Nước Trời ở khúc giữa… ngay hôm nay

Nước Trời ở khúc giữa… ngay hôm nay

Lc 17,26-37; 2Ga 1,4-9

– Nước Trời đến lần thứ nhất như thế nào thì ai cũng biết cả rồi

– Nước Trời đến lần thứ hai thì cũng đã được nói trước rồi nhưng còn thực tế như thế nào thì chưa biết

– Phần đầu của Nước Trời cũng đến bất ngờ và phần cuối của Nước Trời cũng lại đến bất ngờ (chuyện ông Nô-ê và chuyện ông Lót) nên có cảm tưởng quá xa vời thế nào í ! Thôi lo phần giữa Nước Trời vậy !

+ Nước Trời nhìn thấy được đang lù lù trước mắt (hữu hình), đó là Giáo Hội, cộng đoàn… Nhiều người mơ ước một Nước Trời êm ả ngon lành, thế mà Nước Trời Giáo Hội này quá nhiều bất toàn, vì những con người cụ thể, bằng xương bằng thịt, rồi biết bao nhiêu chuyện vớ vẩn, làm cho nhiều người sốt ruột, rồi thất vọng. Luôn cần phải có cái nhìn của đức tin nhé !

Nước Trời trong tâm hồn thì không nhìn thấy được, nhưng cảm nhận một sức sống, ân ban Thánh Thần tác động, thành chứng nhân hùng hồn, tình yêu chứa chan tuyệt vời… Thánh Têrêsa Lisieux thấy điều đó trong kinh nghiệm bản thân : “Vị Thầy của các tiến sĩ dạy chúng ta không bằng những tiếng vang động. Tôi không hề nghe Người nói, song tôi biết Người ở trong linh hồn tôi.

Mọi lúc Người hằng hướng dẫn và cảm hứng cho tôi, và là vào đúng những lúc tôi cần, những ‘soi sáng’ mà cho tới đó tôi không hề thấy. Hầu hết không phải là những lúc cầu nguyện mà là khi tôi làm việc hằng ngày” (Truyện Một Tâm Hồn, chương 8).

Có được phần giữa Nước Trời rồvì “Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông” thì không còn bận tâm lo lắng tới những vấn đề thời giờ, lúc nào và nơi chốn, đang ở kia kìa hay đang ở đây này : “Lạy Chúa, ở đâu ?”. Người Pharisêu đã hỏi Chúa khi nào Nước Thiên Chúa đến (câu 20). Giờ đây, sau khi nghe Chúa cắt nghĩa, tò mò tự nhiên, các môn đệ cũng hỏi “Sẽ xẩy ra… ở đâu ?”.

Bận tâm chuyện xảy ra ở đâu lúc nào làm quên phéng ngay đi chuyện hoán cải, đổi mới con người ngay từ hôm nay, lúc này, phút giây hiện tại… cảm nghiệm ngọt ngào, gặp gỡ Chúa.

Trước sau gì rồi cũng gặp Chúa thì gặp Chúa ngay từ đời này đi cho cuộc sống vui tươi hạnh phúc tưng tửng. Luôn tỉnh thức đáp lại tiếng Chúa gọi : Này con đây đã sẵn sàng.

“Xác nằm đâu, diều hâu tụ đó”. Hồi nhỏ tôi nghe câu này thì được giải thích là có Chúa (Bí tích Thánh Thể) ở đâu thì tình yêu lôi cuốn hấp dẫn mọi người tìm đến.

Bây giờ lại nói danh từ Hy lạp có nghĩa phượng hoàng hay là diều hâu. Với bất cứ nghĩa nào, câu cách ngôn này cũng nói tớitính cách nhanh chóng : như chim chụp bắt mồi bất thần nhanh chóng thế nào thì việc Người đến lần thứ hai hay cuộc phán xét sau cùng sẽ bất thần và bất ngờ như vậy.

Về ngày và thời kỳ Chúa đến, anh em không cần ai viết cho anh  em. Vì chính anh  em đã biết rõ : ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm” (1Tx 5,1-2).

Hoặc giải thích (BPVCGK) nữa là những con chim ăn thịt hay xuất hiện trong những đoạn Cựu Ước về cuộc phán xét (Is 18,6 ; 34,15 ; Gr 7,33 ; 12,9 ; 15,3 ; Ed 39,17).

Đức Giêsu trả lời các môn đệ về nơi chốn : Ở đâu có xác, thì ở đó có diều hâu, nghĩa là cuộc phán xét xảy ra ở bất cứ nơi nào ; nói cách khác : không ai có thể thoát khỏi cuộc phán xét.

Vậy thì dấu hiệu đã sống Nước Trời ở khúc giữa ngay hôm này : “đây không phải là một điều răn mới tôi viết ra, nhưng là điều răn chúng ta đã có từ lúc khởi đầu- đó là : chúng ta phải yêu thương nhau. Yêu thương là sống theo các điều răn của Thiên Chúa. Như anh em đã được nghe từ lúc khởi đầu, điều răn này là : anh em phải sống trong tình thương”.

ÔTC

Edit  https://tramtubensuoi.blogspot.com/2018/11/nuoc-troi-o-khuc-giua-ngay-hom-nay.html

NẾU SỐNG CHỈ ĐỂ RỒI CHẾT…!

NẾU SỐNG CHỈ ĐỂ RỒI CHẾT…!

Cách đây hơn nửa thế kỷ, nhạc phẩm “60 Năm” của cố nhạc sĩ Y Vân ra đời đã thu hút sự quan tâm và mến mộ của rất nhiều người yêu âm nhạc.  Với những ngôn từ đơn giản và dòng nhạc Twist mới mẻ khá sôi động và lôi cuốn lúc bấy giờ, tác giả đã đưa vào lòng người những suy ngẫm đậm chất triết lý về sự mong manh, ngắn ngủi của kiếp người.  Ca khúc “60 Năm” phần nào diễn tả một sự thật trần trụi về sự sống – cái chết, cũng như thốt lên nỗi niềm nuối tiếc của kiếp nhân sinh: “Em ơi có bao nhiêu – 60 năm cuộc đời.  20 năm đầu – sung sướng không bao lâu.  20 năm sau – sầu thương cao vời vợi.  20 năm cuối – là bao.”

Sống để rồi chết – đó là quy luật có phần nghiệt ngã, nhưng là quy luật bất di bất dịch không ai không phải ngang qua.  Chính tác giả Thánh vịnh cũng thốt lên mấy lời vừa như có tính khẳng định, lại vừa có chút nuối tiếc, thêm chút thắc mắc, nhưng cũng đầy ý khuyên răn: “Đời chúng con tàn tạ, kiếp sống thoảng qua, một tiếng thở dài.  Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục, mạnh giỏi chăng là được tám mươi, mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khó, cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.”  (Tv 90,9-10).

Như vậy, việc sinh ra của bất kỳ con người nào trên trái đất này đều đã sẵn mang một “bản án tử hình”.  Bản án ấy luôn treo lơ lửng trên đầu và không ai biết trước được thời điểm thi hành án.  Kẻ trẻ – người già, kẻ bệnh – người đang khỏe, kẻ đạo đức – người tội lỗi, kẻ quyền cao chức trọng – người thấp cổ bé họng, kẻ vui – người buồn… tất cả đều có thể ra đi bất cứ thời điểm nào dù muốn dù không.  Như thế, phải chăng cuộc sống quá ư vô nghĩa và hết sức phi lý như chủ nghĩa hư vô phương Tây trong thời đại của triết gia Nietzsche rao giảng mà chính triết gia đã mạnh mẽ tố cáo: Hư vô chủ nghĩa dạy người đời rằng: “Đời không đáng sống.  Tất cả mọi sự đều vô ích.  Thôi, cứ sống cho qua ngày.  Sống chờ đợi.  Chờ chết.”[1] 

Buông trôi.  Có thể gọi những người sống mà không quan tâm đến ý nghĩa cuộc đời, không tìm hiểu tại sao mình lại sống để rồi phải chết là những kẻ buông trôi.  Họ bước vào cuộc đời không lý do vì họ chẳng để ý gì đến lý do; và rồi họ kết thúc cuộc sống cũng chẳng cần hỏi tại sao.  Ấy vậy mà khi đang sống, họ vẫn lo “chạy”, thậm chí là cật lực chạy từ ngày này qua ngày khác để tích lũy, để thỏa mãn nhu cầu, để nở mày nở mặt với thiên hạ,… và rồi họ chết. 

Một số khác khá hơn thì cũng có suy nghĩ, có chất vấn bản thân, cũng tìm hiểu… nhưng rồi cũng chỉ biết “sống để rồi chết.”  Họ thấy đời sống thật sự vô nghĩa.  Bởi họ tin rằng chết là dấu chấm hết của cuộc sống, nên họ tìm cách đạt cho kỳ được tất cả mọi sự khi đang sống.  Tuy nhiên, chắc hẳn rằng chẳng ai – dù đạt được hay nếm hưởng được tất cả mọi sự trên đời có thể có hạnh phúc – khi biết rằng rồi đây mình sẽ chết và tin rằng thế là chấm hết.  Đó quả là điều hết sức phi lý.  Chết đối với họ là sự phi lý nhất, đau đớn nhất và đáng nguyền rủa nhất.  Cho nên, họ nếm hưởng mọi thứ luôn với một cảm giác nuối tiếc và đau khổ kèm theo.  Đó là cả một sự dày vò lớn lao cho đến tận cuối cuộc đời.

Thậm chí ngay cả những người cố gắng tìm ý nghĩa sống bằng tu tập nhân đức, bằng việc sống tốt, sống yêu thương, sống vui vẻ… để rồi cũng chỉ để chết thì đời sống vẫn hết sức phi lý, vô nghĩa.  Cứ cho là sống tốt sẽ chết đẹp; sống tốt sẽ lưu danh muôn thuở đi nữa, thì những người sống tốt cũng sẽ đi vào cõi hư vô chẳng khác chi bất cứ ai, kể cả những kẻ tàn ác, những bạo chúa,…  Bởi vì, nếu sống chỉ để mà chết, và chết là dấu chấm hết của con người ấy thì đời tưởng nhớ có được chi, đời tán tụng có thêm gì, hay đời thù ghét nguyền rủa cũng có mất mát chi.  Họ đâu bị ảnh hưởng gì từ đời nữa.

Những người vô thần lên tiếng phủ nhận các tôn giáo và cho rằng tôn giáo chỉ như thuốc phiện ru ngủ con người.  Họ chủ trương hay nói đúng hơn, họ tuyên truyền việc xây dựng một cuộc sống tươi đẹp ngay tại thế và chỉ trong khi tại thế chứ chết là chấm hết.  Tuy nhiên, nếu chết là chấm hết thì hạnh phúc tại thế, sự thụ hưởng tất cả nào còn có lợi ích gì đâu.  Rồi cũng đi vào cõi tiêu diệt.  Rồi cũng vào chốn hư vô.  Còn như tôn giáo: Nếu xét theo một nghĩa thế tục như những người vô thần gán ghép đi nữa, thì dẫu nó là liều thuốc phiện mê hoặc, xoa dịu cơn đau cho con người thì nó vẫn là loại thuốc tốt hơn loại thuốc mà ông tổ vô thần Karl Marx đã kê đơn.  Bởi lẽ, nếu tính toán lợi ích theo kiểu thế tục đi nữa thì như triết lý đặt cược của Blaise Pascal[2] cuối cùng vẫn chọn tôn giáo là phần mang lại lợi ích hơn, thực tiễn hơn và đảm bảo hơn. 

Sống để mà chết.  Nhưng, chọn chết như thế nào để sống ra làm sao mới là chuyện đáng bàn.  Socrates, triết gia Hy Lạp vĩ đại từng phát biểu: “Suy cho cùng, triết lý đích thực chỉ là một sự tập luyện, một sự đón trước cái chết.”[3]  Nghe một cách thoáng qua có vẻ như triết gia cũng đồng ý với bao người rằng “sống chỉ để mà chết.”  Tuy nhiên, xét câu nói đó trong toàn bộ triết lý của ông, cũng như nhìn vào cái cách mà ông đã sống và chết cho triết lý sống của mình, ta lại thấy việc hướng đến cái chết của Socrates mang một ý nghĩa khác.  Cái ý hướng của ông không giống như quan niệm của những người theo chủ nghĩa vô thần hay nhiều người khác nhắm tới.

Socrates đã không ngừng tìm kiếm sự thật của chính mình.  Triết gia đã cố công suốt cả cuộc đời tìm lời giải đáp cho cuộc sống của chính ông và của con người nói chung.  Chính việc đi tìm kiếm ý nghĩa sống chính là cách duy nhất mang lại ý nghĩa cho cuộc sống và sự tồn tại.  Để rồi, triết gia dám đối diện với cuộc sống, đối diện với cái chết hầu khám phá ra sự thật trần trụi của kiếp nhân sinh.  Từ đó, ông hướng đến cái chết và coi nó như là một cánh cửa mở ra một cuộc sống khác trọn vẹn, viên mãn và bất diệt.  Do đó, sống và chết trong thế giới phải làm sao là sự chuẩn bị tốt nhất cho cuộc sống sau cánh cửa sự chết.  Hay nói cách khác, việc sống và chết mà Socrates hướng tới mang một niềm hy vọng của sự sống lại, sự sống dồi dào, vĩnh cửu.

Với đức tin Kitô giáo, niềm hy vọng hay khát vọng mà những người như Socrates theo đuổi được giải thích trọn vẹn và thành toàn nơi Đức Kitô Phục sinh.  Quả thế, nói như thánh Phaolô khi rao giảng về Đấng Phục sinh thì“nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng.” (1Cr 15,14).  Chính sự kiện Phục sinh là câu trả lời đầy đủ nhất cho câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống con người.

Chúa Kitô từ thượng giới đã hạ mình xuống làm người.  Ngài đã đi đến tận cùng của kiếp người để chạm đến nỗi đau đớn lớn nhất và khiến con người kinh sợ nhất là cái chết.  Qua đó, Ngài khơi dậy ngọn lửa của niềm hy vọng qua việc đánh bại tử thần và Phục sinh khải hoàn.  Ngài đã sống và cũng đã chết như một con người, nhưng Ngài đã Phục sinh để tiêu diệt hoàn toàn quyền thống trị của tử thần.  Nhờ sự chết và Phục sinh của Chúa Kitô mà chúng ta có thể hy vọng vào sự phục sinh của chính mình trong Ngài.  Với niềm hy vọng đó và với sự tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa, chúng ta có thể đối diện với cái sự thật trần trụi của kiếp người: Sống để mà chết.  Từ đó, chúng ta thực sự sống một cuộc sống ý nghĩa, hạnh phúc, hầu không dừng lại ở cái quy luật nghiệt ngã kia nhưng đi xa hơn trong niềm hy vọng: Sống để mà chết và chết để được Phục sinh trong Chúa Kitô.

Băng Tâm 

[1] Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, Hà Nội, Nxb. Văn Học, 2008, tr.138.
[2] Triết lý đặt cược của Pascal: Mặc định rằng con người đặt cược cuộc đời mình để xem Thiên Chúa hiện hữu hay không hiện hữu. Sẽ được hoặc mất (cả hai đều có giá trị vô hạn) phụ thuộc vào việc có niềm tin hay không, triết lý đặt cược của Pascal lập luận rằng một người có lý trí sẽ sống như thể Chúa thực sự hiện hữu, vì vậy mà tin Ngài. Còn nếu Chúa không hiện hữu, người ấy sẽ chẳng mất mát gì nhiều (một số lạc thú chóng qua, cuộc sống xa hoa ở trần gian, v.v…). Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Blaise_Pascal.
[3] Plato, Đối Thoại Socratic 1 (Dịch giả: Nguyễn Văn Khoa), Hà Nội, Nxb. Tri Thức, 2017, Phaedo (Về Linh Hồn), tr.288.

From: suyniemhangngay1 & NguyenNThu

Thuốc Aspirin, Một Muỗng Muối, Và 10 Ngàn Bước Chân – BS Hồ Ngọc Minh

Thuốc Aspirin, Một Muỗng Muối, Và 10 Ngàn Bước Chân

– BS Hồ Ngọc Minh

1. Uống thuốc Aspirin không có lợi cho người cao tuổi.

Nhiều triệu người trên thế giới đang uống thuốc Aspirin mỗi ngày để giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch, bệnh ung thư các loại và cả khả năng tránh bị bệnh mất trí nhớ. Tuy nhiên, có phải lúc nào cũng đúng như thế hay không?

Một nghiên cứu mới đây, với kết quả đăng trên tờ báo y khoa New England Journal of Medicine cho thấy uống thuốc Aspirin liều lượng thấp không có lợi ích thực tiển cho người cao tuổi, vốn đã mạnh khỏe, ít bệnh tật. Nghiên cứu nầy theo dõi trên 19,000 người trên 65 tuổi ở hai nước Mỹ và Úc.

Tuy có nhiều bằng chứng cho thấy, uống thuốc Aspirin mỗi ngày có thể giảm nguy cơ tái phát cho những người đã từng bị đột quỵ tim hoặc bị tai biến não do bị nghẽn mạch máu não, nhưng thuốc không tăng tuổi thọ cho người trên 70 tuổi. Sau 5 năm theo dõi, những người tham gia cuộc nghiên cứu này, cho dù uống thuốc Aspirin mỗi ngày, vẫn không giảm nguy cơ bị đột quỵ tim hay bị tai biến não, hoặc sống lâu hơn mà không bị mất trí nhớ. Cho những người cao tuổi, tương đối mạnh khỏe, nguy hiểm của việc uống thuốc có thể xảy ra, cụ thể là việc chảy máu đường ruột. Riêng với những người trên 73 tuổi, thuốc Aspirin còn tăng nguy cơ tử vong vì bệnh ung thư ruột già, một tí tị so với người không uống thuốc: 5.9% so với 5.2%.Điều nầy có nghĩa là, hàng triệu người cao tuổi, trên 65, trên toàn thế giới đã và đang uống thuốc Aspirin mà không có lợi ích gì cả.

Bài học rút tỉa ở đây là, trên 70 tuổi, thất thập cổ lai hy, thì nên tránh sử dụng nhiều thuốc men không cần thiết. Trong các bệnh “ba cao một thấp,” có lẽ thuốc quan trọng nhất phải uống thường xuyên là thuốc trị cao huyết áp. Phần còn lại, tăng cường vận động có thể giảm thiểu tối đa bệnh tật. Vận động tốt nhất cho người cao tuổi là đi bộ.

2. Đi bộ bao nhiêu thì đủ?

Cách đây 10 năm tôi tình cờ đọc một bài báo trong khi đi máy bay qua Hồng Kông. Nội dung bài báo nói về chuyện đi bộ 10 ngàn bước mỗi ngày của các cụ người Nhật và những kết quả tốt về sức khỏe thu lượm được. Thế là từ ấy, tôi quyết tâm đạt cho được chỉ tiêu 10 ngàn bước mỗi ngày.

Trong những năm gần đây, “luật” đi bộ 10 ngàn bước mỗi ngày đã hằn sâu vào nếp sống vui sống khỏe trên toàn thế giới. Hàng triệu người mang FitBit hay các dụng cụ tương tự để đếm bước chân khi đi bộ. Con số 10 ngàn bước thật ra không dựa trên một bằng chứng khoa học nào cả, mà xuất phát từ một quảng cáo khoảng thập niên 1960 bên Nhật. Lợi dụng thời điểm Thế Vận Hội Tokyo năm 1964, hãng Yamasa ra đời thiết bị đếm bước chân, tiền thân của Fitbit ngày nay, tên gọi là “manpo-kei,” dịch nghĩa là “thước đo 10 ngàn bước chân.” Một thời gian sau đó, một nghiên cứu của trường đại học Kyushu University of Health and Welfare, cho thấy trung bình một người Nhật đi bộ khoảng 3,500 đến 5,000 bước chân mỗi ngày và nếu con số này tăng lên đến 10,000 thì nguy cơ bị bệnh tim mạch có thể giảm đi. Thế là tổ chức Y Tế Thế Giới WHO, cũng như Hội Tim Mạch Hoa Kỳ và Bộ Y Tế Hoa Kỳ đề xuất ra chỉ tiêu 10 ngàn bước chân mỗi ngày.

Một số nghiên cứu gần đây cho thấy con số bước chân nỗi ngày để đủ giảm nguy cơ bệnh tật về tim mạch, tiểu đường, ung thư, nằm trong khoảng từ 6,000 đến 8,000 bước chân. Nếu đi bộ trong vòng 30 phút mỗi ngày sẽ đi khoảng 7,500 bước chân. Một khuyết điểm khác của luật 10 ngàn bước chân mỗi ngày còn tùy thuộc vào tốc độ đi nhanh hay chậm. Đi nhanh một tí, tăng nhịp tim trên mức bình thường có thể quan trọng hơn là tổng số bước chân. Nhanh bao nhiêu thì đủ? Theo ước tính, tốc độ lý tưởng tối thiểu là 100 bước mỗi phút. Nói chung, đi bộ càng nhiều càng giảm cân và giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch. Những người đi bộ dưới 5,000 ngàn bước mỗi ngày dễ bị tăng cân, dễ bị bệnh xốp xương, yếu bắp thịt, và bệnh tiểu đường. Tuy nhiên nếu chưa quen đi bộ thì cũng nên cẩn thận không nên làm quá sức mình để đạt cho được 10,000 bước mỗi ngày.

3. Ăn bao nhiêu muối mỗi ngày thì vừa đủ?

Trong nhiều thập niên qua, lời khuyên cử muối có thể không đúng, dựa trên các nghiên cứu gần đây. Khi theo dõi trên 95,000 người, cho thấy, mỗi ngày có thể ăn khoảng 2 muỗng rưỡi muối vẫn không có ảnh hưởng đến áp suất máu. Trong khi đó lời khuyên hiện nay là dưới một muỗng muối, tức là 5 gram muối mỗi ngày. Tổ chức Y Tế Thế Giới WHO còn khuyên nên giới hạn xuống nửa muỗng muối mỗi ngày để tránh bệnh cao huyết áp và tai biến não.

Trên thực tế, 90% dân số thế giới ăn khoảng dưới một muỗng muối mỗi ngày, chỉ trừ có dân Châu Á, vùng Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam. Người Việt Nam có thể nói là một trong những dân tộc ăn mặn nhất thế giới vì sống gần biển và có một bờ biển khá dài so với mật độ dân số. Cho dù nghiên cứu nầy cho thấy ăn mặn gấp đôi tiêu chuẩn cũng không hề hấn gì, nhưng đối
với người Việt Nam thì nên trừ hao, vì chỉ trong khoảng năm giọt nước mắm đã có tương đương khoảng ¼ muỗng muối, và tỉ lệ phần trăm người Việt bị bệnh cao huyết áp rất cao, cũng vì ăn mặn.

BS Hồ Ngọc Minh

Chuyện Vui Về Socrates

Chuyện Vui Về Socrates

 Tác giả : Cung Nhật Thành lược dịch

Trong xã hội cổ đại Hy Lạp, Socrates (469 – 399 B.C.) thường được xem là một học giả có kiến thức rộng rãi vì ông rất tự tin và khéo léo về sự hiểu biết của mình.

Một hôm có thân hữu đến gặp nhà học giả nổi tiếng và nói với ông như sau:
– Tôi vừa nghe chuyện về một nguời bạn của ông, Socrates, tôi kể cho ông nghe nhé?

Socrates trả lời ngay:
– Khoan, khoan đã, tôi không muốn nghe gì hết trước khi ông qua được cuộc trắc nghiệm nhỏ, tôi gọi nó là cuộc trắc nghiệm “Ba lần Gạn Lọc”…
– Ba Lần Gạn Lọc?

Socrates tiếp tục:
– Đúng vậy. Trước khi ông nói chuyện về người bạn của tôi cho tôi nghe, tốt nhất là nên thử trước… Đầu tiên là gạn lọc Sự Thật, những gì mà ông sắp nói cho tôi nghe có đúng hay không?
– Không đâu, thật sự là tôi chỉ mới nghe người ta nói thôi và….

– Được rồi, như thế ông không biết chắc là chuyện sắp nói đúng hay sai. Thôi mình sang phần hai với gạn lọc về Tốt và Xấu. Tôi tin là những gì ông sắp nói về bạn tôi đều tốt đẹp cả…có đúng không nào…
– Ngược lại là khác….

Socrates ngắt lời ngay… “Ông muốn nói với tôi là bạn tôi có những chuyện không tốt nhưng ông lại không biết chắc chắn là chuyện ấy đúng hay sai phải không… Thôi thì mình sang phần chót, gạn lọc về Lợi Ích của câu chuyện. Chuyện ông sắp nói về bạn tôi cho tôi nghe liệu có ích lợi gì cho tôi không”
– Không, không chắc đâu…

Socrates lắc đầu và kết luận:
– Nếu chuyện ông sắp nói cho tôi nghe về bạn tôi không đúng, không tốt và cũng chẳng ích lợi gì cho tôi hết… Vậy ông nói với tôi làm gì cho phí thì giờ của cả hai?

Chuyện vui này cho chúng ta thấy tại sao Socrates có tiếng là học giả thông minh và khôn ngoan nhất trong cổ sử Hy Lạp. Socrates cũng nói cuộc sống là cần thiết nhưng cần thiết hơn nữa là phải sống như thế nào… và cuộc đời sẽ tốt đẹp hơn nếu chúng ta cố gắng sống tốt hơn với mọi người.

 Tác giả: Cung Nhật Thành lược dịch

NĂNG LỰC PHỤC HỒI GIÁ TRỊ HÔN NHÂN

NĂNG LỰC PHỤC HỒI GIÁ TRỊ HÔN NHÂN

Trần Mỹ Duyệt

Mỗi người khi sinh ra vào đời đều được trao cho một sứ mệnh. Tùy theo quan niệm và lối nhìn, sứ mệnh ấy có thể được xem như một nghề nghiệp, một bậc sống, hay một ơn gọi.

Như vậy, không ai sinh ra vào đời mà lại không được đặt vào đôi tay, khối óc, và trái tim mình một ít vốn liếng cần thiết cho nghề nghiệp, bậc sống, và ơn gọi của mình.

Theo tinh thần Tin Mừng, đó là những nén bạc. Người được trao cho 1 nén, người khác 2 nén, người khác nữa 5 nén tùy theo ý muốn của Thượng Ðế.

Nhưng thực tế đã cho biết, có nhiều người đã hoang phí số vốn ấy ngay khi còn thiếu thời: bỏ học, lười biếng, bạn bè xấu…

Kẻ khác tiêu xài quá tay khi ở tuổi trung niên: cờ bạc, rượu chè, nghiện hút, trai gái…

Và cũng có người khi tuổi đời xế bóng: buông xuôi, trốn tránh xã hội, và cô độc…

Ðó là những thành phần mà thường ngày họ sống như những kẻ chán đời, hận đời, và thù ghét xã hội.

Ðối với họ, đời là một chuỗi ngày dài đáng ghét, buồn thản, và cuộc sống là vô giá trị. Họ luôn luôn hận thù và nghĩ rằng đời không công bằng với họ. Họ có thể phải khác hơn và phải thành công hơn những gì mà họ đang có.

Nhưng họ lại cố tình hay không hiểu rằng chính họ đã hủy diệt tương lai và giá trị cuộc sống của họ, chứ không phải do ai khác. Cũng không phải đời đã bất công đối với họ.

Ngược lại, cũng thực tế lại cho thấy có biết bao nhiêu tâm hồn cao thượng quanh ta, và ở mọi nơi.

Họ là những người chấp nhận cuộc đời, mở rộng tâm hồn, đôi tay và thiện chí xây đắp cuộc đời: cuộc đời chính họ và cuộc đời của tha nhân. Xây dựng, xoa dịu và làm đẹp cho đời.

Họ là những tâm hồn cao thượng. Họ can đảm và dám đối diện với thực tế, với cuộc đời mặc dù đời không phải luôn luôn dễ dãi và mỉm cười với họ. Và mặc dù đời có quay mặt lại với họ, phũ phàng, cười nhạo họ.

Tóm lại, đây là những người ta cần phải học hỏi, bắt chước, cần phải nâng đỡ để cùng với họ, ta làm được một cái gì đó cho đời và cho chính mình.

HIỆN TƯỢNG HÔN NHÂN THỜI ÐẠI

Những thứ đang làm cho nhiều người thiện chí thao thức và quan tâm đến đời sống hôn nhân, gia đình hiện nay:

1- Ly dị:

Hơn 50% những cặp hôn nhân ngày nay đã tan vỡ bằng ly dị, và hàng triệu, triệu các em nhỏ đã không được hưởng hạnh phúc của một gia đình đầy đủ với cha mẹ, và anh, chị, em.

Ðiều này hẳn cũng đã đôi lần khiến ta phải suy nghĩ khi tham dự một lễ cưới, hoặc tiệc cưới của con, cháu, hay anh chị, em, bạn hữu.

Trong những lúc như vậy, có khi ta tự hỏi:

“Ai! Ðôi nào trong những đôi này sẽ ở trong số ½ những cặp hôn nhân ly dị?”

Và kết quả thật đau lòng, nhiều cặp trong số ấy chỉ kéo dài cuộc sống hôn nhân sau 3, 5, hoặc 10 năm chung sống.

2- Phá thai:

 Cơn cuồng phong phá thai – kết quả của những quan niệm lệch lạc về hôn nhân. Con số thống kê của các quốc gia, cũng như tại Việt Nam rất khủng khiếp. Mỗi năm trên thế giới có đến hằng chục triệu những thai nhi bị giết, bị hủy diệt bằng nhiều cách do chính cha mẹ và những người phụ giúp cha mẹ các em làm việc ấy.

 Ðọc những tài liệu về phá thai, tự nhiên tôi liên tưởng đến cái chết của hơn mấy trăm ngàn người Nhật sau hai trái bom nguyên tử bỏ xuống Hiroshima và Nagasaki vào thời Ðệ Nhị Thế Chiến với câu tự hỏi, nếu vậy, ngày nay người ta phải dùng đến bao nhiêu trái bom nguyên tử để hủy diệt hằng chục triệu thai nhi mỗi năm.

Một não trạng và lối sống vong thân, nói theo Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, là tệ trạng của một nền “văn hóa sự chết”!…

3- Ðồng tính, hôn nhân đồng tính:

Não trạng và tầm nhìn lệch lạc về hôn nhân của xã hội hiện nay đang đem lại nhức nhối cho nhiều người, nhiều cha mẹ, nhiều phụ huynh, đặc biệt khi phải đối diện với tình trạng đồng tính và hôn nhân đồng tính của con cháu, anh chị em mình.

Tội hay phúc? Xấu hay tốt? Chưa ai có đủ thẩm quyền phê phán và lượng định trên bình diện lương tâm con người. Nhưng với cái nhìn tự nhiên của mục đích hôn nhân, thì lối sống này quả thật không đạt được ý nghĩa tròn đầy của nó.

HẬU QUẢ CỦA LY DỊ

Hậu quả sự tàn phá những giá trị tinh thần và vẻ đẹp tích cực đời sống hôn nhân không dừng lại ở những lãnh vực xã hội và đạo đức xã hội.

Nó còn ảnh hưởng sâu đậm đến những người trong cuộc như cha mẹ, con cháu, và cả đến những thế hệ mai sau.

1- Giữa vợ chồng:

Ðối với những nạn nhân của ly dị, biến cố này đã để lại một vết thương đau đớn khó hàn gắn, hoặc đòi hỏi lâu ngày mới được hàn gắn.

Hậu quả tâm lý này được phản ảnh qua những lần ly dị kế tiếp. Vì một lần ly dị sẽ mở đường cho những lần ly dị sau này. Bởi lẽ họ sẽ không còn tin tưởng vào tình yêu của mình cũng như của người khác.

Ảnh hưởng này còn dẫn đến một quan niệm về tình yêu và hôn nhân như một trò chơi ái tình, đến rồi đi không mang một ý nghĩa hay giá trị tinh thần nào cả.

 Ngoài ra, tình cảm con người cũng sẽ bị ảnh hưởng. Ít người sau khi ly dị mà quay lại nhìn nhau bằng một cái nhìn thân thiện và bằng hữu. Và nếu đã không nhìn nhau như bằng hữu, thì sự thù hận, cay đắng sẽ mãi mãi là một cầm buộc nơi chính con người ấy; do đó, sẽ khó có được sự khách quan và công bằng. Dĩ nhiên, hậu quả của nó sẽ ảnh hưởng đến con cái của họ.

2- Với con cái:

 Ðối với con cái sau khi cha mẹ ly dị. Ðây chính là đề tài mà nhiều nhà tâm lý, xã hội, cũng như đạo đức không đồng nhất với nhau về kết quả của những cuộc khảo cứu.

Nhưng nói chung, con cái sống với mẹ và cha dượng, với bố và mẹ kế, với những người anh, chị, em không cùng cha mẹ, ít nhiều vẫn có những khó khăn khi hội nhập vào một môi trường và hoàn cảnh sống mới.

Dù là Âu, Mỹ, Phi, hay Á, tâm lý “con ông, con tôi, con chúng ta” vẫn là một tâm lý không chỉ gây phiền toái cho con cái, mà còn ngay cho cả những cha mẹ này.

3- Xã hội và tâm linh:

Ảnh hưởng ly dị còn liên quan đến lãnh vực xã hội và tâm linh nữa. Một xã hội mà trong đó giới trẻ mất niềm tin, sống trong tâm thức buồn nản và thất vọng khi nhìn đến sự đổ vỡ của cha mẹ.

Những trẻ em này khi lớn lên cũng sẽ hành động hay bị thôi thúc hành động như cha mẹ chúng. Kết quả khảo cứu đã cho thấy, con cái các cha mẹ ly dị cũng có xác xuất ly dị cao hơn con cái những cha mẹ không ly dị.

Như vậy, sự đổ vỡ về hôn nhân, mà hậu quả kinh khủng của nó chính là căn bệnh hiểm nghèo của gia đình và xã hội. Và việc tiếp tay xây dựng, đổi mới, và làm đẹp đời sống này, chính là những việc làm dù rất nhỏ bé, nhưng thật sự cao cả và cần thiết. Khi nền tảng gia đình là đời sống hôn nhân bị phá sản, thì nhân loại không cần phải đến bom nguyên tử, những khí giới giết người hàng loạt, hoặc những thiên tại như động đất, bão lụt hủy diệt, nhưng chính nó sẽ tự hủy diệt và nhận chìm nó, vì hôn nhân là cốt lõi của gia đình, mà gia đình là nền tảng của xã hội và giáo hội.

NĂNG LỰC PHỤC HỒI

Ai dám nhận mình tốt lành, và thánh thiện?

Họa may chỉ dám tự nhận mình là một tội nhân nhờ ơn biết sám hối. Và vì thế, thật là hữu lý khi ta biết dùng chút thời giờ, khả năng, và sức lực của mình cho một ơn gọi mà như vừa trình bày ở trên, là cấp bách và thực tế:

Ơn gọi hôn nhân gia đình.

Ða số chúng ta bước vào đời sống hôn nhân với nhiều thiếu sót và không mấy trưởng thành cả về thể lý, tâm lý, và tâm linh.

Điều này dẫn tới cái nhìn về tình yêu, hôn nhân, gia đình thường bị lẫn lộn bởi những thao thức, hồi hộp, và hấp dẫn của tình cảm và tình dục.

Chính vì thế, khi trách nhiệm và bổn phận của người làm chồng, làm cha, làm vợ, và làm mẹ ùa tới, nhiều người đã hốt hoảng, đã trốn chạy, và đem tới đổ vỡ.

Nhưng hậu quả của những tan vỡ ấy không dừng lại ở chỗ 2 người chia tay nhau. Nó còn chồng kéo đến cả đời con, cháu, mà hệ quả là dẫn tới một quan niệm và lối sống về hôn nhân, về gia đình như hiện nay. 

Những buổi thuyết trình, hồi tâm, hội thảo, cũng như những cuộc gặp gỡ trao đổi giữa bạn bè quen thân là những cơ hội để bạn và tôi có dịp ngồi lại, chia sẻ và giúp nhau “tái khám phá”.

Vâng, tái khám phá thôi, vì tự nó hôn nhân đã là một khởi đầu của hạnh phúc, và là một cơ hội để con người sống chung hạnh phúc.

Và sau khi tái khám phá là việc phục hồi, bởi vì do bụi bặm của thời gian, do sức ép của cuộc sống, và do những nhàm chán của cuộc đời thường nhật đã làm cho nhiều người từ từ mất đi cái nhìn đích thực về những giá trị và vẻ đẹp của đời sống này. 

From KimBằng Nguyễn

Madame HOÀNG XUÂN HÃN !

Norris Le is with Từ Thức and 10 others.

Madame HOÀNG XUÂN HÃN !

Bạn bè người Pháp ở Paris gọi bà là Madame Hoàng Xuân Hãn, còn người Hà Nội và Việt kiều thường gọi với cái tên quen thuộc: bà Bính – Nguyễn Thị Bính.

Bà là phu nhân Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, một trong số hiếm hoi phụ nữ Việt Nam đầu thế kỷ XX, có bằng Dược sĩ hạng nhất tại Đại học Dược khoa (Paris – Pháp).

Đôi bạn trí thức “Hoàng-Nguyễn”

Nếu hỏi người hàng phố, đa số đều biết đến hiệu thuốc Tây lớn trên phố Tràng Thi mang tên “Pharmaice Hoàng Xuân Hãn”. Đó vừa là hiệu thuốc vừa là nhà riêng của GS Hoàng Xuân Hãn mà người chủ hiệu thuốc là Hoàng Xuân Hãn phu nhân, nhũ danh Nguyễn Thị Bính. Bà có bằng Dược sĩ hạng nhất của Paris.

Phụ nữ Việt Nam có bằng Dược sĩ hạng nhất trước Cách mạng tháng Tám 1945 là thứ “của hiếm”. Khắp Hà Nội chỉ có dược sĩ Đỗ Thị Thao (74 phố Hàng Bạc), phu nhân Luật sư Phan Anh và Dược sĩ Nguyễn Thị Bính. Hai bà từng học trường Đại học Đông Dương rồi sang Pháp tu nghiệp để lấy bằng Dược sĩ hạng nhất.

Luật gia Vũ Đình Hòe, cựu sinh viên ĐH Đông Dương, trong một kỷ niệm về GS Hoàng Xuân Hãn đã kể: “Hai chị Bính và Thao theo khoa Dược, còn chúng tôi theo khoa Luật. Về Y – Dược, sinh viên nữ chỉ có hai chị, nên được bọn sinh viên nam chúng tôi rất “săn sóc”. Tôi nhớ khi hai cô Bính và Thao thi hết khóa, vào vấn đáp thì chúng tôi đứng xúm xít trước cửa phòng thi. Cô Thao, vốn tính rắn rỏi, nên khoan thai bước vào phòng. Còn cô Bính thì rụt rè, ngập ngừng, đưa mắt nhìn chúng tôi, tỏ vẻ muốn khuyên chúng tôi lánh đi nơi khác thì hơn…”.

Năm 1934, đang học trường Cầu đường Paris (École Nationale des Ponts et Chausseés), Hoàng Xuân Hãn về Việt Nam. Bốn tháng sau, anh trở lại Pháp để tiếp tục việc học. Trên chuyến tàu lần này, anh gặp cô Nguyễn Thị Bính, cũng đang trên đường sang Pháp vào học trường Đại học Dược khoa.

Hàng tháng bồng bềnh trên đại dương, qua bao nhiêu xứ sở, mối tình nảy nở giữa chàng sinh viên họ Hoàng (Nghệ Tĩnh) với cô nữ sinh trường Đồng Khánh (Hà Nội), rồi họ trở thành đôi bạn trăm năm. Khi ngoài 80 tuổi, trả lời câu hỏi của đạo diễn Trần Văn Thủy về tình yêu của ông bà, bà Bính rủ rỉ bảo:

“Thuở ấy chúng tôi cùng du học qua Pháp bằng tàu thủy. Tàu đi trên biển được ít ngày thì ông ấy đã để ý tôi rồi. Qua Pháp chúng tôi có lòng với nhau. Tôi biên thư về Hà Nội xin ý kiến của thầy mẹ. Thầy mẹ tôi biên thư bảo tôi hỏi xem anh ấy tuổi gì.

Lúc ấy tôi hỏi: “Anh tuổi gì” thì ông ấy bảo: “Tôi tuổi con vịt”. Thế là tôi cũng biên thư về Hà Nội thưa với thầy mẹ tôi: Anh ấy tuổi con vịt”.

Hai năm sau, Hoàng Xuân Hãn kết hôn với cô Nguyễn Thị Bính. Nhà văn Nguyễn Đức Hiền đã trân trọng đánh giá: “Đôi bạn trí thức “Hoàng – Nguyễn” ấy từ thuở mới yêu nhau đến thuở nên duyên cầm sắt, cho đến mãi mãi về sau này không hề bao giờ có ý tưởng làm giàu nhằm vinh thân phì gia”.

Hiệu thuốc tân dược của bà Bính trên đường Tràng Thi, sát cạnh hiệu thuốc là nhà ông bà Nguyễn Mạnh Hà (Bộ trưởng Bộ Kinh tế của Chính phủ Hồ Chí Minh năm 1945).

Trước cửa hiệu thuốc, bên kia đường là hiệu bán sách Pháp của bác sĩ Phạm Khắc Quảng, một người anh em họ của ông Hãn. Địa điểm này suốt thời kỳ Pháp chiếm đóng, được chọn làm địa điểm liên lạc giữa nhóm “trí thức trùm chăn”.

Đó là nhóm những trí thức yêu nước cương quyết không chịu cộng tác với chính quyền thân Pháp. Trong số đó có GS Hoàng Xuân Hãn, ông Nguyễn Mạnh Hà, Luật sư Vũ Văn Hiền, bác sĩ Trần Văn Lai (nguyên Đốc lý Hà Nội thời Chính phủ Trần Trọng Kim, sau năm 1954, cụ làm Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội…).

Ông Nguyễn Bắc, nguyên Thành ủy viên, Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nội, trong hồi ký của mình kể rằng, thời kỳ hoạt động bí mật, nhiều lần ông đã đến hiệu thuốc bà Bính, chuyển giao thư từ, tài liệu của đồng chí Phạm Văn Đồng tận tay GS Hoàng Xuân Hãn.

Đầu xuân 1951 khi bị chính quyền bù nhìn đe dọa bắt, ông Hãn lánh sang Pháp. Ông lên máy bay một mình với 2 va li con mang theo các tư liệu văn hóa quý giá nhất. Ở lại Hà Nội, bà Bính tiếp tục tạo điều kiện cho tổ chức cách mạng liên lạc với chồng bà cũng như một số trí thức Việt kiều tại Paris.

Khi cuộc chiến đấu tại Điện Biên Phủ đang bước vào giai đoạn giằng co giữa hai bên, Hội nghị Genève bàn về việc lập lại hòa bình ở Triều Tiên và Đông Dương được mở.

Tại Hà Nội, một cuộc vận động kiến nghị đòi hòa bình ở Đông Dương diễn ra. Chỉ trong vòng chưa đầy tuần lễ, hàng trăm thân sĩ, trí thức có tên tuổi ở Hà Nội đã ký vào bản kiến nghị. Văn bản lập tức được gửi đi Paris trao tận tay nhóm GS Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Hà.

Dưới nhan đề “Những nhân sĩ Hà Nội” (Les notabilitíes de Hanoi) hai tờ báo lớn nhất nước Pháp ‘Le Monde” và “L’Humanité” đồng thời đăng trên trang nhất nguyên văn bản kiến nghị kèm tên tuổi chữ ký những người đòi hòa bình dài sắp lượt hai cột báo.

Về sau này, một số người có trách nhiệm mới biết, văn bản sang Paris được suôn sẻ là nhờ bà Nguyễn Thị Bính. Bà đã nhờ một dược sĩ trông coi hiệu thuốc rồi sang Paris mang theo bản kiến nghị đòi hòa bình ở Đông Dương.

Cứu vớt “sách tàn, giấy cũ”

Trong dịp sang Paris, nhà văn Nguyễn Đức Hiền đã đến tư gia của ông bà GS Hoàng Xuân Hãn. Được tiếp xúc với bà Hãn, nhà văn nhận ra ngay đó là bậc phu nhân cao quý, khác xa các bà mệnh phụ đẫy đà. Cốt cách thanh tao kiều diễm. Ngoài tám mươi tuổi, trên khuôn mặt bà vẫn còn giữ lại nhiều nét “thiên phú” một thời xuân sắc!

Trong điều kiện của mình ở xứ người gần nửa thế kỷ nhưng ông bà vẫn giữ quốc tịch Việt Nam. Ông bà đã dành dụm tiền bạc để trợ giúp con cái bạn bè, bà con đồng xứ, đồng hương, những người đang gặp hoạn nạn khốn khó hoặc là học trò nghèo khó, thanh niên cơ nhỡ nhưng có chí tiến thủ hơn người.

Không chỉ vậy, chính những năm tháng tảo tần làm chủ hiệu thuốc, bà Bính đã gom góp từng đồng để chồng tiêu dùng hàng trăm đồng Đông Dương vào những công trình nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.

Bà Bính đã âm thầm chi ra những khoản tiền lớn cho ông tiêu dùng vào các việc tìm kiếm, hoặc chuộc lại, hoặc sao chép, nhặt nhạnh… các di cảo, di bản mà ông Hãn là “nỗ lực cứu vớt những sách tàn giấy cũ”… Trong đó, có một thứ vô cùng quý giá là bảo vật quốc gia: Thư vua Quang Trung gửi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp.

Đó là năm 1938, khi đi thăm những dòng họ quanh vùng, Hoàng Xuân Hãn được gặp ông tộc trưởng hậu duệ của Nguyễn Thiếp lúc này rất nghèo khó. Ông ấy đã cho học giả họ Hoàng xem bức thư của vua Quang Trung được cất trong nhà thờ họ. Thấy tài liệu quý giá mà được bảo quản rất sơ sài, chủ nhà bó lại rồi nhét vào ống tre, thành ra các bức thư sờn rách hết.

Hoàng Xuân Hãn mượn về sao lại rồi đóng hòm sơn son thiếp vàng để các bức thư vào trong. Sau này, những bức thư được GS Hoàng Xuân Hãn chuyển qua bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đưa về giao cho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia bảo quản.

Ngoài ra, nhiều tư liệu quý giá khác được ông đưa vào các công trình nghiên cứu: “Lý Thường Kiệt”; “Chinh phụ ngâm bị khảo”; “Truyện Kiều tầm nguyên”; “Thi văn Việt Nam: Từ đời Trần đến cuối đời Mạc”; “Mai Đình mộng ký”; “”Bích Câu kỳ ngộ”; “Truyện Song Tinh”; “Văn tế thập loại chúng sinh”…

Từ sau năm 1954, tình hình đất nước có chuyển biến, ông bà Hoàng Xuân Hãn không trở về nữa. Ông bà đã làm giấy hiến toàn bộ hiệu thuốc và tài sản cho Chính phủ.

Trong số tài sản này, theo Đại tá – Bác sĩ Lê Khắc Thiền, nguyên Giám đốc Viện Quân y Trung ương, có nhiều hòm sách báo cũ Hán Nôm, nhiều bản cảo bằng giấy dó mà ông Hãn đã nuôi một bác đồ Nho trong nhà sao chép biết bao năm trường.

Qua những việc làm của ông bà Hoàng Xuân Hãn, nhà văn Nguyễn Đức Hiền bình luận: “Nếu thiếu người bạn đời tâm đắc, đảm đang, thiếu người cộng sự dịu dàng có trái tim vàng với đôi bàn tay ngọc như Nguyễn Thị Bính, làm sao Hoàng Xuân Hãn có thể một mình bơi chải trong biển sâu cổ học để phát hiện, sưu tầm, bảo tồn những hạt châu văn hóa, để thực hiện hoài bão nối gót các bậc phu tử (hiền triết)?”.

Còn Bác sĩ Lê Khắc Thiền cũng bày tỏ: “Ngày nay nhiều người đều biết rằng nhờ hằng tâm và ý thức cao cả của ông bà Hãn, nhiều di sản văn hóa dân tộc vô giá mới được cứu thoát khỏi bom đạn chiến tranh cùng lửa thiêu mù quáng”.

“Nghệ Tĩnh tứ kiệt”

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn (1908 – 1996) là một trong những học giả hàng đầu của Việt Nam. Ông sinh tại làng Yên Hồ, huyện La Sơn (nay là huyện Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh. Đương thời, ông được vinh danh là “Nghệ Tĩnh tứ kiệt” (Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Cao Xuân Huy, Đặng Thai Mai).

Hoàng Xuân Hãn có bằng cử nhân toán 1935 và thạc sĩ toán 1936 tại khoa Toán trường Đại học Sorbonne (Licence des Sciences mathématiques Sorbonne). Năm 1945, ông tham gia Chính phủ Trần Trọng Kim và giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục Mỹ thuật. Ông là người soạn thảo và ban hành Chương trình Trung học Việt Nam đầu tiên (thường gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn).

Hoàng Xuân Hãn là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu lịch sử, văn hóa, ngữ văn nổi tiếng: “Lý Thường Kiệt”; “La Sơn Phu tử”; “Lịch sử và Lịch Việt Nam” (cụm công trình này đã được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học & Công nghệ năm 2000).

Tháng 8 năm 2011, tên của GS Hoàng Xuân Hãn đã được Trường Cầu đường Paris đặt cho một giảng đường đại học. Trước đó, nhân kỷ niệm 100 năm truyền thống, Trường Cầu đường Paris đã vinh danh GS Hoàng Xuân Hãn là một trong 100 sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của trường./-

Kiều Mai Sơn

Image may contain: 1 person

Khi nợ nước ngoài của Việt Nam đến ngưỡng tối đa…

Theo số liệu Ủy ban Tài chính Ngân sách công bố vào cuối tháng 10 năm 2018, số tuyệt đối về nợ công vẫn tiếp tục tăng: nợ công năm 2017 là 3,13 triệu tỷ đồng; năm 2018 ước tính khoảng 3,41 triệu tỷ đồng, tăng hơn 280 ngàn tỷ đồng.

About this website

RFA.ORG
Nợ nước ngoài của quốc gia sắp chạm trần sẽ làm Việt Nam đối mặt những khó khăn gì, trong khi vẫn đang căng thẳng với tình hình nợ công?

Việt Nam dùng luật để khống chế xã hội dân sự

Cô Carol Nguyễn, Điều phối viên chương trình của Tổ chức BPSOS, một trong những tổ chức giúp Freedom Now, là một trong các diễn giả của buổi công bố báo cáo, hôm 16 tháng 11 nói rằng:

“Bất chấp những chỉ trích từ quốc tế này, Việt Nam tiếp tục gia tăng đàn áp tôn giáo với Luật tín ngưỡng, tôn giáo được sửa đổi và có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 nhằm gia tăng sự kiểm soát của Chính phủ lên các nhóm tôn giáo và dùng luật này để trừng mạnh mạnh tay những người mà họ cho là vi phạm luật tín ngưỡng. “

About this website

RFA.ORG
Hôm 16/11/2018, tổ chức Freedom Now công bố báo cáo về tình trạng chính quyền Việt Nam sử dụng luật như một vũ khí để khống chế, đàn áp Xã hội Dân sự.

Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên vừa được Đức thánh cha Phanxico bổ nhiệm làm tổng giám mục Hà Nội

Image may contain: 1 person, smiling

Pham Quang Long   

 

Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên, 58 tuổi, từ Hải Phòng, vừa được Đức thánh cha Phanxico bổ nhiệm làm tổng giám mục Hà Nội, theo thông báo của Phòng báo chí Toà thánh trưa nay thứ Bảy ngày 17/11/2018 giờ Roma.

Thông báo của TGP Hà Nội cho hay Đức tân Tổng Giám mục Giuse sẽ nhậm chức ngày 18/12/2018.

Blogger Mẹ Nấm chia sẻ tâm tư với BBC Tiếng Việt.

“Tụi em cũng được dạy là cái tự do kiểu Mỹ đó nó sẽ gây ra sự xáo trộn trong xã hội và xã hội nó không có một trật tự nào hết. Đó là tự do mà bên công an rồi bên giáo dục người ta nói. …

Nhưng mà khi em qua đây em thấy nước Mỹ họ rất có thứ tự, họ cắt giảm chi phí rất nhiều, họ tiết kiệm các cái thủ tục làm nhân công [đi xin việc]. Rồi cái xã hội tự do của họ đâu vô đó, và đặc biệt khi họ ra luật lệ thì cái người được thụ hưởng quyền lợi đó là người dân. Ở nước Mỹ luật lệ của họ đặt quyền lợi của người dân lên hàng đầu. Xã hội của người ta ý thức được quyền con người nhiều hơn,”

Blogger Mẹ Nấm chia sẻ tâm tư với BBC Tiếng Việt.

About this website

 

BBC.COM
Blogger Mẹ Nấm kể về sự hoà nhập vào xã hội Mỹ, cuộc vận động ở thủ đô Hoa Kỳ và nỗi nhớ ‘ruộng lúa xanh Việt Nam’.