HẠT TÌNH HỒI SINH-TRUYỆN TRÀM CÀ MAU

HẠT TÌNH HỒI SINH-TRUYỆN TRÀM CÀ MAU

Hạt tình hồi sinh

rừng tàm cà mau

Tràm Cà Mau

bun bo

Cái tin mụ Ty sắp lấy chồng Việt Kiều, truyền miệng loan đi nhanh như gió, làm chấn động cả mấy làng trong huyện Triệu Phong. Không ai tin là chuyện thật, người ta công khai xôn xao bàn tán. Nhưng cái tin nầy đã làm nức lòng và lên tinh thần đám đàn bà goá, và các cô gái muộn chồng trong cả tỉnh. Mụ Ty đã già khú đế, trên sáu mươi tuổi rồi, xấu xí ốm o, khô đét vì đói ăn nhiều năm, chỉ còn da bọc xương, răng cái còn cái mất, lại mù loà, dơ dáy, nghèo rớt mùng tơi, có thời đi ăn xin. Thế mà có Việt Kiều ở Mỹ về xin cưới. Câu chuyện gần như hoang đường, người tỉnh táo khó lòng tin được. Người ta bàn tán:

“ Chắc có âm mưu thâm độc chi đây, chứ cưới mụ Ty về mà làm gì? Đem bán cho nhà thổ, chúng cũng rượt đánh đến bể đầu. Mụ đó mù loà yếu đuối, cũng không đủ sức làm nô lệ hầu hạ cho ai được. Đừng nói chuyện tình dục, già đến thế, chắc cũng đã mốc meo, héo quắt đi rồi. Mụ chỉ còn xương với da, chỉ có đem mà nấu cao, giả “cao hổ cốt” may ra còn có lý.”

Đám đàn ông bàn thêm:

“ Con gái trẻ đẹp hơ-hớ thiếu chi mà đi cưới mụ già. Cưới về đem đặt lên bàn thờ mà lạy chắc? Hay là thằng cha Việt Kiều đó đau bệnh điên, làm chuyện trái đời, chơi bạo lấy tiếng? Nghe không hợp lý chút nào. ”

Ông thầy pháp thường hay gọi hồn người chết về nói chuyện thế gian cũng bóp đầu, bóp trán, hứa sẽ kêu hồn bố mẹ mụ Tý về hỏi cho ra lẽ. Ông nói thầm với bà con:

“ Không chừng thằng cha Việt Kiều là phù thủy, cưới mụ Ty về để giết chết mà luyện “thiên linh cái”, vì mụ Ty dù sao cũng còn “đồng trinh”, chưa biết đến hơi trai.”

Mấy mụ đàn bà yếu bóng vía rùn vai, lè lưỡi sợ hãi, và họ tin ông thầy pháp nói có lý.

Chính quyền địa phương cũng họp chi bộ đảng cọng sản nhiều lần, để thảo luận và tìm hiểu lý do tại sao gã Việt Kiều kia cưới mụ Ty. Có âm mưu gián điệp của đế quốc Mỹ gài vào, dò xét tình hình “ta” không? Bí thư xã báo cáo lên quận. Bí thư quận nói:

“Không phải âm mưu gián điệp, vì cả Tổng Thống Mỹ Cờ-Lin-Tơn còn đi phất phơ ăn phở giữa chợ ở Việt Nam mình nữa kia mà. Nhưng cũng phải đề cao cảnh giác, để không có chuyện gì đáng tiếc xẫy ra cho xã, huyện nhà.”

Nghị quyết chung của chính quyền xã là gây khó khăn tối đa cho tên Việt Kiều kia chán nãn, mà bỏ ý định bí mật lạ lùng kia đi. Họ tin rằng, nắm quyền trong tay, thì thừa sức ngăn cản được cuộc tình duyên tréo ngoe nầy.

việt kiều

Phần mụ Ty, nghe bàn vào, tán ra, người nầy nói một câu, kẻ khác bàn vài câu, cũng đâm ra hoang mang, và sợ. Nghi ngờ đến cái tấm lòng của ông Thu, người Việt Kiều muốn cưới mụ làm vợ. Những lời bàn tán kia, đều có lý, không phải dựng đứng lên.

Hơn năm mươi năm trước, khi ông Thu mới mười lăm tuổi, gặp bà Ty, thì bị “cú sét ái tình” đánh cho ngã gục. Cả gan về nhà xin cưới vợ, bị bố ông đánh cho một trận đòn quắn đít, nên tình yêu cũng tắt ngúm từ đó. Rồi mấy mươi năm thời cuộc nổi trôi, chiến tranh, tù đày, đi Mỹ, chạy theo cơm áo, ông Thu không có thì giờ, không còn kiên nhẫn, hứng thú, để theo đuổi bất cứ một bóng hồng nào. Cho đến khi ông đã hưu trí, về thăm quê ngoại, biết bà Ty cũng phòng không chiếc bóng, mù lòa, đói khát. Hai người gặp lại nhau. Ông nhớ lời ước hẹn năm xưa: “kiếp sau đền bù sum họp”, nên muốn cưới bà Ty đem về Mỹ. Nhiều người bà con nội ngoại đều can gián ông. Họ bảo rằng, nếu lấy vợ, thì nên kiếm một người có trình độ, trẻ, đẹp, khỏe mạnh, để còn chăm sóc, nương tựa khi đau yếu trong trong tuổi già. Lấy mụ Ty về, không nhờ vã được gì, còn phải lo ngược lại cho mụ. Thêm khổ thân già. Vả lại, trình độ kiến thức quá cách biệt, rất khó sống chung, khó hoà hợp, khó thông cảm. Chỉ gây bực mình và làm khổ nhau. Họ khuyên ông cho mụ Ty một số tiền lớn để sinh sống, rồi thôi, không tội chi mà đèo bòng cái gánh nợ thổ tả đó.

Gia đình, bạn bè gián tiếp sắp đặt, làm như tình cờ, đưa đến cho ông gặp nhiều cô, nhiều bà. Có trẻ đẹp, có xồn xồn, cả chưa chồng và cả goá phụ. Các bà, các cô nầy, nhìn ông hau háu, tha thiết, với ánh mắt hy vọng, khẩn cầu. Ông thấy nhẫn tâm và tội nghiệp họ. Có người còn nhỏ, chỉ đáng hàng con, cháu ông thôi. Ông nói rằng, tất cả bọn họ đều đáng thương, chỉ vì cơm áo, mà phải tha thiết với một kẻ già nua như ông. Nhưng mụ Ty là kẻ đáng thương nhất, đáng được đền bù nhất. Quan trọng hơn hết là mối tình hơn nửa thế kỷ trước, có phôi pha phần nào thật, nhưng vẫn còn âm ỉ trong tim. Cậu Út của ông Thu nói:

“ Yêu là cái khỉ gì? Bọn con nít ngu, mới bày đặt yêu đương. Mình già rồi, khôn quá, hết ngu rồi. Lấy vợ, lấy chồng là phải suy xét hơn thiệt, trắng đen, cân lường. Còn trẻ, bồng bột, ngu nên ủi đại, không nghĩ đến hậu quả về sau. Bởi vậy, cháu phải suy nghĩ thật kỹ trước khi lấy mụ Ty”

Ông Thu nói với cậu út:

“Lạ thật, năm mười lăm tuổi, muốn lấy vợ bị ngăn cản đã đành. Bây giờ sáu mươi sáu tuổi, muốn lấy vợ, cũng bị ngăn cản dữ dội. Thế thì chờ đến khi xuống lỗ mới hết trắc trở sao?”

Xóm giềng và họ hàng của nhao nhao xúi dục mụ Ty thách cưới thật cho cao. Đòi cho được hai trăm phần quà. Mỗi phần có một hộp trà, một hộp bánh, sáu quả cau, một liễn trẩu. Đòi thêm hai cái kiềng vàng, cặp xuyến vàng, một đôi bông tai. Phải đãi ăn năm chục người. Mụ Ty nghe mà lo lắng bảo:

“Mình thách cưới cao quá, lỡ người ta không lo nỗi, rồi bỏ đi thì uổng. Mà mình thì đã tra (già) lắm rồi. Cả đời tui chưa đeo kiềng, đeo xuyến, chừ có đeo vô, cũng cấn chết, mà trẻn (xấu hổ) nữa.”

Một bà nạt lớn:

“Tra thì tra, chứ chẳng lẽ cho không, cóc đòi chi cả? Đừng tự làm mình mất giá. Hắn không cưới thì thôi.”

Nghe nói vậy, mụ Ty giật mình tái mặt, ngồi thừ người ra. Một bà khác tiếp lời:

“ Nì, mụ đừng lo, Việt Kiều giàu lắm. Người nào cũng lái xe hơi, ở nhà lầu. Mình không đòi là dại. Mà cũng phải đủ lễ “tam sênh” mới được. Ba lễ, dạm mặt, đám hỏi, đám cưới đàng hoàng, chớ không phải đem xe về bắt cóc chạy đi. Làng nước không chịu cho mụ chịu thiệt thòi mô. Mụ mà không đòi, thì chúng tôi cũng đứng ra, đại diện nhà gái mà đòi”

Mụ Ty hốt hoảng nói nho nhỏ:

“ Thôi thôi, mấy mự, mấy thím ơi. Mần rình rang chi thêm xấu mặt. Mấy chục năm ni, có đám cưới mô trong làng mà đủ ba lễ? Tui nghèo khổ, chớ có phải cành vàng lá ngọc chi mô.”

“Đám cưới trong làng mình, không đủ ba lễ là vì bên rễ nghèo. Phải “giản đơn” lại, chớ không thì trai, gái, không vợ, không chồng cả làng sao? Mình nhắm sức người ta có, mới đòi. Mụ lo chi?”

Thấy bà con áp lực quá, mụ Ty ôm mặt khóc. Người ta bồi thêm:

“ Mụ mà dại, thì có cả làng khôn. Đòi là đòi cho mụ, chớ có đòi cho chúng tui mô. Sính lễ mà đòi được, thì mụ cũng cất đi, sau nầy làm của, phòng khi nầy khi kia, chớ chúng tui có lợi chi?”

Mụ Ty đem những lời thách cưới của bà con nói lại cho ông Thu nghe. Nhưng mụ không quên thêm một câu rằng, nếu ông không có, và không chịu thì thôi, mụ không đòi hỏi chi cả.

Ông Thu cười và nói, đó là “chuyện nhỏ”. Vòng, xuyến, hoa tai, nếu mụ muốn, thì ông sẽ mua cho mụ. Nhưng hai trăm phần cưới cau trầu, trà bánh, thì không, phí phạm vô ích. Mụ Ty nghe mà mừng, sung sướng và nói:

“ Thôi, thôi, đừng vòng xuyến chi cả. Xưa nay không đeo, bi chừ đeo vô, ngứa ngáy không chịu được mô. Đeo vô, trẻn lắm. ”

Khi gặp lại mụ Ty trong hoàn cảnh mù loà, đói rách lạnh lẽo, ông Thu muốn đem mụ về Sài Gòn ở tạm. Thuê nhà, thuê người chăm nom mụ trong thời gian chờ đợi. Khi đầy đủ thủ tục, và được sở di trú Mỹ chấp thuận, ông sẽ đưa mụ về California. Nhưng vì bà con, làng nước xúi dục, mụ Ty nhất định không chịu ra khỏi làng, khi chưa có đám cưới, chưa có hôn thú, và chưa có giấy máy bay đi Mỹ. Mụ khóc và nói:

“ Bà con dặn tui đừng có đi mô cả. Đi ra khỏi làng, vô tận Sài Gòn xa xôi, lỡ anh đổi ý, bỏ tui bơ vơ nơi xa lạ, mần răng mà tui có tiền, có phương tiện về lại làng. Mà về lại cũng không được mô. Thiên hạ cười cho thúi đầu. Tra chừng ni tuổi rồi mà còn bỏ làng đi theo trai, bị phụ tình, mang xác về. Xấu hổ lắm.”

Ông Thu ôm đầu thở dài. Biết mụ Ty đã bị xóm giềng bàn ra, tán vào, khuyên bảo nầy nọ. Không hẵn những lời khuyên đó hoàn toàn vô lý. Ông nhỏ nhẹ nói với mụ Ty:

“ Việc gì phải sống thêm trong cái chòi tranh dột nát nầy nữa. Thiếu thốn phương tiện, ẩm thấp, mưa luồn nắng chiếu. Khổ đã nhiều rồi, không tội gi khổ thêm.”

Mụ Ty nói rất tự nhiên:

“ Mấy chục năm sống nơi đây, cũng đã quen rồi, tui không thấy khổ nữa. Đói thì có, rách thì có. Nếu đủ cơm ăn hàng ngày là quá quý rồi. Tui không dám mơ ước chi hơn.”

“ Nếu Ty nhất định không ra khỏi làng, thì kiếm nhà nào rộng rãi, khang trang, tui thuê cho mà ở”

“ Nhà ai nấy ở. Không ai dư chỗ cho thuê mô. Ở nhà ni, có chết mô mà sợ. Nếu ở nhà ni mà chết, thì chết từ lâu rồi. Cứ cho tui ở nhà ni, đừng bắt tui đi nơi khác. Tội nghiệp.”

Ông Thu chịu thua, không muốn ép mụ Ty dọn đi nơi khác, phiền lòng mụ. Ông nhờ người bà con bên ngoại thuê thợ tu bổ lại căn chòi, lợp lại mái, che phên, làm cửa lưới ngăn muỗi, câu điện, bắt cho một chiếc quạt máy. Mụ Ty nói:

“Sữa phên, lợp nhà thì được. Câu điện chi cho phí. Tui mù loà, ngày như đêm, cần chi đèn đóm. Bắt quạt máy mần chi, lỡ nó rớt xuống, bể đầu. Khi mô nóng, ra ngồi bên hè, lấy mo cau mà quạt cũng đủ mát rồi.”

Ông Thu thuê một đứa cháu họ của mụ Ty, đến ở chung để chăm sóc, đi chợ, nấu nướng cho mụ. Mỗi ngày mụ được ăn cơm không độn khoai sắn, có cá kho, thịt luộc. Mụ Ty sung sướng hớn hở. Mụ nói với đứa cháu;

“Ăn sang phung phí như ri, ngày mô cũng thịt, cá, thì có núi của cũng sập. Thôi, đừng hoang phí nữa. Cứ cơm trắng với mắm nêm, mắm ruốc, rau luộc là đủ, sung sướng lắm rồi.”

Đưá cháu cười nói:

“ Dượng Thu đã đưa tiền cho chú Hai, dặn phát tiền chợ cho cháu. O đừng lo. O mà ăn ngon, thì cháu cũng được ăn ngon theo. Cả đời, chưa khi mô cháu được ăn no, sung sướng, như bây chừ cả. Cháu hỏi thiệt, O đừng dấu cháu nghe. O bỏ thứ “bùa” chi, mà dượng Thu Việt kiều mê O dữ rứa? Dạy cho cháu với. Cháu thương thằng Bường, mà hắn cứ lờ tít đi, như không biết chi hết.”

“Mụ nội mi. Bùa chú chi mô. Người ta ở bên Mỹ, tau ở đây, mù loà, có bùa cũng không bỏ được. Miềng ăn ở ngay thật, hiền lành, trời thương nên đem dượng Thu mi về đây cho tau.”

Mụ Vàng người trong xóm, trước đây thường hay cho mụ Ty khoai sắn, ghé nhà ngồi nói chuyện, trước khi ra về nói:

“ Mai mốt o qua Mỹ, làm ra tiền, đừng quên tui. Nhớ gởi về cho nhiều nhiều, để tui xây gạch, lợp ngói căn nhà nghe.”

Chú Trọng dặn dò tha thiết:

“ Tui biết chị tốt lắm, qua Mỹ thế nào cũng gởi tiền về cho tui mua cặp trâu, đi cày thuê. Cả đời tui, mơ ước có được con trâu, chị không giúp, thì không khi mô có. Đừng vì giàu sang sung sướng mà quên bà con nghèo.”

Mụ Ty hoang mang lắm, nhưng cứ nói thật những ý nghĩ trong lòng mụ:

“Sợ không có, chứ có thì phải nghĩ đến bà con, phải chia xẻ cơm áo cho nhau chớ. Như bà con đã chia khoai sắn cho tui sống mấy chục năm ni. Cậu đừng có lo. Tui mà có của thì chia hết. Nghe bà con nói chuyện, tui nghĩ là Tây, Mỹ nó ngu lắm, để tiền, để của ngoài đường, cho mình qua đó mà hốt, như hốt cứt trâu ngoài ruộng”

Mụ Viện, nhà ở xóm trên, có đứa con gái ba mươi lăm tuổi bị ly dị. Cô nầy về ở với cha mẹ. Mụ Viện đến năn nỉ mụ Tý, đề nghị thẳng thừng:

“Chị tra (già) rồi, đi Tây, đi Mỹ làm chi , bên đó lạnh lắm, chịu không nổi mô. Mà đã tra dư ri (già như thế nầy), còn đi lấy dôn (chồng), thiên hạ, làng nước, con nít, chúng nó cười cho thúi trốt (thối đầu). Trẻn lắm ( xấu hổ). Thôi thì chị nhường ông Việt Kiều đó cho con Thại nhà tui, hắn còn trẻ, chịu được lạnh, có thể giúp ông Việt Kiều nhiều chuyện, đẻ cho ông vài ba đứa con. Phần chị, thì ở đây đã quen, đi mô cho mệt.”

Mụ Tý nghe mà rưng rung nước mắt, vì xưa nay đã quen bị thiên hạ chèn ép mà không dám kêu ca. Mụ nói nho nhỏ, sợ mất lòng mụ Viện:

“ Chuyện đó, thì tùy ông Việt Kiều, nếu tui chịu nhường, liệu ông nớ có chịu hay không ?”

Mụ Viện dục :

“ Răng mà không chịu. Con Thại còn trẻ, còn đẹp, khỏe mạnh, chứ có ốm o bệnh hoạn như, như ai đó mô. Thì chị cứ nói cho đến khi ông nớ chịu. Không nói thì mần răng người ta biết. “

“ Tui không dám nói mô.”

“ Tại răng mà không dám nói ? Có chết chóc chi mô?”

Mụ Tý khóc rấm rứt:

“Chết tui cũng không dám nói. Chị có gan thì nói thẳng với ông Thu đi. Nói được thì tui chịu nhường”

vợ chồng già

Nói đến đó, mụ Ty tủi thân quá, khóc oà lên. Tưởng như đã mất ông Thu rồi. Đứa cháu săn sóc mụ Ty, nghe mà giận quá, xen vô, nói lớn tiếng:

“ Cái mụ Viện ni vô doang (vô duyên) chưa tề. Người ta ưng dau (yêu nhau) cả mấy chục năm ni, đêm ngày thương dớ (nhớ). Chị Thại con của mụ, mập thù lù, bị chồng chê, bị li dị, chớ có quý báu chi. Có tình nghĩa chi mà nhảy vô đòi dành ăn. Ở bên đó, đầm Tây, đầm Mỹ đẹp như tiên, như thánh, trắng như trứng gà bóc, ông còn chưa chịu nữa, huống chi con của mụ, thấm vô mô.”

Mụ Viện giận dữ nghiến răng gào lên:

“Nì, cái con quỷ cái, tau bả (vã) cho văng răng ra bi chừ. Việc chi mà mi xía vô chuyện người ta? Mi biết chi mà nói. Câm cái mồm lại.”

Đứa cháu trả treo:

“ Nói ngang xương dư rứa (như vậy), quỷ sứ nghe cũng không lọt tai. Tức đến nghẹn họng.”

Có nhiều người nữa, đến bắt mụ Ty hứa hẹn đủ điều. Ông chủ tịch xã cũng nói với mụ Ty, yêu cầu ông Thu giúp đỡ, ủng hộ một món tiền, đủ để xây lại lại trụ sở uỷ ban hành chánh xã cho khang trang hơn. Mụ Ty đạo đạt những lời yêu cầu của bà con đến ông Thu. Ông cười hiền:

“ Tội nghiệp bà con quá. Chắc qua Mỹ, tui với mụ phải tổ chức một băng cướp, đi ăn cướp ngân hàng, đem tiền về giúp bà con mình.”

Mụ Ty không hiểu lời nói đùa của ông Thu, hốt hoảng nói:

“Đi ăn cướp? Tui không làm được mô. Tui mù loà, mần răng mà chạy trốn cho kịp. E cũng ở tù rục xương. Rứa thì lâu ni, ở bên Mỹ, eng làm việc chi?”

“Đi cày”- Ý ông Thu muốn nói đi làm cực nhọc như đi cày vậy, nhưng mụ Ty không hiểu, hỏi:

“ Ruộng có diều (nhiều) không? Được mấy sào? Qua bên đó, tui cũng giúp xay lúa, giả gạo được”

“Bây chừ thì về hưu rồi, nghỉ đi cày.”

“ Rứa thì lấy chi mà ăn ?”

“ Tiền để đèng” (để dành) – Ông Thu nói tiếng Quảng Trị cho mụ Ty dễ hiểu.

Mụ Thu xuống giọng, nói nhỏ như sợ người khác nghe được:

“Để đèng diều (nhiều) không? Được năm lạng không?

“Được”

“Rứa thì giàu quá! Chôn cho kỹ. Coi chừng bị trộm hết, không có ăn, khổ lắm đó.”

Gian nan lắm, ông Thu mới hoàn tất được thủ tục, đưa mụ Ty về Mỹ. Phiá chính quyền Việt Nam làm khó khăn, ông phải vất vả chạy mua giấy khai sinh, phải nhờ người đút lót tiền mua các loại giấy tờ chứng minh cần thiết. Bộ ngoại giao và di trú Mỹ nghi ngờ ông âm mưu đưa người nhập lậu qua khe hở của pháp luật. Ông cố gắng giải thích về sự thành thật của ông, mà không ai tin. Giá như ông cưới một cô gái trẻ, đẹp, thì được dễ dàng thông qua. Ông kể câu chuyện tình hơn nửa thế kỷ của ông cho viên chức ở toà đại sứ Mỹ nghe, họ càng không tin hơn, cho rằng ông bịa chuyện. Cuối cùng, ông phải thuê luật sư can thiệp, và nhờ thêm dân biểu, nghị sĩ vùng ông ở viết thư cho bộ ngoại giao và sở di trú. Thời gian thủ tục giấy tờ dài hơn gấp đôi bình thường.

Trên máy bay về Mỹ, ngồi bên cạnh mụ Ty, ông Thu thấy tình thương dạt dào rộn lên trong tim. Nhìn mụ Ty ngồi dựa ngữa đang lơ mơ ngủ, ông thấy mụ đẹp hơn cả “con Ty” mười bốn tuổi ngày xưa có cái răng khểnh. Ông hứng khởi, hát nho nhỏ bản nhạc Suối Mơ của Văn Cao :“… từng hẹn mùa xưa xây nhà bên suối, nghe suối róc rách trôi, hoa lừng hương ngát, đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi…”

Mụ Ty, quay mặt lại nói:

“ Eng hát hay quá”

Ông Thu cười:

“ Không hay bằng Ty nói vè O Nương mô.”

Ông Thu vuốt nhẹ bàn tay khô xương, sần sùi của mụ Ty, mà lòng vui rộn rã .

Tràm Cà Mau

Tháng 8 năm 2007

Bắc Kinh: Đạt Lai Lạt Ma luân hồi phải theo luật Trung Quốc

Đạt Lai Lạt Ma, vị Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng đang sống lưu vong và không được chính quyền Bắc Kinh công nhận (Ảnh: Wiki)

Năm 2019 kỷ niệm 60 năm cuộc nổi dậy Tây Tạng chống lại sự cai trị của chính quyền Bắc Kinh. Ngày 10/3/1959 một cuộc nổi dậy nổ ra tại thủ đô Lhasa của Tây Tạng, kéo theo sự bỏ chạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện tại cùng hàng ngàn người đi theo ông. Tại thị trấn phía bắc Ấn Độ Dharamshala, Đạt Lai Lạt Ma, người vẫn được coi là lãnh tụ tinh thần của người Tây Tạng, đã thành lập một chính phủ Tây Tạng lưu vong vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Trong dịp kỷ niệm 60 năm nổi dậy, Đạt Lai Lạt Ma, 83 tuổi, nói với Reuters về khả năng ông sẽ luân hồi tại Ấn Độ theo truyền thống của Phật Giáo Tây Tạng.

“Trung Quốc xem việc đầu thai của Đạt Lai Lạt Ma là rất quan trọng. Họ còn quan tâm tới Đạt Lai Lạt Ma kế tiếp hơn cả tôi”, lãnh đạo Phật giáo Tây tạng nói trong trang phục truyền thống gồm áo cà sa đỏ và khăn vàng.

“Trong tương lai, nếu các bạn chứng kiến 2 Đạt Lai Lạt Ma xuất hiện, một từ đây, một quốc gia tự do, và một được chọn bởi Trung Quốc, thì không ai sẽ tin, không ai sẽ tôn trọng (người được chọn bởi Trung Quốc). Vì thế nó có thêm một vấn đề cho Trung Quốc!”, ông vừa cười vừa nói.

Hôm 19/3, một ngày sau khi phát biểu của Đạt Lai Lạt Ma được công bố, Bộ Ngoại giao Trung Quốc có phản ứng rằng Trung Quốc có các điều luật quản lý sự luân hồi của Phật sống và Đạt Lai Lạt Ma hiện tại cũng phải tuân thủ điều này.

Người phát ngôn Cảnh Sảng nói:

“Việc đầu thai của các vị phật sống là một thể chế đặc sắc được kế thừa trong Phật giáo Tây Tạng, xuất hiện với một loạt các tập tục và lễ nghi. Chính quyền Trung Quốc thi hành chính sách tự do tín ngưỡng tôn giáo. Thể chế đầu thai này được tôn trọng và bảo vệ bởi các cơ quan pháp lý như Luật Vấn đề Tôn giáo và Các biện pháp quản lý Sự Đầu thai của Phật sống.

Thể chế về đầu thai của Đạt Lai Lạt Ma đã tồn tại hàng trăm năm. Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 cũng được tìm thấy và công nhận dựa vào các lễ nghi tín ngưỡng và tập tục lịch sử đó, và sự tôn phong của ông cũng được chuẩn thuận bởi chính quyền trung ương. Do đó việc đầu thai của Phật sống, bao gồm Đạt Lai Lạt Ma phải tuân theo pháp luật Trung Quốc và các quy định, và theo nghi lễ tôn giáo cũng như tập tục lịch sử. “

Năm 2007, Ban quản lý nhà nước về vấn đề Tôn giáo Trung Quốc ban hành Các biện pháp về Quản lý sự Đầu thai của Phật sống. (Hiện tại Ban quản lý nhà nước về vấn đề Tôn giáo được đặt ngay trực tiếp dưới quyền điều khiển của Bộ Mặt trận Trung Ương thống nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc)

Điều 2 của Luật Quản lý đầu thai Phật sống quy định rằng “sự luân hồi của một Phật sống phải tuân theo các nguyên tắc bảo vệ sự thống nhất quốc gia, bảo vệ sự hòa hợp tôn giáo và xã hội và duy trì trật tự của Phật giáo Tây Tạng”. Ngoài ra luật còn yêu cầu “sự tái sinh của Phật sống không được bị can thiệp và kiểm soát bởi bất cứ một tổ chức hay cá nhân nào bên ngoài đất nước”.

Luật này được đưa ra rõ ràng nhằm chống lại việc Đạt Lai Lạt Ma trong tương lai, người đang sống lưu vong ở Ấn Độ. Từ lâu nhiều người đã nhận định rằng chính quyền Bắc Kinh sẽ tìm cách chọn ra Đạt Lai Lạt Ma kế vị để đảm bảo lãnh đạo cao nhất của Phật Giáo Tây Tạng phù hợp với các yêu cầu, chính sách của Bắc Kinh.

Trọng Đạt

THỂ CHẾ MAFIA???

No photo description available.
Vanhoa Le

THỂ CHẾ MAFIA???

Đáng chú ý, nhiều ngày qua không ít phụ huynh vì bức xúc đã đến trường cũng như chia sẻ trên mạng đã bị một số đối tượng lạ “khủng bố” qua tin nhắn, gọi điện, thậm chí đến tận nhà chỉ mặt chửi bới.
Một phụ huynh tên L.N. bày tỏ sự e ngại khi trao đổi với phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam bởi chị từng bị 2 đối tượng lạ mặt đến tận nhà chỉ mặt chửi bới, đe dọa.

Phụ huynh này cho biết: “Cách đây mấy hôm có hai đối tượng lạ mặt đi xe máy nhiều lần qua cửa hàng nhà tôi. Vào khoảng 21 giờ, chỉ có hai mẹ con tôi ở cửa hàng, hai đối tượng lạ dừng xe trước cửa hàng, một người đi vào tướng hung hãn chỉ mặt chửi tôi rồi bỏ đi.

Tôi nhìn rõ mặt một người, còn một người ngồi ở xe máy bên ngoài. Vì quá sợ hãi nên tôi chưa kịp quay video”.

Việt Nam xếp thứ 2 thế giới về xin visa đầu tư EB-5 tại Mỹ

Trí thức Việt Nam

Tính đến hết năm 2018, Việt Nam đã trở thành quốc gia đứng thứ 2 thế giới xin visa đầu tư EB-5 tại Mỹ, chỉ sau Trung Quốc.

(Ảnh: Shutterstock.)

Theo thống kê của Sở Di trú Hoa Kỳ, số công dân Việt Nam được cấp visa nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện EB-5 năm 2018 lên tới 693 người, tăng 47% so với con số 471 năm 2017, xếp thứ 2 thế giới chỉ sau Trung Quốc.

Tính trong tổng số visa nhập cảnh được chính phủ Hoa Kỳ cấp theo diện EB-5, năm 2014, số visa của người Việt Nam chỉ chiếm khoảng hơn 1%.  Con số này đã tăng lên hơn 7% vào năm 2018.

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Việt Nam là một trong mười quốc gia thuộc Châu Á – Thái Bình Dương dẫn đầu về số lượng người xin di dân. Tính trung bình, mỗi năm có khoảng hơn 100.000 người Việt Nam di cư ra nước ngoài.

Điều đáng nói là kèm theo dòng người di cư chính là dòng vốn đi theo. Tờ Wall Street Journal dẫn thống kê của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết hiện có khoảng 20% tổng trị giá đầu tư theo diện EB-5 trong lĩnh vực bất động sản là của người Việt Nam, xếp thứ ba sau Trung Quốc 30% và Ấn Độ 25%.

Năm 2017 người Việt đứng thứ 6 trong top 10 nước hàng đầu có công dân mua nhà ở Mỹ. Người Việt đã chi khoảng 3,06 tỷ USD để mua nhà tại Mỹ. Con số này ngang ngửa với các nước như Đức hay Nhật Bản, chiếm khoảng 2% trên tổng số các quốc gia đầu tư vào bất động sản Mỹ. Đó là chưa tính đến khoản đầu tư vào các quốc gia khác như Canada, Úc, Anh, Hàn Quốc,… Khoản tiền chi trả hàng năm cho các du học sinh người Việt cũng lên đến vài tỷ USD.

EB-5 là chương trình đầu tư định cư thuộc chính phủ Mỹ từ năm 1990 dành cho chính sách người nhập cư muốn sở hữu thẻ xanh Mỹ. Theo chương trình này, thẻ xanh có thể được cấp cho các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp thương mại tại Mỹ, tạo ít nhất 10 việc làm cho công dân Mỹ. Có hai mức đầu tư là 1 triệu USD theo quy định thông thường hoặc 500.000 USD trong trường hợp thành lập doanh nghiệp tại khu vực nông thôn hay khu vực có tỷ lệ thất nghiệp cao ở Mỹ.

(Nhấp vào hình để phóng lớn)

Tờ Wall Street Journal mới đây đăng bài viết trong đó nhấn mạnh việc chương trình xin visa đầu tư EB-5 đặc biệt thu hút các gia đình giàu có ở Việt Nam. Nhiều người có mong muốn nhập cư Mỹ để con cái có tương lai tươi sáng hơn, trong bối cảnh quan liêu tham nhũng ngày càng gia tăng ở Việt Nam, trong khi chương trình giáo dục y tế bị đánh giá là kém hiệu quả và lạc hậu; ô nhiễm môi trường cũng đang ở mức đáng báo động, đặc biệt ở các thành phố lớn…

Thay vì đầu tư trong nước, nhiều người đã bán lại doanh nghiệp trong nước, dùng tiền vốn đầu tư ra nước ngoài; nhiều gia đình cũng sẵn sàng chi trả hàng trăm nghìn USD cho con đi du học, và kết quả là không có nhiều du học sinh sau khi tốt nghiệp muốn về nước. Như nhiều chuyên gia quan ngại, vấn nạn này đặt ra nhiều thách thức cho nền kinh tế Việt Nam trước sự chuyển dịch sắc xanh (ngoại tệ) và sắc xám (trí thức trẻ).

Nan đề này cũng không khỏi khiến dư luận nhớ đến việc hàng loạt “đại gia” lần lượt thoái vốn khỏi các doanh nghiệp lớn thời gian qua ở Việt Nam, bất chấp doanh nghiệp đó làm ăn lỗ hay lãi. Có thể kể đến câu chuyện gia đình ông Nguyễn Đức Kiên (“bầu Kiên”) đồng loạt thoái vốn khỏi VietBank; CTCP Chứng khoán Bản Việt (VCI) do bà Nguyễn Thanh Phượng làm Chủ tịch HĐQT đã bán hết 2,5 triệu cổ phiếu Savime (SAV); bà Hồ Thị Kim Thoa bán gần hết cổ phiếu 1,4 triệu cổ phiếu DQC và không còn là cổ đông lớn của Điện Quang; hay việc ông Lê Văn Vọng, cổ đông nắm giữ 60% cổ phần của Công ty CP Lã Vọng Group tiến hành thoái toàn bộ vốn tại doanh nghiệp này với lý do cá nhân.

Hoàng Giang

Blogger Trương Duy Nhất bị giam ở Hà Nội, sau 2 tháng mất tích

 

 Blogger Trương Duy Nhất bị giam ở Hà Nội, sau 2 tháng mất tích

Blogger, nhà báo Trương Duy Nhất trong lần ra tòa tại Đà Nẵng hồi Hồi Tháng Ba năm 2014. (Hình: Getty Images)

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Sau hai tháng mất tích, gia đình của blogger Trương Duy Nhất bất ngờ nhận được thông tin ông đang bị giam tại trại giam T16 ở quận Thanh Oai, thành phố Hà Nội.

Trang BBC Việt ngữ hôm Thứ Tư, 20 Tháng Ba dẫn lời con gái ông Nhất, cô Trương Thục Đoan, cho hay vào ngày 15 Tháng Ba, có người ẩn danh gọi cho mẹ cô ở Việt Nam thông báo là ba cô đang bị giam ở trại giam T16.

Trong cùng ngày 20 Tháng Ba, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên ở Hà Nội cho biết trên trang facebook cá nhân rằng vợ ông Nhất (bà Cao Thị Xuân Phượng) đã bay từ Đà Nẵng ra Hà Nội và ông đã chở vợ ông Nhất đến trại giam T16 ở Thanh Oai, Hà Nội.

Ông Nguyên nói rằng trại giam T16 chưa cho gặp nhưng đã cho tiếp tế. Vợ ông Nhất mang nhiều thức ăn và quần áo cho chồng nhưng quy định của trại giam chỉ cho đưa vào rất ít cùng với một ít tiền để ông Nhất có thể mua thức ăn trong căng tin trại giam.

Theo ông Nguyên, vợ ông Nhất cũng nhận được quyển “Sổ tiếp tế, thăm gặp” của trại giam. Thông tin trong sổ này cho hay ông Nhất bị bắt vào ngày 28 Tháng Giêng, 2019, và đưa đến trại giam T16 trong cùng ngày.

Vẫn theo lời ông Phạm Xuân Nguyên, vợ ông Nhất phải bay về Đà Nẵng luôn trong ngày. “Chuyến bay của hãng Vietjet Air theo vé là 17 giờ, bị lùi đến 21 giờ, và khi tôi gõ những dòng này thì chị mới lên máy bay ở Nội Bài. Ở T16 không biết Nhất đã nhận được các thứ vợ tiếp tế chưa?”

Hiện chưa thấy bất cứ báo nào ở trong nước đăng thông tin về việc ông Nhất đang bị giam ở Hà Nội.

Vợ ông Trương Duy Nhất mang đồ tiếp tế cho chồng hôm 20 Tháng Ba 2019 tại Hà Nội. (Hình: Facebook Phạm Xuân Nguyên)

Vụ ông Nhất mất tích ở Thái Lan 2 tháng trước gây nhiều chú ý của quốc tế khiến giới chức Thái Lan vào Tháng Hai phải trả lời truyền thông và hứa rằng sẽ điều tra vụ ông Trương Duy Nhất tình nghi bị bắt cóc.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn của nhật báo Người Việt hôm 11 Tháng Hai, 2019, ông Phil Robertson, phó giám đốc Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền khu vực Á Châu bày tỏ sự lo lắng cho an toàn của nhà báo Trương Duy Nhất. Ông yêu cầu chính quyền Thái Lan và Việt Nam phải điều tra rõ vụ này.

Hôm 15 Tháng Hai, 2019, ba vị dân biểu Liên Bang đồng ký tên vào thư gửi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo kêu gọi điều tra việc mất tích của nhà báo, blogger Trương Duy Nhất.

Ba vị dân biểu liên bang này là Alan Lowenthal (Dân Chủ, Địa hạt 47,) đồng chủ tịch Ủy Ban Quốc Hội Về Việt Nam, tức Congressional Caucus on Vietnam, cùng với hai vị Dân Biểu Liên Bang Zoe Lofgren (Dân Chủ, Địa hạt 19) và Dân Biểu Liên Bang Harley Rouda (Dân Chủ, Địa hạt 48).

Trong một tuyên bố hồi Tháng Hai, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng cho biết họ hoan nghênh cuộc điều tra của chính phủ Thái Lan về vụ mất tích của ông Nhất.

Trước đó, hôm 7 Tháng Hai, 2019, trên trang Facebook Người Buôn Gió, blogger này khẳng định ông Trương Duy Nhất bị Tổng Cục 2 (TC2) bắt ở Thái Lan.

Cụ thể, Người Buôn Gió viết: “Khoảng 8 giờ tối ngày 26 Tháng Giêng năm 2019. Trương Duy Nhất bị đám gồm 10 người của Tổng Cục 2 trùm túi lên đầu và đưa lên xe đi, trước khi đi Nhất còn xin thay quần áo.”

Blogger này đưa cả hình ảnh ông Trương Duy Nhất có mặt ở Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc và hình ảnh ngày 25 Tháng Giêng ông Nhất ở Thái Lan.

Ông Trương Duy Nhất, 55 tuổi, là một nhà báo, một người bất đồng chính kiến tại Việt Nam. Từ 1987 đến 1995, ông là phóng viên của báo Công an tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Từ 1995 đến 2011, ông là phóng viên báo Đại Đoàn kết, văn phòng miền Trung. Khi viết blog, ông là chủ của trang “Trương Duy Nhất – Một góc nhìn khác.”

Ông Nhất từng bị kết án 2 năm tù (từ 2013 đến 2015) vì bị cáo buộc tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” vì “đã viết 11 bài đăng trên trang blog của ông, trong đó ông đã chấm điểm Thủ tướng và yêu cầu Tổng bí thư phải ra đi.”

Trong vụ án này, ông Nhất bị bắt ngày 26 Tháng Năm 2013, ra tòa sơ thẩm ở Đà Nẵng ngày 4 Tháng Ba 2014, bị tuyên án 2 năm tù rồi bị tuyên y án sơ thẩm tại phiên tòa phúc thẩm ngày 26 Tháng Sáu 2014. Ông Nhất mãn hạn tù vào ngày 26 Tháng Năm 2015. (C.T)

Little Saigon: Một phụ nữ gốc Việt không nhà, thất nghiệp vì… không có chỗ tắm

 Little Saigon: Một phụ nữ gốc Việt không nhà, thất nghiệp vì… không có chỗ tắm

Chị Ngọc Nguyễn: Ước muốn có chỗ tắm, ngủ và xin được việc làm cho người trên 55 tuổi. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – “Muốn điền đơn đi làm thì họ yêu cầu mình phải có địa chỉ, có số phone, mà tôi không có tiền để mướn nhà, không đủ điều kiện để xin “phone free” của chính phủ thì làm sao đây? Lúc còn đi làm chủ yêu cầu mình phải tắm giặt sạch sẽ, mà chỉ có ở Santa Ana mới có chỗ cho tắm, tôi đâu có tiền để đổ xăng chạy đi chạy về, mà đậu xe luôn ở đó cũng đâu ai cho. Mình không tắm giặt thì họ không cho mình đi làm nữa, thì thành thất nghiệp…”

Chị tên Ngọc Nguyễn, sang Mỹ từ năm 1996, “đi làm hãng suốt từ đó giờ, khi thì lương tối thiểu, khi thì có chỗ trả cao hơn, cứ hãng này hết việc thì mình lại nhảy hãng khác.”

Hãng cuối cùng chị làm trước khi thất nghiệp là một hãng chuyên về lắp ráp dụng cụ y tế. “Tôi xin vô làm chỗ đó là cuối Tháng Năm, 2018, làm được đến Tháng Chín thì nghỉ. Lúc đó làm $12-$13/giờ, mỗi tháng được cỡ $2,000, trừ thuế rồi còn chừng $1,600-$1,700.”

“Ngôi nhà” hiện tại của chị Ngọc Nguyễn. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Thu nhập đó có thể cũng tằn tiện vừa đủ sống, nhưng “con gái tôi gây tai nạn, rồi bị giấy phạt tùm lum, nên bao nhiêu tiền cứ lo trả những vụ đó, đến lúc không còn đủ tiền trả tiền thuê nhà, thì phải sống trên xe.”

Và, sống trên xe chính là lý do khiến chị Ngọc mất việc.

Mất việc vì ‘không sạch sẽ’

“Không có tiền mướn nhà nên phải ở trong xe. Ở trong xe thì không có điều kiện làm vệ sinh thân thể, không giặt giũ được. Ông ‘manager’ thấy sao mình chất đồ đầy trên xe, không sạch sẽ, mấy người làm chung cũng nói như vậy. Mà tôi thì không kể cho mọi người nghe chuyện tôi mang nợ nần nên không có nhà ở, con gái tôi cũng đi mất tiêu. Ổng yêu cầu phải mướn phòng ở, phải bỏ đồ trên xe ra hết, phải tắm rửa, giặt giũ sạch sẽ thì mới đi làm, mà tôi không làm được như vậy thì ổng nói không thể tiếp tục mướn nữa, nên tôi phải ‘quit job’,” chị Ngọc giải thích lý do thất nghiệp kèm theo nụ cười gượng gạo.

Chị Ngọc mất việc từ Tháng Mười, 2018 cho đến nay đã gần 6 tháng.

Sáu tháng đó, thức ăn của chị là “mỗi Thứ Bảy chùa Điều Ngự cho ăn miễn phí. Thứ Ba thì nhà thờ chỗ Westminster và Chestnut cho mình ăn. Còn lại những ngày khác thì ăn trái cây của chùa cho. Trái cây bá tánh mang đến cúng, cứ sau một tuần họ dọn xuống cho mình cả giỏ, để dành ăn từ từ.”

“Mà tôi là người rất dễ ăn,” chị cười nói.

Chị cũng cho biết rằng “không có tắm!”

Cũng bằng cách nói chuyện xem mọi thứ như là bình thường hiển nhiên không có gì phải ngại ngần che giấu, chị giải thích thêm, “Lâu lâu mới tắm. Mỗi lần tắm là ở chỗ gần bưu điện Garden Grove có cái nhà thờ, họ cũng cho ăn free ngày Thứ Bảy, cho tắm mỗi tuần một lần, nhưng có xăng mới chạy qua đó được, còn ngày thường thì ở chỗ công viên Westminster có restroom, giặt khăn lau mình thôi.”

Buổi tối, chị chọn đậu xe nơi có đèn sáng, có nhiều xe, và cũng gần mấy tiệm ăn có cho đi nhờ restroom đến 8 giờ tối. Những ngày cuối tuần chị cảm thấy mừng hơn vì 11 giờ đêm tiệm mới đóng cửa, nghĩa là chị có thể “đi nhờ” được đến giờ đó, nếu có “nhu cầu cần giải quyết.”

“Bữa tối nào mà cần quá thì ghé tiệm phở V.K vì họ mở cửa đến 3 giờ sáng để xin đi nhờ,” chị kể.

Đó cũng là lý do mỗi ngày chị Ngọc chỉ cho phép mình uống 3 ly nước nhỏ, và sau 4 giờ chiều thì không dám uống nước nữa. “Chắc mai mốt phải đi lọc thận quá,” chị nói cùng nụ cười khỏa lấp nỗi niềm riêng.

Chiếc xe chỉ còn một khoảng trống duy nhất để chị Ngọc Nguyễn có thể ngủ… ngồi. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Lấy xe làm nhà

Little Saigon những ngày tháng qua chìm trong mưa và những cơn lạnh buốt. Chị Ngọc chống chọi lại cái khắc nghiệt của tiết trời bằng cách co rúc trong xe. “Đâu phải lúc nào cũng có xăng để mở máy sưởi, nên cứ lấy mền, áo lạnh mặc vô, mang vớ vô. Nhưng mà chân cẳng vẫn nứt nẻ chảy máu qua trời,” chị nhìn xuống hai bàn chân mình. Sưng phù. Gót chân như mảnh ruộng mùa khô cháy. Cố nông vào trong đôi dép kẹp. Với những móng chân dài thòng, đen thui, dày lên như sừng.

Chiếc xe trở thành ‘mái nhà’ thu nhỏ cho những người không nhà như chị Ngọc, chất đầy những thứ mà người ta sợ vứt bỏ rồi có lúc không tìm thấy, từ chăn mền, quần áo, thùng cạc tông, báo chí, túi ni lông, cả những hộp nhựa to-go… Chỉ còn một chỗ cho chị ngồi, dù dưới ghế cũng là một xấp báo.

“Đâu có chỗ nằm, ngủ cũng phải ngồi,” chị lại cười, đôi mắt ráo hoảnh.

Có xe, nhưng phải có tiền thì mới có xăng để chạy từ chỗ này qua chỗ khác. Và tiền đó có được là “xin người ta.”

“Tôi nói với họ cho xin vài đồng đổ xăng để chạy đến thư viện Westminster coi việc làm thì họ cho. Ngoài ra không chạy đi đâu. Khi đến thư viện thì có thể ‘charge phone’ được, in copy thì chỉ có 15 cent để mình coi kiếm việc làm, ở ngoài tới 25 cent,” chị kể.

Theo lời chị Ngọc, trong những tháng qua, chị muốn tự mình đi kiếm việc, không muốn trở thành người nhận trợ cấp xã hội. Tuy nhiên, đến nay đã hơn 5 tháng, không công ăn việc làm, chị mới đến nhờ Văn Phòng Giám Sát Viên Andrew Đỗ giúp cho chị xin được tiền ăn “food stamp” và bảo hiểm y tế medicare.

‘Tôi không xin được tiền thất nghiệp vì họ nói do tôi tự nghỉ việc,” chị cho biết thêm.

Tuy nhiên, bên cạnh chuyện lo kiếm việc làm, trước mắt, chị Ngọc còn lo “chiếc xe đến đầu Tháng Năm này phải đóng tiền ‘registration’ $188, cuối Tháng Ba thì đến hạn đóng bảo hiểm, không đóng thì làm sao chạy, mà đóng thì tiền đâu đóng. Không có xe thì làm sao đi xin việc?”

Chị tâm sự, “Đến tuổi này tôi vẫn thích làm việc lắm, cho tôi làm 365 ngày/năm tôi cũng làm, 10 tiếng/ngày cũng làm nữa, tôi thích làm việc lắm, chứ không phải đến tuổi này là làm biếng đâu.”

Chị Ngọc cho biết chị đã gửi rất nhiều đơn xin việc, nhưng “người trên 55 tuổi như tôi khó xin việc làm quá! Không ai muốn nhận hết.”

Mong được tắm rửa, sạch sẽ

Sống trong cảnh không nhà, chị Ngọc ước muốn, “Tôi đọc trong báo thấy ở San Jose họ làm các xe bus, có nước nóng nữa cho mỗi người được tắm 15 phút, tuần một lần. Phải chi các nghị viên Westminster, Garden Grove làm cái xe giống như vậy để những người như tôi được tắm rửa sạch sẽ thì mới có cơ hội đi xin việc dễ hơn.”

“Hay là mấy ông dân cử làm ơn mua miếng đất rồi để container vô làm nhà cho người ta có chỗ ở tắm rửa thì mới đi kiếm việc làm được, mới giải quyết được chuyện thất nghiệp, chuyện người vô gia cư, chứ bây giờ thấy bế tắc quá,” chị gợi ý.

“Tôi cũng muốn các ông bà nghị viên gốc Việt đề nghị làm sao có chính sách ưu đãi với những hãng xưởng chịu mướn những người lớn tuổi như tôi thì tụi tôi mới có cơ hội tìm được việc thì cuộc sống mới thay đổi,” chị trăn trở.

Giúp đồng hương gốc Việt có được một nơi tắm táp, giặt giũ, có được một công việc làm chính đáng, phải chăng là chuyện quá tầm tay của người dân nơi Little Saigon này?

Gió chiều cuối Đông phần phật thổi trong lúc chị Ngọc mở cửa nhét mình vào khoảng trống duy nhất còn lại trong xe… (Ngọc Lan)

 Chúng ta biết gì về Phạm Công Thiện?

 Chúng ta biết gì về Phạm Công Thiện?

 

Gia NguyễnTheo dõi

Hôm qua lúc 08:59

Chúng ta biết gì về Phạm Công Thiện?
Xin mời đọc…

Đọc sách “Chuyện một người đàn bà.. năm con”
của Lê Khắc Thanh Hoài

Nhà thơ triết gia Phạm Công Thiện [1941 – 2011] qua đời năm 2011 tại Houston, nhưng chuyện kể, các bài viết về anh đã nhiều lầm lạc : Người viết : anh bỏ áo tu hành lấy cô vợ người Pháp, theo Thiên Chúa Giáo, kẻ khác viết : anh không hề có một mảnh bằng kể cả bằng tú tài mà dạy Triết Học Viện Đại học Sorbonne, mười lăm tuổi anh đọc và viết hàng chục ngôn ngữ, mười lăm tuổi anh dạy trung học, hai mươi tuổi anh là khoa trưởng khoa Khoa Học Nhân Văn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn, anh là triết gia không cần học một ai ? Dạy Triết học tại một Đại Học Pháp mà không cần một văn bằng nào ?

Đâu là sự thật, đâu là huyền thoại ?

Được chị Lê Khắc Thanh Hoài tặng cho quyển tiểu thuyết đầu tiên của chị : Chuyện một người đàn bà năm con, tôi đọc say mê, với lối văn giản dị trong sáng tôi đọc một mạch, tôi không ngờ chị viết hay và hấp dẫn như thế về cuộc đời khổ đau gian truân của chị với một thi nhân, triết gia mà thời niên thiếu tôi đã từng say mê tác giả : Ý thức mới trong văn nghệ và triết học , Phạm Công Thiện.

Sách trang bìa hình tháp Eiffel Paris, nơi xảy ra câu chuyện và bức chân dung chị Lê Khắc Thanh Hoài ký tên Phạm Công Thiện vẽ, ngày anh tỏ tình cùng chị, chị không dấu tên người bạn đời. Người đàn bà có năm con cùng triết gia, nhà thơ Phạm Công Thiện (1941-2011) kể lại cuộc đời mình dẫn nhập bằng cuộc đối thoại với cháu ngoại, mừng sinh nhật bà, trao phong bì : một bài thơ bằng tiếng Pháp và lì xì : 10 Euro cho bà, vì thấy bà ngoại nghèo quá thật là dễ thương, ngộ nghĩnh và cảm động. Từ đó chị kể lại cuộc đời mình qua 13 năm sống chung. Thời gian mà anh sang Pháp năm 1970, từ bỏ áo nhà tu Thích Nguyên Tánh và sau năm 1985 anh sang Mỹ cư ngụ tại Los Angeles và qua đời tại Houston..

Tuổi học sinh Trung học, tôi say mê khi đọc Phạm Công Thiện, tôi biết về thơ Appolinaire, Rimbaud, Pierre Emmanuel..về các triết gia mới Tây Phương qua anh.

Bây giờ thì tôi viết về anh qua truyện kể của chị Thanh Hoài, nhìn anh qua những Vidéo các buổi nói chuyện của anh. Tôi muốn tìm hiểu cuộc đời Hiện tượng Phạm Công Thiện, một thời làm mưa làm gió tại Miền Nam những năm 1966-1970. Và dư âm những mưa gió ấy tại Hải ngoại từ 1970 đến năm 2011. Tôi muốn hiểu Phạm Công Thiện là ai ? anh là một thiên tài thần đồng, hay một một Trạng Quỳnh của một thời ?. Những kiến thức anh lấy từ đâu ? nguyên do gì anh đã mê hoặc cả một thế hệ tuổi trẻ miền Nam trong thời điểm đó. Đâu là sự thật của đời anh, đâu là huyền thoại do anh và mọi người thêu dệt. Những người Phạm Công Thiện quen biết tôi đều có dịp gặp gỡ : từ chùa Hải Đức Nha Trang, đến Paris, đến Viện Đại Học Vạn Hạnh : Họa sĩ Vĩnh Ấn, nhà thơ Thi Vũ Võ Văn Ái, nhà thơ Nhị Tay Ngàn đến Hoà thượng Minh Châu Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Thiền sư Nhất Hạnh, chị Thanh Hoài người bạn đời từng chung sống với anh 13 năm, và có 5 con với anh.

Chị Thanh Hoài sinh năm 1950 tại Huế, con một vị bác sĩ nổi tiếng tại Huế trong Phong Trào tranh đấu Phật Giáo miền Trung, năm 1963 từng bị tù dưới chế độ Ngô Đình. Năm 1969 chị học Triết học Đông Phương tại Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm 1970 chị lên đường sang Bruxelles du học. Gặp và kết hôn với Phạm Công Thiện tại Paris. Chị Thanh Hoài còn là một nhạc sĩ đàn dương cầm, từng học Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế, tác giả nhiều CD, và hàng trăm nhạc phẩm.

Trước nhất Phạm Công Thiện là một nhà thơ : tập Ngày sinh của rắn in năm 1988, có những bài thơ đẹp, và lạ lùng :

VI :

tôi chấp chới
đắng giọng
giữa tháng ngày mơ mộng
nốt ruồi của hương
hay nốt ruồi của rigvéda
tôi mửa máu đen
trên nửa đêm paris
tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng
tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người
cho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ
mặt trời có thai!
mặt trời có thai!
sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt.

VIII :

mười năm qua gió thổi đồi tây
tôi long đong theo bóng chim gầy
một sớm em về ru giấc ngủ
bông trời bay trắng cả rừng cây
gió thổi đồi tây hay đồi đông
hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
trong mơ em vẫn còn bên cửa
tôi đứng trên đồi mây trổ bông
gió thổi đồi thu qua đồi thông
mưa hạ ly hương nước ngược dòng
tôi đau trong tiếng gà xơ xác
một sớm bông hồng nở cửa đông

Anh nổi tiếng thần đồng, 15 tuổi đã công tác viết bài cho tạp chí Bách Khoa, một tạp chí nổi tiếng giới trí thức miền Nam thời bấy giờ, anh thông thạo 5, 6 ngoại ngữ, một quyển sách anh được Nguyễn Hiến Lê giới thiệu. Nguyễn Hiến Lê là một học giả tự học viết khoảng 60 quyển sách từ sách : Tự học làm người, Rèn luyện nhân cách, đến Triết Học Trung Hoa. Một kiến thức đáng kính phục. Có lẽ Phạm Công Thiện đã học phương pháp tự học và làm việc của học giả Nguyễn Hiến Lê. Muốn học một ngôn ngữ, học bằng cách dịch quyển sách mình ưa thích, mỗi ngày đều đặn, chỉnh tề, ngồi vào bàn viết.. lúc đầu khó khăn, sau thành thói quen viết dễ dàng nhanh chóng. Tôi hiểu anh không nói ngoa, anh đã viết 20 quyển sách thời niên thiếu và đốt đi. Đó là cách tập luyện viết sách, đọc một quyển sách mình mô phỏng theo, viết một quyển tương tự, ban đầu mình chịu ảnh hưởng nhiều từ từ mình tạo ra một phong cách riêng, tiến đến một sáng tạo hoàn toàn.

Anh giỏi tiếng Pháp. Anh có tài dịch thơ lưu loát và quyến rũ. Anh đọc các triết gia Tây Phương và các Thiền sư Phật Giáo và diễn tả lại gọn gàng dễ hiểu. Anh đáp ứng được nhu cầu giới trẻ đương thời đang muốn mở ra tiếp xúc với Tây Phương, nhưng không đủ vốn liếng ngôn ngữ để đọc trực tiếp bằng tiếng Pháp, tiếng Anh. Kiến thức văn chương Tây Phương từ sau cuộc tiếp xúc với Văn chương lãng mạn thời Thơ Mới với Baudelaire, Edgar Poe… Các Triết gia Hiện Sinh, hiện đại như thế nào ? Anh đáp ứng được một nhu cầu muốn tìm hiểu của đương thời. Thuở còn học sinh Trung Học tại Phan Thiết, tôi và anh Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ, thường gặp nhau bàn về những điều Phạm Công Thiện viết. Trong không khí ngột ngạt của chiến tranh Việt Nam, thân phận thanh niên rồi sẽ đi lính, rồi sẽ chết trên chiến trường như bao bạn bè. Trong không khí thành thị miền Nam thời đó, thanh niên cần một lối thoát ra khỏi không gian tù túng, mơ ước một chân trời khác , đọc được Phạm Công Thiện hay Bùi Giáng tên tuổi các triết gia Hy Lạp, triết gia bên Tây tên tuổi nghe mù mờ, có người tóm lược giảng giải nên lấy làm thích thú. Lâu lâu lại khen chữ nghĩa, tâng bốc văn hóa Việt Nam, làm hừng chí tự ti dân tộc. Phạm Công Thiện nổi danh trên mảnh đất trống tư tưởng đó.

Phạm Công Thiện là một người quyến rũ, có sức thôi miên người đối thoại. Chị Thanh Hoài viết tr 167:

« Gặp Chàng là gặp người bằng xương bằng thịt, không phải là người trong văn chương tiểu thuyết. Chàng rất chân thật, không giả dối kệch cởm. Chàng phản ảnh đúng những gì Chàng viết. Thẳng thắn. Táo bạo. Nẩy lửa. Sức hút dữ dội. Quyến rũ lạ lùng. Người đối diện chỉ còn biết buông xuôi và.. trôi theo bấp bênh cùng Chàng !

Phải rồi ! Bấp bênh và.. vô định ! Tự dưng nàng linh cảm mãnh liệt điều đó. Đến với chàng là chấp nhận bấp bênh và vô định. Không chờ đợi, không đòi hỏi. Vô điều kiện. Là quăng bỏ quá khứ và tương lai. Là phiêu lưu không cần địa bàn định hướng. Chỉ có một chiếc kim chỉ nam là tấm lòng, là con tim, là sự thành thật. Đó mới là kho tàng vô giá. »

Thời tôi và chị Thanh Hoài đi du học, số nam sinh viên luôn luôn đông hơn nữ, tỷ lệ có thể đến 1/20. Được một cô sinh viên du học xinh đẹp mới qua là có ít nhất hàng tá chàng trai Việt chạy theo. Các gia đình thượng lưu trong xã hội Việt Nam thời bấy giờ, gửi con gái đi du học với niềm hy vọng : nếu nó học không xong cũng hy vọng có được tấm chồng trí thức, bác sĩ, kỹ sư, tương lai bảo đảm. Con gái nếu không thành công, thì có con rể vinh hiển cũng được nơi nương tựa yên ổn. Chị Thanh Hoài đã từ chối bao kỹ sư, bác sĩ đến với chị để nghe tiếng gọi của trái tim yêu một thi sĩ, một triết gia, âu cũng là một sự lựa chọn cho cuộc đời gian truân của chị.

Phạm Công Thiện là ai ? anh được đào tạo từ đâu ? hay anh là một thiên tài, đã học từ bao nhiêu kiếp trước, nay sinh ra đã trở thành một triết gia không cần học ai ?

Theo tiểu sử anh sinh ra từ một gia đình theo đạo Công Giáo, anh theo học một trường tư thục Công giáo dạy bằng tiếng Pháp, anh được cha mẹ mướn người dạy kèm học tại tư gia, nhưng năm 1963, anh ra Nha Trang quen biết với nhà thơ Quách Tấn. Quách Tấn đưa anh đi thăm viếng chùa Hải Đức, nơi đây anh tập thiền và quy y thọ giới Sa Di pháp danh Nguyên Tánh với Thầy Trí Thủ, một vị cao tăng Phật Giáo.

Phạm Công Thiện không viết hồi ký nên không rõ anh có bằng Tú Tài II hay không, nhưng giỏi sinh ngữ như anh việc thi thí sinh tự do, lấy bằng Tú Tài toàn phần không phải là chuyện khó, rất nhiều học sinh học trường Pháp, thi thí sinh tự do lấy bằng Tú Tài II Ban Sinh Ngữ Văn Chương trường Việt thật dễ dàng. Học sinh trường Pháp thi môn Anh Văn, Pháp Văn kỳ thi Tú Tài Việt được 18, 20 dễ dàng, các môn Triết Học, Sử Địa chỉ cần học một lượt cũng được trung bình là kỳ thi qua trót lọt.Triết Học lại là môn anh Thiện ưa thích lại quen viết bằng tiếng Việt. Để có học bổng tại Viện Đại Học Yale, để đi du học Hoa Kỳ khoảng đầu năm 1964, Phạm Công Thiện phải có bằng Tú Tài Toàn Phần hạng Ưu hay Bình. Phạm Công Thiện xong B.A (Cử nhân) tại Yale, và chuyển sang Columbia, nơi thầy Nhất Hạnh từng học, thì anh bỏ học ra đời.

Trong quyển Hố Thẳm Tư Tưởng, Lá Bối, Sài Gòn Xuất bản 1968, trong bức thư cho Nhị Tay Ngàn, chương đầu Phạm Công Thiện viết :« Thời gian tao ở Hoa Kỳ, tao đã bỏ học, vì tao thấy những trường đại học tao học, như trường đại học Yale và Columbia, chỉ toàn là những nơi sản xuất những thằng ngu xuẩn, ngay đến những giáo sư của tao chỉ là những thằng ngu xuẩn nhất đời, tao có thể dạy họ nhiều hơn là họ dạy tao. Qua Pháp ta đã sống nghèo đói thế nào, thì mày đã biết rõ rồi, những lúc tao nằm ngủ tại những vỉa hè Paris, vào những đêm đông đói lạnh, những lúc đói khổ như vậy, tao vẫn còn cảm thấy sung sướng hơn là ngồi nghe mấy thằng giáo sư trường đại học Yale hay Columbia giảng cho tao nghe về Aristote hay Hégel, và Heidegger hay Héraclite. »

« Bây giờ nếu có Phật Thích Ca hay Chúa Giê Su hiện ra đứng giảng trước mặt tao cũng không thèm nghe nữa. Tao là học trò của tao, và chỉ có tao là thầy của tao. Tao không muốn làm thầy ai hết và cũng không muốn ai làm thầy của tao. Còn các văn sĩ ở Sài Gòn, đọc các bài thơ của các anh, tôi thấy ngay sự nghèo nàn của tâm hồn anh, sự quờ quạng lúng túng, sự lập đi lập lại vô ý thức hay có ý thức, trí thức 15 xu, ái quốc nhân đạo 35 xu, triết lý tôn giáo 45 xu..

Không cần phải đọc Platon, Aristote, Kant, Hégel hay Karl Marx. Không cần phải đọc Khổng Tử, Lão Tử. Không cần phải đọc Upanisads và Bhagavad Gita. Chúng ta chỉ cần đọc lại ngôn ngữ Việt Nam và nội tại tiếng Việt Nam là bổng nhiên nhìn thấy tất cả đạo lý, triết lý cao siêu nhất của nhân loại đã nằm sâu trong ba tiếng Việt đơn sơ như : Con, Cái, Chay, Cháy, Chày, Chảy, Chạy và còn bao nhiêu điều đáng suy nghĩ khác mà chúng ta bỏ quên một cách ngu xuẩn.»

Phạm Công Thiện, sang Pháp, anh ghi danh ở Rennes, Bretagne, ở với người anh đã sang Pháp trước nhưng rồi không thuận với anh, ông lên Paris khoảng năm 1966. Lúc này tại Paris, Thầy Nhất Hạnh lập Hội Phật Tử Việt Kiều Hải Ngoại, chi bộ Pháp do anh Võ Văn Ái làm Tổng Thư Ký, trụ sở tại Maison Alfort, ngoại ô Paris. Phạm Công Thiện thân thiết với anh Ái và cùng ở nơi này.

Năm 1966, Hòa Thượng Minh Châu đến Paris tìm người trợ giúp Viện Đại Học Vạn Hạnh. Gặp Phạm Công Thiện, thầy thuyết phục anh làm lễ xuất gia, thọ giới Tỳ Kheo cho anh, Đại Đức Thích Nguyên Tánh và đưa anh về Viện Đại Học Vạn Hạnh.

Phạm Công Thiện phụ trách Khoa Khoa Học Nhân Văn ; Sáng lập tạp chí Tư Tưởng, và soạn chương trình cho Viện Đại Học Vạn Hạnh.

Niên khoá 1968-1969 ; Thanh Hoài học môn Triết Đông với Thầy Nguyên Tánh.

Năm 1970, Thanh Hoài lên đường đi du học tại Bruxelles. Cũng năm này Phạm Công Thiện đi dự một Hội Nghị Phật Giáo cùng Hoà Thượng Minh Châu, anh xin ở lại ghi tên làm luận án Tiến Sĩ . Tại Paris, Thanh Hoài gặp lại Phạm Công Thiện tại nhà họa sĩ Vĩnh Ấn. Thanh Hoài quyết định bỏ Bruxelles sang Pháp chung sống cùng Phạm Công Thiện. Cuộc sống phiêu lưu đầy gian nan, sống với học bổng của anh trong 4 năm. Sau đó anh xin được một việc làm văn phòng Đại học Toulousse. Nhân có một chân phụ giảng trống anh làm đơn xin việc. Phạm Công Thiện được giáo sư hướng dẫn giới thiệu ‘ Sinh viên ưu tú xuất sắc hạng nhất, bốn năm cao học đã hoàn tất ‘ (tr 252). Điều này chứng tỏ Phạm Công Thiện đã xong văn bằng tốt nghiệp Ecole Pratique des Hautes Etudes (tương đương với Master) tại Sorbonne, và học xong một năm D. E. A. Diplôme Etudes Approfondies, (theo tổ chức đại học Pháp lúc đó, ngày nay đã đổi thành Master I, Master II và bỏ văn bằng Tiến sĩ Đệ Tam cấp và Tiến sĩ Quốc Gia, chỉ còn một văn bằng Tiến sĩ duy nhất). Anh làm việc này giao kèo gia hạn mỗi năm, chức vụ cuối cùng là Giảng sư (Maître de Conférence) tại Đại Học Toulousse II… Công việc tạm ổn định, chị Thanh Hoài sinh năm con, bốn cháu trai và một cô gái út, quần quật với bầy con : đưa rước đi học, ăn uống tắm rửa, bếp núp, chị còn làm việc ráp linh kiện cho hãng máy bay Airbus, nhưng Phạm Công Thiện lại rơi vào vòng nghiện rượu, sống cuộc sống đầy bè bạn quên mất chuyện gia đình.

« Và nơi ngôi biệt thự xinh xắn đó, nơi mà đáng lý ra chỉ có hương hoa và sắc màu của một vị ngọt là hạnh phúc, thì trớ trêu thay, nơi đây suốt bảy năm trời chỉ mang một vị đắng. Vị đắng của khổ đau. Vị chua chát của rượu… Chàng đã thỏa hiệp với con ma rượu.

« Anh không thấy gì hứng thú vì cứ phải lải nhải triết lý để kiếm tiền nuôi vợ con ». « Anh chỉ là chiếc bóng đằng sau bầy con. Điều này cũng làm anh đau khổ.. Lải nhải triết lý xong thì anh chỉ còn biết lè nhè . »

« Thì giờ của em dành cho con quá nhiều và em đã bỏ rơi anh.. Hay là em.. tránh né anh.. ? »

Tránh né anh vì em ghê sợ mùi rượu. Vậy anh hãy ngừng uống rượu..

Đúng là lẫn quẩn không lối thoát !

Bảy năm trời trôi qua trong cái vòng lẩn quẩn không lối thoát đó, nơi cái biệt thự màu hồng đó. Nàng thì vẫn cứ xoay mòng với bầy con năm đứa. Chàng thì cố gắng làm tròn công việc dạy học, cho dù nỗi chán chường mỗi ngày một chồng chất, nhưng bọn sinh viên vẫn ào ào tới càng ngày càng đông hơn, giới trí thức trong tỉnh lần lần nghe tiếng và bạn bè lũ lượt kéo đến càng nhiều hơn. Những buổi trà dư tửu hậu lại tiếp nối nhau. Khói thuốc vẫn mịt mù lan toả. Mùi rượu vẫn nồng nặc xông lên..

Cho đến cái ngày mà giọt nước đã tràn đầy ly thì cái vòng lẩn quẩn đó tự động ngừng quay. »

Một ngày Thanh Hoài bị suyển nặng, ho vì dị ứng phấn hoa, nhờ anh đi mua thuốc. Anh ra đường gặp bạn bè rủ đi ăn nhậu, quên mất chuyện thuốc cứu cấp cho vợ, sáng hôm sau mới về mang một hộp trứng, hỏi thuốc, anh quên mất.

« Sáng hôm ấy, vì quá mệt, Nàng đưa toa của bác sĩ nhờ Chàng ghé tiệm thuốc mua giùm Nàng. Mười lăm phút, hai mươi phút, ba mươi phút trôi qua, Nàng ngong ngóng Chàng về đưa thuốc cho đỡ nghẹt thở. Rồi một giờ, hai giờ, ba giờ trôi qua.. vẫn không thấy bóng Chàng. Nửa ngày trôi qua. Một đêm trôi qua. Nàng vẫn ngong ngóng. Nhưng vẫn không thấy bóng chàng đâu. Một đêm đã trôi thật quá dài, quá dài tưởng như bất tận. Không ngủ được vì ho, vì nghẹt thở. Nàng đã trải nghiệm cảm giác thế nào là kề cận cái chết. Nàng không đủ sức để tức giận, vì nàng nghĩ nếu chết trong sự tức tối, chỉ tự mình hại mình, sẽ không được đầu thai tốt, lại còn rơi vào đọa xứ nữa không chừng ! Chi bằng cứ thản nhiên, chấp nhận số phận và thanh thản niệm Phật. Đây là điều cần làm trong lúc này, chẳng phải là sự tức giận !

Nàng nhắm mắt chờ thần chết rước đi. Nhưng không, không được ! Nàng sực tỉnh ! Mà kia mình đã quên mất bầy con, mình chết thì chúng sẽ ra sao đây ? Mình có thể bỏ chúng để ‘ tiêu diêu ‘ nơi phương trời nào đó được chăng ? Từ bỏ cái thân thể bệnh hoạn khổ sở thì mình cũng hết nợ với thế gian này, nhẹ nhàng thanh thản cho mình, nhưng không thể chỉ nghĩ đến mình mà quên bầy con. Không được rồi, không đúng rồi.. Không mình phải sống, phải ngồi dậy, đứng thẳng và không còn nghẹt thở. Mình phải tự bảo vệ mình, không thể buông xuôi ! Mình nhớ đã từng được dạy dỗ ‘ thân người khó được ‘, phải bảo vệ nó cơ mà ! Không sát sanh, không hại vật, nhưng khi nguy cơ đến thì cũng phải biết tự bảo vệ để không mất mạng chứ ! Có thể nào chết dễ dàng như vậy được ? Không, ta phải sống !

Khi trời vừa tờ mờ sáng thì Nàng nghe tiếng cửa mở. Chỉ cần thấy dáng bộ xiêu vẹo, ngả nghiêng của Chàng là nàng thừa hiểu tất cả. Trông Chàng còn thê thảm hơn cả Nàng nữa ! Thôi thì chẳng còn gì để hỏi, để nói, để trách nữa. Chắc chắn là không có thuốc cho Nàng rồi.

Dù gì thì Nàng cũng đã quyết định rằng Nàng phải sống, Nàng phải thở, Nàng phải đứng thẳng dậy và đi tiếp.

Nhưng đoạn đường đi tiếp của Nàng chắc chắn là sẽ không đi cùng Chàng. Không vì tức giận hay oán trách, mà chỉ vì không còn giải pháp nào khác hơn.

Thế là Nàng lặng lẽ sắp đặt cuộc ra đi của Nàng. Rồi đến ngày hôm đó, không báo trước, không nói năng. Nàng âm thầm dắt bầy con ra khỏi ngôi biệt thự màu hồng . »

Thanh Hoài quyết định chia tay cùng anh, chị thu xếp cùng năm con ra đi. Phạm Công Thiện cũng mất việc đại học vì khế ước không được gia hạn và ghế giảng sư cũng không còn, anh được Hoà Thượng Mãn Giác mời sang dạy tại Viện Quốc Tế Phật Giáo, tai Los Angeles. Anh lại trở về cư ngụ tại chùa, tại nhà bạn bè.

Tại xã hội Pháp nuôi nấng năm con không phải là điều dễ dàng, thường mỗi gia đình chỉ dám có 2,3 con. Thanh Hoài vừa làm mẹ, vừa làm cha, khi dạy đàn dương cầm, khi làm quản gia và các công việc khác, nuôi năm con cho đến khi trưởng thành, thành người : Cậu trai đầu , tốt nghiệp École Normal Supérieur rue d’Ulm, Tiến sĩ Vật lý , giảng dạy Vật Lý Viện Đại Học Paris Orsay. Cậu thứ hai Tốt nghiệp Cao Đẳng Thương Mại tại Bordeaux, Giám Đốc Thương Mại, cậu thứ ba Tốt nghiệp trường Mỹ Thuật tại San José Hoa Kỳ, Họa sĩ, cậu thứ tư giống bố ở chỗ thích Triết Học và cô gái út Bác sĩ Nhi Khoa. Chị có đầy đàn cháu nội, cháu ngoại.

Phạm Công Thiện qua đời năm 2011 tại Houston, các con đều sang dự đám tang cha.

« Nhờ âm nhạc, qua âm nhạc, bà luôn luôn đi sát cạnh cuộc đời, ở trong cuộc đời, thăng hoa cuộc đời, biến những nỗi buồn thành niềm vui, những chán chường thành lạc quan yêu đời, cô đơn thành cảm thông chia sẽ. »

Đứa cháu ngoại đã hỏi chị :

-« Bà ơi ! Bà có giận ông ngoại không ?

– Bà chẳng hề giận !

– Thực ra, con cũng thấy thương ông ngoại làm sao ấy..

Cháu bà giỏi lắm, các cậu và mẹ con cũng thế, luôn yêu thương ông ngoại, không hề ghét bỏ hay trách móc.

– Mỗi lần gặp lại ông, con chỉ muốn ôm ông hôn và không cần phải nói nhiều.. Con biết ông không hề có ý làm khổ bà, vì chính ông là người khổ trước tiên nếu phải làm khổ ai…. Ông ngoại vẫn luôn bảo tụi con phải yêu thương bà hết mực, vì nhờ bà mà mẹ con, các cậu con nên người. Có điều.. ông vẫn nghĩ là bà còn giận ông !

– Con có nghĩ như vậy khi bà kể chuyện cho con ?

– Không, Con nghĩ bà vẫn còn yêu ông ngoại !

– Thực ư.. Chính bà cũng không biết ! »

Khép lại trang sách tôi ngẫm nghĩ. Tiếc là sách bằng tiếng Việt, nếu viết bằng tiếng Pháp, các cháu nội, cháu ngoại chị Thanh Hoài đọc được sẽ nghĩ rằng : ông bà mình thiếu thông tin cho nhau. Nếu ông đi đâu, điện thoại cho bà một tiếng, hay nếu có điện thoại di động, bà gọi ông nhắn ông đem thuốc về gấp thì sẽ không có chuyện gì xảy ra. Tiếc thay oan Quan Âm Thị Kính nằm ở chổ, thời ấy chưa có dao cạo râu : Thị Kính phải vác con dao phay to tướng cắt râu cho chồng. Bà giận ông : vì thời ấy chưa có điện thoại di động. Nếu không bà sẽ điều khiển từ xa, ông chồng triết gia lãng trí hay quên của mình.

Các cháu Việt Nam sinh ra tại Pháp xem xong vở tuồng Quan Âm Thị Kính thường tức tối và hỏi : Où est sa bouche ?. Cái miệng bà Thị Kính ở đâu ? Sao bà không nói ? Sao ông không nói ? Tiếc thay khi ông bà giận nhau các cháu chưa ra đời !

Khép lại đọc trang cuối bìa tập sách là lời Phạm Công Thiện viết khi gặp nhau lần cuối : « Ở nơi chốn hỗn loạn, ở nơi tận cùng của khổ đau và tuyệt vọng mà tiếng nhạc của em vẫn có thể vang lên những âm thanh của dịu dàng đầm thắm, bay bổng cao vút tận chân trời, từ cái điều Không Thể mà vẫn Có Thể. Hãy gọi đó là Giai Điệu Của Cái Điều Không Thể. »

Khép lại trang sách chuyện kể một cuộc tình, hai cuộc đời không trọn vẹn cùng nhau đến cuối đời. Nhưng lời kể chuyện trong trẻo, thanh thoát khiến cho chúng ta vẫn còn nghe vang lên một dư âm tiếng đàn dương cầm chị Thanh Hoài.

Xin giới thiệu tiểu thuyết “Chuyện một người đàn bà.. năm con » của Lê Khắc Thanh Hoài do nhà xuất bản Thời Đại xuất bản tại Hà Nội và Sài Gòn cùng đọc giả trong và ngoài nước. Qua câu chuyện một kinh nghiệm sống cuộc đời, chị đã vẽ ra một khung cảnh người Việt trên đất Pháp, nó cần thiết cho các bạn trẻ, cho phụ huynh khi con em lên đường du học. Truyện còn giúp ta hiểu hơn về Phạm Công Thiện một nhà thơ, một triết gia một thời danh tiếng tại miền Nam Việt Nam.

Paris 23-7-2016

PHẠM TRỌNG CHÁNH
Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V Sorbonne.
*
Nguồn: Bài này Gia Nguyễn chép lại từ mail của bạn đồng môn Đại Học Sư Phạm Huế, Trần Ngọc Bảo gởi cho Gia Nguyễn.

From: Tri Vu  

 

Xin quý nương nhường 1 bước!

Xin quý nương nhường 1 bước!

 

Tác giả Laura Doyle. (Hình:lauradoyle.org)

Muốn bảo vệ hạnh phúc trong hôn nhân, xin quý bà hãy nhường lui một bước!

The Surrendered Wife (Người Vợ Hàng Phục) của tác giả Laura Doyle là một cuốn sách bestseller bán chạy nhất. Ngay chỉ trong tháng đầu tiên, số bán đã đạt con số 100,000 bản. Đây là một quyển sách độc đáo bàn về cách bảo vệ hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng.

Với tác phẩm The Surrendered Wife, hơn 150,000 phụ nữ tin rằng họ không những cứu vãn được mối quan hệ vợ chồng, mà cá nhân họ còn được trân trọng và ngưỡng mộ suốt đời. Báo chí và các đài truyền hình quan trọng Hoa Kỳ đều hết lời ca tụng tác phẩm của Laura Doyle.

Laura Doyle là một tác giả có sách bán chạy nhất của New York Times. Sách của bà đã được dịch ra 28 thứ tiếng ở 27 quốc gia. Tác giả là người đã sáng lập ra “Laura Doyle Connect,” một công ty huấn luyện quốc tế, huấn luyện cho phụ nữ những khả năng hầu đưa đến những mối quan hệ dịu dàng, say đắm.

Bà Laura Doyle đã xuất hiện CBS News, Dateline NBC, The Today Show, Good Morning America và The View. Bà đã có bài in trên The Huffington Post, Tạp chí Phố Wall, Thời Báo New York, Thời Báo Los Angeles, The Washington Post, The London Telegraph và là cây bút thường xuyên của The Huffington Post. Laura Doyle hiện sống ở New Port Beach, California, có cuộc hôn nhân dài 26 năm với chồng là John Doyle.

Nguyên nhân ra đời của tác phẩm “Người Vợ Hàng Phục”

Bà Laura Doyle thú nhận là từ khi lấy chồng lúc 22 tuổi, bà đã có thói quen thường xuyên kiểm soát chồng một cách gắt gao, không ngớt ra lệnh, chỉ trích, gắt gỏng, nói xỏ xiên, bới móc những chuyện nhỏ nhặt của chồng, hạ nhục ông chồng về bất cứ sự sơ suất nào, xem chồng như một đứa trẻ, nếu ông ta làm không đúng như ý bà.

Vì vậy, càng ngày giữa hai người càng có khuynh hướng xa cách. Vợ chồng không còn những mối tương quan đằm thắm thuở ban đầu, họ mất dần đi sự đồng cảm, tình yêu giữa vợ chồng càng ngày càng phai nhạt. Mới 4 năm, từ một đôi vợ chồng hạnh phúc, cả hai bên hầu như đều chán nhau và chuyện ly dị chắc chắn sẽ đến với họ một ngày không xa.

Thay vì dễ dàng ra tòa để xé tờ hôn thú, Laura Doyle bỗng quyết tâm thay đổi lại cách sống, hy vọng làm mọi cách để cứu vãn hạnh phúc gia đình mình. Bà theo những khóa tâm lý trị liệu, học hỏi qua sách vở, đi tìm nguyên nhân sự đỗ vỡ, xa cách. Bà tiếp xúc với những cặp vợ chồng thật sự gắn bó yêu thương nhau và đang có cuộc sống hạnh phúc để học hỏi cách đối xử, ngôn ngữ và tình yêu, kinh nghiệm từ nơi họ. Bà ghi nhớ và học hỏi kinh nghiệm, những gì có thể hàn gắn sự đổ vỡ của vợ chồng bà. Cuối cùng, là Laura Doyle đã cứu vãn được hạnh phúc của mình.

Bà muốn đem những kinh nghiệm và bài học hôn nhân của mình, việc sửa đổi lối sống của mình, viết thành sách để giúp bạn bè của mình, những người đã trải qua hoàn cảnh của mình không tìm ra lối thoát.

Xích lại gần nhau và bỏ bớt cái tôi của mình

Phải chăng tăng trưởng theo nữ quyền trong xã hội, người phụ nữ trong gia đình càng ngày càng lấn lướt, khống chế, kiểm soát chồng trên mọi phương diện.

Bà Laura Doyle đã quyết định chấm dứt giai đoạn “gà mái đá gà cồ,” bỏ thời hoạnh họe, thống trị, coi chồng như tôi tớ, hiếp đáp, xỏ mũi chồng như trước?

Laura Doyle đề cao sự quay trở về nguồn với những giá trị đạo đức ngày xưa trong đời sống lứa đôi. Chồng là người chỉ huy và vợ là người tuân hành, kiểu “phu xướng, phụ tùy của Đông phương.

Từ bỏ vai trò một người phụ nữ trí thức, cấp tiến, thích chỉ huy, ra lệnh, kiểm soát, thống trị, coi thường và sai khiến chồng thẳng tay, “xem chồng như tấm thảm chùi chân- doormat” ngoài ngạch cửa, nay thì Laura Doyle đã tự nhìn nhận trở thành một người biết ăn năn hối cải, trở thành một người vợ hiền lành, nhu mì. Bà hồi tâm và đã thấy tránh vợ chồng đi đến chỗ đổ vỡ hạnh phúc gia đình, chỉ có một cách duy nhất là mình, chính mình, cần phải thay đổi cách cư xử với chồng, mềm mỏng, lắng nghe, bỏ quyền chỉ huy và trở thành một người vợ yếu đuối, cần che chở, được chồng quý mến.

Từ đó, cả hai người đều cảm thấy hạnh phúc bên nhau. Chồng bà, sau một thời gian, trở nên vui vẻ tự tin trở lại, và bắt đầu quan tâm đến trách nhiệm gia đình, thương yêu, trân trọng bà hơn. Riêng bà cũng thấy lòng thấy thanh thản, hạnh phúc hơn xưa. Được như vậy, chính nhờ bà đã biết thay đổi cách suy nghĩ, thái độ và biết cách ứng xử tốt đẹp với chồng.

Theo sự suy nghĩ của Laura Doyle, bà đã ngộ ra chân lý: phải tự mình thay đổi chính bản thân mình chớ đừng mong đợi hay bắt buộc sự thay đổi ở người khác.

Bà tự xem mình là một người vợ biết hàng phục và quyết định chia xẻ những kinh nghiệm này cho tất cả chị em phụ nữ đang mấp mé bên vực thẳm ly dị, đổ vỡ của gia đình, qua tác phẩm “The Surrendered Wife.”

Người phụ nữ lội ngược dòng

Trong thời đại nữ quyền đang được đề cao, người phụ nữ đã ra khỏi cánh cửa gia đình, bước vào xã hội, đang giữ các chức vụ lãnh đạo đất nước như Tổng thống, Thủ Tướng… ở trong gia đình thì chưa biết ai thuần phục ai, ý tưởng của Laura Doyle hình như quá ngược dòng và quá mới lạ đã làm nhiều người bàng hoàng và sửng sốt, chưa nói đến thái độ tức giận của giới phụ nữ cánh “Nữ Quyền” thì đả kích và chống đối hết lời “The Surrendered Wife.”

Tác giả đã đi khắp nước Mỹ để tổ chức những nhóm học tập workshop, seminar, những buổi hội thảo, quảng bá những ý kiến mới, lập ra những hội đoàn các người vợ hàng phục để trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau về cách bảo vệ hạnh phúc gia đình.

Bà Laura đã đưa ra thái độ “hàng phục” cần thiết cho những người vợ, nhưng không biết liệu quý bà có chịu cho không?

– Biết kính trọng chồng.

– Ngoan ngoãn vâng lời chồng bất cứ việc gì từ nhỏ đến việc lớn.

– Không bao giờ ngắt lời, hay gắt gỏng với chồng.

– Không tìm cách hạ thấp phẩm giá của chồng bằng cách kiểm soát, ăn hiếp, xài xể, cằn nhằn, nặng lời với chồng.

– Không còn tìm cách kiểm soát chồng (nhiều bà lục cả ví tiền, thư tín, kiểm soát chi thu của chồng, ghi số milleage xe hơi của chồng.)

– Đối xử với chồng như một người trưởng thành, không xem ông như là một đứa trẻ con.

– Để cho chồng mình được tự do lựa chọn quần áo, cà vạt, giày dép.. theo ý ông, cũng không ép buộc chồng phải ăn uống như ý mình muốn.

– Đừng đóng vai trò tài xế phụ băng sau (backseat driver) để chỉ trích, chê bai, phê phán cách lái xe của chồng.

– Phải tin tưởng chồng về bất cứ chuyện gì, từ vụ sex đến việc quản lý tài chánh gia đình.

– Hãy chiều chồng, cả nể khi cần cho chồng vui lòng.

Trong các cuộc mạn đàm, hội thảo trên truyền hình, phát thanh, tác giả “The Surrendered Wife” khuyên những người vợ:

– Dành nhiều thời gian để vợ chồng vui sống, ngưng tranh chấp, cãi cọ, gây lộn, cằn nhằn, về ba cái vụ tiền bạc.

– Nên dịu dàng bày tỏ những điều mình mong muốn với chồng.

– Tạo ra những cơ hội tiếp xúc lãng mạn với chồng.

– Đừng ôm hết mọi việc vào mình, chia sẻ với chồng nhiệm vụ dạy dỗ con cái.

– Tái lập và vun bồi lại không khí êm đềm trong gia đình.

– Hãy si tình chồng và trở lại như những “ngày xưa thân ái.”

Đang ở vị thế Bà La Sát, quay chồng mòng mòng như quay dế, mà bỗng nhiên được khuyến cáo hãy quy phục để làm một người vợ hiền lành, dịu dàng, chiều chồng, ai mà chịu được? Như vậy là chịu lép vế, thua sút, làm tôi mọi đàn ông hay sao?

Nhà thơ Anh Quốc Alfred Tennyson (1809-1892) đã đưa ra quan điểm về vai trò của phụ nữ:

“Đàn ông chỉ huy, đàn bà vâng lệnh. Tất cả những điều khác đều là lầm lẫn! ( Man to command, and woman to obey. All else confusion!)

Ngày xưa ông bà ta cũng đã khuyến cáo: “Chồng giận thì vợ làm lành! Miệng cười chúm chím, thưa anh giận gì?”

Thôi xin quý nương hãy xuống ngựa quy hàng đi, gia đình được trong ấm ngoài êm thì loài người cũng mang ơn quý nương, được bình an dưới thế! (Huy Phương)

CÔNG AN HUYỆN CHƯƠNG MỸ ĐÃ MẮC NHIỀU SAI LẦM YẾU KÉM

CÔNG AN HUYỆN CHƯƠNG MỸ ĐÃ MẮC NHIỀU SAI LẦM YẾU KÉM

Không chỉ trong vụ cháu bé bị hiếp dâm vừa rồi công an huyện Chương Mỹ lại nhận định là dâm ô trẻ em và cho đối tượng tại ngoại, trong khi bệnh viện khám thấy cháu bé bị rách màng trinh và thủng tầng sinh môn. Điều gì đã gây ra sự mù lòa nhận thức pháp lý này?

Năm ngoái tôi đã phản ánh một trường hợp một đối tượng côn đồ 40 tuổi, do mâu thuẫn đã hai lần hành hung vợ chồng gia đình hàng xóm, gây thương tích phải khâu nhiều mũi. Gia đình đã trình báo công an huyện Chương Mỹ nhưng không được giải quyết nghiêm túc.

Đến lần thứ ba kẻ thủ ác đã cố tình lao xe máy vào cháu bé 5 tuổi đang chơi trước cổng nhà, kéo rê cháu đi một đoạn 4m, sau đó bỏ đi. Nhưng công an lại cho là tai nạn giao thông rồi dây dưa kéo dài tới nay chưa kết thúc.

Tôi đã gửi đơn phản ánh về năng lực nghiệp vụ của đơn vị này lên các cơ quan trung ương, đề nghị chỉ đạo bắt giam đối tượng. Ngoài ra đặc biệt tôi đã đề nghị: “Thanh tra kiểm tra đạo đức công vụ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, xử lý nghiêm đối với cán bộ công an huyện Chương Mỹ vì đã yếu kém, vô trách nhiệm dung túng cho tội phạm”.

Nhưng rồi không có biến chuyển gì, ý kiến của tôi đã không được lắng nghe và tới nay xảy ra vụ cháu bé 9 tuổi bị hiếp dâm với những nhận định sai trái hời hợt của cán bộ điều tra.

Nếu các cơ quan nghe lời tôi thanh tra kiểm tra năng lực đạo đức công vụ của cơ quan này thì đã giúp ích được cho người dân rất nhiều rồi. Vì ngoài những vụ án này thì liệu còn bao nhiêu vụ án khác nữa mà công lý đã bị vứt bỏ?

Nhưng tới nay nếu làm vẫn chưa muộn.
Dưới đây là ảnh thương tích của cháu bé 5 tuổi. Công lý nào cho gia đình cháu trong xã hội mục nát này?

Bài của Luật sư Ngô Ngọc Trai

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=1368299596643832&id=100003914154408

Image may contain: one or more people
Image may contain: one or more people
Image may contain: one or more people
Image may contain: one or more people
Image may contain: one or more people

HẾT THUỐC CHỮA

HẾT THUỐC CHỮA

Không có gì lạ dưới ánh sáng mặt trời. Có người đã cảnh cáo trước đây một…thế kỷ :

– ” Khi bạn thấy muốn sản xuất, người ta phải xin phép bọn không sản xuất gì. Khi bạn thấy tiền bạc rơi vào túi bọn kinh doanh không phải buôn bán với hàng hóa, nhưng với những đặc ân. Khi bạn thấy rất nhiều người trở thành giầu có nhờ đút lót và quen thuộc, hơn là nhờ mồ hôi. Khi bạn thấy luật pháp không phải để bảo vệ chúng ta khỏi nanh vuốt bọn gian ác, nhưng để bảo vệ chúng chống lại chúng ta. Khi bạn thấy sự bất lương được tưởng thưởng, sự lương thiện chỉ đưa tới thiệt thòi…

Lúc đó, bạn có thể nói, không sợ lầm, là xã hội đã hết thuốc chữa ” ( 1920 ).
AYN RAND, triết gia
————————————————

7 ĐIỀU CÓ THỂ HỦY HOẠI CON NGƯỜI :

1. Chính trị không nguyên tắc
2. Thú vui không lương tâm
3. Của cải không mồ hôi
4. Khôn ngoan không nhân cách
5. Kinh doanh phi đạo đức
6. Khoa học không nhân tính
7. Tôn giáo không hy sinh

GANDHI. 1869-1948 (*)
—————————————————

Và cách đây 400 năm :

Địa ngục vắng tanh. Tất cả quỷ dữ đều ở đây, trong xã hội này.

SHAKESPEARE. The Tempest. 1610 ( ** )

——————————————————————————————–
* Les 7 facteurs qui peuvent détruire un être humain : 1. La politique sans principes. 2. Le plaisir sans conscience 3. La richesse sans travail. 3. La sagesse sans personnalité 4. Les affaires sans éthique 5. La science sans humanité . 5. La religion sans sacrifice

** Hell is empty, and all the devils are here.

( tuthuc-paris-blog.com )

Image may contain: 1 person
Image may contain: 1 person, smiling, sunglasses and closeup
Image may contain: 1 person, closeup

  Mời đọc cuốn sách nổi tiếng “Nhà trừ quỷ kể truyện” của Lm. Grabiele Amorth

  Mời đọc cuốn sách nổi tiếng “Nhà trừ quỷ kể truyện” của Lm. Grabiele Amorth

Thân chào các bạn trong Chúa Kitô,

Tôi tìm được bản dịch tiếng Việt của cuốn sách “An Exorcist Tells His Story” do Lm. Grabiele Amorth (Chief Exorcist of Rome) viết và được thôi thúc chia sẻ với các bạn trong Mùa Chay 2019:

https://suyniemhangngay.net/2016/09/17/nha-tru-quy-ke-truyen/

Phần Giới Thiệu:

Bạn biết gì về vấn đề lên đồng, cầu cơ, nghề phù thủy, bùa ngải, ma thuật đen… Những cách người ta bỏ bùa, với những ảnh hưởng cùng những vật lạ liên quan đến vấn đề này. Nguyên nhân vấn đề tự tử. Những hiện tượng bàn ghế tự nhảy múa hay những vật gì đó trong nhà tự chuyển động. Những bóng ma, những ngôi nhà bị quỷ ám. Cách phân biệt giữa người bị tâm thần với người bị quỷ nhập. Mục đích chính yếu của các con quỷ. Các con quỷ hù dọa người trừ

quỷ… Những vấn đề trên sẽ được giải đáp thỏa đáng với nhà trừ quỷ lừng danh người Ý – , ông đã có rất nhiều kinh nghiệm và đã cho xuất bản nhiều sách về ma quỷ. Cho đến năm 2010, ông đã xử lý hơn 70.000 trường hợp liên quan đến vấn đề này. Mời đọc cuốn sách nổi tiếng “Nhà trừ quỷ kể truyện” của ngài Gabriele Amorth. Qua đó bạn sẽ biết được những bí ẩn, sau những hiện tượng như vậy. 

Gần đây đã rộ lên những hiện tượng mà Lm. Amorth gọi là “ma thuật trắng” của thuyết  “thông linh”, “tâm linh”…  quảng cáo việc trừ tà, giải trừ thư ếm, bùa ngải và việc triệu hồn, soi căn, etc. mà không ít các Kitô hữu, đặc biệt là thanh thiếu niên tò mò tìm hiểu và tham gia. Thế giới bùa ngải, phù thủy và ma thuật là có thật và trận chiến thiêng liêng đang diễn ra ở mức độ quyết liệt do nạn phá thai tràn lan, văn hóa sự chết đang hủy hoại mọi tầng lớp trong xã hội và gia đình! Xin phổ biến cuốn sách đáng đọc này đến người thân bạn bè, đặc biệt là giới trẻ. Bản tiếng Anh có thể mua trên Amazon, Barnes & Noble, etc.

Thân chúc các bạn một Mùa Chay thánh thiện và gặt hái nhiều hoa trái của Chúa Thánh Thần!

Trong Hai Thánh Tâm,

Giuse Trần Thái Hoàng

From: Hoang Tran & Lucie1937

Nổ súng trên tàu điện ở Hòa Lan: 3 người chết, ‘có thể do khủng bố’

Nổ súng trên tàu điện ở Hòa Lan: 3 người chết, ‘có thể do khủng bố’

Cảnh sát Hòa Lan dùng cảnh khuyển săn lùng kẻ nổ súng tại Utrecht (Hình: AP Photo/Peter Dejong)

UTRECHT, Hòa Lan (AP) – Một tay súng bắn chết ba người và làm bị thương chín người khác trên một tàu điện ở thành phố Utrecht tại Hòa Lan vào sáng ngày Thứ Hai, 18 Tháng Ba.

Giới chức an ninh nhanh chóng có phản ứng, mở cuộc săn lùng nhắm vào một tòa chúng cư gần nơi xảy ra cuộc tấn công.

Thị trưởng thành phố Utrecht nói nhiều phần đây là cuộc tấn công của khủng bố. Cảnh sát võ trang Hòa Lan gia tăng tuần tiễu ở các phi trường và các cơ sở chính trong nước, trong khi cuộc săn lùng ở Utrecht tiếp diễn.

Ít giờ sau khi xảy ra cuộc tấn công, cảnh sát Utrecht công bố tấm hình của một người đàn ông 37 tuổi, sinh ra ở Thổ Nhĩ Kỳ, và cho hay rằng người này có liên hệ với vụ nổ súng vừa xảy ra.

Hình ảnh này cho thấy một người đàn ông có bộ râu rậm trên tàu điện, mặc áo màu xanh đậm.

Cảnh sát chống khủng bố chuẩn bị tiến vào lục soát một tòa nhà ở thành phố Utrecht sau vụ nổ súng. (Hình: AP Photo/Peter Dejong)

Cảnh sát khuyến cáo dân chúng chớ đến gần người này, được cho biết tên là Gokmen Tanis, mà hãy gọi báo cho giới chức công lực.

Vụ tấn công ở Utrecht xảy ra ba ngày sau khi có 50 người bị giết khi một người thuộc thành phần da trắng dân tộc nổ súng tại hai đền thờ Hồi Giáo ở thành phố Christchurch, Tân Tây Lan trong lúc các nạn nhân đang cầu nguyện. Hiện chưa rõ là hai vụ này có liên hệ với nhau hay không.

Thủ tướng Hòa Lan, ông Mark Rutte, nói rằng: “Quốc gia chúng ta vừa bị tấn công ở Utretch và không thể loại bỏ đây là hành vi khủng bố.”

Tại Đức, quốc gia láng giềng với Hòa Lan, cảnh sát nói rằng đã tăng cường tuần tiễu dọc theo biên giới.

Ông Heinrich Onstein, một phát ngôn viên của cảnh sát Liên Bang Đức trong tiểu bang North Rhine-Westphalia, nói rằng có thêm các cảnh sát viên được huy động để canh chừng không chỉ các xa lộ lớn mà còn là những con đường nhỏ xuyên qua biên giới cũng như đường hỏa xa.

Giới hữu trách Đức lúc đầu được thông báo là để ý tới một chiếc xe Renault Clio màu đỏ, nhưng sau đó được cho hay là chiếc xe được tìm thấy vứt bỏ ở Utrecht, cũng theo ông Onstein. (V.Giang)