Đức Tin lơ tơ mơ

Đức Tin lơ tơ mơ

Ga 1,29-34 ; 1Ga 2,29-3,6

Cùng một sự việc, một biến cố xảy ra thì thường mỗi người đều vẫn có cái nhìn khác nhau. Những cảnh vật chung quanh, nhìn lướt mắt qua chẳng thấy có vấn đề gì, chẳng dính dáng gì đến mình và cũng chẳng bận tâm để mà nhận xét.

Nhìn theo cái vỏ bên ngoài, có đánh giá và cũng có bận tâm nhận xét nhưng thường không chính xác.

Nhìn bên trong, có đánh giá và cũng bận tâm nhận xét, và tương đối chính xác hơn…

Người có đức Tin hay sống trong Tình Yêu (Thánh Thần) thì có cái nhìn nhạy bén không những chỉ bên ngoài và nhất là ở bên trong…

Bà góa nghèo bỏ vào thùng có hai đồng kẽm thôi, tất cả mọi người đang có mặt tại đó kể cả các môn đệ đều nhìn, vẫn đang nhìn nhưng có thấy gì đâu, bình thường.

Nếu có chợt thấy thì thường chỉ thấy người nào đó bỏ vào thùng một cọc tiền dầy cộm làm cho nhiều người xuýt xoa.

Nhưng có một người đã nhìn thấy bà góa bỏ vào thùng tiền tuy có hai đồng kẽm thôi nhưng bà đã bỏ tất cả, bỏ những gì nuôi sống bà, bỏ cả gia tài của bà, bỏ cả mạng sống của bà vào đó nên kể như bà đã bỏ nhiều hơn mọi người.

Một gia đình ẵm đứa con thơ lên đền thờ dâng hiến cho Chúa thế mà mọi người có mặt hôm ấy kể cả các vị chức sắc, ai cũng nhìn thấy hết, chỉ là chuyện bình thường.Nhưng có hai ông bà cụ già nhìn thấy khác thường…

Ông Gioan Tẩy Giả : “Tôi đã thấy”, vậy ông đã thấy gì ?

Ông đã “thấy Đức Giê-su tiến về phía mình” ; 

“Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người”

“Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy,…”.

Vâng, thấy rồi mới làm chứng được, không thấy thì sao làm chứng.

Nghĩa là muốn làm chứng về chuyện gì thì vấn đề cần thiết nhất phải là thấy trước đã…

Không có làm sao cho ?

Không thấy làm sao kể ?“Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”.

Người Hối cải là người sống đức Tin.

Một đức Tin sống động là vì người đó đã “thấy”

vì có thấy mới trở nên sống động chứ !

Sống động là vui vẻ hồn nhiên ở trong nhau, ở cùng nhau, ở với nhau… mọi nơi mọi lúc hằng ngày trong đời sống.

Nói là có đức Tin mà lại không thấy thì chỉ là đức Tin chết vì đã không làm chứng được ra cuộc sống.

Một đức Tin chết là một đức Tin lơ tơ mơ,

mới chỉ là tin có Chúa

rồi để đấy, chẳng dính dáng, chẳng liên lụy,

chẳng có tương quan thân tình ấm cúng ngọt ngào hạnh phúc….

Đức Tin sống động là vì đã thấy, đã gặp nên mới thể hiện ra bên ngoài, tức là làm chứng cùng với những việc mình làm cho con người.

Chúa kêu gọi chúng tôi sống đời sống cầu nguyện và chúng tôi đã đáp lại tiếng Chúa. Mỗi ngày chúng tôi đã kiên trì cầu nguyện, đến và ở lại với Chúa.

 Từ đó chúng tôi nhận thấy hạt giống đức Tin trong lòng mình được nẩy mầm rồi lớn lên từ từ… “Nếu anh em biết Thiên Chúa là Đấng Công Chính, anh em cũng phải biết rằng : phàm ai sống công chính thì đã được Thiên Chúa sinh ra”.

Sống cầu nguyện, giúp chúng tôi thấy Chúa trong tâm hồn được rõ ra dần dần…

Ngài ở rất gần, ngay trong, ngay bên mà trước kia chúng tôi không hề cảm được như thế…

Tin những điều mình không thấy để thấy được những điều mình tin.

“Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a, rằng :

  Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy ; vì lòng dân này đã ra chai đá…”

“Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe”(Mt 13,14-17).

Cùng cảm nhận như thánh Gioan tông đồ và là môn đệ được Chúa thương yêu “Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống” (1Ga 1,1)

“Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !” (Ga 9,39).

ÔTC

Edit  https://tramtubensuoi.blogspot.com/2019/01/uc-tin-lo-to-mo.html

BA ĐIỀU ĐÁNG QUÍ NHẤT TRONG CUỘC SỐNG

BA ĐIỀU ĐÁNG QUÍ NHẤT TRONG CUỘC SỐNG

Trần Mỹ Duyệt

Trong đời của mỗi người chúng ta điều gì là đáng quí nhất? Sắc đẹp? Tiền tài? Danh vọng? Quyền lực? Dục vọng? Bỗng nhiên trong đầu tôi xuất hiện một câu nói mà tôi đã đọc được ở đâu đó: “Trên đời có ba thứ mà bạn phải trân quí. Thứ nhất là Đức Tin (Faith), thứ hai là gia đình (Family), và thứ ba là bạn hữu (Friends). Rất tiếc, con người ngày nay không đếm xỉa đến những điều này, căn cứ trên lối sống và suy nghĩ rất tự nhiên, đặt nặng những giá trị vật chất. Như vậy, đức tin, gia đình và tình bạn giữ vai trò gì trong đời sống của mỗi chúng ta?…

Đức tin (Faith): Chúng ta chả ai thấy Đức Tin của mình hay của người khác. Nhưng chắc chắn một điều là phải có “đức tin”. Gần đây mọi người đều có dịp đọc và phê phán về câu nói bất hủ, ngạo mạn nhưng cũng rất ấu trĩ của tổng thống Phi Luật Tân, ông Rodrigo Duterte. Đại khái ông thách thức rằng nếu ai chứng minh cho ông biết có Chúa thì ông sẽ tin. Thách thức này làm tôi cũng nhớ lại một câu chuyện giữa một ông nhà giầu và một cậu bé nghèo.

Ông nhà giầu đi nghỉ mát tại một bờ biển đẹp. Trên balcon, cứ mỗi sáng nhìn xuống ông lại thấy một cậu bé vội vàng đi qua trên con đường trước ngôi biệt thự giầu có, đầy tiện nghi của ông. Tò mò, một sáng nọ, ông đã đứng trước cửa đợi sẵn chờ cậu bé đi qua. Gặp cậu bé, ông liền hỏi:

-Này em bé. Sao sáng nào em cũng vội vã đi trên con đường này vậy?

-Thưa ông, cháu đi đến nhà thờ dự lễ.

Nhìn cậu bé bằng một cái nhìn có vẻ thương hại, người nhà giầu nói:

-Làm gì mà có Chúa.

-Có chứ. Cậu bé đáp lại.

-Thế em chỉ cho ta Chúa ở đâu, ta sẽ thưởng.

Bằng một xác tín mãnh liệt của một đức tin chân thành, trong sáng. Em liền nói với người đang thách thức mình:

-Dễ thôi. Ông cứ nói với người phi công chở ông lên thật cao, thật cao trên bầu trời kia rồi ông mở cửa nhảy ra khỏi máy bay thì ông sẽ gặp Chúa liền!!!

Không biết ông nhà giầu kia có hiểu được điều em bé nói hay không. Nhưng trong thực tế tôi cho rằng rất nhiều người không nhận ra chân lý này, tổng thống Phi Luật Tân là một thí dụ. Chính Chúa cũng đã nói về những người này: “Chúng có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe”.

Đức tin không chỉ đem lại sự sống đời đời cho những kẻ tin nhận. Nó còn là một bảo đảm cho cuộc sống và những việc làm lương thiện của con người. Chúng ta vẫn thường nghe: “Trời xanh có mắt”.

Gia Đình (Family):

Nhạc sĩ Phanxicô đã lột tả tâm tình của một người con khi hướng về gia đình trong đó có cha mẹ, anh chị em với lời cầu xin cho đấng sinh thành  như sau:

  1. Con ra đời có mẹ cha là trời cao biển lớn bao la, từng ngày qua giữa tuổi ngọc ngà, con là nụ hoa bé nhỏ trong nhả, nhờ công cha nhờ nghĩa mẹ con khôn lớn trong muôn lời ca.

ĐK. Xin ơn trên gội xuống muôn nhà giúp mẹ cha ngày tháng an hòa, bao nhọc nhằn sinh trái đơm hoa. Xin cho con ở giữa gia đình, sống làm sao đền đáp ân tình ơn biển trời ghi khắc trong tim.

  1. Nuôi con bằng sữa tình yêu và dạy con bằng tiếng thương yêu. Là nụ hoa bé nhỏ dại khờ con nhờ mẹ cha mới trở nên người, bàn tay cha giòng sữa mẹ xin ghi nhớ không bao giờ quên.

(Cầu cho cha mẹ – Phanxicô)

Còn qua bài Lòng Mẹ, nhạc sĩ Y Vân đã diễn tả về tình người mẹ đối với con mình bằng những tâm tư sâu lắng và những hình ảnh phong phú. Và cho dù là thế, nó vẫn chưa đủ để nói lên tình thương bao la của người mẹ (người cha) đối với con cái mình, cũng như tấm lòng người con mỗi khi nghĩ về mái ấm gia đình:

Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào,
Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào,
Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào.
Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu.

Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu.
Tình Mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ.
Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ.
Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ.
………..
Dù ai xa vắng trên đường sớm chiều về đâu.
Dù khi mưa gió tháng ngày trong đời bể dâu.
Dù cho phai nắng nhưng lòng thương chẳng lạt mầu.
Vẫn mong quay về vui vầy dưới bóng mẹ yêu.

Không ai lại không nhận ra tình yêu của mẹ cha đối với con cái. Còn nữa, tình anh chị em, tình ông bà, cô chú, bác… Một bầu trời hạnh phúc mà tuổi thơ không thể thiếu để có thể lớn lên, phát triển, và hạnh phúc giữa cuộc đời.

Trong thực tế, những đứa con mất cha, mất mẹ, mồ côi cha mẹ, hoặc bị cha mẹ bỏ rơi là những đứa trẻ bất hạnh nhất. Muốn cảm được điều này, chúng ta chỉ cần nghe tâm sự của những đứa trẻ bụi đời, hoặc những dòng ký ức của những em vị thành niên trong trại tù, những em đang bị giam trong các trại hay nhà thương tâm thần. Người ta sẽ đi từ ngõ ngàng này đến ngỡ ngàng khác, và sẽ không khỏi ngạc nhiên trước những nụ cười rạng rỡ hạnh phúc khi nghe các em nói về cha mẹ, về gia đình, đặc biệt là khi các em biết rằng mình sắp sửa được về với gia đình..

Với kinh nghiệm nghề nghiệp tôi không tin rằng những hình ảnh, những ký ức đẹp đẽ về gia đình lại có thể bị chết trong lòng ngay cả đối với những bệnh nhân tâm lý hoặc tâm thần. Vì tôi vẫn thấy những hình ảnh ấy, những kỷ niệm ấy nơi mỗi bệnh nhân mà tôi vẫn có dịp gặp gỡ, giao tiếp.

Và khi nói về gia đình, chúng ta cũng không thể nào quên được người bạn đường của mình, người mà chúng ta đã “bỏ cha mẹ và luyến ái” để rồi cả hai trở nên một xương, một thịt. Để rồi từ sự kết hợp ấy, tình yêu làm nẩy sinh những hoa trái là những đứa con đến trong đời mang lại rộn rã những tiếng cười của trẻ thơ.

Bạn hữu (Friend): “Không ai là một hòn đảo!” Thomas Merton, nhà chiêm niệm, tư tưởng gia đã viết một câu rất ý nghĩa kể cả về tâm lý, tâm linh, và xã hội.

Về mặt tâm lý, có ai đó đã bao giờ trải qua những thời khắc cô đơn và buồn nản? Trong những giây phút ấy nếu là bạn, bạn cảm thấy thế nào? Thời gian như ngừng đọng, bầu trời tâm hồn trở nên tăm tối, sức sống và nghị lực như tiêu tan, và bạn không muốn sống nữa. Thực tế đã có nhiều người kết liễu cuộc đời mình vì sự cô liêu, đơn độc, không tìm được người bạn đường, bạn tình cùng chia sẻ cuộc sống. Những lúc như vậy, cuộc sống thật là vô nghĩa.

Còn về mặt tâm linh thì sao? Dĩ nhiên là sự trống rỗng tâm linh còn nguy hiểm, còn khủng khiếp hơn sự trống vắng tâm lý. “Buồn rầu làm héo hắt con tim”, và “Sự buồn nản là con đẻ của ma quỉ”. Những người không có niềm tin không những không tìm được ý nghĩa cuối cùng cho cuộc đời. Họ không biết mình từ đâu tới và sẽ đi về đâu. Lang thang giữa chốn lệ sầu, thất vọng và tuyệt vọng.

Niềm tin đưa con người tìm về uyên nguyên, về Thượng Đế, và dĩ nhiên trên hành trình đức tin, họ cùng đồng hành với các bạn đường.

Về mặt xã hội. Con người không thể sống được một mình.Bạn hữu là người gần gũi và chia sẻ với ta lúc vui cũng như khi buồn. Là người khuyến khích ta khi ta thấy mình nản chí, hoặc đang cần một nghị lực vươn lên cho những hoài bão. Là người sửa sai ta khi ta lầm lỗi. “Friend in need, friend indeed”. Câu truyện tình bạn Lưu Bình-Dương Lễ chỉ là một thí dụ trong nhiều mối tình bạn bất hủ nói lên rằng, thực sự ta không phải là một hòn đảo. Ca dao Việt Nam có câu: “Giầu vì bạn, sang vì vợ.”

Tóm lại, có ba thứ trên đời mà ta không bao giờ được coi thường, lơ là và khinh xuất. Ngược lại, phải yêu mến, trân quí, và duy trì phát triển, đó là niềm tin, gia đình, và tình bạn.

From: kl_nguyen7580 & NguyenNThu

“GIỌT NƯỚC MẮT NGƯỜI PHỤ NỮ “BÊN THẮNG CUỘC” (*) – NHÀ VĂN DƯƠNG THU HƯƠNG.

Image may contain: 1 person, night and closeup

Võ Hồng Ly is with Võ Hồng Ly.

06.01.2019

Bài viết của tác giả Đinh Quang Anh Thái : “GIỌT NƯỚC MẮT NGƯỜI PHỤ NỮ “BÊN THẮNG CUỘC” (*) – NHÀ VĂN DƯƠNG THU HƯƠNG.” – tháng 2/2018-

Dương Thu Hương tự nhận mình là “người rừng”, “mụ đàn bà nhà quê răng đen, mắt toét”. Báo chí Pháp thì gọi Dương Thu Hương là “Con Sói Đơn Độc”. Còn lãnh đạo CSVN thì chửi bà là “con đĩ chống đảng”.

Gọi bằng gì thì gọi, Dương Thu Hương vẫn là chính mình: bản chất chân quê không hội nhập vào thế giới trên mạng, bõ bã, đốp chát, đơn độc, và trên hết, ngay thẳng, hết mực với mục tiêu nhắm tới là tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ, tự do, thoát khỏi cái chế độ hiện nay mà bà gọi là “chỉ sống bằng xác chết, không có bất cứ giá trị gì cả.”

Sinh năm 1948, lớn lên tại miền Bắc vào đúng giai đoạn Cộng sản Hà Nội tung toàn lực lượng nhất quyết bằng mọi giá phải đạt được tham vọng “giải phóng miền Nam thoát khỏi sự kềm kẹp của Mỹ-Ngụy.” (sic)

Như lời bà kể, cùng với hơn 100 bạn ngang lứa tuổi, bà đã cắt máu xin vào Nam “đánh Mỹ cứu nước”. Những trải nghiệm trong chiến tranh, cùng những chua chát của Tháng Tư 1975 đã là chất liệu cho các tác phẩm sau này của bà, như “Những Thiên Đường Mù”, “Bên Kia Bờ Ảo Vọng”, “Khải Hoàn Môn”, “Đỉnh Cao Chói Lọi”, “No Mans Land” (ấn bản Anh ngữ) được dịch sang Pháp ngữ là “Terre Des Oublis”…

***
Dấu mốc quan trọng làm thay đổi hẳn cuộc đời Dương Thu Hương là thời điểm đoàn quân của “bên thắng cuộc” vào Sài Gòn trưa ngày 30 Tháng Tư 1975.

Trong các bài viết, và trong lần gặp bà ở Paris năm 2005, Dương Thu Hương kể: “Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là một ngả rẽ trong đời tôi. Khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi ngồi bên lề đường khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ…nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ.”

Từ những nhận thức này, Dương Thu Hương trở thành “Con Sói Đơn Độc” ngay giữa bầy đàn của mình, vì hầu như không có người nào trong hàng ngũ lên tiếng đấu tranh cho dân chủ sau 1975 lại có lối ăn nói bõ bã, “chém đinh chặt sắt” như bà. Bà nói, “chẳng việc gì phải kiêng dùng những danh từ mà nhiều người cho là thô bỉ, như là ‘ỉa vào mặt kẻ cầm quyền’, vì đó là cách nói thuần của người Việt răng đen mắt toét; là ngôn ngữ đích xác của người nông dân khi họ muốn biểu lộ thái độ khinh bỉ và bất chấp. Tôi hành động như thế là có dự tính chứ không phải ngẫu hứng. Tôi rất ghét những thứ ngôn ngữ nhờ nhờ nhạt nhạt.”
Năm 1997, Lê Khả Phiêu lên làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, từ Washington DC, kẻ viết bài gọi điện thoại về Hà Nội hỏi Dương Thu Hương, rằng cảm nghĩ của bà ra sao về tân lãnh đạo CS, bà bốp chát: “ông đã có bao giờ thấy âm hộ của con ngựa già chưa? Đấy, mặt thằng Lê Khả Phiêu thế đấy, nó nhăn nheo y như âm hộ con ngựa già”.

Và năm 2,000 khi Tổng Thống Mỹ Bill Clinton đến thăm Hà Nội, bà trả lời phỏng vấn của kẻ viết bài qua điện thoại: “Cliton là biểu tượng của một nền dân chủ, là một chân trời khác, một cuộc sống khác mà người ta ao ước.” Và bà cười sảng khoái, thuật lại câu của hàng xóm láng giềng nhà bà họ nói “sao mà xấu hổ thế! tổng thống của chúng nó, của dân Mỹ đứng cạnh mấy ông lãnh đạo của mình, mặt nó thì sáng ngời ngời, còn mặt mấy ông lãnh đạo của mình sao mà tối tăm thế. Mặt Tổng bí thư Lê Khả Phiêu tuy đã sửa nhan sắc nhưng trông cũng không đẹp cho lắm. Cho nên dân chúng bảo xấu hổ quá. Còn cánh đàn ông thì họ rú lên, ối giời ơi! Cái thằng Clinton nó đẹp giai quá! Mình cũng còn mê nó nữa là đàn bà. Cho nên một trăm con mê nó thì cũng phải thôi.” (cười to tiếng, sảng khoái).

Rồi “Con Sói Đơn Độc” nói tiếp “hàng xóm nhà tôi xem thằng Lê Khả Phiêu là lãnh đạo của họ thì các ông bà ấy xấu hổ nhục nhã; chứ còn tôi thì tôi thấy bình thường; vì từ lâu tôi đã coi mấy thằng lãnh đạo chúng nó chẳng ra cái gì, cho nên tôi chả việc gì phải nhục hộ chúng nó.”

Chưa hết, “mụ nhà quê răng đen mắt toét” còn kể, “một nhà báo Mỹ phỏng vấn tôi và hỏi tôi nghĩ như thế nào về quan hệ của tôi với chế độ, tôi nói thẳng rằng, chế độ Hà Nội là bọn ngửi rắm bọn Bắc Triều Trung Quốc”.

Đó chính là Dương Thu Hương.
***
Lý do nào lãnh đạo Hà Nội chửi bà là “con đĩ chống đảng?”

Ngồi cạnh cửa sổ căn hộ lầu hai của bà ở Quận 5 Paris, bà cười, kể lại: “Trong bài diễn văn tôi đọc ở Đại hội Nhà Văn năm 89, tôi nói rằng đảng cộng sản phải biết ơn nhân dân. Bởi vì xưa nay họ chỉ nói nhân dân phải biết ơn đảng thôi. Trong bài diễn văn đó, tôi phân tích rằng, cả một dân tộc đã đổ xương máu để kháng chiến chống Pháp và những gì dân tộc đạt được là do truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc nhưng đảng cộng sản đã cướp tất cả công đó và nhận vơ là công của đảng. Họ còn dậy dỗ quần chúng là phải biết ơn đảng. Hành động như thế vừa đểu cáng vừa vô ơn bạc nghĩa và tự cao tự đại. Những kẻ như thế không xứng đáng để lãnh đạo dân tộc.

Hỏi, bà có bao giờ bốp chát trực tiếp như thế với giới lãnh đạo chế độ, Dương Thu Hương cười nửa miệng, nói, “tôi sợ gì chúng nó, tôi từng chửi ‘ỉa vào mặt đảng’”.

Dương Thu Hương kể, “Năm 1998, trong một nghị của trí thức Hà Nội, tôi có đọc bài diễn văn với tựa đề là Nhân Cách Trí Thức. Tại hội nghị đó, ông Nguyễn Văn Linh (Tổng bí thư đảng cộng sản lúc bấy giờ) tỏ ra vô cùng đắc ý với nội dung bài diễn văn của tôi. Ông ta đã ôm hôn tôi thắm thiết và xin bài diễn văn của tôi. Sau đó, vào giờ giải lao, người thư ký của ông ta tìm tôi và chuyển đề nghị của ông Linh muốn tặng tôi một căn nhà tiêu chuẩn dành cho cấp bộ trưởng. Người thư ký này còn đề nghị tôi tạm im lặng để cho đảng tự cải sửa. Tôi trả lời rằng, tất cả những việc tôi làm là vì dân tộc chứ không phải vì bản thân tôi; và tôi không giàu có nhưng cũng có một căn nhà đủ để ở. Tôi còn nói với ông thư ký của ông Linh rằng, hiện giờ đang có hai vạn giáo viên tiểu học ở Hà Nội không có nhà để ở, cho nên nếu nhà nước có ý định thì nên phân phối nhà cho hai vạn người đó.

“Một lần khác, nhà thơ Giang Nam lúc đó còn sống, chuyển lời của ông Nguyễn Văn Linh mời tôi ăn cơm với vợ chồng ông Linh và cô con gái của ông Linh. Giang Nam còn bảo là ông Linh nói rằng, dù sao chăng nữa thì tôi cũng là người mà nhà nước này yêu mến vì tôi đã tình nguyện chống Mỹ và chống Tầu, và đó là điều chứng minh tôi là người hết sức hy sinh để bảo vệ tổ quốc. Tôi trả lời thẳng thừng rằng, tôi đã đấu tranh cho tự do dân chủ, tôi chỉ ngồi trên cỏ thôi, nên tôi không chơi với vua quan.

“Tôi nghĩ rằng những lời phát biểu đó của tôi khiến ông Linh phật lòng. Về phương diện cá nhân thì hẳn là ông ấy phải phật lòng, và sau đó thì ông ấy bị sức ép của cánh bảo thủ, nên ông ấy quay ngoắt lại và ông ta đánh vào các nhà văn mà ông ấy từng khuyến khích họ đừng uốn cong ngòi bút. Với cá nhân tôi thì ông ta mắng tôi là ‘con đĩ chống đảng’. Lúc đó tôi nói với một ông trong ban tổ chức đảng rằng, nếu tôi là đĩ thì may cho cái đảng này; nhưng vì tôi không đánh đĩ được cho nên tất cả mọi năng lực của tôi đều dồn vào việc ỉa vào mặt đảng. Họ đã chửi tôi như vậy thì từ giờ trở đi mọi sự đều rõ ràng, không còn con đường thứ ba nữa. Nghĩa là tôi dấn thân đến cùng trong mục tiêu đấu tranh cho dân chủ.

Nhân Dương Thu Hương kể việc Nguyễn Văn Linh muốn tặng bà căn nhà, kẻ viết bài này lại nhớ câu nói để đời của Thi sĩ Hữu Loan, tác giả bài thơ bất hủ “Màu Tím Hoa Sim”.

Ông Hữu Loan vào Sài Gòn sau 1975 thăm một người bạn cũ là Thi sĩ Hà Thượng Nhân và kể cho người bạn xưng hô “mày tao chi tớ” từ thửa thiếu thời với mình, rằng đảng CS muốn tặng ông căn nhà để ông đừng chống đảng nữa, ông trả lời “Tôi không có thì giờ làm nhà vì đang bận làm người”. Hữu Loan còn khẳng định thái độ sống của ông, “cả đời là thanh gỗ vuông chành chạnh, cương quyết không để người ta đẽo tròn lăn đi đâu thì lăn.”

Tác giả “Màu Tím Hoa Sim” đã phải trả giá cho cách sống như “cây tùng trước bão” của mình: bị chế độ bỏ tù, sau đó bị giam lỏng tại nhà ở Nga Sơn,Thanh Hóa và kiếm sống bằng những chuyến xe kĩu kịt đá và những mớ bánh chui nhủi của vợ.

Và Dương Thu Hương, những lời đanh thép đánh thẳng vào đảng như thế khiến bà bị bắt vào Tháng Tư năm 1991 và được thả khỏi nhà tù nhỏ ngày 20 tháng 11 cùng năm đó.

Phải chăng Dương Thu Hương cắt máu tình nguyện vào Nam “đánh Mỹ” vì muốn phục vụ đảng CS, kẻ viết bài hỏi câu đó và bị tác giả “Những Thiên Đường Mù” đáp trả bằng giọng khinh bạc, ông Thái lầm rồi, “năm 68 tôi vào tiền tuyến là vì tôi tuân thủ truyền thống cứu nước của dân tộc Việt Nam chứ không vì phải đảng cộng sản. Tôi còn nhớ lúc xẩy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tự bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết. Thật khủng khiếp. Khi 8 tuổi, buổi sáng khi đi tưới rau, tôi thấy cảnh những người chết như thế và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp. Cho nên tôi nhắc lại, tôi chiến đấu hoàn toàn không vì cái đảng gây ra cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu người dân như thế”.

Những năm tháng bị cuốn vào cuộc tàn sát, Dương Thu Hương cho biết, “đến tận bây giờ, cuộc chiến vẫn ám ảnh tôi. Lúc tôi tình nguyện vào Nam, số học sinh của cả bốn lớp 10 của trường chúng tôi vào chiến trường khoảng 120 người, vậy mà chỉ 2 người may mắn sống sót, là tôi và một người nữa. Tôi thì bị bom làm điếc tai bên phải; người còn lại là cậu Lương thì bị cụt một tay và trở nên ngớ ngẩn. Tất cả những bạn khác của tôi không ai sống sót. Khi tôi đi tìm mộ của những bạn đã chết, tôi mới biết, trong những trận đánh mà bộ đội miền Bắc thua, thì người ta xóa sạch dấu vết và tên tuổi liệt sĩ không được ghi lại. Họ giải thích rằng dân tộc ta là dân tộc anh hùng phải chiến thắng quân thù, nhưng trận này chưa thắng cho nên không thể kiểm kê các liệt sĩ được. Cho nên hàng trăm người chết dưới đáy hồ, dưới đáy vực mà hoàn toàn không ai tìm được tung tích.”

Đang nói chuyện, nhiều lúc, Dương Thu Hương trôi vào im lặng, kẻ viết bài có cảm tưởng những bóng ma của cuộc chiến đang quay về ám ảnh bà.

Dương Thu Hương và tác giả tại một quán ăn ở Paris năm 2005

Vì bị điếc nặng nên bà phải nói rất to thì mới nghe được giọng mình. Đi cạnh bà trên đường phố Paris, bà nói như quát khiến nhiều người chung quanh nhìn bà tỏ ra khó chịu. Ngồi tại một quán cà phê gần Tháp Eiffel, bà nói, mắt long lên sòng sọc: “Chế độ hiện nay chỉ sống bằng xác chết thôi. Nó không có giá trị gì trong thời đại này cả. Những người lãnh đạo chế độ hoàn toàn vô năng và tham nhũng.”

“Bà tự nhận là ‘kẻ làm giặc’ ngay trong lòng chế độ, vậy các con bà bị thiệt thòi ra sao ạ”, tôi hỏi?

“Tôi đã nói rất rõ với các con tôi, rằng con đường làm giặc là phải chịu tất cả mọi khổ đau; cho nên tất cả mọi người trong gia đình, nghĩa là bố tôi, mẹ tôi, anh em tôi và con cái, nếu ai muốn thì tôi sẵn sàng viết giấy với tòa án là không có quan hệ với tôi nữa để tránh cho họ khỏi bị di lụy. Còn nếu những người muốn tiếp tục đứng với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, thua thiệt và không bao giờ được nói với tôi một lời can thiệp vào việc tôi làm. Bởi vì tôi biết chắc chắn cộng sản sẽ dùng những người thân thuộc để gây sức ép. Nhiều trường hợp đã xẩy ra đối với những người đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Vợ con, anh em của họ bị công an áp lực phải khuyên can họ không được đấu tranh nên một số người đành bỏ cuộc. Bản thân tôi đã lường trước điều đó nên tôi tuyên bố sòng phẳng rằng, cả tuổi xuân của tôi, tôi đã hy sinh để nuôi con rồi, nên bây giờ tôi an tâm lao vào cuộc chiến chống lại bọn cường quyền. Tôi bảo các con tôi có thể về sống với bố của chúng hay với một người mẹ khác. Còn nếu chọn sống với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, vì chắc chắn chúng sẽ không có chỗ đứng trong chế độ này. Hai con tôi đứa nào cũng hai bằng đại học nhưng vẫn không có việc làm. Con trai lớn của tôi phải sống bằng tất cả mọi việc, từ bồi bàn cho đến gác cổng. . .và bây giờ đi quay phim thuê cho một hãng tư. Cháu gái thì bán sơn.”

Kẻ viết bài được gặp con gái lớn của Dương Thu Hương khi cháu thăm mẹ ở Paris; hỏi, các cháu có ủng hộ lý tưởng của mẹ không, cô con nói, giọng cũng mang hơi hướng “người rừng” giống mẹ: “thôi chú đừng nhắc chuyện điên khùng ấy làm gì.”
Còn Dương Thu Hương nói, “đối với chúng nó, tôi là một người điên. Nhưng dầu sao chăng nữa thì cũng là tình mẹ con, nhất là tôi đã giao hẹn là nếu chấp nhận tôi thì không được can ngăn việc tôi làm, nếu can thiệp thì tôi sẽ cắt đứt ngay tức khắc, thành ra chúng nó đành chấp nhận thôi.”

“Thế còn tình cảm đôi lứa, gia đình của bà?”

(Cười) “Tôi là người hoàn toàn thất bại và bất hạnh trong cuộc sống đôi lứa. Nhưng tôi cũng tự cảm thấy hạnh phúc vì tôi đã tự tiêu diệt tuổi thanh xuân để nuôi con tôi trưởng thành. Con cái tôi không phải bương chải ngoài đường. Trong khi bố nó có thể đi kiếm vài ba người vợ khác. Tôi không cần một xu của ông ta để nuôi con, dù tôi làm giặc và chịu nhiều hậu quả. Đấy là điều hạnh phúc. Nếu không tôi sẽ bị lương tâm cắn rứt. Tôi còn một hạnh phúc nữa là tôi đã trả được tất cả những món nợ cho những người bạn tôi đã chết trong chiến tranh. Ít nhất là bằng tác phẩm và những bài viết để vạch trần tội ác của một cuộc chiến tranh phi lý. Tôi cảm thấy hạnh phúc trong sự bất hạnh của mình. Tôi nghĩ rằng số phận đã chọn tôi để trở thành một con người như vậy.”

“Tiêu phí tuổi trẻ trong chiến tranh để rồi sau đó bị chế độ đầy đọa vì làm giặc, bản thân thì không ai dám giao tiếp vì sợ bị liên lụy; có bao giờ bà chùn bước và muốn buông xuôi?”

(cười mũi) “Nếu mà tôi chùn bước, buông xuôi thì tôi đã chùn bước, buông xuôi từ lâu rồi.”

“Bà tin vào nhân quả?”

“Tôi hoàn toàn tin vào thuyết nhân quả. Tôi hoàn toàn tin vào kiếp sau. Tôi vẫn dậy con tôi phải sống cho có trước có sau. Nhiều người muốn tôi phải thế này phải thế khác. Tôi trả lời rằng tôi không phải gì cả. Tôi chỉ phải sống đúng với những nguyên tắc đạo đức mà gia đình tôi đã dậy tôi và những nguyên tắc mà tôi học được ở đạo Phật. Các con tôi cũng phải theo những nguyên tắc đạo đức đó. Bất luận chúng nó là thường dân hay là người lỗi lạc, tôi đối xử như nhau. Tôi không yêu cầu con cái tôi phải trở thành bác sĩ, tiến sĩ. . ., tôi không yêu cầu như thế. Tôi chỉ duy nhất yêu cầu các con tôi sống tử tế; và đối với tôi đạo đức là cốt lõi.”

Căn hộ Dương Thu Hương có bàn thờ Phật Thích Ca. Có lần bà nói, đạo Phật giúp bà định được tâm mình; rồi bà đùa, “anh Phật quả là đẹp giai thật.” Trò chuyện nhiều với bà thì biết, bà vẫn không bỏ được cái lối tếu táo “người rừng” chứ thực tâm bà hết mực thờ kính Đức Thế Tôn.

Dương Thu Hương có nguyên tắc sống đạo đức rạch ròi, không khoan nhượng. Thăm bà ở Paris, kẻ viết bài xin phép biếu bà chút quà, bà quát lên bảo, không nhận bất cứ vật chất nào của bất cứ ai.

Những bữa cơm tiệm ở Paris, bà giành trả tiền và khẳng định, nếu kẻ viết bài trả thì “về Mỹ ngay, không phỏng vấn phỏng viếc gì nữa.’

Đành bó tay chịu thua “mụ nhà quê mắt toét,” cách tôi vẫn gọi bà Hương mỗi khi điện thoại thăm hỏi. Bốp chát, bõ bã, không khoan nhượng là Dương Thu Hương. Đạo đức cốt lõi cũng là Dương Thu Hương.
Bây giờ “Con Sói Đơn Độc” đã bước vào tuổi 70, vậy mà ngọn lửa đấu tranh cho một tương lai Việt Nam tươi sáng vẫn ngùn ngụt cháy trong trái tim bà.

Đinh Quang Anh Thái./.
——-
(*) “Bên Thắng Cuộc” là tựa cuốn sách của Nhà báo Huy Đức

Cái hèn và cái khổ của giới cầm bút Việt Nam

Image may contain: 1 person, sky, outdoor and nature
Nguyễn Thanh Luận

Cái hèn và cái khổ của giới cầm bút Việt Nam

(Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc)

Tôi mới đọc bài viết “Sự hèn mạt của báo chí” trên blog của Trương Duy Nhất. Đọc xong, vừa thán phục vừa ngậm ngùi. Thán phục sự can đảm của tác giả và ngậm ngùi cho thân phận báo chí Việt Nam.

Trương Duy Nhất kể lại một câu nói của một cán bộ tuyên giáo nào đó trong một bữa nhậu mấy năm trước: “Báo chí các cậu hèn bỏ mẹ!” Rồi bình luận tiếp: “Tức. Một tay nó bóp d.., tay kia dán băng keo bịt miệng, thế mà vẫn lớn tiếng chê mình hèn. Định vung cho lão một đấm, nhưng nghĩ lại thấy lão nói đúng chứ đâu sai. Báo chí kiểu gì mà chỉ một cú điện thoại, một văn bản miệng đã răm rắp tự bịt miệng nhau.”

Và ông dẫn chứng: “Một cái lệnh miệng từ văn phòng Ủy ban Nhân dân huyện Văn Giang (Hưng Yên) cũng khiến tất cả hơn 700 tòa báo câm lặng, không dám cử phóng viên đến đưa tin. Khi hai phóng viên của đài tiếng nói Việt Nam (VOV) bị đánh đập, trấn áp dã man, bị còng tay bắt giữ như tội phạm, thu máy ảnh, thu thẻ nhà báo, thẻ đảng, thẻ luật gia… nhưng không một tòa báo nào dám lên tiếng, kể cả cơ quan chủ quản của họ. Và bản thân 2 nhà báo bị đánh cũng không dám công khai lên tiếng.

“Phải đợi đúng nửa tháng sau, trước sức ép dữ dội từ dư luận và sự mắng chửi từ các trang mạng lề trái, VOV mới miễn cưỡng đăng vài mẩu tin lên tiếng bảo vệ phóng viên của mình. Nhưng được vài hôm rồi im bẵng đến nay. Không còn nghe bất cứ một tòa báo nào nhắc lại chuyện này nữa. Câu chửi “Đ.M mày! Nhà báo cũng đánh cho chết mẹ mày đi” trong vụ trấn áp Văn Giang vẫn văng vẳng mãi như một nỗi ô nhục của nghề báo.”

Trương Duy Nhất nêu lên nhận định của một số đồng nghiệp.

Ví dụ, nhà báo/blogger Phan Văn Tú: “Trong đầu thằng nhà báo Việt nào hình như cũng có một cái kéo. Nó tự cắt nó trước khi bị người khác cắt”. Hay, nhà báo Đào Tuấn, được giới thiệu là một “cây bút kỳ cựu của Đại Đoàn Kết, nay sang tờ Dân Việt”: “Nhiều người cầm bút giờ còn bi kịch hơn khi hàng ngày phải viết những điều không giống với sự thật… hàng ngày, dù không tin, nhưng vẫn phải viết ra một điều không thật – một cách khéo léo đến dối trá, để thuyết phục người đọc tin rằng đó là sự thật.”

Cuối cùng, Trương Duy Nhất kết luận, đay đi nghiến lại nhiều lần, trong nhiều câu khác nhau, trong suốt nửa sau của bài viết:

“Chưa bao giờ báo chí lại sợ hãi đến vậy. […] Run sợ đến dối trá. […] Báo chí chưa bao giờ nhạt chán, hèn nhục đến vậy. […] ở Việt Nam, nếu không mù chữ thì ai cũng có thể làm nhà báo được.”

Không phải chỉ có giới làm báo mới hèn. Các giới khác, từ giới làm văn, làm thơ đến giới làm âm nhạc cũng hèn. Nhạc sĩ Tô Hải tự nhận mình là “bồi bút”, là “hèn sĩ”, và, ở tuổi 80, viết nguyên cả một cuốn sách với nhan đề là Hồi ký của một thằng hèn.

Trước đó, năm 1988, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, trong bài “Cái hèn của người cầm bút” đăng trên tạp chí Sông Hương số 31, cũng nói nhiều về những cái hèn ấy. Ông so sánh giới cầm bút Việt Nam với một số người cầm bút ở Liên Xô cũng như ở Việt Nam thuộc thế hệ trước, như Nam Cao, chẳng hạn, và rút ra nhận định: Nhà văn Việt Nam hèn không phải chỉ ở việc bẻ cong ngòi bút để phục vụ tuyên truyền mà còn ở chỗ không dám viết thật, dù chỉ viết cho mình đọc. Có điều kết luận của ông không hẳn dễ được nhiều người đồng ý: Người cầm bút Việt Nam hèn, nhưng cái hèn ấy chủ yếu “do chính người cầm bút tạo nên cho mình. Mình tự làm hèn mình!”

Nói đến cái hèn của người cầm bút Việt Nam, không thể không nhớ đến bài “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” của Nguyễn Minh Châu trên báo Văn nghệ ở Hà Nội năm 1987, một bài viết được xem là tiêu biểu cho phong trào đổi mới văn học tại Việt Nam. Bài viết đặt ra nhiều vấn đề, trong đó, một trong những vấn đề được Nguyễn Minh Châu viết một cách tâm huyết và để lại nhiều ấn tượng nhất cho người đọc chính là vấn đề cái hèn. Có lúc ngỡ như ông vừa viết vừa nghẹn ngào. Giọng văn đầy cảm xúc:

“Văn chương gì mà muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh? Hèn, hèn chứ? Nhà văn nước mình tận trong tâm can ai mà chẳng thấy mình hèn? Cái sợ nó làm mình hèn. Vì thế mà từ xưa tới nay có bao nhiêu nhà văn nhà thơ đã đi ở ẩn ngay trong tác phẩm? Chúng ta vắng thiếu những cây thông đứng sừng sững. Có một nhà văn đàn anh nâng chén rượu lên giữa đám đàn em: “Tao còn sống, còn cầm bút được đến bây giờ là nhờ biết sợ!”, nói rồi ngửa mặt lên trời cười rung giường, nước mắt tuôn lã chã, giọt đổ xuống đất, giọt đổ vào lòng. Có người cầm bút đến lúc sắp bước sang thế giới bên kia vẫn chưa dám thốt lên một lời nói thật tự đáy lòng, không dám viết hồi ký thực, vì sợ để liên lụy đến đời con cái. […] Sao mà khổ vậy?”

Đọc những lời tức tưởi như vậy, thực tình tôi không muốn bình luận gì thêm. Chỉ thấy vang vang trong đầu câu hỏi của Nguyễn Minh Châu: “Sao mà khổ vậy?”

Ừ, sao mà khổ đến mức như vậy mà người ta vẫn chịu đựng được mãi?

LIÊN LỤY

Image may contain: 1 person, standing
PhapLuat

LIÊN LỤY

Khổng Tử có học trò tên Mỗ, người nước Đằng. Mỗ học vào loại trung bình, song luôn luôn tự cho mình là giỏi nhất. Học được vài năm, Mỗ xin về nước vì tưởng rằng đã học hết đạo của thầy. Tử Cống thấy vậy hỏi:
– Người ấy về nước rồi làm quan có sao không?
Khổng Tử rung đùi đáp:
– Không sao.

Lại hỏi tiếp:
– Làm tướng có được không?
Khổng Tử vuốt râu đáp:
– Được.

Lại hỏi tiếp:
– Thế nhỡ về làm giặc?
Khổng Tử vừa ngáp vừa trả lời:
– Cũng không hại gì.

Bấy giờ Tử Cống mới yên tâm mà thủng thẳng:
– Nghe nói Mỗ xin về nước chỉ để làm thầy!

Khổng Tử vừa nghe câu đó, bỗng giật bắn mình. Thế là chân không kịp xỏ giày, áo không kịp cài khuy, vội vàng lao ra cổng chạy như hớt hơ hớt hải. Học trò đuổi theo hỏi: “thầy chạy đi đâu?”. Khổng Tử vừa chạy vừa đáp:
– Sang ngay nước Đằng.

Học trò lại hỏi: “sang nước Đằng làm gì?”.

Khổng Tử vẫn vừa chạy vừa trả lời:
– Sang ngăn không cho tên Mỗ làm thầy. Hắn có làm quan thì cùng lắm chỉ hại đến một ấp. Làm tướng cũng chỉ hại đến một thành. Thậm chí có làm giặc cũng chưa chắc đã hại nổi ai. Nhưng nếu hắn làm thầy thì sẽ hại đến muôn đời. Ngay cả ta cũng khó mà tránh khỏi liên luỵ…”.

NHỮNG QUẢ ĐẤM THÉP THÀNH… NHỮNG QUẢ ĐẤM HAN RỈ.

Thuong Phan and 2 others shared a post.
Image may contain: 1 person, text
Anh Tran

NHỮNG QUẢ ĐẤM THÉP THÀNH… NHỮNG QUẢ ĐẤM HAN RỈ.

TKV. Tập đoàn than khoáng sản VN : Nợ 100 nghìn tỷ. 
EVN. Tập đoàn điện lực VN : Nợ 475 nghìn tỷ. 
Vinashine : 96 nghìn tỷ.
Vinalines : 50 nghìn tỷ.
Viettel Global : Lỗ 3500 tỷ, nợ 22 nghìn tỷ ở Châu phi ( Công ty con của Tập đoàn Viettel)
Bauxite Lâm Đồng : Lỗ 3700 Tỷ.
PVN mất trắng chục nghìn tỷ ở Venezuela.
Gang thép Thái nguyên : 12 nghìn tỷ
Huyền Như : 4000 tỷ.
Ngân hàng XD : 9000 tỷ.
Trịnh Xuân Thanh : 3500 tỷ.
Nhà máy SX tơ sợi Đình Vũ : 1700 Tỷ.
Dự án nhà máy bột giấy Phương Nam : 3000 tỷ.
Nhà máy sinh học Dung Quất: 1900 tỷ.
Dự án NM đạm Ninh Bình : 3000 tỷ
Dự án NM đạm Hà Bắc : 7000 tỷ
Dự án đạm DAP 1 Hải phòng : 1000 tỷ.
Dự án đạm DAP 2 Lào Cai : 1000 tỷ.
Các dự án nhà máy Ethanol : 5400 Tỷ.
Dự án liên doanh giữa đối tác mỏ Quy Sa và NM gang thép Lào Cai : 1000 tỷ.
Và hàng trăm các tượng đài, bảo tàng, công viên nghìn tỷ bỏ hoang, và hàng nghìn các vụ tham nhũng thất thoát khác.

CƯỠNG CHẾ VƯỜN RAU LỘC HƯNG: CHỐN NÀO DUNG THÂN?

CƯỠNG CHẾ VƯỜN RAU LỘC HƯNG:
CHỐN NÀO DUNG THÂN?

[Linh Mục Giuse Ngô Văn Kha]

Thái Hà – Sáng ngày 4-1-2018, đang trong mùa Giáng Sinh, nhà cầm quyền Thành phố HCM đã bất ngờ ra quân, với kịch bản và mọi trang bị cần thiết thường thấy cho những cuộc cưỡng chế thô bạo, nhắm vào những căn hộ mà nhà nước đã không chịu không phép, trên khu đất nằm trong khu dân cư vườn rau Lộc Hưng, thuộc phường 6, quận Tân Bình, do Hội đồng quản trị Công giáo địa phận Sài Gòn đứng bộ. Mảnh đất này có diện tích gần 60,000m2 do những hộ giáo dân miền Bắc di cư năm 1954 vào khai hoang canh tác và đã đoàn kết đấu tranh với những dự án quy hoạch mơ hồ của nhà nước suốt từ năm 2002 đến nay.

Dưới bàn tay phù phép của nhà cầm quyền, những mục đích của dự án liên tục được điều chỉnh, từ kinh doanh, sang công ích, bất chấp tính hợp lý với quy hoạch tổng thể, để vừa cho người dân cảm thấy mảnh đất bao năm đang sinh sống làm ăn của họ không ổn định, vừa đánh vào tâm lý người dân chờ đợi ngày, nhà cầm quyền sẽ dùng bạo lực để cưỡng chế thu hồi, nếu không chịu giao đất.

Người dân không lạ gì “chiêu trò” liên tục chuyển đổi dự án, nhằm giảm đến mức thấp nhất các khoản tiền phải đền bù. Và một khi đã có quỹ đất giao cho nhà đầu tư để đổi lấy dự án, nhà cầm quyền chỉ có “được”, chẳng mất mát gì.

Chốn nương thân của bao người, cưu mang bao gia đình bỗng chốc tan hoang dưới bàn tay tàn phá, cướp bóc của nhà cầm quyền cộng sản. Với chính sách đất đai chẳng phải của bất cứ ai, dù là công dân hợp pháp hoặc do tổ tiên khai phá để lại, vẫn là “sở hữu toàn dân”. Có người đã châm biếm về “thằng toàn dân” chẳng có hình dạng, nhưng ai cũng biết là “thằng nào”

Đó là “thằng” vẫn mang bộ mặt thể chế chính trị bạo lực, dối trá và tham lam, với hàm răng nhọn nghiền nát mọi đất đai, tài sản của người dân đến những tài nguyên vô cùng phong phú của đất nước, để lại xung quanh nó là đói nghèo, bệnh tật, chết chóc cùng những tiếng kêu ai oán, và tương lai thì vô vọng, mịt mờ bốc lên từ đống xà bần mới cưỡng chế.

“Thằng ấy” đã đến giữa người dân ở Vườn Rau Lộc Hưng, hoá phép biến bầu khí hân hoan ấm áp của mùa Giáng Sinh thành nơi điêu linh tàn khốc.

Nhưng chính trong lúc khốn cùng khổ ải này, người dân Lộc Hưng mới thấy, quả thật chỉ có Chúa, mới “là chốn dung thân cho người hèn yếu, là nơi nương náu cho kẻ khó nghèo khi gặp bước gian truân.” (Is 25,4)

Và mong chờ ngày ấy, trên mảnh đất này, “Ðức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Ðức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người, và trên toàn cõi đất, Người sẽ xoá sạch nỗi ô nhục của dân Người. Ðức Chúa phán như vậy.” (Is 25,6.)

Lm. Giuse Ngô Văn Kha, DCCT
Nguồn: Truyền Thông Thái Hà 
Ảnh: Trần Quốc Hải

Image may contain: 1 person, outdoor

Bộ Chính Trị – Con Ngáo Ộp Của Nền Chính Trị XHCNVN!!!

Bài viết bao biện cho BCT của Huy Đức. Tuy nmhiên qua bài viết này chúng ta cũng được biết thêm hay được nhắc nhở là “Mọi chuyện xảy ra trong xã hội VN đều do BCT đảng cướp Mafia HCM quyết”.

Y/C giải tán cái Cuốc hội * cái Bộ máy Cầm quyền bù nhìn để dân đỡ tốn tiền nuôi báo cô!!!
********

Bộ Chính Trị – Con Ngáo Ộp Của Nền Chính Trị XHCNVN!!!

FB Huy Đức

Thông tin, “Bộ chính trị (BCT) đồng ý tăng vốn cho hai tuyến metro” của Sài Gòn bị gỡ ngay sau khi mạng xã hội cho rằng, quyết định đó phải thuộc quyền Quốc hội. “Gỡ” không phải là cách làm minh bạch nhưng xét ở góc độ lắng nghe thì đấy là một cách làm có “chính trị”.

“Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện làm thay” là một tiến trình chuyển đổi rất khó khăn. Trước đây, những quyết định làm đảo lộn vận mệnh quốc gia như “thống nhất bằng con đường bạo lực”(Nghị quyết 15); đưa quân sang Campuchia… đều là của đảng. Thậm chí có những quyết định đặt hàng vạn con người vào bi kịch như “Phương án II”, Z30… còn được đưa ra chỉ bởi một vài người chứ không phải là “nghị quyết”.

Sau “đổi mới 1986”, các quyết định liên quan đến chính sách quan trọng nhất vẫn bắt đầu từ đảng. “Khoán 10” theo Nghị quyết 10 của BCT (5-4-1988) – cho tư nhân và hộ gia đình “nhận khoán ruộng và rừng” – là một ví dụ. Bước cải cách quan trọng nhất chỉ đến sau Hiến pháp 1992.

Sau Hiến pháp 1992, cho dù các quyết định sống còn nhất vẫn được đưa ra từ Đảng nhưng chúng thường chỉ ảnh hưởng tới dân sau khi đã được “nhà nước thể chế hoá”. Tuy vậy, “Ước mơ” của Chủ tịch QH khoá VIII Lê Quang Đạo là “Đảng lãnh đạo nhân dân cầm quyền chứ không phải thay dân cầm quyền” vẫn còn trong sách.

Cũng sau Hiến pháp 1992, chưa bao giờ Đảng lại “danh chính ngôn thuận” khẳng định vai trò quyền lực như mấy năm gần đây. Quyết định cho bà Nguyễn Thị Quyết Tâm nghỉ hưu không phải là một quyết định đăng báo (dù rất hoan nghênh các báo săn được tin này để đăng).

Bà Quyết Tâm đứng đầu một cơ quan dân cử, việc miễn nhiệm bà, cho bà nghỉ hưu phải do HĐND quyết nghị. Tất nhiên, theo nguyên tắc “đại nghị” thì đảng đang nắm đa số trong HĐND, HĐND quyết thì cũng là “ý đảng”. Nhưng, quy trình chính trị mà quan tâm đến thái độ của dân thì đảng vẫn phải chờ tới trước phiên họp của Hội đồng đảng mới “giới thiệu ƯCV thay thế”.

BCT cũng đã từng “rất chính trị” khi chiều ngày 8-6-2018 họp và đưa ra quyết định ngừng thông qua luật đặc khu nhưng thông báo thì lại nói đó là “thống nhất giữa Chính phủ và Uỷ ban Thường vụ”. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hôm ấy đang ở thăm Canada nên mãi tới 3 giờ sáng ngày 9-6-2018, Cổng thông tin Chính phủ mới bắt đầu công bố.

Quy trình này có giá trị điều chỉnh một lỗi chính trị của bà Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân. Ngày 16-4-2018, bà Ngân đã sử dụng “ông kẹ” BCT để hối thúc thông qua luật đặc khu[“Bộ chính trị đã kết luận rồi… phải bàn để ra luật”]. Cử tri không có đủ thông tin về các hoạt động sân sau để hiểu sự nôn nóng của bà Kim Ngân; chỉ thấy lạ là sao bà lại không tìm hiểu lịch sử QHVN để không “sẩy miệng” mà làm hỏng việc.

Chiều ngày 6-4-1992, mặc dù 318/422 đại biểu QH đã đồng ý đưa quyền thừa kế quyền sử dụng đất đai vào Hiến pháp, nhưng trong BCT lúc đó chỉ muốn trao cho người sử dụng đất “3 quyền”. Chủ tịch Lê Quang Đạo “xin QH chỉnh lý” quyền thứ Tư này. Đại biểu Long An Trần Thị Sửu phản đối, “Tôi có cảm giác ai đứng sau lưng giật giây QH”. Ai. Tối 6-4-1992, các đảng viên trong QH bị triệu tập, cho dù nhiều đại biểu vẫn cho rằng, “biểu quyết lại là sai nguyên tắc” nhưng 302/411 đại biểu vẫn chấp hành, Hiến pháp 1992 vì thế chưa trao cho dân quyền thừa kế quyền sử dụng đất.

Nhưng, ngay tại QH khoá VIII vẫn có gần 100 đại biểu đảng viên không bỏ phiếu theo nghị quyết của “đảng đoàn”. Năm 2008, ở khoá XII, mức độ tuân thủ tuyệt đối hơn.

Mặc dù, khi lấy phiếu thăm dò quyết định nhập Hà Tây và phần đất của 3 tỉnh khác vào Hà Nội chỉ có 226 đại biểu đồng ý (45%); nhưng sau nhiều lần quán triệt ở “đảng, đoàn”, chiều 29-5-2008, khi bỏ phiếu chỉ còn 4 người phiếu chống, 458/475 đại biểu đảng viên đã đồng ý để Hà Nội phình to như hiện nay.

Tôi không rõ trong vụ Metro, BCT quyết ra sao. Nhưng, với những vụ việc liên quan đến kinh tế mà để BCT quyết là rủi ro rất lớn. Bauxite Tây Nguyên là một bài học. Cho dù phía Đảng khi “chủ trương” đã thòng điều kiện, giao chính phủ, thấy có hiệu quả và bảo đảm không tác hại môi trường thì làm. Nhưng ở QH và Chính phủ, phần được tiếp thu chỉ là “làm theo ý Đảng”.

Dự án Junin 2, Venezuela, có vốn đầu tư và “phí tham gia hợp đồng” là 1,825 tỷ USD, theo luật là thuộc thẩm quyền QH. Nhưng, Nguyễn Tấn Dũng thay vì trình QH lại chỉ trình BCT. Tháng 10-2010, khi Đại hội XI đã cận kề, BCT chỉ còn thời gian cho nhân sự và Nông Đức Mạnh thì còn có mối quan tâm khác nữa là “lót ổ” vào TW cho ông con, không thể nào nhóm họp riêng cho vụ Junin 2 nữa.

Bộ Kế hoạch Đầu Tư và Ngân hàng Nhà nước chuẩn bị các lập luận phản đối khi BCT họp thông qua. Nhưng, BCT chỉ phát phiếu lấy ý kiến từng thành viên. Nguyễn Tấn Dũng không đưa các ngành phản đối đi gặp các uỷ viên mà cử kẻ chủ mưu Đinh La Thăng gặp từng người “thuyết phục”. Tuy vẫn có một số uỷ viên BCT không đồng ý, đa số đã hợp thức hoá cho một hợp đồng mà Đinh La Thăng đã “tiền trảm”, cho ký với Venezuela từ 29-6-2010. Cùng với PVEP, các ngành khác của PVN đã “ném” vào đây Junin 2 gần 900 triệu USD; hơn hai mươi ngàn tỷ một đi không trở lại.

Tôi đã từng phỏng vấn hàng chục uỷ viên BCT, có người ở trong BCT tới 3, 4 khoá liền, nhiều người thừa nhận là không đủ thời gian để đọc các tài liệu và khi quyết định một vấn đề không phải lĩnh vực mình phụ trách thì thường ít người nghiên cứu kỹ. Các quyết định đưa ra ở BCT thường không đủ phản biện. Một dự luật “phá sản” như Đặc khu mà khi thảo luận chỉ có một uỷ viên BCT phản đối bằng văn bản.

Quy trình ban hành chính sách không những cần sử dụng đủ các công cụ để đánh giá tác động nhiều mặt của nó mà còn phải tìm sự đồng thuận trong xã hội. Bởi vậy, chính sách mà ban hành trong phòng kín, không có sự tham gia của những đối tượng bị điều chỉnh bởi chính sách đó, thiếu sự phản biện của xã hội thì nếu không què quặt, cũng khó lòng thuyết phục.

Tháng 7-1993, QH đã sửa sai cho quyết định tối 6-4-1992 của các bậc tiền nhiệm. Luật Đất đai 1993 đã công nhận quyền thừa kế cho người sử dụng đất. Việc mở rộng Hà Nội chỉ làm tăng các dự án phân lô bán nền chứ chưa giải quyết được các vấn đề nêu trong “tờ trình”. Nếu như, vào tháng 4-1992 và tháng 5-2008, đảng đã sử dụng trí tuệ đa số của QH thay vì dùng quyền của đảng thì cái sai đã không tồn tại lâu như thế.

Các ý kiến phản biện trong QH tuy chỉ có giá trị “xả xú pắp” cho dân nhưng nếu biết lắng nghe thì cơ may giảm thiểu các quyết định sai càng cao. Những quyết định không chỉ mất tiền bạc như Junin 2, Bauxite Tây Nguyên… mà còn tiềm ẩn các rủi ro chính trị như luật đặc khu năm 2018.

Chưa ai đủ sức thách thức vai trò lãnh đạo của đảng. Nhà nước này vẫn là của đảng chứ chưa phải của dân. Đảng đã nắm cả lập pháp, hành pháp và tư pháp thì đừng nên lo lắng quá. Thay vì đan lồng nhốt quyền lực, cần phải giải phóng quyền lực.

Đã không có đối lập trong các cơ quan dân cử thì đảng đoàn quốc hội, thay vì dùng kỷ luật đảng để buộc các đảng viên đại biểu tuân thủ các quyết nghị chưa được bàn thảo thấu đáo, nên khơi gợi các ý kiến từ các ông nghị không gật, những ý kiến không chỉ giúp tránh các chính sách sai mà còn có giá trị bổ sung cho ý đảng.

Image may contain: 5 people, people smiling, text

23 Điều Vô Lý Chỉ Có Ở Việt Nam

23 Điều Vô Lý Chỉ Có Ở Việt Nam – Really?

Ku Búa

Ở Việt Nam có những thứ và những điều vô cùng vô lý nhưng vì những thứ đó đang ở Việt Nam nên ai cũng cho rằng nó có lý và không có vấn đề gì. Có những thứ và những điều mà chỉ có ở Việt Nam, không có nước nào có. Hy vọng nhiều người sẽ nhận ra. Danh sách như sau:

1. Sổ hộ khẩu. Trên thế giới chỉ có 3 nước áp dụng chính sách này, cả 3 nước đều là 3 cường quốc của thế giới, là 3 thiên đường, là đỉnh cao trí tuệ nhân loại. Đó là đại cường quốc Trung Quốc, tiểu cường quốc Việt Nam và siêu cường quốc …..Bắc Hàn. Tôi thật sự không hiểu nổi mục đích của cái sổ hộ khẩu là gì, trừ việc làm mồi kiếm ăn cho mấy anh chị Công An. Nếu bạn nào có thế giải thích trong 1 câu “tại sao chúng ta lại có sổ hộ khẩu” tui chết liền. Ở xứ khác khi sinh ra chỉ có giấy khai sinh rồi lớn lên làm cái thẻ, hộ chiếu. Vài nước thì dùng bằng lái xe làm chứng minh. Muốn đi đâu thì đi, nước của mình mà. Tại sao mỗi lần chuyển địa phương là phải đi khai tạm trú, KT3. Mấy cái này là gì tui hiểu tui chết liền. [Ku Búa đã viết rất chi tiết về Hộ Khẩu trong bài ”Hộ Khẩu: một thứ khôi hài, vô lý và ngu ngốc.”]

2. Đi mua xe đi đăng ký tên mình phải dùng sổ hộ khẩu và về đăng ký tại nơi thường trú (nơi đăng ký hộ khẩu). Nó vô lý ở chỗ này. Bạn là dân Lạng Sơn chuyển công tác vô làm ở Cà Mau, bạn muốn mua xe máy và đứng tên bạn, lỡ xe có bị trộm thì người ta biết xe đó là của mình. Nhưng ở Việt Nam thì nếu mua ở Cà Mau thì dân Lạng Sơn phải chở xe về Lạng Sơn đăng ký. Có cái nước nào khác trừ Việt Nam làm vậy không? Có ai biết thì nói nha, tại tui khờ lắm, hiểu biết về thế giới bên ngoài Việt Nam kém nữa.

3. Cảnh sát giao thông kiểm tra xe nếu không có đủ giấy tờ sẽ bị giam xe. Tại sao người lái xe phải chứng minh xe đó là của người lái? Sao CSGT không chứng minh điều ngược lại. Phi logic. Còn việc giam xe thì tui chưa biết xứ nào khác làm vậy hết.

4. Thuế “chuyển đổi mục đích sử dụng đất”. Tui chưa biết xứ nào khác có cái thuế quái dị như vậy. Đây là loại thuế làm cản trở quá trình công nghiệp hóa của đất nước. Bạn là một nông dân có 100 mét vuông đất nông nghiệp. Bạn muốn dùng 50m2 đó để xây cái hãng. Bạn phải đi tới Sở Tài Nguyên Môi Trường nộp đơn chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Số tiền đó cộng với bôi trơn đút lót thì gần bằng giá bán thị trường rồi. Thế thì bạn phải bán đi 50 m2 còn lại. Nghĩa là cái thuế này làm mọi thứ liên quan tới đất đai mắc gấp đôi. Một trong những thứ khùng điên nhất.

5. Đi nộp giấy tờ phải đi công chứng rồi phải có con tem xác nhận. Đã vậy còn phải xin xỏ mấy bé mấy *** ** làm hành chính nữa chứ.

6. Đi “xin” việc ở cơ quan nhà nước, công ty quốc doanh và một số công ty tư nhân phải nộp “sơ yếu lý lịch”. Sơ yếu lý lịch yêu cầu bạn phải ghi rõ về gia đình và bản thân: Trước và sau 1975 đã và đang làm gì. Tui và gia đình tui làm gì trước sau 1975 thì liên quan gì tới năng lực yêu cầu của công việc?

7. Đi làm từ thiện phải (nộp đơn) “xin phép” Ủy Ban Nhân Dân và Mặt Trận Giải Phóng địa phương. Trời ơi, đã đi từ thiện, là bỏ tiền túi mình ra cho người khác, đã vậy còn phải đi xin giấy phép là sao? Độc Lập Tự Do Hành Phúc đâu rồi?

8. Tham gia các giải thể thao ở tỉnh (và vài thành phố) phải có hộ khẩu và sổ tạm trú ở đó. Thể thao Thái Lan đang phát triển với quy mô chinh phục Châu Á. Trong khi đó ở Việt Nam các nhà làm thể thao hỏi: “Hộ khẩu con đâu?” Thấy có ngu không?

9. Đi du lịch hoặc ở khách sạn nhà nghỉ phải đưa hộ chiếu hoặc Chứng Minh Thư cho tiếp tân. Ở xứ khác tui chỉ trình cái thẻ Master hoặc Visa. Nếu đưa hộ chiếu thì họ photocopy xong rồi đưa lại chứ không giữ. Tui chưa biết cái xứ nào làm vậy, trừ Việt Nam.

10. Trước giải, buổi, hội hay chương trình gì cũng phải giới thiệu danh sách mấy quan có mặt. Đã vậy danh nghĩa dài dòng lê thê. Có cần phải đọc tên từng người một, chờ từng người một đứng dậy ngồi xuống không. Tui thật sự không hiểu cái logic. Tui chưa bao giờ thấy một giải hay trận thể thao nào ở nước ngoài làm vậy.

11. Các trung tâm thể thao trưng khẩu hiệu “rèn luyện thể thao theo giương Bác Hồ vĩ đại”. Sao xứ Mỹ không trưng khẩu hiệu “tập luyện theo gương George Washington vĩ đại”? Bác Hồ hồi đó có tập thể thao mà sao tui không biết ta. Chuột cơ tay đô nữa, giờ tui mới biết. Phải ráng tập để nói theo gương Bác Hồ Vĩ Đại mới được.

12. Tất cả các giấy tờ hành chính pháp lý phải có dòng chữ này ở trên “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc”. Giấy xin phép nghỉ học cũng vậy, giấy báo cáo cũng vậy luôn. Xứ khác có vậy không ta?

13. Đi toilet ở Bến Xe (Miền Đông, Miền Tây, tỉnh, thành phố) mỗi lần phải trả 2,000 VND. Không chỉ riêng ở bến xe mà đa số các toilet công cộng đều vậy. Có chỗ còn treo bảng một giá rồi tính tiền một giá khác. Đến lúc cần giải quyết nhu cầu thì bực bội hết sức. Mà nếu toilet nó sạch thì tôi không nói, đằng này mỗi lần nghĩ tới là tôi dị ứng.

14. Toilet công cộng thường không có giấy vệ sinh. Vậy người ta dùng gì để chùi *** ta?

15. Làm xong cái hội thảo hay chương trình gì lớn chút cũng phải nói: “Cảm ơn các lãnh đạo đã tạo điều kiện.” Mặc dù mấy người đó không tham gia hoặc không ai biết mặt.

16. Quân Đội đi làm kinh tế: Viettel, MB Bank, Xăng Dầu Quân Đội, Binh Đoàn 318 Dầu Khí. Tui thật sự không hiểu. Quân đội gì mà làm kinh tế kinh doanh?

17. Quân Đội tham gia thể thao thành tích chuyên nghiệp. Tui chưa biết quân đội nước nào khác làm vậy.

18. Cảnh Sát Nhân Dân tham gia thể thao thành tích chuyên nghiệp.

19. Quân Đội phong hàm sĩ quan cho vận động viên đạt thành tích thể thao. Mặc dù chưa bao giờ qua trường lớp đào tạo sĩ quan, chưa bao giờ có kinh nghiệm cầm lính, chưa bao giờ có kinh nghiệm chiến trường. Hàm sĩ quan vô nghĩa vậy sao? Bạn là cha mẹ thì có cho con mình vô cái quân đội như vậy không? Vận động viên đạt thành tích thể thao thì liên quan gì tới phong hàm sĩ quan quân đội? Tui chưa biết quân đội xứ nào khác làm vậy hết.

20. Đi xin việc làm vô mấy cơ quan nhà nước hay quốc doanh phải lót tiền, cả trăm triệu hơn chứ không kém. Có xứ nào khác làm vậy không ta?

21. Đánh thuế kinh doanh trên Facebook. Cái này miễn ý kiến.

22. Sinh viên học ĐH hay CD cũng phải học 1.5 năm lý thuyết kinh tế triết học Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. 1.5 năm của cuộc đời mà sinh viên sẽ không lấy lại được.

23. Và cuối cùng, Đảng Cộng Sản đã đấu tranh hy sinh cả triệu người dân trong cuộc chiến chống Pháp, Mỹ Ngụy vì lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, nhưng cuối cùng lại dùng chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường để làm giàu. Vậy cả triệu người Việt đã chết làm gì. Cuộc chiến đó có nghĩa gì?

Image may contain: 1 person, text