Tự nguyện nhặt rác, bảo vệ môi trường, bị công an ‘mời lên phường’

Bản chất chúng là heo, trâu bò nằm chung với cứt, nước đái đã quen. Nay dộn sạch lấy đâu chó chúng nằm ngửi?!!!

********

Tự nguyện nhặt rác, bảo vệ môi trường, bị công an ‘mời lên phường’

NINH THUẬN, Việt Nam (NV) – Những người nhặt rác và tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường ở Việt Nam lắm khi phải đối mặt với nguy cơ bị công an mời lên phường, điều tra “động cơ”.

Vụ mới nhất xảy ra ở tỉnh Ninh Thuận, được Giáo Viên Đặng Nguyên Triết, trường Trung Học Phổ Thông Tôn Đức Thắng kể trên trang cá nhân: “Sáng 10 Tháng Tư, an ninh tỉnh Ninh Thuận mời một học sinh cũ của tôi lên làm việc vì ‘dám cả gan’ tham gia nhặt rác ở bãi biển cùng các học sinh. Họ, [an ninh viên] vẫn với chiêu trò cũ rích, nhưng rất thành công ở những năm trước. Lúc mới nghe em kể, mình không bất ngờ, nhưng vẫn tức đến run người, mãi một lúc sau không nói được lời nào. Mình nghĩ lúc đó, có tên nào đứng trước mặt mình, chất vấn những điều này, mình sẽ chỉ thẳng mặt, mắng lớn ‘các anh có phải là con người nữa không?”’

Ông Triết đề cập về nhóm “Rủ Rê Lượm Rác” là các học sinh của ông và nhóm này chỉ mới đi nhặt rác được hai lần thì bị công an mời làm việc.

Ông Triết viết trên trang cá nhân: “Tôi không tham gia cùng các em được hôm nào, nhưng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những bài đăng rủ các em chung tay nhặt rác. Nếu cần làm việc thì hãy làm việc trực tiếp với tôi, đừng khủng bố tinh thần thêm bất kỳ em nào như vậy nữa. Đề nghị cơ quan chức năng có cách hành xử có trách nhiệm với cộng đồng, với môi trường hơn, và quan trọng nhất là không làm xấu đi hình ảnh của mình trong mắt người dân.”

Có hơn 500 lượt share post của ông Triết, nhiều bình luận trong số này bày tỏ sự ngạc nhiên về chuyện tại sao học sinh lại không được đi nhặt rác. Trả lời câu hỏi của một blogger, ông Triết viết thêm: “Họ không cho phép cá nhân tự đứng ra tổ chức nhóm nhặt rác, nhất là học sinh, sinh viên”.

Hồi tháng trước, báo Tuổi Trẻ cho hay: “Một nhóm bạn trẻ chơi thuyền sup (xuồng cao su) tại Sài Gòn thực hiện ý tưởng dùng thuyền vớt rác trôi nổi tại một số kênh rạch. Tuy nhiên khi sự kiện sắp sửa diễn ra thì bị cơ quan chức năng địa phương ngăn cản do chưa xin phép. Chia sẻ về việc gặp khó khăn với cơ quan chức năng, một thành viên ban tổ chức cho biết nhóm rất muốn tổ chức nhiều buổi dọn rác làm sạch kênh rạch nhưng không biết phải xin phép ai. Đã có lần nhóm này xin được dọn rác tại kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè nhưng gặp cơ quan này xin phép lại bị chỉ qua cơ quan khác. Họ rất mong cơ quan chức năng có chỉ dẫn cụ thể.”

Các vụ việc trên xảy ra trong bối cảnh phong trào giới trẻ tham gia nhặt rác, bảo vệ môi trường đang được lan rộng trên mạng xã hội, với trào lưu post ảnh hiện trường trước và sau khi dọn để cho thấy sự khác biệt.

Những người khởi xướng chiến dịch này muốn thu hút sự quan tâm và chung tay của cộng đồng mạng để góp phần bảo vệ môi trường.

Tuy vậy, mạng xã hội liên tiếp ghi nhận những vụ người bảo vệ môi trường bị giới chức địa phương “làm khó”.
Kế hoạch bơi thuyền nhặt rác trên kênh thuộc phường Thảo Điền, quận 2, Sài Gòn của gần 100 bạn trẻ hôm 17 Tháng Ba bị hủy vào giờ chót. (Hình: Tuổi Trẻ)

Hôm 30 Tháng Ba, trang fanpage Save Tam Đảo cho hay một thanh niên đề nghị không nêu danh tính, ngụ ở xã Tam Quan, huyện Tam Đảo, cho biết rằng người này bị công an xã mời lên phường chỉ vì “ký tên và chia sẻ những post liên quan đến Vườn Quốc Gia Tam Đảo trên mạng xã hội”. Tuy nhiên, giấy mời của công an thì ghi “mời làm việc liên quan tới việc chia sẻ trên mạng những nội dung phản đối chính sách của đảng và nhà nước”

Người này sau đó bị ép buộc xóa bỏ các post đã chia sẻ.

“Thay vì gây áp lực và mời thanh niên này lên làm việc, đúng ra cơ quan công an nên làm việc trực tiếp với Tập Đoàn SunGroup, buộc doanh nghiệp này phải thực hiện đúng quy trình xây dựng dự án, thực hiện kiểm tra giám sát các hoạt động của họ và yêu cầu Bộ Tài Nguyên và Môi Trường công bố bản báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án SunGroup theo nội dung Luật Bảo Vệ Môi Trường đã quy định. Như vậy mới phù hợp với chính sách của đảng và luật pháp,” trang Save Tam Đảo viết.

Đến nay, một trong những trường hợp vì tham gia phong trào bảo vệ môi trường vụ Formosa mà bị kết án tù được nhiều người biết là nhà hoạt động Hoàng Đức Bình (tên tắt là Hoàng Bình).

Ông Bình tham gia giúp ngư dân các tỉnh miền Trung kiện Formosa đòi bồi thường thiệt hại do thảm họa cá chết. Hồi Tháng Hai, 2018, ông bị chế độ cáo buộc hai tội “Chống người thi hành công vụ” và “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước” và bị tuyên án 14 năm tù giam.

About this website

NGUOI-VIET.COM
Những người nhặt rác và tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường ở Việt Nam lắm khi phải đối mặt với nguy cơ bị công an mời lên phường, điều tra “động cơ”.…

Thật cảm động…

Image may contain: one or more people, people standing, wedding and suit
Lm. Ngọc Bảo
Public Figure
Lm. Ngọc Bảo

thật cảm động…

Sau khi các nhà lãnh đạo phe phái đối lập tại Nam Sudan tham dự cuộc tĩnh tâm do Đức Tổng Giám mục Anh Giáo đề xuất, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp kiến phái đoàn và ngài than thiết xin họ hòa giải để xây dựng hòa bình cho Nam Sudan, một đất nước nội chiến triền miên cướp đi sinh mạng hàng chục ngàn người và đẩy nhiều trẻ em trở thành binh lính trong các cuộc xung đột đẫm máu.

Vị giáo hoàng 82 tuổi khiêm nhường quỳ xuống hôn chân các lãnh đạo Nam Sudan.

Một hình ảnh thật đẹp, thật cảm động theo gương Chúa Giê su đấng khiêm nhường hạ mình phục vụ đến hiến dâng mạng sống cho nhân loại mà chúng ta sẽ cử hành trong Tuần Thánh sắp tới.

(CNS photo/Vatican Media via Reuters)

Sudan: Tổng thống Omar al-Bashir bị phế truất và bắt giữ

Sudan: Tổng thống Omar al-Bashir bị phế truất và bắt giữ

Sau hơn 30 năm cầm quyền, Tổng thống Sudan Omar al-Bashir đã bị lật đổ và bắt giữ, bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước này cho biết.

Sudanese protesters
Bản quyền hình ảnh AFP

Phát biểu trên truyền hình quốc gia, ông Awad Ibn Ouf nói rằng quân đội sẽ thực hiện công cuộc giám sát trong vòng hai năm trước khi tiến hành tổng tuyển cử.

Ông cũng tuyên bố một tình trạng khẩn cấp sẽ được diễn ra trong vòng ba tháng.

Đồng thời, hiến pháp của Sudan đã bị đình chỉ, các cửa khẩu biên giới sẽ đóng đến khi có thông báo mới.

Sudan cũng đóng không phận trong 24 giờ, ông Awad Ibn Ouf cho biết.

Các cuộc biểu tình chống lại ông Bashir, người cai trị Sudan từ năm 1989, đã diễn ra liên tục trong vài tháng qua.

TQ chi cho châu Phi thêm 60 tỷ đôla

Quân gìn giữ hòa bình VN sẽ sang Nam Sudan

Zimbabwe ‘đổi quyền không cần bạo lực’

Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu cuộc đảo chính của quân đội sẽ chấm dứt các cuộc biểu tình hay không.

”Với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng, tôi tuyên bố chế độ đã bị lật đổ, và ông al-Bashir đang được giam ở một nơi an toàn’.’

Hiện chưa có thông tin về tung tích của ông Bashir.

Graphic of lngest-serving leaders
Image captionNhững lãnh đạo cầm quyền lâu năm

Ông Ibn Ouf cho rằng Sudan bị ảnh hưởng xấu bởi ”quản lý yếu kém, tham nhũng và bất công”.

Sau khi thông báo lật đổ Bashir được tung ra, đám đông người biểu tình đã ăn mừng bên ngoài trụ sở quân đội ở thủ đô Khartoum, ôm lấy binh lính và leo lên trên những chiếc xe bọc thép.

Trong khi đó, cơ quan an ninh Sudan cho biết họ đang giải phóng tất cả các tù nhân chính trị, hãng thông tấn nhà nước Suna đưa tin.

Các sự việc diễn ra như thế nào?

Sáng sớm thứ 5, các xe quân sự đã tiến vào trụ sở Bộ Quốc Phòng và quân đội Sudan, và là nơi ở riêng của ông Bashir, hãng thông tấn AFP đưa tin.

Đài truyền hình và đài phát thanh quốc gia sau đó đã gián đoạn chương trình của họ, nói rằng quân đội chuẩn bị đưa ra một tuyên bố.

Trong khi đó, hàng chục ngàn người biểu tình đã diễu hành qua trung tâm Khartoum, một số người hô vang “Bashir đã sụp đổ, chúng tôi đã thắng”, Reuters đưa tin.

Sudanese demonstrators cheer as they drive towards a military vehicle. Khartoum 11 April 2019
Bản quyền hình ảnh  REUTERS
Vào thời điểm này, quân đội được người biểu tình chào đón

Biểu tình có chấm dứt?

Tin chưa chính thức nói rằng tổ chức chính đứng sau các cuộc biểu tình, Hiệp hội Chuyên viên Sudan (SPA), đã bác bỏ tuyên bố của quân đội.

Một nguồn tin của SPA được trích dẫn bởi Reuters cho biết nhóm này đang kêu gọi người biểu tình tiếp tục giữ vị trí ngoài trụ sở Bộ Quốc phòng.

SPA phát biểu rằng bất kỳ cuộc giao chuyển quyền lực nào sẽ không được phép có mặt của những người từng làm việc ”thể chế độc tài” cũ.

Các cuộc biểu tình ban đầu được châm ngòi bởi gia tăng chi phí sinh hoạt, nhưng sau đó đã mở rộng vầ bắt đầu kêu gọi tổng thống từ chức và chính phủ của ông ra đi.

Omar el-Digeir, một thành viên biểu tình, nói với hãng tin AFP tuần trước rằng nhóm đang tìm kiếm một con đường ”đại diện cho mong muốn của cách mạng”.

Cảnh sát đã ra lệnh cho các sĩ quan không can thiệp chống lại các cuộc biểu tình, nhưng chính phủ đã bị các nhóm nhân quyền chỉ trích vì phản ứng nặng nề của họ với đám đông.

Theo thông tin từ chính phủ, 38 người đã chết kể từ khi tình trạng bất ổn bắt đầu vào tháng 12, tuy nhiên tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho biết con số này cao hơn.

Omar al-Bashir là ai?

Từng là một sĩ quan quân đội, ông giành quyền trong một cuộc đảo chính quân sự vào năm 1989.

Thời gian cai trịcủa Bashir đã được đánh dấu bởi nội chiến Sudan.

Cuộc xung đột dân sự với miền nam đất nước này kết thúc vào năm 2005 và Nam Sudan tách ra, tuyên bố độc lập vào năm 2011.

Omar al-Bashir - 5 April
Bản quyền hình ảnhREUTERS
Ông Bashir lên nắm quyền qua đảo chính năm 1989

Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) đã ban hành lệnh bắt quốc tế đối với ông Bashir, cáo buộc ông tổ chức các tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người ở khu vực phía tây Darfur của Sudan

Bất chấp lệnh bắt giữ quốc tế do ICC ban hành, ông vẫn giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử liên tiếp vào năm 2010 và 2015. Tuy nhiên, chiến thắng mới đây nhất của ông đã bị tẩy chay bởi thành viên các đảng đối lập.

Lệnh bắt giữ đã dẫn đến lệnh cấm đi lại.

Tuy nhiên, ông Bashir đã có chuyến thăm ngoại giao tới Ai Cập, Ả Rập Saudi và Nam Phi.

Vào tháng 6 năm 2015 ông đã bị buộc phải rời khỏi Nam Phi khi một tòa án ở đó xem xét liệu có nên thi hành lệnh bắt giữ ông hay không.

Người đặt tên cho đường phố Saigon trước 1975

Người đặt tên cho đường phố Saigon trước 1975

Từ lâu, tôi đã khâm phục cách đặt tên cho đường phố ở Saigon và vẫn đinh ninh rằng đó là một công trình có sự đóng góp trí tuệ của nhiều người, một hội đồng gồm nhiều học giả, sử gia, nhà văn uy tín…

Nhưng thật là bất ngờ khi được biết kiệt tác lịch sử này đã được hoàn thành bởi… một công chức. Người đó là Trưởng Phòng Họa Đồ thuộc Tòa Đô Chánh . Ông Ngô Văn Phát , Nhà văn – bút hiệu Thuần Phong, sinh ngày 16-10-1910 tại huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

Chuyện là :

Sau hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 Pháp bàn giao chính quyền cho Chính Phủ Bảo Đại, với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Để đánh dấu việc giành độc lập từ tay người Pháp, Toà Đô Chánh Sài Gòn được lệnh gấp rút thay thế toàn bộ tên đường từ tên Pháp qua tên Việt trong khoảng thời gian ngắn nhất, nhiệm vụ này được giao cho Ty Kỹ Thuật – Phòng Hoạ Đồ. Sau hơn ba tháng nghiên cứu, ông Ngô Văn Phát đã đệ trình lên Hội Đồng Đô Thành, và toàn bộ danh sách tên đường ấy và được chấp thuận. Các đường được đặt tên với sự suy nghĩ rất lớp lang mạch lạc với sự cân nhắc đánh giá bao gồm cả công trạng từng anh hùng, phù hợp với địa thế, và các dinh thự đã có sẵn từ trước. Tác giả đã cố gắng đem cái nhìn vừa tổng quát lại vừa chi tiết, những khía cạnh vừa tình vừa lý, đôi khi chen lẫn tính hài hước, vào việc đặt tên hiếm có này. Tôi xin kể ra đây vài thí dụ, theo sự suy đoán riêng của mình, bởi vì ông có nói ra đâu, nhưng tôi thấy rõ ràng là ông có ý ấy:Đầu tiên là những con đường mang những lý tưởng cao đẹp mà toàn dân hằng mơ ước: Tự Do, Công Lý, Dân Chủ, Cộng Hoà, Thống Nhất. Những con đường hoặc công trường này đã nằm ở những vị trí thích hợp nhất.

Đường đi ngang qua Bộ Y Tế thì có tên nào xứng hơn là Hồng Thập Tự.

Đường de Lattre de Tassigny chạy từ phi trường Tân Sơn Nhất đến bến Chương Dương đã được đổi tên là Công Lý, vì đi ngang qua Pháp Đình.

Đại Lộ Nguyễn Huệ nằm giữa trung tâm Sài Gòn nối từ Toà Đô Chánh đến bến Bạch Đằng rất xứng đáng cho vị anh hùng đã dùng chiến thuật thần tốc phá tan hơn 20 vạn quân Thanh. Đại Lộ này cũng ngắn tương xứng với cuộc đời ngắn ngủi của Ngài.

Những danh nhân có liên hệ với nhau thường được xếp gần nhau như Đại Lộ Nguyễn Thái Học với đường Cô Giang và đường Cô Bắc, cả ba là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Hoặc đường Phan Thanh Giản nằm gần đường Phan Liêm Phan Ngữ là 2 người con Ông , đã tiếp tục sự nghiệp chống Pháp sau khi Phan Thanh Giản tuẫn tiết. Ông Cao Thắng chuyên gia làm súng thì “được” ở gần 2 Nhà kháng chiến Nguyễn thiện Thuật và Phan đình Phùng.

Những đại lộ dài nhất được đặt tên cho các anh hùng Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Lê Lợi và Hai Bà Trưng. Mỗi đường rộng và dài tương xứng với công dựng nước giữ nước của các ngài. Đường mang tên Lê Lai, người chịu chết thay cho Lê Lợi thì nhỏ và ngắn hơn nằm cận kề với đại lộ Lê Lợi.

Đường Khổng Tử và Trang Tử trong Chợ Lớn với đa số cư dân là người Hoa.

Bờ sông Sài Gòn được chia ra ba đoạn, đặt cho các tên Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, và Bến Hàm Tử, ghi nhớ những trận thuỷ chiến lẫy lừng trong lịch sử chống quân Mông Cổ, chống Nhà Nguyên của Hưng Đạo Đại Vương vào thế kỷ 13. Thẳng góc với hai đường Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm là đường Hồ Xuân Hương. Ba nữ sĩ nằm bên cạnh nhau, thật là có lý….

Năm 1957 ông Ngô Văn Phát có bài đăng trên bộ Tự điển Encyclopedia – Britannica ở Luân Đôn (Anh Quốc). Đó là chuyên đề Khảo cứu về thành phố Sài Gòn. Năm 1964 chuyên đề Ca dao giảng luận in trên tạp chí Trường Viễn đông Bác cổ ở Paris (sau in thành sách ở Sài Gòn). Cùng năm này Trường Cao học Sorbonne (Paris), ông cũng có chuyên đề Nguyễn Du et la métrique populaire (Nguyễn Du với thể dân ca) trong bộ sách nhan đề: Mélanges sur Nguyen Du (Tạp luận về Nguyễn Du).

Những năm 1970s ông được mời thỉnh giảng môn Văn học dân gian tại Đại học Văn khoa, Sư phạm Huế và Cần Thơ.
Ông mất vào năm 1983 tại Sài Gòn thọ 73 tuổi

Nguyễn văn Luận/Hanhla

From: Thach Do & Lucie 1937

Những Tấm Ảnh Lịch Sử

Những Tấm Ảnh Lịch Sử

Bức hình “Baby in the box” của Chick Harrity/AP/Shutterstock

Đúng 32 năm sau khi chụp tấm hình, phóng viên nhiếp ảnh Chick Harrity nhớ lại:

“Khi tôi làm việc cho Association Press, và được giao nhiệm vụ chụp hình trao trả tù binh, khi tốp người lính Mỹ cuối cùng được trao trả, năm đó là 1973, hình như tháng Hai thì phải. 
Tôi còn nhớ ngày tôi chụp tấm hình đó là ngày tôi được lệnh đến Dinh Độc Lập để chụp buổi họp báo của Tổng Thống Thiệu vào buổi sáng. Người tài xế chở tôi tới Dinh Độc Lập, khi xong việc, tôi trở về thì đường phố kẹt xe quá, tôi quyết định đi bộ về văn phòng của AP nằm ngay đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi trong một toà nhà lớn cùng với NBC.

Vì văn phòng của tôi nằm phía cuối của toà nhà nên tôi đi vòng phía sau cho tiện. Tôi bắt gặp một hình ảnh vô cùng thương tâm trên đường: một em bé gái nhỏ bé đang ngủ, nằm bên trong chiếc hộp giấy bằng carton, bên cạnh chiếc hộp là đứa bé trai, lớn hơn một tí, nắm lấy tay của em gái mình thò ra, nằm co quắp, và chiếc tô dùng để ăn xin bên cạnh. Và trước khi tới cái góc nhà, đối diện với toà nhà, là khách sạn Continental, có rất nhiều trẻ con xin ăn, có quá nhiều trẻ em mồ côi…
Ánh sáng hoàng hôn hắt xuống thật tuyệt vời. Tôi vô cùng xúc động và lấy ngay chiếc máy ảnh Leica của mình với ống kính 50 ly, chụp chừng sáu hay tám tấm gì đó, rồi vào văn phòng ngay vì tôi rất vội phải đi công tác ở Đà Nẵng. Tôi giao cho họ và nói đây là phim chụp họp báo và đây là cuốn phim chụp trẻ em xin ăn đường phố…

Mười ngày sau, khi tôi từ Đà Nẵng trở về, một tấm biển có gắn hàng chữ đùa giỡn: “No More Orphan Pictures” trước bàn làm việc của tôi. Bởi vì tấm hình đó khi AP phổ biến thì trở thành “tin nóng hổi” (Breaking News Story) cho các báo chí và đài phát hình ở Mỹ, đặc biệt là ở New York. Khi tấm hình được gửi về New York, mọi người đều rất thích, bởi vì nó không giống những hình ảnh khác và nó được đăng trên tất cả các báo chí ở Hoa Kỳ và rất nhiều người đã liên lạc tới văn phòng AP của chúng tôi để hỏi xem có cách nào nhận hai em bé đó làm con nuôi”.

Chick Harrity nhờ các nhân viên người Việt của AP tìm cách liên lạc với gia đình hai em bé. 
Chỉ hai ngày sau, họ đã gặp được mẹ của chúng. Bà cho biết bà có 5 con trai và đứa bé nằm trong hộp là bé gái út. Chồng bà đã chết vì tai nạn không lâu sau khi đứa bé chào đời. Bà không đủ tiền để nuôi bầy con nên cho chúng đi ăn xin. Tên của bé gái là Trần thị Hết. Khi được biết là có nhiều gia đình muốn nuôi hai bé ở Mỹ, bà gạt phắt ngay. Bà không muốn xa các con.

Nhưng định mệnh không nuông theo ý muốn của bà. Bé Hết bị đau tim nặng và, chỉ một năm sau ngày chụp tấm hình, một tổ chức từ thiện đã đưa bé về Mỹ điều trị. 
Bà Evelyn Heil, cư ngụ tại thành phố Springfield, tiểu bang Ohio, nhận nuôi bé ở Mỹ, kể lại sự thể: “Khi tôi nhìn thấy bức hình của em trên tờ báo (ở Houston, Texas), tôi thấy đôi mắt em mở lớn đầy vẻ sợ hãi như đang nhìn thẳng vào tôi với một sự thôi thúc kỳ lạ. Lúc bấy giờ, em được bác sĩ Denton Cooley chữa bệnh tim, đem em từ Sài Gòn sang.

Năm đó là năm 1974. Theo lời cơ quan từ thiện đưa em sang Mỹ thì mẹ em đưa em vào viện mồ côi Holt, vì em bị bệnh tim nặng và bà quá nghèo không có tiền chữa bệnh cho em. Cũng theo lời hội từ thiện cho biết thì họ cố gắng tìm mẹ và anh trai của em nhưng nghe nói bà đã đi Đà Nẵng. Sau đó họ cũng được tin là bà mẹ của em đã qua đời vì bị bệnh lao phổi, và không còn ai biết gia đình cũng như anh trai của em ra sao nữa. Nhưng ở Sài gòn lúc bấy giờ cũng không có đủ phương tiện chữa trị nên họ đã đưa em sang Mỹ. Khi tôi nhìn thấy khuôn mặt của em và bức hình Baby In The Box đăng trên trang báo, tôi lập tức tìm cách đến ngay bệnh viện để được ôm em vào lòng vì trông em tội nghiệp lắm, nét mặt đầy vẻ sợ hãi.”

Không phải dễ dàng khi bà Heil được nhận nuôi bé Hết. Có trên hai ngàn người xin nuôi em! Bà cho việc bà “trúng tuyển” là một điều…kỳ diệu. “Tôi rất kiên trì và họ biết là tôi biết nhiều về dinh dưỡng. Rồi hôm ấy, họ đến nhà tôi rồi đi cùng với tôi đến đón các con tôi đi học về. Trước khi tới trường của các con tôi thì họ cho tôi biết là tôi sẽ được chọn. Tôi đã khóc vì sung sướng và không thể lái xe tiếp tục được, phải dừng lại bên đường để dằn cơn xúc động. Tôi không thể tin nổi, một điều kỳ diệu đã xảy ra.Và cũng nên nhớ lại rằng, thất bại của Mỹ trong việc bảo vệ Sài Gòn đã khiến em trở thành một em bé mồ côi tị nạn. Điều này giúp cho việc xin em làm con nuôi dễ dàng hơn. Và ngày 10 tháng Mười năm 1974, em chính thức trở thành con nuôi của tôi. Gia đình tôi đưa em về nhà, tôi đã có 4 đứa con trai và em trở thành cô công chúa trong gia đình chúng tôi.”.

Cô công chúa khác màu da trong gia đình bà Heil bị suy dinh dưỡng trầm trọng. Em không thể tự ngồi và đứng được. Ba tuổi mà em chỉ cân nặng có 12 pounds, chưa được 5 ký rưỡi! Con trai lớn của bà Heil đặt cho em tên mới là Nhanny. Từ đó tên em là Nhanny Heil. Đã quá nhỏ bé và ốm yếu, em còn bị bệnh tai và nhiều bệnh khác. Bà Heil rất vất vả trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc Nhanny. Bà đã thành lập tổ chức Warren Center of Learning để em Hết có cơ hội chữa bệnh và học hành. Năm 1983, bà nhờ các cơ quan truyền thông hỗ trợ trong việc quyên góp tài chánh cho Trung Tâm Học Tập Warren.

Tổng Thống Ronald Reagan hỗ trợ bà và mời gia đình bà vào tòa Bạch Ốc cho các ký giả gặp và phỏng vấn. 
Bà kể lại: 
– “Khi hai chúng tôi đang đi vào hành lang, thì ngay lúc ấy, Tổng thống Reagan cùng phu nhân xuất hiện. Ông cúi xuống ôm em vào lòng và hỏi tai nào của em không nghe được? Em trả lời.

Tổng thống nói: 
– “Vậy thì hãy cứ đi qua phía bên đó để ông cùng nghe vì tai của ông cũng bị như thế!”.

Thật là một vị Tổng thống tuyệt vời ! Sau khi trò chuyện với Tổng Thống Reagan xong thì chúng tôi gặp Chick Harrity. Đó là lần đầu tiên chúng tôi gặp ông ấy”.

Lần đầu tiên gặp lại bé Hết trên đất Mỹ, Chick Harrity đã gặp một bất ngờ. “Khi tôi gặp em lúc bấy giờ, trông em thật là bé nhỏ so với độ tuổi 12… Tôi trao cho em bức hình tôi chụp năm xưa nhưng em làm mọi người và tôi rất ngạc nhiên vì em từ chối nhận và rất là giận dữ…Tôi không hiểu vì sao như thế. Rồi thời gian trôi qua, trong lòng tôi cứ tự hỏi về điều này. Mãi cho đến ngày hôm nay, sau 32 năm, kể từ ngày tôi chụp hình ấy, tôi mới thực sự giải toả được. Thì ra hồi ấy, trong trí óc ngây thơ của em, em sợ rằng nếu có ai nhìn thấy bức hình ấy, thì họ sẽ bắt em trả về Việt Nam”.

Sau khi rời Việt Nam, Chick Harrity làm nhiếp ảnh viên cho Tòa Bạch Ốc, chuyên chụp hình các Tổng Thống Mỹ. Ông đã phục vụ qua các đời Tổng Thống John Kennedy, Lyndon Johnson, Richard Nixon, Gerald Ford, Ronald Reagan, George Bush “Cha”, Jimmy Carter và Bill Clinton. Những tấm hình ông chụp trong thời kỳ này đều là những tấm hình lịch sử. Vậy mà khi được chọn cho giải “Thành Tựu Một Đời”, ông cho biết dù các bức hình ông chụp qua tám đời Tổng Thống Mỹ có giá trị tới đâu, ông vẫn coi bức hình “Baby in the Box” là tấm hình ông yêu thích và trân quý nhất.

Ngày nhận giải, Chick Harrity lại…bất ngờ. “Khi tôi đứng ở trên sân khấu cùng với Tổng Thống George W. Bush, tôi nghe vị chủ tịch của Hội Phóng Viên Nhiếp Ảnh Toà Bạch Ốc nói với Tổng Thống: “Đừng di chuyển, hãy đứng yên!”. 
Thông thường thì ai mà nói với vị Tổng Thống kiểu đó…Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra đây. Và bỗng nhiên tôi nghe tiếng của người điều khiển chương trình xướng danh tên tôi cùng với bức hình, và người đại diện trao giải là Nhanny Heil, cô bé trong bức hình năm xưa. Tôi vô cùng bàng hoàng và xúc động. Nước mắt dàn dụa trên mặt tôi. Cuộc hội ngộ diễn ra vô cùng bất ngờ. Tất cả mọi người có mặt hôm đó đều rơi lệ, ngay cả Tổng Thống Bush cũng vậy”.

Bà Evelyn Warren Heil, người mẹ nuôi đáng kính của bé Hết, đã qua đời vào ngày 21 tháng Tám 2008, thọ 78 tuổi. Bé Hết đã lập gia đình và có hai con, vẫn sống ở thành phố Springfield, tiểu bang Ohio. Nhanny Heil tuy không nói được tiếng Việt nhưng vẫn băn khoăn nhớ về Việt Nam: 
– “Tôi nghĩ tôi là người may mắn nhất. Tôi không biết nói gì hơn. Tôi chỉ nghĩ là tôi rất may mắn đã gặp được mẹ nuôi tôi cho tôi một cuộc đời mới. Tôi biết rằng, tôi còn có cha và các anh trai của mình, và nhiều khi tôi tự hỏi không biết giờ này họ ra sao. Tôi không biết làm cách nào để tìm ra họ. Tôi thiệt không biết làm sao!”

Đằng sau mỗi bức hình có một câu chuyện. Tôi thích nhất câu chuyện của tấm ảnh “Baby in the Box”. Tấm ảnh trong thời chiến mà không vương khói súng. Nó như một thứ bên lề nhưng lại nổi trội. Cái chi đánh động lòng người sẽ sống mãi. Vì đó là cuộc sống đích thực!
Song Thao.com

HÌNH:
– “Baby in the Box”, bé gái là Trần thị Hết nằm trong hộp giấy bên cạnh người anh nằm trên lề đường ăn xin năm 1973.. (Chick Harrity)
– Nhiếp ảnh gia Chick Harrity gặp lại cô Hết, đứng giữa là TT Bush.( Adobe Stock)….

VỀ QUY HOẠCH BÁO CHÍ CỦA ĐẢNG

Hoang Le Thanh
VỀ QUY HOẠCH BÁO CHÍ CỦA ĐẢNG

Nhà báo Huynh Ngoc Chenh

Một tờ báo hay một ngàn tờ báo đều là của đảng cộng sản, đều là công cụ tuyên truyền của đảng, đồng thời là công cụ trấn áp để bảo vệ đảng như bao nhiêu công cụ bạo lực khác của đảng.

Nhiều người sẽ cho tui quá khích khi nêu lên ý kiến nầy, nhưng thực tế là vậy.

Trước khi đưa bà Cát Hạnh Long ra giết thì có bài báo “Địa chủ ác ghê” của tác giả CB đăng lên báo đảng dựng ra hàng loạt chi tiết sai trái gán lên bà nầy. Trước khi đào tận gốc trốc tận rễ trí phú địa hào thì hàng loạt bài báo trên nhiều tờ báo của đảng lên tiếng bôi nhọ và trấn áp trí thức, địa chủ, phú nông…

Trước khi bỏ tù hàng loạt những học giả, triết gia, nhà văn, nhà báo phản tỉnh qua Nhân Văn Giai Phẩm đã có hàng loạt tờ báo của đàng đăng bài ngậm máu phun người để tạo dư luận.

Đó là chuyện xưa, kể ra tội ác của báo đảng không làm sao hết.

Còn chuyện nay, gần 1000 tờ báo, có tờ nào đăng đúng sự thật về chuyện nổi dậy đòi công lý của nông dân Thái Bình? Nổi dậy của đồng bào Tây Nguyên?

Có tờ báo nào thông tin đầy đủ và trung thực về hàng loạt cuộc biểu tình của người dân phản đối tàu cộng lập thành phố Tam Sa, ức hiếp ngư dân trên biển, cắt cáp tàu thăm dò, đưa dàn khoan vào lãnh hải VN.

Có tờ báo nào thông tin trung thực về hàng loạt cuộc biểu tình của người dân phản đối Formosa gây chết biển, phản đối luật đặc khu, luật an ninh mạng…

Có tờ báo nào thông tin về những người đi biểu tình yêu nước bị bắt tù, bị đánh đập, bị hành hạ tàn nhẫn trong đồn công an.

Có tờ báo nào đưa tin hàng loạt nhà riêng của những người hoạt động xã hội dân sự hợp pháp bị canh gác ngày đêm, bị ném đá và chất bẩn vào nhà, bị xịt sơn vào cửa, bị khóa cửa ngoài và xịt keo vào ổ khóa…

Có tờ báo nào đưa tin nhiều người đấu tranh cho nhân quyền và hoạt động xã hội dân sự bị côn đồ giả danh đánh đập gây ra thương tích nghiêm trọng nhưng không bao giờ công an điều tra ra thủ phạm.

Vụ cướp nhà đất trắng trợn ở Thủ Thiêm xảy ra hơn 20 năm qua, nhưng có tờ báo nào dám đăng bài phản ảnh, dám đứng về phía dân oan để lên tiếng ngay từ ban đầu, để đến tận ngày hôm nay vì nội bộ đảng muốn thanh trừng nhau xì thông tin ra mới a dua vào viết, rồi sau đó đảng bảo im, đều đồng loạt im.

Có tờ báo nào tường thuật trung thực và đầy đủ các phiên tòa xét xử những nhà hoạt động xã hội dân sư, những người đấu tranh cho dân chủ nhân quyền ôn hòa như Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long, Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Hữu Vinh, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Thanh Nghiên, Trần Đức Thạch, Trần Thị Nga, Như Quỳnh, Bùi Hằng, nhóm thanh niên công giáo, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, …

Có tờ báo nào đứng về phía hàng vạn dân oan mất đất đang lê la đòi hỏi công lý suốt mấy chục năm qua.

Ngày trước báo chí của đảng chỉ có vài cơ quan như báo nhân dân, đài phát thanh, đài truyền hình, thêm vài tờ của các đoàn thể quan trọng của đảng như công đoàn, đoàn thanh niên, hội nhà văn, hội phụ nữ, thêm vài tờ của các bộ quan trọng như quốc phòng, công an … và sau đó là báo đài địa phương thuộc các đảng bộ tỉnh thành.

Sau nầy vì hội nhập, vì mở cửa làm ăn với thế giới và quan trọng là vì cam kết với các tổ chức quốc tế khi tham gia, nên đảng làm ra vẻ có tự do báo chí cho phép nhiều cơ quan và đoàn thể khác, cũng của đảng ra báo ào ạt.

Gần 1000 cơ quan báo đài của đảng xuất hiện vào thời điềm nầy. Đây là một động thái đánh lừa quốc tế khi cho đó là tự do báo chí.

Cả ngàn báo đài đó, cũng có một số tờ làm được, tự nuôi sống và đóng thuế, còn lại hầu hết sống bằng tiền ngân sách hoặc hoạt động bát nháo để kiếm ăn.

Cả ngàn tờ báo đó có hình thức khác nhau, trình độ khác nhau, cung bậc hoạt động khác nhau, cung cách kiếm tiền khác nhau, nhưng tất cả đều giống nhau ở một điểm là luôn luôn tuân thủ đường lối chủ trương của đảng, nói theo ý đảng, đăng bài có lợi cho đảng (chứ không phải có lợi cho dân).

Đảng ra lệnh tung hô ai thì đồng loạt tung hô lên trời, đảng ra lệnh trấn áp ai thì đồng loạt vùi dập kẻ đó xuống tận bùn đen.

Nhiều kẻ tự hào báo chí cũng góp phần chống tham nhũng. Tui cam đoan chưa hề có tờ báo nào tự mình cho phóng viên đi điều tra khám phá ra những vụ tiêu cực dù rất nhỏ, đừng nói là những vụ to tát. Cũng có nhiều phóng viên nhiệt tình tự điều tra ra các vụ tiêu cực theo tố giác của người dân, nhưng phần lớn những bài viết đó không được đăng, thậm chí có phóng viên còn bị kỷ luật đuổi ra khỏi báo.

Hầu hết những vụ việc đều do thanh tra, công an, viện kiểm sát, tòa án cung cấp sau khi đã xử lý hoặc đang quá trình xừ lý. Có những vụ việc, công an không xử lý được, đưa thông tin một chiều ra báo chí, mượn dư luận gây áp lực để dễ làm án.

Có những vụ việc do nội bộ đấu đá, phe nầy xì thông tin ra để nhờ báo chí hạ bệ phe kia.

Có những vụ án lớn gây chấn động một thời, tưởng rằng do báo chí dũng cảm điều tra ra, dũng cảm viết bài nhiều kỳ đấu tới cùng, thực chất là do phe ông A muốn đấu đá dành ghế với phe ông B nên xì thông tin ra, vài tờ báo cơ hội ngửi hơi thấy phe ông A sắp thắng nên nhào vào kiếm lợi. Nửa chứng cuộc chơi, hai phe A và B thỏa hiệp, báo chí việt vị.

Nếu thực sự báo chí có khả năng đánh tham nhũng thì tại sao hàng loạt vụ việc động trời như Vinalines, Vinashin, dầu khí, than, điện, ngân hàng … diễn ra sai phạm hàng chục năm qua với số tiền tổn thất lên hàng ngàn tỉ đồng không thấy tờ báo nào đả động đến, để đến sau nầy, khi có kết luận thanh tra hay sau khi có ý “đốt lò” mới vùng lên té nước theo mưa.

Nhiều người vẫn còn ảo tưởng vào tờ báo nầy, tờ báo kia rồi tiếc rẻ vì sao đảng lại quy hoạch dẹp nhiều báo đi.

Xin nhớ, tất cả đều là báo của đảng, đều là công cụ của đảng, đến lúc đảng thấy không cần số lượng nhiều nữa thì đảng dẹp bớt đi, có vậy thôi.

Việc có nhiều báo đảng hay có ít báo đảng không ảnh hưởng gì đến quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận của người dân vốn luôn bị đảng đè chặt. Đảng không bao giờ cho người dân tự do ra báo như hiến pháp quy định.

Tuy nhiên người dân có cách của mình, đó là hệ thống báo lề dân, là blog, là youtube, là facebook, là twitter, là vô vàn các trang mạng xã hội khác.

Chính nhờ vào hệ thống báo lề dân nầy mà tiếng nói người dân được vang lên ở mọi diễn đàn, số phận từng người dân được nhắc đến, và quan trọng hơn cả xã hội đang thay đổi hàng ngày, đang được điều chỉnh dần theo hướng tích cực.

Chúng ta là người dân hãy lo cho sự phát triển của báo lề dân, còn báo lề đảng, kệ họ.

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh 
Nguồn: https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10205590277193935&id=1763201593

Image may contain: one or more people

CÁI CHẾT GIÚP SỰ THẬT HIỂN LỘ 

CÁI CHẾT GIÚP SỰ THẬT HIỂN LỘ 

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm SJ

Sau ba năm Đức Giêsu rao giảng, không ít người đã tin vào Ngài; tuy nhiên niềm tin vào Đức Giêsu của những người này tối đa cũng tương tự như niềm tin của các tông đồ khi Đức Giêsu còn sống đời dương thế.  Họ cho rằng Đức Giêsu là một vị thầy, hơn nữa có thể là một tiên tri, và cao nhất có thể là Đấng Kitô Vua (Ga.6, 15; Mc.8, 29; 11, 9-10).  Vào thời điểm đó, người ta không thể biết khác hơn được.  Còn đối với những người không tin Đức Giêsu, những kẻ khó chịu hoặc bực tức vì Ngài trổi trang hơn họ, Đức Giêsu đơn thuần chỉ là một con người bình thường như bao người.  Những người này không chỉ bất đồng ý kiến với Đức Giêsu, không chỉ khó chịu và bực tức mà còn muốn giết Đức Giêsu nữa (Mc.3, 6).

Vào thời cuối của ba năm rao giảng, Đức Giêsu đã nhiều lần nói những điều có thể làm cho Ngài phải bị ném đá.  Chẳng hạn Ngài nói Ngài có quyền tha tội (Mc.2, 5.7), Ngài có trước Abraham (Ga.8, 57-58), Ngài và Thiên Chúa là một (Ga.10, 30).  Vào cuối đời, Ngài có những câu nói “gây mất lòng” nhiều người.  Càng vào cuối đời, càng có ít người theo Ngài, vì những lời khó có thể hiểu và chấp nhận được, chẳng hạn: “chính tôi là bánh hằng sống.  Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga.6. 35).  Những lời nói tương tự không chỉ làm Đức Giêsu “mất người” mà còn gây thêm có nhiều người thù địch với Ngài, thậm chí còn làm cho những người muốn giết Ngài có đủ bằng cớ và hậu thuẫn.  Chẳng hạn, Ngài nhận mình là Thiên Chúa: “chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp nhưng vì một lời phạm thượng: ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa” (Ga.10, 33).

Gần lễ Vượt Qua, âm mưu giết Đức Giêsu trở nên rõ ràng nên Ngài lui về Galilê.  Vì thế, thời điểm Lazarô chết không có mặt Đức Giêsu tại đó.  Sau đó khi Ngài muốn lên Giêrusalem thì các tông đồ đã ngăn cản.  Tông đồ Thomas đã động viên các bạn: “nào chúng ta cùng lên Yerusalem để cùng chết với thầy” (Ga.11, 16).  Đức Giêsu cũng biết Ngài sẽ bị giết nếu Ngài lên Giêrusalem vào thời điểm này, tuy nhiên Ngài vẫn cứ lên.  Ngài không muốn trốn chạy cái chết.  Ngài đã phải chọn lựa giữa sống và chết một cách cụ thể qua việc có lên Giêrusalem dịp lễ Vượt Qua này hay không.  Cuối cùng Ngài đã chọn lên Giêrusalem cho dù cái chết đang chờ đón Ngài.

Ở Giêrusalem, Ngài vẫn làm điều Ngài vẫn thường làm: “ban ngày Ngài giảng dạy trong đền thờ, còn ban đêm Ngài và các tông đồ ra vườn dầu để ngủ” (Lc.21, 37).  Hôm nay Ngài vào Giêrusalem và được dân chúng đón rước như vị Thiên Sai.  Ngài chấp nhận biến cố này vì biết thời điểm đặc biệt của Ngài đã đến: thời điểm Ngài được tôn vinh cũng là thời điểm Ngài chết trên thập giá.  Cái chết của Ngài có thể được thấy trước vì nó cũng theo quy luật của xã hội: người ta ghét Ngài đến độ muốn giết Ngài (Mc.14, 1).

Lúc khởi đầu người ta muốn giết Ngài vì Ngài đã dám suy nghĩ và nói ngược lại những người có thế lực (Mc.3, 6; 14, 1; 14, 53-59); nhưng khi vị thượng tế hỏi Đức Giêsu và Đức Giêsu trả lời: “rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và đến trên mây trời” thì họ không cần phải sắp đặt chứng cớ để giết Đức Giêsu như trước nữa, vì Đức Giêsu đã phạm một tội vô cùng lớn mà mọi người Do Thái một khi biết đều phải xử tử Đức Giêsu, vì là người mà dám cho mình ngang hàng với Thiên Chúa (Mc.14, 62-64).  Đức Giêsu đầu tiên bị người ta ghen ghét mà muốn giết, rồi khi đã bị bắt và xét xử với chứng cớ được xếp đặt trước, Ngài lại nói Ngài ngang hàng với Thiên Chúa; như vậy trước công nghị Do Thái, Đức Giêsu bị kết án tử hình vì tội tôn giáo: lộng ngôn xúc phạm đến Thiên Chúa.  Trên thập giá Đức Giêsu nói: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết” (Lc.23, 34); thật vậy, không biết nguồn gốc thần linh của Đức Giêsu, thì kết án Ngài là chuyện tất nhiên.

Để giết được Đức Giêsu một cách hợp pháp, người Do Thái phải đem Đức Giêsu sang tòa Roma.  Vào thời người Do Thái bị đô hộ, quyền xử tử thuộc về thẩm quyền người Roma.  Đức Giêsu đã bị gán cho tội chính trị “xưng vương”.  Nếu không gán cho Đức Giêsu tội chính trị thì Philatô đã không kết án tử hình Đức Giêsu.  Philatô biết Đức Giêsu bị oan, nhưng vì sợ mất chức nên đã kết án Ngài.  Nếu không kết án Đức Giêsu, Philatô có thể bị người Do Thái tố cáo với hoàng đế Roma vì đã buông tha người xưng vua phất cờ khởi nghĩa.  Nếu vậy, Philatô phải giải thích, phải biện luận, và sẽ gặp nhiều phiền phức, và hậu quả sẽ là không được hoàng đế tin tưởng nữa, vì vậy Philatô đã kết án tử hình Đức Giêsu thuận theo ý của người Do Thái.

Nếu Đức Giêsu chỉ là một con người, Đức Giêsu xứng đáng lãnh án tử.  Thực vậy, khi Đức Giêsu còn sống, nào ai biết Đức Giêsu là người có nguồn gốc thần linh, vì đâu là chứng cớ để người ta có thể tin như vậy!  Chỉ khi Đức Giêsu chết và sống lại, người ta mới nhận ra những gì Đức Giêsu nói và cho mình là, là chân thực.  Như vậy, chỉ sau biến cố Đức Giêsu Phục Sinh, các tông đồ mới biết chân tướng của Đức Giêsu.  Nếu Đức Giêsu là kẻ lộng ngôn phạm thượng, thì Thiên Chúa đã chẳng phục sinh Ngài, còn nếu Ngài đã sống lại, nghĩa là những điều Ngài đã nói là đúng, là chân lý.  Nghĩa là, Ngài và Thiên Chúa là một, Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài có trước Abraham.

Khi còn sống đời dương thế, Đức Giêsu khó có thể thoát chết, vì chân tướng của Ngài chỉ có thể được thấy rõ sau khi Ngài sống lại.  Đức Giêsu bị hiểu lầm mà bị kết án tử hình, vì không ai biết Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị, vì không ai có thể tưởng rằng Thiên Chúa có thể nhập thể làm người.  Sau khi Ngài sống lại, với ơn của Thánh Thần, các tông đồ nhận ra ý nghĩa của những lời Ngài đã nói mà khi Ngài còn đang sống các ông chẳng hiểu gì.  Ngài là Đấng có nguồn gốc thần linh, Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài và Cha là một, Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, Ngài là Thiên Chúa nhập thể. 

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm SJ

From: Langthangchieutim

NHÌN ĐẦU TÀU THÌ BIẾT ĐOÀN TÀU ĐI VỀ ĐÂU

NHÌN ĐẦU TÀU THÌ BIẾT ĐOÀN TÀU ĐI VỀ ĐÂU

Hàng ‘dính độc’: Bên Tây cấm cửa trả về, dân xứ ta ăn an toàn

 Hàng “dính độc”: Bên Tây cấm cửa trả về, dân xứ ta ăn an toàn

Hàng chục container thực phẩm, nông sản bị nước ngoài trả vì ‘dính độc’, không đáp ứng tiêu chuẩn. Nhưng hàng đó, về Việt Nam ăn vô tư, đủ tiêu chuẩn an toàn.

Nhiều lô hàng xuất khẩu của Việt Nam gần đây thường xuyên bị cảnh báo hoặc trả về bởi có tiêu chuẩn Việt Nam khác biệt hoàn toàn hoặc thấp hơn tiêu chuẩn các nước. Thế mới có chuyện: hàng sang xứ người ‘dính độc’, về xứ ta an toàn.
Hàng xuất khẩu bị buộc “hồi hương”

Mới đây, dư luận xã hội đang xôn xao trước thông tin hơn 18.000 chai tương ớt Chin-su của Công ty Masan vừa bị chính quyền thành phố Osaka (Nhật Bản) yêu cầu nhà nhập khẩu thu hồi với lý do có chất phụ gia chưa được cho sử dụng, thiếu thông tin về chất phụ gia từ nhà nhập khẩu…

Thực tế, những năm gần đây, nhiều lô hàng xuất khẩu của Việt Nam, nhất là các mặt hàng nông lâm thủy sản, thường xuyên bị cảnh báo, thậm chí bị trả về bởi không đáp ứng được tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu.

Giữa năm 2016, đại diện Cục Chế biến Thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ NN-PTNT) đã yêu cầu các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cần kiểm tra chất lượng kỹ trước khi xuất khẩu vào Mỹ do hàng loạt lô gạo Việt Nam bị trả về. Ước tính có khoảng 10.000 tấn gạo của 16 công ty bị phía Mỹ trả về trong vòng 4 năm qua. Lý do: gạo bị tồn dư các chất acetamiprid, chlopyripos, hexaconazoe, có trong các loại thuốc bảo vệ thực vật để trị các loại bệnh trên cây lúa như đạo ôn, sâu đục thân, rầy nâu,…

Thủy sản Việt xuất khẩu thường xuyên bị các thị trường cảnh báo về vấn đề an toàn trong những năm qua (ảnh minh họa)

Thời điểm ấy, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cũng cho biết, 6 tháng đầu năm 2016, đã có hơn 500 container gạo thơm của Việt Nam bị đối tác trả về do không đạt tiêu chuẩn chất lượng.

Vào tháng 7/2015, cơ quan chức năng tỉnh Lâm Đồng cũng thông tin rằng chỉ trong vòng nửa đầu năm 2015, hơn 80 tấn chè tại địa phương xuất khẩu sang Đài Loan bị trả về với lý do nhiễm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV). Đáng chú ý, Lâm Đồng còn tồn hàng ngàn tấn chè không xuất khẩu được do dư lượng thuốc BVTV vượt ngưỡng quy định của Đài Loan.
Không chỉ có gạo và chè bị trả về, tình trạng hàng Việt xuất khẩu bị buộc “hồi hương” còn diễn ra khá phổ biến trong ngành thủy sản.

Cụ thể, năm 2015, cơ quan chức năng phải đưa ra báo động đỏ. Bởi, chỉ từ đầu năm 2014 đến tháng 9/2015 có gần 32.000 tấn thủy sản Việt Nam xuất khẩu đi các nước bị trả. Riêng chín tháng đầu năm 2015, Việt Nam có đến 582 lô hàng bị 38 nước trả hàng về, trung bình mỗi công ty có năm lô hàng bị trả về.

VIETNAMNET.VN
Hàng chục container thực phẩm, nông sản bị nước ngoài trả vì ‘dính độc’, không đáp ứng tiêu chuẩn. Nhưng hàng đó, về Việt Nam ăn vô tư, đủ tiêu chuẩn an toàn.

Hà Nội: Thầy giáo bị tố dâm ô 7 học sinh nam

Trường THCS Trần Phú (Hà Nội). (Ảnh: FB)

Trước đó, một phụ huynh tên M.H. (quận Hoàng Mai, Hà Nội) phản ánh con trai của chị cùng với 6 nam sinh khác bị một thầy giáo dạy Toán tại trường THCS Trần Phú dâm ô nhiều tháng, có hành động “thường xuyên sờ vào bộ phận sinh dục” của các em trong lúc luyện thi học sinh giỏi. Có lần, thầy còn gọi học sinh ngồi lên đùi để thầy thực hiện hành vi sàm sỡ.

Được biết, sự việc này đã diễn ra nhiều tháng qua. Hành vi sàm sỡ có khi kéo dài tới hàng chục phút.

Điều này khiến nhiều học sinh quá sợ hãi phải bỏ học, không dám học lớp ôn luyện của thầy này. Tuy nhiên, một số phụ huynh biết chuyện vẫn cố cho con học vì cho rằng thầy dạy giỏi.

Chị M.H. thông tin thêm sáng ngày 10/4, tại buổi làm việc giữa phụ huynh với nhà trường, thầy giáo này đã thừa nhận hành vi trên và cho rằng “coi các em như con nên mới làm thế”.

Sau khi vụ việc xảy ra, đại diện Sở GD-ĐT Hà Nội khẳng định đây là trách nhiệm của Sở. Tuy nhiên, do trường THCS thuộc cấp quản lý trực tiếp của cấp quận nên Sở đã yêu cầu phòng giáo dục quận Hoàng Mai có trách nhiệm điều tra, xác minh sự việc và công bố thông tin.

Hiện cơ quan công an quận Hoàng Mai cũng đang vào cuộc điều tra để làm rõ vụ việc.

Ngoài ra, tối ngày 10/4, Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ GD-ĐT) cũng đã gửi công văn đề nghị xác minh, báo cáo vụ việc trong ngày 11/4. Cục trưởng Hoàng Đức Minh yêu cầu nếu sự việc như tố cáo thì trước mắt không bố trí đứng lớp, và kiên quyết đưa ra khỏi ngành giáo dục trường hợp giáo viên vi phạm nghiêm trọng đạo đức nhà giáo theo quy định của pháp luật.

Phạm Toàn

Tin nóng: Chính phủ Việt Nam chính thức thua kiện Trịnh Vĩnh Bình tại Tòa án Quốc tế

Tin nóng: Chính phủ Việt Nam chính thức thua kiện Trịnh Vĩnh Bình tại Tòa án Quốc tế

VOA


Triệu phú Trịnh Vĩnh Bình là một trong những Việt kiều đầu tiên trở về nước đầu tư sau khi Việt Nam mở cửa.
Triệu phú Trịnh Vĩnh Bình là một trong những Việt kiều đầu tiên trở về nước đầu tư sau khi Việt Nam mở cửa.

Tòa án Quốc tế vừa gửi thông báo thắng kiện cho ông Trịnh Vĩnh Bình, người đã theo đuổi vụ kiện xuyên thế kỷ đối với chính phủ Việt Nam. Theo đó, chính phủ Việt Nam buộc phải bồi thường cho triệu phú người Hà Lan gốc Việt tổng cộng 37.581.596 đôla thiệt hại và gần 7,9 triệu đôla án phí.

Đây được xem là một sự kiện chưa từng có đối với chính phủ Việt Nam khi phải bồi thường số tiền lớn như vậy cho một doanh nhân gốc Việt vì đã chiếm đoạt sai trái tài sản đầu tư của họ tại Việt Nam.

Trong thông báo kèm theo phán quyết dài gần 200 trang gửi cho ông Trịnh Vĩnh Bình mà VOA đọc được, Tòa án Quốc tế yêu cầu chính phủ Việt Nam bồi thường cho ông Bình 27.518.596 đôla cho phần tài sản đã chiếm của ông, 10 triệu đôla cho “thiệt hại tinh thần”, 786.672,71 đôla cho án phí ở Tòa án Quốc tế và 7.111.170,94 đôla cho chi phí pháp lý, luật sư.

Trả lời VOA ngay sau khi nhận được thông báo thắng kiện từ Tòa án Quốc tế, triệu phú đã hơn 70 tuổi xúc động nói: “Qua hơn 20 năm tranh đấu để đòi lại công lý, tôi thấy con đường Tòa án Quốc tế là rất tốt. Họ rất công tâm. Họ xử trắng ra trắng, đen ra đen. Cho nên về mặt luật pháp, công lý thì vụ này là rất rõ ràng. Tòa án đã cho mình thấy là những gì mình trông đợi ở Tòa án để cảnh báo chính phủ Việt Nam về những việc làm sai trái của họ, những gì đang xảy ra hằng ngày ở Việt Nam và vẫn đang tiếp tục xảy ra, thì họ phải điều chỉnh lại”.

Triệu phú gốc Việt nói rằng ông hy vọng vụ kiện của ông sẽ mở ra một con đường cho những người dân khác mất đất đai, tài sản tại Việt Nam muốn giành lại công lý.

“Đây có thể là một dấu hiệu cho chính phủ Việt Nam thấy rằng những ngày tới đây, họ không nên khinh xuất bắt bớ người vô tội hoặc để cho con ông cháu cha, những người có thế lực, vây cánh chiếm đoạt tài sản một cách vô tội vạ, chiếm đoạt một cách hợp pháp bằng cách ‘cưỡng chế’ theo luật pháp Việt Nam, nhưng dĩ nhiên, theo luật pháp quốc tế thì đây là một sự vi phạm trắng trợn”.

Ông cảnh báo chính phủ Việt Nam “hãy coi chừng” vì từ vụ kiện của ông, người dân Việt Nam sẽ “có cơ sở” để tiếp tục khởi kiện trong tương lai.

Điểm lại vụ kiện xuyên thế kỷ

Xuất phát của vụ kiện xuyên thế kỷ bắt đầu từ những năm thập niên 1990, khi ông Trịnh Vĩnh Bình, khi đó là triệu phú rất thành công ở Hà Lan với biệt danh “Vua Chả Giò”, trở về Việt Nam đầu tư theo tiếng gọi “Về nước đầu tư” của Hà Nội.

Ông Trịnh Vĩnh Bình quyết định trở về nước đầu tư.
Ông Trịnh Vĩnh Bình quyết định trở về nước đầu tư.

Sau khi quyết định bán cơ sở kinh doanh tại Hà Lan, ông Bình đã mang về nước 2.338.250 đôla và 96 ký vàng sau 60 lần nhập cảnh, bắt đầu từ năm 1990, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán, Tổng cục hải quan Việt Nam và Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất.

Về nước, ông bắt tay vào kinh doanh trong nhiều lĩnh vực: khách sạn, thủy hải sản, xuất khẩu, nông sản, rau quả, trồng rừng… Nhưng chiến lược nhất, có lẽ là lãnh vực đất đai, vì theo như lời ông, “tôi có những bài toán lâu dài chứ không phải như Việt Nam nói là kinh doanh địa ốc”. Cứ như thế, trong vòng hơn 6 năm, giá trị số vốn ban đầu ông Bình đưa về Việt Nam được nhân lên hơn 8 lần.

Theo lời cựu Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nói với VOA, ông Bình đã trở nên “thành công và khá nổi tiếng ở Việt Nam” vào thời điểm đó nhờ tính năng động, chủ động và nhạy bén trong kinh doanh.

Tuy nhiên, sự thành công quá nhanh của ông Bình tại Việt Nam đã gây ra “sức cuốn hút không bình thường”, theo lời của cựu Đại sứ Việt Nam. Ông bị rơi vào những cái “bẫy” của các thế lực “đục nước béo cò”.

Bộ sưu tập xe-một trong số rất nhiều tài sản của ông Bình tại Việt Nam.
Bộ sưu tập xe-một trong số rất nhiều tài sản của ông Bình tại Việt Nam.

Ngày 5/12/1996, ông Trịnh Vĩnh Bình chính thức bị bắt với cáo buộc tội “trốn thuế”. Cáo buộc ban đầu này sau đó nhanh chóng được chuyển đổi thành “vi phạm các quy định về quản lý đất đai” và tội “hối lộ” vì thiếu căn cứ.

Ông Trịnh Vĩnh Bình bị tạm giam hơn 18 tháng trước khi được đưa ra xét xử. Trong thời gian này, ông Bình cho biết ông không được phép tự ý chọn luật sư, mà PA 24 chỉ định luật sư cho ông và buộc ông phải trả 50 triệu đồng cho luật sư này.

Ông Bình kể với VOA rằng điều kiện giam giữ khắc nghiệt trong thời gian này đã khiến ông suy sụp hoàn toàn và từng nghĩ đến chuyện tự tử.

Tháng 8/1998, Tòa án Nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tuyên án 13 năm tù đối với ông Trịnh Vĩnh Bình về tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai và tội đưa hối lộ, phạt 400 triệu đồng, tịch thu tài sản được cho là “sang nhượng bất hợp pháp”.

Báo Công An Nhân Dân ngày 6/6/2005 cho biết đến ngày ông Bình bị Cơ quan An ninh Điều tra tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bắt giữ (5/12/1996), ông nắm trong tay 11 căn nhà, 114 nền nhà và 2.847.745 m2 đất.

Ông Bình tham quan địa điểm đầu tư tiềm năng tại Việt Nam vào tháng 4/1990.
Ông Bình tham quan địa điểm đầu tư tiềm năng tại Việt Nam vào tháng 4/1990.

Ngày 25/2/1999, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan có thư khẩn gửi Bộ Ngoại giao Việt Nam, yêu cầu chính phủ Việt Nam hoãn thi hành án cho trường hợp của ông Trịnh Vĩnh Bình cho đến khi các chính sách mới về chính sách đầu tư tại Việt Nam được làm rõ.

Sau bản án sơ thẩm, ông Bình đã kháng cáo, gửi đơn thư khiếu nại, cầu cứu lên khắp các cơ quan nhà nước, thậm chí lên các quan chức cấp cao ở trung ương và cũng đã có những chỉ đạo can thiệp từ Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm và một số giới chức khác.

Tuy nhiên, nỗ lực của ông Bình và một số quan chức Việt Nam, lẫn phía Hà Lan đều không mang lại hiệu quả. Lý do, theo lời cựu Đại sứ Việt Nam Đinh Hoàng Thắng nói với VOA rằng “Việt Nam có câu ‘đục nước béo cò’ có lẽ khá đúng trong trường hợp này. Mà ‘cò’ ở đây lại là những con cò lớn và nhiều khi không xuất đầu lộ diện.”

Vị cựu Đại sứ này thừa nhận rằng vụ án Trịnh Vĩnh Bình đã gây ra rất nhiều căng thẳng ngoại giao giữa Việt Nam và Hà Lan vào thời điểm đó.

Sau phiên phúc thẩm, bản án của ông Trịnh Vĩnh Bình giảm từ 13 năm xuống thành 11 năm tù (năm 1999). Báo Thanh Niên ngày 14/7/2012 cho hay nhiều tài sản (nhà và đất) của ông Bình được tòa phúc thẩm giao cho UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Đồng Nai tịch thu. Hai cơ sở sản xuất (diện tích gần 40.000 m2) cùng 9 căn nhà trên địa bàn tỉnh được UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giao cho Cục Thi hành án dân sự bán đấu giá.

“Phiên xử sơ thẩm đến phúc thẩm không thay đổi gì mấy. Tôi thấy tình hình không êm rồi. Họ có giấy triệu tập tôi trở lại trại tù. Họ cho tôi thời gian 7 ngày. Trong thời gian đó, tôi tiếp tục làm đơn khiếu nại, nhưng thấy không êm rồi. Tới giờ chót, tức ngày hôm sau đi trình diện thì tôi trốn,” ông Bình nói với VOA.

Sau khi ra khỏi Việt Nam, ông Bình đã nộp đơn kiện chính phủ Việt Nam ra tòa trọng tài quốc tế. Hai bên “dàn xếp” ngoài tòa vào năm 2005 và Việt Nam đền ông Bình 15 triệu đôla, miễn án, tạo điều kiện cho ông Bình trở lại Việt Nam, đồng thời hoàn trả tài sản đã tịch biên.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, tin tức về vụ kiện đã bị cắt đứt hoàn toàn, cả trong nước lẫn quốc tế. Nguyên nhân, theo lời ông Bình, là vì đây là điều kiện phía Việt Nam đưa ra trong Thỏa thuận: Không tiết lộ thông tin cho truyền thông, báo chí.

Tháng 1/2015, ông Trịnh Vĩnh Bình quyết định khởi kiện Chính phủ Việt Nam ra Tòa trọng tài Quốc tế lần thứ hai vì theo lời ông Bình, người cho là mình đã “bị lừa”, thì chính phủ Việt Nam đã lần lữa không trả lại bất kỳ tài sản nào cho ông ngoài số tiền bồi thường trên.

Trăm nghìn nhánh khổ

Trăm nghìn nhánh khổ

Vũ Thế Thành

•Thứ Ba, 09/04/2019 • 

…Hai phương trời cách biệt, Bên chờ và bên mong… (1)

Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm… Họ chỉ hát toàn nhạc xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero, nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược. Lần trước về Sài Gòn, tôi đã ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế… Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời (2). Lặng cả người!

Tôi chợt nhớ những ngày sau tháng Tư 75, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để đối phó với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt được qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại như tôi, tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.

Sài Gòn xưa: Trăm nghìn nhánh khổ
Bạn bè, có đứa vượt được qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới…
Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sài Gòn – Đà Lạt. Có khi Hà Bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết. Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng: Xứ này không ăn dơ như thế.

Cũng có người đi làm nail, “tiền tươi thóc thật”, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con; hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt. Khi con thành tài, thân mẹ cũng tàn tạ. Tiền gửi về nhà, người thân trong nước nhiều khi tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng không mua bảo hiểm y tế.

Nhưng cũng có nhiều người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh. Nơi xứ người, dù sao vẫn có nhiều cơ hội hơn trong nước, vấn đề là có chịu nắm bắt hay không mà thôi.

Trong nước thì coi như bế tắc. Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm năm, bảy học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy mà rớt. Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” còn trong trại cải tạo, làm sao vào đại học nổi, em rớt ngay từ bãi gửi xe. Em đến báo tin, thầy trò ngồi uống cà phê vỉa hè, buồn ứa nước mắt. Thời điểm này không dung những tiềm năng như em… Số phận đời người chứ đâu phải trò chơi chính trị.

Những năm sau 75, giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, chạy xe ôm, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, mở quán cà phê vỉa hè, buôn hàng lạc xon… Người nào lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô-la…

Năm 78, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, quý phái, không quá ba mươi, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê hai bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi hai bao than này xuống. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C.V. Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Tác giả đã mô tả đôi mắt của bà, cũng buồn và nhẫn nhục như thế.

Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu – Trương Minh Giảng(3), ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại: Cho trẫm điếu thuốc. Hoàng thượng đã chiếu cố dân đen, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc, cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay: Cho lui… Lui rồi, ngoái cổ lại, vẫn thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.

Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi. Sau 75 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?

Mà Sài Gòn lúc đó sao dễ gặp “người điên” thế! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù…

Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng ký rưỡi, kèm bức thư ngắn: Gửi mày mấy hộp thuốc Tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó. Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại?

Sau 75, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng có khi tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước chậm nhịp, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.

Cả đất nước đã có lúc “sống” bằng khẩu hiệu. Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?

Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ, có khi chẳng mua được thứ gì. Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ… quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.

Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo. Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than: Tội nghiệp cho cả gia đình tôi! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con. Não lòng đến thế là cùng! Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên, bà này chắc có căn phần phúc đức.

Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông. Mấy bà này chắc phải phong thánh.

Tháng Tư năm nay, Sài Gòn nóng khủng khiếp. Sài Gòn không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng Tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ở Couvent des Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.

Đà Lạt, tám giờ tối đã như mười hai giờ khuya ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà thường kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm. Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân.

Cuối tháng Tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sài Gòn để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng còn chút tâm tình này không nói về những ngày sau 75 trong mắt tôi là như thế nào, lòng dạ chưa yên…

Đời trăm nghìn nhánh khổ, nhánh nào cho người, nhánh nào cho mình? Năm 75 là ngã rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm dập, và cho dù ở phương trời nào, Tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến. Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn đời người.

Tháng Tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm bài hát nghe được ở quán rượu…

Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người,
Khi mình còn đôi tay…(1)

Vũ Thế Thành, Đà Lạt, 28.04.2016

No photo description available.
Image may contain: one or more people, ocean, outdoor and water