NGỘ NHẬN VỀ MỘT XÃ HỘI BÌNH YÊN

Mạc HiếuFollow

NGỘ NHẬN VỀ MỘT XÃ HỘI BÌNH YÊN 

‘Đỗ Ngà’

Thái bình thì đi đôi với thịnh trị. Đó là thời kì thịnh vượng của một đất nước. Xã hội bình yên, của rơi ngoài đường không đánh động được lòng tham, tối ngủ có thể không cài cổng không khoá cửa mà lòng vẫn vô tư không chút lo sợ. Xe để ngoài sân trống và để quên chìa trên ổ khoá nhưng cũng chẳng ai lấy vv.. Người dân có tiếng nói, và tiếng nói của họ luôn luôn được chính quyền lắng nghe.

Như Thụy Sỹ, giàu có đến nỗi nhà nước dư thừa tiền của và muốn phát lương cố định cho công dân. Dân chân thực đến mức từ chối lời đề nghị ấy của chính quyền. Họ chỉ biết rằng, nhu cầu họ không cần đến là họ từ chối. Dân không tham và chính quyền cũng không tham. Rõ ràng quan hệ giữa nhân dân với nhà nước là mối quan hệ phục vụ và đóng góp. Cả nhà nước và nhân dân đều vì quyền lợi chung – quyền lợi đất nước. Ở Đông Nam Á, Singapore cũng đã đạt đến thời cực thịnh như thế. Xung quanh ta như Thái Lan hay Mã Lai, họ không cực thịnh như Singapore nhưng họ cũng có một xã hội thái bình hơn, con người xứ họ hiền hòa không trộm cắp không tham lam như Việt Nam.

Thậm chí, Campuchia và Lào cũng có một xã hội thái bình hơn Việt Nam.

Riêng Việt Nam, cuộc sống người dân chưa bao giờ an bình, trộm cướp khắp nơi, con người tham lam và hay đố kị. Đi vắng cứ sợ nhà bị trộm cướp đột nhập, đi chơi thì phải chi trả tiền cho người giữ xe, tài sản cầm trên tay còn không yên thì nói gì đến những thứ đánh rơi?! Ăn cũng gặp nguy hiểm, uống cũng gặp nguy hiểm vì nạn thực phẩm bẩn tràn lan và ô nhiễm môi trường khắp nơi. Riêng bệnh ung thư, mỗi ngày giết chết 315 người, bằng với chiến tranh mỗi ngày nướng 1 tiểu đoàn. Đi ngoài đường thì luôn đối mặt với tai nạn vv.. Đấy là hình ảnh nhân hoạ thường trực, cuộc sống người dân luôn bất an nên luôn phải đề phòng mọi thứ.

Thiên tai thì nước nào cũng có, nhưng thiên tai ở Việt Nam luôn có bóng dáng của nhân hoạ. Năm nào cũng thế, cứ mùa mưa thì nạn lũ lụt cướp đi sinh mạng của nhiều người dân vô tội. Nếu chính quyền có trách nhiệm, họ đã không để rừng phòng hộ bị phá sạch như hôm nay thì thiệt hại không phải liên tục năm nào cũng xảy ra như thế. Mỗi năm nhân dân phải cúng cho liên minh thiên tai – nhân họa này từ hàng chục đến hàng trăm mạng người, chưa kể vật chất.

Không chỉ cái vô trách nhiệm của chính quyền gây ra hoạ, mà ở Việt Nam, bản thân chính quyền cũng là một thứ họa. Nhân quyền là thứ vốn có của mọi con người từ khi được sinh ra trên đời này, thế nhưng ai lên tiếng đòi hỏi, thì họ sẽ gặp hoạ bởi đòn thù của chính quyền. Nếu bị công an bắt tạm giam thì người dân có thể gặp nguy hiểm đến tính mạng vì sự lộng hành và bản chất dã thú của của lực lựợng này. Nếu bạn đang sống trên mảnh đất đẹp, rất có thể một ngày nào đó bạn sẽ đối mặt với nạn cướp đất và bị tống ra đường làm dân oan.

Đấy! Họa bủa vây khắp nơi, thế nhưng rất nhiều người lại cho rằng: “Việt Nam đang rất bình yên”. Họ đã ngộ nhận! Cái bình yên của họ chính là không chiến tranh, còn những thứ đe doạ khác thiên tai, các loại nhân hoạ thì với họ đấy cũng là bình yên. Cừu là con vật bị thuần hoá, nó hài trong chuồng trại của nó, nó vẫn thấy bình yên khi bị vặt lông. Và cứ nghĩ cuộc sống của nó luôn bình yên mãi cho đến ngày bị mang ra thịt. Đất nước sẽ không phát triển, sẽ không bao giờ đổi thay nếu người dân cứ mãi giam hãm suy nghĩ của mình trong sự ấu trĩ. Cứ tự huyễn hoặc kiểu anh chàng AQ để tự hài lòng với những gì được ban phát thì không thể phá vỡ gông cùm, mãi vẫn cứ “bình yên” trong kiếp nô lệ.

Cảnh báo về các khoản vay ODA của Trung Quốc

Cảnh báo về các khoản vay ODA của Trung Quốc
Hòa Ái, phóng viên RFA 2018-11-30 
Báo cáo của Bộ Kế hoạch & Đầu tư Việt Nam cho thấy nguồn vốn vay ODA của Trun

See More

About this website

RFA.ORG
Báo cáo của Bộ Kế hoạch & Đầu tư Việt Nam cho thấy nguồn vốn vay ODA của Trung Quốc dành cho Việt Nam cao gấp đôi các quốc gia khác. Thêm vào đó, hầu hết các dự án có nguồn vốn ODA tại Việt Nam đều đến từ Trung Quốc.

Phải thay cả bình và rượu mới hết sâu đỏ.

Trần Bang shared a post.

Phải thay cả bình và rượu mới hết sâu đỏ.

Image may contain: one or more people and people standing
Hà PhanFollow

Những đại án hoặc các vụ bê bối ngân hàng hiện nay như Đại dương, Xây dưng, Đại Tín, Sacombank, Eximbank, Viettinbank, MHB, ACB… có 1 điểm chung là đều xảy ra trong nhiệm kỳ của Thống đốc Nguyễn Văn Bình. Vụ bắt ông Bắc Hà chấn động dư luận vừa qua cũng k ngoại lệ.

3000 tỷ từ vụ NH Đông Á của Trần Phương Bình, 8000 tỷ từ NH Đại Dương của Hà Văn Thắm, 8000 tỷ từ Huyền Như, 9000 tỷ từ Phạm Công Danh, 6300 tỷ từ Hứa Thị Phấn… và còn hàng chục ngàn tỷ nữa từ các đại án khác như những vết cắt đau đớn khi quốc gia phải chắt chiu từng đồng một.

Liệu người đứng đầu ngành có vô can hoặc khong có trách nhiệm gì?

TÀU THỦ CÒN TA THÌ BUÔNG THẢ

Image may contain: sky, ocean and outdoor
Đỗ Ngà

TÀU THỦ CÒN TA THÌ BUÔNG THẢ

Nhập siêu trong 11 tháng là 22 tỷ USD. Đây là một sự buôn bán có cán cân lệch quá nhiều. Ai cũng nhìn thấy, những mặt hàng mà Trung Quốc đưa vào Việt Nam toàn là những mặt hàng kém chất lượng. Trên thế giớỉ, hàng Trung Quốc có mặt tất cả cả nhưng sản phẩm Trung Quốc nhập vào các thị trường đó có kiểm soát chất lượng. Nghĩa là những nước đó khi làm ăn với Trung Quốc thì họ phải có chính sách để gạn lại những thứ rác rến từ xứ làm đồ dỏm này. Còn Việt Nam thì sao? Chính quyền CS làm ngược lại, buông thả tất cả.

Chính quyền Việt Nam đã làm gì cho dân khi chính sách làm ăn với Trung Cộng bị thả nổi? Những mặt hàng Trung Quốc đưa vào Việt Nam rất kém chất lượng và là những thứ hàng hoá mà Việt Nam có thể sản xuất được. Chỉ trong 11 tháng Việt Nam phải bỏ ra gần 60 tỷ đô rước những thứ kém chất lượng về để làm gì? Để đánh chết hàng Việt, thua thiệt đủ đường. Trong đó một lượng không nhỏ là Trung Cộng mượn đường Việt Nam xuất đi nước khác để kiếm ưu đãi thuế.

Nhập của Tàu 60 tỷ, xuất qua Tàu 38 tỷ. Vì sao cán cân lệch đến thế? Vì đơn giản, hàng Tàu vào Việt được mở toang, nhưng hàng Việt vào Tàu thì được kiểm soát chặt chẽ, bị điều tiết bởi chính sách của phía Tàu. Nếu nói như Nguyễn Phú Trọng thì Việt Nam – Trung Quốc là “anh em”, nhưng sao không có sự công bằng trong đó? Thấy giống như sự cam chịu xuất kẻ nô lệ chứ không phải anh với em gì cả. Hàng nông sản Trung Quốc vào được miễn thuế, còn gạo Việt Nam vào Trung Quốc bị đánh thuế đến 50%.

Muốn phát triển kinh tế, ngoài những chính sách khuyết khích sản xuất trong nước thì còn phải có những chính sách bảo vệ nền sản xuất. Đến Trump còn đánh mạnh hàng Tàu để bảo vệ hàng Mỹ cơ mà, sao Việt Nam thả nổi? Một chính quyền quản lý kinh tế mà không ra được chính sách khuyến khích và cũng không ra được chính sách sách bảo vệ. Vậy chính quyền này tồn tại để làm gì? Chỉ để phá hoại thôi hả?!

Du lịch Việt Nam là cái bẫy với khách quốc tế

Google trả hơn 100 triệu kết quả trong 0,51 giây khi tìm kiếm cụm từ “không bao giờ quay lại Việt Nam”, lý do được đưa ra là trộm cắp, tắc nghẽn giao thông, vệ sinh thực phẩm kém, tài xế taxi thô lỗ.

Ngoài các nguyên nhân kể trên, còn một nguyên nhân khác nữa…

https://www.sbtn.tv/du-lich-viet-nam-la-cai-bay-voi-khach-…/

About this website

SBTN.TV
Tin Sài Gòn, Việt Nam – Google trả hơn 100 triệu kết quả trong 0,51 giây khi tìm kiếm cụm từ “không bao giờ quay lại Việt Nam”, lý

Đứa Con Lai….Hải Tặc – Nguyễn Cát Thịnh

Image may contain: ocean, sky, water, cloud, outdoor and nature
Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

Đứa Con Lai….Hải Tặc – Nguyễn Cát Thịnh

Xong tú tài, tôi vào Saigon cư ngụ trong đại học xá Minh Mạng Chợ Lớn để tiếp tục việc học. Sau này có một anh sinh viên dự bị y khoa được xếp chung phòng.
Khi ra trường phải động viên vào quân đội, tôi nhường anh chân gia sư dạy kèm 2 học sinh trung học, một trai một gái. Họ là con của một ông Trung Tá bộ tổng tham mưu và bà chủ một công ty nhập cảng vải lụa.

Cuộc biển dâu xảy ra. Tôi và ông Tr/T đều bị nhập trại “tập trung học tập cải tạo”. Tôi “học tập” một thời gian không dài lắm, có lẽ vì cấp bậc nhỏ ít nợ máu. Ông Tr/T bị chuyển ra trại tù miền Bắc.

Được trả tự do nhưng không việc làm, lê lết ở các quán cà phê vỉa hè, một ngày nọ tình cờ gặp lại bạn. Bấy giờ anh đã là bác sĩ tại một bệnh viện thuộc quận nhất của thành phố.

Và câu chuyện bắt đầu từ đây.

Chuyện kể, khi cô học trò nhỏ không còn nhỏ nữa thì quan hệ giữa cậu cựu gia sư và tiểu thư tân sinh viên văn khoa đã bước vào giai đoạn anh anh-em em (âu cũng là điều dễ hiểu). Gia đình cả hai bên đều hoan hỉ, trông đợi ngày đại đăng khoa và tiểu đăng khoa.

Thế nhưng thời cuộc đã đảo lộn tất cả. Ông bố Trung Tá đi không biết ngày về. Bà mẹ mất cơ sở kinh doanh. Cậu con trai lớn tìm lãng quên trong những con hẻm nhầy nhụa. Tiểu thư tuy vẫn còn đậm nét tiểu thư nhưng chớm trầm cảm vì cuộc sống đã nhuộm đỏ giấc mơ hồng. Cậu bác sĩ chung tình đeo thêm gánh nặng phiền muộn.

Rồi phong trào vượt biển rầm rộ khắp nơi.

Trong lần đi thăm nuôi cuối cùng, bà Trung Tá đưa tiểu thư và cậu bác sĩ ra tận trại tù Hoàng Liên Sơn dò hỏi ý chồng. Ông Trung Tá bỗng trở nên lạc quan sau những năm tháng tuyệt vọng. Ông biết sức khỏe và bệnh trạng của ông, biết ngày tàn không còn xa. Ông không những đồng ý với vợ mà còn mong vợ phải thực hiện chuyến đi cho các con bằng mọi giá.

Bà đã được cha mẹ cậu bác sĩ thuận kết sui gia. Nhân tiện gặp ông, bà và ông tác thành luôn cho đôi trẻ. Đối với cả hai gia đình, họ đã nên duyên vợ chồng.

Ông xin các con hứa, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, lúc vui buồn hay lúc cùng cực cũng phải gắn bó, không được chối bỏ nhau. Đôi trẻ kín đáo cúi đầu quỳ lạy thay lời thề chung thủy.

Bạn tôi cùng vợ và người anh vợ đăng ký chuyến đi bán chính thức của người Hoa. Khi ra đến bến bãi một sự việc diễn ra ngoài dự tính của nhóm tổ chức. Chỉ những người Hoa chính gốc mới được nhận. Người Hoa giả mạo bị loại ra.

Chủ tàu là một đại gia có mẹ già mang bệnh kinh niên nên cần thầy thuốc. Hắn hối lộ để xin đặc ân cho hai vợ chồng bạn tôi nhưng họ chỉ chấp nhận một người. Dùng dằng mãi, cuối cùng một mình bạn tôi lên tàu.

Chuyến hải hành tương đối êm ả đưa người chồng đến đảo Bidong Mã Lai. Người anh vợ và người vợ trở về buồn hiu hắt.

Anh may mắn được gia đình một luật sư làm việc trong chính quyền tiểu bang Michigan bảo lãnh qua Mỹ.

Sau hơn 2 năm ôn luyện bài vở, anh được nhận vào nội trú để hoàn tất bằng hành nghề.

Người vợ đi thêm 2 chuyến nữa không thành công.

Chuyến sau cùng chủ tàu gọi đi khẩn cấp. Người anh trai còn mải vui chốn giang hồ không kịp nhận tin, đành đi chuyến sau. Tôi đến chơi đúng thời điểm. Bà Tr/T cho tôi trám chỗ, đồng hành với vợ người bạn.

Đâu có ai ngờ một chuyến đi định mệnh đang chờ đợi!!!

Con tàu chạy vòng vo 2 ngày 3 đêm vẫn chưa nhìn thấy đất đảo như hoạch định. Tàu trôi, trôi như vô tận. Tài công thú nhận không có kinh nghiệm lái đường biển.

Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.

Sau khi đã chiến thắng được sự sợ hãi tột cùng ban đầu, một số thanh niên còn khỏe mạnh họp lại tính chuyện phản công. Đám hải tặc vẫn còn e dè, chặn cửa hầm chưa dám xuống.

Để chiến đấu, mỗi người tự trang bị vũ khí cho mình. Với kìm búa gậy sắt gậy gỗ, họ phá bật nắp cửa hầm, reo hò vùng lên quyết sinh tử khiến đám hải tặc rúng động. Biết không địch nổi số đông áp đảo, không đợi lệnh, các tên hải tặc chen nhau nhảy xuống biển bơi về tàu của chúng, xả máy rút lui.

Tôi cố tìm nguời vợ của bạn.

Một tên hải tặc mang vết sẹo dài trên vai trái bước ra từ phòng lái đầu hàng. Cô gái trong phòng nằm trên tấm nệm cao su vẫn còn loã thể chính là người tôi tìm.

Một tên nữa cũng chậm chân nên bị bắt giữ vì còn mải nhập thiên thai. Tên có sẹo có lẽ là đầu đảng, xá lạy xin đái công chuộc tội bằng cách hướng dẫn tài công lái đúng đường, cặp vào đảo Tarempa Nam Dương.

Ngoại trừ những người bị nhốt dưới hầm, tất cả đàn ông đều bị trói gô chân tay. Một phụ lái bị giết chết vì kháng cự. Chủ tàu bị ném xuống biển vì cố che chở cho con gái nhỏ sắp bị hãm hiếp. Hai phụ nữ hoảng hốt nhảy xuống biển tự vận để bảo toàn trinh tiết. Mười một phụ nữ trẻ bị liên tục thay phiên hãm hiếp, riêng người vợ của bạn tôi được tên đầu đảng giành độc quyền. Một nam thanh niên trượt chân rơi xuống biển và năm thanh niên khác bị thương khi chiến đấu. Hai hải tặc bị bắt giữ nhưng trốn thoát khi tàu vừa cặp bến vào đảo Tarempa.

Chính quyền địa phương đưa tàu qua đảo Kuku tạm trú. Một tháng sau được chuyển sang đảo Galang.

Chút vốn liếng tiếng Anh sót lại từ thời trung học giúp tôi tìm được một việc làm trong văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ. Có cơ hội thuận tiện, tôi tường trình trung thực những gì đã xảy ra.

Tôi thuyết phục các phụ nữ bị làm nhục ra trước ủy ban điều tra quốc tế đối chứng với lời khai của tôi nhưng chỉ có người vợ của bạn và một người vợ của anh thợ máy đồng ý. Tiếng kêu tuy yếu ớt được ghi nhận.

Người vợ của bạn tôi suy sụp khủng hoảng tinh thần cực độ khi biết đã mang thai. Cô nài nỉ tôi tìm mọi cách giúp phá nếu không sẽ tự vận. Tôi thật sự khổ sở giữa nên hay không nên. Nếu nên thì cũng không biết làm sao. Phương tiện y tế hạn chế, dễ gây hậu quả xấu cho người mẹ.

Sau một đêm dài trằn trọc tôi quyết định viết một lá thư kể toàn bộ sự việc diễn tiến trên tàu, nhờ gửi khẩn cho người chồng. Năm tuần lễ sau nhận được hồi âm. Anh cho biết vị luật sư bảo lãnh anh đã tích cực vận động với các dân biểu và nghị sĩ tiểu bang cũng như liên bang lên tiếng với bộ ngoại giao Hoa Kỳ, thỉnh cầu can thiệp trực tiếp trường hợp của vợ anh để xin được đi định cư trong thời gian sớm nhất trước khi tiên liệu xấu xảy ra. Anh tha thiết xin vợ đừng phá thai, sẵn sàng nhận vai trò làm cha.

Tôi đã được phái đoàn Canada chấp nhận và thông báo ngày đi định cư nhưng phải xin đình hoãn.

Sáu tháng vận động đã có kết quả. Anh bạn tôi đi cùng với nhân viên lãnh sự quán HK tại Singapore đến Galang. Qua thủ tục đặc biệt, mang được người vợ đến Mỹ.

Đứa bé được sinh ra trên đất Mỹ với khai sinh mang họ của bạn tôi.

Trong buổi hội ngộ tiệc thôi nôi, vợ chồng anh bạn và người anh vợ cùng tôi đồng thuận tuyệt đối giữ bí mật mọi chuyện để sự phát triển tâm sinh lý của đứa trẻ không bị ảnh hưởng và sẽ lớn lên như một người Việt Nam trong một gia đình Việt tỵ nạn.

Thỉnh thoảng có dịp thăm viếng tôi tưởng như nhìn thấy hạnh phúc thật sự trong gia đình họ. Cậu bé lớn lên trong tình yêu tràn đầy của cha lẫn mẹ.

Sinh kế đã làm giảm tần xuất liên lạc giữa chúng tôi một thời gian. Mỗi năm chỉ còn nhớ đến nhau qua những tấm thiệp xuân. Cho đến một lần, thay vì nhận được thiệp thì là một lá thư dài kể lại tai nạn thảm thương cướp mất người vợ.

Thường ngày người chồng nhắc nhở vợ dùng thuốc đều đặn vì hậu chấn thương trên biển cả khiến người vợ cần được săn sóc tâm thần và tâm lý trị liệu lâu dài. Lần đó người chồng đi dự hội thảo chuyên môn ở tiểu bang xa nhà. Người vợ đã bỏ thuốc nhiều ngày, giữa đêm mưa gió đi lang thang ngoài bờ sông không tự kiểm soát được, ngã xuống nước trôi mất tích.

Vợ chết. Bệnh trầm cảm truyền qua anh. Mặc cảm có tội luôn luôn ám ảnh. Anh dồn hết tình thương cho đứa bé, nay đã trở thành một thiếu niên.

Đến lúc đứa con phải xa nhà vì học vấn anh không thể đương đầu với nỗi buồn gặm nhấm, trầm cảm nặng hơn.

Nhiều năm nữa trôi qua. Tin buồn khác lại đến. Bạn tôi qua đời sau một thời gian ngắn nhuốm bệnh. Anh biết bệnh mình trầm kha, nhưng buông xuôi không quan tâm chữa trị, có lẽ muốn gặp vợ để giữ trọn lời thề năm xưa.

*
Đứa con từ chuyến vượt biển của người vợ bạn tôi năm xưa nay đã là người lớn. Cha mẹ đều mất. Bác ruột di cư sang Úc theo vợ. Tôi trở thành người thân duy nhất để chàng thanh niên, tức đứa bé ngày xưa, xả tâm tình. Chúng tôi xem nhau như chú cháu.

Những lá thư qua lại làm tôi lây những ưu tư của một người trẻ nghĩ về thân phận mình. Sau đây là một số trích đoạn từ những lá thư của cháu từ nước Mỹ với ông chú, thư viết bằng Anh ngữ, và do tôi trích dịch:
. . .

Chú ơi! Từ lúc bắt đầu hiểu biết cháu đã linh cảm có điều gì rất nghịch lý trong gia đình cháu. Hạnh phúc như con bướm lượn lờ trên những bông hoa mời chào, ngập ngừng muốn đậu rồi lại bay đi.

Cha cháu chiều chuộng cháu hơn những đứa trẻ cùng trang lứa. Mẹ cháu hay vuốt tóc, hôn cháu trong không gian tĩnh lặng, nói nhỏ, con của mẹ, mẹ yêu con, lặp đi lặp lại.

Nhưng cũng có đôi lúc cháu bắt gặp cặp mắt thất thần của mẹ nhìn ra cõi xa xăm.

Mẹ rất sợ sông, biển. Những kỳ đi nghỉ hè cha luôn luôn tránh vùng biển.

Cha săn sóc mẹ từ miếng ăn giấc ngủ. Mẹ biếng ăn, cha bỏ bữa. Mẹ mất ngủ, cha “hầu quạt”. Mẹ buồn, cha làm hề, dí ngón tay lên trán gọi mẹ là cô bé bướng bỉnh, mẹ mỉm cười gọi cha là cậu giáo khó tính, thế là buồn tiêu tan. Cha biết làm cho mẹ vui vẻ hoạt bát qua những viên thuốc mà cha gọi là thuốc tiên, bắt mẹ uống mỗi ngày (sau này cháu mới biết là những thuốc trị tâm thần).

Mấy đứa bạn của cháu thắc mắc tại sao cha mẹ cháu đều có nước da sáng, cao lớn, mũi thẳng mà cháu thì sậm da, người tròn thấp, cánh mũi to.

Cháu muốn quên mà không quên được cái hình hài không giống ai của cháu. Có phải cháu là con ngoại hôn của mẹ không chú? Hay cháu là con nuôi? Hay là cháu đến từ một hành tinh khác?
. . .

– Chú không hiểu tại sao cháu lại có những suy nghĩ lẩm cẩm như thế. Chuyện giống hay không giống là quyền của… ông trời. Cố học thành tài nối nghiệp cha.
. . .

Chú ạ. Cháu báo cho chú tin động… ông trời. Cháu đã xin thử DNA. Ông trời đã sụp đổ trước mắt cháu! Kết quả đúng như cháu hoang mang lo sợ. Cháu không có liên quan phụ hệ với cha cháu!
. . .

– Chú hiểu tâm trạng của cháu. Nếu chia sẻ được xin cho chú chia sẻ. Chú nhớ có đọc ở đâu đó:

Cha không được định nghĩa như người đã tạo ra đứa trẻ, mà khác hơn thế, là người dang rộng vòng tay và dành thì giờ nuôi nấng đứa trẻ bằng cả tâm trí và tình yêu. Huyết thống không luôn luôn làm nên người cha. Chữ cha phải thoát ra từ tấm lòng. Ai cũng có thể tạo ra một đứa trẻ nhưng cha đúng nghĩa nhất chính là người đã nuôi nấng đứa trẻ.

Không liên hệ máu mủ không làm cho người cha kém tình phụ tử. Xác nhận một người cha đích thực, không phải ở DNA, mà ở trong trái tim người ấy.
. . .

Cháu cám ơn chú đã mở mắt cho cháu. Nghĩ lại, cháu không còn vướng mắc chuyện… ông trời nữa. Nhưng chú ơi! Giòng máu đang chảy trong người cháu là của ai? Cháu muốn biết và cháu biết chắc chắn chú biết.
. . .

Lá thư của chàng trai khiến tôi phải trăn trở thao thức. Không thể chối cãi là tôi và cha mẹ cháu đã giấu diếm nguồn gốc của cháu.

Tôi sẽ tiếp tục giữ hay phá lời thề khi phải trả lời cháu?

Tôi đặt lên bàn cân, một bên là sự đòi hỏi chính đáng của cháu, một bên là lời cam kết với vợ chồng bạn. Cháu đã trưởng thành, có suy nghĩ chín chắn. Sẽ mang tội với cháu nếu vẫn giữ điều bí mật. Vì thế tôi khấn vái vong linh hai người bạn, xin đựợc giải lời thề giúp tôi thanh thản tiết lộ sự thật, từ tình sử thơ mộng của hai người cho đến thảm kịch trong chuyến đi định mệnh.
. . .

Cháu xin lỗi đã ngưng liên lạc với chú khá lâu. Cả năm nay cháu đi đi về về giữa Mỹ và Thái Lan.

Cháu thuê thám tử tư quyết tìm ra tên hải tặc đã mang tai họa cho gia đình cháu.

Bà ngoại cháu trước khi qua đời vẫn tin tưởng cha mẹ cháu sống hạnh phúc và rất hãnh diện về đứa cháu ngoại. Ông ngoại cháu đã chết trong trại tù không lâu sau lần thăm nuôi, chắc không yên tâm nhắm mắt.

Ông bà nội từng kỳ vọng ở đứa cháu đích tôn một ngày về vinh quy bái tổ, làm rạng danh dòng họ. Ở bên kia thế giới hai cụ có phẫn nộ vì chi nhánh con cháu chính thống đã thay máu từ đây?

Mọi người đều bị lừa dối.

Cháu có nhờ cô thông dịch viên, đang theo học khoa ngôn ngữ đại học Chulalongkorn, trợ giúp. Cô này có hoàn cảnh hơi giống cháu. Cha là hải tặc hoàn lương. Mẹ là thuyền nhân suýt bị nạn trên biển như mẹ cháu.

Nhờ thám tử và cô bạn, cháu đã tìm thấy và trực diện với người gieo giọt máu oan nghiệt cho mẹ cháu. Bây giờ ông ta đã trở thành một nhà sư, trụ trì ngôi chùa nhỏ trong một làng đánh cá.

Cháu tham khảo các luật sư của Mỹ và Thái với ý định đưa ông ra toà án để đòi lại công lý cho các nạn nhân, trong đó có mẹ cháu.
. . .
Chú ơi giúp cháu.

Tiến thối lưỡng nan!

Nếu bị kết án, ông sư già có thể phải vào tù, trả giá cho tội lỗi trong quá khứ. Nhưng điều đó có đổi lại bình an cho cháu không? Nên hay không nên tiến hành thủ tục pháp lý?

Cháu lâm vào tình trạng y hệt như chú khi xưa (phân vân giữa việc nên hay không nên giúp mẹ cháu phá thai).

Chú ơi, có bao giờ chú hối hận vì đã không giúp mẹ trục thai nhi cháu không? Nếu không có cháu trên đời thì sao chú nhỉ? Cha mẹ cháu sẽ sống trong thiên đàng hạnh phúc với những đứa con kết tinh từ tình yêu.

Chú có nghĩ rằng cháu đang nuôi đau khổ vì nan giải?

Chú ơi, cháu là ai?

Việt Nam hay ngoại tộc Việt Nam?

Thái Lan ư? Ô nhục!

Mỹ ư? Chỉ trên giấy tờ!

Những đứa con lai Mỹ dù có bị kỳ thị nhưng vẫn không bị khước từ giòng máu Việt. Còn cháu, cháu có đựợc cái hãnh diện giới thiệu với mọi người “tôi là người Mỹ gốc Việt”?

Cháu muốn ra biển hét thi với sóng, gào lên, hỏi ông trời! Tôi là ai? Tôi là ai? Tôi là ai?
. . .

– Chú rất thán phục sự quyết tâm và ý chí của cháu. Có lương tâm dẫn dắt, cháu hãy đi theo, làm những gì cháu thấy nên làm. Nếu cháu muốn được tư vấn thì đừng chê quan niệm lỗi thời của chú nhé.

Thời của cha mẹ cháu cũng như chú, không thiếu những chứng tích của tội ác man rợ. Cũng không thiếu những chứng tích đau thương bi thảm. Trong số này, có số phận của nhữntg đứa con lai hải tặc.

Người ta thường tìm cách che dấu thứ mà người ta muốn quên. Nhưng cháu, một trong những đứa con đó, đã dũng cảm nói lên tiếng nói của con người, bình đẳng như mọi người của thế gian này.

Giáo lý Phật Đà dạy ta dùng từ bi và tha thứ để đối phó với nghịch cảnh. Lòng từ bi không chấp nhận hành động sai nhưng có thể tha thứ cho người làm sai.

Chính cháu là người đau khổ nhất, không được gì, đúng không? Mong cho ông sư hải tặc rục xương trong tù? Tất cả chỉ làm tinh thần cháu kiệt quệ.

Cháu ạ, Kinh Pháp Cú 5 có câu:

Hận thù diệt hận thù,
Đời này không có được,
Từ bi diệt hận thù
Là định luật ngàn thu.

Có phải cháu muốn tìm sự bình an? Nếu cháu chưa sẵn sàng mở lòng bao dung thì cũng đừng để tâm bị xáo trộn. Tâm là cốt lõi của cuộc sống. Với tâm thanh tịnh thì hạnh phúc sẽ tìm đến. Với tâm bất ổn thì đau khổ sẽ bám không rời.

Vị sư già cũng đi tìm bình an như cháu. Câu kinh tiếng kệ là những tiếng than khóc của tạo thành một vòng kín vô hình nhốt ông. Ông ta đang thi hành hình phạt nặng nề nhất của lương tâm. Cứ để ông ta thụ án. Cháu đâu cần phải cố sức bắt tội nguời có tội. Vào tù hay thoát khỏi tù là quyền của…ông trời!
. . .

Thưa chú,

Chú đã giải tỏa đám mây u ám vần vũ trên đầu cháu. Cho cháu thấy ở phía trước một con đường sáng sủa hơn. Hành trang đeo trên vai cũng nhẹ hơn.

Cháu hối tiếc những ngày còn cha mẹ, cháu đã không mang đến cho các người tiếng cười hạnh phúc. Không có dịp thầm thì bên tai các người, cha mẹ ơi con yêu cha mẹ.
. . .

Cha cháu đã đón nhận cháu như một quà tặng quí giá của tạo hoá. Mẹ cháu cũng mang nặng đẻ đau như các bà mẹ khác. Chú tin rằng ơn này còn nặng hơn ơn nghĩa sinh thành.

Phải vinh danh những người cha vĩ đại có trái tim thánh. Phải cúi đầu ngưỡng mộ và cảm thông cho những người mẹ bất hạnh. Người mẹ can đảm, mạnh mẽ đứng dậy sau khi bị vùi dập, cùng với người cha cưu mang, nuôi nấng sinh linh “lạ”, thay giòng máu ô nhiễm trong hài nhi bằng giòng máu vô nhiễm của tâm hồn.
. . .

Chú đọc cho cháu thống kê của LHQ, tìm thấy trong thư viện, để cháu có cái nhìn tổng thể.

Khoảng 839,000 người Việt Nam đã vượt biển trên những chiếc thuyền mong manh từ 1975 đến 1997. Phỏng chừng 300,000 đến 400,000 người không đến được bến bờ tự do.

Chỉ riêng năm 1981 Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ báo cáo: 15,479 thuyền nhân đến Thái Lan đi trên 452 con tàu. Trong đó 349 tàu đã bị hải tặc tấn công, trung bình mỗi tàu 3 lần. 578 phụ nữ bị hãm hiếp. 228 phụ nữ bị bắt cóc. 881 chết hoặc biệt tích.

Con số thai nhi do hải tặc không được báo cáo chính xác vì bản chất phụ nữ Việt hiền lành, chịu đựng. Đa phần do xấu hổ nhục nhã nên không khai báo.
. . .

Cháu đoán, những bào thai ấy nếu sống sót bây giờ đã trở thành những thanh niên, trung niên bằng hoặc hơn tuổi cháu. Họ có thể đã lập gia đình và có con cái.

Chú ơi, có ai mang cùng tâm trạng như cháu? Hỏi mãi một câu hỏi “Tôi là ai”?
. . .
Thảm trạng lịch sử đã sang trang chưa? Có nên hâm lại chuyện cũ không? Chú không biết.

Tội ác, theo thời gian, có thể dần dần bị quên lãng nhưng chứng tích tội ác là những đứa con lai… hải tặc hiện hữu khắp nơi.

Chú nêu vấn đề với cộng đồng, mong câu hỏi “Tôi là ai?” của cháu sẽ được trả lời.

Bằng lòng với số phận? Sống để bụng chết mang theo?

Nghĩ sao?

30/4/ 2018
Nguyễn Cát Thịnh

Cảm Tạ Chúa vì Hậu Quả của Ma-túy

Cảm Tạ Chúa vì Hậu Quả của Ma-túy

  Lúc tôi còn làm tuyên úy ở Fort Benning bên Georgie, một anh lính trẻ và người vợ đến gặp tôi và xin tôi giúp đỡ.  Vợ anh trước kia đã nghiện ma túy và hiện nay đang còn phải chịu hậu quả của việc hút sách này.  Các bác sĩ đã chuyên trị nhưng không hiệu quả mấy. trước kia cô ta xinh đẹp bao nhiêu thì nay nét mặt bị dày vò bởi sự sợ hãi và đau thương bấy nhiêu.

Cô nói: “Con không ngủ được. Mỗi khi nhắm mắt, con toàn thấy những con thú dữ khủng khiếp xuất hiện và nhảy chồm lên con.”

Chồng cô cắt nghĩa cho tôi rằng: “Vợ con cứ la hét thất thanh mỗi khi vừa chợp mắt sau khi đã mệt đừ.  Con cố gắng đánh thức vợ con dậy, nhưng phải đến 10 phút nhà con mới tỉnh và trong suốt lúc đó cứ la hét khiếp đảm làm cho con cũng tuyệt vọng luôn.”

Tôi nghe hết câu chuyện bi đát này rồi kết luận:  “Tôi chỉ có một điều khuyên anh chị: Chúng ta cùng quỳ xuống và cảm tạ Chúa vì hoàn cảnh anh chị đang phải sống.”

Hai vợ chồng nhìn tôi bàng hoàng, nghĩ rằng chắc tôi không muốn nói điều đó. Tôi cắt nghĩa cho họ một cách tỉ mỉ điều tôi đã hiểu rõ: Chúa muốn chúng ta tạ ơn Người trong hết mọi sự.

—  Tất cả những gì đã xảy ra, đưa đẩy anh chị có ngày hôm nay, tôi chắc rằng: Chúa yêu thương anh chị, và Ngài sẽ làm một việc lạ lùng cho anh chị.  Bây giờ Ngài muốn anh chị cám ơn Ngài vì tất cả những gì, những biến cố đã đưa anh chị đến với Ngài.

Tôi giở sách Kinh Thánh và cho họ xem những đoạn tôi đã gạch sẵn.  Cả hai đều chấp nhận, quỳ xuống và cảm tạ Chúa vì tất cả những gì đã xảy đến cho họ, đặc biệt những hậu quả của ma túy.  Tôi cảm thấy sự hiện diện của Chúa trong căn phòng.  Tôi nói với họ: “Chúa Thánh Linh hiện diện nơi đây và Ngài sẽ chữa lành cho chị.”

Tôi đặt tay trên đầu chị và cầu nguyện: “Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đang chữa lành cho chị ngay lúc này”.

Chị ấy ngạc nhiên mở mắt nhìn tôi.

—  Thưa cha! có chuyện lạ vừa xảy ra.  Lần đầu tiên con nhắm mắt được và con không thấy gì.

— Chúa Giêsu đã chữa lành con, và bây giờ Ngài muốn trở thành Đấng Cứu Độ cho con.  Con có muốn không?

Hai vợ chồng quỳ gối xuống ngay và họ xin Chúa Giêsu đi vào cuộc sống của họ.  Họ rời văn phòng tôi, lòng đầy hân hoan.

***

 Người thiếu phụ này hoàn toàn khỏi bệnh. Cô không còn bị những hình ảnh quái gở ám ảnh nữa. Uy lực của Thiên Chúa đã bẻ gãy uy lực của ma túy.

Các người có thẩm quyền trong giới y khoa đều công nhận họ bất lực, không trục xuất được các chất độc do ma túy để lại trong cơ thể.  Nhưng họ đã chứng kiến những trường hợp lành bệnh sau 10, 20 và cả 30 năm hút ma túy.  Điều này đã xảy ra vì có một sự can thiệp linh thiêng của Thiên Chúa.

Không có ai có thể tự mình thay đổi chỉ vì tự cho mình một thái độ mới hoặc có quyết tâm cao.  Đó chính là do sức mạnh của Thiên Chúa hoạt động trong cuộc sống chúng ta.

Những lời cầu nguyện chân thành giải phóng và để cho uy lực của Thiên Chúa hoạt động trong cuộc sống chúng ta.  Và lời tạ ơn hữu hiệu hơn mọi hình thức cầu xin khác mà Thánh Kinh cho ta thấy nhiều ví dụ chứng minh điều này.

Trong Thánh Vịnh 22,4 chúng ta đọc: “Ngài là Đấng Thánh ngự giữa lời ca tụng Israel.”  Vậy Chúa ở nơi đây và uy quyền của Ngài hoạt động khi chúng ta ca ngợi Ngài.  Ngài lưu lại, Ngài ở ngay giữa lời ca ngợi của chúng ta.

 (Trích Sách “Quyền Năng của Tâm Hồn Biết Ca Ngợi”)

 From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

Tham gia đạo lạ, con trai đóng đinh vào đầu mẹ để trị ‘ma nhập’

Tham gia đạo lạ, con trai đóng đinh vào đầu mẹ để trị ‘ma nhập’

Bà Lê Thị Trương bị con trai đóng đinh vào đầu vì tin theo đạo “vô vi.” (Hình: Thanh Niên)

LONG AN, Việt Nam (NV) – Một bà mẹ bị con trai đóng đinh vào đầu, khiến bà phải đi cấp cứu, sau khi ông này tham gia vào một đạo lạ có tên là “Pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp.”

Ngày 30 Tháng Mười Một, 2018, nói với báo Dân Trí, ông Phan Anh Dũng, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân xã Phước Lợi (huyện Bến Lức, tỉnh Long An), cho biết người con theo “đạo lạ” về đóng đinh vào đầu mẹ là bà Lê Thị Trương (58 tuổi) để trị bệnh vì nghi mẹ mình bị “ma nhập,” là ông Lê Dũng Tâm (31 tuổi).

Theo báo Dân Trí, vợ chồng ông Tâm vốn là công nhân, chuyển từ Sài Gòn về xã  Phước Lợi, Long An, sống từ năm 2014. Khi về đây sinh sống, vợ chồng Tâm được ông Tiền Kim Phát (ngụ cùng xã) tặng cho quyển sách hướng dẫn ngồi thiền để luyện công phu theo trường phái “vô vi.”

Báo Dân Trí cho hay, theo môn luyện công này, người tu luyện phải cạo trọc đầu, trong lúc ngồi thiền chỉ được uống nước, ăn rau, không ăn cơm. Năm 2016, cả hai vợ chồng ông Tâm còn được đi qua Cambodia dự “Đại hội Vô Vi quốc tế.”

Khoảng Tháng Tám, vợ chồng Tâm nghỉ làm để ở nhà cùng tu luyện. Họ còn rủ thêm bà Trương cùng tu luyện để nhanh thành “chánh quả.”

Ngày 31 Tháng Mười, sau ba ngày ba đêm ngồi thiền liên tục, ông Tâm có biểu hiện bất thường. Ông Tâm cho rằng bà Trương bị “ma nhập” nên lấy đinh đóng vào đầu bà để trị bệnh.

Đến ngày 1 Tháng Mười Một, sợ mẹ chồng chết, vợ ông Tâm nhắn tin cho hàng xóm nhờ cầu cứu. Nhiều người đã sang nhà can thiệp nhưng ông Tâm khóa cửa không cho vào.

Chiều cùng ngày, ông Tâm nói nhà giờ quá nhiều ma nên hai vợ chồng bỏ về Sài Gòn, bỏ mặc bà Trương nằm bất động trong nhà. Một ngày sau đó, bà Trương mới được giới hữu trách giải cứu và đưa đi cấp cứu. Do vết thương quá nặng, nạn nhân được chuyển đến Bệnh Viện Đa Khoa huyện Bến Lức, sau đó đưa lên Bệnh Viện Chợ Rẫy, Sài Gòn, cấp cứu.

Nói với báo Thanh Niên, ông Phan Anh Dũng cho biết hiện trên địa bàn xã có ba nhà dân tham gia “Pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp,” Riêng bà Trương, sau thời gian điều trị tại bệnh viện đã hồi phục sức khỏe và đã trở về Đồng Nai. (TA)

Luật Nào khiến cô Lê Thu Hà hai lần bị đuổi khỏi Việt Nam?

 

Luật Nào khiến cô Lê Thu Hà hai lần bị đuổi khỏi Việt Nam?

Nguyễn Quang Duy

1-12-2018

Thứ năm 22/11/2018 nhật báo TAZ của Đức bình luận về việc Hà Nội trục xuất cô Lê Thu Hà như sau: “Lê Thu Hà là công dân của nước Việt Nam, cô không có quốc tịch nào khác. Một quốc gia khước từ, không cho công dân của mình nhập cảnh là một hành vi vi phạm Công pháp quốc tế“.

Cô Hà sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, vì bất đồng chính kiến đã bị Hà Nội bắt bỏ tù và sau đó trục xuất sang Đức. Cô mong trở về Việt Nam sống với mẹ già nhưng một lần nữa lại bị Hà Nội trục xuất phải quay lại Đức.

Luật sư Nguyễn Văn Đài cho biết, “cô Hà được Đức cấp giấy tờ có hiệu lực 3 năm ở Đức bắt đầu từ ngày 1/11/2018 bao gồm sổ thông hành, giấy phép định cư, giấy phép lao động nhưng cô ấy đã không nhận…”.

Như thế là Chính phủ Đức thực hiện Công Ước 1954 về Quy chế “người không quốc tịch” trợ giúp cô Lê Thu Hà.

Giúp người không quốc tịch là…

Công ước 1954 về Quy chế người không quốc tịch yêu cầu chính phủ các nước bảo vệ người không quốc tịch tối đa, hỗ trợ họ có giấy tờ đi lại, trợ giúp hành chính, công ăn việc làm, giáo dục…

Thuật ngữ “người không quốc tịch” là người không được coi là công dân của bất kỳ quốc gia nào theo pháp luật hiện hành của quốc gia người đó đang sống.

Công ước 1961 về Giảm bớt người không quốc tịch đề cập đến việc phải làm để giảm bớt số người không quốc tịch, bao gồm quyền rời khỏi nơi bị truy bức cũng như quyền trở về quê hương xứ sở.

Cả hai Công ước 1954 và 1961 đều chưa được Hà Nội ký kết.

Một số người dịch thuật ngữ “stateless person” thành “người vô tổ quốc” là không chính xác.

Người Việt có thể bị tước quyền công dân nước CHXHCN Việt Nam vì bất đồng chính kiến hay vì các lý do khác thì vẫn là người Việt và tổ quốc Việt Nam vẫn là tổ quốc của người Việt Nam.

Quyền công dân nước CHXHCN Việt Nam rất khác nếu không nói là hoàn toàn khác với quyền công dân tại miền Nam Việt Nam trước 30/4/1975 và tại các nơi khác trên thế giới.

Trả quyền công dân…

Tổng Thống Trần Văn Hương đã chính thức từ chối nhận quyền công dân do nhà nước cộng sản trả lại.

Câu chuyện được chính ông Hương kể là vào đầu năm 1976 nhà nước cộng sản đã quyết định trả quyền công dân cho ông.

Để tuyên truyền họ cho tổ chức một buổi lễ “trả quyền công dân” ngay tại nhà ông, với sự hiện diện của báo chí và các đài truyền thanh, truyền hình tại Sài Gòn.

Ngay giữa buổi lễ, ông tuyên bố từ chối không nhận với lý do là còn hàng trăm ngàn công chức quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa, mà ông là cấp chỉ huy tối cao của họ, vẫn còn đang học tập cải tạo và chưa được trả quyền công dân. Ông nói rõ là:

“Chừng nào những người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi!”

Đầu năm 1976 nhà cầm quyền cộng sản cho tổ chức tổng kiểm kê dân số ở các tỉnh miền Nam chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc Hội chung cả nước ngày 25/4/1976.

Người miền Nam phải điền một tờ đơn xin trả quyền công dân và một tờ khai sơ yếu lý lịch. Khi nhận lá đơn nhiều người miền Nam mới hiểu ra rằng sau 30/4/1975 tất cả người miền Nam đã thành “người không quốc tịch” ngay chính trên quê hương đất nước mình.

Mấy trăm ngàn tù đi cải tạo khi ấy không được phát đơn, họ chỉ được làm đơn xin trả quyền công dân khi đã được thả về một thời gian.

Nhiều người miền Nam nhất là những người Việt gốc Hoa mặc dù đã nạp đơn nhưng không được trao trả quyền công dân.

Cả trăm ngàn người Việt gốc Hoa đã bị tống lên các con tàu ra đi “bán chính thức” để nhà cầm quyền thu vàng và tài sản của họ. Nhiều người đã chết trên biển.

Hằng triệu người Việt đã băng rừng vượt biển tìm tự do và đã được quốc tế đón nhận như những người tỵ nạn cộng sản.

Trang sử về người Việt “không quốc tịch” ngay chính trên đất nước Việt Nam khó mà quên được.

Thanh lọc công dân…

Công ước 1954 ra đời để giúp đỡ các nạn nhân bị nhà cầm quyền trục xuất như trường hợp Hitler tước quốc tịch Đức, trục xuất và diệt chủng người Do Thái.

Trong thời Chiến tranh Lạnh, Liên Xô và một số nước Đông Âu cũng tước quốc tịch và trục xuất các nhà bất đồng chính kiến, các văn nghệ sỹ và người Do Thái ra khỏi xứ.

Hằng triệu công dân Liên Xô gốc Tatar bị cưỡng bách di dân và không được phép quay trở lại quê hương của họ.

Tại Kampuchia, khi cộng sản chiến thắng trục xuất và thảm sát hằng trăm ngàn người Việt và người Chàm sống ở đó. Đồng thời thực hiện thanh lọc và diệt chủng công dân Kampuchia.

Tại Nam Tư sau khi cộng sản tan rã cũng xảy ra tình trạng thanh lọc chủng tộc.

Tại Cuba ngày 6/4/1980, 7.000 người Cuba lao vào đại sứ quán Peru tại La Habana xin tị nạn chính trị. Fidel Castro ra lệnh mở cảng Mariel và mở cửa trại tù cho bất kỳ ai muốn rời Cuba được ra đi. Kết quả chỉ hơn 2 tháng có trên 125.000 người Cuba đã di cư sang Mỹ.

Năm 1998 xung đột biên giới giữa hai nước Eritrea và Ethiopia, chính quyền Ethiopia đã vây bắt hàng nghìn công dân và tống họ sang Eritrea với lý do họ thuộc nhóm sắc tộc Eritrea.

Nhà cầm quyền Miến Điện mở chiến dịch thanh lọc sắc tộc, khiến hơn 300.000 người Hồi giáo Rohingya phải bỏ chạy sang Bangladesh hồi cuối tháng 8/2017.

Sau vụ đàn áp đẫm máu ở Thiên An Môn tháng 6/1989, Trung Quốc cũng đã thanh lọc nhiều công dân bất đồng chính kiến.

Gần đây hằng triệu người Hồi giáo ở Tân Cương đã bị nhà cầm quyền Bắc Kinh tước quyền công dân và đẩy vào những khu tập trung như đã từng xảy ra tại Việt Nam sau 30/4/1975.

Trên là một số các trường hợp tạo ra tình trạng “người không quốc tịch” và người tỵ nạn, hầu như đều xảy ra ở các nước độc tài hay cộng sản.

Quyền công dân nước CHXHCN Việt Nam

Hà Nội chính thức trục xuất nhiều công dân bất đồng chính kiến và không cho trở về Việt Nam như trường hợp cô Lê Thu Hà.

Nhưng chiếu theo Khoản 2 Điều 17 của Hiến Pháp 2013 thì “Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.”

Khoản 4, Điều 88 của Hiến pháp 2013 lại cho phép Chủ tịch nước quyền “tước quốc tịch Việt Nam”.

Khoản 1 điều 31 Luật Quốc Tịch 2008 quy định về việc công dân CHXHCN Việt Nam bị tước quốc tịch.

Ngày 24/4/2013, ông Phạm Văn Điệp một công dân Việt Nam sống ở Nga từ năm 1992, nhưng không xin nhập quốc tịch Nga, khi về nước đã bị chận lại và trục xuất vì “vi phạm pháp luật Việt Nam”.

Ông Điệp cho rằng chỉ có Chủ tịch nước mới có quyền tước quốc tịch của ông, nhưng ông vẫn bị cảnh sát cơ động áp tải ra máy bay tống khỏi Việt Nam.

Ông Điệp từng tham gia đảng Dân chủ Việt Nam và có viết bài đăng trên Đàn Chim Việt và Dân Luận.

Ông Điệp là trường hợp thứ nhất được biết tương tự với trường hợp cô Lê Thu Hà.

Nhiều trường hợp công dân nước CHXHCN Việt Nam khi đến tòa Đại Sứ xin gia hạn thẻ thông hành (hộ chiếu) mới biết họ mất quyền gia hạn.

Một số công dân Việt Nam khi về lại Việt Nam bị tịch thu giấy thông hành một hình thức cấm xuất ngoại.

Một số công dân Việt Nam khác mặc dù có thẻ thông hành nhưng bị cấm xuất ngoại.

Luật pháp Việt Nam khá tùy tiện và như cố luật sư Ngô Bá Thành từng diễn tả “Việt Nam có cả rừng luật, nhưng khi xét xử lại dùng luật rừng!” Và giờ đây Hà Nội lại sử dụng luật rừng với quốc tế.

Bởi thế ngày 24/6/2014, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008.

Khoản 2, Ðiều 13 kêu gọi người Việt sống ở nước ngoài làm đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam. Trên 4 triệu người Việt sống ở nước ngoài chỉ có 6,000 người xin giữ quốc tịch.

Chắc chắn có nhiều người Việt chọn làm “người không quốc tịch” thay vì phải làm người mang quốc tịch nước CHXHCN Việt Nam.

Các nước đảm bảo quyền công dân

Xin kể về các quyền gắn liền với quốc tịch Úc, nơi tôi đang sinh sống, và ở Mỹ, ở Đức để có sự so sánh:

Úc có truyền thống đơn tịch bắt đầu với Đạo luật Quốc tịch năm 1903 (Naturalization Act 1903). Khi xin gia nhập Quốc tịch Úc, người đứng đơn không bị đòi hỏi bỏ quốc tịch gốc.

Năm 2002, Đạo luật Tu chính Quốc tịch Úc bỏ quy định công dân Úc đương nhiên mất quốc tịch Úc khi nhận quốc tịch của quốc gia khác. Nghĩa là Úc công nhận tình trạng song tịch hoặc đa tịch.

Cuối năm 2015, chính quyền Liên Bang có tu chính Luật Quốc Tịch cho phép tước quốc tịch Úc những người đã xin vào quốc tịch, còn giữ song tịch, mà phạm tội hoặc có liên can tới khủng bố.

Còn ở Đức trong thời chiến tranh lạnh, phía Đông Đức năm 1967 đã ban hành Luật mới về quốc tịch, nhưng phía Tây Đức vẫn áp dụng Luật quốc tịch theo luật huyết thống ban hành từ năm 1913 “Người Đức là công dân Đức”.

Tây Đức vì vậy chấp nhận quyền công dân cho tất cả “công dân Đông Đức“. Luật quốc tịch 1913 được tiếp tục sử dụng khi nước Đức thống nhất.

Luật Đức đòi hỏi khi nộp đơn xin quốc tịch Đức phải chính thức từ bỏ quốc tịch gốc. Công dân Đức bị mất quốc tịch khi trở thành công dân nước khác.

Nhiều nhân viên ngoại giao và sinh viên du học từ Việt Nam Cộng Hòa gặp khó khăn trong thủ tục xin gia nhập quốc tịch nên nhiều người đã rời nước Đức hay không trở thành công dân Đức.

Công dân Đức không bị tước quốc tịch hay bị trục xuất vì bất cứ lý do gì.

Còn tại Mỹ Hiến Pháp và Luật Pháp định nghĩa công dân theo nguyên tắc huyết thống. Nghĩa là con cái của công dân Mỹ sinh ra bất cứ nơi nào trên thế giới đều được mang quốc tịch Mỹ.

Để tránh trường hợp bị kỳ thị da màu, Tu chính án 14 công nhận quyền công dân cho mọi người sinh ra ở Mỹ.

Lợi dụng Tu chính án 14 nhiều người ngoại quốc sang Mỹ sinh đẻ để đứa trẻ được cấp quyền công dân và sau này có thể di dân đến Mỹ. Tổng Thống Trump tuyên bố sẽ ra một sắc lệnh ngăn cấm việc lạm dụng này.

Hiến Pháp và luật pháp Mỹ không công nhận song tịch mà cũng không cấm song tịch.

Theo Ðiều khoản 349 INA của luật Quốc Tịch Mỹ “Công dân Hoa Kỳ có thể mất quốc tịch Mỹ nếu nhập quốc tịch khác hoặc tuyên thệ trung thành với nước khác.”

Nhưng thông thường chỉ khi công dân Mỹ làm đơn và tuyên thệ xin từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ thì mới được xem là mất quốc tịch.

Luật pháp Mỹ không cho phép bất cứ ai tước đoạt quyền công dân của người khác, nhưng trong một số trường hợp công dân Mỹ không được phép hay bị cấm tới một số khu vực vì lý do an ninh hay chính trị.

Quyền Công Dân thời Việt Nam Cộng Hòa

Việt Nam Cộng Hòa sử dụng luật huyết thống. Người Việt và con cái người Việt đều mang quốc tịch Việt Nam.

Ngày 7/12/1955, Tổng thống Ngô Đình Diệm còn ban hành Dụ số 10 qui định tất cả những ai sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều là người Việt Nam.

Lãnh thổ Việt Nam được nói rõ trong Hiến Pháp 1956 và Hiến Pháp 1967 là từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, nghĩa là người miền Bắc hay người miền Nam đều là công dân Việt.

Người có quốc tịch Việt Nam sống ở bất cứ nơi vẫn là người Việt Nam và không ai có quyền tước quốc tịch của người Việt Nam. Người Bắc di cư hay vượt tuyến đương nhiên được hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ công dân.

Người theo cộng sản vẫn được xem là công dân Việt chỉ khác là họ lầm đường lạc lối.

Chính sách chiêu hồi tạo cơ hội trên 230 ngàn cán binh cộng sản trong đó rất nhiều cán binh từ miền Bắc về hồi chánh. Họ đã được tự động nhận mọi quyền lợi và nghĩa vụ công dân.

Theo Hiến Pháp 1967 Việt Nam Cộng Hòa đa số người Việt hải ngoại có đầy đủ quyền bầu cử và ứng cử kể cả các chức vụ cao nhất là Tổng thống.

Điều 13.2 quy định “Mọi công dân đều có quyền bầu cử, ứng cử và tham gia công vụ trên căn bản bình đẳng theo điều kiện và thể thức luật định.”

Điều 53.1 quy định quyền ứng cử Tổng Thống hoặc Phó Tổng Thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây : “Có Việt tịch từ khi mới sanh ra và liên tục cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam ít nhất mười (10) năm tính đến ngày bầu cử. Thời gian công cán và lưu vong chánh trị tại ngoại quốc được kể như thời gian cư ngụ tại nước nhà.

Vấn đề quốc tịch và tổ quốc ngày nay

Người Việt hải ngoại dù là thuyền nhân, vượt biên đường bộ, đi theo diện HO, ở lại các quốc gia thuộc Liên Xô và Đông Âu hay nay bị trục xuất như cô Lê Thu Hà đều có chung một đặc thù là tị nạn chính trị.

Những người ra đi chính thức nhưng có những việc làm về thông tin, văn hóa, chính trị trái ý với nhà cầm quyền cộng sản bị cấm không thể trở về Việt Nam đều có thể được xem là “lưu vong chánh trị”.

Những người được gia đình bảo lãnh hay sinh ra ở hải ngoại vẫn được xem là những người tị nạn chính trị.

Khi thể chế tại Việt Nam thay đổi sẽ có những bước chuyển tiếp, trong đó có việc bầu ra Quốc Hội Lập Hiến soạn thảo một Hiến Pháp mới cho Việt Nam.

Hiến pháp mới và Luật pháp tương lai nên dựa trên tinh thần nhân bản, tinh thần hòa đồng dân tộc, Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, và các Công ước quốc tế về quyền không bị tước quốc tịch với những điểm tương tự như Hiến Pháp 1967.

MUỐN SỐNG HẠNH PHÚC, GHI NHỚ 5 CHỮ ĐỪNG…

 MUỐN SỐNG HẠNH PHÚC,  GHI NHỚ 5 CHỮ ĐỪNG


Con người muốn được sống hạnh phúc, thanh thản mà trong tâm lại vẫn cứ ôm giữ các loại tâm tranh đấu, oán hận thì vĩnh viễn không thể nào đạt được. Hãy ghi nhớ 5 thứ “đừng” sau đây:

Cái đừng thứ nhất: Có tiền đừng keo kiệt:  

Tiền khi sinh chẳng mang theo đến, khi tử chẳng mang theo đi. Sức khỏe mới là thứ quan trọng hơn nhiều, có sức khỏe thì mới có tất cả.

  •       Trong dân gian có câu nói:“Không sợ kiếm ít tiền, chỉ s chết sớm”. Có sức khỏe thì ngại gì không kiếm được tiền. Vì sức khỏe, khi nào cần chi tiêu thì hãy chi tiêu, có tiền đừng keo kiệt. 

Cái đừng thứ hai: Có phúc đừng chờ 

  •       Con cháu đều có phúc của con cháu, đừng quá vì con cháu mà biến mình thành thân trâu ngựa. Nên tranh thủ thời gian hưởng thụ cuộc sống, đừng vì con cháu mà làm việc quá sức, làm cố quá là sát thủ nguy hiểm nhất của sức khỏe.

Cái đừng thứ ba: Có tình yêu đừng buông bỏ 

  •       Cuộc đời thật ngắn ngủi, tình yêu lại không dễ tìm kiếm, cho dù yêu hay được yêu đều là duyên phận, đều nên đón nhận, ngày hôm nay bạn buông bỏ, thì kiếp này nó sẽ không bao giờ đến với bạn nữa. 

Cái đừng thứ tư: Tức giận đừng để trong lòng  

  •       Trong cuộc đời, ai cũng có thể phải gặp những chuyện khó khăn hay không vừa ý, đừng nên vì thế mà “nộ khí xung thiên”. Tức giận là tồn tại khách quan, không nên giữ ở trong lòng, nín thở thì khí sẽ ứ tắc, khí ứ tắc thì sẽ sinh bệnh.
  •       Gặp phải những sự việc khiến ta tức giận, hãy tìm người để khai thông nó, thổ lộ ra hết, như vậy sẽ gỡ bỏ nó nhanh hơn, nội tâm sẽ yên bình trở lại.
  •       Bạn bè chính là công cụ “tốt nhất, cũng là nguồn động lực, khích lệ tinh thần, tiếp thêm sức mạnh tốt nhất cho bạn. 

Cái đừng thứ năm: Có thù hận đừng ghi nhớ  

  •       Lòng dạ khoáng đạt, dùng thiện lương nhân ái để đối đãi, không để ý những chuyện nhỏ, gạt bỏ ân oán, cũng không để thù hận trong lòng. Hãy làm cho mỗi ngày trong cuộc đời của bạn là một ngày vui sống.
  •       Người xưa sống được trường thọ vì họ có “tam bất thức”, chính là không cần biết 3 điều, không quan tâm ân oán, không quan tâm tuổi tác, không quan tâm bệnh. 

NAM GIANG 

 From: KittyThiênKim & KimBằng Nguyen

Chính phủ Việt Nam yêu cầu thanh tra toàn diện đất rừng Sóc Sơn

  • Nhà cầm quyền  Việt Nam yêu cầu thanh tra toàn diện đất rừng Sóc Sơn…

    Chính phủ Việt Nam yêu cầu Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội thanh tra toàn diện việc quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Sóc Sơn.

    Truyền thông trong nước loan tin hôm 30/11 dẫn yêu cầu vừa nêu của ông Phó Thủ Tướng Trương Hòa Bình.

    Theo đó, ông Trương Hòa Bình yêu cầu Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội cùng với các bộ- ngành khẩn trương báo cáo kết quả việc xử lý sau thanh tra đất rừng phòng hộ huyện Sóc Sơn trước ngày 15/12/2018.

    Đồng thời, ông phó thủ tướng chính phủ Việt Nam còn yêu cầu thành phố Hà Nội đảm bảo kết luận đầy đủ, chính xác và xử lý nghiêm các vi phạm theo đúng quy định của pháp luật cũng như báo cáo Thủ tướng chính phủ trước ngày 1/2/2019.

    Trước đó, vào hôm 29/11 tại buổi trao đổi với báo chí, ông Nguyễn Hoài Nam trưởng ban pháp chế Hội đồng nhân dân Hà Nội thừa nhận rằng việc khắc phục vi pham xây dựng tại đất rừng Sóc Sơn chưa đến nơi đến chốn, việc xử lý còn chậm trễ và nhiều diễn biến phức tạp.

    Ngoài ra, ông còn cho biết hiện Hà Nội đang điều tra làm rõ, xem xét các sai phạm mới và xử lý sai phạm cũ đồng thời xem xét các trách nhiệm thuộc về ai nhưng ông khẳng định rằng điều này đang chờ kết luận của thanh tra thành phố Hà Nội.

    Vào năm 2006, thanh tra chính phủ phát hiện nhiều sai phạm sau khi kiểm tra việc quản lý sử dụng đất rừng tại Sóc Sơn và 9 xã khác. Tại Sóc Sơn, cơ quan chức năng phát hiện hơn 650 hộ xây dựng công trình sai phạm trên đất lâm nghiệp với diện tích 11 ha. Trong số này có 80 nhà kiên cố, 26 công trình theo mô hình trang trại sản xuất và rất nhiều trường hợp vi phạm khác.

    Một trong những công trình bị phát hiện có vi phạm ở rừng phòng hộ Sóc Sơn là căn biệt thự của nữ ca sĩ Mỹ Linh được xây dựng từ 12 năm trước. Nhưng cho đến khi nữ ca sĩ lên tiếng ủng hộ việc xây nhà hát giao hưởng 1.500 tỷ ở Thủ Thiêm thì những người phản đối đã khơi lại vụ việc.