Sự dối trá phải bị trừng trị!

Follow

Sự dối trá phải bị trừng trị!

Khi nhìn tấm hình chủ tịch nước thăm hỏi và trao lì xì cho hai cô mặc áo công nhân dọn rác đêm giao thừa, gã đã nghi ngờ có sự lừa đảo ở đây.

Chủ tịch nước ngồi xe hơi vù vù dọc đường chắc ít khi nhòm qua ô cửa xe kính chống đạn mờ mịt để biết được khuôn mặt khắc khổ, dáng vẻ gày gò tiều tuỵ của các nữ công nhân vệ sinh nên đã không có được sự nhanh nhạy nghi hoặc như gã: làm gì có em nữ công nhân quét rác nào lại xinh đẹp và tươi tốt như hai em này.

Xinh như các em, lập tức ối đại gia theo, sức mấy để các em nắng mưa ngoài đường xua rác bụi vậy? Thôi gã châm chước bỏ qua cái sự không thật sự hiểu chuyện Đời của bác chủ tịch, nhưng gã khó mà bỏ qua cho những kẻ dàn dựng màn kịch của kẻ sắp đặt kịch bản chủ tịch vi hành.

Dối trá phải gọi là dối trá. Mà đã dối trá phải bị trừng trị.

Dối trá lừa vua trừng trị một.

Dối trá rồi dành tiền lì xì của người Dân lao động nghèo phải trừng trị ngàn.

Em! Trong hình em thật xinh và cười tươi. Em là ai? Em có xấu hổ về việc mình chấp nhận đóng vai kẻ dối trá rồi nhận tiền lì xì lẽ ra của một công nhân quét rác nghèo, hay em sẽ treo tấm hình này trên tường nhà như một vinh dự?

Một người đàn ông tát một cô gái đã bị cộng đồng mạng lên án và người đàn ông ấy đã xin lỗi cộng đồng mạng và xin lỗi cô gái ấy.

Còn em? Gã kêu gọi em.

Gã tin em còn trẻ, em còn biết xấu hổ, còn những kẻ dựng vở kịch này chúng đã quá quen việc lừa đảo, chúng đã đứt sợi dây xấu hổ rồi.

Image may contain: 4 people, people smiling, people sitting

Lật đổ chế độ độc tài

Lật đổ chế độ độc tài

Nguyễn Minh Tâm (Danlambao) – Nền độc tài của Nicolas Maduro đang được tính từng ngày, hiện tại hầu như các nước Liên Hiệp Châu Âu đã công nhận Juan Guaido là tổng thống lâm thời của Venezuela. Hoa Kỳ, Canada và khối Lima đang tiến hành viện trợ nhân đạo cho nhân dân Venezuela. Điều này chắc chắn nước Venezuela sẽ chuyển sang chế độ dân chủ sau 1 thời gian biểu tình liên tục dậy sóng đòi lật đổ chế độ độc tài phản dân hại nước, chiếm lấy nguồn tài nguyên dầu lửa của đất nước làm túi riêng của mình. Một bài học cho các chế độ độc tài khi chống lại nhân dân và cả thế giới.

Đất nước Venezuela rất khác Việt Nam. Họ có nền kinh tế đứng thứ tư thế giới trước đây, và là 1 quốc gia dân chủ, đa đảng, chỉ từ khi Hugo Chavez và tên tài xế trung thành hiện tại Nicolas Maduro đưa đất nước tiến lên CNXH quốc hữu hóa toàn bộ nền kinh tế quốc gia từ năm 1998, đất nước mới tiến sâu vào lụn bại. Nợ nần chồng chất, dân bới rác mà ăn, lạm phát đến 1.000.000%, bị Trung cộng, Nga lũng đoạn. Vì thế chúng ta đừng thấy lạ lùng là tại sao một đất nước theo CS mà có bầu cử quốc hội, đảng đối lập, Juan Guaido không bị “quần chúng tự phát” hay hồng vệ binh, đấu tố”, quăng cứt, rác vào nhà, và thậm chí là đi xe hai hàng đánh đập ám sát… Nghĩa là người dân có hạt mầm dân chủ từ lâu rồi, từ thuở mới sinh ra, chứ không phải như VN, từ phong kiến rồi Maxit CS nhồi sọ, chưa biết dân chủ là gì, chưa thấy và tôn trọng phản biện đối lập v.v…

Nhưng có một điểm chung trong cuộc CM Venezuela và VN là cách thức lật đổ chế độ độc tài.

Trong bài viết: áp lực đám đông, tôi đã nói rõ, lật đổ chế độ độc tài, không có nghĩa là chúng ta phải giết chết từng thằng CS, tiêu diệt toàn bộ cái đám đảng viên CSVN mà phải làm sao để sức mạnh của đám đông, sức mạnh biểu tình của nhân dân triệt tiêu quyền lực của CS để buộc chúng phải thoái vị, hoặc chấp nhận 1 cuộc bầu cử tự do, bầu cử quốc hội, loại chúng ra khỏi nghị trường, loại ra khỏi quyền lực chúng đang nắm giữ.

Dù bạn có giết chết Nguyễn Phú Trọng hay Nguyễn Xuân Phúc khi sức mạnh nhân dân chưa có, khi thành phần đối lập chưa có thì tình hình cũng không thay đổi mấy, Đảng vẫn có thể chọn thằng nào đó kế vị, quyền lực chẳng thay đổi nhiều. Do đó, lật đổ chế độ độc tài là làm sao để sức mạnh đám đông nổi lên, toàn thể nhân dân đứng dậy cùng một mục tiêu, cùng một ý chí triệt tiêu CS, khi đó chính quyền sẽ yếu xuống và khi bộ máy công quyền, quân đội, CA, mật vụ, lung lay phân tán không còn ủng hộ bợ đỡ cho chế độ, thì chế độ độc tài triệt tiêu.

Với Venezuela, bằng những cuộc biểu tình cả triệu người liên tục, kéo dài suốt mấy năm qua, cùng một khẩu hiệu “Maduro từ chức”, nhưng cho đến khi Juan Guaido tuyên bố là Tổng thống lâm thời cuộc CM Venezuela mới chuyển qua bước ngoặt mới. Và cho đến khi Mỹ tuyên bố phong tỏa tài chính toàn bộ Tập đoàn dầu khí quốc gia (PDVSA) của Venezuela, cộng với việc tướng phi công Francisco Esteban Yanez tuyên bố ủng hộ Juan Guaido nhiều sĩ quan quân đội ngã về phía người dân, chúng ta mới tin chắc rằng chính quyền Maduro sẽ sụp đổ theo thời gian, dù anh có chống đỡ cách nào đi nữa.

Nhưng tại sao đến giờ phút này chính thức Maduro vẫn chưa sụp đổ, bởi vì kinh tế Venezuela khác hoàn toàn VN, khác hoàn toàn các nước độc tài khác. Venezuela có trữ lượng dầu lửa lớn nhất thế giới, mà Maduro đã quốc hữu hóa toàn bộ nền kinh tế, cho nên cả nước sống nhờ vào 95% nguồn dầu lửa đó. Có thể nói Maduro đã “bỏ túi” toàn bộ tài sản quốc gia và ông chia chác nhiều phần cho quân đội kinh doanh nắm giữ, chính vì vậy họ rất trung thành với chế độ, dù nhân dân có biểu tình cách nào đi nữa thì nền kinh tế của chính quyền vẩn chưa ảnh hưởng, nguồn sống của họ vẫn còn duy trì, chế độ không nhờ nhiều vào tiền thuế từ xã hội. Nhưng khi Mỹ và các nước Đồng minh phong tỏa kinh tế ngăn chận tẩu tán tài sản và các nước trên thế giới ủng hộ nhân dân Venezuela thì sự tồn tại của chế độ độc tài chỉ còn lây lất, tính từng giờ, từng ngày. Ở đây, chúng ta không bàn về việc Trung cộng hay Nga có nhảy vào hay không, tôi tin rằng chuyện này rất khó xảy ra.

Như vậy, nguyên tắc để lật đổ chế độ độc tài, đầu tiên là làm sao để người dân vượt qua sợ hãi đứng lên, biểu tình liên tục, cùng một quyết tâm thay đổi xã hội. Đó là sức mạnh duy nhất của người dân. Tiếp theo, được thế giới ủng hộ, thiếu yếu tố này không có cuộc CM nào thành công cả. Trong và ngoài nước cùng một ý chí thay đổi chế độ mới tạo nên sức mạnh thật sự và chính quyền độc tài mới bị cô lập trên thị trường quốc tế, làm suy yếu nền kinh tế, làm mất nguồn thu nhập nuôi dưỡng chế độ. Tiếp theo, từ những sức mạnh đó, chính quyền, quân đội, công an, bộ máy trung thành với chế độ mới rệu rã, hoang mang tâm lý sợ hãi phân mãnh, bất an, bỏ chạy, quay đầu về với nhân dân làm sụp đổ chế độ độc tài. Nghĩa là, có đủ 3 yếu tố này, chế độ độc tài mới sụp đổ.

Với Việt Nam cũng vậy, chỉ khi nào người dân vượt qua sợ hãi chịu đứng lên, thế giới ủng hộ, là bước đầu để thành công. Thành phần CA, mật vụ CS chỉ là phường đầu trâu mặt ngựa, bám đảng kiếm ăn, đổi màu chạy trước nên không quan trọng, nhưng 95% chính quyền VN đã lọt vào tay Hán nô Tàu cộng cho nên chỉ khi nào Trung cộng rung rinh sắp sụp đổ, CMVN mới thành công.

Đi theo những nguyên lý trên, chúng ta hãy khảo sát cách thức Tổng thống Donald Trump tấn công Trung cộng như thế nào?. Ông cũng đi theo 3 bước này.

Bước 1: Làm suy yếu Trung cộng, làm suy yếu tất cả những hệ thống chống đỡ để nó tồn tại.

Đầu tiên là chiến tranh thương mại. Áp thuế để cân bằng thâm hụt mậu dịch, ra nhiều hiệp định để bảo hộ mậu dịch và kêu gọi các công ty rút vốn nhà máy ra khỏi Trung cộng, làm cho thị trường chứng khoán Trung Cộng lao dốc và nền kinh tế suy yếu thấy rõ. Tấn công vào Cty Huawei, Cty nhà nước núp bóng tư nhân bộ não của Tàu cộng. Trump đẩy mạnh tài sản sở hữu trí tuệ, công tác tình báo, gián điệp mạng, an ninh quốc gia để cả thế giới tẩy chay làm kiệt quệ mấy công ty viễn thông 5G của Trung cộng. Có thể nói trên mặt trận thương mại Donald Trump đã thành công, đến nỗi Tập Cận Bình xin diện kiến trước ngày 1/3 ngày chấm dứt đình chiến, nhưng Trump cũng không thèm gặp. Thật khó dự đoán, không biết Trump có áp thuế 25% lên 267 tỷ hàng hóa còn lại hay không? Bởi, với cách thức tấn công hiện tại, Trump đã làm Trung cộng điêu đứng rồi, nếu áp thuế tiếp tục, dồn Tập Cận Bình vào chân tường, có thể hàng nông sản và nhiều mặt hàng khác của Mỹ sẽ bị ảnh hưởng, cho nên theo tôi, nếu Tập chịu nhượng bộ về cân bằng thâm hụt mậu dịch, và một phần nào đó về ăn cắp bản quyền sở hữu trí tuệ thì việc không áp thuế tiếp tục có nhiều phần lợi hơn cho Hoa Kỳ.

Bởi, cuộc chiến kinh tế này, Trump cũng thừa biết, chỉ làm suy yếu Trung cộng, chứ không thế nào tiêu diệt được nó, muốn thấy hiệu quả thật sự phải sau 5-10 năm, cho nên phải tấn công trên tất cả mọi mặt.

Về phần quân sự ở Biển Đông, như nhiều lần chúng tôi đã nói, Biển Đông chỉ có thể gầm gừ và khiêu khích, không thể làm gì khác hơn.

Bước 2: Tấn công và phá hủy hệ thống chống đỡ đó.

Theo tôi, việc đứng lên tự phong của Tổng thống Juan Guaido phải có sự tiếp tay của Hoa Kỳ, bởi vì nó hợp hiến và được dàn nội các của Trump ủng hộ ngay từ đầu rất cấp thời và hiệu quả. Từng diễn biến xảy ra ở Venezuela có một mối tương quan mật thiết nào đó với Hoa Kỳ? Do đó có thể nói, việc Venezuela thành công phải chăng là tiến trình phá vỡ từng nhánh cây, bứng từng gốc bự, chặc đứt từng rễ nhỏ của Trump để tiêu diệt Trung cộng. Bởi Venezuela là nguồn cung cung dầu lửa chính cho Trung cộng. Ngoài chiến tranh thương mại, gián điệp mạng, Trump đã chọn giải pháp cắt đứt nguồn cung ứng dầu lửa và khí đốt cho đất nước này. Dù tổng thống lâm thời Juan Guaido tuyên bố vẫn tiếp tục các hợp đồng mà quốc hội đã thông qua và trả khoảng nợ 60 tỷ dolla mà Venezuela đã nợ Trung cộng để xoa dịu tình hình, nhưng trước mắt Venezuela cũng làm cho Tập cận Bình xay xẩm, mất đi một chí cốt cùng hội cùng thuyền và tương lai đầy những bất trắc khi Juan Guaido xóa bỏ chế độ độc tài, bắt tay với các nước dân chủ, mà Mỹ là nước lọc dầu thô cho Venezuela, cho nên, chắc chắn nguồn dầu lửa của Trung cộng phải bị động khó khăn hơn trước.

Trong khi đó, tình hình Trung đông, do Tết Nguyên đán, việc xây bức tường biên giới, và bài diễn văn thông điệp đầu năm của Tổng thống Trump mà chúng ta quên đi bản tin quan trọng khác. Zalmay Khalilzad,đã thông báo Mỹ sẽ rút toàn bộ binh lính khỏi Afghanistan trong vòng 18 tháng?

http://nghiencuuquocte.org/2019/02/01/mon-qua-cua-trump-danh-cho-taliban

http://soha.vn/thoa-thuan-my-taliban-tu-mot-to-chuc-khung-bo-tro-thanh-doi-tac-hoa-binh-cua-my-20190129144309328rf20190129144309328.htm

Việc gì đã xảy ra?? Không có việc gì cả, không có chiến sự, không có tổn thất, lực lượng Taliban, IS vẫn còn đó, đang suy yếu nhưng vẫn chiếm giữ 60% lãnh thổ Afganistan, vậy hà cớ gì, hôm trước thông báo rút 7000 quân cùng 2000 quân ở Syria, hôm nay lại thông báo triệt thoái quân toàn bộ. Và trong thời gian tới, phiến quân Hồi giáo Taliban có thể tham gia vào đời sống chính trị của đất nước này. Có thể ứng cử vào chức vụ tổng thống?? Phải chăng có những thỏa thuận ngầm mà chúng ta không thể biết? Tại sao nội các Donald Trump lại chấp nhận một sự nhún nhường đến như vậy? Gần đây Trump cũng kêu gọi các Công ty hãy đầu tư vào Pakistan, Nam Á, Trung á để cải thiện môi trường chính trị khu vực này?

Phải chăng, Mỹ đang bắt tay với phiến quân Hồi giáo Taliban hay khủng bố Hồi giáo cực đoan IS để tấn công Trung cộng và giúp họ xây dựng một Nhà nước Hồi giáo Afghanistan như chúng tôi đã phân tích ở bài viết trước: Tiêu diệt Trung cộng. Chỉ có giải pháp đánh đổi này, Mỹ mới chấp nhận lùi bước đến như vậy, trong khi không có lý do gì để Mỹ phải rút quân cả. Nhớ rằng Hồi giáo Taliban theo dòng Shunni, (cùng với người Duy Ngô Nhĩ), được Pakistan hậu thuẫn từ những ngày đầu, và Pakistan, Afghanistan có đường biên giới tiếp giáp với Tây Tạng và Tân Cương bên Trung Quốc, trong khi đó, người Hồi ở Iran hầu hết theo dòng Shiite, Trump lại cấm vận triệt để và còn tăng cường thêm binh lính ở Iraq để kiểm soát thêm tình hình Iran. Phải chăng kế hoạch cắt đứt mọi nguồn cung cấp khí đốt cho Trung cộng đã dần lộ diện. Iran luôn luôn bị cấm vận. Bây giờ hướng đến là các ống dẫn dầu ở Tân Cương. (Venezuela đã và đang thoi thóp)

Như vậy trong năm nay 2019, Đài Loan sẽ độc lập – tuy nó không bợ đỡ cho Tàu cộng tồn tại, nhưng Đài Loan thất thủ sẽ lột toàn bộ mặt nạ con hổ giấy cho cả thế giới nhận biết và nó phá hủy toàn bộ cấu trúc chính danh của Trung cộng – hay Tân Cương có khủng bố và dân tộc Duy Ngô Nhĩ, Tây Tạng nỗi lên sẽ là bước tiếp theo trong mục đích tiêu diệt Tàu cộng của Donald Trump. Bởi vì, chỉ duy nhất con đường Tân Cương là có thể giựt sập hệ thống bợ đỡ của Trung cộng.

Bước 3: Nhân dân các nước nhỏ vùng lên.

Quay trở lại Bắc Hàn. Mọi thỏa thuận của Donlad Trump và Kim Jong Un chỉ có giá trị trong nhiệm kỳ đầu của Trump không thể nào qua nhiệm kỳ 2, cho nên chỉ có thư tay, thỏa thuận miệng chứ chưa có Hiệp ước nào được ký kết, và kỳ gặp sắp tới 27-28/2 ở Hà nội cũng vậy, “chúng tôi đã đạt được những điều tốt đẹp” chứ chẳng có một ý tưởng nào khác. Do đó Trump phải diệt hoặc thấy Trung cộng hấp hối trước 2020, chứ không thì Bắc Hàn lật kèo.

Và Donald Trump sẽ dành món quà này cho các nước nhỏ ra tay.

Không cần nói nhiều các bạn cũng hiểu rồi, nhân dân Trung Quốc, Việt Nam, Hong Kong, Tân Cương Tây Tạng chia 5 xẻ 7 Trung Quốc và biết đâu, Bắc Hàn cũng có 1 phần trong đó.

Tại sao Mỹ phải diệt Trung cộng? Bởi vì trên thế giới này, Trung cộng là quốc gia duy nhất có thể soán ngôi Mỹ, mặc dù thực lực hiện tại Trung cộng chưa thể qua mặt Mỹ, nhưng với lợi thế về đời sống công nghệ số, tương lai Trung Quốc thống lĩnh thế giới về không gian mạng là chuyện có thể. Hãy nhìn Liên minh Châu Âu các cường quốc thế giới về KHKT thời điện tử nhưng không mạnh về công nghệ thời điện toán, cho nên họ già nua và có vẻ lạc hậu với đà tăng trường hiện đại. Ngày xưa Mông cổ làm bá chủ Á-Âu chỉ vì vung kiếm trên lưng ngựa, nhưng khi Châu Âu chế tạo ra những cây súng trường đầu tiên thì Mông cổ sụp đổ, như vậy đừng có nói rằng quốc gia nào đó sẽ tồn tại mãi mãi. Sự phát triển của KHKT sẽ quyết định sự tồn tại của một quốc gia. Hiện tại Hoa Kỳ chỉ hơn Trung Cộng về sản xuất những con Chip, nếu Hoa Kỳ không nhìn ra vấn đề thì Trung cộng sẽ qua mặt và xuất khẩu mô hình Tư bản-Độc tài 2025 đi khắp thế giới. Thật là một đại họa cho thế giới?? Hãy cảm ơn Trump và chắc chắn Trung cộng sẽ bị tiêu diệt trong thời gian tới.

Sài Gòn 9/2/2019

Nguyễn Minh Tâm

danlambaovn.blogspot.com

From: conduongvui & NguyenNThu

“Một con đập chứa bùn đỏ và độc hại ở Brumadinho, thành phố thuộc bang Minas Gerais (Brazil), vừa sụp đổ và chôn sống hơn 150 người dân ngay lập tức.

Trần Bang shared a post.
10/2/2019

Cơ quan quản lý, giám sát Hồ chứa chất thải bo xít Tân Rai, Nhân cơ; và mỏ sắt, kim loại ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Yên Bái, Lào Cai, Cao Bằng… cần nhìn dưới đây.

“Một con đập chứa bùn đỏ và độc hại ở Brumadinho, thành phố thuộc bang Minas Gerais (Brazil), vừa sụp đổ và chôn sống hơn 150 người dân ngay lập tức.

Khi con đập chứa chất thải từ khu mỏ khai thác quặng sắt Córrego de Feijão của Tập đoàn khai khoáng Vale bị vỡ ra, 11,7 triệu mét khối bùn đỏ — đủ để lấp đầy 5.000 hồ bơ theo tiêu chuẩn Olympic — đã tràn xuống khi thị trấn bên dưới. Khi xảy ra, nó đã cuốn luôn cả quán cà phê của công ty này, nơi có hàng trăm công nhân đang tụ tập. Cơn sóng thần bùn độc tiếp tục chảy xa hơn 8km, tàn phá nhà cửa, văn phòng và con người.

Bên cứu hộ của chính phủ Brazil mất 2 đến 3 ngày mới tiếp cận được các nạn nhân.

Thực ra, đây là một thảm kịch được báo trước. Con đập trên dù đã không được sử dụng trong vòng 3 năm vừa qua, và theo Tập đoàn Vale, nó vừa được chứng thực là còn vững vàng vào tháng 9 năm ngoái, nhưng trong một báo cáo về tác động của môi trường phát hành năm 2015 cho thấy các công cụ đo lường và giám sát kiến trúc của đập này bị sai lệch.

Cách đây 3 năm, cũng một con đập tương tự bị vỡ ra ở thành phố Mariana, cách hiện trường hôm nay 120km, đã giết chết 19 người và gây ra thảm kịch môi trường tệ hại nhất trong lịch sử Brazil. Con đập đó cũng được xây dựng và hoạt động bởi Tập đoàn Vale và công ty khai khoáng đa quốc gia BHP kết hợp giữa Anh quốc và Australia.

Hiện có đến 88 đập chứa bùn khai khoáng ở Brazil được xây dựng cùng kiểu như con đập vừa bị vỡ — mà thực ra là những hồ chứa bùn khổng lồ được giữ lại bởi các bức tường cát và bồi tích không hơn không kém. Đáng kinh khủng hơn, có ít nhất 28 con đập đang nằm ở trên vùng cao, mà bên dưới là những thành phố có số dân từ 100.000 người trở lên.

Được biết chính phủ của tân tổng thống Brazil Jair Bolsonaro mới đắc cử thề sẽ xẻ rừng Amazon ra để cho các tập đoàn khai khoáng tiến vào đào bới và xây dựng mỏ, bởi vì gã này cho rằng Brazil có chủ quyền trên lá phổi lớn nhất hành tinh này, và phải phát triển bằng mọi giá vì lợi ích của dân Brazil trước hết – y hệt như phương châm “Amerika First” của Donald Trump vật.

Những gì đang xảy ra ở Brumadinho (Brazil) là lời cảnh cáo rất thực tế cho các đập chứa bùn đỏ từ khai thác quặng Bauxite ở Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắc Nông). Những quả bom chứa bùn độc này một ngày nào đó sẽ vỡ tung và đổ xuống vùng hạ lưu đồng bằng Nam bộ và Nam Trung bộ thông qua hệ thống sông ngòi. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, thường xuyên có những trận mưa rất lớn, nước vẫn có thể tràn qua đập, cuốn theo chất thải độc hại xuống những vùng đất, sông, suối ở hạ lưu, gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng.

Và dĩ nhiên, nguy cơ ấy là có thật, vì ở Việt Nam cũng đang xảy ra những yếu tố có hàm chứa các nguyên nhân từng gây ra thảm họa môi trường ở nhiều nơi trên toàn thế giới:

1. Động lực phát triển kinh tế bằng cách đào bới và khai thác nguồn tài nguyên ở trong lòng đất.

2. Sự kiêu ngạo về mặt công nghệ.

3. Chính phủ bị lũng đoạn bởi các tập đoàn kinh tế, còn người dân thì phớt lờ.

#hanhtinhtitanic

Nguồn tham khảo:

https://www.nytimes.com/…/americas/brazil-dam-collapse.html…

-0:09

1,357 Views

NHỮNG NÉT ĐẸP CỦA TIN MỪNG NGÀY TẾT

NHỮNG NÉT ĐẸP CỦA TIN MỪNG NGÀY TẾT

ĐTGM. Jos Ngô Quang Kiệt

Mùa Xuân đến làm đẹp đất trời.  Những cành đào đua nhau khoe sắc.  Những chồi non bụ bẫm nhú ra khỏi cành cây khô khẳng.  Chợ búa đông vui và đẹp đẽ với những hàng hoá đủ mọi loại.  Những tà áo mới tha thướt làm đẹp phố phường.  Trong khung cảnh vui tươi tấp nập ấy, khuôn mặt mọi người như rạng rỡ tươi cười.  Mùa Xuân đem đến nhiều vẻ đẹp.  Cao quý nhất là những nét đẹp văn hoá dân tộc đậm đà mầu sắc Tin Mừng.

Ngày Tết có nét đẹp của lòng biết ơn.  Năm hết Tết đến, người Việt nam thường nhớ đến công ơn của những người đã giúp đỡ mình trong năm qua.  Biết ơn là một nét đẹp văn hoá đáng trân trọng và cũng là một điều hợp lý.  Dòng sông lớn phải mang ơn những con suối nhỏ.  Hạt lúa phải nhớ ơn những hạt mưa, hạt nắng, hạt phân.  Ngày hôm nay phải biết ơn ngày hôm qua.  Thế hệ này phải nhớ ơn thế hệ trước.  Đời sống ta chịu ơn biết bao người.  Cảm nghiệm sâu xa chân lý này, nên mỗi dịp Tết đến, người Việt nam ta thường bày tỏ lòng biết ơn với ông bà, cha mẹ và các ân nhân.  Những món quà nho nhỏ nhưng thắm đượm tình nghĩa làm vui cả người nhận lẫn người cho.  Riêng với người Công giáo, bày tỏ lòng tri ân đối với Thiên chúa là một bổn phận không thể thiếu.  Vì Thiên chúa chính là tổ tiên đã sinh thành nên ta.  Vì Thiên chúa là ân nhân lớn nhất đời ta.  Chính Người đã ban cho ta món quà cao quý nhất: đó là sự sống.  Chính Người tiếp tục chăm sóc gìn giữ ta từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây.  Biết ơn là việc làm của lương tri, cổ võ cho một thế giới mới chan chứa tình người.  Biết ơn cũng là một giá trị đạo đức được Chúa Giêsu đề cao trong Tin Mừng.

Ngày Tết có nét đẹp của sự cho đi.  Ta gửi đi những cánh thiệp như những sứ giả của tình cảm yêu thương.  Ta gửi đi những lời cầu chúc như tâm tình mến yêu tha thiết dành cho nhau.  Ta sửa sang quét dọn nhà cửa để đón tiếp nhau.  Ta dành thời giờ viếng thăm nhau để xiết chặt thêm tình thân ái.  Ta ăn mặc tề chỉnh để tỏ lòng kính trọng nhau.  Ta nói năng tế nhị để làm vui lòng nhau.  Ta rộng rãi tặng tiền mừng tuổi cho con cháu.  Tóm lại, tất cả những gì ta làm trong ngày Tết đều vì người khác và cho người khác.  Đặc biệt trong lãnh vực ăn uống.  Ngày Tết, nhà nào cũng chuẩn bị sẵn đồ ăn thức uống cho gia đình, nhưng nhất là để mời khách.  Khách vào nhà bao giờ cũng được mời thưởng thức ấm chè mới, nếm kẹo bánh ngon.  Sự chiếu cố của khách làm vui lòng cho chủ.  Sự vui vẻ của người nhận là hạnh phúc của người cho.  Có niềm vui cho đi và có niềm vui lãnh nhận.  Những niềm vui ấy tạo cho ngày Tết một nét đẹp đầy mầu sắc Tin Mừng: nét đẹp của sự quên mình, của sự quảng đại cho đi, của sự khiêm tốn đón nhận, của tình liên đới.

Ngày Tết có nét đẹp của sự đổi mới.  Thiên nhiên đổi mới với sự hồi sinh của cây cỏ.  Phố phường đổi mới với những căn nhà mới, với những gian hàng mới và với quần áo mới.  Hoà vào cái mới của đất trời, của xã hội, lòng người cũng nôn nao trong niềm hy vọng đổi mới bản thân và cuộc đời.  Ai cũng mong tống tiễn những điều xấu vào quá khứ.  Ai cũng mong đón nhận một tương lai tươi đẹp.  Niềm mong ước đổi mới được thể hiện qua những cố gắng giữ vẻ mặt tươi cười, không tức giận, không nói những lời thô tục, những điều rủi ro, nhưng chỉ nói những điều tốt đẹp, đối xử hoà nhã với mọi người trong những ngày Tết.  Phút giao thừa thật thiêng liêng.  Nó đánh dấu một khởi đầu mới.  Người ta tin rằng sống tốt đẹp những giây phút đầu tiên sẽ có ảnh hưởng tốt đến cả năm.  Nên mỗi dịp Tết là một lần khuyến khích ta cố gắng đổi mới đời sống, đổi mới bản thân.

Đổi mới đời sống là điều Chúa Giêsu tha thiết mong muốn nơi ta.  Người không ngừng mời gọi ta hãy từ bỏ con đường tội lỗi xưa cũ, bước vào con đường mới, con đường tự do, thánh thiện của con cái Thiên chúa.  Người không ngừng mời gọi ta trở thành bầu da mới để có thể chứa đựng thứ rượu mới là giáo lý của Người.  Ngày Tết chính là một cơ hội cho ta thực hành Lời Chúa dạy, tích cực đổi mới đời sống nên tốt đẹp hơn.

Với tất cả những nét đẹp trên đây, tinh thần ngày Tết cổ truyền dân tộc rất gần gũi với Tin Mừng.  Rõ ràng nét đẹp văn hoá Việt nam đã chất chứa những giá trị Tin Mừng.  Rõ ràng Tin Mừng đang đi vào cuộc sống của người Việt nam.

Vì thế, người Việt nam Công giáo không những có trách nhiệm gìn giữ những nét đẹp văn hoá của ngày Tết cổ truyền mà còn phải biến những nét đẹp ấy thành những trang Tin Mừng sống động.  Khi ta sống tâm tình biết ơn trong ngày Tết, đừng chỉ giữ hình thức bề ngoài hay chỉ chú ý tới khía cạnh vật chất.  Hãy có tâm tình biết ơn sâu xa.  Hãy nhìn thấy ơn Chúa ban qua mọi ân huệ nhận được.  Khi ta cho đi trong ngày Tết, đừng chỉ cho đi như một hình thức xã giao hay như một thói tục bắt buộc.  Hãy cho đi với tâm tình yêu mến, kính trọng thực sự.  Hãy đón tiếp khách thăm viếng như đón tiếp chính Chúa.  Khi ta muốn đổi mới đời sống, đừng chỉ giữ như một hình thức và không chỉ giữ trong những ngày Tết, nhưng duy trì sự cố gắng đổi mới trong suốt cả đời với quyết tâm thực sự đổi mới đời sống. 

Khi ta sống tinh thần Tin Mừng trong những phong tục ngày Tết, ta góp phần xây dựng một mùa Xuân mới, một mùa Xuân dân tộc, một mùa Xuân tình thương.  Mùa Xuân ấy sẽ vĩnh cửu vì sẽ dẫn đến mùa Xuân Nước Trời.

Lạy Đức Kitô là mùa Xuân đích thực, không bao giờ tàn úa, xin đổi mới tâm hồn con.  Amen!

ĐTGM. Jos Ngô Quang Kiệt

From: Langthangchieutim

NHỮNG VÒI HÚT MÁU

Một trạm BOT thu mỗi ca từ 2 đến 3 tỷ, mỗ ngày 3 ca, vậy số tiền của có thể thu từ 6 đến 9 tỷ, còn lại báo với BGTVT chỉ 1 tỷ, tính ra số tiền bỏ túi rất lớn. Như vậy từ con số báo cáo láo đó, các trạm BOT sẽ kéo dài thời gian thu phí. Và số tiền họ ăn cướp của nhân dân là nhiều vô số.

Việc thu phí BOT cao và kéo dài thời gian, chính nó sẽ đẩy chi phí vận tải lên cao. Mà chi phí vận tải cao sẽ đẩy giá cả tất cả các mặt hàng tăng lên. Cùng với thuế xăng người mà dân Việt phải đóng vào giá đến 120% so với giá gốc, thì giá cả hàng hoá ở Việt Nam bao giờ cũng neo rất cao so với khu vực.

Với thu nhập của người dân Việt chỉ tầm 2.400 đô, thấp thuộc nhóm dưới trong khu vực Đông Nam Á, mà giá cả hàng hóa lại cao, thì kéo theo đó là chất lượng cuộc sống người dân sẽ thấp. Ý nói chất lượng cuộc sống người dân Việt Nam thấp là so với những quốc gia nghèo có thu nhập tương đương chứ không phải so với các nước giàu hơn.

Thuế cao, nhưng an sinh xã hội hoàn toàn không có, điều đó cho thấy, tham nhũng đã rỉa hết phần người dân đáng được hưởng. Quan chức thì tham nhũng tiền ngân sách, mà ngân sách cũng tiền dân. Thêm vào đó, doanh nghiệp sân sau đặt vòi BOT hút máu dân nữa thì hỏi dân còn gì? Chẳng còn gì cả, và họ bị buộc phải lao động nhiều hơn để “đủ sống”. Nhưng từ “đủ sống” chỉ là mồi nhử, cứ nỗ lực mà không biết đòi hỏi thì không bao giờ dân đủ sống thực sự. Thực chất sự nỗ lực của dân là chỉ nhằm để nhà nước và khối doanh nghiệp thân hữu bóc lột nhiều hơn mà thôi. Ngồi không hút máu dân sống phè phỡn, như vậy làm sao bọn chúng buông ra được? Chắc chắn một điều, chúng sẽ trừ khử hay đánh mạnh những ai dám lên tiếng vì sự công bằng.

Một ngày từ 6 đến 9 tỷ, báo cáo 1 tỷ, còn 2 tỷ bỏ túi. Quá béo bở, nên ai muốn đánh dẹp BOT thì chúng cũng sẽ chiến tới cùng. Với mỗi ngày 2 tỷ bỏ ngoài sổ sách, bọn BOT chỉ cần bỏ ra mỗi ngày trăm triệu để thuê công an và côn đồ để bảo vệ chúng, thì chắc chắn bọn này sẽ đến xếp hàng đông như Nguyên. Chính đám này sẽ hăm dọa trả thù, đánh đập những người dân nào dám đánh BOT của nó. Điều này ví như bọn BOT cướp tiền nhân dân, rồi dùng tiền đó mua roi quất vào nhân dân cho chừa thói đòi hỏi.

Mới đây một ông phó thủ tướng nói rằng “năm 2021 công chức sống bằng lương”. Điều này đặt ra câu hỏi rằng, từ trước tới giờ công chức không sống bằng lương nhưng họ vẫn sống, có người còn rất giàu, vậy tiền ở đâu ra? Cho nên từ câu nói này, chúng ta mới thấy tỷ lệ tham nhũng ở Việt Nam phải là 100%, nói đến chuyện “trong sạch” ở Việt Nam là hoang tưởng.

Ông Trọng đốt lò ầm ầm, nhiều củi của đối thủ chính trị bị chụm, nhưng tiền ngân sách bị hút như nước đại dương, còn tiền thu hồi thì như giọt cà phê. Mà đã 100% tham nhũng thì có thằng “trong sạch” nào để trám vào lỗ trống? Không có. Cho nên chuyện chống tham nhũng của CS Việt Nam là chuyện dùng tham nhũng để thay thế tham nhũng. Cho nên Tổ Chức Minh Bạch Thế Giới (Transparency International) đã xếp hạng chỉ số tham nhũng CPI (Corruption Perceptions Index) cho Việt Nam tụt 10 hạng. Nghĩa là nhóm quan chức mới thay thế những quan chức cũ có mức độ tham nhũng cao hơn. Chỉ có đàn cừu mới tung hô ông Trọng chứ thế giới người ta quá hiểu bản chất của chiến dịch này.

Đấy là toàn cảnh một xã hội Việt Nam hiện nay, nhìn như là một cỗ máy hút máu toàn dân. Chống tham nhũng kiểu ông Trọng nếu gọi đúng bản chất là thay vòi hút mà thôi. Sẽ không có gì khác cho thời hậu đốt lò. Với sự cai trị của ĐCS thì nhân dân mãi là đối tượng để Đảng và đám kinh tế thân hữu hút máu. Sẽ không thể khác. Chính ĐCS là nguyên nhân của nghèo đói và bất công xã hội. Chắc chắn sẽ không có chuyện ĐCS hy sinh quyền lợi của nó. Việc loại bỏ vai tro cai trị của ĐCS là nhiệm vụ của gần 100 triệu dân. Mình không biết tự giải thoát cho mình thì chẳng ai làm giùm cho.

— Đỗ Ngà —

DONGA.BLOG
Do Nga, Đỗ Ngà, Đỗ Văn Ngà, Facebooker Do Nga, Facebooker Do Van Nga, Do Van Nga, freedom, Vietnam

Xã hội bất an thì mê tín nhiều hơn

Xã hội bất an thì mê tín nhiều hơn

Diễm Thi, RFA
2019-02-08
Các bạn trẻ cầu khấn tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở Hà Nội vào ngày 5 tháng 2 năm 2019 tức mùng Một Tết Kỷ Hợi.

Các bạn trẻ cầu khấn tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội vào ngày 5 tháng 2 năm 2019 tức mùng Một Tết Kỷ Hợi.

 AFP
Trước đây thành phần cúng bái, cầu khấn, đi chùa, xem bói thường là những người già và phụ nữ… Bây giờ nhiều người trẻ cũng tham gia vào việc cầu xin, cầu may. Một trong những nơi thu hút giới trẻ đến để cầu xin những điều may mắn trong việc học hành, thi cử là Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội). Thống kê của Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Hà Nội cho biết chỉ trong mấy ngày Tết năm 2018, Văn Miếu –  Quốc Tử Giám đã đón hơn 100.000 lượt khách đến tham quan và “xin chữ” đầu năm.

Ngoài ra, các chùa chiền hay những nơi tổ chức lễ hội để người tham gia xin ấn, xin lộc cũng rất đông các bạn trẻ tham gia.

Truyền thông trong nước trích dẫn lời giáo sư Ngô Đức Thịnh rằng khi số lượng người trẻ, người có học thức đặt niềm tin vào tâm linh quá nhiều là điều đáng lo:

“Tất nhiên thời nào cũng có tình trạng mê tín dị đoan. Nhưng hiện điều đáng lo lại là số lượng người trẻ, người có học thức đặt niềm tin vào tâm linh khá nhiều. Không khó để thấy các sĩ tử trước ngày thi vào Văn Miếu thi nhau sờ đầu rùa, dùng tiền quết lên bia tiến sĩ để mong làm bài được trúng tủ.”

Nhà nghiên cứu xã hội học, Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương cho rằng một khi xã hội không an toàn thì người ta tìm chỗ bấu víu khác, bất kể là người già hay người trẻ. Bà nói:

“Cái này thuộc về tâm linh tín ngưỡng nên cũng tùy thuộc vào từng người. Có người tin nhiều, có người tin ít, người già hay người trẻ cũng thế thôi. Ở Việt Nam bây giờ người ta cầu khấn, cúng bái không hẳn chỉ do tín ngưỡng, mà họ muốn cầu cho một sự an toàn nào đó. Nếu một xã hội không bảo đảm an sinh, cuộc sống nhiều bấp bênh thì mức độ người dân phải cầu, cúng, bấu víu vào một cái gì đó để có chút niềm tin sẽ càng tăng. Còn nếu một xã hội an toàn hơn thì mức độ cầu cúng của người dân chắc sẽ giảm xuống.”

Bà nói thêm rằng tâm lý của người Việt Nam là có kiêng có lành cho nên người ta cầu khấn bất cứ đâu, bất cứ tôn giáo nào, miễn sao họ thấy an lành là được.

Cứ vào những ngày rằm, mùng một thì các ngôi chùa ở Việt Nam luôn có đông người đến lễ bái. Còn những ngày đặc biệt trong năm như rằm tháng giêng, đêm giao thừa hay sáng mùng một Tết thì không chỗ chen chân. Người ta đến xin lộc, hái lộc, xem quẻ đầu năm…

Bà Minh, một người dân thường xuyên đi lễ chùa nói với RFA:

“Xã hội bây giờ bệnh tật thì nhiều, ra đường thì người dân không có ý thức đi ẩu  gây ra tai nạn giao thông, ăn uống thì thực phẩm bẩn, môi trường thì ô nhiễm… đâm ra cũng chẳng biết trông chờ gì. Thôi tốt nhất là cứ theo mặt tâm linh đi lễ cầu mong sức khoẻ, bình an cho gia đình mà thôi.”

Nhà báo Võ Văn Tạo thì cho rằng chuyện cúng bái, cầu khấn, xin lộc thì rõ ràng là mê tín dị đoan chứ không phải đức tin về đạo đức, tôn giáo.

Trong cuốn ‘Believing in Magic’, tác giả Stuart Vyse viết rằng “gốc rễ của mê tín dị đoan là sự thiếu kiểm soát. Con người luôn muốn được kiểm soát tốt hơn trong các hoàn cảnh bất an. Khi gặp điều gì đó quan trọng nhưng không chắc chắn, mê tín dị đoan sẽ được dùng để lấp vào khoảng trống sợ hãi và làm con người cảm thấy tốt hơn”.

Ở Việt Nam những năm sau này, người ta dường như cúng bái nhiều hơn. Báo chí trong nước thường xuyên đưa những bài viết, hình ảnh những quan chức cao cấp hay vợ con của họ, trước đây theo chủ thuyết cộng sản là vô thần, bây giờ cũng đi chùa, dâng mâm cúng chùa. Nhà báo Võ Văn Tạo cho rằng có ba nguyên nhân dẫn đến chuyện này:

“Thứ nhất là những năm chiến tranh trước đây, nhà nước cộng sản miền Bắc chủ trương diệt những gì mà gây phân tán tư tưởng xã hội. Họ chỉ muốn người dân tập trung căm thù Mỹ, đánh Mỹ giải phóng miền Nam. Với học thuyết Mac – Lenin thì họ rất ghét các niềm tin khác, họ chỉ muốn người dân tuyệt đối vào ĐCSVN thôi.

So với trước đây thì bây giờ có khác, tất nhiên ĐCSVN vẫn muốn độc quyền cai trị đất nước, nhưng khách quan mà nói thì họ cũng có nới lỏng khi người dân đặt niềm tin chỗ khác.

Nguyên nhân thứ hai là khi cuộc sống đỡ thiếu thốn về vật chất thì ‘phú quý sinh lễ nghĩa’, hay đi chùa, đi đền, cúng sao giải hạn…đặc biệt ở ngoài bắc phát triển mạnh trong vài thập niên trở lại đây.

Nguyên nhân thứ ba là đạo đức xã hội xuống cấp, người dân đã mất hết niềm tin vào ban lãnh đạo đất nước. Không chỉ với giới chóp bu mà ngay cả cán bộ phường khóm, thôn, xã tiếp xúc hàng ngày với dân cũng ăn hối lộ, gây khó dễ cho dân, nói một đằng làm một nẻo. Nhu cầu cuộc sống luôn phải có chỗ để gửi gấm niềm tin. Bây giờ họ phải đặt niềm tin chỗ khác. Đó cũng là nhu cầu tự nhiên thôi.”

Facebooker Đỗ Ngà trong một bài viết vào ngày 7 tháng 2 cho rằng đa số người Việt khi bị bế tắc thì cầu thánh thần ban riêng cho họ sự giàu sang mà quên mất một điều là nếu đất nước thịnh vượng thì tất cả mọi người, trong đó có họ và cả con cháu họ sau này cũng được hưởng sự thịnh vượng đó.

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở NƯỚC NAM

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở NƯỚC NAM

Phạm Quỳnh

 Bàn thờ tổ tiên ngày Tết. Ảnh: Nam Phong.

Nhân loại gồm nhiều người chết hơn là người sống, Auguste Comte đã nói ở đâu đó như thế. Ở nước Nam câu nói ấy của nhà triết học thực chứng Pháp càng đúng hơn ở bất cứ nơi nào khác. Quả vậy, việc thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội của chúng ta. Nó đã trở thành một thứ giáo lý tôn giáo, và, theo một nghĩa nào đó, một tôn giáo quốc gia thực thụ. Nếu tôn giáo, đúng như ý nghĩa từ nguyên của nó đã chỉ rõ *, là mối liên kết tinh thần nối liền con người với những lực lượng siêu cảm, việc thờ cúng hay tôn giáo về những người đã chết là cách biểu hiện những mối quan hệ giữa thế giới những người đang sống với thế giới những người đã chết. Các mối quan hệ ấy rất nhiều và liên tục. Những người chết thường xuyên can dự vào cuộc sống của những người đang sống; họ hướng dẫn, chỉ đạo, che chở cho chúng ta, bảo hộ chúng ta, gợi hứng cho những ý tưởng và hành vi của chúng ta, có thể nói nhìn theo chúng ta, bằng những đôi mắt có thể xuyên suốt bóng tối của sự sống và sự chết và rất có thể chính bằng những đôi mắt ấy mà nhân loại có được một hình dung thoáng chốc nào đấy về tương lai và số phận của mình; tóm lại họ sống trong ký ức của chúng ta, trong mọi công việc của chúng ta, trong mong ước của chúng ta về một cuộc sống còn sống động hơn cả cuộc sống trên trần thế này.

Bản chất của những mối quan hệ làm nên một trong những hình thức sống động nhất trong tôn giáo của người nước Nam đó là gì? Tôn giáo về những người chết ấy dựa trên những nền tảng tín ngưỡng nào? Các biểu hiện nghi thức và thực hành của nó ra sao? Từ đó có thể nhận ra những bài học luân lý và triết học gì?

Khổng Tử, vốn là cả Socrate, Solon hay Lycurge cộng lại của Phương Đông, thường nói về các thần linh và các linh hồn. Quả là trong Luận Ngữ khi nói với các học trò của mình, đôi khi ông đã từ chối giải thích về bản chất của những điều ấy; ta đã biết câu trả lời của ông cho một học trò hỏi ông về vấn đề này: “Phục vụ người sống ngươi còn chưa biết cách, thì ta dạy ngươi cách phục vụ người chết làm gì?” – Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng về chuyện này, ông luôn trung thành với các tín ngưỡng của Trung Hoa cổ đại, mà đặc biệt tác phẩm Kinh Lễ còn giữ lại cho chúng ta nhiều dấu vết. Theo các tín ngưỡng đó, con người có một cái phách và một cái hồn. Khi chết, phách tan hủy cùng với thể xác, còn hồn thì tách ra; nó bay lượn trong khoảng không và sống một cuộc sống độc lập, thuần khiết, bay bổng. Đấy là cuộc sống của các linh hồn, của các vong hồn hay các bậc tổ tiên đã quá cố. Như vậy họ không chết đi hoàn toàn: họ tiếp tục sống một đời sống siêu nhiên, tinh thần. Nhưng cuộc sống chừng có thể nhạt nhòa đi, tan biến mất trong cõi vô cùng đó, được làm cho trở nên hiện thực hơn, đầy hiệu lực hơn, có thể nói như vậy, bằng ký ức mà những người còn sống lưu giữ về họ, bằng việc thờ cúng mà những người sống có bổn phận phải làm tròn đối với họ. Như vậy đấy những người đã chết vẫn còn tham dự mãi vào cuộc sống của gia đình mình, con cháu mình. Người ta lại nhắc đến họ trong mọi dịp long trọng, như khi có người mới ra đời, trong dịp cưới xin, v.v…

Kinh Lễ viết: “Ba tháng sau lễ cưới, người vợ trẻ được giới thiệu với tổ tiên trước bàn thờ với lời khấn sau đây: – Đây là cô dâu mới đã bước vào gia đình chúng ta. – Rồi đến ngày đã chọn trước, cô dâng lễ vật lên trước bài vị tổ tiên, và từ nay cô trở thành thành viên trong gia đình chồng”. Lời bình còn nói thêm rằng nếu cô bị chết trước lễ ra mắt và lễ dâng lễ vật ấy, thì dù đã sống chung với chồng, cô vẫn chưa phải là vợ anh ta và thi hài cô được trả về nhà cha mẹ.

Kinh Lễ còn viết thêm: “Trong trường hợp một đứa con dược sinh ra khi người cha đã chết, quan tài người cha còn quàn ở nhà, người làm lễ cúng sau khi đã gọi tên ông ta ba lần sẽ báo với ông ta: – Một thị đã sinh ra một cậu con trai: tôi xin báo cho người được biết… Nếu người chết đã được an táng, thì đứa trẻ sơ sinh sẽ được đưa trình báo trước bài vị của ông ta…”.

Việc thờ cúng các linh hồn và tổ tiên đã quá cố đã tồn tại từ thời rất xa xưa, Khổng Tử trong Luận Ngữ kể rằng vua Vũ, một trong những vị vua đầu tiên nửa truyền thuyết nửa lịch sử của Trung Quốc vốn rất giản dị, đã tỏ ra cực kỳ phóng khoáng khi dâng lễ vật cúng các vong hồn. – Khổng Tử viết trong Trung Dung: “Vào mùa xuân và mùa thu, người xưa trang trí bàn thờ tổ tiên. Họ bày các đồ đồng mà tổ tiên đã sử dụng và các quần áo tổ tiên đã mặc. Họ dâng cúng các thức ăn và hoa trái theo mùa.”

Trên đây tôi đã nói rằng Khổng Tử tôn trọng tôn giáo cổ xưa đó, các tín ngưỡng xưa đó của nước Trung Hoa cổ đại, lại còn vì chúng hoàn toàn phù hợp với học thuyết của ông về sự bảo tồn xã hội cơ sở trên việc thờ phụng quá khứ và truyền thống.

Nhưng tự ông có tin ở sự tồn tại của linh hồn không? Ông có tin ở sự hiện diện thật sự của linh hồn trong các lễ cúng và trong việc khấn vái không?

Qua những lời nói của ông, bao giờ cũng rất thận trọng khi đề cập đến những chuyện siêu hình, ta có thể nghi ngờ.

Chúng ta đã thấy câu trả lời của ông với một người học trò hỏi ông về cái chết. Sau đây là lời ông nói với một người học trò khác hỏi ông về chữ “trí”: “Làm tròn các bổn phận của một con người; tôn kính các thần; ấy là trí”.

Tôn kính các thần, nhưng kính nhi viễn chi, thái độ của bậc hiền triết đối với thần thánh là như vậy.

Có thể các vong hồn và thần thánh là có thật; cũng có thể không có thật. Duy có một điều chắc chắn là ta tôn kính họ; hãy làm điều đó với tất cả sự thành tâm, không mê tín cũng chẳng nên cuồng tín, như là ta thực hiện một nghi thức đạo đức và xã hội rất quan trọng.

Nghi thức ấy, quả vậy, bắt nguồn từ đức hiếu đễ, trong hệ thống chính trị – đạo đức của Khổng Tử, vốn là nền tảng của mọi đức hạnh, cơ sở của tế bào gia đình, và do đó cũng là của xã hội và của đế chế..

Trong những điều kiện đó, cần phải tôn kính những người đã chết như thế nào, và trong tất cả những người đã chết những người gắn liền với ta nhất, tổ tiên của chúng ta?

Theo Kinh Lễ lời nói sau đây là của Khổng Tử: “Coi người chết như là đã chết rồi thì sẽ là vô nhân. Chẳng nên làm thế. Nhưng coi họ như những người đang sống thì sẽ là vô lý. Chẳng nên làm thế”.

Như vậy không nên coi người chết như đã chết rồi, có nghĩa là không chăm nom gì đến họ nữa, quên bẵng luôn đi; cũng chẳng nên coi họ như còn sống, nghĩa là tin là họ còn sống thật. Đúng ra, họ sống bằng ký ức của chúng ta, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình cảm mà chúng ta gọi là đức hiếu đễ, biết tôn kính những người đã cho ta sự sống và ý thức, khiến cho họ còn tồn tại mãi mãi, nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ cúng mãi mãi cho con cháu chúng ta, bằng cách đó tạo cho ta cái ảo tưởng, – một thức ảo tưởng tốt lành, – về sự nối tiếp, về tính vĩnh hằng, tóm lại về sự bất tử, trong cuộc tồn sinh thoáng chốc, trong cõi thế gian biến ảo này.

Phải hiểu tình cảm sâu sắc của bậc hiền triết như vậy đấy. Tôn trọng truyền thống và các nghi lễ, ông không muốn bày tỏ rõ ràng ý kiến về vấn đề này. Tư tưởng của ông hẳn là như vậy. Đối với ông, việc thờ cúng người chết là tôn kính ký ức về họ, cơ sở trên đức hiếu đễ và tình cảm về sự vĩnh hằng của gia đình và nòi giống. Chính trong tinh thần đó mà ngày nay nó còn được thực hiện trong phần lớn thế giới Phương Đông ở đấy nó là tôn giáo chính và là tín điều thần khải hay siêu nhiên quan trọng nhất.

 

 

                                                                                                                              Bàn thờ tổ tiên ngày Tết. Ảnh: Lâm Khang.

Việc thờ phụng này có nhiều nghi thức mà mô tả lại ở đây sẽ chẳng có ích gì. Vả chăng ta đều biết mỗi gia đình người nước Nam, dù giàu hay nghèo, đều có bàn thờ ông bà của mình, có thể là một ngôi đền tráng lệ hay một cái kệ đơn giản treo bên trên một chiếc chõng. Trên đó đặt bài vị của tất cả những người thân đã mất cho đến đời thứ năm. Những người này là đối tượng của các lễ cúng đặc biệt vào các ngày giỗ và tất cả các ngày lễ theo nghi thức trong năm. Những người khác, các vị tổ tiên xa hơn, được ghi tên trên một bài vị chung và được cúng chung vào những ngày lễ theo nghi thức vốn rất nhiều trong năm. Có hai ngày được đặc biệt dành cho những người đã mất: ngày 3 tháng 3 (thanh minh), ngày viếng mộ; ngày lễ của những người chết này chẳng có gì là tang tóc và diễn ra vào một trong những lúc thời tiết đẹp nhất trong năm khi:

Cỏ non xanh tận chân trời…

Ngày lễ của những người chết này, gọi là “tẩy mộ”, thường có kèm theo một lễ hội của những người sống, bởi ý tưởng về cái chết – và đây là điều đáng chú ý, – ở xứ sở này chẳng có gì là tang tóc:

Gần xa nô nức yến oanh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Ngổn ngang gò đống kéo lên…

Ngày thứ hai dành cho những người chết, là ngày rằm tháng 7. Đúng ra đây là một ngày lễ Phật giáo cúng các vong hồn, tất cả những người chết mà không có người nối dõi để thờ phụng. Bởi tai họa lớn nhất đối với một con người là biết rằng đến một ngày nào đó không còn ai thờ cúng mình, vì không có hậu duệ, và do vậy trở thành một linh hồn lang thang mà đức từ bi của nhà Phật dành cho một lễ cúng chung và vô danh tính.

Do vậy những người chết mà không có hậu duệ trực tiếp thuộc giới nam để tiếp tục thờ cúng, theo luật nước Nam được phép chọn một người bà con gần gọi là “người thừa tự”. Qua đấy ta thấy ý tưởng về việc thờ phụng trong tâm hồn người nước Nam sâu sắc đến dường nào.

Việc thờ cúng người chết chủ yếu là thờ cúng tổ tiên.

Khổng Tử nói rằng: “Dâng lễ vật cho những vong hồn không phải là người thân của mình là một việc xu nịnh”.

“Mỗi người, mỗi gia đình phải dâng lễ vật cho những người thân của mình, chứ không phải cho những người khác. Nếu có ai đó dâng lễ cúng cho những vong hồn chẳng hề liên quan gì đến mình, thì rõ ràng là để nhận được một ân huệ mà họ chẳng có quyền được hưởng: một sự chiếm đoạt lấy ân huệ đáng chê trách”. (Wieger).

Như vậy, về nguyên tắc, mỗi người chỉ thờ cúng tổ tiên đã mất của mình. Nhưng có những con người trong đời mình đã làm nhiều điều tốt cho đồng bào mình, có công ơn đối với làng xóm của mình, tỉnh mình, đối với cả nước; có những vị vua, những vị quan đã xây dựng nên vinh quang của quốc gia; những vị tướng lĩnh đã cứu nước khỏi ách ngoại xâm; những nhà trí thức lớn đã đem lại vinh dự cho quốc gia do trí thông minh và tài năng của mình; những người đàn ông hay phụ nữ đã hy sinh vì danh dự hay đức hạnh; những người đó được quyền để cho đồng bào mình nhớ ơn và thờ phụng. Vậy nên các làng thờ phụng họ như những vị thành hoàng của làng; các tỉnh quê hương họ, hay cả nước lập đền thờ ở những nơi nổi tiếng để ghi nhớ công ơn họ. Đấy cũng là một hình thức thờ cúng tổ tiên; không phải là những bậc tổ tiên riêng của ai nữa, mà là tổ tiên chung của làng, của tỉnh thành, của quốc gia; đấy là thờ phụng các vị thần bảo hộ của đất nước, và theo một nghĩa nào đó, đó là việc thờ phụng những con người vĩ đại, những người anh hùng, mà Carlyle hết sức ca ngợi.

Việc thờ cúng người chết được hiểu và được thực hiện ở nước Nam là như vậy đấy. Do tầm quan trọng to lớn của nó về phương diện thiết chế gia đình và xã hội nước Nam, cùng những nghi thức tỉ mỉ kèm theo, nó đã thật sự trở thành một tôn giáo, tôn giáo của gia đình và nòi giống, tôn giáo của ký ức và lòng biết ơn. Quả thật đây là một tôn giáo hợp lý, logic, phù hợp với lý trí và tình cảm, ít mang tính chất thần bí nhất để thỏa mãn những tâm hồn sùng tín, và nhiều lý tính nhất để làm vừa lòng những đầu óc duy lý. Đấy là một thứ tôn giáo đầy tính triết học và người nước Nam lấy làm vinh dự đã thực hiện nó suốt bao thế kỷ dài.

(1930)

Chiếc bánh thứ nhất: Sống phút hiện tại

Hoa Kim Ngo shared a post.
Image may contain: 1 person, eyeglasses
An Nam Yakukohaiyo

Chiếc bánh thứ nhất: Sống phút hiện tại

Trích tác phẩm “Năm chiếc bánh và hai con cá” được Hồng Y Nguyễn Văn Thuận viết khi bị đưa đi tù cải tạo

Tên tôi là Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, người Việt Nam. Đối với người ngoại quốc tên tôi khó đọc, nên ở Tanjania, Nigeria, Đại Hàn, Đài Loan, các bạn trẻ gọi tôi là “Bác Francis” (Uncle Francis) hay đơn giản hơn nữa là “Francis!”

Đến 23-4-1975 tôi làm Giám mục đã được tám năm, tại Nha Trang, Trung phần Việt Nam, Giáo phận đầu tiên Tòa Thánh trao phó cho tôi. Tôi đã sống những ngày tháng hạnh phúc ở đó và Nha Trang vẫn chiếm một chỗ đặc biệt trong quả tim tôi. Ngày 23-4-1975, Đức Phaolô VI đã đặt tôi làm Tổng Giám mục phó Sàigòn. Khi cộng sản đến Sàigòn, họ đã bảo rằng: “Việc bổ nhiệm một Giám mục một tuần trước khi chúng tôi đến Sàigòn là một âm mưu giữa Vatican và đế quốc, nhằm tổ chức chống cộng sau này”.

Ba tháng sau, ngày 15-8-1975, tôi được mời vào Dinh Độc lập lúc 2 giờ chiều và bị bắt ở đó.

Đêm đó, trên đường dài 450 km, xe công an chở tôi về nơi quản thúc. Bao nhiêu tâm tình lẫn lộn trong đầu óc tôi: lo lắng có, cô đơn có, mệt mỏi có, sau mấy tháng căng thẳng…nhưng trong trí tôi, một quyết định sáng tỏ đã đánh tan mây mù. Tôi nhớ lời Đức Cha John Walsh, một Giám mục truyền giáo gốc Mỹ, đã nói lúc ngài được tự do sau 12 năm tù ở Trung cộng: “Tôi đã mất nữa đời người để chờ đợi”. Rất đúng! tất cả mọi tù nhân, trong đó có tôi, phút giây nào cũng mong đợi tự do. Suy nghĩ kỹ, trên chiếc xe Toyota trắng, tôi đã đặt cho mình một quyết định: “Tôi sẽ không chờ đợi. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy tình thương”.

Đây không phải là một cảm hứng đột xuất, nhưng là một xác tín đã ấp ủ suốt quãng đời mãi từ tiểu chủng viện: “Nếu tôi mất giờ đợi chờ, không làm gì hết, biết đâu những điều tôi đợi sẽ không bao giờ đến. Chỉ có một điều, dù không đợi cũng vẫn đến, đó là sự chết!”

Trong làng Cây Vông, nơi tôi bị quản thúc, ngày đêm có nhân viên an ninh chìm nổi theo dõi. Trong óc một tư tưởng không ngừng làm tôi xót xa, thao thức: “Giáo dân của tôi! một đoàn chiên hoang mang, giữa bao hiểm nguy, thách đố của một giai đoạn lịch sử mới. Làm sao tôi có thể gần gủi, liên lạc với họ, trong giai đoạn họ cần đến người mục tử nhất! Các nhà sách Công giáo bị đóng cửa, trường học Công giáo do Nhà nước quản lý, tôn giáo sẽ không còn được dạy dỗ trong các trường nữa; các linh mục, sư huynh, nữ tu có khả năng phải đi ra thôn quê, đi nông trường lao động, không được dạy học nữa! Sự xa lìa giáo dân là một cú “sốc” giày vò tan nát quả tim tôi.

Tôi không đợi chờ. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy tình thương. Nhưng làm thế nào?

Một đêm, một tia sáng đến với tôi: “Con hãy bắt chước thánh Phaolô. Khi ngài ở tù, không hoạt động tông đồ được, ngài đã viết thư cho các giáo đoàn. Đơn giản vậy mà con đi tìm đâu cho xa?”

Sáng hôm sau, vừa mới tinh sương, giữa tháng 10 năm 1975, tôi làm hiệu cho một cậu bé 7 tuổi, tên Quang, vừa đi lễ 5 giờ ra, trời còn mù và lạnh: “Quang! con về nói má con mua cho ông mấy “bloc” lịch cũ, ông cần dùng”. Chiều tối, chú bé mang lại mấy “bloc” lịch cũ. Thế là mỗi đêm trong tháng 10 và tháng 11, 1975, tôi đã đóng hết cửa, lấy giấy xi-măng dán bên trong và viết “Sứ điệp từ ngục tù” cho giáo dân của tôi, dưới ánh đèn dầu leo lét, mặc cho muỗi tha hồ đốt. Mỗi sáng thực sớm tôi trao cho bé Quang, mấy tờ lịch tôi đã viết sau lưng, mang về cho anh, chị của Quang chép lại kẻo mất. Nếu để trên bàn tôi, “ông An” (một giáo dân) thấy sẽ sinh tai họa. Đấy là đầu đuôi sách “Đường Hy Vọng”, sứ điệp lao tù thành hình là như thế. Hiện nay sách đã được xuất bản bằng tám thứ tiếng.

Chúa đã ban ơn cho tôi có nghị lực để tiếp tục làm việc, kể cả những lúc chán nản nhất. Tôi đã viết đêm ngày trong một tháng rưỡi, vì tôi sẽ bị “chuyển trại” và không có điều kiện hoàn tất được. Lúc viết đến số 1001 tôi quyết dừng lại, xem đây như công trình “nghìn lẻ một đêm”. Ngày 8-12-1975, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Tội, tôi đã tạ ơn Đức Mẹ cho tôi viết xong “Đường Hy Vọng” và trao trong tay Đức Mẹ gìn giữ, đó là của Đức Mẹ, nhờ ơn của Đức Mẹ, xin Đức Mẹ tiếp tục lo liệu. Đoán vậy mà không sai, đến ngày 18-3-1976, tôi bị đưa vào trại Phú Khánh, biệt giam vất vả nhất.

Năm 1980, lúc bị đưa ra quản thúc ở Giang Xá, Bắc Việt, tôi đã tiếp tục viết mỗi đêm trong bí mật cuốn thứ hai, “Đường Hy Vọng Dưới Anh Sáng Lời Chúa và Công Đồng Vatican II”, cuốn thứ ba, “Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng”.

Tôi không chờ đợi. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy yêu thương.

Trong Phúc âm, các Tông đồ muốn chọn con đường dễ nhất, khỏe nhất: “Xin Thầy cho dân chúng về, để họ mua thức ăn”…Nhưng Chúa Giêsu muốn hành động trong phút hiện tại: “Chính các con hãy cho họ ăn đi” (Lc 9, 1). Trên thánh giá, khi người ăn trộm thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, khi về thiên đàng xin Ngài nhớ đến tôi”. Chúa Giêsu đáp: “Hôm nay con sẽ ở cùng Ta trên nước thiên đàng” (Lc 23, 42-43). Trong tiếng “hôm nay” của Chúa Giêsu, tôi cảm thấy tất cả sự tha thứ, tất cả tình thương của Ngài.

Cha Maximiliano Kolbe sống tinh thần ấy khi ngài khuyên các tập sinh trong dòng: “Tất cả, tuyệt đối, không điều kiện”. Tôi đã nghe Đức Cha Helder Camara nói: “Cả cuộc đời là học yêu thương”. Một lần Mẹ Têrêxa Calcutta gửi thư cho tôi, Mẹ viết: “Điều quan trọng không phải là số công tác đã thực hiện nhưng là mức độ tình yêu ta đã để vào mỗi công việc”.

Làm sao yêu thương đến cao độ như thế trong mỗi phút hiện tại? Tôi nghĩ rằng tôi phải sống mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút như là giờ phút cuối cùng của đời tôi. Dẹp bỏ những gì là phụ thuộc, tập trung cả tâm hồn cho những gì là chính yếu. Mỗi lời nói, mỗi tư tưởng, mỗi cử chỉ, mỗi cú điện thoại, mỗi quyết định phải là “đẹp nhất” của đời tôi. Tôi phải dành cho mỗi người tình yêu của tôi, nụ cười của tôi: tôi phải lo sợ đánh mất một giây phút nào trong đời mình vì đã sống không ý nghĩa…

Tôi đã viết trong sách Đường Hy Vọng: “Con chỉ có một giây phút đẹp nhất: giây phút hiện tại (x Mt 6, 34; Gc 4, 13-15). Sống trong tình yêu Chúa cách trọn vẹn, đời con sẽ tuyệt đẹp nếu kết tinh bằng từng triệu giây phút đẹp nhất. Con thấy đơn sơ, không phải khó (ĐHV 997).

Các bạn trẻ thân mến, trong thời đại này, Chúa Giêsu cần đến các bạn. Đức Gioan Phaolô II tha thiết kêu gọi các bạn hãy đương đầu với những thách đố của thế giới hôm nay:

Chúng ta đang sống trong một giai đoạn đầy biến chuyển kinh khủng. Những lý thuyết được xem là đủ sức thi gan cùng tuế nguyệt nay đã đến lúc xế chiều. Trên hoàn cầu, cần phải phác họa lại ranh giới của nhiều quốc gia. Nhân loại tự cảm thấy mình rất lúng túng, hốt hoảng, lo lắng (Mt 9, 36). Nhưng lời Chúa không bao giờ qua đi; đọc lại lịch sử, chúng ta thấy bao nhiêu biến cố thăng trầm, đang lúc ấy lời Chúa đứng vững và chiếu sáng (Mt 24, 35). Đức tin của Hội thánh được xây dựng trên Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu thế độc nhất: hôm qua hôm nay và mãi mãi (Eb 13, 18).

(Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 2)

Cuồng tử, tại nơi quản thúc: Giang Xá, Bắc Việt
ngày 19-3-1980, Lễ Thánh Giuse.

DUY TRÌ DÂN CHỦ  VÌ SAO CỘNG SẢN RẤT SỢ DÂN CHỦ –

Hoa Kim Ngo shared a post.

Thông Luận: DUY TRÌ DÂN CHỦ 
VÌ SAO CỘNG SẢN RẤT SỢ DÂN CHỦ –

Để đảm bảo dân chủ trường tồn, cần gì? Cần một lãnh đạo có tinh thần dân chủ, cần người dân có tinh thần dân chủ, hay cần một thể chế chính trị đảm bảo dân chủ? Để hiểu sâu về vấn đề này xin hãy đào sâu những nền dân chủ trên thế giới hình thành như thế nào và nó duy trì ra sao?

…See More

Image may contain: 2 people, people smiling, suit
THÔNG LUẬN
Political Organization
THÔNG LUẬN

DUY TRÌ DÂN CHỦ 
VÌ SAO CỘNG SẢN RẤT SỢ DÂN CHỦ –

Để đảm bảo dân chủ trường tồn, cần gì? Cần một lãnh đạo có tinh thần dân chủ, cần người dân có tinh thần dân chủ, hay cần một thể chế chính trị đảm bảo dân chủ? Để hiểu sâu về vấn đề này xin hãy đào sâu những nền dân chủ trên thế giới hình thành như thế nào và nó duy trì ra sao?

Nước Mỹ giành độc lập từ tay Anh Quốc ngày 04/07/1776. Và đến ngày 17/09/1786 thì bản Hiến pháp ra đời. Bản Hiến pháp này là một bản thiết kế nhà nước tam quyền phân lập theo mô hình nhà nước cộng hoà đầu tiên trên thế giới ra đời. Như vậy nhóm soạn thảo Hiến pháp phải là những người đã nhiễm tinh thần dân chủ từ Âu Châu. Nếu những con người lập quốc ấy, có máu độc tài, chắc chắn không có bản Hiến pháp ấy ra đời. Và nước Mỹ chắc chắn cũng loay hoay trong hàng thế kỷ nữa mới có dân chủ.

Nước Hàn Quốc những thập niên 80 của thế kỷ trước đã dân chủ hoá từng bước theo những cuộc biểu tình đòi yêu sách của người dân. Và đến cuối thập niên thì Hàn Quốc có dân chủ. Mỹ khởi sự nền dân chủ bằng chủ trương của các nhà lập quốc, còn Hàn Quốc là từ đòi hỏi toàn dân. Như vậy, qua 2 mô hình trên ta đều thấy có điểm chung, đấy là phải có con người dân chủ.

Từ sau khi độc lập đến nay, nước Mỹ chưa một lần rơi vào hoạ độc tài. Câu hỏi đặt ra là, nếu một người có máu độc tài làm tổng thống trong một bộ máy tam quyền phân lập đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, thì ông ta có lộng hành được không? Chính một thể chế chính trị phân quyền đã kiểm soát những việc làm độc đoán của tổng thống. Ví dụ, nếu tổng thống ban sắc lệnh vi hiến, tòa bảo hiến sẽ bác bỏ. Nếu tổng thống phạm tội, quốc hội sẽ luận tội để truất phế chức vụ tổng thống. Sau khi truất phế, tư pháp sẽ truy tố. Và Hàn Quốc từ 1990 đến nay, không ít tổng thống bị truy tố.

Cho nên, khi thiết lập nền dân chủ thì cần có con người dân chủ. Và khi duy trì dân chủ thì cần 2 yếu tố là nhà nước tam quyền phân lập đúng nghĩa và con người dân chủ. Chính 2 yếu tố này hội đủ, nó sẽ hoá giải tổng thống có máu độc tài. 2 yếu tố, con người và thể chế là cực kỳ quan trọng.
Đỗ Ngà
https://www.facebook.com/dongacanada

Xã hội làm ‘nô lệ’ cho thánh thần và dấu hiệu ‘mạt vận’ của văn hoá

Xã hội làm ‘nô lệ’ cho thánh thần và dấu hiệu ‘mạt vận’ của văn hoá

Cả một xã hội khấn vái, ước ao, một xã hội biến mình thành nô lệ của hương khói và thánh thần là con đường tắt dẫn văn hóa đến ngày “mạt”.

Người đi lễ chùa Bái Đính (Ninh Bình) ném tiền lẻ xuống trống đồng đề cầu may mắn khiến trống đồng như một nơi chứa rác

Hãy thử mường tượng đến tâm trạng của Thánh Gióng, công chúa Thiều Hoa hay Đức Thánh Trần hiển linh, nhìn thấy đám hậu sinh chen nhau giẫm đạp, cướp giật, hối lộ công khai ở các lễ hội tôn vinh mình…

Sẵn sàng thực hiện hành vi “vào luồn, ra cúi” như lách qua khe cửa hẹp và bò dưới gầm ban thờ tại đền Bảo Lộc (Nam Định) để được thăng quan phát tài 

Andy

Một xã hội khói hương

Nói ra thì bảo báng bổ, nhưng cứ thử nhìn mà xem, tháng Giêng năm nào, người ta cũng thấy rõ ràng nhất, đầy đủ nhất cái sự mê tín đến khủng khiếp của người Việt.

Một xã hội “khói hương”, với hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn người chen chân mang vác thủ lợn, gà luộc, vàng mã, đủ thứ lễ lạt cồng kềnh và cầu kỳ khắp các chùa chiền, miếu, phủ; từ nơi xa xôi hẻo lánh đến thị thành nhộn nhịp; từ đầu tuần tới cuối tuần, dai dẳng hết cả tháng Giêng, tháng Hai, có nơi còn vắt sang tháng Ba. 

Đâu đâu cũng thấy những người là người, nghi ngút khói hương, sì sụp khấn vái, cầu ước.

Xa xôi gì đâu, mới cách đây mấy ngày, dư luận khiếp đảm chứng kiến một cuộc hỗn chiến dã man bằng nắm đấm, gây gộc, hung hăng và máu để cướp cho bằng được quả “phết”, tại Phú Thọ. Vì tương truyền, có quả ấy trong nhà, cả năm sẽ may mắn, ăn nên làm ra, rồi cả …đẻ con trai. 

Tối hôm sau, hàng chục nghìn người xếp hàng dài cả cây số, tràn khắp các con đường, ngay trục giao thông trung tâm của Thủ đô, vái vọng xa tít tắp vào ngôi chùa Phúc Khánh vì đặt niềm tin vào sự linh thiêng của nơi này.

Biển người chen chân đi lễ đầu năm ở chùa Phúc Khánh.

Mùi của khói hương là mùi của bình an, của tĩnh tại, của thời khắc thiêng liêng, của ước vọng tốt đẹp và hướng thiện. Thứ mùi ấy, nhất định không thể tồn tại giữa xô bồ và toan tính.

Cũng đêm đó, ở đền Trần Nam Định, hơn vạn người chen lấn, giẫm đạp, nhảy bổ lên cả lư đồng, bàn thờ để cướp bằng được một chút lộc mang về nhà. Lộc ấy, dù được cướp theo cách báng bổ nhất, cũng được nâng niu như thứ bùa hộ mệnh cho lòng tin mãnh liệt vào đường công danh, thăng quan tiến chức.

Rồi các phủ, các đền, chùa, miếu mạo…cứ sau Tết là tấp nập người ra kẻ vào, khổ sở chen lấn, sớ cầu xin nào cũng dài dằng dặc ti tỉ ước mong.

Thôi thì, cầu mong những điều may mắn, tốt đẹp, an vui trong ngày đầu xuân năm mới vốn là truyền thống tốt đẹp của người Việt bao đời. Những địa danh tâm linh ấy, cũng được dựng lên từ ý nghĩa văn hóa và lịch sử đầy nhân văn của cha ông. 

Nhưng thử hỏi, bao nhiêu người trong số các khách thập phương xa gần kia, mang cái tâm hướng thiện và cầu bình an thực sự đến với những nơi linh thiêng. Hay nhiều hơn thế, những kẻ đang hùng hổ cướp lộc và len lén mua khói bán nhang, mua thần bán thánh đến cầu khấn những điều biểu lộ sự tham lam vô độ của lòng người.

Nhảy bổ lên cả lư đồng, bàn thờ để cướp bằng được một chút lộc mang về nhà tại đền Trần (Ảnh: Zing)

Mùi của khói hương là mùi của bình an, của tĩnh tại, của thời khắc thiêng liêng, của ước vọng tốt đẹp và hướng thiện. Thứ mùi ấy, nhất định không thể tồn tại giữa xô bồ và toan tính. 

Từ bao giờ, niềm tin của con người được “gá” vào thánh thần chứ không phải giữa con người với con người, giữa con người với ngay chính xã hội mà chúng ta đang sống, đang tồn tại hiển nhiên như vậy?

Cả một xã hội khấn vái, ước ao, một xã hội biến mình thành nô lệ của hương khói và thánh thần.

Văn hóa, chắc rồi cũng đến hồi “mạt vận”, khó mà ngóc đầu lên được, khi thay vì ngẩng cao đầu mà dũng khí, thì cả biển người lại sống bằng quỳ lạy dập đầu và đi “xin” giàu có, vinh hiển, con cái, công danh sự nghiệp… từ các vị thánh thần. Quỳ lạy xong nhảy bổ lên đầu người khác, lên cả bàn thờ để cướp hương hoa vàng lộc, “mạt” ở đấy chứ đâu.

Không “mạt vận” sao được, khi sự mê tín cực đoan đã đẩy con người vào sự ngu muội và làm trỗi dậy tính dã man nhất, ác độc nhất, hình thành cả một thế hệ hung bạo.

Vung gậy đánh gục cái người đang là anh, em, chú, bác gần gũi đó để mang bằng được cái may, cái lộc về nhà là cầu an hay là biểu hiện của sự phi nhân tính đến lạnh sống lưng?

Sự hung hăng dã man tại lễ hội cướp phết Hiền Quan (Ảnh: Việt Linh)

Rồi từ sự hung hăng bạo ngược được “tôi rèn” ở nơi làng xã ấy, sẽ chẳng còn lạ khi người ta ra ngoài kia, lạnh lùng chém chết cả một gia đình vì mấy đồng bạc lẻ, xuống tay đâm chết một mạng người ngay trên bàn nhậu dễ dàng đến kinh sợ.

Xã hội khói hương dẫn văn hóa đi tắt đến ngày “mạt”, ngắn ngủi lắm. 

An Yên

KHI CHA GIÁM ĐỐC ƠN GỌI GIÁO PHẬN ĐI LÀM MỤC VỤ LÒNGTHƯƠNG XÓT CHÚA

CÁC NHÀ TRUYỀN GIÁO THỜI ĐẠI  (phần bốn).

KHI CHA GIÁM ĐỐC ƠN GỌI GIÁO PHẬN ĐI LÀM MỤC VỤ LÒNGTHƯƠNG XÓT CHÚA

Tác giả: Phan Sinh Trần

*****

Có những lúc cần thiết phải giáo dục đức tin cho con em mình, Bạn sẽ phân vân tự hỏi rằng, trong nước Mỹ này, nơi đâu có một Giáo xứ lý tưởng cho con em sinh hoạt, nơi tiêu biểu cho sự thờ phượng Chúa một cách sống động theo chân lý Tin Mừng?

Trong thời đại này, Chúa có còn ban ơn, để linh mục, tu sĩ và giáo dân tạo nên những Giáo xứ lý tưởng giống như cộng đoàn Arc của Cha Thánh Gioan Vianne ngày xưa không?

Có nơi nào trên nước Mỹ thường xuyên sùng kính Lòng Thương Xót Chúa và làm việc từ thiện Lòng Thương Xót gần giống như Giáo Điểm Tin Mừng cúa Cha Trần Đình Long ở Nhà Bè, Việt Nam?

Dịp Mùa Xuân Kỷ Hợi này, mời bạn ghé thăm một vùng đất đang trổ hoa trong Giáo Hội Hoa Kỳ.

Mời bạn đến thăm giáo xứ St. Faustina, ở một thành phố bé nhỏ có tên là FulShear, tiểu bang Texas để chứng kiến sự kỳ diệu của Lòng Thương Xót Chúa, nơi có sức mạnh của Tin Mừng thực hành, nơi mà con dân làm theo Lời Chúa khả dĩ đươm kết nên một thành quả lớn, vượt hơn mong ước. Trường hợp của Giáo Xứ Faustina, khởi đi từ con số không về nhân lực, tài lực, nơi mà Cha xứ đi lưu cư vì không có đến cả một nhỏm đất nhỏ để cắm dùi, không có một nơi cố định để sinh hoạt thờ phượng, đi từ những con số không đến sự hình thành nên một Giáo Xứ sầm uất nhất nhì nước Mỹ trong vòng 2 năm ngắn ngủi.

2014, sau 7 năm, hoàn tất nhiều nhiệm kỳ làm giám đốc văn phòng ơn gọi tại tổng giáo phận Galveston Houston, sau khi đã mang về cho Tổng Giáo Phận nhiều chủng sinh, Cha Hoàng văn Đạt nhận được bài sai của Đức Hông Y De Nidarno đi thành lập một Giáo Xứ mới, Đức Hông Y tin tưởng và biết là người con thân yêu, tốt lành của Ngài rất được ơn Chúa, giúp vượt qua những hoàn cảnh khó. Điều quan trọng nhất, đó là, Giáo phận nhận định rằng vùng đang phát triển Fulshear sẽ có rất đông di dân từ các nơi đổ dồn về, Fulshear từ một vùng quê nhỏ sẽ phát triển thành khu thị tứ sầm uất và trù phú, bao gồm chung quanh là các khu dân cư mới đẹp, tiện nghi. Giáo Phận cần có một Linh Mục tài giỏi để làm nên một Giáo Xứ mới từ con số không?

Tuy nhiên, sự thể là Cha Đạt, nay bổng nhiên, trở thành một người homeless vô gia cư, cha không có một giáo xứ để sinh hoạt, không có một ngôi nhà bé nhỏ để làm chốn dung thân, không có tài chánh dùng cho việc xây dựng giáo xứ mới, không tài sản riêng để sinh sống. Cha cảm thấy rất bối rối trong hoàn cảnh thử thách mới. Còn đâu những ngày tháng nhiệt thành nóng bỏng khi Cha làm mục vụ ơn gọi, khi mà ai nhìn thấy Cha cũng có cảm tình với ơn gọi như lời một bạn trẻ có tên là Gia cô bê Farfaglia, sau trỏ thành một linh mục chánh xứ hăng say, chính Ngài đã kể “Khi gặp Cha Đạt tôi liền bị niềm hạnh phúc (thánh thiện) và nhiệt tình của Cha thu phục… Các ngài thuộc thế hệ linh mục của đức Gioan Phaolo đệ nhị, có lòng nhiệt thành, có hạnh phúc và là những người khỏe mạnh trẻ trung với ước vọng ra đi phục vụ như những  linh mục công giáo”

Cha Đạt vốn có kinh nghiệm 4 năm làm phó xứ, phục vụ tại Giáo xứ Thánh Danh Chúa ở trung tâm thành phố Houston và ở họ đạo Maria Madalena, thuộc ngoại ô thành phố Humble. Nhưng việc lớn lao, khó khăn như là công trình thành lập một Giáo Xứ từ con số không thì Cha chưa từng làm bao giờ. Ngài lâm vào ngõ cụt không biết sẽ phải khởi đầu từ đâu, hoàn toàn bế tắc về nguồn nhân sự, tài chánh, trong giới hạn eo hẹp theo khả năng của con người. Cuối cùng, lực bất tòng tâm, Cha chỉ còn một cách duy nhất đó là hỏi Chúa và đặt hết tâm sự trước nhan thánh Chúa. Cha kể, “một đêm nọ, quá mêt mỏi, lòng đầy ưu tư, khắc khoải khi nhìn đến tương lai, tôi đến trước nhà tạm, tôi nằm phủ phục trước Mình Thánh Chúa và tôi hỏi Chúa rằng không lẽ nhiệt tình phục vụ và ước mong được làm việc cho Chúa tàn tạ, chấm hết ở đây, con phó thác mọi sự trong tay Chúa”.

Chúa có trả lời cho Ngài không? Thưa có! Điều đã xảy ra, là có một sự an ủi, có cảm giác bằng an, thanh bình tuyệt vời dâng lên trong lòng Cha Đạt, theo như lời kể lại của Ngài. Rồi Chúa làm cho Cha thức tỉnh, nhận ra rằng Ngài vẫn còn đồng hành và sẽ tiếp tục đồng hành với mình trong sứ vụ; Còn hơn thế nữa, Cha Đạt cảm nhận rằng Chúa sẽ dùng Cha làm sáng tỏ Lòng Thương Xót vô bờ bến của Chúa, Ngài sẽ đáp lại lòng ước ao của Cha, muốn được truyền bá việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa ở Hoa Kỳ …

Ngay ngày hôm sau, Cha Đạt hăng hái bắt tay vào việc, Cha đi tìm, mượn chỗ dâng lễ trong một nhà kho, Cha đi mời từng bạn bè, người thân quen gần thị trấn nhỏ Rosenberg và FulShear đến dự lễ, nhóm nhỏ vỏn vẹn chưa được dăm ba chục người tham dự, Cha không nản lòng vì biết có Chúa đồng hành, rồi sẽ có một ngày đẹp tươi, Chúa sẽ làm cho mọi sự đâu vào đấy.

                                                                                     

Hàng tuần mỗi thứ bẩy cha đi khiêng từng chiếc ghế sắp xếp và chuẩn bị cho thánh lễ. Mệt mỏi, khó khăn không làm Ngài suy giảm niềm tin nơi Lòng Thương Xót Chúa, rồi sẽ đến thời kỳ hưng thịnh của cộng đoàn mới. Quả đúng như vậy, một thời gian sau, thánh lễ Nhóm đã biến thành thánh lễ của giáo điểm, con số tín hữu tham dự Thánh Lễ đông dần, từ năm mươi người tham dự, con số tăng lên bẩy chục, một trăm, môt trăm năm chục, rồi lên đến vài trăm người. Cha Đạt phải dời địa điểm dâng lễ đến trường Joe Hubenak, coi như điểm gặp gỡ ban đầu của một Giáo Xứ mới.

 Ngôi trường tiểu học, Joe A. Hubenak, nơi cử hành thánh lễ đầu tiên của Giáo Xứ Faustina vào ngày thứ bẩy 16  tháng 8, 2014

 Sau mươi tháng, nhu cầu tạo mãi trở nên cấp bách vì giáo dân mới đến dự lễ đông quá, tuy nhiên, đến thời điểm này thì việc xây dựng Giáo xứ đã khá dễ dàng, việc tạo mãi đất, xây dựng công trình, diễn ra êm ả giống như trong một giấc mơ vì cha có một tập đoàn giáo dân vừa nhiệt thành vừa hăng say dâng cúng, ngay trong năm đầu số tiền đóng góp lên đến một triệu năm trăm ngàn đô la. Cha để cho hội đồng mục vụ và tài chánh mới thành lập được có nhiều sáng kiến và toàn quyền tư vấn cho Cha trong việc mua đất, xây dựng, trang bị cho giáo xứ mới.

Một cộng đoàn Giáo Xứ mới được thành hình ngay trong năm 2015 với con số khởi đầu bao gồm trên 1300 nóc gia, con số thanh thiếu niên tham gia các lớp giáo lý bồi dưỡng đức tin trong năm đầu tiên là 715 em, số tham dự tiếp tục gia tăng trung bình mỗi năm 30%

https://www.youtube.com/watch?v=Z9rG95q-cQM

Ngày 8, tháng 11 năm 2015, khởi công xây dựng khu quần thể Hội Trường mới có  sức chứa  khoảng 1600 người, bao quanh là 27 phòng học giáo lý và phòng làm việc với ngân khoản chi phí trên tám triệu mỹ kim,  nơi sẽ được tạm sử dựng cho việc dâng Thánh lễ. Trước sự hiện diện của Đức Hồng Y Dinardo, Cha Đạt nói “Chúng con cảm thấy thật lý thú trên chặng hành trình và trông chờ đến ngày được chứng kiến sự kỳ diệu Chúa làm cho cộng đoàn”. Cha mời mọi người nhìn ra chung quanh vùng đất còn hoang sơ để ôm ấp kinh nghiệm về ơn phúc mà Chúa sẽ ban, “Con biết rằng sẽ đến ngày mà tại địa điểm này, ở ngay chính nơi đây sẽ có nhiều linh hồn tìm được chỗ trú ẩn trong đại dương của Lòng Thương Xót Chúa Ki tô, nơi đây, có nhiều trái tim tan vỡ sẽ được chữa lành. Nhiều người được ơn quay về bên Chúa. Cũng chính ở nơi đây, quy tụ nhiều lời cầu nguyện làm cho thành phố này được nâng lên, để khu vực này của thé giới được biến đổi. Vì Giáo xứ chúng con được mang tên thánh nữ Fostina, vị tông đồ của Lòng Thương Xót và nhiệm vụ của chúng con, làm ngọn hải đăng chiếu soi cho mọi người ở chung quanh chúng con tìm về Lòng Thương Xót”.

Chưng kiến sự lớn mạnh của giáo xứ Fostina đức Hồng Y Dinardo, bề trên Tổng Giáo Phận Houston-Galveston nhận xét, “Nếu con có Đức Tin Công Giáo, thì mọi sự khác rồi ra sẽ ăn nhập đâu vào đấy”.

 

  

                                                                                         
                                                                                      
 
 Từ bãi đất trống thành khu Hội Trường, Khu học Giáo Lý trong vòng chưa đầy hai năm  

Khi bạn vừa bước chân vào giáo xứ, ở tiền sảnh,  mắt bạn sẽ diện kiến ngay khẩu hiệu dùng làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Giáo Xứ, “ Hội thánh Công Giáo Fostina là một cộng đoàn nơi mà Lòng Thương Xót sâu thẳm của Chúa được sống động, trải nghiệm và chia sẻ.”

Thực vậy, Cha chánh xứ Fostina và Cộng Đoàn không chỉ nói về Lòng Thương Xót Chúa, nhưng họ đã suy tôn Lòng Thương Xót, làm cho lời hứa của Chúa với thánh nữ Fostina “Ta đổ tràn trên họ những dòng thác ân sủng.”  thành hiện thực. Suy tôn Lòng Thương Xót Chúa không chỉ bằng kinh nguyện nhưng quan trọng hơn, đẹp lòng Chúa hơn đó là suy tôn Lòng Thương Xót bằng việc bác ái và sống theo Tin Mừng. Ngoài việc lần chuỗi Lòng Thương Xót trước giờ thánh lễ Chúa Nhật, chầu Mình Thánh Chúa mỗi thứ năm trong tuần, thánh lễ xức dầu cho bệnh nhân mỗi thư Sáu đầu tháng, Cộng Đoàn Fostina còn suy tôn bằng cách sống Lòng Thương Xót Chúa, họ có chương trình hằng ngày hay hằng tuần đi thăm viếng người bệnh, người nghèo, ở nhà riêng, ở bệnh viện, họ đi thăm tặng chăn đã được làm phép cho bệnh nhân, tặng áo đức bà cho người đang hoạn nạn đau khổ, chương trình thực phẩm cho người nghèo, chương trình sửa chữa nhà ở cho các cụ cao niên, góa phụ, mẹ con đơn côi…

Vào dịp hè năm 2017,2018 ngoài việc cho các em thanh thiếu niên học hỏi trong các lớp Kinh Thánh hè, cắm trại, tĩnh tâm, Cha xứ còn tổ chưc cho nhóm 100 em thanh niên đi các nơi xa xôi, xây nhà cho người nghèo trong thời gian hai tuần lễ theo chuong trình Habitat.

            

                     Các Em Thanh Niên cùng Phụ Huynh họp chuẩn bị lên đương xây nhà cho người không nhà theo chương trình Habitat

Mỗi năm vào tháng giêng, có nhóm các em Thanh nữ bước lên chuyến xe buýt do Giáo Xứ thuê bao để đến tận thủ phủ Texas ở thành phố Austin tham gia phong trào tuần hành phò sự sống, chống phá thai. Họ muốn bênh vực cho trên sáu mươi triệu thai nhi đã bị giết hại oan uổng một cách công khai qua các vụ phá thai hợp pháp ở Hoa Kỳ.

    
   
  

   Về phần người lớn, Giáo xứ có chương trình huấn luyện hàng tuần nhằm giúp người đang thất nghiệp tìm hướng chuyển đổi nghề nghiệp, giúp kỹ năng kiếm việc mới, giúp liên lạc vói người đang tuyển dụng…

Sau cơn bão Harvey ở Houston, cả nhà thờ chia làm nhiều toán đến các gia đình lương giáo có nhu cầu cần dọn dẹp, họ tháo gỡ tường giấy bị thấm nước, ẩm mốc, người thì hì hục gỡ nền gạch bông bị dộp, kẻ lo xịt nước tẩy rửa, khiêng vác đồ hư vất ra bãi rác.  Cha con, mỗi người mang một thùng với các dụng cụ chùi rửa, hơn một tháng trời cần mẫn làm việc để lại trong lòng nạn nhân bão Harvey một hình ảnh đẹp, về tình yêu của con Chúa.

     

  
    

Tinh thần đi trước vật chất tính sau, Cộng Đoàn lo phục vụ dấn thân trước rồi xây nhà thờ sau.

Ưu tiên số một của Giáo Xứ là hình thành và bồi dưỡng đức tin cho mọi người nhất là các em thanh thiếu niên. Đền thờ tâm hồn quan trong hơn hẳn đền thờ bằng gach đá bên ngoài, nên phần lớn nhất của ngân quỹ được dành cho mục vụ bồi dưỡng đưc tin ngay cả vào thời điểm Giáo Xứ chưa có Thánh đường, chưa có nhà xứ.

Giáo xứ tặng hoặc bán giá tượng trưng các quyển sách hay, thuộc loại sách đức tin Công Giáo, sống đạo thực hành, nhất là các tựa sách có doanh số bán chạy nhất trên danh mục của NewYork Time, USA Today, giới thiệu cho mọi người nhất là thanh niên tìm hiểu, tiêu biểu là cuốn “Tái khám phá Chúa Gie Su”, “Tái khám phá đạo Công Giáo”, “Lời lừa dối lớn nhất trong đời tín hữu”, ngoài ra còn có sách tu đức của nhà xuất bản Ignatio, thuộc Dòng Tên.

Đến hôm nay, tháng một năm 2019, con số  giáo dân ghi danh gia nhập tăng lên trên 11.000 người, bao  gồm trên ba ngàn gia đình, Chúa cho giáo xứ phát triển 250% trong giai đoạn những năm 2015-2018.

Tôi thích ngắm nhìn sự sốt sắng, cung kính của các bạn Thanh niên, Thanh nữ giáo xứ Fostina lên rước Chúa Thánh Thể mỗi sáng Chúa Nhật, lòng yêu mến Chúa Thánh Thể là bằng chưng cụ thể về ơn lành từ Lòng Thương Xót Chúa, vì thời buổi này, làm sao tìm được nhiều bạn trẻ da trắng đến vói Chúa Thánh Thể cách sốt sắng, thân mật và cung kính như vậy. Tôi cũng cảm thấy sự thánh thiện thực sư có tính hay lây, khi mục kích sự đơn sơ và nhiệt thành của giáo dân Fostina. Chỉ tính riêng một đợt tĩnh tâm ba ngày đi xa nhà dành cho gia trưởng, có đến gần một trăm người trẻ, trung niên tham gia, chưa kể đến các đợt tĩnh tâm nhiều ngày cho Các Bà Mẹ, tĩnh tâm thăng tiến gia đình, tĩnh tâm Coursilo, tĩnh tâm cho giới trẻ, … được tổ chức thường xuyên mỗi năm.

Tôi có những lúc sốt mến, khi được tham dự thánh lễ Chúa Nhật và nghe ca đoàn hát các bài nhac trẻ rất trữ tình, quá yêu kính Chúa của Hill Song, hồn tôi ngây ngất, có niềm vui nhẹ nhàng ở trong tâm, tôi cảm biết như đang có sự hiện diện của Chúa trong lời ca ngợi. Chính Cha Xứ có lần thốt lên: “Vinh quang của Chúa đang tỏ lộ mạnh mẽ trong từng nơi chốn của ngôi đền thờ này”.

Thu hút các gia đình trẻ, các em thanh niên, thanh nữ là các bài giảng bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha lưu loát như giọng chuẩn Mỹ, Mễ chính gốc của Cha Đạt, thí dụ như bài cha chia xẻ về hoàn cảnh chật vật của một cậu bé thuyền nhân tên Đạt bị hải tặc cướp hết lương thực, trôi giạt vào đảo nhỏ ở Thái Lan, đói khủng khiếp, cậu bé đi xin ăn về nuôi gia đình, cậu lấm lét ăn cơm thí dưới nền đất, từ nhà của một bà già có lòng từ tâm đổ xuống gáo dừa hay chậu nhựa để ở sân dành cho em. (Chính Quyền địa phương ngăn cấm tiếp tế cho thuyền nhân vì sợ làn sóng tị nạn) bị con chó của chủ nhà giành giật phần ăn, rồi đến những ngày tháng ở Hoa Kỳ, năm 1990, em bé chật vật học tiếng Anh cách khổ sở từng chữ một, cho đến khi nói lưu loát và thông thạo Anh Ngữ giống như người bản xứ, sau đó là những ngày tháng thanh bần , nghèo nhưng đầy ắp lý tưởng của đời tu, đến tình yêu nổng nàn theo ơn gọi và cảm thấy không có chọn lựa nào tốt hơn dành riêng cho trường hợp của mình. Cha làm cho cử tọa tự nhận thấy rằng “Ai bảo đi tu là khổ, đi tu sướng lắm chứ!!!” Các bài giảng hùng hồn, da diết của Cha đều bắt đầu bằng các câu chuyện minh họa có thực, các truyện danh ngôn rồi dẫn đến thực hành Lời Chúa trong hiện thực của đời sống.

Nghèo khó trong vòng người giàu có, Chân thành đơn sơ trong đám đông giáo dân trẻ trung, hiểu biết và năng động như thế, nhưng Cha Xứ không bị công đoàn bao gồm người Mỹ trắng, Mỹ đen, người Mễ, người Phi và dân Á Đông coi thường, trái lại họ càng yêu mến Cha như một người thân yêu trong đại gia đình Faustina. Giống như Cha Thánh Gioan Viany, tình yêu Chúa của Cha Đạt cũng lây truyền sang cho Giáo Dân, nhất là các bạn trẻ.

Đặc điểm nổi bật của “Cha Xứ Arc” trong thời đại mới là chăm sóc mục vụ cho giáo dân, mục tiêu này  được ưu tiên nhất, cao hơn  hết mọi ưu tiên khác, Cha làm phiếu thăm dò các nhu cầu, ước vọng của từng giáo dân trong vòng ba tháng trường, rồi cùng với các ban nghành lên kế hoạch mục vụ cho nhiều năm liên tiếp… Cha cũng để cho hội đồng mục vụ, tài chánh được rộng rãi quyền hạn để hoạt động theo kiến thức chuyên môn của họ. Chúa gia ân cho các hoạt động của Giáo Xứ nảy sinh hoa trái đạo đức tốt lành, xum xuê.

                                     Chén thánh trên đây,  được mỗi gia đình thay nhau rước về nhà hàng tuần để cầu nguyện cho ơn gọi và nhắc nhở các bạn trẻ về giá trị của ơn gọi

Chúa ban thêm ơn về vật chất cho cộng đoàn Fostina, sau hơn hai năm hoàn thành hội trường, Cộng Đoàn đã trả được phần lớn nợ nần và đang sẵn sàng cho giai đoạn hai, xây dựng Thánh Đường và nhà xứ. Hàng tuần tiền dâng cúng được khoảng trên dưới năm mươi ngàn mỹ kim (tương đương khoảng 1,2 tỷ đồng VN), đó là chưa tính đến các ngày lễ trọng, của lễ dâng hiến gia tăng nhiều hơn.

Xin Chúa ban cho chúng con nhiều linh mục Gioan Vianey mới, nhiều họ đạo Arc mới để khuôn mặt Giáo Hội hoàn toàn đổi mới, đẹp như hoa xuân trong mùa xuân phục hưng của Giáo Hội.

     … Quả thật, Ta bảo các ngươi: nếu các ngươi có lòng tin bằng hạt cải, thì các ngươi có bảo núi này: Hãy bỏ đây qua đó! Nó cũng sẽ chuyển qua, và các ngươi sẽ không bất lực trước một điều gì. (Mattheu 17:20)

Phan Sinh Trần