Chính quyền thành phố Hồ Chí Minh nợ cư dân Lộc Hưng lời xin lỗi?

“Công chúng rất là ngạc nhiên và bức xúc khi nghe tin vụ cưỡng chế ở vườn rau Lộc Hưng, quận Tân Bình, TP.HCM xảy ra vào những ngày giáp Tết. Tôi cho rằng đó là một việc làm rất vô nhân đạo. Tôi ngạc nhiên vô cùng!

Hồi năm 2003, tại Nha Trang, Khánh Hòa nơi tôi ở cũng có một cuộc cưỡng chế gần Tết như thế. Lúc đó, Mặt trận Tổ quốc của Trung ương đã có công văn gửi yêu cầu là không nên cưỡng chế vào những dịp giáp Tết vì như thế rất là phản cảm.

Thế thì từ năm 2003 đến giờ là hơn 15, 16 năm mà sự việc lại lặp lại ngay tại trung tâm của TP.HCM. Đó là một điều rất đau buồn, rất đáng phẫn nộ, rất đáng lên án,” nhà báo Võ Văn Tạo nhận địnhh.

RFA.ORG
Liệu rằng Chính quyền TP.HCM sẽ phải nhận lỗi với các hộ dân ở vườn rau Lộc Hưng, giống như đã nói lời xin lỗi với người dân Thủ Thiêm sau 20 năm Dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm được triển khai?

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Chiều Tảo Mộ

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Chiều Tảo Mộ

 blank

Ai liều tảo mộ chiều nay

Mà hương tảo mộ bay đầy hoàng hôn

Phùng Cung

 
“Vừa rồi tôi có đi Tây Nguyên dự lễ bỏ mả của gia đình ông Y Ngông Niết Đam. Người Eđê có một tục lệ rất đặc biệt. Khi nhà có người chết, gia đình con cháu hàng ngày vẫn nuôi nấng, vẫn mang cơm nước ra mộ, khi có điều kiện họ làm lễ bỏ mả. Đó là bữa tiệc linh đình chia tay vĩnh viễn với người chết. Sau đó họ không quan tâm đến ngôi mộ ấy nữa, để linh hồn người chết được siêu thoát, không còn vướng víu cõi trần.” (Trần Đăng Khoa. Chân Dung và Đối Thoại. Hà Nội: Thanh Niên, 1988).

Bãi mả, thực ra, không phải là “một tục lệ rất đặc biệt của người Eđê” mà là tập tục chung của nhiều sắn dân bản địa – ở Việt Nam:

“Đối với người Roglai – sắc dân sống rải rác các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, và Lâm Đồng – lễ cúng bỏ mả có nghĩa là người sống từ giã người chết. Lễ này được cử hành sau mùa gặt hái đầu tiên, tính từ ngày người chết qua đời. Mùa gặt hái hoàn tất, mọi người đều rảnh rang nên lễ cúng bỏ mả làm linh đình lắm. Có giết trâu mổ bò, mới thầy cúng làm lễ cho người khuất rồi đãi làng nước. Sau lễ bỏ mả là hết, ngôi mộ không được ai chăm sóc nữa.

Người Rhadé, đa số sinh sống tỉnh Darlac và Quảng Đức, cũng có lệ bỏ mả vào mùa gặt năm sau. Người nhà ra mộ khóc lóc một lần cuối rồi mộ bị bỏ hẳn. Kỷ niệm của người chết cũng chìm dần vào quên lãng.

Người Bahnar – sắc dân sống ở Đông Nam Kômtum, Tây Bắc Pleiku, và phía Tây Bình Định – cũng chỉ chăm sóc mộ phần một năm… Sau đó họ làm lễ tạ rồi san phẳng, và từ đây không còn ai ngó tới.” (Toan Ánh. “Tang Lễ Của Đồng Bào Thượng. Nhật báo Cách Mạng Quốc Gia, Sài Gòn 01 Sept 1963).

Bỏ mả, hay bãi mả là điều bắt buộc trong nếp sống du canh. Tục tảo mộ hằng năm, chắc chắn, chỉ bắt đầu khi nhân loại tiến đến giai đoạn định canh. Còn tôi thì phải  mãi cho đến cuối 2014, mới được rủ đi tảo mộ (lần đầu) khi đang lơ ngơ giữa một chiều Xuân, nơi đất lạ.

Cái nắng của những buổi chiều cuối năm thường khiến tôi hay bị nặng lòng, dù ở bất cứ đâu. Nhưng phải trải qua một buổi chợ chiều, chợ tết, ở một làng quê nơi đất lạ thì mới hiểu ra thế nào là nỗi buồn xa xứ.

Dân Việt túm tụm dọc mé sông Tonle Sap, đoạn chẩy qua xã Phsar Chhnang (tỉnh Kampong Chhnang) có thể đông đến vài ngàn. Tuy thế, cái đám người trôi sông lạc chợ nhếch nhác, te tua, rách nát này không tạo nổi không khí Tết cho khu chợ cạnh bờ.

 blank

Kampong Chhnang 2014
May mà vẫn còn vài cái cặp đèn lồng đỏ, năm bẩy cây quất, và mấy chậu cúc vàng của những gia đình gốc Hoa nên hè phố trông cũng đỡ phần ảm đạm. Tôi cứ nhìn mãi một em gái nhỏ, đứng bán đôi cành mai đã héo mà không khỏi cảm thấy có đôi chút bận lòng.

Như mọi người Việt khác ở bến sông này, tôi cũng là kẻ phiêu bạt không nhà nên chả có chỗ để cắm hoa. Muốn biếu em một số tiền nho nhỏ, đủ để sắm sửa một bữa cơm chiều cuối năm tươm tất cho gia đình nhưng đang loay hoay biết chưa biết cách sao cho tế nhị thì chợt nghe tiếng đồng hương quen thuộc:

–        Sao ông thầy lang thang gì mình ên vậy ? Đi tảo mộ với tụi em nha, gần xịt  thôi hà.

Thấy tôi hơi ngần ngừ, bà vợ rụt rè thêm:

–        Dạ, sẵn bữa nay có làm gà với mua được xị rượu để cúng nên mới dám mời ông thầy …

Nghe cách xưng hô nên tôi đoán là họ có con đang theo học ở trường làng Kandal, dưới bến sông. Không ai biết tôi tên gì cả, họ chỉ thấy ông già này thường lui tới ngôi trường này và hay chơi đùa với lũ trẻ con nên gọi tôi bằng “thầy” cho nó tiện việc sổ sách – thế thôi.

Phải nhìn thấy cảnh nuôi gà trên những túp lều nổi tả tơi, và những bữa cơm đạm bạc quanh năm (toàn với khô hay cá vụn nhỏ li ti) của những người suốt đời sống lênh đênh thì mới hiểu được rằng được mời ăn gà là một hân hạnh không thể chối từ – dù tôi chả mặn mà gì với gà và vịt!

May mà từ chợ đến nghĩa địa gần thật, chỉ chừng hơn cây số. Đang là mùa khô, nước rút nên mới lộ ra vài chục tấm mộ bia thô kệch và xấu xí. Chải ai sống qua tuổi sáu mươi. Khi còn tại thế (chắc) họ chưa bao giờ được giáp mặt với một ông nha sĩ, hay bác sĩ – dù chỉ một lần.

blank

Kampong Chnnang 2014

Sau khi thắp hương, nhổ cỏ, vun sới mộ phần, mọi người ngồi quanh chuyện trò ăn uống. Dường như ai cũng cảm thấy mãn nguyện vì đã làm xong chút bổn phận, cuối năm, với kẻ đã khuất.

Khó có thể ngờ rằng được đó là lần tảo mộ cuối cùng của cộng đồng người Việt ở xã Phsar Chhnang. Năm sau, từ Phnom Penh, thông tín viên Sơn Trung ̣(RFA) tường thuật: “Làng nổi của người Việt bị di dời… Theo thông báo của chính quyền tỉnh Kampong Chhnang thì việc di dời sẽ được thực hiện từ ngày 10 tháng 10 và chấm dứt trước ngày 25 tháng 10 năm 2015.”

 

Tháng 10 thì Á Châu vẫn còn mưa, và mưa tầm tã. Bia mộ vẫn còn chìm sâu dưới nước. Với cái “thông báo” bất ngờ (và bất nhơn) trên thì chắc chắn không ai có cơ hội tạ mả, trước khi tiếp tục trôi xuôi theo kiếp lục bình.

Ở trời Âu, có những kẻ may mắn hơn nên được nằm yên mãi mãi trong những mộ phần và được thăm viếng thường xuyên:

“Tôi vào tiệm tạp hóa Tàu ở Luân Đôn mua một thẻ nhang ngắn rồi xuống Portsmouth, bắt phà qua Normandy… Bây giờ là mùa đông. Khi phà tiến gần vào bờ cho đến khi cặp bến Ouistreham nằm phía cực đông của bờ biển Normandy, trời còn rất tối. Sao Mai sáng long lanh, các ngọn đèn rải thưa quanh bến tàu, ánh sáng vàng đứng bóng, không hắt hiu…

Tôi đi bộ dọc bờ biển từ hướng đông, bắt đầu từ chỗ giáp mép biển của con kênh đào từ Caen (cách biển chừng 16 cây số). Cứ khoảng 100 thước, một tấm biển tưởng niệm, hình ảnh thế hệ các người lính hôm nay thuộc binh chủng đã đổ bộ, và tên tuổi của một người lính tử trận ngày 6.6.1944…

Từ nơi này đi bộ hai cây số đến nghĩa trang đồng minh ở làng Ranville, ngôi làng đầu tiên trên đất Pháp được giải phóng sau khi người lính Dù chiếm giữ cầu Pegasus. Trên bản đồ là nghĩa trang của Anh, nhưng ở góc bên trái từ cổng vào có 330 bia mộ người lính Đức, chia cùng mảnh đất nghĩa trang với 2.235 người lính nhảy dù thuộc quân đội Anh, Úc, New Zealand, Bỉ, Pháp, Ba Lan…

blank

Nghĩa trang Quân đội Đồng minh Ranville: Các ngôi mộ của người lính Đức ở khu vực phía xa bên trái. Ảnh HĐT/12.2018

Mỗi ngôi mộ người lính Đức đều có bia như các ngôi mộ của người lính đồng minh, tên tuổi, ngày sinh và ngày chết, chỉ khác là huy hiệu binh chủng được thay bằng dấu Thập tự Sắt. Dưới bầu trời xám đục, đài thánh giá trắng có hình cây kiếm mũi hướng xuống đất nổi bật ngay giữa nghĩa trang. Những linh hồn nơi đây không còn chiến tranh nữa. Kiếm đã cắm hay cất. Không có một chữ ‘hòa giải’ nào trong nghĩa trang chung này. Nhưng các bia mộ của người lính Đức và người lính đồng minh nằm bên nhau. Người sống không thù hận nên người chết yên lành.” (Hồ Đắc Túc. “Những Mộ Phần Bên Nhau”. Dân Luận 01/01/201̣9).

Cùng lúc với Hồ Đắc Túc, Ngô Thanh Tú cũng đi tảo mộ ở quê nhà (Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà) nhưng với tâm trạng hoàn toàn không thư thái:

“Cứ mỗi bước chúng tôi đi đều phải chịu sự giám sát của ít nhất hai bảo vệ nơi này. Ánh mắt soi mói, những câu hỏi vô duyên, như: chụp hình để làm gì? Có động cơ gì không? làm chúng tôi vô cùng khó chịu. Người bạn đi cùng tôi nói, dường như cái chủ trương truy cùng giết tận còn được áp dụng cho cả người chết. Chế độ này ko chỉ trả thù người chết mà còn sợ họ đội mồ sống dậy nên kiểm soát rất chặt chẽ.”

 blank

Ảnh lấy từ FB TĐM

FB Từ Đức Minh cho biết thêm: “Với bản chất thú tính, bất chấp luân lý và tình người . Người Cộng Sản không cần biết thế nào là nghĩa tử, nghĩa tận . Họ chủ động giáo dục cho đám con trẻ gọi mộ người lính Việt Nam Cộng Hòa là ‘mả ngụy’, ‘mả giặc’. Người ta canh tác rau trên mộ, tưới nước phân dơ bẩn, thả trâu bò lội giẫm đạp lên mộ. Khốn nạn hơn nữa , họ cho người đào giữa ngôi mộ và trồng lên đó những cây to. Mấy năm sau cây lớn làm xập mộ…

Người đang sống ở Lộc Hưng mà họ còn ủi cho xập nhà, xập cửa thì xá gì đến chuyện mộ bia ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà!

CHỊ MÈ

https://vietbao.com/a289929/chi-me

CHỊ MÈ

Nguyễn Đại Thuật

Đầu năm tôi vào học lớp nhất trường tiểu học, gia-đình tôi có thêm một người giúp việc. Lúc bấy giờ gia đình tôi đã có một chị giúp việc lớn tuổi chuyên lo về công việc đi chợ, nấu ăn, giặt giũ quần áo, lo giữ nhà cửa sạch-sẽ.

Cha mẹ tôi có tất cả năm người con, và trong tương lai gần mẹ tôi sẽ có thêm một đứa con nữa. Có lẽ vì vậy mẹ tôi đã thuê thêm chị Mè. Cha mẹ tôi có một cơ-sở làm ăn tương đối lớn, bận rộn công chuyện suốt ngày, mấy anh chị em chúng tôi thiếu người săn sóc, nên chị Mè được giao cho công việc nầy.

Chị Mè còn trẻ lắm, chị khá đep, tóc ngắn ngang vai, kiểu tóc mà thời bấy giờ người ta gọi là tóc thề. Chị gốc người làng Trà-Kiệu, thuộc tỉnh Quảng-nam, cả làng theo đạo Thiên-chúa, nơi người ta nói đã có lần Đức Mẹ hiện ra.

Hàng ngày chị Mè tắm rửa, thay quần áo, lo cho ăn uống và đưa đón anh chị em tôi đi học.

Chị Mè không biết chữ, nhưng chị thuộc kinh Chúa, đêm nào chị cũng đọc kinh trước khi ngũ. Cha mẹ tôi gốc đạo Phật, nhưng tôi chưa có dịp đi chùa lần nào, cũng chưa biết ông Phật là ai, nhưng qua chị Mè, tuổi thơ tôi thấm nhuần rất nhiều về đạo lý của Thiên-chúa do chị kể. Chị đã dạy cho tôi thuộc kinh Kính Mừng, Kinh Lạy Cha và tôi đã được nghe chuyện rước mình Thánh Chúa, nếu ai nhận mình Thánh Chúa không để tự tan trong miệng, nuốt liền vô bụng thì mình Thánh Chúa sẽ biến thành lửa đố cháy ruột để trừng phạt. Chị khuyên tôi làm điều tốt, không nên làm điều ác, làm điều tốt sẽ được lên Thiên-đàng gặp Đức-Chúa Trời, làm điều ác sẽ bị đọa vào Hỏa-ngục, bị quỷ ăn thịt, bị đốt thành lửa.

Mỗi sáng Chúa-nhật, chị được cha mẹ tôi cho phép đi dự thánh lễ ở nhà thờ Con gà. Khi trở về nhà, chị thường kể lại cho tôi nghe những gì chị được nghe cha xứ đã giảng. Có một buổi sáng Chúa nhật chị chuẩn bị đi lễ nhà thờ, lúc bước xuống cầu thang thì guốc chị bị đứt quai, chị không có guốc khác thay thế, chị không đi dự lễ nhà thờ được, chị ngồi khóc bên chân cầu thang.Tôi phải xin phép mẹ tôi cho chị mượn guốc thay thế. Chị mừng quá, ôm tôi hôn rất nhiều lần vào má và không quên lắp bắp lời cám ơn. Có lẽ nhìn cảnh chị mừng rỡ khi có guốc tạm thay thế vào buổi sáng hôm đó nên vào lúc chị từ nhà thờ về nhà, cha tôi bảo mẹ tôi cho tiền chị mua đôi guốc mới. Tôi nghe cha tôi nói với mẹ:

– Mình cho con Mè tiền mua đôi guốc mới, guốc nó mòn và đứt quai không đi được”.

Tôi nghe tiếng mẹ tôi:

– Cứ sáu tháng tôi trả tiền công cho nó một lần, tôi mới trả cho nó chưa tới năm ngày, nói nó lấy tiền đó mua”. 

Cha tôi cười, nói:
– Bà nầy hay thật, tiền đó nó nhờ tôi gởi hết về cho cha mẹ nó rồi, bà biết mà”.

Tôi không nghe mẹ tôi nói gì thêm. Chiều hôm đó, mẹ tôi dẫn chị ra chợ mua guốc. Đôi guốc sơn màu đen rất đẹp. Khi chị đem đôi guốc bằng gỗ vông của chị vứt đi, tôi nhìn thấy đôi guốc của chị mòn đến nổi không có đủ bề dày để giữ chiếc đinh khi đóng quai.

Chị Mè không biết chữ, thời đó chính quyền của ông Ngô-Đình-Diệm khuyến khích dân chúng đi học trong kế khoạch xóa nạn mù chữ, vì vậy có những lớp học Bình-dân giáo-dục mở ban đêm cho dân chúng không biết chữ, bận công việc ban ngày, đêm có thời giờ đi học. Cha mẹ tôi cho chị đi học lớp Bình-dân giáo-dục trong đình của khu phố. Lúc đầu chị không chịu đi, tôi hỏi, chị nói:”chị lớn cái đầu rồi mà còn đi học, mắc cỡ chết đi dược”.

Rồi trước tết năm đó mấy ngày, cha mẹ tôi cho chị về quê thăm gia-đình và phải trở ra làm việc những ngày tết. Sau tết, chị xin được đi hoc lại lớp bình dân giáo dục. Cha mẹ tôi cũng không hỏi lý do tại sao trước đây chị từ chối nay lại đòi đi. Nhưng sau tối đầu tiên đi học trở về nhà, tôi cắc cớ hỏi chị: “Hôm nay chị Mè vào lớp có mắc cỡ không?” 

Chị đập khẽ vào đầu tôi nói: “Có mà ít ít thôi, không bằng hôm trước Tết chị về quê, khi vào làng, bị mấy thanh thiếu niên giăng giây chận đường xem giấy tờ, bắt đọc chữ trước khi cho vào làng. Chị đâu có đọc được, mấy đứa đó đưa chị vào trụ sở hội-đồng xã, họ bắt chị làm ký giấy cam kết phải đi học cho biết đọc biết viết. Nếu kỳ sau chị về làng mà bị kiểm soát, không đọc được chữ thì họ không cho vào làng. Hôm đó chị mắc cỡ muốn chun đầu xuống đất luôn. Gặp toàn mấy thanh niên thiếu nữ và người quen trong làng, họ khuyên chị nên theo lớp Bình-dân học vụ. Kỳ sau về làng, bị kiểm soát, không đọc chữ được chắc là họ không cho vô làng quá, xấu hổ lắm! “. 

Bên cạnh nhà tôi có một hẽm nhỏ, đầu hẻm có một tiệm hớt tóc. Người hớt tóc thuê mái hiên của một căn nhà để mở tiệm. Mấy anh em trai tôi là thân chủ của anh chủ tiệm hớt tóc nầy. Mỗi một tháng rưỡi, anh em tôi được chị Mè dẫn ra đây giao cho anh chủ tiệm, rồi trở lại trả tiền để đón về. Chủ tiệm là anh Cường, người ta gọi anh Cường chay, bởi vì anh ăn chay, không ăn thịt cá. Theo lời của một bà bán rong bún ốc kể cho mẹ tôi nghe nhân một buổi sáng cả nhà tôi ăn bún của bà. Anh Cường chay ngoài việc hớt tóc anh còn biết nghề xem chỉ tay, được nhiều người tin cậy, trong đó có bà. Anh xem chỉ tay chứ không nhận tiền của một ai. Anh là người cùng làng với bà ở An-Cựu thành phố Huế.

Anh Cường chay có một người cậu đi tu ở chùa Từ Hiếu. Anh học hết năm đệ lục trường Quốc-học thì bỏ học vì nhà quá nghèo. Anh là con trai một nên không bị đi lính. Anh học nghề hớt tóc của người cậu và được người dì em của mẹ đem vào Đà nẵng hành nghề, vì ở An-Cựu có nhiều người làm nghề hớt tóc nên khó kiếm sống. Do tiết lộ của bà bán bún, thỉnh thoảng mẹ tôi mời anh Cường qua nhà nhờ xem chỉ tay. Mẹ tôi thường khen anh Cường chay với cha tôi:

– Thằng Cường chay xem chỉ tay hay thật, nó nói tôi trúng như gần hết”.

Tôi không nghe mẹ tôi nói anh Cường chay đã nói đúng những gì, nhưng mỗi lần nghe mẹ tôi nói như vậy cha tôi “hừ” lên một tiếng:

– Bà toàn tin những điều nhảm nhí”.

Mẹ tôi còn nhanh nhẩu mời mấy bà bạn đến nhà để nhờ anh Cường chay xem chỉ tay nữa. Những lúc như vậy, cha tôi không vui, mặt ông nhăn nhó, bỏ đi khỏi cửa hàng đang buôn bán. Tuy nhiên, những lúc cha tôi đi Sài-Gòn mua hàng trở về đều có quà cho anh Cường chay, có lẽ để trả ơn những lúc anh đã xem chỉ tay cho mẹ tôi.

Khi tôi bắt đầu vào năm học lớp đệ thất, chị Mè cũng đã biết đọc. Không biết ai cho chị quyển Thánh kinh, chị nâng niu, giữ gìn rất kỹ. Chị để quyển Thánh kinh trên đầu tủ, buổi tối, trước khi đi ngủ, chị rửa tay rồi mới lấy xuống đọc. Có lúc tò mò muốn biết trong Thánh kinh viết những gì, tôi hỏi mượn để xem, chị đồng ý cho mượn nhưng bắt tôi phải rửa tay và nhiều lần nhắc tôi không được để sách trên ghế ngồi, như vậy sẽ bị Chúa phạt.

Rồi có một thời gian, tự nhiên tôi nghe mẹ tôi hay la rầy chị Mè; mỗi lần bị la như vậy tôi thấy chị Mè đúng trong góc nhà bếp khóc, hai mắt đỏ hoe. 

Mẹ tôi la chị:
– Sao lúc nầy mi cứ dở dở ương ương, y như người trên mặt trăng, làm trước quên sau, làm gì hư nấy, lúc nào cũng thẩn thờ như bị ai hớp hồn. Chỉ việc pha sữa tới giờ cho em bú mà cũng quên để cho thằng nhỏ khóc ầm cả lên.” 

Tôi chưa bao giờ nghe chị trả lời mẹ tôi khi bị la mắng như vậy. Chỉ im lặng và khóc. Khác với những kỳ đi hớt tóc trước, kỳ nầy chị Mè tự nhiên nhắc tôi đi hớt tóc từ ba ngày trước. Đến hôm chị dẫn tôi vừa ra đến cửa thì cha tôi bảo: 

“Nó lớn rồi tự đi hớt tóc một mình, khỏi cần đưa đi.”

Chị Mè quay lui vào nhà, mặt chị xịu xuống và buồn. Khi tôi bước vào tiệm hớt tóc, anh Cường chay thay vì chào tôi như trước đây, anh bước ra khỏi tiệm nhìn trước nhìn sau con hẽm rồi đi trở vào hỏi tôi:
– Sao nay chị Mè không đưa em đi?” 

Tôi trả lời: 

       – Cha em nói em lớn rồi không cần chị Mè đưa đi… 

Tôi nghe anh Cường thở dài. Suốt buổi hớt tóc hôm đó, anh Cường không nói thêm với tôi một lời nào… Khi từ tiệm hớt tóc về nhà, chị Mè gội đầu cho tôi, chị hỏi:

– Anh Cường có hỏi gì chị không? Tôi lắc đầu. Chị lại hỏi lần nữa:
 
– Bộ anh ấy không hỏi gì chị sao?”.

Tôi lại lắc đầu.Tôi lại nghe chị thở dài và chờ mãi không thấy chị dội nước lên đầu khiến tôi phải nhắc chị. Mãi đến tối hôm đó tự nhiên tôi nhớ lại lời anh Cường có hỏi tôi vừa lúc tôi đến hớt tóc. Tôi xuống bếp tìm chị. Chị đang đọc quyển Kinh thánh. 

Tôi nói với chị:
– Bữa ni anh Cường có hỏi, sao chị Mè không dẫn em đến hớt tóc, em trả lời cha em nói em lớn rồi đi một mình được, không cần chị Mè đưa đi.

Tôi thấy mặt chị rạng rỡ lên, chị nâng quyển Thánh-kinh lên hôn. Lúc tôi ra khỏi bếp, tôi nghe chị nói vọng theo:
– Lần sau đừng quên như vậy nghe em, tội chị lắm!

Mấy hôm sau, ngày Chúa-nhật, sau khi chơi đá banh trở về, lúc đi ngang nhà thờ Con Gà, chen lẫn giữa những người dự Thánh lễ ra về, trên đường đi, tôi nhìn thấy anh Cường chở chị Mè sau xe đạp. Buổi trưa khi chị Mè gọi cửa để vô nhà, tôi mở cửa. Chị vừa vào trong cửa, tôi cười và nói lớn:

– Lúc nãy, em thấy anh Cường chở chị sau xe đạp!”.

 Chị nhào tới đưa tay bịt miệng tôi, nhưng cha mẹ tôi đã nghe và đã thấy. Mặt chị đỏ gay, cúi đầu đi một mạch vào trong. Vừa lúc đó mẹ tôi nói với cha tôi:

– Hèn chi mấy tháng ni nó cứ thẩn thờ, quên trước, quên sau, nó thương thằng Cường chay rồi…mới có bấy nhiêu tuổi!

Cha tôi cắt ngang lời mẹ tôi, nói diễu:

– Hay ghê! chớ bà yêu tôi lúc bao nhiêu tuổi? Con Mè năm ni nó mười bảy tuổi rồi, lúc đó bà còn nhỏ thua nó một tuổi…bộ quên rồi sao?

Tôi chỉ nghe mẹ tôi “hừ” một tiếng rồi bỏ lên lầu.

Chuyện anh Cường chay và chị Mè thương nhau những ai ở trong hẽm gần tiệm hớt tóc của anh Cường đều biết. Bà chủ nhà cho anh Cường thuê mái hiên trước nhà để làm tiệm hớt tóc đã có lần kể cho mẹ tôi nghe lúc đó có tôi bên cạnh. Mấy ngày trước đó, ông thầy tu, cậu anh Cường ngoài Huế vào thăm anh Cường, có đến tiêm hớt tóc chơi, bà nghe người cậu nói chuyện với anh Cường: “Cậu và có thể cả mẹ cháu cũng không chấp nhận cuộc hôn nhân nầy. Cháu, con nhà thờ Phật bao nhiêu đời nay rồi mà cưới con Mè gốc đạo Thiên Chúa đến khi cháu chết thì ai cúng cơm cho, bộ cháu muốn làm ma đói?”

Anh Cường phân trần:
– Đâu có sao, lấy chồng thì phải theo đạo chồng, cùng quá thì đạo ai nấy giữ, cậu nói giúp cháu để bà chấp thuận hai cháu cưới nhau”. 

Người cậu lắc đầu lia lịa:
– Cậu biết là không được đâu, nhưng cậu sẽ cố nói giúp cho cháu, được hay không thì cậu chưa biết. Rồi ông gằn giọng:

– Hết người thương sao lại thương con nhà theo đạo Chúa! 

Ông hỏi anh Cường tuổi của chị Mè, bấm đốt ngón tay, miệng lẩm nhẩm: “Tuổi hai đứa không có gì xung khắc, nhưng cái đạo của ông Chúa và ông Phật xung khắc…không biết tính sao đây?”

Không bao lâu sau khi nghe lõm được chuyện anh Cường chay muốn cưới chị Mè, chị xin phép cha mẹ tôi nghỉ vài hôm để về Trà-Kiệu chờ ngày gia-đình anh Cường từ Huế vào xin lễ hỏi. Thời gian đó anh Cường cũng nghỉ hớt tóc. 

Ngày trở lại làm việc, chị Mè buồn thiu, chị không nói chuyện với ai, ngay cả tôi chị cũng không nói một lời. Ngày Chúa-nhật chị cũng không đi lễ nhà thờ. Càng ngày chị càng thẩn thờ hơn. Mẹ tôi cũng la rầy chị nhiều hơn vì chị lơ là công việc hàng ngày, đến nổi cha tôi phải ngăn mẹ tôi nặng lời với chị:

“Mình hãy thông cảm cho con Mè, gia-đình nó không cho thằng Cường chay cưới nó vì thằng Cường chay không chấp nhận bỏ Phật theo Chúa, nó mất tinh thần nên sao lãng công việc nhà, lần hồi tinh thần nó sẽ ổn định, làm việc bình thường trở lại.

Định kỳ hớt tóc của tôi tháng đó bị gián đoạn, anh Cường chay đóng cửa tiệm không rõ lý do. Ngày anh mở cửa làm việc trở lại cũng là ngày bà chủ nhà cho anh Cường chay thuê mái hiên làm tiệm hớt tóc qua nhà nói chuyện với mẹ tôi và tối hôm đó mẹ tôi kể lại cho cha tôi trong bữa cơm: “Thằng Cường chay đã đổi ý, chịu bỏ Phật, theo Chúa để được cưới con Mè. Mẹ thằng Cường chay không chịu, đòi cắn lưỡi tự tử và bà ta đã làm thật. Gia-đình thằng Cường chay phải chở bà vào nhà thương Huế cấp cứu, may mà cứu kịp.”

Rồi không hiểu sao, chị Mè vui vẻ trở lại, công việc nhà chị làm không còn bị mẹ tôi quở trách nữa. Chị tiếp tục đi lễ nhà thờ mỗi Chúa nhật, anh Cường chay chở chị đi lễ và đón chị trở về bằng chiếc xe đạp đầm mới mua. Chị Mè tiết lộ cho tôi biết, buổi tối hết công việc, chị sẽ xin phép cha mẹ tôi tập đi xe đạp, chị nhờ tôi: “Tối nào chị tập đi xe đạp, em giúp chị đóng của và mở cửa cho chị được không?” 

Tôi đồng-ý, hỏi chị: “Xe đạp đâu mà chị tập?”

Chị trả lời không đắn đo: “Xe đạp anh Cường mới mua”. 

Biết được chuyện chị Mè được anh Cường chay đưa đón đi lễ nhà thờ mỗi sáng chúa nhật bằng xe đạp, mẹ tôi nói với cha tôi:

      – Từ đây ra nhà thờ Con gà chỉ có hai trăm thước mà đưa với đón, bày đặt! 

Cha tôi lại cười: 

     – Nguời ta yêu nhau mà em!”

Tôi học chưa hết năm đệ lục, chị Mè xin nghỉ việc vì giao ước làm việc ba năm chấm dứt. Cha mẹ tôi đồng ý.

Lúc bấy giờ mấy anh chị em tôi đã lớn, đứa em nhỏ nhất ba tuổi đã có chị hai tôi săn sóc những khi nghỉ học hay những lúc rảnh rỗi. Cha mẹ tôi cũng không còn cần chị Mè. Mùa hè năm đó tôi lang thang cùng lũ bạn nơi họ đạo Tam-tòa, tình cờ tôi gặp chị Mè, chị cho tôi biết đang cùng chung với người bạn mở một tiệm may quần áo tại đây. Chị đưa tôi và lũ bạn về tiệm may của chị và pha nước chanh cho uống. Đang uống thì anh Cường chay đạp xe đến, vứt xe bên vệ đường, đi nhanh vào tiệm may, mặt anh cau có có vẻ bực bội.

Anh nắm tay chị Mè kéo vào sau nhà. Thấy không khí lúc đó không vui, tôi và lũ bạn im lặng rời tiệm may. 

Về gần đến nhà, ngang qua hẻm có tiệm hớt tóc của anh Cường chay, nhìn thấy có vài người tụ tập trước tiệm hớt tóc, tò mò tôi dừng lại, tôi biết anh Cường chay không có trong tiệm, anh đang ở tiệm may của chị Mè.

Một người đàn bà tóc đã bạc đang ngồi bệt dưới đất trong tiệm hớt tóc, mặt mày bơ phờ, tóc tai rũ rượi, hai tay đập vào nền đất, miêng rên ư ử : “Con ơi là con ! Mè ơi là Mè! con ở đâu mà mấy tháng ni không về với cha mẹ? Cường ơi là Cường! mi giấu con gái tau ở mô ? hãy đem nó trả lại cho tau…không thì tau đập đầu chết ở đây cho mi hả dạ…”

Mấy người hiếu kỳ đứng xem nói với nhau:
“Cường chay với con Mè thương nhau, xin cưới nhau nhưng hai bên cha mẹ không thuận vì khác đạo nên hai đứa nó lén lút sống chung. Bữa ni mẹ con Mè từ quê ra tìm nó, đến đây nằm vạ đòi con gái.”

Tôi rời đám đông, ra đến đầu hẽm thì vừa lúc anh Cường chay đạp xe chở chị Mè chạy vào hẽm.

Tối hôm đó chị Mè đưa mẹ qua xin phép cha mẹ tôi cho ngủ nhờ để sáng hôm sau trở lại quê. Anh Cường chay đứng ngoài cửa, tôi nghe anh thở dài, còn chị Mè hai mắt đỏ hoe. 

Mấy ngày liên tiếp sau đó tiệm hớt tóc của anh Cường chay đóng cửa, bà chủ nhà lại qua nói chuyện với mẹ tôi:

“Hôm con Mè đưa mẹ về quê, khi qua đò, con Mè nhảy sông tự tử, nhờ nước sông cạn nên con Mè được vớt lên, chở vô bịnh xá quận Điện-Bàn cứu chữa. Bác sĩ nói cái thai trong bụng con Mè không bị ảnh hưởng gì. Thằng Cường chay không làm việc mấy bữa ni, nó đi thăm con Mè ở bịnh xá.” 

Bà lại thở ra: “Trai gái thời nầy loạn rồi, chưa thành vợ thành chồng mà đã ăn nằm với nhau để có chửa!”.

Từ đó, tôi không còn được gặp hay được nghe tin tức nào liên hệ đến anh Cường chay và chị Mè. 

*****

Sau những năm tháng chiến tranh ác liệt Quốc Cộng, miền Nam Việt-nam thua cuộc. Chiến tranh chấm dứt, nhưng lòng người lại ly-tán. Đất nước như nồi canh chay bị vỡ, người dân xông xáo khắp nơi, tìm đường ra khỏi biên giới, làm người Do-Thái lang-thang, tạo lập cuộc sống mới nơi xứ người. Trong dòng người nầy có gia-đình tôi. Qua những năm tháng tạo lập đời sống mới, lần lượt cha mẹ tôi qua đời, linh-vị được thờ tại một ngôi chùa nhỏ phía Nam thành phố Paris nước Pháp. Chùa có tên là Tây-Phương. Vị sư Trụ-trì chùa, Thượng-tọa Như-Hóa mới đây đã viên-tịch, một thầy khác, Thượng Toạ Giác-Miên, được mời từ Népal qua thay thế, nhưng tôi chưa có dịp diện-kiến. 

Rằm tháng bảy âm-lịch trong năm 2000, tôi điện thoại đến chùa xin ghi danh lễ cầu siêu cho cha mẹ nhân ngày xá tội vong nhân. Hôm đó, tôi vừa đến chùa thì lễ cũng đã bắt đầu.Tiếng đọc kinh, tiếng chuông mõ hòa quyện cùng khói nhang thơm làm tâm thần tôi thanh-thản, tôi cố lắng nghe âm thanh tên, tuổi cùng pháp-danh của cha mẹ tôi sẽ được đọc lên trong buổi lễ..tôi đang chờ…tên của cha mẹ cùng Pháp-danh của một phật-tử nào đó được đọc lên, kế tiếp …và kế tiếp…

Tôi giật mình, không tin vào tai tôi..Théresa Hứa-thị Mè, sinh ngày 12 tháng ba năm 1943 tại làng Trà-Kiệu tỉnh Quảng Nam, tạ thế ngày 10 tháng 2 năm 1999 tại thành phố Marseilles nước Pháp… thầy chủ trì chánh lễ vừa đọc đến đây thì tiếng chuông mõ bổng ngừng lại, hàng Phật-tử dự lễ sát chánh điện ngơ ngác, lao xao. Một tăng sinh còn trẻ nhưng vốn quen việc nghi lễ trong chùa vội vàng thay thế Thầy đọc tiếp danh sách cầu siêu trong tiếng xì xào mất trật tự…rồi có tiếng yêu cầu gọi xe cấp cứu.

Khi biết thầy Giác-Miên bị ngất xỉu, phản ứng theo thói quen của một bác-sĩ, tôi bước nhanh đến bàn thờ Phật. Thượng-tọa Giác-Miên đang quỳ, nhưng cả phần thân người bên trên gục xuống hàng chuông mõ phía trước. Tôi nâng mặt thầy lên, quàng tay sau lưng thầy, đỡ nhẹ thầy nằm xuống mặt thảm trước chánh-điện. Tôi thực hiện những tác động cấp cứu dành cho một người bị ngất xiủ. Vài phút sau thầy bắt đầu tỉnh lại. Một vài Phật-tử giúp tôi dìu thầy về phòng riêng. Tôi tiếp tục theo dõi huyết áp và nhịp tim của Thầy. Tôi nghe hơi thở của thầy dần dần bình thường trở lại, nhưng hai mắt của thầy vẫn nhắm như ngủ. Tôi căn dặn vị thị-giả những điều cần thiết phải săn sóc khi thầy tỉnh hẳn. Vừa quay người định ra khỏi phòng, tôi nghe tiếng thầy Giác-Miên thều thào: “Bác sĩ, bác sĩ có phải là chú Kính ở Đà Nẳng không?” 

Tôi quay người lại, thầy thều thào tiếp:

– Chú không nhớ thầy sao? Nghe cái giọng đặc biệt Quảng-Nam, Đà-nẵng của chú, thầy nhận ra ngay…Thầy là Cường chay, ngày xưa hớt tóc cho chú đó.

Tôi cúi xuống nhìn kỹ mặt thầy: hai mắt đã mở, hai bên khóe mắt có vài giọt nước chảy dọc theo hai bên sóng mũi. Tôi nhận ra được thầy Giác-Miên là anh Cường chay. Tôi ngồi xuống bên cạnh thầy, hai tay nắm tay của thầy. Xúc động làm tôi ứa nước mắt…mới đó mà đã hơn hai mươi lăm năm. Cái âm thanh Theresa Hứa thị-Mè vừa được đọc lên trong lễ cầu siêu lại hiện trong đầu tôi…và tôi chợt hiểu, có thể đó là lý do thầy Giác-Miên ngất xỉu!

Những tháng năm sau đó tôi viếng chùa Tây-Phương thường xuyên hơn, có lẽ vì anh Cường chay là Thượng Toạ Giác-Miên trụ trì. Một hôm, tôi gặp thầy xin nhận một lễ quy-y cho toàn gia-đình của tôi. Nhân lúc trong phòng làm việc chỉ còn mình thầy, tôi đánh bạo hỏi:
 
– Chắc thầy còn nghĩ đến chị Mè phải không? 

Thầy không trả lời, mặt trở nên suy-tư, xa vắng. Tôi hỏi tiếp:

– Hồi đó, sau khi chị Mè nhảy sông tự-tử, thầy có gặp được chị ấy không? 

Thầy bối rối và do dự khá lâu rồi mới bắt đầu nói chuyện của thầy với giọng buồn rầu:

– Mô Phật! Mấy mươi năm nay thầy đã chôn quá khứ của thầy trong lời kinh, tiếng chuông tiếng mõ mà hình như nghiệp vẫn chưa dứt được, còn theo mãi cho đến ngày nay…
 
… Trước khi Mè nhảy sông tự vẫn, thầy và Mè đã chuẩn bị sẵn sàng vào Lâm-đồng sinh-sống. Lúc bấy giờ Mè đã có thai. Chú biết, thầy và Mè thương nhau. Sự ngăn cản của hai bên gia-đình không cho hai đứa cưới nhau càng quyết liệt thì hai đứa càng bất chấp tai tiếng. Sau khi được cứu chữa bình-phục, Mè trở về quê. Hai đứa đã quyết định ngày giờ gặp nhau để bỏ xứ ra đi. Ngày hẹn đã đến, thầy chờ không gặp được Mè. 

Ngày hôm đó đồng bào trong quê gồng gánh cùng gia-súc lũ lượt từ trong xóm làng xa xôi tràn ra quốc lộ. Người ta kể cho nhau nghe trận chiến đã xẩy ra đêm hôm trước ở làng Trà-Kiệu. Giải-phóng quân Cộng -sản Việt-Nam đã tấn công làng, đốt phá cơ sở chính-quyền địa-phương bắt dẫn đi chỉ điểm những viên chức chính quyền. Đạn pháo binh từ trong đồn địa phương quân cũng như từ quận bắn vào làng. Gần sáng, máy bay từ Đã-nẵng bay vào yểm trợ. Bom đạn quân đội hai bên làm làng Trà-Kiệu tang-hoang…Không biết dân làng ai chết ai sống, mạnh ai nấy chạy. Cái gì lấy được thì mang theo. Cả mấy ngày tiếp theo, thầy đi đến các làng xã quanh làng Trà-Kiệu, vào các bịnh-viện lớn, bịnh-xá nhỏ tìm Mè, Mè vẫn biệt tăm. Nửa tháng sau thầy theo chân dân làng được cho phép trở về đến trước nhà Mè, ngôi nhà đã bị cháy rụi. Mấy tháng chờ đợi sau đó, tin-tức về sự sống của Mè vô vọng, thầy trở về Huế và thầy xin xuất gia với người cậu…
Sau khi tốt nghiệp Phật-học viện Nha-trang năm 1970 thầy được học bỗng đi học bên Ấn-độ…rồi ở tu luôn tại bên ấy. Các đây vài tháng thượng-tọa Như-Hoá viên-tịch, thầy được chuyển về đây thay thế. 

Tôi hỏi thầy:
– Danh sách lập để được cầu siêu hôm rồi không phải do thầy lập sao?

“Không!.Do một phật-tử chuyên trách từ thời còn thầy Như-Hóa.” 

Tôi nói tiếp:
– Như vậy thì chị Mè không bị chết trong hôm làng Trà kiệu bị giặc tấn công và người xin lễ cầu siêu xưng là con gái của chị Mè… nhưng không rõ có phải là con chị Mè với thầy hay con sau nầy với người khác…” 

Thầy không trả lời câu hỏi của tôi, thầy chỉ gật đầu… rồi lắc đầu… rồi thở dài. 

Tôi hỏi tiếp:
– Thầy có muốn tìm sự thật về chị Mè những tháng năm sau này nầy không? 

Thầy trả lời dè dặt:
– Chú Kính giúp thầy việc nầy thì quý hoá lắm. Từ hôm đó đến nay, thầy suy nghĩ hoài mà không biết làm gì và làm như thế nào. 

Tôi vừa thương thầy vừa ái-ngại cho thầy, đoán biết trong thầy con sóng tình cảm xa xưa trở về đang làm thầy giao-động.

Nhờ vào số điện-thoại lưu trong phiếu xin lễ cầu siêu, tôi liên lạc với con gái chị Mè. Không khó khăn lắm khi tôi tự giới thiệu với con gái chị Mè, ngày xưa, rằng thời chiến tranh chị Mè làm việc trong gia-đình tôi ba năm, từ khi chị Mè thôi việc, tôi không có tin tức của chị…Vừa qua, nhân dự lễ cầu-siêu tại chùa Tây phương, có nghe tên của chị Mè được đọc trong buổi lễ, nên nay liên lạc để hỏi thăm. Đầu giây, cô gái tự nhận là con gái duy nhất của chị Mè, đang cùng chồng và con cái sống ở một làng vùng ngoại ô Bắc Paris. Qua trao đổi nhận biết nhau, con gái chị Mè mời tôi đến thăm nhà nhân dịp cuối tuần. 

Một tuần sau đó tôi đến thăm con gái chị Mè. Nhà nằm trong một trang trại nuôi gà công-nghiệp. Con gái chị Mè tự giới thiệu tên là Michelle, có chồng là người Pháp chủ trại gà và có ba con. Sau những bỡ ngỡ ban đầu hai chúng tôi trở nên thân thiện rất nhanh. Tôi đã kể cho Michelle kỷ niệm giữa tôi và chị Mè ngày xưa lúc chị giúp việc cho gia-đình tôi.Tôi cũng đã giới thiệu cuộc sống hiện tại của tôi…và cả buổi sáng ngày cuối tuần hôm đó tôi đã được nghe Michelle kể về mẹ của mình, chị Mè.

Michelle sống với mẹ vùng Chợ Đệm Thủ-Đức, mẹ có một quán may nhỏ chuyên sửa quần áo lính cho các sinh-viên sĩ quan Trường bộ binh Thủ-Đức nên cuộc sống của hai mẹ con rất ổn-định. Những năm tháng đó, Michelle không bao giờ được mẹ kể cho biết gia-đình thân thuộc có ai và ở đâu. 

Khi hỏi về cha của mình, chị được mẹ nói là thất lạc trong chiến tranh không biết chết sống thế nào. Tên cha được ghi trong giấy khai-sinh là Lê-chí-Cường, sinh-quán tại Huế. Năm 1975, khi miền Nam Việt-nam bị thay đổi chính quyền, mẹ chị vẫn sống bằng nghề may. Michelle được nhận làm tiếp-viên cho khách-sạn Caravelle nhờ thông thạo Pháp ngữ. Tại đây, Michelle quen biết với một du-khách Pháp và một năm sau hai người cưới nhau. Chồng của Michelle là đảng-viên đảng Xã-hội Pháp, làm xã trưởng của một xã nhỏ vùng ngoại ô thành-phố Marseilles. 

Michelle và mẹ cùng qua Pháp một ngày. Mẹ được nhận phụ giúp việc săn sóc các nữ tu Thiên chúa giáo về hưu tại địa phương. Năm 1999, mẹ chị bị phát hiện ra bịnh ung-thư lá lách ở giai đoạn cuối. Trong chống chọi với căn bịnh ngặt nghèo, biết là mình không thoát khỏi sự chết, mẹ đã kể lại một phần đoạn đời của mẹ…. 

Sau cái đêm làng Trà-Kiệu bị giặc tấn công chiếm đóng, gia-đình mẹ tản-cư vào tạm trú nhà một người bà con tại thị-xã Tam-kỳ. Cuộc chiến trở nên ác-liệt, gia-đình mẹ không trở về làng cũ. Cháu được mẹ sinh ra vài tháng sau đó. Cuộc sống cơ cực, hai mẹ con bị gia-đình đối xử lạnh nhạt vì mẹ sinh con trước có phép cưới. Quá đau khổ, quẩn-trí, một đêm mẹ định để cháu lại cho bà ngoại, lén ra sông tìm cái chết. Trên đường đi khi ngang qua một căn nhà trong một xóm nhỏ, mẹ nghe tiếng khóc, tiếng của một đứa trẻ: “Mẹ ơi! mẹ đâu rồi? Mę đi đâu rồi? Con sợ quá…” Trong đêm khuya, tiếng khóc đòi mẹ của đứa trẻ như xé lòng mẹ, đánh thức lương tâm và trách nhiệm của mẹ mà trong một phút giây nông nổi mẹ đã định làm chuyện dại dột… Và mẹ đã quay trở về nhà. 

Trong cùng cực của cuộc sống, một may mắn đến với mẹ… người bạn cùng may chung với mẹ ở Đà-nẵng trước đây, vừa có chồng là lính phục vụ trong quân-trường Sĩ-quan trừ bị Thủ-Đức, gặp lại mẹ, rủ mẹ cùng hợp tác may chung tại quán may ở Chợ Nhỏ mà bạn mẹ theo chồng dọn về đây. Cuộc sống bắt đầu ổn- định, mẹ đã nhiều lần về Đà-nẵng, về Huế tìm ba, nghe nói ba đã đi tu ở nơi xa và ba đã như một cánh chim lạc trong bốn phương trời vô-định… 

Michelle ngừng một chốc, thở ra, kể tiếp:
“Mẹ cũng có kể cho cháu về mối tình ngang trái của mẹ… mẹ không còn kỳ-vọng gặp ba trước khi nhắm mắt mẹ đã căn dặn cháu phải làm theo lời mẹ, sau khi mẹ chết… mẹ nói:
 
– Khi mẹ chết rồi, cháu phải thờ mẹ trong một ngôi chùa nào đó…ngày xưa, vì vấn đề tín-ngưỡng mà tình duyên của mẹ ngang trái. Ba của cháu đã xin từ bỏ đạo Phật của mình theo đạo Thiên-Chúa để được cưới mẹ, nhưng gia-đình của ba không thuận, bà nội, tức mẹ của ba cháu đòi tự vẫn nếu ba con quyết định bỏ Phật. Nay vì tấm lòng của ba, ba bỏ đạo của mình để được cưới mẹ, tuy chuyện không thành. Tôn giáo thường dạy con người có linh-hồn sau khi chết sẽ về an nghỉ ở một nơi nào đó, thì như vậy, Phật sẽ che chở linh hồn mẹ và mẹ sẽ gặp được ba cháu, không còn bị giới luật của tôn giáo ràng buộc, ngăn cấm.”

“Cháu đã làm theo lời mẹ, đem di-ảnh của mẹ thờ tại chùa Tây-Phương mấy năm nay, từ khi cha mẹ chồng cháu nghỉ hưu, giao cơ-sở chăn nuôi cho chồng cháu quản lý vừa lúc chồng cháu hết nhiệm-kỳ xã trưởng.” 

Tôi đã kể lại cho thầy Giác-Miên câu chuyện gặp gỡ Michelle ngày hôm đó. Qua điện thoại giọng thầy đầy khích-động. Tôi cho thầy biết, Michelle chưa biết thầy là thân sinh của cháu vì lý do tôi chưa xin sự chấp thuận của thầy…thầy nói: “Phải cho Michelle biết… làm thế nào để tạo sự thuận-tiện thầy cũng chưa biết… thôi chờ vài hôm nữa mình bàn tính lại.”

Sự bàn tính tạo thuận tiện cho cha con thượng-tọa Giác Miên và Michelle gặp nhau đang trong dự trù thì một buổi sáng tôi đang còn ngủ có tiếng reo điện thoại đánh thức tôi dậy. Một người nào đó từ chùa Tây-Phương báo cho biết tin thượng-tọa Giác-Miên đang công phu sáng đã bị đột quỵ, được xe cứu thương chở vô bịnh viên cấp cứu. Thay vì vào nơi làm việc, tôi lái xe chạy thẳng vào bịnh viện thăm thượng-tọa Giác Miên; nhân viên tại đây báo cho biết Thượng-tọa đã ra đi, bác-sĩ không cứu kịp.

Sau lễ an-táng thượng-tọa Giác Miên, tôi đến thăm Michelle một ngày cuối tuần. Tôi chuyển cho Michelle một bao thơ của thượng-toạ Giác Miên đã viết sẵn. Bao thơ được tìm thấy trên bàn làm việc của thầy, nhờ tôi trao lại. Michelle nhìn tôi vẻ bối rối khi nhận thơ. Tôi yên lặng ngồi nhìn Michelle e-dè mở thư ra đọc. Tôi thoáng thấy có những tấm hình đen trắng kèm theo thư cùng bản sao một thẻ căn cước… Mặt Michelle càng lúc càng trở nên căng thẩng đầy xúc động…những giọt nước mắt chảy ra từ hai khóe mát, lan dài trên má. Tôi đứng dậy đến gần cửa sổ nhìn ra ngoài, tránh nhìn các hình ảnh cảm động đang diễn ra trước mặt.

Một tiếng nấc, rồi những tiếng thổn thức tiếp nối. Tôi quay lại, mặt của Michelle cúi xuống, hai tay ôm đầu, hai vai run-rẩy. 

Chờ Michelle bớt xúc động, tôi đến ngồi bên cạnh, giúp nhặt lên thư và hình ảnh bị rơi xuống đất. Trong một tấm hình, tôi nhìn thấy anh Cường chay và chị Mè chụp chung bên bờ con sông Hàn ở Đà-nẵng, hai người âu yếm choàng vai nhau… và bản sao thẻ căn-cước bằng tiếng Pháp có in hình anh Cường chay ghi: Lê-chí-Cường sinh năm 1940 tại Huế… Việt-nam…. 

Michelle nhận thư và hình ảnh từ tay tôi, ôm tất cả vào ngực… lại thổn thức: “Mẹ ơi ! Ba ơi !”.
 
Tôi từ giã ra về.

Michelle tiễn tôi ra cổng trang trại. Tôi nghe có tiếng gà gáy trong một góc nào đó từ bên trong xa… Nắng buổi chiều vàng vọt trãi dài trên các ngọn cây. Tôi thoáng nhìn thấy anh Cường chay đang chở chị Mè trên xe đạp chạy từ nhà thờ Con Gà về xóm chùa Hải-Châu, nơi anh Cường chay có tiệm hớt tóc.

Nguyễn-đại-Thuật
Paris ngày 16/01/2019.

Mỹ công nhận lãnh đạo đối lập là Tổng thống Venezuela

Mỹ công nhận lãnh đạo đối lập là Tổng thống Venezuela


Lãnh đạo đối lập ở Venezuela, Juan Guaido (trái); Tổng thống Mỹ Donald Trump (phải)

Chính quyền Tổng thống Donald Trump ngày 23/1 tăng áp lực lên Tổng thống Venezuela, Nicolas Maduro, loan báo Hoa Kỳ công nhận lãnh đạo đối lập ở Venezuela là Tổng thống lâm thời, đồng thời báo hiệu sẽ có các biện pháp chế tài dầu mỏ đối với Venezuela.

Trong khi người biểu tình trên cả nước xuống đường phản đối ông Maduro, Tổng thống Trump tuyên bố Hoa Kỳ công nhận ông Juan Guaido, lãnh đạo Quốc hội do phe đối lập kiểm soát, là Tổng thống lâm thời của Venezuela và gọi chính quyền của Tổng thống theo chủ nghĩa xã hội Nicolas Maduro là “không hợp pháp.”

“Tôi sẽ tiếp tục dùng toàn bộ sức mạnh kinh tế và ngoại giao của Hoa Kỳ để áp lực phục hồi dân chủ cho Venezuela,” Tổng thống Trump nói.

Loan báo được đưa ra sau khi ông Guaido tự tuyên bố là Tổng thống lâm thời của Venezuela và chỉ vài giờ sau khi Tổng thống Maduro loan báo cắt đứt quan hệ với Hoa Kỳ cũng như ra thời hạn cho nhân viên ngoại giao Mỹ 72 giờ để rời khỏi Venezuela.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo kêu gọi ông Maduro lùi bước và thúc giục quân đội Venezuela ủng hộ nỗ lực vãn hồi dân chủ.

Đáp câu hỏi liệu có tính tới chuyện can thiệp quân sự vào Venezuela hay không, Tổng thống Donald Trump nói “Chúng tôi chưa cân nhắc điều gì nhưng mọi biện pháp đều được đặt lên bàn.”

Người dân Venezuela ủng hộ phe đối lập đã thúc giục ông Guaido lên làm Tổng thống kể từ khi ông Maduro tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ Tổng thống thứ nhì hôm 10/1 sau cuộc bầu cử năm ngoái vốn bị Mỹ và chính phủ nhiều nước tẩy chay là gian lận.

Ông Guaido, 35 tuổi, tố cáo ông Maduro tiếm quyền và cam kết chuyển giao một nhà nước mới cho quốc gia đang sụp đổ kinh tế với tình trạng siêu lạm phát.

Ông Guaido được bầu làm lãnh đạo Quốc hội hôm 5/1. Trước đó, ông từng tuyên bố sẵn sàng thay thế ông Maduro nếu được quân đội hậu thuẫn, và mục tiêu của ông lúc đó là kêu gọi bầu cử tự do.

Sẽ có nhiều vấn đề phức tạp khi Mỹ chính thức công nhận ông Guaido và cũng có thể bị phản ứng ngược nếu Tổng thống Maduro viện cớ này để bắt giam ông Guaido và các nhân vật đối lập khác.

Sau loan báo của ông Trump, các nước bao gồm Argentina, Chile, Peru và Paraguay đều có động thái tương tự. Một giới chức Canada cho biết Ottawa sẽ tiếp bước. Mexico thì loan báo không thay đổi trong chính sách của họ đối với Venezuela.

Reuters dẫn nhiều nguồn tin cho hay chính quyền Trump có thể sẽ ban hành thêm các biện pháp trừng phạt ngành dầu mỏ của Venezuela, sớm nhất là trong tuần này, nếu tình hình chính trị ở Venezuela càng tồi tệ.

Từ cuối năm ngoái, Mỹ bắt đầu xem xét chuyện đưa Venezuela vào danh sách các nước tài trợ cho khủng bố.

Tòa Bạch Ốc không hài lòng trước các biện pháp trừng phạt hiện hành đối với Venezuela vì chưa nhắm vào xuất khẩu dầu mỏ của nước này và việc đó, nếu xảy ra, sẽ tước đi phần lớn doanh thu của quốc gia Nam Mỹ.

Xuất khẩu dầu thô của Venezuela sang Mỹ trong năm ngoái giảm 15%, xuống mức thấp nhất trong gần ba chục năm qua.

Hôm nay, ngày 23/01/2019 Tổng thống độc tài Venezuela – Nikolas Maduro đã bị nhân dân Venezuela lật đổ.

Hoa Do and 2 others shared a post.
Image may contain: 2 people, people standing
Kim Tran

Hôm nay, ngày 23/01/2019 Tổng thống độc tài Venezuela – Nikolas Maduro đã bị nhân dân Venezuela lật đổ.

Lãnh đạo phe đối lập, Juan Guaido chủ tịch quốc hội Venezuela được bầu là Tổng thống lâm thời.

Chính phủ các nước Mỹ, Canada, Brazilia, Paraguay, Peru và Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ đã công nhận chính quyền mới của Venezuela.

Lại thêm 1 chính quyền (trong số ít ỏi còn lại của thế giới) xung đột quyền lợi với nhân dân bị sụp đổ.

Nguyễn Phú Trọng , Nguyễn Thị Kim Nhân chuẩn bị ..

NHỮNG TRI THỨC TỪ PHÁP TRỞ VỀ

Image may contain: sky, ocean, outdoor and water

Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.

NHỮNG TRI THỨC TỪ PHÁP TRỞ VỀ

@Nam Nguyen

Lời nói đầu: Sau câu chuyện về triết gia Trần Đức Thảo nhiều người đặt câu hỏi, lý do gì mà những trí thức có điều kiện phát triển như thế ở tại môi trường nước Pháp lại quyết định bỏ tất cả để về nước kháng chiến? Câu hỏi không hề đơn giản, nếu ta không đặt mình vào hoàn cảnh, điều kiện của chính những nhân vật đó, và phải phần nào hiểu được tâm tư, nguyện vọng của họ! Câu chuyện sẽ hơi dài và có quá nhiều nhân vật, ai không quan tâm thì nên bỏ qua, còn ai thấy “dân ta nên biết sử ta” thì tác giả hy vọng sẽ chia sẻ được một góc nhìn tổng thể về đề tài này, cũng đã ba phần tư thế kỷ trôi qua rồi…

Thời điểm năm 1941 nước Pháp bị chia đôi, Paris nằm ở lãnh thổ bị Đức chiếm đóng, còn phía Nam thì vẫn nằm trong tầm quản lý của Thống chế Pétain. Thế chiến bắt đầu giai đoạn đẫm máu, khốc liệt nhất sau khi Đức bất ngờ tấn công Liên Xô 22/6/1941. Lúc cao điểm nhất có tới 80 nghìn người Việt Nam (thời đó vẫn bị gọi là An Nam) khoác áo “lính” của Pháp và ở châu Âu. Lính có 2 loại:”lính thợ” – làm lao động chân tay cho Pháp – Đức; “lính chiến” – các tiểu đoàn quân đội Pháp, nhưng thực chất toàn người Việt được tuyển mộ để đánh nhau với Đức. Thời đó Việt kiều tại Pháp có nhưng số lượng rất ít! Tại Paris có khoảng gần một nghìn người Việt đang theo học đại học, cao đẳng, hoặc đã học xong đang đi làm hay lấy bằng thạc sỹ, tiến sỹ…

Câu chuyện bắt đầu từ trường đại học Cầu đường Paris. Đây là một trong những cơ sở đào tạo hàng đầu của Pháp, với phương châm tuy hơi tếu nhưng nói lên đòi hỏi rất cao của sinh viên trường này :“Người tốt nghiệp cầu đường phải biết làm bất cứ việc gì, kể cả làm cầu đường!” (và quả thật sau này ông Caquot – thầy giáo nổi tiếng của môn sức bền vật liệu, một trong những người đề xướng và áp dụng “bê tông dự ứng lực”, “linh hồn” của trường – sau 1945 được Chính phủ Pháp De Gaulle giao cho trọng trách phụ trách toàn bộ công cuộc tái thiết đất nước). Đây là trường trước kia của Hoàng Xuân Hãn, Xuphanuvông…(và cách đây chỉ vài năm thôi một trong 6 giảng đường lớn của trường Cầu đường được gắn tên Hoàng Xuân Hãn để tri ân người học trò kiệt xuất của trường vì thành tựu to lớn ở các lĩnh vực chính trị, khoa học kỹ thuật và công lao đối với nước Pháp!). Phạm Quang Lễ (tên thật của Trần Đại Nghĩa) vừa tốt nghiệp xong, và với bằng này ông có quyền xin học tiếp ở rất nhiều trường khác, lúc này ông học đồng thời ở trường Điện và trường Hàng không. Ông được một “đàn em” cùng trường – sinh viên năm cuối Trần Hữu Phương – mời tham gia cùng với anh em trong trường thành lập ra một sân chơi cho tất cả đồng hương. Gọi là “anh em” chứ tại trường lúc đó mỗi năm chỉ có một sinh viên Việt Nam – dưới năm Phương một năm là Trần Lê Quang, mới vào trường là Nguyễn Hy Hiền. Vì Phạm Quang Lễ quá bận học nên chỉ hứa sẽ cùng tham gia với anh em, thế nên mọi người rủ thêm Trần Văn Du (sinh viên của Alfort – một dạng của Viện vệ sinh dịch tễ). Và thế là ra đời “Hội Ái hữu của những người Đông Dương ở Paris”!

Mấy sinh viên trường đó ngoài học cầu đường theo chính khóa còn hay chạy sang học ké thêm ở Sorbonne và College de France thế nên góp tiền nhau, tìm thuê ngay cạnh đó một gian nhà ở tầng một, rộng chỉ sáu bảy chục mét vuông, sơn sửa lại, mua bàn ghế và thậm chí mua cả một cái piano. Tất nhiên trong lúc Đức chiếm đóng, thời chiến như vậy thì Hội ra đời phải xin phép nhà cầm quyền Đức rồi, nhưng khi biết tiêu chí hoạt động của Hội là trợ giúp đồng hương Paris và đấu tranh với Chính phủ Pháp về vấn đề độc lập cho Đông Dương thì Hội nhanh chóng được chấp nhận cho hoạt động.

Với tài tổ chức của Hội trưởng Trần Huy Phương (có những lúc là Trần Văn Du làm thay hội trưởng, nhưng chưa bao giờ là Hoàng Xuân Mẫn như báo chí hay viết vậy) địa điểm này nhanh chóng trở thành điểm đến yêu thích của đồng hương Việt Nam ở Paris. Họ thường tụ tập nhau vào chủ nhật hay thứ bảy, góp tiền liên hoan nhẹ, uống trà, trao đổi tin tức quê nhà, bàn chuyện học hành rồi bao giờ cũng đi đến chủ đề chính trị. Sau một thời gian, cũng vì lý do chính trị, Hội đổi tên thành “Hội Ái hữu của những người Việt Nam ở Paris”-tức là các hội viên tự thấy nếu có đấu tranh cho chủ quyền độc lập, thì phải từng nước đấu tranh chứ không thể hô hào cho cả Đông Dương được, và đây chính là tiền thân của các “Hội Việt kiều” ở Paris và Pháp sau này. Võ Quý Huân, Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Mẫn (em cụ Hoàng Xuân Hãn), Lê Văn Thiêm, Phạm Huy Thông…là những hội viên tích cực nhất. Sau này có cả anh em lính thợ cũng qua lại Hội, rồi nhiều ông cố đạo người Việt cũng hay đến. Hội bắt đầu đủ mạnh để có thể tổ chức được cả những chương trình văn hóa nhỏ, ví dụ mời danh cầm Thái Thị Liên, vợ của ông Trần Ngọc Danh – sau này là đại sứ đầu tiên của VNDCCH tại Pháp – sang biểu diễn…

Lúc đó ngoài học ra, các nhà trí thức trẻ tất nhiên phải quan tâm đến chiến sự xung quanh. Càng học hành cao, thì họ càng không thể nuốt được cái cảm giác ê chề là dân của nước thuộc địa đồng nghĩa với sự lạc hậu, nghèo hèn (mặc dù quả là đúng như vậy thật!!). Và càng nặng nề hơn nữa khi họ nhìn thấy “mẫu quốc” Pháp là thực dân sừng sỏ ngày nào, giờ đây bị Hitler chia cắt và sẽ nuốt dần thôi. Sau nữa họ lại thấy Liên Xô và quân đồng minh quyết chiến với phát xít Đức như thế nào, trong chiến cuộc đó Pháp chỉ có một vai trò quá nhỏ bé, không tương xứng! Thế mà nước Pháp rệu rã ấy vẫn một mực áp đặt chế độ thuộc địa lên những nước như Việt Nam, quyết không nhả ra! Gần như tất cả hội viên của Hội Ái hữu cảm nhận được rõ ràng và thống nhất rằng PHẢI ĐẤU TRANH MỚI CÓ ĐỘC LẬP – những người yêu nước trẻ tuổi này rất nhanh đi tới kết luận đó và sau này khi có nhiều thông tin hơn thì rất cảm tình với đường lối đấu tranh của Hồ Chí Minh.

Thời đó thủ lĩnh của “cộng sản thứ thiệt” ở Paris là bác sỹ Nguyễn Khắc Viện, ông là đảng viên cộng sản Pháp từ lâu và cũng là đàn anh của sinh viên lứa những năm 40. Ông đã nổi tiếng học giỏi từ khi còn ở nhà, đã học xong ra đi làm bác sỹ, nhưng chính bản thân lại liên tục đau ốm phải nằm viện liên miên, nên rất ít khi anh em ở HAH thuê xe đón ông từ viện về Hội để gặp gỡ, mà thường có gì cần hỏi thì vào thăm ông Viện ở trong bệnh viện. Cảnh thường thấy là ông Viện nằm trên giường bệnh, ôm quyển từ điển Anh-Pháp đọc liên miên rồi khoe “hôm nay tao học xong chữ O” – tức là ông cứ thế học hết từ này đến từ khác, trang này đến trang khác, thế mà ông nhớ hết và sau này rất giỏi tiếng Anh! (Phải nói thêm là sinh viên Việt ở Pháp thời đó chỉ bắt đầu học tiếng Anh khi Anh bắt đầu tham gia cuộc chiến, và phải nghe đài Anh để có thông tin chính xác về chiến sự toàn châu Âu…). Vậy nên các trí thức, sinh viên người Việt lúc đó chỉ biết đến cộng sản qua hình tượng Đảng cộng sản Pháp là chính, còn biết về Hồ Chí Minh qua đấu tranh giải phóng dân tộc tại quê nhà (cũng có tin tức thường xuyên trên báo Pháp, nhưng anh em phải tìm thêm nhiều nguồn khác nhau để chọn lọc…). Và phải khẳng định rằng từng sinh viên – hội viên của Hội Ái hữu tự tìm hiểu về chính trị chứ không hề có sự tuyên truyền, nhồi sọ, lôi kéo từ bất cứ phía đảng phái nào!

Năm 1945 Đức thua trận, quân đồng minh Anh-Mỹ giao trả nước Pháp cho tướng Le Clerc – tướng bộ binh của De Gaullle, thời kỳ “Cộng hòa thứ tư” bắt đầu. Các trí thức Việt tại Paris đón nhận tin độc lập ở quê nhà 02/9/1945 rất vui mừng, tuy vậy chỉ có thông tin một chiều qua báo Pháp, họ cũng chưa biết được nhân vật Hồ Chí Minh là cộng sản, người của Quốc dân đảng (là của phe đồng minh) hay là một thế lực chính trị nào nữa. Hồi đó báo chí Pháp đưa tin theo chiều hướng: Việt Nam tuyên bố độc lập đối với Nhật (Việt Minh dành lại quyền từ chính quyền Bảo Đại do Nhật dựng lên). Sau này Pháp (Leclerc) đưa quân vào Sài Gòn với chiêu bài giúp Tây (các lực lượng còn lại trên đất Đông Dương) lập lại trật tự tại cựu thuộc địa của mình (mà trước kia đã bị Nhật cướp một cách bất hợp pháp qua việc dựng nên chính phủ Trần Trọng Kim)…

Ở Paris cuộc sống của các trí thức trẻ người Việt cũng có nhiều xáo động. Đức rút đi vơ vét theo hết sạch lương thực nên cuộc sống khá khó khăn. Tuy vậy Pháp vẫn giữ chế độ học bổng tiếp tục cho các sinh viên đang học, còn ai tốt nghiệp rồi thì có thể học tiếp lên hay đi tìm việc làm cho các công ty Pháp, các bác sỹ thì mở phòng khám…đó là một chính sách khuyến khích ở lại học và làm việc tương đối rõ ràng đối với những người là nguồn chất xám đáng quý ngay cả đối với xã hội Pháp. 1945 hầu như không có ai về Việt Nam cũng vì lý do tình hình ở nhà chưa rõ ràng đối với những kẻ xa nhà (mà người ít nhất cũng đã ra đi cách đây 6-7 năm rồi!).

1946 đoàn Việt Nam sang hội nghị Fontainebleau là một sự kiện lớn, được giới trí thức người Việt ở Paris và Pháp rất trông đợi. Hội Ái hữu là một trong những tổ chức tích cực đón tiếp, giúp đỡ đoàn nhất trong suốt thời gian đoàn ở Paris. Pháp đã công nhận Hồ Chí Minh là Chủ tịch hợp hiến, tuy vậy chỉ đối với phần Bắc kỳ thôi, chứ không phải của toàn Việt Nam thống nhất (và đó cũng là chủ đề chính của hội nghị Fontainebleau!). Đoàn gồm: chủ tịch Hồ Chí Minh (thực ra đi đoàn riêng), ông Phạm Văn Đồng – Phó thủ tướng (cụ Hồ kiêm Thủ tướng), Tạ Quang Bửu – bộ trưởng quốc phòng, Vũ Đình Huỳnh – Tham biện phụ trách Lễ nghi, Phan Anh, Hoàng Minh Giám, Dương Bạch Mai, Nguyễn Mạnh Hà… Nhân vật đặc biệt: ông Đỗ Đình Thiện – trợ lý chủ tịch, nhưng thực ra cụ Thiện là “nhà tài trợ” cho chính phủ, mọi chi phí -rất nhiều đấy – cho chuyến đi lịch sử này đều do một tay cụ cống hiến, một nghĩa cử cao đẹp, rất đáng quý! Cụ Hồ thì ở nhà riêng của Aubrac – lãnh tụ kháng chiến của phe Đảng cộng sản (họ chống Đức ngay trên đất Pháp, đối nghịch với phe De Gaulle – sang Anh để chống Đức), còn cả đoàn thì ở khách sạn hạng sang mấy tháng trời. Hội nghị Fontainebleau đi vào bế tắc, 2 điều khoản không thể chấp nhận được là:

-Pháp đòi hỏi Hồ Chí Minh chỉ làm chủ tịch của Bắc kỳ, còn Trung kỳ và Nam kỳ thuộc sự cai quản của Bảo Đại. (Bảo Đại sau này lại mời Diệm đứng ra lập chính phủ, mà Diệm lúc đầu được Mỹ hậu thuẫn, mà đồng minh Anh – Mỹ lại không ủng hộ Mao, đứng chung với Tưởng Giới Thạch ở Hội đồng bảo an LHQ – thế nên mọi chuyện càng rối như canh hẹ! Cũng phải hiểu rõ rằng chính quyền của Bắc kỳ lúc này KHÔNG được sự ủng hộ của Stalin, chứ không thì Pháp đâu có dám ép Việt Nam nhiều như vậy, cũng chả cần gì hội nghị Fontainebleau, “kẻ chiến thắng” mà chỉ “hừ” nhẹ một tiếng thì cái đám quân thất trận như Pháp đời nào dám trái ý!).

-Pháp bắt bí bằng cách đòi đền bù cho các công ty, tài sản của mình nếu Việt Nam cứ đòi độc lập! Ví dụ rõ nhất là đòi đền bù mỏ than Hòn Gai, trước kia triều Nguyễn bán cho Pháp chỉ 10 quan!!! Nay Pháp đòi một cái giá thị trường mà cả chính phủ Việt Nam lúc đó nằm mơ cũng chả có được!

Tất nhiên người Việt ở Pháp càng thấy được bộ mặt trơ trẽn của tên thực dân mới là Pháp, qua đó càng thêm có cảm tình với chính phủ Hồ Chí Minh. Và cũng phải nói Hồ Chí Minh là một chính trị gia kiệt xuất, rất phong độ, uyên thâm và cảm phục được đa số bà con ta ở Pháp lúc đó!

Tạ Quang Bửu trước tốt nghiệp Trung tâm kỹ nghệ Paris, và lần này ông sang là lần thứ hai sau độc lập, lần trước ông đi cùng đoàn Quốc hội với các ông Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng với nội dung chính là “hữu nghị”, cũng đã tiếp xúc nhiều với kiều bào. Với sự giúp đỡ của Trần Ngọc Danh ông đã tiếp xúc với một số trí thức trẻ để đề nghị họ về nước giúp đỡ chính phủ kháng chiến chống Pháp – vì với kết quả hội nghị như thế này, muốn giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc thì chỉ có cách là kháng chiến chống Pháp thôi! Tất nhiên đường lối đó phải được Hồ Chí Minh đồng ý, Bác Hồ có nói chuyện với vài vị, nhưng cứ nói một cách sáo rỗng như báo chí sau này “các trí thức nghe theo lời kêu gọi của Hồ chủ tịch, về nước kháng chiến” thì e rằng bỏ qua hết tài tổ chức cũng như công sức của bác Bửu và lòng hảo tâm của bác Thiện! Và trước nhất, họ tự nguyện quay về theo tiếng gọi của núi sông!

Không có cuộc “tuyển mộ” ầm ĩ nào, mà qua sự giới thiệu của Nguyễn Khắc Viện, Trần Ngọc Danh ông Bửu đã tiếp xúc với một số người theo ông đánh giá là cần thiết cho kháng chiến sau này, và hội tụ điều kiện để có thể về đợt này. (Trần Ngọc Danh hồi đó là đại sứ ta tại Pháp – chưa có tòa đại sứ, nhân vật đối với kiều bào Paris cũng gây rất nhiều đồn đoán mà không có giải đáp, ví dụ “là em của Trần Phú, người của Quốc tế cộng sản do Nga cử sang…”; sau này ông bị kỷ luật ra khỏi đảng, thực hư không biết thế nào!?). Điều kiện: đó là nhiều người muốn về nhưng đang “kẹt”, và có nhiều người chưa muốn về ngay – không phải ai cũng có đủ số tiền mua vé tàu về nước, và tuy ở Pháp khó khăn, nhưng tình hình ở trong nước vừa qua nạn đói năm Ất Dậu nghe nói còn khủng khiếp hơn nhiều!

Tất nhiên “Hội Ái hữu” là nhóm mà ông Bửu quan tâm tới đầu tiên. Chủ tịch Hội những người An Nam tại Paris lúc đó là Trần Hữu Phương – người Sài Gòn – rất có cảm tình với chủ tịch Hồ Chí Minh – nhưng anh không thể về được vì mới cưới vợ là một cô đầm dòng dõi quý tộc, nên bắt buộc phải theo đạo cùng dòng tu với nhà vợ, không theo kháng chiến được (sau này ông về miền Nam và làm Thống đốc một Ngân hàng). Nguyễn Hy Hiền nhận nhiệm vụ ông Phạm Văn Đồng giao, sang Pháp học thêm về thủy lợi, về sau. Trần Lê Quang chưa về ngay được, vì có về thì anh phải về với gia đình ở Sài Gòn (sau này ông về Nam, làm bộ trưởng bộ giao thông của miền Nam, có hai chị và em gái hoạt động cách mạng nội thành, còn người em trai được phong tặng “Anh hùng lực lượng vũ trang”; năm 1975 ông là chuyên viên Liên hiệp quốc tại Beirut). Lê Văn Thiêm còn phải sang Đức bảo vệ nốt luận án tiến sỹ, Trần Đức Thảo và Phạm Huy Thông chưa thi xong thạc sỹ (Agrege-còn khó và quý hơn tiến sỹ)… Nhiều bác sỹ đang mở phòng mạch hay kỹ sư đang làm cho hãng Pháp không dễ bỏ ngang (và cũng phải đấu tranh tư tưởng lắm chứ!). Để từ bỏ “kinh đô ánh sáng” mà về bưng biền kháng chiến thì hành động này cũng đòi hỏi rất nhiều lòng dũng cảm, đó vừa là trách nhiệm cao cả (một đi không trở lại) lại vừa là một vinh dự to lớn (được chính phủ đài thọ vé về nước – đó cũng là một khoản tiền lớn thời bấy giờ!). Anh em hồi đó cứ đùa: “giá cụ Thiện có đủ tiền thì tốt nhất mang được hết số lính chiến người Việt về – mấy chục ngàn lính – giúp cụ Hồ đánh Pháp thì chắc là kháng chiến sẽ mau chóng thành công…”

Cuối cùng 4 người được Tạ Quang Bửu giới thiệu để đi cùng tàu, theo đoàn với Bác Hồ về nước năm 1946 (sau hội nghị Fontainebleau) trên chiếc tàu “Dumont d’Urville” là:

-Trần Đại Nghĩa – lúc này vẫn tên Phạm Quang Lễ – về nhận chức thiếu tướng quân đội, cục trưởng Cục Quân giới – là người đặt nền móng cho ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Ông đã giữ nhiều vị trí lãnh đạo trong quân đội cũng như ngạch giáo dục, quản lý khoa học – kỹ thuật. Công lao rất lớn của ông là một “nhà quản lý” rất giỏi, trong những điều kiện khó khăn nhất mà phát huy tối đa được sức mạnh tập thể, thế nhưng báo chí sau này cứ hay ca ngợi ông như một “nhà chế tạo vũ khí”, “nhà phát minh” – dễ gây hiểu sai cho vai trò và đóng góp của ông trong lịch sử nước nhà!

-Võ Quý Huân – kỹ sư đúc, chia tay con gái nhỏ với người vợ đầm (gốc Nga – gia đình quý tộc đã lưu vong sau 1917). Người đi đầu trong công cuộc phát triển ngành đúc-luyện kim cho miền Bắc.

-Võ Đình Quỳnh – con đại tư sản miền Trung, kỹ sư mỏ -anh của Võ Đình Bông. Ông về rồi vào Nam, bị kẹt luôn ở đó sau toàn quốc kháng chiến, trở thành nhà buôn gang thép lớn, tuy nhiên cự tuyệt không làm gì cho chính quyền miền Nam. Thế nhưng người em ruột lại khéo đổi tên, sang được Pháp, trở thành đảng viên đảng cộng sản Pháp, rồi đến 1952 lại từ Pháp trở về miền Bắc, sau này cống hiến khá nhiều cho ngành điện-than.

-Trần Hữu Tước – người “nổi tiếng” vì đi đâu cũng dẫn theo con chó, phong thái giống dân Tây – bác sỹ tai-mũi-họng lâu năm ở Paris, đã tốt nghiệp đi làm từ lâu – đi về cùng để dọc đường chăm sóc sức khỏe cho đoàn. Sau này sáng lập ra ngành tai-mũi-họng của miền Bắc Việt Nam.

Theo sự sắp xếp của ông Phạm Văn Đồng, sau đó vài tháng 5 trí thức Paris khác đã về theo tàu “Félix Roussel” (tổ chức mua vé, cho mỗi người 3000 quan để mua áo quần, đồ đạc) về Sài Gòn rồi sau đó được đưa vào chiến khu. Tàu đi đến Singapore thì nghe được tin “toàn quốc kháng chiến”. Gồm có:

-Hoàng Xuân Nhị – cháu của cụ Hoàng Xuân Hãn – Sorbonne (tốt nghiệp cử nhân văn chương Pháp) – giỏi ngoại ngữ, đã dịch Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc… và in ở Paris (cũng như dịch, in Gorky, Mayacovskiy sang tiếng Pháp)! Sau này làm ủy viên phụ trách giáo dục & văn hóa trong Ủy ban kháng chiến Nam Bộ. Sau 1954 làm Chủ nhiệm khoa ngữ văn ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

-Nguyễn Ngọc Nhật – tốt nghiệp Trường Trung tâm Cơ khí Paris, về cùng người vợ đầm. Sau này làm ủy viên phụ trách tôn giáo, mặt trận (bố là lãnh tụ Cao Đài ở Bến Tre, đã tặng hết tài sản cho kháng chiến). Nguyễn Ngọc Nhật chết trong tù tại Sài Gòn, người vợ sau đó quay lại Pháp. (Ông đã chết rất anh dũng, tôi đã có riêng một status về ông!)

-Trần Văn Du – bác sỹ thú y (tốt nghiệp trường Alfort-trường dược và thú y lớn nhất của Pháp – như kiểu Viện Pasteur ở nhà mình). Trong chiến khu ông làm giám đốc một quân y viện của Nguyễn Bình, bị Tây nhảy dù, bắt về Sài Gòn, bị bắt buộc làm việc cho Tây nhưng ông kiên quyết không chịu. Tuy vậy Tây phục tài ông nên cũng không làm khó dễ nhiều, cho ra ngoài làm riêng. Mới mất cách đây mấy năm, trước khi mất ông đã di chúc tặng lại Thành phố HCM cả một cơ sở thực nghiệm và chế biến vắc xin của mình! Ông lấy con gái của ông Thái Văn Toản – thủ tướng thời Khải Định – Bảo Đại, bà là công dân Mỹ nên có thể vì thế Tây phải nể nang mấy phần…

-Nguyễn Văn Thoại – bác sỹ dinh dưỡng, tiến sỹ sinh hóa, có thời gian giúp đỡ cho Bửu Hội (Bửu Hội là nhà bác học Việt Nam có nhiều nghiên cứu về ung thư, có thể nói là nhà bác học Việt Nam nổi tiếng nhất thời đó tại Pháp)-xin về để nghiên cứu về hoạt động của anh em trí thức ở chiến khu như thế nào. Về Nam, ông có đi thực tế một thời gian, nhưng sức khỏe yếu nên xin về. Muốn được đi cùng đoàn từ chiến khu miền Nam đi ra tận miền Bắc, vì theo lời đồn (có thể là ý kiến của ông Bửu Hội) trên đường Trường Sơn có một loại cây rất quý để chữa ung thư, nhưng sức yếu nên không đi được. Sau này quay lại Pháp sống và làm việc, sau 1975 ông thỉnh thoảng về Hà Nội chơi, và có kể là đã có người tìm ra loại cây quý kia, ông đã có mẫu vật trong tay, ở bên Pháp đang tiếp tục nghiên cứu. Kết quả chưa thấy được công bố…

-Nguyễn Hy Hiền – Đại học Cầu đường Quốc gia Paris, về chiến khu đổi tên thành Lê Tâm, nhận chức đại tá quân đội. Kỹ sư quân giới dưới quyền của tường Nguyễn Bình, tác giả súng không giật SS chế tạo tại rừng Sác. Sau khi tập kết ra Bắc ông chuyển sang ngành giáo dục đào tạo, rồi sau đó sang quản lý khoa học – kỹ thuật, và như một cơ duyên, ở nhiều cương vị ông đã song hành cùng người anh cùng trường đại học Cầu đường Paris, người thủ trưởng trực tiếp ở nhiều cơ quan là Trần Đại Nghĩa: Cục Quân giới, trường đại học Bách Khoa Hà Nội, Ủy ban Khoa học nhà nước, Báo Khoa học thường thức…

-Lê Văn Võ: tốt nghiệp khoa hóa ở cao đẳng Grenoble (giống Võ Quý Huân). Sau này về Ban quân giới ở chiến khu Nam Bộ cùng Lê Tâm, phụ trách chế tạo thuốc súng. Sau khi tập kết ra Bắc làm kỹ sư trưởng của Nhà máy bia Hà Nội – trong vị ngon của bia Hà Nội ngày nay chắc cũng có đóng góp của ông.

Sau 2 đợt các trí thức về nước năm 1946 thì vẫn có lác đác những trí thức hàng đầu thu xếp xong công việc riêng để về, trong hoàn cảnh chiến sự ở nhà đang rất nóng bỏng. Không thể không nhắc tới 3 vị sau:

-Lê Văn Thiêm: cử nhân trường đại học Sư phạm Paris (khoa toán), sau đó làm luận án tiến sỹ và phải sang Đức để bảo vệ. 1948 ông bảo vệ luận án tiến sỹ quốc gia tại Pháp, rồi 1949 ông từ Pháp về Bangkok, rồi đi đường bộ thằng về chiến khu trong bưng biền không qua Sài Gòn, sau đó lại quay lại Bangkok đi Bắc Kinh, từ Bắc Kinh quay về Nam Ninh để cùng phụ trách giáo dục cho trường Khu Học Xá là nơi sơ tán và đào tạo con em cán bộ cách mạng miền Bắc qua (cùng các ông Võ Thuần Nho, Nguyễn Xiển). Sau hòa bình ông là viện trưởng Viện Toán đầu tiên, và có công lớn sáng lập ra những trường đại học đầu tiên của miền Bắc.

-Trần Đức Thảo: cử nhân và thạc sỹ của trường đại học Sư phạm Paris (khoa triết). Ông được chính chủ tịch Hồ Chí Minh mời về nước từ đợt 1946, nhưng ông xin hoãn lại để hoàn thiện luận án tiến sỹ, đồng thời nghiên cứu chuyên sâu về chủ nghĩa Marx-Lê, rồi 1952 mới về. Về số phận vinh quang và cay đắng của ông đã có rất nhiều bài viết… Hãy nhớ, Thảo là nhà triết học đúng nghĩa duy nhất mà Việt Nam ta đã từng có!

-Phạm Huy Thông: nói về các trí thức từ Paris về, không thể bỏ qua ông. Ông sang Pháp năm 1937 để học trên đại học, con người rất tài hoa, nhà thơ mới (ví dụ tác phẩm “Tiếng địch sông Ô”), đã trở thành luật sư từ năm 21 tuổi. Sang Pháp, chắc là về học hàm học vị trong số người Việt không ai nhiều như ông. Là người có uy tín và tích cực bậc nhất tại Hội Ái hữu, năm 1946 ông cùng Hội Ái hữu được cụ Hồ chọn làm những người trợ giúp cho đoàn đi dự hội nghị Fontainebleau, và ông đã quyết định chọn cho mình con đường đấu tranh như con đường của cụ Hồ. Tuy vậy vì lấy vợ đầm nên ông chưa về ngay được, ông chọn con đường đấu tranh vì độc lập ngay trên đất Pháp. Rất có tài tổ chức, ông phụ trách Việt kiều hải ngoại (bây giờ mới có từ Việt kiều), làm giới chức Pháp khá đau đầu, chúng trục xuất ông về Sài Gòn năm 1952, vợ và con cũng theo ông về Việt Nam. Ông tham gia đấu tranh cùng với Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát… rồi bị địch bắt. Cũng như bà Nguyễn Thị Bình, ông Nguyễn Hữu Thọ… ông đã được trao đổi tù binh và ra miền Bắc năm 1955. Sau này người ta nhớ nhất về ông là Hiệu trưởng Sư phạm Hà Nội và Viện trưởng Viện Khảo cổ, tuy nhiên tài tổ chức và uy tín của ông có lẽ chưa được tận dụng hết!

Ngoài các vị kể trên thì cũng rất nên nhắc tới 2 trí thức từ Pháp về khác:

-Nguyễn Như Kim: “tri thức Việt kiều bất đắc dĩ”. Học trong nước, khi từ chiến khu Việt Bắc được giao mang 18kg vàng sang Thái Lan để mua khí tài cho miền Bắc và chở về bằng tàu biển, ông bị Pháp bắt cho vào tù, và khi thấy ông là tri thức, Pháp đưa cho ông 2 lựa chọn: hoặc bị xử (chắc chết) hoặc “phải” sang Pháp học, và tất nhiên ông phải chọn phương án 2 (chứ không phải như người ta hay viết, trong tù nhưng vẫn “xin ý kiến tổ chức” và “tương kế tựu kế, sang Pháp trau dồi kiến thức và chờ lệnh” – cuộc sống nhiều khi có những lý lẽ khác với người đời tô vẽ!). Ông học về điện và vô tuyến điện (có thể nói ông là người đầu tiên được học bài bản về điện tử chân không thời đó). Quả là lòng yêu nước vẫn không nguôi ngoai trong ông, nên sau 1954 khi được ông Tạ Quang Bửu gửi lời mời, ông đã thu xếp để đưa cả vợ con về nước. Ông làm chủ nhiệm khoa Cơ-Điện đầu tiên tại ĐH Bách Khoa Hà Nội (sau là khoa Điện-Điện tử) và sau là viện trưởng Viện Thông tin…

-Lê Bảo: học trường Hàng hải tại cảng quân sự Toulon (cũng là một trường rất nổi danh ở Pháp) – có thể nói là người được đào tạo bài bản nhất về đóng tàu. Sau 1954 ông đã về miền Bắc và khi đó khoa Cơ-Điện của ĐH Bách khoa được tách ra, ông làm chủ nhiệm khoa Cơ khí, tuy vậy sau này ông chưacó dịp áp dụng kiến thức về bộ môn đóng tàu…

Nhìn lại tiểu sử tóm tắt của các tri thức quay về từ Pháp, ta có thể thấy mấy điểm chung sau:

-họ là những NGƯỜI YÊU NƯỚC, họ tự nguyện về nước, biết trước sẽ vô cùng gian khổ, xuất phát từ ý nguyện “đáp lời sông núi”, đa số chỉ trở thành đảng viên sau này.

-không có ai trở thành cán bộ lãnh đạo ở những cương vị chủ chốt cao nhất, tuy vậy tất cả họ đều đã áp dụng vốn kiến thức được học bên Pháp trên mọi cương vị. Đất nước chưa tận dụng hết khả năng của họ (cũng như chưa thu hút được hết trí thức giỏi khác từ Pháp về), khá đáng tiếc!

-6 người trong số họ được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về thành tựu khoa học-kỹ thuật: Lê Văn Thiêm,Trần Đại Nghĩa, Lê Tâm, Trần Đức Thảo, Phạm Huy Thông, Trần Hữu Tước.

-là những tri thức thự thụ, họ đã sống hết mình và không có kẻ nào luồn cúi cầu vinh, cầu lợi. Họ xứng đáng là tấm gương cho các thế hệ sau noi theo!

P.S.
Căn nhà của Hội Ái hữu – đ/c 11 Rue Jean de Bauvais, quận 5 Paris – được các hội viên góp tiền mua lại năm 1942. Người đóng góp nhiều nhất – 40% giá tiền mua – là Lâm Ngọc Huấn – một người Tàu Chợ Lớn, sang Paris chả học gì, chủ yếu ăn chơi thôi, tuy vậy rất ủng hộ Việt Minh và cụ Hồ (sau này về miền Nam làm Sở Mật vụ thì phải?!), và anh Tuyên, con một địa chủ miền Nam, học hội họa tại London. Bây giờ vẫn là trụ sở của Hội Việt kiều yêu nước tại Paris.

Chưa từng có cuộc gặp lại nào có tương đối đầy đủ những tri thức từ Pháp về.

Các nhân vật của status này đại đa số đã thành người thiên cổ, theo tác giả thì hiện nay chỉ còn 2 cụ đều đã ngoài 90: Lê Tâm (tức Nguyễn Hy Hiền), Lê Bảo (cả hai đều ở Hà Nội).

Chắc bài viết mang tính chủ quan, còn có nhiều sai sót, xin bạn đọc lượng thứ và góp ý thêm!

Nguồn: @Nam Nguyen.
https://m.facebook.com/photo.php?fbid=815184748543464&id=100001558398112&set=a.445137485548194

Toàn dân Venezuela xuống đường…

Image may contain: outdoor
Hong Ha

Toàn dân Venezuela xuống đường, không vủ khí, không bom xăng, chỉ bằng Ý Chí Cương Quyết thay đổi chính quyền Cộng Sản và họ xuống đường sau 3 ngày Trump lên tiếng muốn thấy 1 chính quyền mới không Cộng Sản ở Venezuela. VN Tôi đâu? Bạn không lên tiếng, bạn không xuống đường hò hét, ai nghe ai biết bạn khổ?

BAO GIỜ ĐẾN LƯỢT MỸ ỦNG HỘ VIỆT NAM?

Image may contain: 1 person, suit and closeup
Image may contain: 1 person, crowd and outdoor

Phạm Thành is with Hoa Kim Ngo and 12 others.

BAO GIỜ ĐẾN LƯỢT MỸ ỦNG HỘ VIỆT NAM?

Hôm nay, 24.1.2019, cả phe đối lập và phe ủng hộ tổng thống Manduro đều xuống đường biểu tình phản đối chế độ xã nghĩa và tổng thống Venezuela – Maduro.

Đây là điều khác hẳn so với các cuộc biểu tình trước đây của dân Venezuela phản đối Maduro và chế độ xã nghĩa.

Đặc biệt: “Ngay trước thềm cuộc biểu tình diễn ra, Phó tổng thống Mỹ Mike Pence phát đi thông điệp ủng hộ qua một clip bằng tiếng Tây Ban Nha: “Thay mặt cho tổng thống Donal Trump và toàn thể nhân dân Mỹ, hãy cho phép tôi bày tỏ sự ủng hộ không lay chuyển của Hoa Kỳ khi các bạn, nhân dân Venezuela cất lên tiếng nói đòi tự do của mình vào ngày mai. Chúng tôi tuyên bố sát cánh cùng các bạn. Chúng tôi sẽ ở bên các bạn tới khi nền dân chủ được khôi phục và giành lại được sự tự do”. Lời lẽ của ông Pence cho thấy quyết tâm của ông Trump là đạt bằng được mục tiêu xóa bỏ CNXH ở đất nước này như trong bài diễn văn đọc trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào hồi năm ngoái. (trich bài của fb Trần Đình Thu”.

Tôi có niềm tin vững chắc rằng, chế độ xã nghĩa của Venezuela sẽ bị xóa xổ cùng với tổng thống Maduro bị lật nhào trong thời gian này.

Có rất nhiều lý do dẫn đến kết quả này. Nhưng lý do rất quan trọng là nước Mỹ đã công khai lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ sự thay đổi này.

Bao giờ thì Mỹ công khai lên tiếng ủng hộ dân Việt Nam vùng lên xóa bỏ xã nghĩa và xóa bỏ cộng sản cầm quyền thì công cuộc đấu tranh của dân Việt Nam cũng sẽ vùng lên mạnh mẽ như dân Venezuela.

Bao giờ đến lượt Việt Nam, nước Mỹ và ngài Trump ơi?

Qua đời vì ung thư, cô gái 27 tuổi người Úc để lại tâm thư gây bão MXH

Qua đời vì ung thư, cô gái 27 tuổi người Úc để lại tâm thư gây bão MXH

 “Hãy tận hưởng và sống trong khoảnh khắc đẹp thay vì mải mê ghi lại mọi thứ qua màn hình điện thoại. Cuộc sống không phải để sống qua màn hình, cũng không phải để có được bức ảnh đẹp một cách hoàn hảo.”

Holly Butcher, 27 tuổi, đến từ Grafton, New South Wales, Australia mới qua đời vào ngày 4/1 vì căn bệnh ung thư xương. Ở độ tuổi đấy, con người ta bắt đầu mơ ước đến một cuộc sống ổn định cùng với gia đình nhỏ. Nhưng với Holly, còn một khoảng cách rất xa mà có lẽ không bao giờ có thể với tới ước mơ ấy được.

Trước khi qua đời vì căn bệnh ung thư quái ác, Holly Butcher đã viết một lá thư ngỏ để gửi tới tất cả mọi người trong cuộc sống này, để nói về cách sống mãn nguyện mỗi ngày của chính mình khi cô đang trên chặng hành trình cuối cùng đi tới kết thúc. Lá thư đã được gia đình cô gái chia sẻ trên mạng xã hội chỉ vài giờ sau khi cô trút hơi thở cuối cùng.

Cô từng là người đại diện cho bang đi thi đấu bóng quần và khúc côn cầu. Tuy nhiên, trong thời gian chiến đấu với bệnh tật, cô nhận thấy cơ thể mình ngày càng yếu ớt và không thể điều khiển cơ thể như trước được nữa. Bức thư được đăng tải lên tài khoản Facebook của Holly Butcher ngay lập tức đã thu hút sự chú ý của đông đảo cư dân mạng với 64.000 lượt thích, 56.000 lượt chia sẻ và rất nhiều bình luận, những con số vẫn đang tăng lên theo từng giờ.

“Thật sững sờ khi bạn nhận ra và buộc mình phải chấp nhận cái ch.ế.t khi bạn mới chỉ 26 tuổi. Đó là điều tôi chưa bao giờ dám nghĩ tới. Từng ngày trôi qua và tôi hi vọng cuộc sống sẽ vẫn tiếp diễn, cho tới khi điều không mong muốn đã xảy ra.

Tôi đã luôn hình dung trong đầu xem mình già đi thì sẽ thế nào, có nếp nhăn này, tóc bạc đi này, tôi sẽ lo toan vất vả vì gia đình với những đứa con, một gia đình mà tôi sẽ gây dựng với người đàn ông của cuộc đời mình. Tôi đã khát khao những điều ấy rất nhiều và giờ đây, mọi sự càng trở nên khó khăn.

Đó chính là cuộc sống. Cuộc sống mong manh, quý giá và khó đoán. Mỗi ngày được sống là một món quà, mà đôi khi chúng ta quên mất phải trân trọng.

Giờ tôi 27 tuổi. Tôi không hề muốn phải ra đi. Tôi yêu cuộc sống của mình. Tôi cảm thấy hạnh phúc. Tôi có nhiều thứ muốn làm cho những người tôi yêu thương. Nhưng đến bây giờ, những điều đó đều nằm ngoài tầm kiểm soát của tôi.

Chợ Úc – Việc Làm Nhà Ở Tại Úc

Tôi không viết lá thư này để mọi người cảm thấy ghê sợ cái ch.ế.t, tôi thích ý nghĩ rằng ch.ế.t là điều không thể tránh khỏi, dù chúng ta thường cố tình không chấp nhận sự thật. Tôi muốn nói về cái ch.ế.t, dù đó là một việc không dễ. Tôi muốn những ai còn được sống khỏe mạnh trong cuộc đời này hãy thôi lo lắng về những điều nhỏ nhặt, vô nghĩa trong cuộc sống.

Đừng quên rằng mỗi chúng ta, ai rồi cũng đều có chung một kết cục, vì thế hãy làm những gì có thể để thời gian của bạn trở nên đáng giá, dù những điều điên rồ, ngớ ngẩn thỉnh thoảng vẫn xảy ra.

Tôi có rất nhiều thời gian để suy nghĩ về cuộc đời trong những ngày tháng cuối cùng này. Có khi giữa đêm khuya, những suy nghĩ mông lung lại xuất hiện trong đầu tôi.

Tôi nhớ lại những khi mình buồn rầu vì những điều mà giờ đây tôi cảm thấy chúng thật hài hước. Vậy nên, những khi bạn như vậy, hãy nghĩ về những người đang thực sự phải đối diện với những vấn đề trầm trọng.

Hãy biết ơn vì bạn chỉ gặp phải những vấn đề nhỏ nhặt và rồi bạn cũng sẽ vượt qua thôi. Những điều bực mình vẫn sẽ xảy ra nhưng xin bạn đừng quá để tâm, đừng cho phép những điều đó khiến bạn gây ảnh hưởng tiêu cực tới những người xung quanh.

Khi đã hiểu ra rồi, hãy bước ra ngoài, hít thở thật sâu, nhìn ngắm bầu trời và những cái cây, bạn sẽ thấy mọi thứ thật đẹp đẽ. Rồi bạn sẽ hiểu ra rằng bản thân may mắn thế này khi vẫn còn làm được một điều thật đơn giản như thế – hít thở.

Bạn có thể bị kẹt xe, có thể bị thiếu ngủ vì chăm con, người thợ cắt tóc bạn ngắn hơn yêu cầu, móng tay vừa sơn đã bị xước, vòng 1 quá nhỏ, da bạn bị rạn, bụng hơi to… Hãy mặc kệ những chuyện nhỏ ấy đi.

Tôi thề rằng bạn sẽ thấy những chuyện đó quá bé nhỏ nếu cuộc sống của bạn bất ngờ gặp biến cố lớn. Những chuyện đó chẳng nhằm nhò gì khi bạn nhìn cuộc sống một cách thoáng hơn.

Tôi đã phải chứng kiến cơ thể mình suy kiệt dần mà không thể làm gì được, tất cả những gì tôi mong muốn chỉ là có thể trải qua thêm một sinh nhật và một Giáng sinh nữa ở bên gia đình, và rồi tôi lại muốn sống thêm một ngày nữa để dành thời gian bên người yêu và chú cún cưng. Tôi chỉ cần thêm một ngày nữa mà thôi.

Tôi nghe người ta hay than phiền về công việc quá chán chường, về việc không có động lực tập thể dục, nhưng họ quên mất phải biết ơn vì cơ thể của họ có đủ khả năng để làm tất cả những điều đó. Lao động, luyện tập mỗi ngày nghe có vẻ là điều quá bình thường, cho tới khi cơ thể của bạn không còn cho phép bạn làm được những điều đó nữa.

Hãy trân trọng sức khỏe và cơ thể của bạn, cho dù đó không phải là vóc dáng lý tưởng bạn mơ ước. Hãy chăm sóc cơ thể, hãy vận động, nuôi dưỡng nó thật tốt, đừng ám ảnh tiêu cực về cơ thể mình.

Có sức khỏe tốt quan trọng hơn là có cơ thể đẹp. Ngoài ra, hãy cố gắng tìm ra niềm vui dành cho tinh thần mình. Bằng cách đó, bạn sẽ nhận ra rằng những điều hoàn hảo được thể hiện trên mạng xã hội, vốn luôn khiến bạn bất an khi đem ra so sánh với bản thân mình, chỉ là chuyện rất nhỏ.

Bất cứ tài khoản mạng xã hội nào khiến bạn cảm thấy bất an về bản thân, hãy ẩn tài khoản đó đi. Bạn cần phải mạnh mẽ bảo vệ những cảm nhận tích cực của bạn về chính mình.

Hãy biết trân trọng những ngày bạn khỏe mạnh, và ngay cả những ngày bạn không khỏe vì bị cúm, đau lưng, chệch mắt cá chân… Cũng hãy biết ơn vì đó không phải những bệnh tình trầm trọng và rồi nó sẽ biến mất thôi. Hãy than thở ít hơn nhé, hãy giúp nhau nhiều hơn nữa.

Hãy cho đi, thực sự bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc khi giúp đỡ người khác. Tôi ước gì mình đã giúp đỡ những người xung quanh nhiều hơn nữa. Kể từ khi bị bệnh, tôi đã gặp được rất nhiều người tử tế, nhân hậu, sẵn sàng giúp đỡ tôi, thậm chí có cả những người xa lạ tôi không biết; có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ đền đáp lại được những tấm lòng bao dung ấy. Tôi sẽ không bao giờ quên và sẽ luôn biết ơn những người đó.

Khi bạn sắp ra đi, bạn sẽ không nghĩ tới việc đi ra ngoài mua sắm như bạn vẫn thường làm lúc còn khỏe mạnh. Lúc này, bạn nhận thấy mình thật ngốc nghếch khi đã tiêu quá nhiều tiền vào mua sắm.

Hãy mua quà tặng cho những người thân yêu thay vì chỉ chăm chăm nghĩ xem mình nên mua gì. Thứ nhất, chẳng ai quan tâm nếu bạn mặc một chiếc váy hai lần đâu. Thứ hai, bạn chắc chắn sẽ thấy rất vui nếu mời mọi người đi ăn nhà hàng, đi uống cà phê hoặc dành thời gian nấu nướng ở nhà.

Hãy biết trân trọng thời gian của mọi người. Đừng bắt họ phải chờ đợi mình, hãy luôn đúng giờ. Hãy trân trọng khi bạn bè muốn dành thời gian bên bạn.

Năm nay, gia đình tôi đón một Giáng sinh mà không có quà đặt dưới gốc cây thông, nhưng ai ai cũng cảm thấy hài lòng vì không phải chịu áp lực đi mua sắm trong dịp cuối năm bận rộn này. Chúng tôi dành thời gian để viết những tấm thiệp với những dòng thật chân thành để trao cho nhau. Chúng tôi đã thẳng thắn nhìn nhận rằng mua quà cho tôi lúc này không còn nhiều ý nghĩa.

Thật lạ lùng! Nghe có vẻ buồn, nhưng những tấm thiệp đem lại cho tôi nhiều cảm xúc hơn những món quà tôi từng nhận được.

Hãy sử dụng tiền của bạn vào những trải nghiệm ý nghĩa, hay ít nhất cũng đừng bỏ lỡ những trải nghiệm chỉ vì bạn đã tiêu hết tiền vào mua sắm.

Hãy đắm chìm mình vào thiên nhiên. Hãy tận hưởng và sống trong khoảnh khắc đẹp thay vì mải mê ghi lại mọi thứ qua màn hình điện thoại. Cuộc sống không phải để sống qua màn hình, cũng không phải để có được bức ảnh đẹp một cách hoàn hảo. Hãy tận hưởng thực sự khoảnh khắc đáng nhớ! Đừng cố gắng ghi lại khoảnh khắc để khoe với người khác.

Đôi khi hãy thức dậy sớm để nhìn ngắm thế giới xung quanh. Hãy nghe nhạc, thực sự lắng nghe. Âm nhạc là một liều thuốc tốt. Những bài hát cũ luôn là những bài hát hay nhất.

Hãy ôm lấy chú cúng cưng của bạn. Nói thật, nếu phải đi xa, tôi sẽ nhớ nó lắm.

Hãy trò chuyện với bạn bè, hãy hỏi xem dạo này họ thế nào, đừng chỉ nhớ nhau qua điện thoại.

Hãy đi du lịch nếu đó là đam mê của bạn, còn nếu không phải điều bạn muốn thì không cần phải đi.

Hãy làm việc để sống, đừng sống chỉ để làm việc.

Hãy làm những gì bạn cảm thấy hạnh phúc.

Hãy ăn những gì bạn thích, chẳng việc gì phải từ chối chỉ vì sợ béo.

Hãy mạnh dạn nói “không” với những điều bạn không muốn làm.

Đừng cố sống cuộc đời mà những người khác cho rằng thế mới là hoàn hảo. Có thể bạn chỉ muốn sống một cách bình lặng và như thế mới là ổn nhất cho bạn.

Hãy nói với những người bạn yêu thương rằng bạn yêu họ mỗi khi có cơ hội, và hãy yêu thương họ bằng tất cả những gì bạn có.

Cũng phải nhớ rằng nếu có ai hay điều gì khiến bạn cảm thấy khổ sở, thì bạn hoàn toàn có sức mạnh để thay đổi, dù là trong công việc, tình yêu hay bất cứ điều gì khác. Hãy mạnh mẽ thay đổi. Bạn không biết chắc chắn mình có bao nhiêu thời gian sống trên đời này, vì vậy, đừng lãng phí thời gian vì buồn khổ. Điều này nghe có vẻ sáo rỗng nhưng nó đúng đấy.

Một điều cuối cùng, nếu bạn có thể hãy làm việc tốt cho nhân loại và bản thân mình bằng cách hiến máu thường xuyên. Việc làm này khiến cho bản thân cảm thấy tuyệt vời khi cứu được những sinh mạng khác. Người hiến máu đã giúp tôi sống thêm một năm nữa – một năm mà tôi sẽ mãi mãi biết ơn. Bởi vì tôi được sống trên đời cùng gia đình, bạn bè. Một năm mà tôi đã có những thời gian tuyệt vời nhất trong đời.

Tạm biệt!

Holly.”

 From: Do Tan Hung & Nguyen Kim Bang 

Phim Silent Night…

 Phim Silent Night…

 Phim có nội dung từ một Câu chuyện có thật trong đêm Giáng Sinh 1944

 Elisabeth Vincken, một phụ nữ Đức vì trốn tránh chiến tranh nên đưa con trai 12 tuổi của mình tên là Frisbey lánh xa trong rừng thẳm trong một căn nhà gỗ. Tuy rằng xa xa vẫn nghe được tiếng súng vọng lại, nhưng một nơi hoang vắng thế này, nghe chừng như an toàn. 

Đêm Noel, hai mẹ con mong đợi ông bố đang làm việc trên thị trấn quay về đây đoàn tụ ăn bữa cơm Noel. Elisabeth có nuôi được một con gà béo đặt cho nó cùng tên với viên phó tướng của Hitler là Hermann Göring. Cô mong muốn đợi chồng về sẽ thịt con gà trống này để cả nhà thưởng thức. 

Hôm ấy, tuyết phủ dầy đặc, che lấp đi tất cả mọi nẻo đường trên núi, hy vọng người bố trở về thực sự là mỏng manh. 

Đột nhiên có tiếng gõ cửa, cậu bé Frisbey tưởng rằng bố đã về chạy ra mở cửa, nhưng mẹ cậu ngăn cậu lại, thổi tắt nến và tự mình ra mở cửa, hai người lính đội mũ sắt xuất hiện trước cửa, một người nữa bị thương nằm lê trên tuyết, máu rỉ nhuộm đỏ một vùng. Họ dùng tiếng Anh để giải thích cho cô điều gì nhưng cô không hiểu, trong tiềm thức cô đã biết rằng đây là quân địch, sự nguy hiểm rất có thể xẩy ra. Đây chính là ba người lính Mỹ thuộc sư đoàn 8 binh đoàn 121 bộ binh do bão tuyết nên đã lạc đến đây, họ bị lạc trong rừng đã ba ngày, mệt mỏi, đói rét và nhiều vết thương đang dằn vặt họ.Người nằm trên tuyết bị thương ở đùi, mất rất nhiều máu, cái chết như đang  rình rập với anh. Họ mang trên mình súng đạn, có thể ập vào nhà cưỡng chiếm, nhưng họ vẫn lịch sự, gõ cửa và xin phép chủ nhân cho vào. 

Elisabeth dựa vào cửa nghe những lời năn nỉ mà cô không nghe rõ nhưng cô hiểu được họ muốn gì và giang tay mời họ vào. Cô để người lính bị thương nằm lên giường mình, xé khăn trải giường băng bó vết thương cho anh, gọi con trai đi giết gà và gọt khoai tây để chuẩn bị đồ ăn tối của đêm Noel. 

Chẳng mấy chốc, căn nhà nhỏ đã thơm lừng mùi gà nướng, và rồi Elisabeth phát hiện một người trong họ nói được tiếng Pháp, cô và họ bắt đầu giao lưu và không khí căng thẳng dần dần tan đi. 

Chốc lát, lại có tiếng gõ cửa, cậu bé cho rằng có lẽ lại có thêm quân Mỹ bị lạc, chạy ra mở cửa thì phát hiện bốn lính Đức đứng ở cửa. Frisbey đứng ngây người, bởi cậu ta đã được dậy dỗ quy định của Đức quốc xã nếu như nuôi giữ kẻ địch trong nhà sẽ bị giết không tha thứ. Lúc ấy Elisabeth bước ra niềm nở chào các lính Đức bằng câu : “Merry Christmas”, rồi nghe viên hạ sĩ giải thích nhóm người bị lạc trong rừng, muốn ngủ nhờ một đêm. Elisabeth tươi cười mời họ vào và nói:” Mời các anh vào nhà cho ấm và cũng mời các anh chung vui bữa tối Noel an lành với chúng tôi. Nhưng gia đình chúng tôi còn có một số vị khách khác, họ không phải bạn của các anh nhưng rất mong sự dung nạp của các anh với họ.”, sĩ quan Đức lập tức cảnh giác hỏi:” Trong đấy là ai? có phải quân Mỹ?” , Elisabeth trả lời phải và nói tiếp:” Đêm nay là đêm bình an, không ai được hành sự ở đây, xin các vị bỏ vũ khí ngoài cửa cho”, quân Đức nhìn chằm chặp vào Elisabeth, cuối cùng cũng bỏ súng ngoài cửa rồi mới bước vào căn nhà gỗ.

 Lập tức, không khí trong căn nhà căng thẳng hẳn, một lính Mỹ đã nhanh tay rút súng chuẩn bị bắn vào quân Đức, nhưng Elisabeth đã lớn tiếng chặn lại, cô dùng tiếng Pháp lặp lại câu vừa nói ngoài cửa với lính Đức:” Đêm nay là đêm bình an, không ai được hành sự ở đây, đưa súng cho tôi.”, sau đó cô sắp xếp cho hai bên binh lính ngồi xen kẽ quanh bàn ăn, do nhà hẹp nên họ ngồi sát vào nhau, vai chạm vai, còn Elisabeth thì tươi cười đi chuẩn bị đồ ăn.

Đồ ăn trong bếp tỏa hương thơm lừng, cô vừa làm việc vừa nhiệt tình nói chuyện vui vẻ, không khí căng thẳng tan đi. Sau đó, lính Mỹ moi thuốc lá ra mời lính Đức, lính Đức lấy chai rượu vang và bánh mì ra góp vui. Một lính Đức lấy dụng cụ cấp cứu của mình ra để băng bó lại vết thương cho người lính Mỹ bị thương, anh ta là quân y, biết tiếng Anh, giải thích cho lính Mỹ biết vết thương bởi gặp trời lạnh, chưa bị nhiễm trùng, chỉ có mất máu quá nhiều, nghỉ ngơi vài ngày sẽ khỏi. Sự nghi kỵ đề phòng lúc này hầu như đều đã tiêu tan. 

Đồ ăn được bầy ra, Elisabeth chắp tay cầu nguyện trước khi ăn, mắt cô rớm lệ và thành khẩn nói khẽ:” Cảm ơn ân điển của Chúa, ban cho chúng con niềm vui trong sự khủng khiếp của chiến tranh, được đoàn tụ một cách hòa bình trong căn nhà này. Trong đêm Noel an lành, chúng con xin thề rằng sẽ không phân biệt thù địch, hữu ái bên nhau, cùng nhau chia sẻ bữa cơm Noel đậm đà tình nghĩa này. Chúng con nguyện cầu cho chiến tranh mau kết thúc để mọi người bình yên trở về quê nhà.”, lời nguyện vừa hết, khuôn mặt các binh lính đã tràn trề nước mắt. Mọi người bị xúc động với những lời cầu nguyện của Elisabeth, trong khoảnh khắc, mọi thù hận, căm ghét mà trên chiến tuyến dồn lại bỗng chốc tiêu tan thành mây khói, trong thâm tâm họ chỉ nghĩ đến gia đình, quê hương và người thân, một sự khát khao hoà bình trào dâng. 

Sau bữa ăn, họ cùng nhau bước ra khỏi căn nhà gỗ, lúc đó, bão tuyết đã ngưng, bầu trời đêm lấp lánh ánh sao, mọi người không ai bảo ai, cùng nhau ngẩng mặt tìm kiếm ngôi sao Bethlehem ( Star of Bethlehem).

 (Đêm Giáng Sinh cũng làm chúng ta nhớ đến câu chuyện Ba Vua (Three Kings hay Magi) đến từ phương Đông, họ đã tìm ra nơi Chúa sinh ra đời để chiêm bái nhờ hướng theo ánh sao rực sáng trên hang đá ở Bethlehem. Ngôi sao sáng được gọi là Ngôi Sao Bethlehem (Star of Bethlehem) vì không ai biết ngôi sao ấy tên gì. Có nhiều giả thuyết về sự xuất hiện của ngôi sao ấy. Có thể đó là biểu hiện huyền bí hay là một phép lạ đánh dấu sự ra đời của Chúa Jesus. ) 

Sau đó, 7 người lính đã từng là thù địch giết chóc nhau trên chiến trường lại cùng nhau ngủ chung dưới một mái nhà, họ trải qua một đêm bình an ấm áp, yên lành, đầy kịch tính… 

Sáng hôm sau, Elisabeth nấu đồ ăn sáng cho mọi người rồi hai bên chia tay nhau lên đường, sĩ quan Đức căn dặn hướng trận địa của quân Đức để ba người lính Mỹ khỏi đi nhầm đến đấy, họ còn làm một cái cáng để cho người lính Mỹ bị thương nằm. Hai bên đều lưu luyến bắt tay từ biệt Elisabeth và cậu con trai Frisbey rồi ra đi ở hai hướng khác nhau. 

Câu chuyện chưa kết thúc, 14 năm sau, 1958, cậu bé Frisbey đã 26 tuổi, anh đã kết hôn và di dân sang Mỹ. Anh cư trú tại Hawaii và mở một tiệm bánh Pizza. Sau đó, anh có viết lại câu chuyện này và gửi cho nhà xuất bản “Reader’s Digest”, bởi đã nhiều năm nay, Frisbey ao ước được gặp lại những người trong cuộc buổi tối hôm ấy. 

Năm 1995, đài truyền hình Mỹ tiết mục ” unsolved mysteries” đã đem câu chuyện này quay thành phim và chiếu trên kênh tivi, không bao lâu, một nhân viên dưỡng lão viện ở thị trấn vùng Maryland gọi điện thoại cho người phụ trách tiết mục, nói rằng ở nơi đây có một người lính già hay kể cùng một câu chuyện như vậy. 

Người lính đó là một trong ba người lính Mỹ đêm hôm đó, ông tên là Ralph. Rất nhanh, họ bố trí cho hai người gặp mặt, xa cách sau 50 năm, Frisbey và Ralph lại gặp nhau, hai người ôm nhau cảm động đến khóc. Ralph nức nở:” Mẹ cậu đã cứu sống chúng tôi”, sau đấy Frisbey lại tìm được thêm một người lính Mỹ, nhưng những lính Đức thì không tìm lại được. 

Năm 2002, Frisbey qua đời, cùng năm ấy, một hãng phim Hollywood có dựng lại câu chuyên này thành phim lấy tên là ” The Silent Night ” ( Đêm yên tĩnh ). 

Câu chuyện chỉ ra cho chúng ta thấy, Elísabeth chỉ là một phụ nữ người Đức bình thường, trong cuộc chiến tàn khốc, bà đã dũng cảm ngăn chặn giết chóc, giữ được sự tôn nghiêm của nhân tính. Hiển nhiên, dũng khí của bà, bắt nguồn từ tình yêu bác ái của Chúa GiêSu, và lòng trắc ẩn nhân đạo vốn có của loài người. Thiện tâm của bà, vượt lên trên sự thù địch, vượt trên cả chủng tộc, quốc gia, đánh thức nhân tính trong thâm tâm của hai phía thù địch. Chính bởi sự bất diệt của lòng nhân đạo là điều quí giá để bảo đảm nền hòa bình trên trái đất. 

Trong lúc chúng ta hân hoan đón mừng ngày lễ thiêng liêng này, hãy tĩnh tâm hồi ức ý nghĩa chân chính của Noel, lấy tinh thần cao đẹp của Chúa và tình yêu thương nhân bản, hóa giải hận thù, cầu nguyện cho thế giới hòa bình, không chiến tranh, không bạo loạn, không khủng bố, cùng nhau trải qua những đêm vui tươi và an lành.

https://www.youtube.com/watch?v=nEH7_2c644Q (Silent Night avec Paroles | chant de Noël)

Silent night, holy night!

All is calm, all is bright.

Round yon Virgin, Mother and Child.

Holy infant so tender and mild,

Sleep in heavenly peace,

Sleep in heavenly peace

 Silent night, holy night!

Shepherds quake at the sight.

Glories stream from heaven afar

Heavenly hosts sing Alleluia,

Christ the Savior is born!

Christ the Savior is born 

Silent night, holy night!

Son of God love’s pure light.

Radiant beams from Thy holy face

With dawn of redeeming grace,

Jesus Lord, at Thy birth

Jesus Lord, at Thy birth

 Fb Trương Văn Tân

CUỘC SỐNG LUÔN CẦN SỰ QUAN TÂM

CUỘC SỐNG LUÔN CẦN SỰ QUAN TÂM

Sau khi chịu phép rửa của Thánh Gioan, Chúa Giêsu bắt đầu cuộc sống công khai.  Ngài rao giảng Tin mừng.  Đi liền với lời rao giảng là các phép lạ.  Bài Tin mừng hôm nay tường thuật phép lạ Ngài biến nước thành rượu ngon theo lời thỉnh cầu của Đức Mẹ.  Đây là phép lạ đầu tiên của Ngài.  Qua phép lạ này, chúng ta thấy được những bài học về sự quan tâm: Sự quan tâm của Đức Mẹ; sự quan tâm của Chúa Giêsu và sự quan tâm của các gia nhân.

  1. Sự quan tâm của Đức Mẹ

 Đi dự đám cưới để chúc mừng hạnh phúc của đôi tân hôn là chuyện bình thường trong cuộc sống.  Đặc biệt khi con người có những mối liên hệ: ruột thịt, họ hàng, bạn bè, làng xóm láng giềng với nhau.  Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta biết Chúa Giêsu và Mẹ Maria đi dự tiệc cưới.  Chắc chắn gia đình chủ tiệc có liên hệ gì đó với Mẹ Maria và Chúa Giêsu.  Thông thường, những người được mời đến dự tiệc sẽ được sắp xếp ngồi vào chỗ đã chuẩn bị trước và được gia chủ tiếp đón một cách chu đáo.  Đức Mẹ và Chúa Giêsu là khách mời, và có lẽ là khách mời danh dự nên sẽ được sắp xếp vào chỗ ngồi đặc biệt.  Nhưng tại sao Đức Mẹ lại biết chủ tiệc hết rượu?  Vì Mẹ quan tâm đến gia chủ.  Mẹ quan sát và thấy gia chủ bối rối.  Mẹ tìm hiểu và thấy họ hết rượu.  Đúng như người ta nói: Bác ái là tìm tòi.  Tìm sự thiếu thốn của người khác để quan tâm, để giúp đỡ.  Giúp đỡ như thế nào đây?  Đức Mẹ đã nghĩ đến Chúa Giêsu.  Vì Mẹ tin tưởng chỉ có Con của Mẹ mới có thể giải quyết được chuyện này.  Thế là Mẹ đã mạnh dạn đặt vấn đề với Chúa Giêsu, Con của Mẹ: “Họ hết rượu rồi” (x. Ga 2,3).  Vai trò của Mẹ là như thế: Cầu bầu.  Việc còn lại là của Chúa Giêsu.  Mặc dầu, câu trả lời của Chúa Giêsu có vẻ lạnh nhạt: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi?  Giờ của tôi chưa đến” (x. Ga 2,4).  Nhưng Mẹ vẫn tin tưởng Chúa Giêsu sẽ làm gì đó để giúp đỡ chủ tiệc.  Bằng chứng là Mẹ đã bảo những người giúp việc “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (x. Ga 2,5).

Mẹ Maria có mặt ở tiệc cưới Cana là do lời mời của gia chủ, và cũng là do sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa.  Ngày hôm nay, nhiều gia đình đang thiếu thốn cách này cách khác: Thiếu thốn sự quan tâm, thiếu thốn tình yêu, thiếu thốn miếng cơm manh áo, bị bệnh tật…  Hãy mời Mẹ về với gia đình, hãy dâng những nỗi khổ, những sự thiếu thốn của gia đình chúng ta cho Mẹ.  Mẹ sẽ sẵn sàng cầu bầu cùng Chúa giúp đỡ gia đình chúng ta như xưa Mẹ đã cầu bầu cùng Chúa giúp đỡ gia đình tiệc cưới tại Cana.

  1. Sự quan tâm của Đức Giêsu

 Trong suốt 3 năm rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu hằng luôn quan tâm đến mọi hạng người để giúp đỡ, để biến đổi, để chữa lành.  Riêng trong đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy Ngài quan tâm đến lời yêu cầu của Đức Mẹ.  Khi Mẹ Maria đề nghị Ngài cứu giúp gia tiệc, Chúa Giêsu trả lời cho Mẹ biết “Giờ Ngài chưa đến” (x. Ga 2,4).  Mặc dầu giờ chưa đến nhưng do lời thỉnh cầu của Mẹ, Chúa Giêsu đã làm phép lạ hoá nước thành rượu ngon.  Điều đó chứng tỏ Ngài quan tâm đến Mẹ.  Sự quan tâm đó còn được thể hiện qua việc Ngài trối Đức Mẹ cho Thánh Gioan và trối Thánh Gioan cho Đức Mẹ.  Từ đó, Mẹ trở thành mẹ của mỗi người chúng ta.  Mẹ hằng yêu thương giúp đỡ chúng ta khi còn sống cũng như khi đã về trời.  Vì vậy, Giáo hội thường gán cho Mẹ các tước hiệu như: Đấng bênh vực, Mẹ Phù hộ, Mẹ cứu giúp, Đấng làm trung gian (x. LG 62).

Chúa Giêsu không những quan tâm đến Đức Mẹ mà Ngài còn quan tâm đến chủ tiệc và đôi tân hôn, tức là quan tâm đến đời sống gia đình.  Đám cưới là niềm vui lớn nhất trong đời của đôi tân hôn.  Chính vì vậy, cả đôi tân hôn và cả gia đình chủ tiệc đều mong muốn có một niềm vui trọn vẹn.  Thế mà, không hiểu sao giữa tiệc vui lại hết rượu.  Đây là sự cố xảy ra ngoài ý muốn của gia đình và cô dâu chú rể.  Vì không muốn họ mất đi niềm vui trọn vẹn, nên Chúa Giêsu đã làm phép lạ hoá nước thành rượu ngon để cứu giúp họ.  Việc Chúa Giêsu đi dự tiệc cưới và làm phép lạ hoá nước thành rượu ngon nói lên sự quan tâm của Ngài đối với gia đình.  Đó lá dấu chỉ Ngài sẽ lập Bí tích hôn phối sau này.  Bí tích hôn phối được Chúa thiết lập kết hợp người nam và người nữ thành vợ chồng.  Đặc tính của bí tích này là đơn hôn và vĩnh hôn.  Nghĩa là phải một vợ một chồng và phải sống với nhau cho đến chết.

  1. Sự quan tâm của các gia nhân

 Thông thường trong các đám cưới, ngoài cha mẹ anh em họ hàng ra còn có những người làng xóm, bạn bè…  Họ không phải là khách mời, nhưng là những người đến để giúp đỡ.  Họ giúp gia chủ những công việc như: Dựng rạp, sắp đặt bàn ghế, trang trí, nấu nướng, bưng bê mâm cỗ…  Tại đám cưới ở Cana, vai trò của những người này hết sức quan trọng.  Không những họ làm những công việc trên, mà họ còn đóng góp phần mình trong phép lạ hoá nước thành rượu ngon.  Sau khi đề nghị với Chúa Giêsu, Mẹ Maria bảo họ: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (x. Ga 2,5).  Và khi nghe Chúa Giêsu bảo đổ đầy nước vào các chum.  Họ liền làm đúng như vậy.  Sau đó, Chúa Giêsu bảo họ: “Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc” (x. Ga 2,8).  Họ cũng làm theo như vậy, và phép lạ đã được thực hiện.

Như vậy, phép lạ hoá nước thành rượu ngon do Chúa Giêsu làm nhưng nhờ lời thỉnh cầu của Mẹ Maria và sự cộng tác tích cực của các gia nhân.

Trong mọi biến cố vui buồn của cuộc sống gia đình, cần có sự quan tâm, giúp đỡ, cộng tác của những người xung quanh.  Đó là sự cộng tác: giữa vợ chồng với nhau; giữa cha mẹ và con cái; giữa anh em ruột thịt; giữa bạn bè; giữa làng xóm láng giềng.  Mỗi người Chúa ban cho mỗi khả năng, nếu biết quan tâm, giúp đỡ, cộng tác với nhau chắc chắn sẽ đem lại lợi ích to lớn.  Thánh Phaolô trong bài đọc II đã nói: “Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh.  Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ.  Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người”(1 Cr 12, 9-11).

Cuộc sống cần sự quan tâm.  Noi gương Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các gia nhân trong bài Tin Mừng, mỗi chúng ta hãy thể hiện sự quan tâm của chúng ta đối với những người xung quanh.  Mình giúp người, người giúp mình đó là quy luật của cuộc sống.  Để thấy rõ hơn điều đó, chúng ta hãy nghe câu chuyện cảm động sau đây: Một nữ công nhân làm việc tại nhà máy chế biến thịt đông lạnh.  Ngày hôm ấy, sau khi hoàn thành công việc, như thường lệ cô đi vào kho đông lạnh để kiểm tra một chút.  Đột nhiên, cửa phòng bị đóng và khóa lại, cô bị nhốt ở bên trong mà không một ai biết.

Cô vừa hét khản cổ họng vừa đập cửa với hy vọng có người nghe được tiếng mình mà đến cứu, nhưng vẫn không có ai nghe thấy.  Lúc này tất cả công nhân đã tan ca, toàn bộ nhà máy đều yên tĩnh.

Sau 6 giờ chiều hôm ấy, nữ công nhân lạnh cóng người, tuyệt vọng và đau khổ…  Đang lúc cô tưởng như không chịu đựng được nữa thì bất ngờ được người bảo vệ đến mở cửa cứu ra ngoài.

Hôm sau, cô gái hỏi người bảo vệ tại sao lại biết mình ở trong đó để đến mở cửa, mặc dù đây không phải khu vực mà ông ấy quản lý.

Người bảo vệ trả lời: “Tôi làm việc ở nhà máy này đã 35 năm rồi.  Mỗi ngày đều có mấy trăm công nhân ra ra vào vào.  Nhưng cô là người duy nhất mà ngày nào sáng sớm đi làm cũng chào hỏi tôi và buổi tối tan làm lại chào tạm biệt tôi trong khi có rất nhiều người xem như không nhìn thấy tôi vậy!   Hôm nay, tôi biết rõ ràng buổi sáng cô có đi làm bởi vì sáng sớm cô còn nói “cháu chào bác!”  Nhưng sau khi tan làm buổi chiều, tôi lại không nghe thấy tiếng cô chào: “Tạm biệt bác, hẹn ngày mai gặp lại!”   Thế là tôi quyết định đi vào trong nhà xưởng tìm xem thế nào.  Tôi đi đến những chỗ góc hẻo lánh tìm cô và cuối cùng lại nghe thấy tiếng khóc và tìm thấy cô ở trong kho đông lạnh…”

Hãy luôn khiêm tốn nhã nhặn, yêu thương và tôn trọng những người xung quanh mình bởi vì bạn không thể biết được sự tình gì sẽ xuất hiện vào ngày mai!

(Theo NTDTV, Mai Trà biên dịch)

Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đến tham dự tiệc cưới ở Cana và Chúa đã cứu gia đình chủ tiệc một bàn thua trông thấy khi làm phép lạ hoá nước thành rượu ngon.  Ngày hôm nay, nhiều gia đình đang tan nát vì họ thiếu thố đủ thứ: Thiếu tình thương, thiếu sự kính trọng, thiếu sự quan tâm, thiếu niềm tin, thiếu lòng chung thuỷ…  Xin Chúa hãy đến với họ để giúp họ như xưa Chúa đã giúp gia chủ và đôi tân hôn tại tiệc cưới Cana. Amen.

Lm. Anthony Trung Thành