp một hội nghị quốc tế vô sản, nhằm siết chặt hàng ngũ phe xã hội chủ nghĩa trong tháng 10/1989 của đảng cộng sản Việt Nam (1), khiến cho Nguyễn Văn Linh, cũng như toàn đảng cộng sản Việt Nam bị choáng váng và thực sự hoảng sợ trước viễn cảnh phải đối mặt với vết xe đổ dây chuyền như khối cộng sản Đông Âu.

Hà Nội chỉ còn một giải pháp sau cùng là phải bám vào Trung Cộng, bằng mọi cách phải bình thường hóa được quan hệ với Bắc Kinh sau một thời gian mâu thuẫn, xung đột khá dài như chiến tranh biên giới, xâm chiếm Cambodia… mới mong bảo toàn được đảng và mạng sống cho bộ sậu chế độ toàn trị Việt Nam. Luận điểm làm căn bản cho quyết tâm khấu đầu thiên triều Bắc Kinh của bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam là dù có bành trướng như thế nào đi nữa, Trung Cộng vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa (?). Lê Đức Anh còn quyết liệt hơn khi đánh giá Hoa Kỳ và Tây Phương muốn nhân cơ hội này để xóa bỏ cộng sản, đang xóa Đông Âu và tuyên bố sẽ xóa cộng sản trên toàn thế giới, rõ ràng đây là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm, nên ta phải tìm đồng minh và đồng minh ở đây là Trung Cộng (2).

Trong tâm thế đầu phục đó, Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư đảng cộng sản, Đỗ Mười, chủ tịch hội đồng bộ trưởng và Phạm Văn Đồng, cố vấn trung ương đảng cộng sản Việt Nam, đã sang Thành Đô (Chengdu), thủ phủ của Tứ Xuyên (Sichuan) để hội họp với Giang Trạch Dân, tổng bí thư đảng cộng sản và Lý Bằng, thủ tướng Trung Cộng trong hai ngày 3 và 4/9/1990, với hậu quả thay vì bình thường hóa, đã trở nên phụ thuộc hóa hẳn vào Bắc Kinh (3), hay cụ thể hơn như Nguyễn Cơ Thạch, đương nhiệm bộ trưởng ngoại giao của Hà Nội nói là đã đưa Việt Nam vào một thời kỳ Bắc thuộc mới, thể hiện qua bản mật ước Thành Đô, mà đến nay vẫn bị Hà Nội giấu kín.

Cuối năm 2014, vài hệ thống truyền thông chính thức của Trung Cộng như Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu Thời Báo, thỉnh thoảng tiết lộ một vài tin tức về cuộc họp Thành Đô, trong đó đảng cộng sản Việt Nam đã lộ nguyên hình phản quốc, bán nước, khi cam kết sẵn sàng chấp nhận trở thành một khu tự trị của Trung Cộng như thân phận các dân tộc Mãn, Mông, Tạng, Hồi hiện nay và đảng cộng sản Việt Nam sẽ là một chi bộ hoạt động trong đảng cộng sản Trung Hoa vào năm 2020. Thực hư mức độ khả tín như thế nào chưa rõ, nhưng điểm qua vài “công tác” chuẩn bị của Hà Nội từ đó đến nay, cũng có thể thấy được khoảng cách giữa nguồn tin và thực tế cũng không mấy xa?!

1/ Buông lỏng và tiến tới phối hợp kiểm soát biên giới: Tháng 7/1998, tổng cục du lịch Hà Nội công bố quyết định 229/1998/QĐ-TCDL, nội dung cho du khách Hoa Lục chỉ cần có giấy tờ thông hành của Trung Cộng là được tự do vào mọi nơi trong lãnh thổ Việt Nam, không cần phải có visa, tức mặc nhiên xóa bỏ rào cản biên giới và các biện pháp kiểm soát di trú phía Việt Nam.

Để hợp thức hóa, bộ công an Việt Nam ban hành thêm quyết định 849/2004/QĐ-BCA do thứ trưởng, thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng ký tháng 8/2004, quy định mọi công dân Hoa Lục, đều được quyền xử dụng giấy phép xuất, nhập cảnh của Trung Cộng (tức giấy Peoples Republic of China – Entry and Exit Permit) để được miễn trừ các thủ tục kiểm soát ngoại kiều đi vào Việt Nam, theo ngã đường bộ, đường sắt, đường biển và qua 7 cửa biên giới Móng Cái, Hữu Nghị, Tân Thanh, Thanh Thủy, Tà Lùng, Lào Cay và Ma Lù Thàng.

Tháng 2/2018, Trung Cộng và Việt Cộng khởi sự thực hiện kế hoạch nhập chung sự kiểm soát biên giới của hai lực lượng biên phòng vào một tổ chức. Theo đó, có hai trạm kiểm soát thí điểm được đặt tại cầu Dongxing – Mông Cáy và cầu Hữu Nghị – Đồng Đăng, với lính biên phòng và nhân viên quan thuế hai nước sẽ làm việc chung với nhau (?), trong một khu vực chung sẽ không thuộc về bên nào (?), mà cũng có thể coi như là thuộc về cả hai bên (4), để tương lai chỉ còn một sự kiểm soát chung trên suốt tuyến biên giới dài 1.280km giữa hai nước, che đậy dưới chiêu bài hai quốc gia – một trạm kiểm soát (?). 

Tháng 3/2018 tại Quảng Ninh và đến tháng 9/2018 tại Lạng Sơn, dân chúng Hoa Lục đã có được quyền lái xe lưu thông thẳng qua nội địa Việt Nam. 

2/ Luật đặc khu và di dân ồ ạt: Hiện tượng di dân Trung Cộng tràn vào Việt Nam sau khi có mật ước Thành Đô và dưới vòng kim cô 4 tốt, láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đã phát triển rất mạnh và có số lượng lớn, theo rất nhiều hình thức từ di dân lậu (?), tới các hình thức đầu tư kinh tế công khai, hoặc đầu tư chui thông qua sự cấu kết với giới cầm quyền tại Việt Nam.

Hình thức đầu tư công khai và đưa công nhân di dân lậu vào Việt Nam diễn ra từ năm 1991. Tính đến năm 2009 đã có 657 dự án đầu tư kinh tế trực tiếp của Trung Cộng vào Việt Nam, từ quy mô nhỏ như khách sạn, nhà hàng, tới quy mô lớn các ngành kỹ nghệ chế biến, xây dựng, khai khoáng, khai thác và chế biến nông lâm thủy hải sản, dàn trải từ biên giới, đến vùng duyên hải, từ miền bắc vào miền nam khắp 52 tỉnh, thành trên tổng số 63 tỉnh thành Việt Nam. Nhiều nơi dân Trung Cộng tập trung thành các khu phố biệt lập, cấm dân địa phương và công an cộng sản Việt Nam lai vãng, như ở Quảng Ninh, Hà Tỉnh, Huế, Đà Nẵng, Dak Nông, Bình Thuận, Bình Dương, Trà Vinh và Cà Mau. Đây vừa là những khu kỹ nghệ ôm rác công nghệ kỹ thuật lạc hậu, sát thủ môi trường điển hình của Trung Cộng thải sang, như khai thác Bauxite – Lâm Đồng năm 2007, nhà máy giấy Lee & Man – Hậu Giang 2007, nhà máy thép Formosa 2008, nhà máy phân đạm Cà Mau 2008, trung tâm nhiệt điện than Vĩnh Tân – Bình Thuận 2010, trung tâm nhiệt điện Duyên Hải – Trà Vinh 2016… vừa đồng thời đều là các hang ổ của hàng ngàn, hàng chục ngàn dân nhập cư lậu Trung Cộng ngang nhiên vào cư trú dưới lớp vỏ bọc công nhân kỹ thuật?.

Hình thức đầu tư ngầm, cấu kết với giới cầm quyền Hà Nội, lén lút đưa người vào các khu dân cư riêng tại các vùng biên giới xung yếu, dưới hình thức thuê đất rừng, trồng rừng và khai thác lâm nghiệp dài hạn từ 50 năm trở lên khởi sự từ năm 2000, đến năm 2010 mới lộ ra ánh sáng đôi chút tin tức. Đã có 18 tỉnh cho 10 công ty ngoại quốc thuê gần 4.000km2 đất rừng, trong đó các công ty Trung Cộng đã sở hữu gần 90%, tập trung tại Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Nam, Bình Định, Kontum và Bình Dương.

Đầu thập niên 2010 bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam lại đưa ra “ chủ trương lớn “ xây dựng đặc khu kinh tế, đặt trong khuôn khổ dự luật Đơn vị hành chánh, kinh tế đặc biệt, với ba đặc khu mở đường là Vân Đồn – Quảng Ninh, Bắc Vân Phong – Khánh Hòa và Phú Quốc – Kiên Giang, dự tính cho quốc hội cộng sản biểu quyết vào tháng 6/2018 và trong tinh thần trơ tráo của Nguyễn Thị Kim Ngân, chủ tịch quốc hội, là bộ chính trị đã kết luận rồi, phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật đặc khu.

Vấp phải các phản ứng quyết liệt của người dân, chống âm mưu dọn đường cho dân Tàu tràn vào theo “ chiến thuật biển người “, vì Bắc Kinh sẵn sàng trợ cấp 100.000USD cho mỗi gia đình ở Hoa Lục di dân sang các đặc khu như đã áp dụng với đặc khu Boten của Lào và trong mục 4, điều 54 dự luật đặc khu của Hà Nội nói rõ cho phép công dân của nước láng giềng (?) có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh khi xử dụng giấy thông hành hợp lệ nhập cảnh vào đặc khu Vân Đồn với mục đích du lịch, thì sẽ được miễn thị thực visa! Vậy mà Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư của Hà Nội, vẫn có thừa lì lợm và xảo trá khi cho rằng trong dự thảo luật đặc khu không có một câu, một chữ về Trung Cộng nào cả, họ ( người dân) cố tình hiểu sai và đẩy vấn đề lên (biểu tình chống đối rộng khắp Việt Nam) để chia rẽ quan hệ của Hà Nội với Bắc Kinh, khiến hai đảng cộng sản Trung Cộng và Việt Cộng phải tạm thời đình hoãn dự mưu thiết lập đặc khu.

Năm 2017, tổng dân số Việt Nam theo ghi nhận của quỹ dân số Liên Hiệp Quốc UNFPA là 96.019.879 người, chênh lệch gia tăng đến 2.319.879 người so với thống kê của tổng cục dân số Hà Nội. Sai số này khiến giả thuyết cho rằng nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đang tiếp tay với Bắc Kinh, tạo điều kiện thuận lợi cho một số rất đông kiều dân Trung Cộng tự do tràn sang nhập cư lậu, mua đất, mua nhà, lập phố riêng biệt, lấy vợ bản xứ, sinh con đẻ cái để cư trú vĩnh viễn khắp nơi tại Việt Nam là điều xác thực, đang diễn ra, có lúc công khai, có lúc ngấm ngầm mượn tay, núp bóng người Việt không phải là điều vỏ đoán, hay vô căn cứ. Dù con số chính thức lớn hơn đang là bí mật quốc gia của Hà Nội, nhưng rõ ràng với hơn 2 triệu tên lính xung kích Tàu Phù đang cắm dùi từ năm 1991 trên tuyến tiền phương ở Việt Nam, chắc chắn đây sẽ là các con ngựa thành Troia, thuộc đạo quân thứ năm do Bắc Kinh trực tiếp tổ chức, chỉ huy, có sự tiếp tay dung dưỡng đắc lực của cộng sản Hà Nội, để trở thành những nhát dao trí mạng đâm sau lưng người Việt trong một tương lai không xa.

3/ Chính thức cho sử dụng đồng tiền Trung Cộng tại Việt Nam: Ngày 28/8/2018, thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng ký ban hành thông tư 19/2018/TT-NHNN, đại diện cho đảng cộng sản Việt Nam chính thức hóa việc sử dụng đồng tiền của Trung Cộng là đồng nhân dân tệ RMB (Renminbi) hay CNY (Chinese Yuan), gọi tắt là đồng Yuan, để trực tiếp thanh toán trong mọi giao dịch thương mại, hoặc chuyển khoản qua ngân hàng trong phạm vi 7 tỉnh giáp biên với Trung Cộng là Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Lai Châu, Lào Cay, Cao Bằng, Điện Biên, với hiệu lực bắt đầu từ ngày 12/10/2018.

Xổ toẹt lên mọi pháp lệnh ngoại hối, các nghị định, thông tư từng ra rả và hùng hồn quy định trên lãnh thổ Việt Nam mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, ghi giá… của dân bản địa, hay của kiều dân đều không được thực hiện bằng ngoại hối, thông tư 19 rõ ràng chỉ là một kết thúc cho một chuỗi hành vi dọ dẫm, thực hiện thí điểm đã được Bắc Kinh và Hà Nội phối hợp thực hiện trên đầu người dân Việt Nam ngu ngơ, hay man trá núp dưới những chiêu bài hợp tác để phát triển và cũng cố tình hữu nghị từ năm 2004 đến nay.

Năm 2004, thống đốc ngân hàng nhà nước Hà Nội là Lê Đức Thúy ký ban hành quyết định 689/2004/QĐ-NHNN, ngày 7/6/2004, cho phép cư dân vùng biên giới Việt-Hoa, được trao đổi thương mại, mua bán bằng CNY trong giao dịch song phương.

Tháng 11/2014, phòng thương mãi – công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiệp hội doanh nghiệp Trung Cộng tại Việt Nam và ngân hàng công thương Trung Cộng, phối hợp tạo ấn tượng về việc đồng tiền Trung Cộng sẽ được lưu hành tại Việt Nam, thông qua đề nghị cho thanh toán trực tiếp việc kinh doanh tại Việt Nam bằng đồng Yuan của Trung Cộng.

Chưa nói đến các hậu quả nhãn tiền khi lưu hành chính thức đồng CNY tại Việt Nam, như hoàn toàn bị mất khả năng điều động chính sách tiền tệ (không thể phá giá đồng nội tệ VNĐ khi cần thiết) do đã bị đặt vào một hoàn cảnh không khác gì mấy vai trò chư hầu, thuộc quốc, sẽ mất khả năng kiểm soát tiền tệ, do đồng tiền mạnh (CNY) sẽ đuổi đồng tiền yếu (VNĐ) ra khỏi thị trường, hay việc mất tin tưởng vào đồng nội tệ sẽ tạo ra tình trạng mất vốn, rút chạy ngoại tệ (Capital Flight) ra khỏi nước, gây hủy hoại khả năng trả nợ, mất khả năng nhập cảng, đẩy hối suất lên cao và gây ra lạm phát (5), nói một cách nôm na, việc cộng sản cho thanh toán trực tiếp bằng đồng Yuan tại Việt Nam, cũng như thể cho treo cờ Trung Cộng, thay cho cờ chính thức của Việt Cộng ở trên đất Việt Nam (6).

“…Nhân dân tệ hóa trong vùng biên giới phía bắc là một chính sách lớn, không chỉ liên quan đến an ninh tiền tệ mà cả về quốc phòng của Việt Nam, không thể chỉ được quyết định bởi một cấp thấp như thống đốc Lê Minh Hưng, mà phải là ở những cấp rất cao. Phải chăng việc dùng đồng CNY để thanh toán ở các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam là một trong những cam kết, nằm trong các văn kiện mà Nguyễn Phú Trọng đã ký kết với Tập Cận Bình và nhiều khả năng là Tập mới nhắc nhở Trần Quốc Vượng vào tháng 8/2018 để truyền đạt lại cho Trọng phải thực hiện gấp cam kết trên…”(Phạm Chí Dũng, bđd).

Treo cờ nước khác trên tổ quốc Việt Nam, hay chính thức sử dụng đồng CNY tại Việt Nam tức xóa bỏ mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế quốc gia, có phải là các hành động gấp rút sau cùng của Hà Nội, nhằm thực thi hoàn tất mật ước Thành Đô, mà bộ sậu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, thay cho đảng cộng sản Việt Nam lén lút ký kết với Bắc Kinh năm 1990, để đưa tổ quốc Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Hoa vào năm 2020, trong quyết tâm thà mất nước, hơn là mất đảng của bọn chúng. Hỡi nhân dân Việt Nam, chúng ta không còn nhiều thời gian để chần chờ, trong quyết định sinh tử đối với vận mệnh tương lai của đất nước.

9/2018.

Hoàng Tất Thắng

danlambaovn.blogspot.com

__________________________________

Chú thích:

(1) Huy Đức – Trương Huy San, Bên thắng cuộc, 2012. 

(2) & (3) Trần Quang Cơ, Hồi ức và Suy nghĩ, 2001. 

(4) Kinling Lo, China and Việt Nam close to landmark deal on streamlined joint border checkpoint : Two countries, one inspection system supports Beijing ambitions to build closer trade and diplomatic links with Asean nations, South China Morning Post, 2/2018.

(5) Vũ Quang Việt, Về đề nghị của phía TQ được dùng Nhân dân tệ trong thanh toán ở nội địa Việt Nam, 2015.

(6) Phạm Chi Lan, Đề xuất thanh toán bằng nhân dân tệ tại Việt Nam: Sao có thể treo cờ nước khác?, 1/2015.

(7) Phạm Chí Dũng, Sáp nhập tiền tệ để tiến tới sáp nhập lãnh thổ, VOA, 6/9/2018. 

Phan Châu Trinh và con đường cứu nước

Phan Châu Trinh và con đường cứu nước

Nguyễn Trang Nhung
RFA
2018-09-09

Phan Châu Trinh (9/9/1872 – 24/3/1926)

Phan Châu Trinh (9/9/1872 – 24/3/1926)

 Blogger Nguyễn Trang Nhung

(Bài viết nhân ngày sinh của Phan Châu Trinh, 9/9/1872 – 9/9/2018)

Phan Châu Trinh (1872 – 1926) là một trong những nhân vật lịch sử điển hình của thế kỷ 19, 20. Ông là một nhà văn hóa, một nhà tư tưởng, và một nhà cách mạng. Sinh ra và trưởng thành trong bối cảnh đất nước bị đô hộ bởi thực dân Pháp, với lòng yêu nước nồng nàn, ông đã trăn trở về con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Không giống như con đường của bao chí sĩ khác, con đường của ông rất đỗi khác biệt, thể hiện tầm nhìn lớn lao và chứa đựng nhiều thách thức.

Con đường ấy có thể được gọi tên bằng phương châm của phong trào Duy Tân mà ông đề xướng và thúc đẩy, đó là Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh hay “tự lực khai hóa”. Khai dân trí là bỏ lối học tầm chương trích cú, theo học chữ quốc ngữ, khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục. Chấn dân khí là hun đúc nơi mỗi cá nhân tinh thần tự lực tự cường, sự hiểu biết về quyền lợi của mình, cùng lòng can đảm để lên án cái xấu, cái ác. Hậu dân sinh là khuyến khích người dân học nghề, khai hoang, làm vườn, sản xuất và giao thương.[1]

Tầm nhìn của ông hay cái đích của con đường ấy rất rõ ràng, đó là một nền độc lập, tự do của dân tộc với nền tảng là độc lập, tự do của cá nhân, mà nền tảng độc lập, tự do của cá nhân lại cốt ở sự học hành và mở mang về trí tuệ

Tầm nhìn của ông hay cái đích của con đường ấy rất rõ ràng, đó là một nền độc lập, tự do của dân tộc với nền tảng là độc lập, tự do của cá nhân, mà nền tảng độc lập, tự do của cá nhân lại cốt ở sự học hành và mở mang về trí tuệ. Ông là chí sĩ hiếm hoi (nếu không phải là duy nhất?) chủ trương con đường hòa bình ấy. Cùng thời với ông, nhiều chí sĩ chủ trương bạo lực, điển hình là Phan Bội Châu. Đối với chủ trương này, ông đã thể hiện lập trường của mình, rằng “Không bạo động, bạo động ắt chết. Không hướng ngoại, hướng ngoại là ngu”.[2]

Phan Châu Trinh (9/9/1872 – 24/3/1926)

Phan Châu Trinh nhìn ra nguyên nhân của sự mất nước chính là ở sự yếu kém về tri thức lẫn về khí chất của dân tộc. Theo ông, Việt Nam đã đi sau thế giới cả một thời đại văn minh. Nếu dùng bạo lực cách mạng, đất nước có độc lập, tự do đi nữa thì chưa chắc người dân đã có độc lập, tự do về mặt cá nhân. Vì vậy, con đường đúng đắn phải là tiếp thu văn minh phương Tây, trong đó có văn minh của nước Pháp. Do đó, Việt Nam có thể tạm thời dựa vào Pháp mà cầu tiến bộ, rồi từ đó phục hồi nền độc lập, tự do của quốc gia.

Có thể thấy, đây là con đường đòi hỏi thay đổi tận gốc rễ về văn hóa và con người Việt Nam. Sự thay đổi này không hề dễ dàng, thậm chí vô cùng khó khăn. Trong tác phẩm ‘Tinh hồn Quốc ca I’, ông đã chỉ ra những điều bi ai của dân tộc Việt Nam, gắn với các tính cách lười biếng, bê tha, mê tín, đố kỵ, tham sống sợ chết, cục bộ địa phương, chỉ biết đến bản thân, gia đình mà không biết đến quốc gia, v.v. Trong diễn văn ‘Đạo đức và luân lý Đông Tây’, ông đã cho thấy nền đạo đức và luân lý của đất nước đổ nát hết cả…

Đi con đường của mình, ông đã kết giao với nhiều chí sĩ, tìm kiếm những người cùng chí hướng khi chủ trương của mình yếu thế hơn nhiều so với chủ trương bạo lực. Năm 1906, ông cùng Lương Văn Can và một số chí sĩ Bắc Hà khác thành lập cơ sở Duy Tân ở miền Bắc. Cũng năm ấy, ông cùng Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng tạo thành “bộ ba Quảng Nam” nổi tiếng, đi khắp tỉnh này và các tỉnh lân cận để vận động phong trào Duy Tân nhằm cải cách giáo dục. Trong khi đó, đối với các chí sĩ chủ trương bạo lực, ông chỉ phối hợp với họ ở việc viết sách, đề xướng dân quyền mà thôi.

Để thức tỉnh dân chúng, ông đã làm các bài thơ, văn yêu nước, kêu gọi sự đoàn kết, truyền bá tư tưởng mới, vận động cải cách. Ông đã diễn thuyết nhiều nơi nhằm thuyết phục dân chúng đi theo các giá trị mới, trong đó có dân quyền, dân chủ, tự do. Ông đã khuyến khích đồng bào mở trường dạy học, lập các hội buôn. Ông đã hô hào thanh niên vận Âu phục, cắt tóc ngắn. Ông cũng kêu gọi mọi người dùng hàng hóa nội địa để giúp kinh tế trong nước phát triển.[3] Ông còn vận động dân chúng khôi phục nền đạo đức và luân lý.

Phong trào Duy Tân đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của nhiều tầng lớp nhân dân. Nhiều nông hội, buôn hội, xưởng dệt, trường học theo lối mới đã ra đời. Người dân đua nhau cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn, bỏ rượu chè, bài hủ tục, v.v.[4] Bên cạnh những thành quả của cá nhân nói riêng và phong trào nói chung, Phan Châu Trinh cũng có những thất bại. Một trong những thất bại ấy là việc gửi thư cho toàn quyền Paul Beau vào năm 1906 yêu cầu chính phủ Pháp cải cách chính trị và thành thực khai hóa cho người dân Việt Nam. Yêu cầu này, tiếc thay, đã không được đáp ứng.

Hơn một thế kỷ qua, con đường của Phan Châu Trinh từng bị xem là cải lương, song theo thời gian, đã dần được chân nhận là đi trước thời đại.

Khi cuộc vận động cải cách dâng cao và dẫn đến các cuộc biểu tình rộng lớn chống sưu cao thuế nặng với quy mô hàng vạn người vào năm 1908, Pháp đã nhận thấy cần phải dập tắt phong trào và tiêu diệt những người đứng đầu của nó. Một số lãnh đạo của phong trào đã bị xử tử, trong đó có Trần Quý Cáp. Phan Châu Trinh cũng bị kết án tử hình, nhưng may mắn hơn, được ân xá và sau đó, bị đày ra Côn Đảo. Phong trào từ chỗ ôn hòa đã chuyển dần sang bạo động, đối đầu, và kết quả bị đàn áp dường như là tất yếu.

Cho đến cuối đời, qua bao trở ngại, kể cả bệnh tật và tù đày, Phan Châu Trinh vẫn tiếp tục đi con đường của mình, có khi là đơn độc, có khi là cùng với những người khác, dù không còn đạt được những thành quả như vào thời của phong trào Duy Tân. Chính bởi sức ảnh hưởng và khả năng truyền cảm hứng của ông mà khi ông mất, 100,000 người, tức gần 29% dân số Sài Gòn, Chợ Lớn hồi đó đưa tiễn linh cữu của ông trong sự thành kính và thương tiếc.[5] Di sản mà ông để lại là tinh thần, là tư tưởng, cũng như là con đường cho thế hệ hậu sinh.

Hơn một thế kỷ qua, con đường của Phan Châu Trinh từng bị xem là cải lương, song theo thời gian, đã dần được chân nhận là đi trước thời đại.

Ngày nay, dù bối cảnh của quốc gia đã đổi thay song những nan đề về văn hóa và con người vẫn còn như trước. Đó là chưa kể những nan đề về kinh tế, chính trị, v.v. Theo cách nào đi nữa, những nan đề luôn dẫn chúng ta trở lại con đường của Phan Châu Trinh, và vì vậy Khai Dân trí, Chấn Dân khí, Hậu dân sinh vẫn là sứ mệnh cấp thiết. Để đi tiếp con đường này, mỗi cá nhân cần ý thức rõ bổn phận của mình là mở mang tri thức, trở nên tự cường, độc lập, tự do, từ đó góp phần làm cho đất nước thực sự tự cường, độc lập, tự do.

Khép lại, người viết xin dẫn một lời bình của nhà sử học người Pháp Daniel Hémery về Phan Châu Trinh, rằng: “Khuôn mặt vĩ đại của Phan Châu Trinh (…) là khuôn mặt đáng chú ý nhất trong lịch sử văn hoá và chính trị Việt Nam ở thế kỷ XX, bởi chính ông đã xác định một cách rành mạch, sáng rõ nhất những nan đề đặt ra lâu dài mà các thế hệ người Việt Nam sẽ phải – và mãi mãi còn phải – đảm nhận”.[6]

Chú thích:

[1] Phan Châu Trinh
http://www.chungta.com/tg/tac-gia/phan-chau-trinh.html

[2] “Bất bạo động, bạo động tắc tử. Bái vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu.” Phan Châu Trinh đã nói như vậy với Phan Bội Châu khi hai người gạp nhau tại Nhật Bản vào năm 1906

[3] Như [1]

[4] Đinh Xuân Lâm (2006), Phan Châu Trinh – Cuộc đời và sự nghiệp
http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/phan_chau_trinh-cuoc_doi_va_su…

[5] Nguyên Ngọc (2006), Phan Châu Trinh và lòng tin vào sức mạnh của tri thức văn hóa 
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Luan-Ly/Phan_Chau_Tr…

[6] Như [1]

Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

BIỆT PHỦ TƯỚNG KIỀN

Võ Văn Tạo

BIỆT PHỦ TƯỚNG KIỀN

Hoàng Kiền là ai? Lâu nay chẳng ai nghe danh. Cộng đồng mạng mới đây chỉ biết đến thiếu tướng Hoàng Kiền, cựu Tư lệnh Binh chủng Công binh, khi y lớn giọng mạt sát tướng Lê Mã Lương và cuốn sách “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” do tướng Lương chủ biên. Cựu chiến binh Gạc Ma và công chúng đều ngạc nhiên, vô cùng bất bình tướng Kiền. Nhiều người tin rằng chỉ có hạng tay sai bành trướng Bắc Kinh tham tàn mới chống đối cuốn sách dữ dội đến vậy.

Không chỉ vậy, nhân vụ lùm xùm này, công chúng còn biết đến một cựu Tư lệnh Binh chủng Công binh, chủ đầu tư (bên A) các công trình quốc phòng, đặc biệt tại Trường Sa và toàn tuyến phòng thủ biên giới, hải đảo, cũng là chủ nhân cái biệt phủ “hoành tá tràng” hàng trăm tỷ đồng, núp danh “Bảo tàng đồng quê”, tự vênh vang, hợm hĩnh, trơ tráo.

Ngà voi, sừng hươu, đầu bò tót, tượng và nội thất gỗ quý rừng tự nhiên chạm trổ cầu kỳ… phô trương một thứ văn hóa lùn kệch cỡm kiểu Nghị Quế, Nông Đức Mọi…

Dĩ nhiên, ai cũng biết, biệt phủ hoành tráng bao nhiêu, công trình quốc phòng mong manh bấy nhiêu.

Một cán bộ quân đội biết rõ chân tướng Hoàng Kiền rất bức xúc, vừa gửi đăng bài viết dưới đây:

—–

PHÁT HIỆN CHẤN ĐỘNG : Thiếu tướng về hưu Hoàng Kiền – Tề Thiên Đại Thánh hóa thân!

Mấy hôm nay thiên hạ tròn mắt ngạc nhiên bàn tán rầm rầm vì phát hiện ông thiếu tướng Hoàng Kiền có tài ngang Tề Thiên Đại Thánh!

Không có tài sao khi chỉ là một thiếu tướng èng èng nghỉ hưu mà bỗng biến hóa ra cả tòa “bảo tàng đồng quê” cho tới phủ đệ, nhà vườn?!
Thiên hạ lao xao phán:

Cuối cùng thì ông tướng “anh hùng mà không mấy ai biết” cũng lộ mặt tham nhũng. Không tham nhũng quyền lực thì cũng tham nhũng tiền bạc, vì dưới dạng nào thì tiền bạc cũng không thể từ trên trời rơi xuống. Cũng chưa nghe tướng Hoàng Kiền chạy xe ôm hay buôn chổi đót bao giờ!

“Bảo tàng”, biệt phủ, nhà vườn xa hoa rực rỡ ấy, tất cũng từ những đồng tiền mồ hôi xương máu của nhân dân chắt chiu gom góp cho quân đội nuôi quân đánh giặc, rồi biến hóa ra thế mà thôi!

Có tật, giật mình nên tướng Kiền tức khắc đăng đàn giống Thiên Bồng Nguyên Súy Trư Ngộ Năng bỗng nhiên tự thú với sư phụ, sư huynh về nguồn gốc và lý do có mấy lạng bạc vẫn dấu trong tai(!) 

Sau một hồi biện hộ hằm bà lằng về những cái “lý” cho biệt phủ và những công trình kia. Để thêm điểm tựa cho sự “chính danh” cái “Bảo tàng” của riêng rất hoành tráng đó, ông Kiền đã tự tin cho thiên hạ biết khi làm “bảo tàng” cho mình, ông đã báo cáo Bộ trưởng Quốc phòng rồi!?

Tưởng báo cáo Bộ trưởng nào, hóa ra là báo cáo ông “đại tướng tâm tư” vốn nổi tiếng với câu nói đầy hoan hỷ bên hành lang QH.

Khi được hỏi về tình hình nóng bỏng ở Biển Đông, ông lại phấn khởi kể về sự “trọng thị” tuyệt vời mà “bạn” đã giành cho ông và tùy tùng hơn 20 tướng tá trong chuyến thăm hữu nghị vừa qua. Rồi ông mới nói: ở Trường Sa, “bạn” xây, ta cũng xây. Đều là xây để phục vụ đời sống bộ đội và cứu hộ ngư dân đánh cá! 

Đó là lời ông đại tướng nói về việc giặc đang ồ ạt bồi lấn trái phép các đảo đá chúng cưỡng chiếm trái phép của ta để biến thành cứ điểm quân sự, có sân bay, ra đa, tên lửa chĩa vào đất ta! 

Các nhà báo không tin nổi vào tai mình, trố mắt ngạc nhiên.

Độc giả đọc tin thì bàng hoàng lo lắng, cứ ngỡ mình mơ chưa tỉnh. 
Còn ông Bộ trưởng QP trả lời báo chí xong, lại xoa tay sảng khoái mỉm cười!

Chuyện “bạn” và “ta” ở Trường Sa là vậy. Còn chuyện cuộc sống cá nhân và cấp độ giàu sang hay nghèo túng của cha con ông Bộ trưởng khét tiếng kia, ta ko cần phải nói ngược hay cãi xuôi thì toàn quân, toàn dân, chẳng ai lạ!

Cha ông ta đã đúc kết: “Ngưu tầm ngưu. Mã tầm mã”.
“Giấy không gói được lửa”. Lời bao biện hào nhoáng không thể che dấu bản chất biệt phủ, bảo tàng riêng, nhà thờ họ hoành tráng xa hoa.

Than ôi, lại thương các tướng lĩnh thời cụ Hồ, bác Giáp! Suốt đời cầm quân xông pha trận mạc. Máu chảy đầu rơi, tơi bời lửa khói mà đa số chỉ có căn hộ tập thể nhà nước cho mượn hay chỉ mái nhà nhỏ đơn sơ. Thu nhập của thế hệ “tướng vô tư” khác thu nhập của thế hệ “tướng tâm tư” ở chỗ chỉ vừa đủ đưa vợ nuôi con ăn học. Dẫu thời ấy đồng lương tướng so với mặt bằng xã hội cũng là cao rất nhiều. Nhưng, dù có phép quảng đại thần thông cũng không thể đẻ ra biệt phủ, nhà vườn, lầu cao, biển sáng, vàng son rực rỡ như các “tướng tâm tư” của Phùng tướng quân thời buổi bây giờ!

Muốn đặt câu hỏi:

Đồng lương chỉ có vậy, mà sao các “tướng tâm tư” nhà ta như tướng Hoàng Kiền lại có tài hóa phép như Tề Thiên Đại Thánh ra nhiều tài sản kinh hoàng thế nhỉ?!
Hỏi, cũng đành tự trả lời:

Nếu không tham nhũng, tham ô thì nhất định các chuyện biến hóa thần thông trong truyện Tây Du là có thật!?
Chao ôi! 
Thiếu tướng Hoàng Kiền ơi!😢

(Và nhà văn Phạm Thông của đất Quảng trung dũng kiên cường ơi! Tôi “gọi thầm tên anh” ở đây là có lý do cả đấy. Bởi tôi ko quên cái chuẩn mực anh đề ra để phân biệt người hay, kẻ dở rất giản dị mà chính xác vô cùng. Anh nói đại ý “Nếu cán bộ cách mạng mà giàu có quá trời so với nhân dân thì với lý do nào thì cũng là hỏng hẳn” .
Căn theo chuẩn của anh thì “thần tượng” của anh đã đổ nhào rồi!)

Image may contain: 2 people, people smiling, hat and closeup
Image may contain: 1 person, smiling, indoor
Image may contain: 2 people, people smiling, indoor
Image may contain: plant, flower, tree, outdoor and nature
Image may contain: sky, cloud, tree, plant, outdoor and nature

10 Cách Rất Đời Thường Có Thể “Chứng Minh” Sự Tồn Tại Của Thiên Chúa

Chắc chắn bạn đã từng kinh nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời bạn; và đó là cách tuyệt vời để hiểu và diễn giải sự hiện hữu sống động của Ngài. Và đây, chúng tôi đưa ra 10 điều rất đỗi thân quen nhưng cho thấy Thiên Chúa hiện diện trong cuộc đời mỗi người.
https://dongten.net/…/10-cach-rat-doi-thuong-co-the-chung-…/

TRẦN HUỲNH DUY THỨC ngày tuyệt thực thứ 30 trong trại tù giam !!!

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh.

TRẦN HUỲNH DUY THỨC ngày tuyệt thực thứ 30 trong trại tù giam !!!

Hàng chục người tham gia đồng hành tuyệt thực với Trần Huỳnh Duy Thức.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh

Tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức đang bước đến ngày thứ 30, tròn một tháng tuyệt thực tại trại giam số 6 Nghệ An.

Số người ghi danh đồng hành tuyệt thực cùng Trần Huỳnh Duy Thức đã vượt qua con số 60, và có ý kiến kêu gọi tổ chức tuyệt thực tập thể để ủng hộ.

Theo các báo cáo y khoa, ngưỡng chịu đựng của một người tuyệt thực từ 30 cho đến 45 ngày.

Gia đinh của ông Trần Huỳnh Duy Thức cho biết, mỗi ngày đều có người của gia đình gọi điện thoại vào trại giam số 6 Nghệ An để thăm hỏi tình hình sức khỏe của ông Thức. Tuy nhiên điều kỳ lạ là số điện thoại chính của trại giam đã luôn có chuông mà không hề có ai bắt máy. Điều này đã xảy ra kể từ khi ông Thức bắt đầu tuyệt thực được một tuần.

Vào ngày thứ 22 tuyệt thực của ông Thức, tổ chức Amnesty International, văn phòng tại Thái Lan đã phát động chiến dịch ủng hộ cho tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức, có tên “Tôi Thức để #Free Thức”. Chương trình này kêu gọi các người dùng facebook quan tâm đến tình trạng của ông Thức hãy đổi hình đại diện (avatar) do Amnesty International, văn phòng Thái Lan đề nghị.

Văn bản phát động chiến dịch này ghi rằng:

“Trần Huỳnh Duy Thức đang tuyệt thực ở trong tù để phản đối sự ngược đãi và việc công an ép ông phải nhận tội. Chúng tôi đồng hành cùng với gia đình của ông và kêu gọi mọi người ủng hộ bằng cách share hoặc sử dụng hình ảnh này làm hình đại diện cho trang cá nhân của mình.

Trần Huỳnh Duy Thức là một kĩ sư và là một doanh nhân ở thành phố Hồ Chí Minh. Ông sáng lập ra EIS, một công ty chuyên về cung cấp dịch vụ internet cho điện thoại di động ở Việt Nam có chi nhánh ở Singapore và Mỹ. Ông sau đó trở thành một nhà hoạt động và tập trung vào việc viết blog về tình hình chính trị xã hội ở Việt Nam và góp ý cho chính phủ về các hướng cải cách. Ông cũng thành lập phong trào Con Đường Việt Nam, một tổ chức nhằm cổ xúy các giá trị của nhân quyền và dân chủ.

Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt và kết án 16 năm tù vào năm 2010 với cáo buộc “âm mưu lật đổ chính quyền”. Ông là một trong những tù nhân lương tâm có tên trong danh sách mà chúng tôi công bố hồi tháng Tư năm nay”.

Cùng với lời vận động này, gia đình của ông Trần Huỳnh Duy Thức cũng phát đi lá thư ngỏ, kêu gọi mọi giới trong và ngoài nước hãy quan tâm đến tình trạng của ông Thức. Và đây có lẽ là lá thư ngỏ đầu tiên phát đi không có ý định gửi cho bất kỳ một cơ quan nào nhà nước hay nhân vật lãnh đạo hiện thời, mà chỉ nhằm gửi đến người dân Việt Nam. Nói mọi cách nào đó, lá thư ngỏ này thể hiện tuyệt đối tinh thần kiên cường của ông Trần Huỳnh Duy Thức là “không van nài, không xin xỏ”.

Lời kêu gọi của thư ngỏ nhấn mạnh rằng:

“Hãy gọi tên Trần Huỳnh Duy Thức, như một cách gọi tên công lý phải được thực thi, trên mọi trang mạng xã hội, mọi phương tiện giao tiếp của thế giới phẳng.

Hãy nhắc tên Trần Huỳnh Duy Thức ở mọi cơ hội trò chuyện trực tiếp và giải thích về quyền con người và đạo đức của một nhà cầm quyền.

Xin mọi thánh lễ Công giáo, nhật tụng Phật giáo hay các buổi cầu nguyện của Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành… hãy dành chút thời gian đồng hành cùng Trần Huỳnh Duy Thức trong việc đòi công lý, bày tỏ một chính kiến ôn hoà trước một hiện thực bị che giấu.

Lên tiếng cho Trần Huỳnh Duy Thức hôm nay, là lên tiếng cho chúng ta và quê hương ngày mai, với niềm tin mãnh liệt rằng con người Việt Nam không bao giờ từ chối lẽ phải, không bao giờ né tránh sự thật”.

Ngay sau khi thư ngỏ này phát đi, danh sách những người quyết đồng hành tuyệt thực cùng với Trần Huỳnh Duy Thức đã nhanh chóng tăng lên từng ngày, hiện đã vượt con số 60 người, bao gồm, sinh viên, công nhân, thầy tu, bác sĩ… trong số đó có những người quen thuộc với giới bất đồng chính kiến như tù nhân lương tâm Lê Thăng Long, Điều phối viên Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm Phạm Bá Hải, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, nhà văn Phạm Đình Trọng…

Thầy Thích Ngộ Chánh, một trong những người đầu tiên tuyệt thực đồng hành, từ Lâm Đồng, nói rằng “Những gì ông Thức đang làm, cho thấy ông là một người vô ngã, vị tha với tấm lòng cho quê hương đất nước, vì vậy tôi đồng hành là để kêu gọi thêm sự quan tâm đến trường hợp của ông”.

Vy Nguyễn, một trong những người tuyệt thực đồng hành cho biết không chỉ riêng cô, mà cả gia đình đều ủng hộ việc cô lên tiếng đồng hành với ông Trần Huỳnh Duy Thức. Thậm chí các anh của cô cũng sẳn sàng tuyệt thực đồng hành bên cạnh cô.

Có tin, có thể một số người tuyệt thực đồng hành cùng ông Trần Huỳnh Duy Thức sẽ tập hợp tuyệt thực, bất chấp việc có thể bị đàn áp.

Nói trên đài Á Châu Tự Do, bà Trần Diệu Liên, chị gái TNLT Trần Huỳnh Duy Thức nới rằng gia đình hết sức cảm động và ấm lòng khi thấy có nhiều người chia sẻ ước mơ và hoài bão của ông Trần Huỳnh Duy Thức trong lúc này. “Chỉ cần mỗi con người với một chút sức,thì chính quyền sẽ phải lắng nghe và đối thoại”, bà Trần Diệu Liên nói.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh

Nguồn: https://nhacsituankhanh.wordpress.com/…/hang-chuc-nguoi-th…/

Image may contain: 11 people, text

Đương đầu với sự đau khổ của tha nhân

Đương đầu với sự đau khổ của tha nhân

Chúng ta muốn thực hiện một kế hoạch cho Thiên Chúa, chúng ta phải hành động trước, thường thường với một sự táo bạo, có chút điên rồ, chút liều lĩnh… Khi chúng ta đặt tay chân và trái tim cùng khối óc vào đấy thì Chúa sẽ thực hiện kế hoạch theo ý Ngài. (Tôi tin tưởng chắc chắn như thế).

Mose đã phải giơ tay lên, trước khi Chúa cho nước biển rẽ đôi ra.

Nước phải đổ đầy chum, thì Chúa mới biến thành rượu.

Đứng trước sự đau khổ của những người bị lạm dụng tình dục, chúng ta cũng đau nỗi đau của họ (kể cả nỗi đau khổ của người lạm dụng) chúng ta sẽ làm được gì???

Chúng ta có dám tin rằng sự đau khổ nào cũng có thể được đương đầu trong sự trong sáng và hy vọng: Đức Giêsu Kitô. ???

  • Dạ vâng! Như Đức Giêsu Kitô đã ôm lấy sự phản bội của Giuđa, thì chúng ta cũng dám đương đầu với sự việc đã xảy ra, với một niềm tin tưởng rằng, chúng có thể mang lại hoa trái tươi tốt cho Giáo Hội!
  • Dạ vâng, thưa nơi đâu tội lỗi gây ra đau khổ nơi đó đầy ân sủng của Thiên Chúa. Ôi tội hồng phúc!!! Lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa là ân sủng biến đổi tội lỗi của chúng ta trở thành vết tích Tình Yêu của Thiên Chúa.

Chúng ta tự hỏi rằng: chúng ta có dám chia sẻ nỗi thất vọng của những người lạm dụng và những người bị lạm dụng tình dục không?

Chúng ta có dám làm tất cả cho mối thất vọng này, mối thất vọng đeo đuổi các nạn nhân bị lạm dụng tình dục, trong suốt hàng nhiều chục năm, trong khi họ tìm kiếm sự đồng hành mục vụ trong sự cảm thông, để an ủi họ trong những đêm tối này của chính họ?

Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta sự khôn ngoan vượt trên cả kiến thức,

và cho chúng ta làm việc quảng đại với sự tự do đích thực và sự sáng tạo khiêm nhường để nuôi dưỡng vườn nho tốt của Thiên Chúa.(Lời DGH Francis 12.01.2013)

Đây là lúc Giáo Hội Công Giáo đang đau khổ ôm 34 vị giám mục ở Chilé xin từ chức vì trọng tội sách nhiễu tình dục.

và hiện giờ (tháng 8.2018) Giáo Hội một lần nữa, đau khổ giang đôi tay ôm hàng giáo sĩ từ Hồng Y, Giám mục và 300 linh mục mang trọng tội sách nhiễu tình dục, và ôm ấp an ủi cả ngàn trẻ em bị tổn thương trong 6 giáo phận tại Pensilvania, USA.

Đức Thánh Cha Francis đang là người giang đôi tay ôm ấp nỗi đau khổ này của Giáo Hội và của chính các vị đó, và cả với 1000 người bị lợi dụng, bị sách nhiễu, với niềm hy vọng vào Ánh Sáng Đức Kitô!

Đứng trước vấn nạn này, chúng ta không thể không sẻ chia nỗi đau khổ của vị chủ chăn đáng kính là Đức Giáo Hoàng Francis đương nhiệm. Hãy cùng ngài ăn năn sám hối tội lỗi của mình và của anh em đã phạm những tội này.

Đó là những gì ta phải làm hiện nay, chúng ta, những anh chị em của họ trong Đức Kitô; cố gắng chia sẻ nỗi đau của họ, chia sẻ màn đêm tăm tối của họ, nỗi thất vọng của họ, những người phạm tội và cả những người bị lạm dụng. Với họ, hy vọng chúng ta có thể khám phá ra niềm hy vọng mới cho họ.

Đây là lúc mà toàn bộ niềm hy vọng như đã khai mở cho chúng ta cử hành bí tích thương yêu của niềm hy vọng.

Đây không chỉ là một hình thức bày tỏ ra bên ngoài, mà chúng ta bày tỏ nỗi cảm thông và tha thứ từ đáy lòng chân thực cho tất cả nạn nhân và cho những phạm nhân, là chúng ta làm tốt công việc nuôi dưỡng và chăm sóc vườn nho, hợp với giấc mơ của Thiên Chúa.

Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không ban cho các ông nữa (tá điền đã giết các đầy tớ và giết con của chủ vuờn)

mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.(Mt 21,43b)

Đây là cơ hội để Giáo Hội thanh tẩy trở nên trong sạch hơn, thánh thiện hơn, tinh tuyền hơn.

Giáo Hội đang rất cần lời cầu nguyện, ăn chay sám hối của chúng ta.

Giáo Hội Công Giáo không chỉ là những hàng lãnh đạo,

Giáo Hội bao gồm tất cả thành phần dân Chúa, tất cả tín hữu đã được nhận phép rửa.

Giáo Hội chưa bao giờ là một tổ chức hoàn hảo hay thánh thiện hơn những tổ chức khác cũng như các hệ thống chính quyền trần thế.

Song Giáo hội thánh thiện vì Chúa Giêsu Kitô là đầu Giáo Hội. Chúa Giêsu Kitô thánh thiện tinh tuyền nên Hội Thánh thánh thiện tinh tuyền. Chúng ta đi theo Chúa Giêsu, Chúa Là Đường, Là Sự Thật và Là Sự Sống, chúng ta không đi theo một người nào dù họ ở phẩm trật nào.

Theo dòng lịch sử, Giáo Hội Công Giáo đã nhiều lần như muộn ngã quỵ nhưng không bị tiêu diệt, bị xất bất xang bang nhưng không tuyệt vọng vì Giáo Hội luôn có Đấng Phù Trợ của Đức Kitô. Giáo Hội sẽ luôn đứng vững vàng cho đến ngày tận thế, vì Thầy ở với chúng con cho đến ngày tận thế.

Theo thống kê của viện nghiên cứu Perth thì sự lạm dụng tình dục trong:

  • Giáo Hội Công Giáo chỉ có 2% mà thôi.
  • Trong các tôn giáo khác 1O%.
  • Ngoài xã hội 15%. (theo phát ngôn viên trong chương trình phát thanh chualatinhyeu.org ngày 02.9.2018).

Vậy mà thế gian và giới truyền thông chỉ lên án Giáo Hội Công Giáo mà thôi. Vì thế gian ghét bỏ Thiên Chúa, muốn loại bỏ Giáo Hội Công Giáo dù Giáo Hội đang làm cho thế giới biết bao điều đáng ngợi khen như:

  • Giáo Hội Công Giáo đang giáo dục 2,6 triệu học sinh mỗi ngày với phí tổn phải trả lên đến 10 tỷ Mỹ Kim, trong khi đó lại giúp tiết kiệm cho người thọ thuế 18 tỷ. 92% các học sinh tốt nghiệp tại các trường Công Giáo đều được nhận vào các trường đại học.
  • Giáo Hội cung cấp 230 các trường cao đẳng và đại học  với con số sinh viên theo học hàng năm là 700.000 sinh viên.
  • Giáo Hội còn điều hành một hệ thống phi lợi nhuận với 637 nhà thương, chữa trị một trong số 5 người Hoa Kỳ, không phân biệt tôn giáo, mỗi ngày. (trích The Catholic Church. Excerpts of an article written by non Catholic; Sam Miller, a prominent Cleveland jewish businessman. tiến sĩ Trần Mỹ Duyệt dịch)

Đấy chỉ là nhận xét của một doanh nhân Do Thái Giáo, về Giáo Hội Công Giáo tại USA . Hiện còn biết bao nhiêu cơ sở giáo dục và nhà thương trên khắp thế giới mà giới truyền thông không hề dám đề cập đến…

Chúng ta hãy luôn ngẩng cao đầu, hãnh diện là người Công Giáo. Chúng ta hãy chuẩn bị hành trang đức tin cho thật sâu sắc và trưởng thành là kết hợp nên một với Đức Kitô, để trả lời với niềm hy vọng của chúng ta…

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, con xin dâng lên Chúa tất cả những đau khổ mà anh em chúng con đang phải chịu đựng vì vấn nạn này. Xin Chúa xoa dịu vết thương của tất cả anh em con.

Xin ban ơn khôn ngoan và can đảm cho ĐGH Francis. Amen.

Elisabeth Nguyễn

From vuisongtrendoi

LỄ SUY TÔN THÁNH GIÁ

 LỄ SUY TÔN THÁNH GIÁ

Đã là người, không ai tránh khỏi thập giá.  Thập giá có thể làm tê liệt hoặc hủy hoại con người, nhưng nó cũng có thể là phương tiện giúp người ta nhận ra sự thực về chính mình, giúp người ta gần gũi và tùy thuộc Thiên Chúa hơn.

1) Thập Giá 

Khi một người đang đi xe trên đường, gặp một cây lớn nằm vắt ngang; việc đưa chiếc xe vượt qua cản trở này là một vất vả với họ; cây nằm ngang đường đúng là “thập giá”.  Tùy cây đó lớn nhỏ mà người ta có thể vượt qua chướng ngại đó hay không.  Chuyện cái cây vắt ngang đường chỉ là một hình ảnh, “thập giá” cũng có thể là “cây” mà người ta đã ấn trên vai Đức Giêsu, và bắt Ngài vác ra gò Sọ, nơi mà chẳng ai muốn cho mình.  Trên đường đời, có bao nhiêu cản trở vắt ngang; nó có thể là những bệnh tật, những thất bại trong đường công danh sự nghiệp, điều không được như ý trên đường tình duyên.

Thập giá đã hủy diệt nhiều người, nếu người ta không vượt qua được mà cũng không sẵn sàng chấp nhận thập giá.  Có nhiều người cảm thấy bất hạnh khi gặp những bệnh nan y, thế nhưng cũng có những người chấp nhận bệnh hoạn, và vui sống trong hoàn cảnh của mình.  Có những người mắc bệnh phong, nhưng vẫn vui trong tình trạng và hoàn cảnh của họ; họ còn lạc quan hơn nhiều người không mắc bệnh gì.

Vượt qua cái cây đổ ngang trên đường, là điều có thể làm được.  Tránh khỏi thập giá người ta ấn trên vai như trường hợp Đức Giêsu bị dẫn trên đường đến gò Golgotha, là điều không thể.  Có lúc người ta vượt qua thập giá, nhưng có lúc người ta phải chấp nhận thập giá; chấp nhận thập giá cũng là một cách vượt qua thập giá.  Đức Giêsu là người đã vượt qua thập giá bằng cách chấp nhận; và các Kitô hữu anh hùng tử đạo cũng là những người đã noi gương Đức Giêsu, vượt qua thập giá bằng cách chấp nhận; các ngài đã lãnh nhành thiên tuế.

2) Thập Giá của Đức Giêsu

Thời Đức Giêsu, người Do Thái sống dưới ách thống trị của người Roma, hình phạt chết treo thập giá là một điều khủng khiếp, một mối nhục.  Người Roma không bị kết án chết trần truồng trên thập giá.  Án thập giá chỉ dành cho những dân bị trị.  Án thập giá là án ô nhục nhất giữa những hình phạt dành cho tội nhân.  Đức Giêsu đã bị thi hành án ở gò Sọ, gần thành Yêrusalem, bên đường đi.  Sở dĩ những người lãnh án bị hành hình nơi có người qua lại như thế, là nhằm răn dạy những người còn sống: nếu họ hành xử như vậy, họ cũng sẽ bị hình phạt như thế.  Những người cầm quyền mong rằng, khi người ta nhìn thấy cảnh khủng khiếp của những tội nhân tử hình như vậy, người ta sẽ khiếp sợ mà không phạm tội nữa.

Đức Giêsu đã bị chết treo thập giá giữa hai người trộm cướp.  Ngài bị người ta liệt vào đồng hàng với những người tệ nhất trên đời.  Hình phạt tử hình thập giá cho Ngài như cao điểm thập giá trong đời Ngài, tuy nhiên thập giá đã không thiếu trong suốt đời Đức Giêsu.  Sinh trong một gia đình nghèo, thiếu điều kiện sống và ăn học, cũng là thập giá đối với nhiều người; sống trong một làng nghèo, với nhiều người, cũng là một thập giá.  Khi đi rao giảng, Đức Giêsu đã bị nhiều người chống đối; Ngài bị người ta cho là người mất trí, một kẻ lộng ngôn phạm thượng, một kẻ thuộc phe quỷ vì lấy quyền của tướng quỷ mà trừ quỷ, một tội nhân.  Bao nhiêu chống đối, bao nhiêu bất lợi trên đời: đó cũng là những thập giá đối với Đức Giêsu.

Đức Giêsu đã không bị hủy diệt bởi dư luận, bởi thế lực phàm trần.  Người ta có thể vu oan giá họa cho Ngài, người ta có thể giết Ngài, nhưng người ta không thể bắt Ngài khuất phục.  Ngài là con người tự do với tất cả: tự do với tiền bạc, tự do với dư luận khen chê, tự do với mọi thế lực hãm hại Ngài.  Ngài vẫn cố sống cho ra người, trong mọi hoàn cảnh, và sống yêu thương.  Tất cả những hoàn cảnh và thái độ của người ta đối với Ngài, vẫn không thay đổi được thái độ thẳm sâu của Ngài đối với mọi người: yêu thương.  Ngài yêu thương tất cả con người, thông cảm với những giới hạn của con người, ngay cả đối với những người thù ghét và giết chết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết.”

3) Thập giá tôi luyện con người 

“Lửa thử vàng, gian nan thử đức.”  Đường gian nan, sông khúc khuỷu, mới biết tay đua giỏi. “Ví thử đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai.”  Con người ta lộ diện mình là ai, khi gặp những lúc gian nan sóng gió.  Trước khi đưa một vật tưởng là vàng mà không phải là vàng thật vào lửa, người ta có thể lầm tưởng nó là vàng thật; nhưng một khi đưa nó vào lửa, lửa giúp người ta nhận ra sự thật: nếu là vàng thật nó sẽ không biến đổi, còn nếu là vàng giả thì nó sẽ biến đổi màu.

Thập giá giúp con người biết rõ về mình, biết mình là ai.  Thập giá giúp mình nhận ra mình thật mong manh mỏng dòn, và cần Thiên Chúa giúp để có thể vượt qua những sóng gió chông gai trên đường đời.  Thập giá, đối với những ai thuộc về Thiên Chúa, có thể giúp con người cậy dựa vào Thiên Chúa, tùy thuộc Thiên Chúa, gần gũi Thiên Chúa, thuộc trọn về Thiên Chúa hơn.

Thập giá không phải luôn luôn đến từ sự dữ, nhưng giả sử nếu nó do sự dữ thì con người vẫn chiến thắng sự dữ nhờ vào Thiên Chúa, như Đức Giêsu đã chiến thắng sự dữ nhờ Thiên Chúa.  “Khi con người bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta.”  Chính khi sự dữ giết được Đức Giêsu, thì lúc đó nó chiến bại.  Thiên Chúa đã phục sinh Đức Giêsu.  Thiên Chúa chiến thắng sự dữ.  Những ai kết hiệp với Thiên Chúa, ở trong Thiên Chúa, thì sẽ chiến thắng sự dữ, vì Thiên Chúa chiến thắng sự dữ qua chính người đó.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

From Langthangchieutim

“Thế lực thù địch” – mi là ai?

“Thế lực thù địch” – mi là ai?

@Lê Phú Khải

Những năm gần đây, trên các phương tiện thông tin quốc doanh, luôn xuất hiện những từ “những thế lực thù địch” đang chống phá nhà nước Việt Nam. Đặc biệt Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng càng hay nhắc đến cụm từ này! Vậy, những thế lực thù địch nó từ đâu ra, sao càng ngày càng nhiều và gây lo sợ cho nhà cầm quyền đến thế?!

Không khó để tìm ra, ai đã sinh ra các thế lực thù địch!

1/ Những người nông dân đang sống yên lành trên thổ cư và ruộng đồng của họ, bỗng một hôm có kẻ vác một bao tiền đến “làm việc” với chính quyền xã, huyện… lên một “dự án”. Dự án được “duyệt”, rồi báo cáo lên tỉnh, được thông qua… Thế là công an được điều đến để giải tỏa mặt bằng. Mất nhà, mất ruộng rồi họ đi đâu, làm gì để sống, không cần ai biết! Dân không chịu, kéo nhau đi kiện từ Nam chí Bắc. Thế là thành “tụ tập đông người”, thành thế lực thù địch!

2/ Công nhân trong các nhà máy do nước ngoài đầu tư, nhưng công đoàn lại do chủ đầu tư trả lương. Công nhân đình công đòi tăng lương, đòi cải thiện đời sống, công đoàn cuội bênh vực chủ. Lại đình công, lại thành “tụ tập đông người”, thành thế lực thù địch!!!

3/ Tín đồ các giáo phái tự do tín ngưỡng, không thừa nhận các chùa chiền quốc doanh, các sư sãi quốc doanh… thế là thành “thế lực thù địch”!

4/ Các nhà trí thức thấy hơn 40 năm đất nước thống nhất mà biển mất đằng biển, đảo mất đằng đảo, họ “nhìn vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa / Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi”! (thơ Bùi Minh Quốc) nên họ viết phản biện ôn hòa lên các trang mạng tự do… Thế là thành “thế lực thù địch”!

5/ Ngày tưởng niệm các chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh ở trận Gạc Ma, ở Hoàng Sa, ở chiến tranh biên giới phía Bắc 1979… dân kéo nhau đi thắp hương tưởng niệm dưới tượng đài Lý Thái Tổ, tượng đài Trần Hưng Đạo… thế là thành “thế lực thù địch”.

Nếu thống kê hết những nguyên nhân, nguồn gốc nào sinh ra “thế lực thù địch” thì còn nhiều lắm… Các nhà xã hội học có thể làm luận văn tiến sĩ về đề tài này…

Tôi nhớ, sau Đổi mới (1986), thời ông Võ Văn Kiệt làm thủ tướng, báo Le Monde của Pháp ra ngày 19 tháng 11 năm 1994, tác giả Olivier Weber có đăng một bài nhan đề: Việt Nam sự thức dậy của một con rồng nhỏ (Vietnam le réveil d’un petit dragon), thời đó không thấy xuất hiện các “thế lực thù địch”?! Nhưng sau đó Nguyễn Tấn Dũng phá nát nền kinh tế Việt Nam, nạn tham nhũng được Dũng bật đèn xanh để khắp nơi cướp bóc, đất đai là “sở hữu toàn dân” giao cho các kẻ nắm quyền ở địa phương làm đại diện “chủ sở hữu” thì “thế lực thù địch” nổi dậy ở khắp nơi!

Các chiến sĩ Cộng sản năm xưa như các anh Lê Công Giàu, Huỳnh Tấn Mẫm, Huỳnh Kim Báu, Lê Thân, Hạ Đình Nguyên… từng bị chế độ Sài Gòn giam cầm tra tấn chỉ vì đòi hòa bình thống nhất đất nước, đuổi Mỹ ra khỏi Miền Nam… Nay các anh ấy thấy chế độ chuyên quyền đảng trị còn tồi tệ hơn cả chế độ Sài Gòn năm xưa, hèn với giặc, ác với dân, nên lại xuống đường… Các vị ấy không thể là thế lực thù địch được! Nhà văn Nguyên Ngọc từng bám đất Tây Nguyên, bám đất Quảng Nam khói lửa, viết nên những tác phẩm như “Đất nước đứng lên”, “Đường chúng ta đi” mà Nguyễn Phú Trọng đã phải học lúc là sinh viên văn khoa ở Hà Nội thì không thể là “thế lực thù địch” được! Có chăng là thù địch với thể chế đảng trị độc tài mà thôi! Chính thể chế này đã đẻ ra thế lực thù địch!

Để giành lấy “chính danh” cai trị đất nước, chính quyền độc tài lớn tiếng gọi những người, những tập thể nông dân và công nhân kể trên là “thế lực thù địch”. Càng lớn tiếng bao nhiêu họ chỉ tự vạch mặt mình là chính quyền của các tập đoàn lợi ích, chống lại đa số nhân dân đang cùng khổ. Đó là cách uống thuốc độc để giải khát. Hãy dẹp bỏ ngay luật Đất đai hiện hành và thực thi dân chủ, chỉ có thế mới khỏi chết khát mà thôi!

Sài Gòn, tháng 8 năm 2018

L. P. K.