Đôi khi bạn cần phải im lặng!

Đôi khi bạn cần phải im lặng!

Nói thì ai nói cũng được, nhưng đôi khi bạn cần phải im lặng thì lại là điều rất khó cho nhiều người.

Bởi vì ai cũng nghĩ rằng, im lặng là nhu nhược, là hèn nhát, là nhục !

Nhưng trên thực tế, người biết im lặng mới là người hay.

Vậy lúc nào bạn nên im lặng ?

-Im lặng khi lời nói của bạn không còn ý nghĩa gì với người khác nữa. 

-Im lặng khi lời nói của bạn chỉ làm mọi việc thêm tồi tệ.

-Im lặng khi bạn muốn chứng minh cho đối phương thấy, bạn không dễ bị tác động bởi những lời nói linh tinh.

-Im lặng khi bạn nói mà không ai muốn nghe.

-Im lặng khi bạn cần suy nghĩ và để hỏi lại trái tim mình.

-Im lặng khi bạn muốn đối phương phải suy nghĩ.

-Im lặng khi bạn không cần đến người vô ý nghĩa quan tâm nữa.

-Im lặng khi bạn muốn giữ tình bạn, tình yêu.

-Im lặng khi bạn đã cạn lời với người bạn yêu rồi.

-Im lặng khi bạn muốn xem người kia có thật sự cần mình không ?

-Im lặng khi bạn muốn nghe và hiểu rõ một người.

-Im lặng khi bạn muốn tìm lại sự bình an cho tâm hồn.

– Im lặng khi bạn muốn kết thúc một chuyện tình êm đẹp.

Vậy bạn có đủ bản lĩnh để im lặng không, hay bạn cứ muốn nói để chứng tỏ ta đây không sợ ai và sẽ làm cho ra lẽ ?

Thật ra, khi một người biết im lặng, họ mới thật sự là người khôn ngoan đấy bạn !

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Kỷ luật Giáo sư Chu Hảo là tuyên chiến chống giới trí thức Việt Nam

Kính Hòa RFA
2018-10-25

Giáo sư Chủ Hảo Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức

Giáo sư Chủ Hảo Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức

Photo: RFA

Việc kỷ luật Giáo sư Chu Hảo là một thông điệp nhắm vào giới trí thức Việt Nam của Đảng Cộng sản.

Giáo sư Hoàng Dũng, Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh nói như vậy với đài RFA, tối ngày 25/10/2018.

Giáo sư Chu Hảo, Giám đốc – Tổng Biên tập Nhà xuất bản Tri thức, từng giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, đảng viên Đảng Cộng sản, vừa bị Ủy Ban Kiểm Tra Trung ương đề nghị kỷ luật với lý do đưa ra là ông đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Đây là kết luận tại kỳ họp thứ 30 từ ngày 17-19/10 mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương vừa công bố trong ngày 25/10.

Theo Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Tri thức do Giáo sư Chu Hảo làm Giám đốc đã xuất bản những cuốn sách trái với chủ trương, đường lối Đảng và Nhà nước, đồng thời vi phạm Luật xuất bản nên đã bị cơ quan chức năng thu hồi và tiêu hủy.

Những điều đó bị Ban Kiểm Tra Trung Ương cho là rất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng, tác động xấu tới tư tưởng xã hội, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật.

Trong tối ngày 25/10, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một người làm việc lâu năm với ông Chu Hảo nói rằng ông không ngạc nhiên về bản án của Đảng Cộng sản dành cho ông Chu Hảo, nhưng ngạc nhiên vì một bộ phận quyền lực trong đảng lại tha hóa đến mức dám kỷ luật một người, đã bỏ nhiều công sức cho việc chấn hưng dân trí Việt Nam, mà theo ông Nguyễn Quang A, chưa ai làm được trong hàng chục năm qua, theo tôn chỉ của Cụ Phan Chu Trinh đề ra từ đầu thế kỷ.

Tiến sĩ Hoàng Dũng, nhận xét rằng trong thông cáo của Ủy ban kiểm tra trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra ngày 25/10, tất cả các cán bộ cao cấp bị kỷ luật vì liên quan đến đất đai tiền bạc, trừ ông Chu Hảo, bị kết tội về tư tưởng.

Tiến sĩ Hoàng Dũng còn nhận xét về tội danh chuyển hóa mà Đảng Cộng sản gán cho ông Chu Hảo, ông nói rằng rằng chuyển hóa là điều tất yếu, là điều cần phải có để tiến bộ.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A, việc kỷ luật ông Chu Hảo chứng tỏ hệ thống chính trị đang cai trị ở Việt Nam đã hư hỏng đến mức không còn sửa chữa được, và những người ở trong đảng cộng sản hãy còn thái độ chần chừ sẽ quyết định từ bỏ đảng.

Tiến sĩ Hoàng Dũng khẳng định rằng ngay trong tối ngày 25/10 đã có một số trí thức đảng viên bày tỏ ý định ra khỏi đảng của họ với ông. Ông Hoàng Dũng nói rằng Đảng Cộng sản không sợ những người trí thức đơn lẻ, nhưng sợ rằng họ tập hợp lại với nhau.

Có hai quyển sách do nhà xuất bản Tri thức xuất bản đã không qua được kéo kiểm duyệt của đảng, đó là quyền Petrus Ký nỗi oan thế kỷ của học giản Nguyễn Đình Đầu, đã bị thu hồi sau khi xuất bản.

Quyển thứ hai bị đình chỉ ngay khâu xuất bản là Tranh luận để đồng thuận, vào năm 2005. Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A, quyển sách này có thể là một dấu mốc mà những nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản không hài lòng về Giáo sư Chu Hảo.

Tuy vậy Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng những quyển sách chỉ là cái cớ để người ta loại trừ Giáo sư Chu Hảo. Tiến sĩ Hoàng Dũng cho rằng việc kiểm duyệt những quyển sách do Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành là do một bộ phận cán bộ kiểm duyệt muốn lập công với đảng, và điều này lại phù hợp với mục đích của những người lãnh đạo cao cấp nhất hiện nay.

Cả hai người, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, và Tiến sĩ Hoàng Dũng đều cho rằng việc Đảng Cộng sản kỷ luật Giáo sư Chu Hảo có thể đưa đến kết quả ngoài dự kiến của đảng, là giới trí thức sẽ phản ứng theo chiều hướng đồng quan điểm với Giáo sư Chu Hảo.

Trí thức, đảng viên kỳ cựu từ bỏ đảng sau khi GS Chu Hảo bị kỷ luật

RFA
2018-10-26                  

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Mạc Văn Trang

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Mạc Văn Trang

 Courtesy FB Trang Mac Văn

Hai trí thức nhiều năm tuổi đảng vừa tuyên bố từ bỏ đảng Cộng sản ngay sau khi Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị kỷ luật Giáo sư Chu Hảo, nguyên thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường.

Một trí thức Việt Nam tại Hà Nội, Phó Giáo sư, Tiến Sĩ Mạc Văn Trang, vào sáng ngày 26/10 tuyên bố ra khỏi đảng Cộng sản Việt Nam sau khi Ủy ban kiểm tra Trung ương đảng hôm 25/10 xem xét kỷ luật Giáo Sư Chu Hảo, Giám Đốc- Tổng Biên Tập Nhà Xuất Bản Tri Thức và nguyên thứ trưởng Bộ Khoa học- Công Nghệ và Môi trường.

Phó GS-Tiến Sĩ Mạc Văn Trang là người từng có hơn 30 năm công tác ở Viện Khoa học Giáo dục trước khi về hưu vào năm 2002 và đã có hơn 54 năm tuổi đảng.

Nói với Đài Á Châu Tự Do qua điện thoại vào ngày 26/10, Tiến sĩ Mạc Văn Trang cho biết nguyên nhân cụ thể của quyết định bỏ đảng như sau:

Thực ra từ năm 2000, tôi đã thấy lý tưởng lúc vào đảng là đấu tranh cho đất nước được độc lập- tự do, người dân hạnh phúc; thế nhưng đến năm 2000 thì đảng đi ngược lại lý tưởng đó. Giặc chiếm đảo, biên giới thì không lên tiếng mà nhượng bộ giặc cụ thể là Trung Quốc. Đối với dân thì đàn áp những người đấu tranh đòi quyền sống, đàn áp những người dân phản đối Trung Quốc xâm lược, phản đối môi trường bị ô nhiễm … Các trí thức nhiệt tình góp ý kiến, trong đó có tôi, thì không nghe. Nhiều người lên tiếng phản đối thì thậm chí còn bị bắt đi tù.”

Đến năm 2000 thì đảng đi ngược lại lý tưởng đó. Giặc chiếm đảo, biên giới thì không lên tiếng mà nhượng bộ giặc cụ thể là Trung Quốc. Đối với dân thì đàn áp những người đấu tranh đòi quyền sống, đàn áp những người dân phản đối Trung Quốc xâm lược, phản đối môi trường bị ô nhiễm … – TS. Mạc Văn Trang

Giáo sư Chu Hảo bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương đảng đề nghị kỷ luật với lý do là ông đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Kết luận của Ủy ban cho rằng nhà xuất bản Tri Thức của Giáo sư Chu Hảo đã xuất bản những cuốn sách trái với chủ trương, đường lới của đảng và nhà nước, vi phạm luật xuất bản.

Trong cuộc phỏng vấn với Đài Á Châu Tự Do, Phó Giáo sư- Tiến Sĩ Mạc Văn Trang nhắc lại mong mỏi của những người góp ý với đảng là cần phải thay đổi xã hội; không thể cứ tiếp tục đường lối học thuyết cộng sản, độc đảng- toàn trị. Phải thay đổi theo hướng đa đảng có cạnh tranh, tam quyền phân lập, xã hội dân sự để cho nhân dân được lên tiếng; thay đổi đường lối- chủ trương sai lầm để quản lý đất nước, kiểm soát quyền lực.

Phó giáo sư Mạc Văn Trang cho biết còn nhiều đảng viên khác cũng có cùng trăn trở với ông là nên ở lại hay ra khỏi đảng. Dù ở lại hay ra khỏi đảng đều cũng vì lo cho dân, cho dân.

Hành động ra khỏi đảng của ông hiện nay được nói nhằm để hỗ trợ cho Giáo sư Chu Hảo để vị này không thấy bị đơn độc trong công cuộc đấu tranh cho sự phát triển đất nước.

Ngay sau quyết định của Tiến sĩ Mạc Văn Trang, nhà văn Nguyên Ngọc, một trí thức nổi tiếng khác ở Việt Nam, vào cùng ngày cũng tuyên bố ra khỏi đảng.

Tôi đã suy nghĩ và định làm việc này từ lâu, nhưng muốn làm một cách bình thường, không gây ồn ào. Nay sau việc Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng kỷ luật PGS. TS Chu Hảo, tôi quyết định ra tuyên bố này, chính thức từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ hôm nay”, nhà văn Nguyên Ngọc viết như vậy trên trang facebook cá nhân.

Từ nhiều năm qua, tôi nhận thấy Đảng ngày càng xa rời lý tưởng ban đầu của mình, tự diễn biến thành một tổ chức chuyên quyền, phản dân hại nước – Nhà văn Nguyên Ngọc

Đánh giá về việc kỷ luật Giáo sư Chu Hảo, nhà văn Nguyên Ngọc viết: “Kỷ luật ông Chu Hảo thực chất là một hành động thực hiện chính sách ngu dân, kìm hãm nhân dân trong vòng tăm tối, để dễ lừa dối và đàn áp, vì quyền lợi ích kỷ của một đảng độc tài”.

Nhà văn Nguyên Ngọc cho biết ông đã vào đảng từ năm 1956, đến nay là được 62 năm. Ông viết rằng ông vào đảng vì hăng hái tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc. Thế nhưng “từ nhiều năm qua, tôi nhận thấy Đảng ngày càng xa rời lý tưởng ban đầu của mình, tự diễn biến thành một tổ chức chuyên quyền, phản dân hại nước”, nhà văn Nguyên Ngọc viết.

Trước đó, ngay vào ngày 25/10, sau khi có tin Giáo sư Chu Hảo bị kỷ luật, một trí thức khác là Tiến sĩ Hoàng Dũng nói với đài Á Châu Tự Do rằng việc kỷ luật Giáo sư Chu Hảo là một tuyên chiến đối với giới trí thức  Việt Nam. Ông cũng cho biết, đã có một số trí thức lên tiếng phản đối với ông ngay sau quyết định này.

“NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC TUYÊN BỐ RA KHỎI ĐẢNG”

V Phung Phung shared a post.
Image may contain: 2 people, people sitting

Van Pham

“NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC TUYÊN BỐ RA KHỎI ĐẢNG”

Vậy là sau khi PGS, TS Mạc Văn Trang tuyên bố bỏ Đảng thì đến lượt nhà văn Nguyên Ngọc, đại tá quân đội, nguyên Phó tổng thư ký Hội nhà văn, nguyên tổng biên tập báo Văn Nghệ tuyên bố ra khỏi đảng Cộng Sản sau khi UBKT Trung ương đảng kỷ luật giáo sư Chu Hảo.

Nguyên văn tuyên bố của ông như sau:

TUYÊN BỐ RA KHỎI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Tôi đã suy nghĩ và định làm việc này từ lâu, nhưng muốn làm một cách bình thường, không gây ồn ào. Nay sau việc Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng kỷ luật PGS.TS. Chu Hảo, tôi quyết định ra tuyên bố này, chính thức từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ hôm nay. Tức nhân dịp này tuyên bố một quyết định đã chuẩn bị từ trước, đồng thời để tỏ rõ thái độ đối với thông báo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng.

PGS.TS. Chu Hảo là một trí thức lớn, có công lớn với đất nước và dân tộc, đặc biệt trong công cuộc khai hóa bằng Tủ sách Tinh Hoa của Nhà xuất bản Tri Thức mà ông là Giám đốc, Tổng biên tập, đưa đến cho người đọc những tri thức căn bản nhất của nhân loại mà chúng ta nhất thiết phải biết, hiểu, nếu muốn thật sự xây dựng một quốc gia văn minh, tiến bộ, cùng thiên hạ năm châu. Tôi vinh dự và tự hào là bạn thân của ông, đã cùng ông làm việc và tham gia các hoạt động xã hội trong nhiều năm nay.

Kỷ luật ông Chu Hảo thực chất là một hành động thực hiện chính sách ngu dân, kìm hãm nhân dân trong vòng tăm tối, để dễ lừa dối và đàn áp, vì quyền lợi ích kỷ của một đảng độc tài đang cướp quyền sống và phát triển của dân tộc. Kỷ luật ông Chu Hảo với những lý do đầy tính chất vu khống còn là hành vi có chủ tâm đánh vào những người trí thức yêu nước, có tài và có tâm, luôn hành động và phát ngôn theo lương tâm của mình. Việc làm thất nhân tâm này tất sẽ dẫn đến tình trạng “sĩ phu ngoảnh mặt”, hết sức nguy hiểm cho vận mệnh dân tộc.

Tôi vào Đảng Lao Động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) từ năm 1956, đến nay đã 62 năm. Thế hệ chúng tôi tự nguyện gia nhập Đảng vì yêu nước, hăng hái tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tôi đã có mặt suốt cả hai cuộc kháng chiến, đều ở chiến trường miền Nam.

Từ nhiều năm qua, tôi nhận thấy Đảng ngày càng xa rời lý tưởng ban đầu của mình, “tự diễn biến” thành một tổ chức chuyên quyền, phản dân hại nước. Tôi không thể còn đứng trong một tổ chức như vậy.

Tôi vẫn tin ở tương lai của đất nước, nhất là ở lớp trẻ, vì không có lực lượng vô luân nào có thể ngăn trở dân tộc này quyết định vận mệnh của mình.

Nguyên Ngọc
Ngày 26-10-2018

Ảnh: Nhà văn Nguyên Ngọc cùng với nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình (Báo Đà Nẵng)

Khoe – Tạp Ghi Huy Phương

No automatic alt text available.
Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

Khoe – Tạp Ghi Huy Phương

Sử gia Trần Trọng Kim có nhận xét về đặc tính của người Việt Nam như sau: “…hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài…” Nhận xét này có phần đúng nếu chúng ta chịu khó quan sát ngay trong đời sống cộng đồng của người Việt chúng ta. Có người khoe cá lạ đắt tiền trong hồ, người lại thích khoe chim quý trong lồng, người thì khoe vườn cây cảnh, không có những điều này thì khoe gia thế, địa vị, con cái, nhà cửa, xe cộ, tiền của… Các bạn có quan sát ở ngoài đường, những người có bắp thịt thì thích mặc áo ba lỗ không?

Khoe cái mình có đã không ai thích, vin vào cái bóng râm của người khác để khoe mình, kiểu “tiêu bạc giả” lại là một điều tệ hại. Một ông nhà văn kể chuyện ở tù mà cũng dẫn ra là ông chung trại với nhà văn này hay ông họa sĩ kia, hay một thời đã chơi thân với cô ca sĩ nổi tiếng này, uống rượu với nhạc sĩ lừng danh nọ.

Ông bạn viết lách của tôi có kể câu chuyện một người, trong lúc có chuyện đụng chạm với người lạ, cao hứng đã vỗ ngực hỏi người kia: “Ông có biết tôi là ai không?”. Sau này hỏi ra mới biết ông ấy là chuyên viên hộ tống, theo xách cặp cho một ông tướng.

Chuyện khoe khoang rất dễ thấy nếu bạn ở xa mới lại. Trừ khi là người cần bán ngôi nhà đang ở hay đang làm công việc môi giới bán nhà, còn thì đừng bao giờ khoe nhà với bất cứ ai cả. Ngày nọ, một người mới chân ướt chân ráo đến Mỹ, gặp một ông bạn trên phố Bolsa, khẩn khoản mời về nhà, không phải là để dùng bữa tối hay hàn huyên tâm sự, mà là để “xem nhà cho biết!” Ông chủ nhà sợ bạn từ chối nên nói nhà ông cách đây có năm mười phút, nhưng đến ngôi nhà đẹp đẽ này, họ phải mất gần nửa giờ.

Người bạn mới gặp được yêu cầu cởi giày trước bậc cửa, và theo sự hướng dẫn của chủ nhà, lần lượt đi từ phòng khách, phòng gia đình đến nhà bếp, từ phòng ngủ lớn đến phòng ngủ nhỏ và mấy cái nhà cầu. Khi khoe nhà, người chủ dùng mấy chữ tiếng Anh để chỉ các loại phòng, khiến người mới đến cũng ngẩn ra. Ở mỗi nơi khách cũng lịch sự ghé đầu vào một tí, mà chủ nhà cũng không muốn cho khách vào sâu hơn, chỉ đủ cho người xem gật gù, chậc lưỡi hay xuýt xoa để làm vừa lòng bạn.

Đương nhiên, trong một ngôi nhà sang trọng phải có những vật dụng quý giá, đó là mức “tra tấn” tiếp theo về giá trị của mấy bức tượng mua từ Thái Lan trong chuyến du lịch 10 năm về trước hay một bức tranh thủy mặc được đem từ Đài Loan về. Tất cả đều xa lạ và làm buồn lòng cho khách viếng. Người vui và thỏa mãn trong buổi chiều hôm nay chính là người chủ của ngôi nhà lộng lẫy này, kiếm được người khoe nhà đâu phải chuyện dễ.

Những người Việt Nam mới sang, thường là những ngày đầu còn bị chao đảo vì múi giờ khác nhau, nhưng được bà con chở đi thăm một vài gia đình quen biết, mà đáng lý ra người mới sang là người được thăm viếng mới phải. Chủ nhà sau khi trà nước, đem một DVD cuốn phim đám cưới cô con gái đầu ra, bỏ vào máy cho phát hình, gọi là “để chú thím xem cho biết, kẻo hồi đám cưới cháu, chú thím ở xa”. Những hoạt cảnh của một buổi tiếp tân trong một nhà hàng Tàu với những ông bà áo quần lượt là, những lời chúc tụng được lặp đi lặp lại nhiều lần, MC nói chuyện nham nhở cùng với những trò chơi sàm sỡ lai căng, kèm theo lời thuyết giảng của ông bà chủ nhà là những gì rất xa lạ, mà khách buồn ngủ cũng phải lịch sự mở mắt xem. Không là phim đám cưới thì cũng là phim quay trong một chuyến du lịch, hay sinh nhật đứa cháu. Những cuốn phim này thường thường bỏ xó tủ, không có khán giả nên cần người xem.

Nhiều người thường đang ngồi trên ghế trong một tiệm hớt tóc hay uốn tóc, tay chân không động đậy được thì phải mở miệng, thường cao hứng đem hết chuyện gia đình, con cái ra khoe. Cũng tại nơi này, thỉnh thoảng đi hớt tóc, tôi lại bị một ông khách đang ngồi ghế bên cạnh tra tấn khi kể chuyện du lịch phương xa mới về, thường là Việt Nam mới có cái để nói, huênh hoang với số tiền đã tiêu. Thường thì khoe khoang hay đi đôi với khoác lác. Có những người phụ nữ, chỉ sau mấy phút sơ giao, không ai đánh đập, tra hỏi, cũng đã cung khai hết sự thành đạt của các con bà: Bao nhiêu bác sĩ, nha sĩ, bao nhiêu ngôi nhà bạc triệu ngoài biển hay trên đồi. Nhiều ông bà muốn khoe con vừa tốt nghiệp, phải dùng lối quảng cáo bằng cách đăng một cột báo cha mẹ chúc mừng con (!), không chúc mừng kiểu này thì ai biết đến phúc nhà.

Trong đám cưới, khi giới thiệu anh em cô dâu chú rể cũng không quên kèm theo văn bằng. Có gia đình gặp cảnh tang tóc, cũng ráng ghi chức tước bằng cấp của con cái người chết trên trang cáo phó, một công đôi việc, không ghi thì ai biết con cái làm rạng rỡ tông môn.

Nếu hai người cùng khoe cái mình có như nhau thì không ai nghe ai, nên thường người ta muốn khoe cái mình có trước mặt những người thiệt thòi hơn mình. Vì vậy nên có những người vụng về không có ý tứ, khoe nhà trước mặt người suốt đời ở nhà thuê, khoe con thành đạt với những gia đình có con chỉ làm thợ hay thất bại trong học vấn. Đã có lần giữa bạn bè, tại Sài Gòn, trong thời điểm có nhiều người vượt biên, một người bạn có con vượt biển, khoe con vừa được tàu Hòa Lan vớt trên Biển Đông, được nữ hoàng xứ này tiếp đón, được trợ cấp nhà cửa và tiền bạc, trước mặt một người bạn có con mới tử nạn trên biển cách đó không lâu. Khi người ta hứng khởi, sung sướng bởi cái mình có, khó mà giấu kín trong lòng.

Được khoe khoang nhiều nhất là chức tước và học vị. Nhiều khi tước vị không xứng với kiến thức và tài năng. Trên truyền hình có người để luôn hai tước vị giáo sư (!) và nhà văn cùng một lúc, nhưng khi nghe ông này giải thích với người nghe và người xem rằng Bộ Lại là… Bộ Học (dưới triều Nguyễn), nghĩa là Bộ Nội Vụ là… Bộ Giáo Dục thì xem chừng ông bà xưa có câu “dốt hay khoe chữ” quả không sai. Trong cộng đồng này nhiều người chưa đến tuổi sắp chết đã làm tổng kết tự khen mình với những tác phẩm kiểu “Vừa Đi Vừa Kể Chuyện” của “bác” như “60 Năm Viết Văn,” “50 Năm Sân Khấu,” “40 Năm Hoạt Động Cộng Đồng,” “20 Năm Làm Truyền Thông”.
Có nhà thơ dùng thêm một bút hiệu khác để tiện cho việc… tâng bốc mình.
Trong 10 cuốn hồi ký xuất bản ở hải ngoại thì đã có tám cuốn viết ra để kể công trận, khoe tài, chứ không thấy ai đấm ngực nhận lỗi mình hay sám hối.

Một bác sĩ tâm thần người Pháp, Dominique Esquirol, đã ví von một câu nghe thấm thía: “Con người cũng như bông lúa: Khi không hạt, nó ngẩng cao đầu, khi trĩu hạt, nó cúi mình xuống!”

Huy Phương

Vẫn còn là một anh mù

Vẫn còn là một anh mù

Một tác giả Ấn Độ có kể câu truyện ngụ ngôn được Thu Giang Nguyễn Duy Cần ghi lại trong tác Phẩm “Cái cười của thánh nhân” như sau :

Có một người kia sinh ra đã bị mù. Sống trong một căn phòng nhưng bởi không thấy gì cả, nên anh phủ nhận tất cả những cái gì mà mọi người chung quanh quả quyết là có. Anh nói: – “Tôi không tin vì tôi không thấy’

Một vị lương y đem lòng thương hại đi tìm một thứ linh dược trên dẫy Hy-mã-lạp-sơn về chữa anh và anh được lành bệnh. Anh ta sung sướng tự phụ bảo:

– Giờ đây tôi thấy được tất cả sự thật chung quanh tôi rồi.
Nhưng mọi người nói với nói với anh:

– Bạn ơi, bạn chỉ thấy được những vật chung quanh bạn trong căn phòng này. Như thế thì có là bao. Ngoài kia người ta còn thấy được mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, còn biết bao vẻ đẹp lộng lẫy và màu sắc mà bạn chưa thấy

Nhưng anh ta không tin: – Làm gì có những cái đó, tôi chưa thấy những cái đó, những gì có thể thấy được tôi đã thấy tất cả rồi, còn gì!

Một y sĩ khác liền leo lên tận núi cao, được Sơn Thần chỉ cho một thứ linh dược khác đem về giúp cho anh ta có được cặp mắt nhìn xa hơn những vật chung quanh căn phòng.

Bấy giờ thì anh ta thấy được mặt trời, mặt trăng, các tinh tú. Mừng quá! Rồi lòng tự phụ dâng lên, anh thốt lên: – Trước đây tôi không thấy, nhưng bây giờ tôi thấy, tôi tin. Như thế bây giờ chẳng còn cái gì mà tôi không thấy không biết, đâu còn ai hơn tôi được

Nhưng có một hiền giả có cặp mắt thần nói với anh ta:

– Này cậu ơi! Cậu vừa hết mù nhưng cậu vẫn còn chưa biết gì cả. Tại sao lại quá tự phụ như thế. Cũng như khi cậu ở trong căn phòng. Tầm mắt của cậu không vượt khỏi bốn bức tường, cậu không tin có vật gì ngoài căn phòng của cậu. Giờ đây tầm mắt cậu vượt khỏi bốn bức tường và thấy được nhiều vật xa hơn. Nhưng với chừng mực của tầm mắt và lỗ tai của cậu như thế này, cậu làm gì biết được những vật ngoài ngàn dặm mà tai mắt cậu không thấy không nghe được.

Cậu có thấy được những nguyên nhân cấu tạo ra cậu khi cậu còn nằm trong bào thai của mẹ cậu không?

Ngoài cái vũ trụ nhỏ bé mà cậu đang sống, còn biết bao nhiêu vũ trụ khác vô cùng to lớn và nhiều không thể kể như cát sông Hằng.

Tại sao cậu dám tự phụ rằng tôi đã thấy cả, tôi biết cả?

Cậu vẫn còn là một anh mù, cậu vẫn còn lấy tối làm sáng và lấy sáng làm tối.

 From: Ngoc Bich & KimBằngNguyễn 

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi niềm,

 Suy Tư Chúa nhật thứ 30 thường niên năm B 28/10/2018

(Mc 10: 46-52)

Đức Giêsu và các môn đệ đến thành Giêrikhô. Khi Đức Giêsu cùng với các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Giêrikhô, thì có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, tên anh ta là Batimê, con ông Timê. Vừa nghe nói đó là Đức Giêsu Nadarét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” Đức Giêsu đứng lại và nói: “Gọi anh ta lại đây!” Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!” Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.

“Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi niềm,”

“Không u ám như cõi lòng ma quỷ.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Sáng láng, mù loà, hoặc u uẩn, vẫn là trạng huống tâm linh con người lâu nay còn gặp. Gặp, cả vào lúc Chúa đến thăm, như trình thuật hôm nay còn nói rõ.

Trình thuật thánh Mác-cô, nay nói về tình trạng mù loà và sáng láng, ở con dân. Tình trạng ấy, vẫn cứ thấy trong lịch sử, ở văn minh/văn hoá, ở nền chính trị và kinh tế của chúng ta, vào mọi thời.

Rất nhiều lần, ta vẫn có ý niệm về ý nghĩa và tính chất mà qua đó mọi người mới hiểu được chính mình. Hiểu, là hiểu về tình huống lịch sử và ảnh hưởng của nó lên cách sống của ta. Nhiều truyện kể lịch sử và văn minh con người từng chứng tỏ điều đó. Có một số sự kiện, do truyền thống trong Đạo, chí ít là thánh truyền ở Đạo mình lại đã làm nên.

Một số khác, đến từ các học thuyết triết lý của cuộc sống. Và, một số lại cũng do ánh sáng tư tưởng ở thời Trung Cổ và cả thời hôm nay từng khuynh loát/lũng đoạn khiến trở thành triết thuyết hiện đại. Sau trận chiến thế giới và thời kỳ khắc phục tiếp theo sau, con người đã lấy lại được sinh lực, từ nhiều phía. Phía của người trong Đạo. Của, Công Đồng Vatican II chợt đến rồi đi. Và, cả phía có thắc mắc/ han hỏi về cuộc đời ta đang sống.

Trong quá khứ, nhiều bạn trẻ đã bắt đầu chỉ trích/vấn nạn tính hiện đại của cuộc sống. Nhiều người còn đã cho nhiều thứ, hoặc cứ lẳng lặng tìm giải đáp cho câu hỏi thật chính xác, thiết thực. Có người lại không thấy câu giải đáp cho mọi luận thuyết đưa ra từ thời Trung Cổ. Một số khác gặp đổ vỡ lại chấp nhận tính hiện đại mà chẳng thắc mắc. Đổ vỡ, từ “1968”, một thời khắc có những sự việc thể hiện trong Hiến Chế “Humanae Vitae”. Có cả vụ ám sát nghị sĩ Mỹ Robert Kennedy và nhà hoạt động cho nhân quyền là mục sư Martin Luther King. Rồi, xảy đến trong chiến tranh Việt Nam cùng lúc xuất hiện xã hội công nghiệp. Và cuối cùng, hiện ra thế giới thứ ba nghèo đói, thiếu thốn, chậm lụt.     

Tiếp đó, lại thấy xảy ra cuộc nội loạn bắt đầu từ người Pháp ở Paris, lan sang tận Bắc Mỹ đòi chống đối thuyết lý-tưởng-hoá hết mọi sự. Từ thuyết hiện-đại tại các nơi, cho tới chủ thuyết này khác nhằm thay thế thuyết Mác xít, thuyết căn bản hoặc học thuyết nào khác nung nấu tâm can của nhiều người. Nổi dậy và nội loạn, tiếp diễn trên đường phố/chốn đông người, rất bạo động. Có khi chỉ mơ hồ. Đôi lúc, lại ảo tưởng về mọi sự. Thời hậu-hiện-đại lại chủ trương huỷ hoại mọi chuyện. Chối bỏ mọi sự. Chối, cả niềm tin vào bất cứ thứ gì. Và rồi, tính hiện-đại lại vẫn tồn tại với khoa học kỹ thuật. Với mạng truyền thông, vi tính. Với cả trường lớp, chốn doanh thương ở phố chợ. Thế nên, con người nay có thói quen ra như thế.

Thật khó nói và khó nhận định. Khó, là bởi nền kinh tế thế giới, đã vỡ đổ. Dân gian mọi người trên thế giới, rày bối rối. Thị trường thế giới lại lủng củng/rối bời, khiến người người ra sức tìm cách chỉnh sửa, để cứu chữa. Tuy là thế, nhiều vị vẫn không có được một triết thuyết căn bản để cho đời hầu giúp mình chỉnh đốn cuộc sống thực tế, để tiến bước.

Thách thức ở đời người, không chỉ mỗi chuyện chỉnh sửa hệ thống chủ trương đặt nặng lên lợi nhuận nhờ khai thác bóc lột người khác. Thách thức ở đây/hôm nay, là tạo dựng hệ thống trong đó tài sản của tất cả mọi người phải được sẻ san/phân phát cho người khác. Vì lợi ích của mọi người. Thách thức của thế giới hôm nay, là đảm bảo rằng người khốn khó/nghèo hèn phải được quan tâm, chăm sóc. Thị kiến này từng làm rúng động thế giới từ năm 1968 cho đến nay chưa phục hồi.

Đó là vấn đề. Vấn đề, là mọi thứ nay dường như đã vụt mất. Vụt mất đi, khả năng tin tưởng vào các ngân hàng trữ kim to lớn và tin vào các vị tài phiệt nắm giữ đầu tư của ta, cho đúng phép. Người người hôm nay, lại để mất tính chất đạo đức/chức năng cần có cho người nghèo. Nhưng làm thế nào để cảm thông với những người chuyên khai thác bóc lột tài sản của mình rồi sẽ mang cùng một ý tưởng tìm cách để thế giới từng phát triển giùm giúp thế giới thứ ba, là thế giới không được ai đoái hoài, giùm giúp?

Đã có lần, ta cứ tưởng rằng mình đã có câu giải đáp cho mọi sự. Cả sự cố, lẫn gẫy đổ. Cả những quyết tâm tạo mô hình để người khác bắt chước mà sống sót.

Nhưng, từ đó đến nay, lại đã có khủng hoảng về niềm cậy trông/tin tưởng vào mọi thứ. Lẽ sống hôm nay, chừng như rơi xuống vực sâu, ở dưới đất. Các vị cao niên đã ra đi, không còn minh chứng được gì. Còn ta, nay đang vào thời kỳ chuyển tiếp mà chẳng thấy được gì ở lại nơi ta, ra mới mẻ. Đã có thời, ta được mời đề xuất những mới lạ hầu giúp mình sống sót. Có thể, đó cũng là khoa sinh thái rất mới mẻ giúp ta sinh hoạt phát triển. Sinh thái đây, không như những gì hiện rõ quanh ta. Mà, là thái độ sống liên đới với nhau, nhờ cậy nhau trong mọi việc.

Liên đới và cậy nhờ, không theo cách cá nhân tìm lợi nhuận, cho bằng tìm về với vũ trụ vạn vật có ta ở trong đó. Trong “hệ thống” của sự sống, như vẫn thấy yêu cầu tạo sự sống mới. Sự sống có quan hệ hỗ tương, trợ lực nhiều hơn. Và, bớt dần bản ngã riêng tư bé nhỏ, để mở rộng với mỗi người và mọi người.

Thế giới với vạn vật, như thế sẽ giúp ta trở nên nhẹ nhàng, êm đềm nhiều nhân bản. Việc này chỉ xảy đến khi ta tìm được những gì mình để mất, cũng rất lâu. Mất, con tim chân chính những biết yêu thương, giùm giúp mọi người. Phải công nhận, là: ta từng phung phí thời gian kiếm tìm thêm “thu nhập/lợi nhuận” cho riêng mình. Trái lại, cần khám phá ra mức độ sự sống khả dĩ tạo cho ta thêm thời gian và nghị lực và tài nguyên cho “người khác”. Tức, những người kiếmn tìm mãi vẫn không có. Mỗi người và mọi người phải nói được: “Tôi hiện hữu là vì mọi người đã hiện hữu cùng với tôi.” Nói thế có nghĩa: hãy bớt tập trung vào mình. Mà, hiệp thông sâu sắc nhiều hơn nữa.

Đó là, sắc thái đặc trưng tư riêng của người cùng chung ý nghĩa. Đó là, tin tưởng và cởi mở với mọi người. Bởi, triết lý xưa cũng như quan niệm ngày nay đều nhấn mạnh chuyện này. Tất cả chúng ta đều sống chung trong vũ trụ vạn vật khiến ta có thể tin tưởng lẫn nhau, vì ta cùng xuất thân từ Chúa, có Chúa ở chung cùng trong đó. Là người, ta cũng thuộc cùng một vũ trụ của những người có thể tin cậy nhau. Tin, vào nhân loại rất “của chung”. Và, người-dưng-khác-họ lại không là mối đe doạ gửi đến với ta. Nhưng, họ chính là cơ hội để ta có thể minh chứng rằng: hiện thời, vẫn có nhiều bản thể, hơn là chỉ có “chúng ta” đang sống trong vũ trụ khá riêng rẽ.

Mọi truyền thống đều phải thực hiện chuyện như thế, kể cả truyền thống tôn giáo và triết lý sống. Tin Mừng lâu nay được coi là Truyền thống trong Đạo nói lên giá trị kinh điển của Đức Chúa. Điều này thật rất đúng, kể từ khi thánh Máccô viết Tin Mừng đầu cho Tân Ước. Nhưng, tự thân, Tin Mừng Chúa nói vẫn cần một diễn tả mới về ý nghĩa chủ lực để chuyên chở.

Tin Mừng ta đọc, nay kể về người mù ngồi đó xin ăn, bên vệ đường. Xin ăn hay mù loà ở trong truyện, có thể mang ý nghĩa của một diễn giải chính trị, vào thời đó. Người ăn xin/mù loà lại những muốn người nào đó, có thể là Chúa đang đi ngang, sẽ xót thương phận hèn “xin ăn” của anh ta. Nhưng, Chúa lại đã gọi anh đến gần. Và, anh lại đã nhảy mừng vì sung sướng, đã đến cùng Chúa.

Và, lời Chúa hỏi: ”Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Và, người “xin ăn” lại đã diễn giải sự việc nay thấy đúng. Sự việc rất đúng, đó là: “Lạy Chúa, xin cho tôi thấy được!” Anh không “thấy” được điều đó, nhưng qua yêu cầu Chúa tặng ban cho mình, anh đã “thấy”. Hành động “thấy” và tin đã cứu anh. Việc “thấy” lại đã về với anh. Và, anh bước theo con đường Chúa đi, mà chẳng cần đến con mắt dẫn đường của ai hết.

Phải chăng điều tuyệt vời, nếu hôm nay ta lại cũng “thấy” được như thế? Phải chăng, điều ấy rất tuyệt, nếu lãnh đạo mọi tổ chức cũng “thấy” được như thế? Cả ta nữa, ta cũng cần “thấy” được sự việc Chúa muốn mọi người cũng “thấy” và cũng làm, như Ngài?

Tìm hiểu điều Chúa muốn ta “thấy”, cũng nên ngâm nga lời ca còn đó trong đời, vẫn cứ bảo:

            “Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi niềm,

            Không u ám, như cõi lòng ma quỷ.

            Vì có Đấng Hằng Sống, hằng ngự trị.

            Nhạc thiêng liêng dồn trổi, khắp hư linh.” (Hàn Mặc Tử – Ngoài Vũ Trụ)

Trong hay ngoài vũ trụ, ai cũng đều “thấy” cõi lòng ma quỷ được Chúa ngó ngàng, hỏi han rất ân cần. Hỏi và nói những điều tương tự, ở trên: “Anh chị, muốn Tôi làm gì cho anh chị đây? Và hôm nay, câu trả lời còn đó vẫn dành cho mọi người. Ở mọi thời.

Lm Kevin OShea DCCT biên soạn

 Mai Tá lược dịch.

Đường nào lên Thiên Thai

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 30 Thường niên năm B 28-10-2018

“Đường nào lên Thiên Thai,”
“Đường nào lên Thiên Thai?
Nơi hoa xuân không hề tàn,
Nơi bướm xuân không hề nhạt,
Nơi tình xuân không úa màu bao giờ.”

(Hoàng Nguyên – Đường Nào Lên Thiên Thai)

(Công Vụ 27: 7)

Anh hỏi gì thì cứ hỏi, Em đây, nào có biết đâu mà trả lời. Chí ít, là trả những lời từ câu hỏi khó đoán và cũng khó hiểu. Hiểu sao được khi Em chẳng biết nhiều về chuyện Lưu Nguyễn khi xưa có những lời hát thêm sau đây:

“Ngày xưa sao Lưu Nguyễn,
gặp đường lên Thiên Thai,
Nhạc vàng ai mê say,
Rượu Đào ai ngây ngây
Suối Ngọc reo dưới bước chân đi,
Tiếng Nhạc tiên quyến luyến xiêm y,
ôi làm sao lạc vào được Thiên Thai
Anh nào biết đường lên Thiên Thai,
khi trời đất còn vương thương đau,
khi hồn anh chưa biết sẽ về đâu
Anh nào biết đường lên Thiên Thai,
khi lòng còn như băng buốt giá
Và tình còn e ấp, nói không thành lời.”

(Hoàng Nguyên – bđd)

E ấp hay không, anh cứ hát. Hát không nhiều, thì ít nhất cũng là những câu hát rất đẹp như sau: 

“Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
kìa đường lên Thiên Thai
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây,
tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên – bđd)

Vâng. Đúng thế. Đẹp và khó biết, tương tự như chuyện cổ tích rất đời kể bên dưới:

 “Có một ông lão đã 76 tuổi, ở cùng vợ trong một căn hộ cho thuê ở thành phố San Francisco nước Mỹ. Ông chưa từng mặc qua quần áo hàng hiệu, kính mắt rất cũ kỹ, đồng hồ đeo tay cũng không hợp thời. Ông không thích món ăn ngon, thích nhất là sữa hâm nóng và bánh sandwich cà chua giá rẻ. Ông cũng không có ô tô riêng, ra ngoài thường đều đi bằng xe buýt, túi xách mà ông từng dùng để đi làm là túi vải.

 Mặt khác, nếu bạn cùng ông đến một quán rượu nhỏ uống bia, ông nhất định sẽ cẩn thận kiểm tra đối chiếu hóa đơn; nếu bạn ở lại nhà ông ấy, trước khi ngủ ông ấy nhất định sẽ nhắc bạn tắt đèn.

Một ông già keo kiệt nghèo khó như vậy, bạn có biết trước 76 tuổi ông đã làm những việc gì chăng?

 Ông đã từng cống hiến cho đại học Cornell 588 triệu đô la Mỹ, cho đại học California 125 triệu đô la Mỹ, cho đại học Stanford 60 triệu đô la Mỹ. Ông từng bỏ vốn 1 tỷ đô la cải tạo và xây mới 7 trường đại học ở New Ireland và hai trường đại học ở Northern Ireland. Ông từng thành lập quỹ từ thiện để phẫu thuật sứt môi hở hàm ếch cho trẻ em ở các nước đang phát triển… Cho đến nay, ông đã quyên 4 tỷ đô la, còn 4 tỷ nữa đang chuẩn bị quyên góp.

 Ông là người sáng lập tập đoàn được miễn thuế toàn cầu DFS. Keo kiệt với chính mình, hào phóng với mọi người, thích kiếm tiền lại không thích được tiền – ông là Chuck Feeney.

 Trước mắt, Chuck Feeney còn ba nguyện vọng: Một là trước năm 2016 quyên hết 4 tỷ đô la còn lại, nếu không chết không nhắm mắt. Hiện tại, từ số tiền kia mỗi năm đều có hơn 400 triệu đô la chảy về các nơi cần trên thế giới.

 Ông đã dựng nên một tấm gương cho những người giàu có: “Trong khi hưởng thụ cuộc sống đồng thời quyên góp cho mọi người”. Bill Gates và Warren Buffett đều chịu ảnh hưởng nhiều từ ông mà đã thay đổi hành động của mình.

 Sau khi việc thiện của Chuck Feeney bị tiết lộ ra, rất nhiều phóng viên muốn tiếp xúc với ông. Trong tâm ai cũng đều có một nghi vấn: Làm sao Chuck Feeney có thể dửng dưng trước gia tài hàng tỷ đô la kia chứ?

Đối với nghi vấn của mọi người, Chuck Feeney mỉm cười kể cho mọi người một câu chuyện: “Một con hồ ly thấy bồ đào trong vườn kết trái đầy, muốn vào trong ăn một chầu no bụng, nhưng giờ nó mập quá, không chui vào được. Thế là ba ngày ba đêm nó không ăn không uống để thân thể gầy xuống, cuối cùng cũng chui vào được! Ăn no nê, cảm thấy thỏa mãn, nhưng khi nó muốn rời đi, lại không chui ra được. Bất đắc dĩ đành phải giở trò cũ, lại ba ngày ba đêm không ăn uống. Kết quả, lúc nó đi ra, bụng vẫn giống như lúc đi vào.”

 Kể xong câu chuyện, Chuck Feeney nói:

 “Chỗ Thượng Đế ở không có ngân hàng, mỗi người đều là trần trụi sinh ra, cuối cùng cũng đơn độc ra đi, không ai có thể mang theo tài phú và danh tiếng mà bản thân đã đau khổ tìm kiếm cả đời.”


Truyền thông hỏi Chuck Feeney, vì sao ông lại quyên góp hết gia tài của mình?

Câu trả lời của ông đơn giản và ngoài dự đoán của mọi người! Ông nói: “Bởi vì tấm vải che tử thi không có túi.”

 “Chỗ Thượng Đế ở, không có ngân hàng”. Và, cũng chẳng có nơi nào chuyên quyên góp tiền bạc hoặc quà cáp cho người dưng. Thế nhưng, ở nhà Đạo thì sao?  Nhà Đạo ư? Thật rất khó mà trả lời những câu tương tự. Thôi thì, mời bạn và mời tôi, ta đi vào giòng chảy Tin Vui, để tìm đến chốn yên vui được gọi là “Bến Lành” có bến và cũng rất lành thánh, như thiên thai.

Thiên-thai hay Bến Lành của nhà Đạo, là chốn/miền gồm chỉ mỗi niềm vui như hành-trình rao giảng của đấng thánh-hiền được kể ở sách Công vụ, mà bảo rằng:

“Trong vòng nhiều ngày, tàu đi chậm,

và vất vả lắm chúng tôi mới đến ngang Kniđô.

Vì không thuận gió,

chúng tôi đi vòng theo đảo Krêta,

hướng về phía mũi Salmônê.

Chúng tôi vất vả đi men theo mũi đó

đến một nơi gọi là Bến Lành,

gần đó có thành Lasêa.”

(Công Vụ 27: 7)

Thiên thai hay Bến Lành ngày hôm ấy, nay lại trở thành chốn miền ở đâu đây, rất gần gũi với quê ta, quê người đầy hung phấn.

Bến Lành hay Thiên thai hôm nay, lại cũng hiện diện ở tâm can của bạn, tâm hồn của tôi và của mọi người trong đất miền lành thánh, thân thương có câu truyện kể làm nền, để nhớ mãi, không buồn, như sau:

“Mới chiều hôm qua thôi. Mẹ cùng mấy bà trong xóm lên chùa trên núi quy y. Mẹ nghe sư thầy nói chuyện hay quá. Nhẽ ra mẹ nên chăm vào chùa và sống theo đạo lý nhà Phật từ lâu rồi mới phải.

 Mẹ từng nhiều lần nói với Thuần về mong muốn được thảnh thơi đi chùa lễ Phật. Điều đó có khó gì với người khác đâu nhưng lại vô cùng xa vời với mẹ. Vì mẹ còn nặng nợ với chồng con, với cơm áo gạo tiền. Mẹ còn gần mẫu ruộng, bốn con bò, đứa cháu nội ở với bà từ khi còn ẵm ngửa và khoản nợ ngân hàng mấy trăm triệu đồng hằng tháng sấp ngửa lo trả lãi.

 Mẹ thức khuya dậy sớm làm lụng quần quật suốt ngày. Buổi trưa mệt quá muốn đặt lưng xuống giường nghỉ vài phút cũng không yên vì còn phải trông đứa cháu nghịch như quỷ sứ. Mười hai giờ đêm còn có người gọi điện đến đòi nợ, dọa báo công an. Mà đâu phải mẹ nợ gì người ta. Đấy là món nợ chơi bời của thằng con cả đã bốn mươi tuổi đời, lớn mà vẫn dại. Mẹ bòn mót từng đồng tiền lẻ bán mớ rau khoai, gánh củi khô, mấy con gà, vài quả trứng. Vậy mà anh Thuần phá toàn tiền trăm bạc triệu. Mỗi lần người ta báo nợ về nhà là mẹ bủn rủn tay chân, khóc đứng khóc ngồi. Khoản tiền vài trăm triệu biết kiếm đâu ra? Không có trả thì người ta đánh đập bắt bớ con mình. Giận con thật đấy nhưng mẹ vẫn thương lắm chứ. Cá chuối đắm đuối vì con…

 Mẹ chạy vạy khắp nơi để lo đắp đậy nợ nần hết lần này đến lần khác cho đứa con nghịch tử. Vay sổ hộ nghèo, quỹ trồng rừng, quỹ hội phụ nữ, quỹ nước sạch. Trong nhà không gì nhiều bằng sổ nợ và bình rượu. Những bình rượu to vật vã cứ vơi lại đầy. Bố Thuần say ngất ngư từ ngày này qua ngày khác. Mà hễ cứ say là chửi. Giận con nhưng chửi vợ. Bố đay nghiến mẹ chuyện vay mượn trả nợ nần thay cho thằng con cờ bạc.

 Thỉnh thoảng bố ngồi ăn cơm nguội ở xó bếp rồi rưng rức khóc. “Đời bố phải đi phụ hồ vôi vữa ăn mòn mười đầu ngón chân để lấy tiền nuôi con ăn học. Vậy mà nó ra ngoài xã hội, cái hay không học lại đi học cái mất dạy”. Cũng có khi bố ngồi húp từng thìa cháo, tay bo cái răng đau mà than rằng: “Ngày xưa đói khổ, nhảy tàu đi mót sắn trên Yên Bái bị ném gãy răng. Một cái gãy là những cái xung quanh xô nhau gãy. Giờ chẳng còn mấy cái răng, ăn cái gì cũng phải hầm nhừ. Vậy mà con cái nó không thương mình. Nó phá cả nửa tỉ bạc mà vài triệu tiền trồng răng mình không có nổi”. Hết chửi bố lại quay sang đập. Đập gà, đập chó, đập con mèo đang chửa, con bò sắp đẻ và có khi đập… mẹ. Nhà lúc ấy loạn lên. Cháu khóc vì hoảng sợ. Mẹ khóc vì thấy đời mình sao khổ cực trăm đường.

 Bố vẫn rít lên từng hồi rằng:

-“tiền nhà này tao làm còng lưng gãy xương giờ đi đâu hết?”. Lần nào về thăm nhà Thuần cũng thấy nghẹt thở. Đó là nơi Thuần yêu thương nặng lòng nhất mà sao lại là nơi thiếu ôxy nhất?

 Mẹ từng nhiều lần có ý nghĩ ngủ một giấc và không bao giờ thức dậy để thoát khỏi những khổ ải đầy đọa này. Thuần hiểu cảm giác một buổi sáng mở mắt lòng bỗng nhiên nặng trĩu. Ngày mới mà nỗi lo toan cũ vẫn đè nặng lên vai. Gần hai mươi năm qua số phận dúi vào tay mẹ cả nghìn buổi sáng lo sợ và hoang mang như thế. Những cục nợ không biết đẩy đi đâu? Xoay xở thế nào? Sau cục nợ này sẽ còn bao nhiêu cục khác? Cứu nó lần này liệu có còn lần sau nữa hay không? Cả thiên hạ không còn ai tin nó, mình là mẹ lẽ nào mình cũng quay lưng?

 Thuần từng xót xa bảo:

-Mẹ không quay lưng lại thì làm sao anh ấy thấy được lưng mẹ đã còng rồi?”

Mẹ khóc. Thuần không chịu được cảm giác nghe thấy tiếng mẹ khóc hu hu trong điện thoại. Tim Thuần như vỡ vụn. Đau đớn và bất lực.

 Mẹ bắt đầu lẩn thẩn. Đã có lúc mẹ quên cả tên Thuần, quên chỗ vừa cất tiền, quên điều mình muốn nói. Đến bữa mẹ chỉ gắp vài cọng rau, nuốt cố lưng bát cơm rồi chống gối đứng dậy. Những ngày nhiều gió ngồi ngó dáng mẹ gầy liêu xiêu khắc khổ, Thuần thấy tim mình nhói lên từng nhịp thở. Mẹ nói khổ thân xác không bằng khổ tâm. Ban đêm nằm lo toan nợ nần đã đành.

 Ban ngày đi ra đường không dám ngẩng mặt nhìn bà con hàng xóm. Đi đâu thấy người ta chụm đầu xì xào cũng nghĩ chắc người ta đang nói đến con mình. Đám cưới quê ngoại, nhìn các mợ các dì mặc áo dài thướt tha, làm tóc trang điểm cầu kỳ. Chỉ mình mẹ nhàu nhĩ ngồi một xó. Mặt mẹ buồn xo, mắt lúc nào cũng như sắp khóc.

 Nhà người ta con cái ngoan ngoãn trưởng thành nên đi đâu cũng mở mày mở mặt. Mẹ vất vả nuôi con học hành đến nơi đến chốn mà u mê lầm lạc. Thử hỏi lòng người mẹ sao có thể cất lên những tiếng vui? Thuần từng nhiều lần tần ngần nâng lên đặt xuống mảnh vải áo dài thêu công thêu phượng. Rồi ước ao được ướm nó lên người mẹ, sẽ đẹp biết bao.

 Ngày trẻ mẹ đẹp lắm, vẻ đẹp mũm mĩm của da trắng, tóc xoăn. Đấy là Thuần nghe các dì kể vậy. Những người từng thầm yêu trộm nhớ mẹ khi xưa bây giờ thỉnh thoảng vẫn ghé thăm. Có lần mẹ chạy trốn sau nhà không ra gặp. Vì mẹ không muốn mình tiều tụy trong con mắt những kẻ si tình. Họ thường thốt lên xa xót: “Em khác quá em ơi…”. Mẹ đối thoại với họ bên tách trà nguội ngắt. Thuần đứng trong buồng nhìn ra thấy mẹ đang thu mình mỏng manh như lá…

 -Tối nay mẹ không xem “Góa phụ nhí” nữa ạ?

-Mẹ không. Dạo này tối nào mẹ cũng bận đọc sách. Mẹ mượn được mấy cuốn sách Phật hay lắm. Giá mà có đài “A di đà Phật” để nghe giảng Phật pháp thì thích biết mấy. Chỉ tiếc chùa trên mình không bán. Nghe nói chỉ những chùa lớn có nhiều phật tử thì mới bày bán thôi.

– Để con tìm mua rồi gửi về cho mẹ.

– Mẹ dặn thằng Út rồi nhưng chắc gì nó nhớ.

 Thuần có hơi bỡ ngỡ trước mẹ của hiện tại, khi đã quy y nhà Phật. Vẫn là người mẹ tảo tần, nhẫn nhịn, hy sinh của Thuần đấy thôi nhưng có gì đó hơi khang khác. Thuần phải tập làm quen với những bữa cơm mẹ chỉ gắp rau xanh. Những ngày cuối tháng mẹ ra chợ mua cặp chim bồ câu hoặc cua, cá phóng sinh. Chim bay lên trời, cá bơi dưới nước. Mẹ cũng phóng sinh dần từng chút nỗi buồn. Thuần gọi điện về thấy mẹ hay cười hơn. 

Những tiếng thở than đã bớt đi dù gánh nặng trên vai thì vẫn vậy. Khác hẳn với mẹ của ngày xưa hay nói về cái chết. Đời mẹ từng khất lần khất lữa hai thứ. Đó là khất nợ và khất chết. Nợ thì mẹ khất quanh năm. Chết thì mẹ khất theo mùa. Như lúc ngó những lộc non mùa xuân nảy nở, mẹ hẹn:

Chừng nào cả khu vườn được bao phủ bởi những tán cây thì khi đó mẹ sẽ chết. Các con thiêu mẹ rồi xây mộ trong vườn. Thỉnh thoảng con cháu tụ về tìm mùa quả chín.

 Mùa hạ, khi thấy người ta nghễu nghện chở xe bò phông bạt bàn ghế qua cổng, mẹ hẹn:

-Mẹ cố sống để được nhìn Thuần mặc váy cô dâu rồi nhắm mắt xuôi tay.

 Rồi thì Thuần cũng lấy chồng, cũng làm cô dâu trong ngày trọng đại. Mẹ khóc nhiều lắm. Mùa thu, thấy nhà người ta phơi tã lót trẻ con phấp phới trước sân, mẹ lại hẹn:

-Chừng nào Thuần được làm mẹ, Thuần sinh con, mẹ bế cháu ngoại trên tay là có thể thanh thản hóa thành cát bụi”. Mỗi một cái hẹn là một lần tim Thuần đau. Suốt bao nhiêu năm Thuần cứ đau đáu mãi câu hỏi phải làm sao để mẹ chỉ muốn hẹn với Thuần về sự sống?

 “Mẹ quy y rồi”. Câu nói ấy cứ vang mãi trong đầu Thuần. Có lúc Thuần nghe như một tiếng reo. Có lúc nhẹ nhõm như vừa trút một tiếng thở dài. Mẹ nương nhờ nhà Phật là từ nay tâm thức mẹ sẽ được an ổn thoát mọi khổ não trên đời. Là mẹ có đạo để tin, có nơi để vịn, có niềm vui để sống.

-Chắc kiếp trước mẹ nợ nhiều quá nên kiếp này còng lưng trả nợ. Chẳng nên oán trách ai. Con cũng nên chăm đi chùa, sống theo đạo nhà Phật để cho tâm thanh tịnh.

-Con bận quá mẹ ạ. Cứ quay cuồng từ sáng đến đêm vẫn chưa hết việc. Đến thời gian nghỉ ngơi con còn không có.

-Ừ thì… Phật tại tâm. Mỗi tuần ăn một vài bữa chay là thấy người nhẹ nhõm. Chăm nghĩ việc thiện, chăm làm điều hay để kiếp sau không phải gặp khổ đau ách nạn con ạ. Luật nhân quả chẳng chừa một ai. Đêm nào mẹ cũng nghĩ, anh con cứ sống như vậy mãi rồi cũng gặp những chuyện không hay. Cái khổ tâm lớn nhất của mẹ là đã không lôi nó ra khỏi những u mê tăm tối. Nên mẹ phải chăm ăn chay niệm Phật, thương người thương vật để cầu đức Phật gia hộ, soi đường chỉ lối cho các con.

 Thuần về thăm nhà, đêm thường nằm im nghe tiếng mẹ đọc kinh. Mẹ chỉ đọc kinh về đêm khi bố đã ngủ say. Đó là khoảng thời gian yên tĩnh hiếm hoi trong nhà. Mẹ không muốn giữa chừng bài kinh phải nghe thấy tiếng chửi bới nồng mùi rượu. Bố là người vô đạo, ông không tin vào bất cứ điều gì ngoài rượu. Không tin bất cứ ai ngoài bạn rượu. Nhưng Thuần biết bên trong cái vỏ bọc cục cằn ấy là đau đáu yêu thương và nhọc nhằn bất lực. Bố thường ngủ rất ít, thậm chí có những đêm thức trắng. Đêm là lúc bố tỉnh táo nhất, men rượu trong người bay hết. Bố nằm nghĩ về cuộc đời mình, về đứa con có lớn mà không có khôn. Một hôm nào đó ngồi cùng bạn rượu, bố nói như muốn khóc:

 -Sau này chết đi, tôi muốn bán nội tạng. Chết là hết, thân thể mình rồi cũng chỉ còn lại nắm xương. Mình bán nội tạng vợ con có thêm chút tiền trang trải nợ nần, mà những người bị bệnh cũng được cứu sống. Nhưng vợ con tôi chẳng đời nào đồng ý.

-Anh già rồi. Lại suốt ngày rượu. Lục phủ ngũ tạng hỏng hết. Ai thèm mua.

-Chú chẳng biết gì cả…

 Trong lời nói của bố vảng vất hơi men nên Thuần thấy mắt mình cay nhòe. Người say không biết nói lời hay nhưng lại là lời thật. Những câu nói của bố cứ vảng vất trong đầu Thuần lúc nằm nghe mẹ đọc kinh. Câu kinh bay lên thì tiếng bố lại ghì chặt xuống. Bố hay ngáy ngủ. Tiếng ngáy vang khắp mấy gian nhà. Nó nhắc Thuần nhớ những ngày xưa cũ.

 Bố đi phụ hồ về thường để cả quần áo lao động và hai bàn chân dính đầy vôi vữa leo lên giường ngủ. Ánh nắng xiên qua mái ngói thủng chiếu vào mặt bố cả mảng to. Máy bay quân sự tập dượt bay ầm ầm trên trời át cả tiếng ngáy của bố. Vừa tỉnh dậy bố lại vội vã gò lưng đạp xe giữa trời nắng như đổ lửa. Thuần đứng dưới gốc cây vú sữa nhìn theo mãi cho đến khi bóng bố chỉ còn là chấm nhỏ nhoi giữa cánh đồng khô hạn mênh mông. Tối muộn trở về nhà với tấm lưng ướt đẫm mồ hôi. Bố chìa cho anh em Thuần mỗi đứa một chiếc kẹo cao su làm quà. Bố nhấc bổng Thuần lên quay vòng tròn bằng đôi tay rắn chắc. Thuần ngửa cổ lên trời thấy những vì sao lấp lánh đang ở rất gần tưởng như có thể chìa tay là với tới…  

* * *

Sáng sớm Thuần nằm im trên giường nghe ngoài vườn tiếng chim líu lo bay tìm quả ngọt. Những chú gà con tìm mẹ kêu chiêm chiếp, thỉnh thoảng lại chạy tán loạn khi con mèo già õng ẹo đi qua. Một cơn gió ùa đến lay vài chiếc lá rụng xào xạc bên ngoài cửa sổ. Bố đang cuốc đất trồng rau sau khi tráng miệng buổi sáng bằng một chén rượu ngâm thuốc bắc. Mẹ rủ Thuần lên chùa sau khi đèo đứa cháu đi nhà trẻ. Mẹ ngồi sau lưng Thuần, nhỏ bé.

 Thuần bỗng nhớ đến những ngày thơ ấu ngồi sau xe mẹ. Mẹ chở Thuần đi chợ. Dốc chợ dựng đứng, Thuần ngồi trên xe để mẹ gò lưng dắt. Những ngày ốm mẹ chở Thuần đi bệnh viện. Bệnh viện cách xa nhà hơn chục cây số. Cột Thuần vào lưng mẹ bằng một chiếc áo, phía trên che nắng bằng chiếc lá cọ to. Mẹ cứ thế xuyên qua cánh đồng nắng đổ lửa mà đi.

 Giờ con đường đưa mẹ lên chùa rợp bóng cây xanh và tiếng chim ca. Mẹ ngày càng gầy đi còn Thuần thì ngày một béo lên. Nhìn ngấn mỡ trên bụng Thuần, mẹ lắc đầu than: “Béo thế nhiều bệnh tật lắm con ơi. Phải xem lại chế độ ăn uống đi thôi”.

 Thuần không sợ bệnh bằng sợ xấu. Có lúc soi gương Thuần thấy mình giống con gấu ngủ đông, giống một gã khổng lồ bụng phệ. Thuần tha thiết giảm cân nhưng lại không kiềm chế nổi nhu cầu ăn uống của mình. Những người ăn chay như mẹ khi nhìn cơ thể Thuần là thấy ngay mỡ động vật, thịt động vật, đồ ngọt dư thừa. Mẹ ngồi sau vòng tay ôm lấy eo Thuần khẽ bảo:

 -Con nên ăn nhiều rau xanh và chăm chỉ vận động. Đừng ngồi bàn máy suốt ngày. Từ khi ăn chay mẹ thấy khỏe ra, giấc ngủ sâu hơn, những cơn đau đầu cũng dần thuyên giảm.

-Rau ở dưới thành phố xanh mà không sạch. Ăn nhiều rau có khi còn nhanh chết sớm. Con đi chợ nhiều hôm không dám mua rau. Dù bữa cơm không rau, ăn toàn thịt cũng cồn cào ruột gan lắm.

-Thì tranh thủ thời gian trồng rau mà ăn. Nước gạo, nước rửa bát mình tiết kiệm mang tưới tắm.

-Đấy là mẹ không biết đấy thôi. Đất dưới phố đắt hơn vàng. Người ta xây nhà trọ cho thuê như xây phòng giam vậy. Có chỗ ở là tốt rồi, làm gì có đất trồng rau. Con xin được mấy hộp xốp trồng ít rau cải mầm nấu cháo cho cháu hằng ngày thôi mẹ ạ. Người lớn thì khuất mắt trông coi, cứ mua rau chợ đầy thuốc trừ sâu hoặc là nhịn thôi mẹ ạ.

-Hay là từ giờ mẹ trồng thêm mấy luống rau. Thỉnh thoảng cắt thành từng bó đón xe trên đường cao tốc gửi xuống cho con?

-Thôi mẹ ạ. Xe chạy xuống chỗ con chỉ có chuyến lúc chín giờ tối. Giờ đấy mẹ còn ru cháu ngủ mà.

 Xe trôi qua cánh đồng mùa lúa non thơm mùi sữa rồi rẽ vào con đường nhỏ chạy dọc hai bên đồi bạch đàn. Mẹ ngồi sau bé nhỏ nơm nớp lo từng chỗ xóc. Mẹ bảo:

-Nếu ông trời cho mẹ sống lâu thì sau khi các cháu lớn khôn mẹ sẽ lên chùa ở hẳn. Nương náu dưới gốc bồ đề, dưới chân đức Phật mà sống những tháng ngày cuối đời thanh thản.

-Lúc ấy con chắc cũng đã thảnh thơi hơn. Con sẽ thường xuyên về thăm mẹ.

 Mẹ lặng im nhìn những hàng cây lùi lại phía sau. Thuần bỗng nhiên cay mắt khi nghĩ đến ngày đưa mẹ lên chùa sống. Ừ, nếu có ngày ấy thật thì con đường này chắc sẽ dài hơn. Mẹ ngồi sau xe chắc sẽ nhẹ như một chiếc lá khô, một áng mây trời. Hẳn sẽ như khúc Tống biệt hành của Thâm Tâm: “Đưa người ta không đưa qua sông/Sao có tiếng sóng ở trong lòng”.

 Lúc ấy Thuần không biết sẽ chuẩn bị những gì cho mẹ mang theo. Mà người tu hành có khi chẳng cần mang theo gì. Thuần cũng chỉ mong khi ấy mẹ có thể bỏ lại mọi thứ mà đi. Để vào chùa thấy lá rơi không buồn, nghe mưa rơi không nhớ. Liệu có ngày đó thật hay không mà chưa gì Thuần đã thấy hình như mình mất mát. Đúng lúc Thuần đưa tay lau khóe mắt thì mẹ bảo:

 -Nói thế chứ dễ gì mà lên chùa sống yên. Còn bố con nữa, sao lỡ bỏ mà đi. Phật ở trong tâm. Mẹ ở đâu cũng đều có Phật. Phải không con?

 Đất miền thiên thai hôm nay và mai ngày lại sẽ hiển hiện mãi ở cạnh tôi, bên bạn và mỗi người cùng mọi người, chứ không xa. Và, đất miền ấy, nay hẹn sẽ trổ những bông hoa lành/đẹp, như lời ca ở bài hát rất bình thường, thế này đây:

“Anh nào biết đường lên Thiên Thai,
khi trời đất còn vương thương đau,
khi hồn anh chưa biết sẽ về đâu
Anh nào biết đường lên Thiên Thai,
khi lòng còn như băng buốt giá
Và tình còn e ấp, nói không thành lời.”

(Hoàng Nguyên – bđd)

Rồi cứ thế, anh và em, ta tiếp tục hát mãi những lời hát rất “Thiên thai” mãi không thôi:

“Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
kìa đường lên Thiên Thai
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây,
tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên – bđd)

 Hát thế rồi, bạn và tôi ta cứ thế hân hoan tiến về phía trước mà cất lên lời ca mãi mãi đẹp, mà rằng:

“Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
kìa đường lên Thiên Thai.
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây,
tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên – bđd)

“Hồn anh lạc vào tận tim ai?” lại sẽ là câu hỏi được gửi đến bạn, đến tôi và mọi người ở đất trời lành thánh, cùng với truyện kể nhẹ buồn nhưng thanh-thản làm kết đoạn một Phiếm “loạn”, rất miên man, êm đềm ngày tháng dài, ở nơi đây.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những tháng ngày đẹp mãi

trong tương lai.

Trung Quốc: 90% đảng viên không tin vào đảng?

Hoa Do shared a link.
CHINHTRIVN.NET
Mới đây, truyền thông Trung Quốc công bố báo cáo cho biết, tính đến cuối năm 2017, tổng số đảng

Đất nước rất khởi sắc, vận nước đang lên

Ừ thì đang mùa mưa mà

About this website

BAOMOI.COM
Theo các đại biểu Quốc hội, những kết quả đạt được trong kinh tế – xã hội thời gian qua rất đáng mừng. Đó là sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, sự đồng hành của doanh nghiệp và …

Thân thế, sức khỏe lãnh đạo VN là ‘bí mật nhà nước’?

Van Pham
Càng ngày cách tổ chức của cái đảng cướp Mafia HCM càng giống một “hội kín” hay băng đảng Mafia tầm quốc gia & quốc tế!!!

*************

Thân thế, sức khỏe lãnh đạo VN là ‘bí mật nhà nước’?

Dự Luật Bảo vệ bí mật nhà nước khiến nhiều đại biểu Quốc hội (ĐBQH) quan ngại vì cho rằng quy định về thông tin mật hiện ‘quá rộng’, theo truyền thông Việt Nam.

Quốc hội Việt Nam tiến hành thảo luận dự án Luật Bảo vệ bí mật nhà nước vào chiều 25/10.

Trong số những thông tin nêu trong danh mục ‘mật’ của dự thảo khiến nhiều đại biểu tỏ ý quan ngại có vấn đề về thân thế và tình trạng sức khỏe của lãnh đạo.

Bên cạnh đó là các thông tin đất đai và một số thông tin thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

Một số nội dung ‘bí mật nhà nước’ quy định trong Dự thảo trình Quốc hội XIV, kỳ họp 6

1. Trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

a) Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đối nội, đối ngoại;

b) Thông tin về hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và lãnh đạo Đảng, Nhà nước;

c) Thông tin về thân thế, sự nghiệp của lãnh đạo Đảng, Nhà nước;

d) Thông tin có tác động tiêu cực đến tình hình chính trị, xã hội.

11. Trong lĩnh vực y tế bao gồm:

a) Thông tin về bảo vệ sức khỏe lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước;

b) Thông tin về chủng, giống vi sinh vật mới phát hiện liên quan đến sức khỏe, tính mạng con người; mẫu vật, nguồn gen và quy hoạch vùng trồng dược liệu quý hiếm.

Dự thảo luật quy định 15 lĩnh vực để xác định bí mật nhà nước, là những thông tin “chưa công khai” nhưng nếu bị lộ hay bị mất thì “có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc”.
Thân thế, sự nghiệp lãnh đạo là ‘thông tin mật’

Theo nội dung dự luật thì trong số các bí mật nhà nước có “thông tin về thân thế, sự nghiệp của lãnh đạo Đảng, Nhà nước”, được đặt trong nhóm các thông tin thuộc lĩnh vực chính trị; và “thông tin về bảo vệ sức khỏe lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước”, được đặt trong nhóm lĩnh vực y tế.

“Lợi bất cập hại” là lo ngại của ĐBQH Trương Trọng Nghĩa.

Vị đại biểu từ đoàn TP Hồ Chí Minh nói những thông tin như sự nghiệp, thân thế lãnh đạo lẽ ra cần được tuyên truyền để người dân học tập.

Đại biểu Phạm Như Hiệp từ đoàn Huế cho rằng trong dự thảo cần quy định cụ thể nhóm chức danh lãnh đạo Đảng và nhà nước nào cần bí mật, nhóm nào cần công khai minh bạch để “người dân theo dõi, nêu gương, tránh sự xuyên tạc của các đối tượng xấu”, báo Dân Trí tường thuật.

Thừa và ‘vênh’ với luật hiện hành

Một số quy định trong dự luật này được cho là đã được nêu trong các luật đã có, hoặc mâu thuẫn với luật đã có.

Ví dụ, Luật Khám chữa bệnh đã quy định giữ bí mật thông tin người bệnh, nên quy định thông tin sức khỏe cán bộ lãnh đạo là mật của dự thảo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước “là không cần thiết”, theo đại biểu Phạm Như Hiệp, được dẫn lời trên VnExpress.

Hoặc, việc đưa “thông tin, thỏa thuận được trao đổi, ký kết giữa nước ta với nước ngoài hoặc với các tổ chức quốc tế” vào dạng ‘mật’ được cho là ‘vênh’ với Luật Tiếp cận thông tin có hiệu lực đầu tháng 8/2018, theo ý kiến của bà Trần Thị Quốc Khánh.

Bà Khánh nói doanh nghiệp các nước xây dựng chiến lược kinh doanh dựa trên nội dung của các hiệp định thương mại mà nước họ đang đàm phán, ký kết.

Trong khi dó, “doanh nghiệp Việt Nam đã yếu đuối, lại khó tiếp cận thông tin, khó khăn trong xây dựng kế hoạch kinh doanh hội nhập quốc tế”, bà Khánh nói.

Ngoài ra, các ĐBQH cũng phản ánh việc liệt lĩnh vực tài nguyên môi trường, đất đai vào dạng ‘mật’ là quá rộng.

Trong bối cảnh 70% khiếu nại tố cáo của người dân hiện liên quan tới lĩnh vực đất đai, môi trường, quy định này khiến khiếu nại của dân không biết đén bao giờ được giải quyết.

Người dân cũng không thể tiếp cận được với các thông tin cần thiết để bảo vệ mình, ví dụ như vụ dân Thủ Thiêm tự tìm bản đồ bị ‘thất lạc’, theo bà Khánh được dẫn lời trên VnEconomy.

Mạng xã hội nói gì?

Luật sư Lê Đình Việt: Dự thảo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước: Thân thế công bộc của nhân dân là bí mật.

Facebooker Tuấn Phạm: Chả hiểu được, nếu thân thế lãnh đạo mà ‘mật’ thì người dân sao biết để mà bầu cử. Cứ mật hết đi, đừng cho dân biết gì cả? Tự biên, tự diễn, tự vỗ tay là được rồi.

About this website

BBC.COM
Dự Luật Bảo vệ Bí mật Nhà nước khiến nhiều dân biểu tỏ ý quan ngại bởi phạm vi thông tin mật ‘quá rộng’, theo truyền thông Việt Nam.