In tiền hàng loạt để thua gom ngoại tệ USD và vàng từ trong dân… để rồi tiền Hồ như tờ giấy lộn gói xôi?!!!
**********
Ngân hàng nhà nước Việt Nam tiếp tục đưa ra thị trường 113,000 tỷ đồng
Tin Sài Gòn, Việt Nam – Chưa đầy 2 tháng nay, ngân hàng nhà nước cộng sản đã liên tục đưa ra thị trường hơn 113,000 tỷ đồng; trong đó chỉ tính riêng từ ngày 19 đến 23/11/2018, ngân hàng nhà nước đã đưa ra thị trường 5,089 tỷ đồng.
Ngày 27/11/2018, báo Trithucvn đã loan tin, theo báo cáo của Công ty chứng khoán Sài Gòn, trên kênh tín phiếu ghi nhận 2 tuần qua liên tục không phát sinh giao dịch, nhưng ngân hàng nhà nước vẫn tung ra thị trường 5,089 tỷ đồng. Đây là tuần thứ 3 liên tiếp trong tháng 11 ngân hàng nhà nước đưa ra thị trường khối lượng tiền lớn, với tổng số tiền hơn 31,000 tỷ đồng. Còn tính từ đầu tháng 10/2018 đến nay, tổng số tiền được đưa ra hơn 113,000 tỷ đồng, tương đương với 4,8 tỷ Mỹ Kim.
Về lãi suất, Việt Nam đồng trên thị trường liên ngân hàng đã tăng liên tục trong tuần qua, trước khi giảm giá mạnh vào ngày giao dịch cuối tuần.
Việc liên tục đưa một khối lượng tiền lớn ra thị trường của ngân hàng nhà nước cộng sản là để đánh lừa lòng tin của người dân về tương lai, và để cho người dân cảm thấy họ có nhiều tiền hơn để chi tiêu trước bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang bị thâm hụt mạnh, nguồn thu ngân sách không đủ để chi.
Mặt khác, tại Việt Nam ngân hàng nhà nước là đơn vị làm chủ nhà máy in tiền quốc gia, nên ngân hàng nhà nước có thể in và đưa ra thị trường số lượng tiền tuỳ thích mà không
– Khi con bạn bị 231 cái tát, “phản động” lên tiếng để đòi công lý cho con bạn.
– Khi Formosa đầu độc biển, “phản động” kêu gào để nạn nhân được bồi thường.
– Khi đất Thủ Thiêm bị cướp, “phản động” tố cáo để tiếng nói của dân oan được lắng nghe.
– Khi tài xế bị BOT bóc lột, “phản động” đồng hành và ủng hộ.
– Khi nhà trường lạm thu, “phản động” lên tiếng để bênh vực phụ huynh và học sinh.
– Khi con bạn bị buộc uống nước giặt dẻ lau bảng, “phản động” la hét để kẻ vô lương phải trả giá.
– Khi giá xăng tăng vô lý, “phản động” tố cáo để bảo vệ quyền lợi cho chính bạn.
– Khi tướng tá công an bảo kê đường dây đánh bạc, làm tan nát bao gia đình, “phản động” lên tiếng đòi công lý được thể hiện.
– Khi CSGT mãi lộ, “phản động” share tin tức để sự thật được phơi bày.
– Khi Quốc Hội định thông qua Luật Đặc khu, “phản động” la hét để bảo vệ chủ quyền tổ quốc.
Khi… khi… và rất nhiều khi khác nữa…
NHƯNG
Khi “phản động” bị bắt, giam tù, hành hạ vì đã “phản động”, mọi người im lặng và xa lánh.
Chỉ có số “phản động” còn lại tiếp tục đấu tranh cho số “phản động” đang ở tù!
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Quá chậm trễ trong việc thanh toán số nợ $100 triệu, nhà thầu Nhật dọa nếu đến cuối Tháng Mười Hai, 2018, không được giải quyết sẽ ngừng thi công tuyến metro số 1.
Truyền thông Việt Nam từ mấy ngày nay đề cập tới một bức thư của Đại Sứ Nhật Bản Umeda Kunio gửi cả chính quyền thành phố Sài Gòn lẫn nhà cầm quyền CSVN cảnh cáo “Áp lực lên các nhà thầu Nhật Bản đã đến mức giới hạn,” nên tuyến metro số 1 của…
Ước muốn cuối cùng của một tử tù sắp ra pháp trường
Một tử tù đang chờ thi hành án, anh cầu xin một điều ước cuối cùng là một cây bút chì và một tờ giấy. Sau khi viết cho một vài phút, anh nhờ nhân viên bảo vệ nhà tù gửi giúp bức thư này cho người mẹ ruột của mình.
Trong thư anh viết …
Mẹ, nếu có công lý trong thế giới này, con và mẹ nên bị kết án từ hình cùng nhau. Mẹ cũng có tội cũng như con vì những gì con đã làm.
Mẹ hãy nhớ lại đi, khi con ăn cắp chiếc xe đạp của thằng bé gần nhà. Mẹ đã giúp con giấu chiếc xe đạp đó đi để bố không nhìn thấy nó.
Mẹ có nhớ lần con lấy trộm tiền từ ví của người hàng xóm không? Mẹ đã đi siêu thị mua sắm cùng với con.
Mẹ có nhớ ai đã bênh vực con khi con cãi lại bố đến nỗi bố phải bỏ đi không? Bố chỉ muốn sửa dạy con vì con đã gian lận trong bài thi và cuối cũng là con phải bị đuổi học.
Mẹ ơi, lúc đó con chỉ là một đứa trẻ, không lâu sau con đã trở thành một thiếu niên hư nghịch và bây giờ con đang là một tử tù chờ thi hành án.
Mẹ ơi, lúc đó con chỉ là một đứa trẻ con cần được bao biện, nhưng cái thực sự con cần là được sửa trị.
Nhưng thôi, con tha thứ cho mẹ! Con chỉ muốn viết thư này để nó có thể đến được nhiều người khác đang làm cha làm mẹ, với hi vọng rằng, họ có thể nhận ra điều tạo nên người tốt kẻ xấu trên thế giới này là sự giáo dục.
Cảm ơn mẹ đã cho con cuộc sống và cũng đã giúp con đánh mất nó.
Đứa con tử tù của mẹ.
“Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà bạn có thể sử dụng để thay đổi thế giới.”
Tôi sinh ra và lớn lên ở nông thôn miền Trung. Trong điều kiện còn chiến tranh, khó khăn nhiều mặt, một học sinh nông thôn miền Trung mà được học hết bậc Tú tài và vào được Sài Gòn để vừa đi làm vừa học đại học là rất may mắn.
Ở Sài Gòn vài tháng, tôi lại gặp một cái may định mệnh là ngẫu nhiên đọc được thông báo của Đại sứ quán Nhật về việc tuyển sinh du học với học bổng của Chính phủ Nhật Bản. Cuộc đời tôi đã sang một bước ngoặt lớn, một may mắn mà tôi chưa bao giờ mơ tới.
Tháng 4 năm 1968, tôi sang Nhật du học. Lúc đó tôi dự định học xong đại học hay nhiều lắm là xong bậc tiến sĩ sẽ về nước với hy vọng đất nước khi ấy đã hết chiến tranh, mọi người nỗ lực góp phần vào việc phục hưng xứ sở. Nhưng rồi thời thế đưa đẩy, tôi đã ở lại Nhật Bản cho đến ngày nay.
Dù không phải là con đường đã chọn ban đầu nhưng nơi đến cũng mở ra nhiều cơ hội. Là người Việt, tôi yêu quý Việt Nam, nay lại có thêm một đất nước để yêu mến. Người bạn đời của tôi cũng yêu mến Nhật Bản, yêu thích văn học Nhật Bản, đã và đang dịch nhiều tiểu thuyết, truyện ký Nhật Bản sang tiếng Việt.
Khi ra đi tôi chưa đầy 19 tuổi. Chiến tranh và điều kiện kinh tế không cho phép nên tôi chỉ quanh quẩn trong phạm vi nhỏ hẹp ở làng xóm, trường học. Vào Sài Gòn cũng không đi đâu xa, chỉ quanh quẩn ở nơi trọ, nơi làm việc và đại học. Trong hoàn cảnh bận rộn đó, ý thức về Việt Nam rất ít. Nhưng khi rời xa quê hương, tự nhiên tôi nhớ và suy nghĩ nhiều về đất nước.
Ngoài lòng tự hào dân tộc về một nước Việt có nền văn hóa thống nhất, lịch sử nhiều ngàn năm dựng và giữ nước, điều khắc sâu vào tâm tư tôi là quê hương mình nghèo quá. Tôi biết nhiều nhạc khúc ca tụng đồng quê nhưng cũng nói lên cuộc sống nghèo khó như “Nắng lên xóm nghèo”, “Quê nghèo”, “Tình nghèo”… Tôi mong chiến tranh chấm dứt nhanh, Việt Nam phải bước sang giai đoạn thoát nghèo và phát triển.
Tôi sang Nhật du học tháng 4 năm 1968. Lúc đó Nhật Bản kỷ niệm 100 năm Minh trị Duy tân và đang trong thời kỳ phát triển ngoạn mục, năm ấy cũng đánh dấu mốc Nhật vượt Tây Đức trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Sự kiện này làm tôi quan tâm, muốn học về kinh nghiệm phát triển của Nhật.
Tôi đã học về kinh tế, nhất là kinh tế phát triển tại Nhật Bản và thấy đó là điều rất ý nghĩa. Nhật Bản là nước đi sau trong trong dòng thác công nghiệp của thế giới, đã tích cực du nhập công nghệ, luật lệ, tổ chức hành chính, tri thức quản lý từ các nước tiên tiến Âu, Mỹ và đã thành công trong việc đuổi kịp các nước đi trước. Có rất nhiều nghiên cứu về sự thành công của Nhật, riêng tôi đã thử tìm một nguyên nhân tổng hợp nhất để có thể tham khảo được cho các nước đi sau Nhật. Tôi tìm ra một từ khóa để chỉ nguyên nhân đó: Năng lực xã hội.
Đó là năng lực và tố chất của những nhân tố cấu thành xã hội, cụ thể là chính trị gia, quan chức, lãnh đạo kinh doanh, trí thức và tầng lớp lao động. Mỗi nhân tố cấu thành phải có những tố chất nào để thúc đẩy kinh tế phát triển? Dĩ nhiên tố chất quan trọng của chính trị gia là năng lực lãnh đạo, của quan chức là năng lực quản lý hành chính, của giới kinh doanh là tinh thần doanh nghiệp. Nhưng trong trường hợp Nhật Bản, không phải chỉ có các tố chất đó.
Tôi nghiệm thấy rằng tố chất chung nhất của chính trị gia, của quan chức, của nhà kinh doanh Nhật Bản là lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc và phải là những người có văn hóa, có giáo dưỡng. Đặc biệt trong thời đại Minh Trị và thời kỳ phục hưng và phát triển hậu chiến, những tố chất đó biểu hiện mạnh mẽ nhất.
Tôi chỉ xin đơn cử trường hợp nhà kinh doanh. Thông thường thì nhà kinh doanh phát huy tinh thần doanh nghiệp để mưu tìm lợi nhuận chân chính. Tinh thần doanh nghiệp – entrepreneurship – thường được định nghĩa là tinh thần mạo hiểm và năng lực cách tân công nghệ, tích cực khám phá thị trường, ứng dụng công nghệ để làm ra các sản phẩm và dịch vụ cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Nhưng những nhà kinh doanh tiêu biểu của Nhật không phải chỉ có thế. Hầu hết những nhà sáng lập những công ty tiêu biểu của họ hiện nay đều xuất phát từ lòng yêu nước, từ trách nhiệm xã hội.
Lấy trường hợp Sony, một trong những công ty đại biểu của Nhật ngày nay. Trong buổi lễ thành lập công ty vào năm 1946, bài diễn văn của Ibuka Masaru, người đồng sáng lập công ty, đã gây xúc động lòng người. Ông nói: “Ta phải nỗ lực đem công nghệ góp phần vào việc phục hưng tổ quốc của chúng ta”. Giữa cảnh hoang tàn đổ nát một năm sau chiến tranh, thái độ của những người có trách nhiệm trong xã hội đã gây phấn chấn và kích thích mọi người hăng hái tham gia vào việc phục hưng đất nước.
Với năng lực xã hội như thế, Nhật Bản đã theo kịp các nước Âu Mỹ. Thật ra thời trước Thế chiến thứ hai, Nhật đã theo kịp Tây phương trong một số ngành, lĩnh vực, nhưng phải đợi đến thập niên 1960, 1970, bằng một giai đoạn phát triển cao độ, Nhật Bản mới hoàn toàn theo kịp Âu Mỹ. Giai đoạn phát triển cao độ này, bắt đầu giữa thập niên 1950 – mỗi năm phát triển trung bình 10% và kéo dài tới 18 năm – đã đưa nước Nhật thành một cường quốc kinh tế. Nhiều người nói đó là giai đoạn phát triển thần kỳ, có nhà nghiên cứu đã nói “6.000 ngày làm thay đổi nước Nhật”.
Gần đây tôi khám phá ra một điểm mà tôi thấy thú vị là kinh tế Việt Nam hiện nay rất giống với đêm trước của thời đại phát triển thần kỳ của Nhật Bản. Giữa thập niên 1950, dân số Nhật cũng khoảng 90 triệu, cơ cấu kinh tế về sản xuất, xuất khẩu cũng như sự phân bổ lao động rất giống Việt Nam ngày nay. Nhưng từ sau đổi mới, Việt Nam tăng trưởng trung bình 6,5% mỗi năm và chưa có giai đoạn phát triển cao độ. Tôi rất mong Việt Nam sớm muộn cũng sẽ có một thời đại như Nhật Bản.
Thời trung học tôi đọc nhiều tiểu thuyết trong Tự lực văn đoàn. Trong một truyện dài, Nhất Linh đã để cho nhân vật chính của mình nói về lòng yêu nước mà tôi thấy rất thích hợp trong giai đoạn chưa phát triển của Việt Nam: “Biểu hiện cho đất nước không phải là những bậc vua chúa hay danh nhân mà là đám dân thường không tên không tuổi. Dân là nước, yêu nước là yêu chung đám thường dân, nghĩ đến sự đau khổ của đám thường dân”.
Cho đến bây giờ, tôi vẫn thấy đây là định nghĩa về lòng yêu nước rất đúng đắn.
Trần Văn Thọ (Bài viết trích từ Diễn từ của Giáo sư Trần Văn Thọ tại Lễ nhận huân chương Thụy bảo Tia vàng của Thiên hoàng Nhật Bản, ngày 15/8/2018)
Học giả quốc tế lên án Trung Quốc về các trại cải tạo ở Tân Cương
Mai Vân
27-11-2018
Trung Quốc tăng cường an ninh ngăn chận phóng viên quốc tế tại thủ phủ Tân Cương, Urumqi. Ảnh ngày 27/11/2018. Reuters
Các nước trên thế giới phải trừng phạt Trung Quốc về tội giam cầm cả triệu người Hồi Giáo Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương. Hàng trăm học giả trên thế giới ngày 26/11/2018, đã cảnh cáo rằng nếu không làm gì, cộng đồng quốc tế sẽ mặc nhiên cho thấy là họ chấp nhận hành vi « tra tấn tâm lý thường dân vô tội ».
Trong một cuộc họp báo tại Washington, đại diện của một nhóm gồm 278 học giả trong nhiều ngành khác nhau, đến từ hàng chục quốc gia trên thế giới, đã lên tiếng yêu cầu Trung Quốc bãi bỏ các chính sách cầm cố người Duy Ngô Nhĩ. Các học giả đồng thời kêu gọi quốc tế ban hành lệnh trừng phạt nhắm vào các lãnh đạo Trung Quốc và các công ty an ninh dính líu đến chính sách đàn áp này.
Trong những tháng gần đây, Bắc Kinh đã bị chỉ trích dữ dội về việc giam giữ hàng loạt và giám sát chặt chẽ người thiểu số Hồi Giáo Duy Ngô Nhĩ và các nhóm sắc tộc khác ở vùng Tân Cương, miền tây Trung Quốc.
Vào tháng 8, một tiểu ban nhân quyền của Liên Hiệp Quốc cho biết đã nhận được nhiều báo cáo đáng tin cậy theo đó một triệu (hoặc nhiều hơn nữa) người Duy Ngô Nhĩ và các dân tộc thiểu số khác đang bị giam giữ trong các trại giống như một « trại giam khổng lồ được bí mật che giấu » trong khu vực.
Trong bản thông cáo công bố hôm 26/11/2018, nhóm gần 300 học giả quốc tế nói trên cho rằng : « Tình trạng đó phải được xem xét giải quyết để khỏi tạo ra tiền lệ xấu về việc chấp nhận hành vi đàn áp của một nhà nước nhắm vào một bộ phận cư dân của mình, đặc biệt là trên cơ sở dân tộc hay tôn giáo ».
Thông cáo cũng yêu cầu các quốc gia đẩy nhanh tốc độ xét đơn xin tị nạn đến từ cộng đồng các sắc dân thiểu số Hồi Giáo của Tân Cương, cũng như « thúc đẩy một phong trào hành động của Liên Hiệp Quốc nhằm điều tra hệ thống giam giữ hàng loạt đó, tiến tới việc đóng cửa các trại » được Trung Quốc lập ra.
Bắc Kinh luôn bác bỏ những lời chỉ trích về hành động của họ ở Tân Cương, nói rằng Trung Quốc bảo vệ tôn giáo và văn hóa thiểu số, và các biện pháp an ninh được đề ra là điều cần thiết để chống lại ảnh hưởng của các nhóm « cực đoan » kích động bạo lực ở Tân Cương.
Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã cho rằng thế giới không nên tin vào những lời đồn nhảm về Tân Cương và phải tin vào chính quyền Bắc Kinh.
Tuy nhiên, theo hãng tin Anh Reuters, sau khi chối cãi lúc ban đầu là không hề có các trại giam, các quan chức Trung Quốc đã đổi giọng, thừa nhận rằng đã có một số người phạm vào những tội nhẹ được gửi đến các trung tâm « dạy nghề », nơi họ được dạy kỹ năng làm việc và kiến thức pháp lý nhằm hạn chế các tư tưởng cực đoan.
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng vào ngày 27/11/2018 lại lên tiếng khẳng định rằng chính sách Tân Cương của Trung Quốc bắt nguồn hoàn toàn từ nhu cầu chống khủng bố, và Bắc Kinh phản đối « bất kỳ thế lực nước ngoài nào đang cố gắng can thiệp vào các vấn đề Tân Cương và chính trị nội bộ của Trung Quốc ».
Trả lời báo chí, Michael Clarke, một chuyên gia về Tân Cương tại Đại Học Quốc Gia Úc ANU, một người đã ký tên vào bản thông cáo vừa được công bố, đã cho rằng Bắc Kinh đang tìm kiếm một sự tôn trọng quốc tế tương xứng với trọng lượng của Trung Quốc trong các vấn đề toàn cầu, do đó : « Cộng đồng quốc tế cần chứng minh với Bắc Kinh rằng họ sẽ không thực sự có được điều đó khi vẫn đàn áp một bộ phận đáng kể công dân của mình».
Các nước trên thế giới phải trừng phạt Trung Quốc về tội giam cầm cả triệu người Hồi Giáo Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương. Hàng trăm học giả trên thế giới ngày 26/11/2018, đã cảnh cáo rằng…
– Xót xa/Thảm thương cho kiến thức và trình độ các nhà quy hoạch của thành Hồ !!!
– Thật đau lòng !!!
* * *
Địa chất Sài Gòn bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt. Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: đất xám. Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4% diện tích thành phố, đất xám ở Sài Gòn có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley.
Trầm tích Holocen ở Sài Gòn có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi… hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.500 ha. Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là “giồng” cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò.
Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai – Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng.
Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km². Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố.
Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m. Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng.
Một con sông nữa của Sài Gòn là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái. Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn.
Ngoài các con sông chính, Sài Gòn còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi…
Hệ thống sông, kênh rạch giúp Sài Gòn trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành.
Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía bắc Sài Gòn có được lượng nước ngầm khá phong phú. Nhưng về phía nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170–200 m (tầng trầm tích Miocen).
Tại Quận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng.
Địa hình Saigon thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Vùng cao nằm ở phía bắc – Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét. Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9. Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía nam – Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét. Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét.
Suốt thời Pháp thuộc, các nhà quy hoạch Pháp đều loại bỏ hướng phát triển Sài Gòn về phía Đông, Nam hoặc Tây Nam là các vùng đất trũng thấp, làm nền móng rất tốn kém. Sài Gòn thời cũ sở dĩ không ngập úng là nhờ có các vùng đất trũng thấp này hứng nước.
Hướng phát triển tự nhiên của Sài Gòn được xác định là hướng Bắc cao ráo. Tuy vậy, trước yêu cầu mở rộng Sài Gòn, bán đảo Thủ Thiêm nằm sát bên hông Sài Gòn luôn được nhắm tới. Người Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngay vào giữa những năm 1950 đã dồn sức vào việc xây dựng tuyến đường có lẽ vào hàng hiện đại nhất Đông Nam Á thời đó. Xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa dài 30km.
Do đó, các nhà quy hoạch đã xác định hướng phát triển chính của thành phố là lên phía Bắc, đất đai cao ráo và mở ra miền Đông Nam Bộ đầy tiềm năng công nghiệp. Ý đồ này đã được sự tán đồng của nhóm quy hoạch đô thị quốc tế Doxiadis.
Từ giữa thập niên 60, chính phủ Hoa Kỳ thông qua Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID đã hỗ trợ kỹ thuật cho phía miền Nam Việt Nam về quy hoạch đô thị. Kể từ thời gian này, rất nhiều các đồ án quy hoạch và nghiên cứu về đô thị quy mô và có chất lượng tại miền Nam được thực hiện.
Điển hình là hai đồ án quy hoạch do hai công ty rất có tên tuổi trên thế giới lúc đó thực hiện: Quy hoạch chung thành phố Sài Gòn do công ty Doxiadis Associates – Consultants on Development and Ekistics (Hy Lạp) lập năm 1965 và Quy hoạch phát triển Thủ Thiêm do công ty Wurster, Bernardi and Emmons (Hoa Kỳ) chủ trì lập năm 1972 thực hiện.
Bên cạnh đó, Frank Pavick và James Bogle lần lượt thực hiện những báo cáo chi tiết về hoạt động quy hoạch đô thị ở miền Nam và những vấn đề của thành phố Sài Gòn. Cũng tác giả Frank Pavich sau đó còn thực hiện Khảo sát sử dụng đất tại Vùng đô thị Sài Gòn cho Tổng Nha Kiến thiết và Thiết kế Đô thị. Các đồ án quy hoạch nêu trên mặc dù nghiên cứu rất kỹ lưỡng không chỉ về kiến trúc, khí hậu, đất đai mà còn cả nhu cầu giao thông giữa các khu vực và kinh tế/tài chính.
Các hồ sơ quy hoạch thường kết thúc với phần đưa ra giải pháp triển khai, tài chính dự án và cả đề xuất rất cụ thể về chính sách cũng như luôn kèm theo thiết kế chi tiết một dự án thí điểm. Quy hoạch chính yếu vẫn theo nguyên tắc được thuyết trình là:
– “… Đà phát-triển trong quá khứ, từ thành-phố cổ, thường hướng theo phía Bắc dọc theo những giải phù sa cổ. Kế-hoạch phát-triển tương lai cũng sẽ theo đường hướng nầy, và bất cứ một kế-hoạch thực-tế nào nhắm hướng dẫn sự phát-triển Thủ đô Sàigon cũng phải nhận thức ro những yếu-tố nầy, …”.
Trích “Đề xuất về hướng phát triển cho Sài Gòn trong Đồ án Quy hoạch bán đảo Thủ Thiêm năm 1972”.
Và cuối cùng, sau 1975, với những đầu óc kiệt xuất, hướng phát triển Sài Gòn về phía nam, khu vùng trũng và đầm lầy, đi ngược lại với vị trí địa lý của vùng đất này mà người Pháp và Mỹ cùng chính quyền VNCH đã loại bỏ quy hoạch đô thị.
Trong báo cáo quy hoạch phát triển Saigon 2020- 2025 xác định hướng nam, tiến ra biển đông nêu rõ: ” … Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội Saigon đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025, Thành phố sẽ phát triển với hai hướng chính là hướng đông và hướng nam ra biển.
Theo Quyết định của Chính Phủ, Sài Gòn được phát triển theo mô hình tập trung – đa cực, khu vực trung tâm là khu vực nội thành với bán kính 15 km và 4 cực phát triển. Cụ thể, phát triển thành phố theo hướng đa tâm với trung tâm tổng hợp tại khu vực trung tâm hiện hữu gồm Quận 1, Quận 3, một phần Quận 4, quận Bình Thạnh (930 ha) và khu đô thị mới Thủ Thiêm (737 ha); bốn trung tâm cấp thành phố tại bốn hướng phát triển.
Bên cạnh đó, phát triển thành phố với hai hướng chính là: hướng Đông và hướng Nam ra biển và hai hướng phụ là: hướng Tây – Bắc và hướng Tây, Tây – Nam. Việc hình thành cơ sở hạ tầng các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu đô thị mới hiện đại, cảng biển và kinh doanh vận tải biển, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển Saigon về phía Nam tiến ra Biển Đông, …”.
Rõ ràng, từ hướng phát triển trọng yếu của Sài Gòn là Bắc-Tây Bắc-Đông Bắc từ thời Pháp – Mỹ – VNCH đã trở thành hướng phát triển phụ.
Đổi lại những Phú Mỹ Hưng nhào nhoáng, những cao ốc dọc theo đường về Nhà Bè … thì bây giờ Saigon không ngập mới là chuyện lạ.
*
Bây giờ đường phố, nhà cửa Sài Gòn nước ngập thường xuyên, ngày 26/8/2016, báo chí đưa tin Sài Gòn ngập toàn thành phố, … Ngấm ngầm một nỗi buồn xót xa, cay đắng!
Thảm thương cho kiến thức và trình độ các nhà quy hoạch của thành Hồ !!!
(Bài viết được tổng hợp từ nhiều nguồn có giá trị chính và đáng tin cậy).
Ảnh 1: Quận 1, Quận 2, Quận 4, phía xa là Quận 7.
Ảnh 2: Các khu vực ngập phải kiểm soát. Ảnh: TTCN
Ảnh 3: Cơn mưa chiều 26/8/2016, nước ngập đường băng sân bay Tân Sơn Nhất, nhiều chuyến bay không thể cất cánh và hạ cánh được.
Ảnh 4: Khu trung tâm Sài Gòn thời thuộc Pháp: đường chạy dọc bên trái ảnh là đường Hai Bà Trưng hiện nay; đường bên phải là đường Phạm Ngọc Thạch (dưới), Đồng Khởi (trên); đường ngang giữa ảnh là đường Lê Duẩn… đều nằm trong tổng thể ngang – đông nam, dọc – tây bắc của thành Gia Định. Nhà thờ Đức Bà nằm trong khuôn viên xưởng chế tạo (súng đạn – xưởng thợ) – Ảnh tư liệu.
Đừng “lăn tăn” với cái chức quèn trong tòa báo quốc doanh!
Thân mến gửi các bạn đồng nghiệp trẻ báo Thanh Niên mới bị thôi chức do chưa phải là đảng viên.
Tôi tên là Nguyễn Đình Ấm, trú tại quân Long Biên Hà Nội có hơn 30 năm làm báo quốc doanh hiện đã nghỉ hưu, làm báo tự do. Nay xin có mấy lời tâm sự với các bạn đồng nghiệp trẻ mới bị thôi chức do không phải là đảng viên.
Các bạn đồng nghiệp quý mến!
Nghề báo cũng là một nghề với mục tiêu “cơm, áo, gạo tiền” nhưng có khác là các bạn kiếm tiền bằng cầm bút mà đạo đức cao cả nhất của người cầm bút là sự trung thực, hết lòng với chân lý, đồng loại. Người cầm bút có thể nghèo nhưng nếu làm giàu bằng sự gian dối, thủ đoạn, luồn lọt, vụ lợi, làm ngơ trước những oan trái, đau khổ của nhân dân thì chỉ là kẻ lưu manh hèn hạ sẽ bị phỉ nhổ gấp nghìn lần những người làm nghề khác.
Đối chiếu với những “tiêu chí” trên với việc các bạn bị mất chức do không phải là đảng viên thì như thế nào?
– Thứ nhất: Nếu ở trong hàng ngũ đảng CS thì bạn phải tuân thủ mọi quan điểm đường lối của đảng. Từ đây phẩm chất của bạn như trung thực, trọng chân lý, vì lợi ích của đồng loại, đất nước… phải hoàn toàn phụ thuộc vào ý đồ, việc làm của đảng mà hiện thân thường là những cá nhân cán bộ, đảng viên. Nếu đảng đúng, tốt thì bạn được trung thực, làm được việc có lợi cho dân, cho nước, ngược lại nếu đảng, cán bộ sai, tham nhũng, thối nát thì bạn cũng là tội đồ. Ví dụ vụ Thủ Thiêm diễn ra ngay giữa TPHCM, hàng nghìn, vạn người oan sai lang thang kiện cáo suốt 20 năm trời ở Sài Gòn, Hà Nội các báo đều biết nhưng không báo nào dám đăng đến nơi, đến chốn do các lãnh đạo báo chí phải tuân thủ ý chí của cán bộ, lãnh đạo đảng ở TPHCM, trung ương. Rất nhiều bài báo đăng nội dung chính xác, đúng sự thật nhưng chỉ ít giờ phải gỡ bỏ vì trái ý cán bộ, cấp trên… Có vô vàn ví dụ về điều này. Chắc các bạn còn thuộc chuyên đề nghiệp vụ quan trọng học ở học viện báo chí: “Tính chân thật của báo chí cách mạng” mà nội dung chính là: Sự kiện, sự việc có thật nhưng không phù hợp (trái) đường lối của đảng thì cũng không phải là sự thật”.
Từ đây suy ra: Các bạn làm cán bộ thì có hai được, một mất:
– Được: Có quyền hơn trong việc phán xét, sử dụng bài vở công việc trong tòa soạn đồng thời lương cao, lộc nhiều hơn phóng viên.
– Mất: Phải tuyệt đối làm theo ý của cán bộ đảng, chi bộ, đảng bộ, lãnh đạo tờ báo (đại diện cho đảng ở đây).
Nếu bạn “phấn đấu” vào đảng, rồi luồn lọt lên càng cao dần đến tổng biên tập (TBT) thì cái được và mất của các bạn cũng tăng cao. Với các TBT thì đảng càng nghiêm khắc, nếu báo đăng nội dung không sai dù có lợi chung lưng ngoài chủ trương của lãnh đạo thì TBT sẽ bị sa thải ngay hoặc tế nhị hơn bằng cách “ đảng phân công làm việc khác”, dù uất ức nhưng không thể cãi. Ngay ở tờ Thanh Niên đã bao lần TBT được đảng điều động theo kiểu ấy rồi.
Làm báo quốc doanh là như con chó ấy (Lời nhà báo Nguyễn Như Phong)
Tóm lại, làm nghề báo quốc doanh hiện nay bạn phải chọn giữa hai thứ:
– Là đảng viên làm cán bộ để công việc nhàn hạ hơn, có quyền hơn, lương cao, lộc hậu hơn nhưng phải làm, viết đăng tin, bài đúng ý muốn của cán bộ đảng dù đúng, sai, lợi, hại, phải làm ngơ trước những sự thật cán bộ đảng không muốn công khai. Như thế hoạt động của bạn chỉ đơn thuần vì miếng cơm, manh áo mà ít có lợi gì cho xã hội, nhân dân, tổ quốc. Đó không phải là lý tưởng của người cầm bút chân chính.
– Không phải đảng viên, chỉ là phóng viên làm việc vất vả hơn, thu nhập kém hơn nhưng độc lập hơn trong công việc, viết đúng theo sự thật những gì lương tâm kêu gọi, thấy mang lại lợi ích cho tổ quốc, nhân dân, làm cho cuộc đời mình có giá trị hơn.
Nếu bạn xác định cuộc đời mình phải có cái riêng, phải lấy lợi ích của đất nước, dân tộc, nhân dân và gia đình lên trên hết để phụng sự, làm cho cuộc đời mình có giá trị nhất định thì bạn không phải “lăn tăn” gì khi không được làm cán bộ khi không phải là đảng viên.
Tôi làm báo quốc doanh từ năm 1975 đến năm 2010 (không kể làm nghiệp dư trong quân đội). Trong cả quá trình đó tôi thường xuyên là phóng viên giỏi, bài vở thường chiếm những vị trí quan trọng của tờ báo. Tôi nâng niu quý trọng từng việc làm tốt nhưng kiên quyết đấu tranh với những sai trái, tham nhũng, hại nước, hại dân kể cả với lãnh đạo chóp bu nắm cơm áo, sự nghiệp của tôi. Năm 1994-1998 do đưa vụ ngành hàng không VN lập quỹ đen tham nhũng 14 tỷ đ, mua hai máy bay Forkker 70 mờ ám, khai thác liều máy bay ATR 72 (bị hỏng động cơ nghiêm trọng chưa rõ nguyên nhân nhưng cứ bay và chỉ thị “nếu có chuyên cơ-tức cán bộ to đi- thì chọn chiếc ổn định”..)… tôi bị lãnh đạo ngành HKVN loại khỏi phóng viên, cắt gần hết tiền lương (chỉ cho 300 k/tháng) bắt đi bán báo dạo rồi kết hợp với công an triệu tập, thẩm vấn, điều tra, khởi tố, khám nhà cửa định cho vào nhà đá nhưng tôi quyết chiến đấu đến cùng giữ gìn phẩm giá của mình.
Từ khi trong quân đội cũng như làm báo nhiều lần cấp trên gợi ý tôi vào đảng để lên cán bộ “không thiệt quá” nhưng tôi không vào. Không phải là đảng viên, không phải nói, làm theo những điều mình thấy không thật, lương tâm mình không muốn dù nghèo, vất vả hơn nhưng tôi vẫn chọn con đường ấy. Đến nay tôi vẫn không có gì ân hận vì gần 9 năm đi bộ đội trong đó 6 năm ở chiến trường 559 được thưởng huân chương, hơn 30 năm làm báo loại xuất sắc nhưng tôi không vào đảng để đổi lấy một sự độc lập, tự do dù hạn hẹp.
Hiện nay các bạn làm báo vô cùng thuận lợi là có mạng Internet, blog, có mạng xã hội rất nhiều diễn đàn kể cả báo chí nước ngoài có thể đăng bài. Nếu các bạn có tài, yêu nghề, chịu khó sẽ vẫn có thể sống bằng nghề viết mà không phải đảng viên, cán bộ. Theo tôi, làm một phóng viên giỏi không là đảng viên, cán bộ cũng là một hạnh phúc. Nếu bạn làm việc với tinh thần tận tụy, ngay thẳng, đàng hoàng, đóng góp nhiều cho tờ báo bằng các tác phẩm báo chí chất lượng cao, được đông đảo bạn đọc, cộng tác viên, đồng nghiệp tin tưởng, ủng hộ chắc chắn bạn có vị trí quan trọng, quyền năng nhất định trong tòa soạn. Hồi làm báo quốc doanh tôi được nhiều độc giả, cộng tác viên tôn trọng, tin tưởng gặp riêng phản ánh thông tin, cung cấp tài liệu mà lãnh đạo không muốn lộ ra ngoài. Phần lớn tài liệu đặc biệt là tiêu cực, tham nhũng ở nhiều đơn vị, cơ quan do cộng tác viên, bạn đọc gửi riêng cho tôi chứ không phải cho tòa soạn. Một nhà báo nắm được nhiều thông tin là “giàu có” nhất…
Thời gian qua, tôi rất tiếc cho tờ Thanh Niên của các bạn, cũng như báo quốc doanh nói chung. Sự vận động của báo chí quốc doanh đang ngược với xu thế của thời đại. Đáng lẽ thời đại khoa học, công nghệ, xã hội loài người vận động như vũ bão đến văn minh, tự do, dân chủ… thì báo chí của đảng CS lại càng “bảo hoàng” hơn.
Các bạn chắc còn nhớ báo Tuổi Trẻ thời tổng biên tập Vũ Kim Hạnh, Lê Văn Nuôi, Lê Hoàng, báo Thanh Niên thời Huỳnh Tấn Mẫm, Lương Ngọc Bộ, Đặng Thanh Tịnh, báo quân đội thời Nguyễn Đình Ước, Trần Công Mân, báo Đại Đoàn Kết thời Lý Tiến Dũng, báo Lao Động thời Tống Văn Công… có những khoảng tự do đăng những ý tưởng, sự kiện mới, chống những vụ tham nhũng lớn được độc giả ngưỡng mộ như thế nào.
Báo Đại Đoàn Kết đưa vụ oan ông Kim Ngọc, bức thư của đại tướng Võ Nguyên Giáp ngăn dự án bauxite tây nguyên ra công khai, báo quân đội đăng nhiều vụ tham nhũng, lộng hành ở ngành Hàng không VN, của cán bộ trung ương gần như “không có vùng cấm” được độc giả yêu mến, nhân dân tin tưởng. Báo Tuổi trẻ, Thanh Niên, Lao Động có những thời kỳ phát hành hành hơn nửa triệu bản…
Ngày nay trong khi bị Internet, mạng xã hội cạnh tranh quyết liệt thì những tờ báo trên lại “bảo hoàng” đến mức thảm hại. Những vấn đề cả nước nhìn thấy nhưng không báo nào đăng. Những đoàn hàng trăm dân oan lang thang khắp các phố hết năm này sang năm khác từ 20 năm qua rất thương tâm, những vụ hàng nghìn cảnh sát bao vây trấn áp tàn bạo dân cướp đất ở Văn Giang, Dương Nội, Bắc Ninh, vụ đánh người cướp đất, cảnh sát bị dân cầm giữ ở Đồng Tâm, hàng vạn người biểu tỉnh phản đối Trung Quốc xâm lược, bảo vệ môi trường, cây xanh… ở giữa Hà Nội, TPHCM nhưng tất cả báo chí làm ngơ. Báo Thanh Niên của các bạn cũng được xếp vào hàng ngũ “ tiến đến báo Quân đội, Nhân dân, Hà Nội Mới…”.
Các bạn có thấy bận lòng, thấy nhục khi bưng bát cơm, mặc cái áo của dân mà tờ báo của mình… ngoảnh mặt trước đau khổ, oan trái của họ? Có thấy đau đớn khi hàng ngày Tàu cộng bồi đắp biển đảo ngoài khơi VN, cướp phá, bắn giết nhân dân ta vô tội vạ mà tờ báo của các bạn làm ngơ hoặc phải nói là “tàu lạ”?
Tác giả bên cụ lê Đình Kình “thủ lĩnh” chống tham nhũng giữ đất của dân Đồng Tâm
Không chỉ có vậy nhiều tờ báo, TV của các cơ quan đảng còn đăng theo ý muốn quan chức, vu khống, xuyên tạc với nhân dân, gọi những người biểu tình đấu tranh bảo vệ tổ quốc, môi trường, những người dân oan…là “cơ hội, phản động”. Họ tưởng trình độ dân ta quá thấp, không có nguồn thông tin nào khác nên đăng những điều xuyên tạc, lố bịch, thực tế là phản tuyên truyền, càng gây ức chế cho dân, chọc tức dư luận.
Tôi đi làm việc ở Văn Giang, Hà Nội, Đồng Tâm, Bắc Ninh… thấy nhiều nhà báo, tờ báo quốc doanh bị nhân dân phỉ nhổ, không tiếp phóng viên do các tờ báo, TV chỉ viết, phát theo sự xuyên tạc của bọn quan chức tham nhũng, làm ngơ trước oan trái đau khổ của nhân dân. Hiện nay những tờ báo ấy chỉ sống vào sự chu cấp của nhà nước từ tiền thuế của nhân dân, chủ yếu chỉ để biếu các đảng viên tiền khởi nghĩa, trên 50 tuổi đảng trở lên dùng gói đồ, lau chùi…
Những tờ báo không bán được trên thị trường là những tờ báo không ai muốn đọc, muốn mua tức những người làm ra nó là vô tích sự, cuộc sống của họ là ăn bám nhân dân, thậm chí mọt nước, hại dân là “ăn bẩn”, có tội với nhân dân.
Những người có ý thức cuộc sống không chấp nhận một cuộc đời vô dụng, ăn hại thế gian như thế.
Vì vậy, theo tôi, các bạn không việc gì phải “lăn tăn” với việc bị loại khỏi ba cái chức quèn trong các tờ báo quốc doanh.
Chúc các bạn “chân cứng, đá mềm” trong nghề nghiệp.
Chồng chị là một kỹ sư giỏi, chị yêu anh vì sự vững chãi, chín chắn của anh, chị yêu cái cảm giác ấm áp mà chị có mỗi khi chị tựa đầu vào vai anh. Và sau 3 năm tìm hiểu, anh chị đã đi đến hôn nhân.
Nhưng đến hôm nay, sau 5 năm là vợ chồng, chị bỗng thấy mệt mỏi với những cảm giác mà chị phải trải qua khi chung sống với anh.
Những lý do khiến chị yêu anh trước đây, bỗng biến thành những lý do tạo nên sự đổi thay trong chị. Chị là một phụ nữ nhạy cảm, và rất dễ bị thương tổn trong tình yêu, chị luôn khao khát những khoảnh khắc lãng mạn, giống như là bé gái nhỏ thèm khát kẹo ngọt. Nhưng anh lại trái ngược với chị, anh không có sự nhạy cảm, và hoàn toàn không quan tâm đến những khoảnh khắc lãng mạn trong cuộc sống vợ chồng, điều này đã làm cho chị càng chán nản hơn.
Và chuyện gì đến phải đến, một hôm chị quyết định cho anh biết rằng chị muốn ly dị, rằng chị không thể chung sống với anh thêm một giờ phút nào nữa. Rất bất ngờ khi nghe chị yêu cầu như thế, anh chỉ biết hỏi “Tại sao”?. “Em cảm thấy mệt mỏi, không có lý do nào cho mọi thứ trên thế gian này!” – chị trả lời. Anh không nói gì thêm nữa, nhưng suốt đêm đó, anh không ngủ, và chìm sâu vào những ưu tư, khắc khoải với ánh sáng lập lòe của điếu thuốc gắn trên môi. Sự im lặng của anh càng làm cho cái cảm giác thất vọng trong chị tăng lên, đấy là một người đàn ông không thể biểu lộ gì ngay cả đến lúc gặp tình huống khó khăn như lúc này, còn gì nữa để mà chị hy vọng ở anh?
Cuối cùng rồi anh cũng lên tiếng, anh hỏi chị :“Anh có thể làm gì để thay đổi ý định của em?”. Ai đó đã nói đúng: “Rất khó khăn để thay đổi tính cánh của một con người”, và chị nghĩ rằng chị không thể nào thay đổi cách sống của anh. Nhìn sâu vào mắt anh, chị chậm rãi trả lời: “Đây chính là câu hỏi, nếu câu trả lời của anh có thể thuyết phục em, em sẽ thay đổi ý định ly dị. Nếu em nói, em muốn bông hoa ở phía bên kia vách núi, và cả hai chúng ta đều biết rằng khi anh cố hái bông hoa đó cho em thì anh sẽ chết, anh có vẫn cố làm cho em hài lòng chứ?”. Anh đáp “ Ngày mai anh sẽ trả lời câu hỏi cho em…”. Những hy vọng của chị hoàn toàn bị chìm xuống khi nghe câu trả lời của anh.
Sáng hôm sau, chị tỉnh giấc và nhận ra anh đã đi rồi. Chị nhìn thấy một mảnh giấy với dòng chữ ngoệch ngoạc của anh, được dằn dưới ly sữa, trên chiếc bàn ăn gần cửa…. và chị bắt đầu đọc.
“Em yêu, Anh sẽ không thể nào hái bông hoa đó cho em, nhưng hãy cho anh giải thích những lý do mà anh không thể”.
Ngay những dòng đầu đã làm tan nát trái tim chị, chị tiếp tục đọc.
“… Khi em sử dụng máy vi tính, anh luôn sắp xếp phần mềm cho em dễ sử dụng, và khi em kêu lên trước màn hình khi có sự cố, anh luôn chuẩn bị những ngón tay để có thể giúp em phục hồi lại những chương trình.
Em thường bỏ quên chìa khóa cửa, nên anh luôn chuẩn bị đôi chân để sẵn sàng chạy về mở cửa cho em.
Em rất thích đi du lịch, nhưng lại thường hay bị lạc đường trong những thành phố xa lạ, nên anh phải chuẩn bị đôi mắt của mình để chỉ đường về cho em. Em thường đau bụng trong mỗi lần gần đến tháng, nên anh luôn chuẩn bị lòng bàn tay mình để sẵn sàng xoa bụng cho em để em dịu cơn đau.
Khi thấy em luôn thích ở nhà, anh lo rằng em sẽ có thể bị mắc bệnh tự kỷ, vì thế anh phải luôn pha trò và chuẩn bị những câu chuyện vui để em quên đi nỗi buồn chán. Khi em luôn chăm chú vào màn hình vi tính, anh sợ như vậy có hại cho đôi mắt của em, nên anh phải để dành đôi mắt của anh để khi chúng ta già, anh sẽ có thể giúp cắt móng tay, và nhổ những sợi tóc bạc cho em.
Anh có thể nắm bàn tay em đi tản bộ trên bãi biển, để em thưởng thức cảnh mặt trời mọc và bãi cát xinh đẹp… và anh sẽ cho em biết rằng màu sắc của những bông hoa cũng rực rỡ như gương mặt tươi tắn của em… Vì vậy, em yêu, trừ phi em chắc chắn rằng có ai đó yêu em hơn anh đã yêu em… nên bây giờ anh không thể hái bông hoa đó cho em, và chết…/.”
Nước mắt của chị không ngừng rơi trên trang giấy, làm nhạt nhòa những dòng chữ của anh… Chị đọc tiếp: “…Bây giờ, nếu em cảm thấy hài lòng thì hãy mở cửa ra, vì anh đang đứng đó với bánh mì và sữa tươi cho buổi sáng của em, những món ăn mà em thích…”.
Chị lao đến cửa và mở bung nó ra, trông thấy anh với gương mặt lo lắng, chị nắm chặt tay anh, cùng với ổ bánh mì và chai sữa, bây giờ chị biết chắc rằng không ai yêu chị như anh đã yêu chị, và chị quyết định quên đi bông hoa ở bên kia vách núi… đó là cuộc sống và tình yêu.
Khi được sống trong sự đầy đủ, dư thừa của tình yêu, thì cái cảm giác sôi nổi trong tình yêu thường bị khô héo đi, và người ta không còn có thể nhận thức được đâu là tình yêu chân thật và đâu là tình yêu giả dối, giữa cảm giác bình yên và buồn chán đó.
Kinh thánh quả quyết với chúng rằng nếu chúng ta làm thinh thì sẽ biết Chúa, nhưng có được sự lặng yên thì nói dễ hơn làm. Như Blaise Pascal từng nói, “Mọi khốn khổ của con người là do chẳng ai có thể ngồi yên trong một tiếng đồng hồ.” Đạt được sự tĩnh lặng có vẻ là việc quá tầm chúng ta, và như thế chúng ta gặp một song đề: chúng ta cần tĩnh lặng để tìm Chúa, nhưng cần Chúa giúp để tìm
sự tĩnh lặng. Nghĩ như thế, tôi xin đưa gởi gắm các bạn một lời nguyện xin sự tĩnh lặng.
Lạy Thiên Chúa của tĩnh lặng…
Xin làm tĩnh lặng những bồn chồn tuổi trẻ của con, tĩnh lặng cơn đói khát cứ ập vào con, cơn đói khát muốn nối kết với mọi người, muốn thấy và thưởng nếm mọi thứ, cơn đói khát khiến con mất bình an những buổi tối cuối tuần. Xin tĩnh lặng những giấc mơ tự đại muốn mình nổi bật với người khác. Xin cho con ơn sống hài lòng hơn với bản thân con.
Xin tĩnh lặng cơn bồn chồn khiến con thấy mình quá nhỏ bé. Xin cho con biết rằng đời con là đủ, và con không cần đòi hỏi về mình, dù cho cả thế giới đang cố lôi kéo con làm thế với vô vàn những hình ảnh tiếng động khắp nơi. Xin cho con ơn sống bình an trong cuộc đời mình.
Xin làm tĩnh lặng tính dục của con, chỉnh đốn những khao khát bừa bãi, dục vọng của con, nhu cầu không ngơi muốn được thân mật hơn nữa của con. Xin tĩnh lặng và chỉnh đốn những dục vọng trần tục của con mà không cần phải xóa bỏ chúng đi. Xin cho con biết nhìn người khác mà không phải với con mắt tình dục ích kỷ.
Xin tĩnh lặng những lo âu, trăn trở của con và đừng để con lúc nào cũng sống ngoài giây phút hiện tại. Xin cho con biết ngày nào có mối lo của ngày ấy. Xin cho con ơn biết rằng Chúa đã gọi con trong yêu thương, viết sẵn tên con trên thiên đàng, và con được tự do sống mà không cần lo lắng.
Xin tĩnh lặng nhu cầu muốn bận rộn luôn mãi của con, muốn kiếm việc gì đó để làm, muốn lên kế hoạch cho ngày mai, muốn hoạt động mọi phút giây, muốn tìm cái gì đó để lấp đầy khoảng thinh lặng. Xin cho con biết thêm tuổi thêm khôn ngoan. Xin làm nguôi đi những cơn giận âm ỉ vô thức của con vì thấy quá nhiều mong muốn của mình chưa thành sự. Xin tĩnh lặng sự chua cay vì thất bại của con. Xin giữ con khỏi ghen tương khi con cay đắng chấp nhận những giới hạn của cuộc sống mình. Xin cho con ơn chấp nhận những thất bại và hoàn cảnh của mình.
Xin tĩnh lặng nỗi sợ chính mình, nỗi sợ trước những thế lực tăm tối đang đe dọa con trong vô thức. Xin cho con can đảm để đối diện với bóng tối cũng như ánh sáng của chính mình. Xin cho con ơn đừng sợ sự phức tạp của mình.
Xin tĩnh lặng nỗi sợ bẩm tại của con là sợ mình không được yêu thương, sợ con không xứng đáng để yêu. Xin làm tĩnh lặng sự hoài nghi dằn vặt rằng con luôn là kẻ ngoài cuộc, rằng cuộc sống thật bất công, rằng con không được tôn trọng và thừa nhận. Xin cho con ơn biết rằng con là con yêu dấu của Chúa, Đấng yêu thương con vô điều kiện.
Xin tĩnh lặng trong con nỗi sợ vô cớ đối với Chúa, để con đừng thấy Chúa xa cách và đáng sợ, mà thay vào đó là nhìn thấy Chúa nồng ấm và thân thiện. Xin cho con ơn liên kết với Chúa thật hồn nhiên, như một người bạn mà con có thể chuyện trò, đùa giỡn, vui vẻ và thân thiết.
Xin tĩnh lặng trong con những suy nghĩ bất dung, về những giận hờn từ quá khứ, những bội bạc, lăng mạ mà con phải chịu. Xin tĩnh lặng trong con những tội mà chính con đã phạm. Xin tĩnh lặng trong con những tổn thương, cay đắng và giận hờn. Xin cho con sự tĩnh lặng từ sự tha thứ, từ con và cho con.
Xin tĩnh lặng những nghi ngờ, lo lắng về sự hiện diện của Chúa, về lòng trung tín của Chúa. Xin tĩnh lặng trong con xung lực muốn để lại dấu ấn, muốn tạo nên gì đó bất tử cho bản thân mình. Xin cho con ơn biết tin tưởng, ngay cả trong tối tăm và nghi hoặc, rằng chính Chúa sẽ cho con sự sống đời đời.
Xin tĩnh lặng tâm hồn con để con biết Chúa là Thiên Chúa, và cho con biết Chúa đã tạo dựng và gìn giữ mọi hơi thở của con, rằng Chúa yêu thương con cũng như hết thảy mọi người, rằng Chúa muốn cuộc sống chúng con bừng nở, Chúa muốn chúng con hạnh phúc, Chúa yêu thương và chăm lo hết mọi người, rằng chúng con sẽ được an bình trong bàn tay nhân từ của Chúa, ở đời này và đời sau. Amen!