VENEZUELA. TIN CẬP NHẬT 31/01

VENEZUELA. TIN CẬP NHẬT 31/01

Hàng chục ngàn người hôm qua đã xuống đường ở Caracas, thủ đô Venezuela, đòi Maduro từ chức, theo lời kêu gọi của lãnh tụ đối lập Juan GUAIDO.
Cuộc biểu tình kéo dài trên 2 giờ, với khẩu hiệu đòi tự do, dân chủ, trong tiếng còi, tiếng xoong chảo inh ỏi, đã diễn ra tương đối ôn hòa trong không khí sôi sục ở Venezuela. Trong những cuộc xuống đường gần đây, đã có ít nhất 40 người thiệt mạng, 850 người bị bắt.
LUẬT ÂN XÁ 
Juan Guaido muốn tìm mọi cách tránh một cuộc nội chiến đẫm máu, không ngớt kêu gọi quân đội đứng về phe nhân nhân, đã cho biểu quyết một đạo luật ân xá cho tất cả quân nhân, công chức từ bỏ hàng ngũ độc tài.
Tới giờ này, các tướng lãnh, được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi, vẫn trung thành với Maduro, nhưng cấp dưới, đã có nhiều đơn vị đào ngũ. Guaido nói với New York Times sự ủng hộ của quân đội là yếu tố quyết định, và cho hay đã có nhiều cuộc họp mật với một số viên chức cao cấp có trách nhiệm về an ninh.
Hoa Kỳ đã chính thức nhìn nhận Tổng thống Juan Guaido. 
Trong một message gởi Guaido, Donald Trump viết : ‘’ cuộc tranh đấu cho tự do bắt đầu ‘’. 
Hoa Kỳ đã trao tài sản của Venezuela cho Guaido, đã phong tỏa các ngân khoản của các hãng dầu lửa Venezuela. Bộ trưởng tài chánh Mỹ Steven Snuchim tuyên bố không úp mở: mục đích của Hoa Kỳ là bóp nghẹt kinh tế để buộc Maduro phải ra đi.
Người ta đã đưa ra nhiều kịch bản để giải quyết vấn đề Venezuela, nhưng giải pháp duy nhất Hoa Kỳ chấp nhận là sự từ bỏ chính quyền của Nicolas Maduro. 
Cố vấn an ninh của Trump, John Bolton, tuyên bố Mỹ sẽ không loại bỏ bất cứ biện pháp nào ( kể cả quân sự ), nếu có đàn áp ở Venezuela. 
Tuy vậy, khó tưởng tượng việc Mỹ gởi quân đội tham chiến, trừ khi có đàn áp đẫm máu, trong khi Trump đã rút quân khỏi Afghanistan và Syrie.
Trên phương diện ngoại giao, Chủ nhật hay đầu tuần tới, các nước Âu Châu sẽ nhìn nhận Juan Guaido. 
Cho tới nay, Liên hiệp Âu Châu vẫn không nhìn nhận Nicolas Maduro vì lý do bầu cử gian lận, trong khi tất cả đại diện của các nước Âu Châu đã tham dự lễ nhậm chức chủ tịch quốc hội của Guaido.
Tuần qua Pháp, Đức, Anh, Tây Ban Nha, Portugal, Bỉ, Hoà Lan đã ra tối hậu thư đòi Maduro, trong thời hạn 8 ngày, phải chấp nhận bầu cử, nếu không, sẽ nhìn nhận Guaido. Hy Lạp, nước Âu Châu duy nhất ( với chính phủ cực tả ) còn ủng hộ Maduro, cũng đòi bầu cử lại.

TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN

Hôm qua, Maduro bác bỏ yêu sách của Âu Châu, từ chối tổ chức bầu cử Tổng Thống, chỉ chấp nhận tổ chức bầu cử lại quốc hội, là nơi … Guaido nắm đa số.
Nicolas Maduro hiện ở trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan, với thái độ lúc nóng, lúc lạnh. 
Một mặt Maduro tỏ ra cứng rắn, bằng cách ra lệnh cấm Guaido rời lãnh thổ, và phong tỏa ngân khoản cá nhân của Guaido ở ngân hàng, một mặt tuyên bố sẵn sàng thảo luận với đối lập, là chuyện trước đây không hề có.
Một mặt Maduro đả kích Hoa Kỳ can thiệp vào nội bộ Venezuela, mặt khác nói sẵn sàng nói chuyện với Mỹ nhưng than phiền là Trump không trả lời.
Ở Nam Mỹ, ngoài Bolivie, Nicaragua và Cuba, hầu hết các quốc gia đều đứng về phe Guaido. 
GUAIDO hiện đang dồn mọi nỗ lực vào việc thuyết phục quân đội và việc tổ chức cuộc xuống đường lớn, được coi là quyết định, ngày thứ Bẩy tới.
Guaido có ba ưu thế 1. Được đa số dân ủng hộ . 2. Được tất cả các lực lượng đối lập, tới nay cực kỳ chia rẽ, chấp nhận 3 . Được các nước Tây Phương hỗ trợ ( rất hiếm, việc Âu Châu và Hoa kỳ đồng thuận trên chính sách ngoại giao )

1000 TỈ DOLLARS

Các tướng lãnh, tới giờ này, vẫn đứng sau Maduro, vì họ sẽ mất hết, nếu chế độ sụp đổ. Tuy vậy, tin Reuters cho hay một nhóm ‘’ mercenaires ‘’ ( lính đánh thuê ) của Nga, khoảng 400 lính thiện chiến, mệnh danh là nhóm Wagner, đã được gởi tới Caracas, để bảo vệ an ninh cho Maduro. Nhật báo Le Monde xác nhận tin này, qua một nhân chứng đáng tin cậy. Điều đó có nghĩa là Maduro không còn hoàn toàn tin tưởng ở các tướng lãnh.
Một dân biểu nói 80% dân ủng hộ Guaido. Điều đó có nghĩa là vẫn còn một thiểu số đứng sau Maduro. Đó là những người được chế độ ưu đãi, những người coi Maduro là kế vị của thần tượng Chavez, và những dân nghèo vẫn nhận được trợ cấp lương thực. 
Trước đây, ngồi trên một biển dầu lửa, Chavez dùng tiền vung vít để củng cố quyền lực. Nhưng Venezuela không có kỹ nghệ, không sản xuất gì, không có chính sách kinh tế gì, ngoài việc bán dầu . Khi dầu lưả mất giá, Venezuela lao đầu xuống vực thẳm. 
Từ 2004, chính quyền ” xã hội chủ nghĩa ” đã phung phí trên 1000 tỉ dollars tiền bán dầu lửa, trong đó có 300 tỉ dollars các nhà lãnh đạo, tướng lãnh gởi các ngân hàng ngoại quốc.
Để củng cố quyền lực, Maduro tiếp tục chính sách kiểm soát dạ dầy để kiểm soát dân. Nhưng mặc dù phải vay nợ, chính phủ dần dần không đủ khả năng cung cấp lương thực, thuốc men nữa. Ngay cả những người nghèo nhất, trước đây nhận được lương thực đều đặn, ngày nay chỉ được cấp một số lương thực tối thiểu 45 ngày một lần. Sự hoang mang đã bắt đầu gặm nhấm những người trung thành nhất với chế độ.

MỘT QUỐC GIA PHÁ SẢN

Nhật báo Pháp Le Monde ( 29/01 ), đã phỏng vấn một số dân cư ở Venezuela. Vài thí dụ :
Juan Carlos, một thợ điện, trước đây ủng hộ Chavez : ‘’ Cuba kiểm soát hết ở Venezuela, kể cả quân đội . Nga và Tàu nắm hết tài nguyên quốc gia. Có người nói đối lập bị Mỹ dựt dây. Thà bị giật dây bởi Hoa kỳ, còn hơn bởi Cuba.’’ 
Một bà hàng xóm của Juan Carlos : ‘’ Các chính trị gia đều thối nát. Maduro, ngoài thối nát, còn bất tài ‘’.
Alexandro : ‘’ Xứ này kể như tiêu tùng, phá sản, tan tành, bơ vơ. Chỉ còn trông vào Guaido, nhưng nếu thắng, sẽ phải trầy vẩy nhiều năm mới xây dựng lại được ‘’. Alexandro, trước đây là ký giả, nay kiếm ăn bằng nghề bán thuốc lá lẻ dưới gầm cầu, nói tiếp : ‘’ Vấn đề, không phải là Maduro. Vấn đề là chủ nghĩa Cộng Sản. Làm ơn cho tôi biết tên một nước, một nước duy nhất, nơi Cộng Sản đã thành công..’’

tuthuc-paris-bog.com )

Image may contain: 16 people, people smiling, crowd and outdoor
Image may contain: 11 people, people smiling, crowd
Image may contain: 1 person, crowd and outdoor

CHIẾN ĐẤU VỚI CÁI TÔI

CHIẾN ĐẤU VỚI CÁI TÔI

 Lm. Vũ Xuân Hạnh

Ngày ấy, khi còn đang học ở Đại Chủng viện, có lần tôi về thăm một linh mục già về hưu, cha bảo: “Cần thiết sống linh mục trước khi làm linh mục.”  Sống linh mục!  Cái “tôi” tốt bụng trong tôi gật đầu, cho rằng điều vị linh mục nói chí lý.  Cho đến nay, dù đã làm linh mục, và vị linh mục già kia cũng đã quy tiên, tôi vẫn còn thấy đúng, vẫn còn ấp ủ trong suy nghĩ và trong lòng mến của mình.  Chính vì cảm nghiệm sâu lắng như thế, vì muốn sống hoàn hảo hơn chức linh mục của mình, cũng vì niềm ao ước cho các thế hệ đàn em chuẩn bị hành trang cần thiết cho đời linh mục của chính bản thân họ mai sau, mà tôi đã nói đi nói lại với học trò của mình cách ân cần và nói nhiều lần rằng: “Anh em thân mến, anh em cần phải sống linh mục trước khi làm linh mục.”  Và hôm nay, ghi lại những dòng ngắn ngủi này, tôi muốn gởi đến họ, những người sẽ tiếp bước các thế hệ đàn anh phụng sự Chúa Kitô, phục vụ Giáo Hội và phục vụ con người, sẽ là những linh mục mang hình ảnh của chính Linh Mục Kitô.

Tuy nhiên, ngày ấy, khi nghe vị linh mục già nhắn nhủ mình, không phải trong tôi đã hoàn toàn quy phục.  Bởi sống linh mục là thế nào?  Chưa làm linh mục mà lại sống linh mục…, nghe lạ quá!  Ngày ấy cái “tôi” xấu bụng trong tôi cười khì, rồi lên tiếng đặt vấn đề như thế.

Có lẽ ngày hôm nay, khi nghe tôi bảo “Hãy sống linh mục trước khi làm linh mục”, bạn cũng ít nhiều đặt vấn đề như tôi ngày ấy?  Nhưng bạn ạ, lời khuyên ấy không hề là lời khuyên thiếu căn cứ.  Nó là bài học cảm nghiệm cả một đời linh mục của vị linh mục già đáng kính.  Hôm nay nó còn là cảm nghiệm của chính bản thân tôi, dù chưa già, nhưng ít nhiều đã nhận ra giá trị của lời khuyên “Hãy sống linh mục trước khi làm linh mục”.

  1. Mâu thuẫn nội tại

Một “kẻ lành” và một “kẻ xấu” ngay trong bản thân tôi.  Đó là thực tại mà tôi đã có kinh nghiệm.  Thực tại ấy làm nên những mâu thuẫn ngay trong nội tâm của tôi.  Mâu thuẫn thường xuyên xảy ra.  Mâu thuẫn nội tại.  Mâu thuẫn do tôi.  Đó cũng là sự thật mà tông đồ Phaolô đã nhìn nhận cách chân thành nhưng bi đát: “Sự lành tôi muốn, tôi không làm, sự dữ tôi không muốn, tôi lại làm.  Khi tôi làm điều tôi không muốn, thì không phải tôi làm, mà là tội lỗi ở trong tôi chủ động.  Như vậy tôi có kinh nghiệm này là: Khi tôi muốn làm sự lành thì sự dữ đã hiện ra bên cạnh tôi.  Trong thâm tâm tôi, tôi vốn yêu mến lề luật Chúa.  Nhưng tôi thấy xuất hiện trong tôi một lề luật khác, chống đối lề luật nơi bản thân tôi và lôi cuốn tôi sa vào cạm bẫy của tội lỗi trong mình tôi” (Rm 7, 19- 23).  Mâu thuẫn chỉ chấm dứt cùng với sự chấm dứt của cuộc đời mỗi người.  Phần thưởng của Thiên Chúa sẽ dành cho người yêu mến Thiên Chúa, sống trong chân lý và chiến đấu chống “kẻ dữ” nơi chính mình.

Không có cuộc chiến nào đòi người ta phải kiên trì cho bằng cuộc chiến với chính mình, nó đòi cả một đời.  Làm sao có thể nên hoàn thiện hơn?  Làm sao mỗi ngày một bớt đi cái xấu?  Đó là điều mà mọi người thiện chí phải bứt rứt, băn khoăn.  Chính vì điều này mà cuộc chiến với bản thân có giá trị, được xem là chính đáng, được loài người khuyến khích nhau.  Vì khi chiến đấu đẩy xa cái xấu nội tại nơi chính mình, con người sẽ nhích gần tới nhau.  Đó cũng là ý muốn của Thiên Chúa, của Giáo Hội.  Vì chiến thắng bản thân mình, còn hơn cả việc được hiệp thông với nhau trên bình diện con người, đó là một chiến thắng mang giá trị cứu độ.

  1. Thân phận lữ hành

Một kẻ lành và một kẻ xấu hiện diện ngay trong bản thân, đó chính là tình trạng của kẻ lữ hành.  Bởi vì lữ hành là còn phải bước đi, là chưa hoàn thiện, là khiếm khuyết, là phải vươn tới liên tục…  Đó là tình trạng giằng co của người chưa đạt tới đích phải đến.

Cái xấu và cái tốt đó cũng chính là thực tại nội tâm, một thực tại có thực, không sờ, không thấy được, chỉ có thể kiểm chứng bằng hành động, “do quả của chúng các ngươi nhận biết chúng” (Mt 7, 16a).  Hay: “Điều tự người ta ra, điều đó làm cho người ta nhơ uế.  Vì tự trong lòng người ta xuất ra những điều xấu xa” (Mc 7, 20- 21).  Một thực tại mà ai cũng dễ nhận ra, “sự lành tôi muốn, tôi không làm, còn sự dữ tôi không muốn, tôi lại làm…”  Mang thân phận lữ hành, nội tâm con người cứ mãi bị xáo trộn và mất bình an như thế.  Điều còn lại là thiện chí, là quyất tâm, là sống để từng bước nên hoàn thiện tiến về tương lai hằng hữu, chứ đừng buông trôi để rồi vuột mất tương lai ấy.

  1. Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người

Chúa Kitô đến trần gian để chia sẻ kiếp người cùng con người.  Người hiểu và thông cảm sâu xa với thân phận yếu hèn của chúng ta.  Nhưng không vì thế Người cất khỏi những dằn vặt, những xáo trộn nơi chính bản thân ta.  Tình trạng giằng co ấy cần thiết để con người chứng minh lòng trung thành của mình.  Vượt qua liên tục để vươn tới cái thiện, cái tốt sẽ nâng cao giá trị của cuộc sống, làm cho cuộc sống thêm ý nghĩa, thêm phong phú.  Không có gì khó hơn cuộc đấu tranh của bản thân với bản thân. Nhưng cũng không có gì đẹp lòng Thiên Chúa cho bằng chiến đấu chống cái ác giành lấy cái thiện.  Điều chắc chắn, Thiên Chúa sẽ không bỏ mặc con người phải chiến đấu một mình.  Người sẽ giúp sức để họ chiến thắng.

Khi mang lấy xác phàm, Chúa Kitô đã nhiều lần chiến đấu với bản thân, với cám dỗ, với mọi mưu ma của thế gian.  Khi ghi lại ba lần Chúa chiến thắng những cơn cám dỗ, Phúc Âm đã xác quyết điều đó (Mt 4, 1-11).  Chúa Kitô đã chiến thắng, và chiến thắng cả sự chết.  Chính vì thế Người đã được tôn vinh: “Thiên Chúa đã siêu tôn Người và ban cho Người danh hiệu vượt quá mọi danh hiệu” (Philip 2, 9).

Khi chiến đấu với chính bản thân để thánh ý Thiên Chúa nên trọn, Chúa Kitô nên gương sáng cho chúng ta soi rọi mà bắt chước Người.  Và khi được tôn vinh, Người là nguồn hy vọng cho những ai tín nghĩa đến cùng.  Chiến thắng và được tôn vinh của Chúa Kitô là mạch suối cứu độ đời đời.

* * *

Cuộc đời là một chuỗi dài những chiến đấu.  Cho đến nay, khi viết những điều này, tôi vẫn chưa hiểu hết điều vị linh mục nói với tôi.  “Sống linh mục” là sống cái gì?  Cụ thể sống thế nào để được gọi là “sống linh mục?”  Vì sao lại phải “sống linh mục trước khi làm linh mục?”

Nhưng cũng từ câu nói ấy, tôi chợt nhận ra nơi mình đã có “hai kẻ” hiện hữu từ rất lâu: “kẻ lành”, và “kẻ dữ”.  Cũng từ ấy tôi bắt đầu tập chiến đấu với chính mình nhiều hơn.  Không phải lúc nào cũng thành công, hay thành công lúc này là đương nhiên thành công trong mọi lúc.  Vì thế tôi cứ phải chiến đấu và cứ tập chiến đấu.  Tôi tự nhủ: sống linh mục chính là rèn luyện bản thân, là chiến đấu để vươn lên hoàn thiện.  Sống linh mục trước khi làm linh mục như thế, để khi làm linh mục, tôi ĐÃ CÓ MỘT THÓI QUEN SỐNG LINH MỤC.

Lm. Vũ Xuân Hạnh

 From: suyniemhangngay1 & NguyenNThu

Một giai thoại nhỏ, một bài học lớn

Một giai thoại nhỏ, một bài học lớn

Hai ông bà Stanford, khi cậu con cưng chết, quyết định:

“Từ nay, tất cả những đứa con California sẽ là con mình.”

Từ Thức

Stanford University

Văn phòng giám đốc Đại Học Harvard, một ngày cuối thế kỷ 19. Một cặp vợ chồng rụt rè xin gặp ông giám đốc.

Cô thư ký nhìn vẻ quê mùa của hai người khách, chiếc quần sờn gấu của ông và bộ quần áo bình dân của bà, trả lời: ông giám đốc rất bận, chỉ tiếp khách có hẹn. Đúng ra, ông chỉ quen tiếp những trí thức danh tiếng, những người gia thế, có vai vế trong xã hội.

Hai người khách nhất định xin được ở lại chờ, vì có chuyện muốn nói. Xế chiều, ông giám đốc Harvard mới hết khách, xách cặp ra về. Cặp vợ chồng xin được thưa chuyện vài phút.

Ông bà cho hay người con trai duy nhất của họ, sinh viên năm đầu của trường, vừa chết vì bệnh thương hàn, và muốn dựng một cái gì để tưởng nhớ đứa con.

Ông giám đốc thông cảm cái đau buồn của khách, nhưng trả lời: Ông bà thử tưởng tượng, nếu mỗi gia đình có tang xây một mộ bia, bồn cỏ nhà trường sẽ thành một nghĩa trang.

Ông khách nói: Chúng tôi không muốn xây mộ bia. Chúng tôi muốn nhân danh con, xây tặng một giảng đường, hay một nhà nội trú.

Ông giám đốc nhìn bộ quần áo bình dân, vẻ quê mùa của khách, mỉm cười: Ông có biết xây một giảng đường tốn hàng trăm ngàn đô la?

Bà khách nhìn chồng, nhỏ nhẹ: Nếu chỉ có vậy, tại sao mình không dựng luôn một trường đại học?

Hai ông bà ra về. Ít lâu sau, trường Đại Học Stanford ra đời và trở thành một trong ba đại học uy tín nhất thế giới. Ông giám đốc Harvard không biết mình vừa tiếp hai vợ chồng tỉ phú Stanford, vua xe lửa, sau này trở thành thống đốc California. 

Trả lại cho xã hội

Giai thoại trên đây về Leland và Jane Stanford được kể đi kể lại, nói lên nhân sinh quan đặc biệt của người Tây Phương, nhất là ở những xứ ảnh hưởng văn hóa Tin Lành, với phương châm được dạy dỗ và thấm nhuần từ nhỏ: Trả lại cho xã hội những gì đã nhận được của xã hội.

Khía cạnh văn hóa đó giải thích tại sao ở Hoa Kỳ và Bắc Âu có những nhà tỷ phú như Bill Gates, Warren Buffett, Zuckerberg dành những ngân khoản khổng lồ làm việc từ thiện, tài trợ những dự án có công ích, trong khi ở những xã hội khác, những người giàu có, nhất là mới giàu, chỉ biết khoe của, phung phí một cách lố bịch, nham nhở.

Những ông bà hoàng dầu lửa, keo kiệt, tàn nhẫn với gia nhân, nhất là di dân lao động, không biết dùng tiền bạc làm gì hơn là phòng tắm, cầu tiêu bằng vàng, xây cất những trường đua ngựa vĩ đại với bồn cỏ xanh giữa sa mạc, ở một xứ Hồi Giáo cấm cờ bạc, cấm đánh độ.

Những tỷ phú Tàu xây lại lâu đài Versailles hàng trăm phòng cho hai vợ chồng với một cậu cả.

Những ông trời con, những cô bồ nhí của quan lớn ở Việt Nam làm thang máy bằng vàng, xây dinh thự xanh đỏ, Tây không ra Tây, Tàu không ra Tàu, lấy tiền gấp tàu giấy cho con thả chơi.

Những nhà độc tài Phi Châu dựng lại nhà thờ Vatican giữa một biển nghèo đói, dùng máy bay riêng chở thợ may, thợ đóng giày nổi tiếng từ Paris, từ Rome (Roma) tới may bộ quần áo giá cắt cổ thứ 200, hay áo lông (fourrure) cho các mệnh phụ sống ở những xứ nóng như lửa.

Hai tư duy khác nhau, đưa tới hai xã hội khác nhau: Một bên thịnh vượng, tiến bộ, một bên nghèo đói, lạc hậu.. 

Từ kinh doanh tới việc nghĩa

Những nhà triệu phú Mỹ, khi kinh doanh, không ngần ngại dùng bất cứ thủ đoạn nào để thành công, kể cả đánh gục đối thủ cạnh tranh, để chiếm độc quyền. Đó cũng là một khía cạnh của văn hóa Tin Lành: Không có mặc cảm với tiền bạc, với thương mại.

Đó là một yếu tố văn hóa, nhưng nó giải thích phần nào cho sự thành công kinh tế của những nước như Hoa Kỳ, Bắc Âu. Văn hóa Tin Lành đã tạo ra những xứ tư bản Tây phương..

Một góc trường Đại Học Stanford. (Hình: humanistchaplainciesorg)

Người Tin Lành không che giấu chuyện đã làm ra tiền, coi đó là dấu hiệu của thành công. Gặp người Mỹ, vài giờ sau biết họ lãnh bao nhiêu đô la mỗi năm, có bao nhiêu cái nhà, cái xe.

Văn hóa Thiên Chúa Giáo có mặc cảm với tiền bạc. Không bao giờ người Pháp nói về lương bổng của mình, ít khi phô trương, gần như muốn che giấu nếu thành công trong đời.

Người Mỹ áp dụng những phương pháp hữu hiệu để kinh doanh, để làm giàu, nhưng khi đã thành công rồi, nghĩ tới việc trả lại cho xã hội những gì đã nhận của xã hội.

Khi Bill Gates trình bày với vợ, con về dự án dùng trên $40 tỷ cho Foundation Bill & Melinda Gates, và quyết định chỉ để lại cho mỗi người con $10 triệu (ít quá, khó thành công; nhiều quá, chỉ làm hư con cái), cả bà vợ và các con đều vui vẻ chấp nhận. Bởi vì họ được dạy dỗ, thấm nhuần văn hóa đó từ nhỏ.

Khi Bill Gates nói về dự án của mình, Warren Buffet đã hưởng ứng ngay, đóng góp phần lớn gia sản kếch xù cho Foundation Gates. Trên 50 tỷ phú, đa số là người Mỹ, đứng đầu là Zuckerberg, đã noi gương Bill Gates.

Các trường đại học Mỹ hay Anh đều giàu có, với những ngân sách khổng lồ, ngang với ngân sách một quốc gia nhỏ, mà nhà nước không tốn một xu, bởi vì những cựu sinh viên khi đã thành công ngoài đời đều quay lại, tự nguyện đóng góp. Đối với họ, đó là một chuyện tự nhiên, khỏi cần ai kêu gọi. Không làm, mới là chuyện bất bình thường.

Đơn giản như vậy, nhưng đem áp dụng ở những nước khác, rất khó. Phải bắt đầu bằng sự thay đổi văn hóa, thay đổi tư duy. Và văn hóa, không phải chuyện một sớm một chiều. Đó là chuyện của hàng thế hệ.

Tinh thần “trả lại cho xã hội” giải thích tại sao vai trò của xã hội dân sự cực kỳ quan trọng trong các xã hội Tây phương. Nó nhân bản hóa các xã hội tư bản.

Ở Hoa Kỳ chẳng hạn, tiêu biểu cho chế độ tư bản, nó xoa dịu những bất công của một xã hội cạnh tranh, mạnh được yếu thua. Đó là hai khuôn mặt mâu thuẫn của tư bản Tây phương. Mâu thuẫn hay bổ túc lẫn nhau.

Những foundation tư nhân, nhan nhản khắp nơi, với những số tiền nhận được ở khắp nơi gởi giúp, trợ cấp học bổng, chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, phát triển nghệ thuật văn hóa, giúp đỡ người nghèo,  người sa cơ lỡ vận. 

Truyền thống bác ái

Tại Pháp, nơi người Tin Lành chỉ chiếm trên dưới 3%, cái tinh thần “trả lại cho xã hội” không mạnh như ở Hoa Kỳ hay các nước có văn hóa Tin Lành ở Bắc Âu. Những trường đại học lớn, uy tín nhất của Pháp, những năm gần đây kêu gọi các cựu sinh viên đã thành đạt đóng góp cho trường, nhưng kết quả rất khiêm nhượng.

Không phải một sớm một chiều người ta có thể tạo một truyền thống.

Mặc dầu vậy, tinh thần bác ái ăn sâu tại các nước Thiên Chúa Giáo như Pháp, Ý, Tây Ban Nha (Espagne, Spain) đã thúc đẩy các xã hội dân sự hoạt động tích cực.

Tại Pháp chẳng hạn, tổ chức Resto du Cœur mỗi năm tặng thực phẩm, bữa ăn cho hàng triệu người. Emmaüs, một tổ chức thiện nguyện do Linh Mục Pierre lập ra không những giúp đỡ người nghèo, còn tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người. Một trong những hoạt động của Emmaüs: nhận bàn ghế, TV, tủ lạnh, computer, quần áo cũ của thiên hạ gởi tặng, sửa lại, bán rẻ lấy tiền làm việc nghĩa. Nhân viên của Emmaüs đều là những người gọi là SDF (Sans Domicile Fixe, không nhà không cửa, homeless), theo nguyên tắc dạy người ta câu cá hơn là cho tiền mua cá. Những người điều hành là những người có dư khả năng làm lương lớn trong các hãng tư, nhưng muốn làm việc công ích để đóng góp cho xã hội.

Từ gia đình tới xã hội

Người Tây phương, có tinh thần cá nhân chủ nghĩa, nhưng không ích kỷ như chúng ta nghĩ.

Rất nhiều người tích cực và nghĩ đến người khác, coi việc giúp đỡ người khác, cải thiện xã hội là một bổn phận.

Người Việt hy sinh, nghĩ tới người khác nhiều hơn chính mình, nhưng “người khác” chỉ luẩn quẩn trong nhà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, không ra khỏi ngưỡng cửa gia đình. Gia đình Việt Nam chặt chẽ, nhưng xã hội Việt Nam lỏng lẻo. Gia đình Tây phương lỏng lẻo, nhưng xã hội của người ta chặt chẽ. Chữ liên đới, bác ái, huynh đệ không phải là những danh từ trống rỗng trên cửa miệng.

Người Việt dành trọng tâm đời mình cho gia đình. Tai họa xảy ra cho người thân làm tiêu tan luôn đời mình. Mất một người thân, cuộc đời kể như chấm dứt. Ngồi rầu rĩ thương thân, oán phận.

Thái độ của người Tây phương tích cực hơn. Họ nghĩ tới xã hội. Họ không bi quan yếm thế. Tại họa cá nhân không đánh gục họ, trái lại, trở thành một động lực khiến họ lao đầu vào việc cải tiến xã hội. 

Standford University

“Our Children”

Hai ông bà Stanford, khi cậu con cưng chết, quyết định: Từ nay, tất cả những đứa con California sẽ là con mình, “The children of California shall be our children.”

Ở Pháp, những bà mẹ có con thơ ấu chết vì tai nạn xe hơi, thay vì ngồi than trời oán đất, hay oán thù người gây tai nạn, đã thành lập một hội rất thế lực, Ligue Contre  La Violence Routière (hội chống lại bạo lực lưu thông) hoạt động tích cực đòi Quốc Hội, chính phủ ban hành những luật lệ hạn chế vận tốc, kiểm soát, trừng phạt những người lái xe sau khi uống rượu, hút cần sa ma túy, mở những lớp về an ninh lưu thông, hỗ trợ các gia đình nạn nhân.

Các nạn nhân khủng bố lập những hội tương trợ các nạn nhân như mình. Một phụ nữ Pháp, thoát chết trong cuộc khủng bố Hồi Giáo ở Paris, nói: Chưa bao giờ tôi hạnh phúc hơn, vì có một gia đình trên 200 người.

Có người trong gia đình chết vì ung thư, họ lập những hội giúp bệnh nhân ung thư.

Những người cựu SDF, khi có công ăn việc làm, mở hội giúp những người vô gia cư.

Người có con chết vì ma túy, gia đình tan nát vì rượu chè, bỏ tiền bạc, giúp những người nghiện ngập. Họ làm việc đó tận tụy, âm thầm, coi như chuyện đương nhiên, ngạc nhiên khi có người ngạc nhiên trước các nghĩa cử đáng khâm phuc đó.

Những thí dụ đó nhan nhản, ở mỗi góc phố, đếm không xuể.

Thí dụ điển hình nhất là tổ chức Télémathon. Mộ số gia đình có con bị các thứ bệnh hiếm, không có thuốc điều trị vì không có hãng bào chế thuốc nào bỏ ra những ngân khoản khổng lồ để tìm kiếm, sản xuất thuốc cho một số rất ít bệnh nhân, đã thành lập Télémathon, mỗi năm vận động quyên góp được hàng trăm triệu euro.

Với số tiền đang kể đó, họ lập tuyển dụng các y sĩ, các chuyên viên y khoa nổi danh, mở những laboratoires tối tân để nghiên cứu phương pháp chữa trị, tìm tòi thuốc men. Tiền đóng góp từ khắp nơi gởi về, thường thường là của những người lợi tức thấp, nhưng sẵn sàng giúp người thiếu may mắn hơn mình. Và những người hoạt động tích cực nhất là những người có con cái đã chết vì bạo bệnh, hoạt động để tránh cho người khác thảm kịch của chính mình.

Không quay đầu về quá khứ, tiến về phía trước, nghĩ đến việc cải thiện xã hội, đó là những yếu tố khiến xã hội Tây phương thành công. Cả về kinh tế lẫn chính trị. Bởi vì dân chủ không phải chỉ xây dựng trên giấy tờ, qua hiến pháp, bầu cử, luật lệ. Nó phải được thực thi, bảo vệ, nuôi dưỡng bởi xã hội dân sự. 

Cha chung không ai khóc

Người Việt Nam hy sinh cho gia đình, đó là một đức tính đáng cảm phục. Đó là một điều may, khiến xã hội Việt Nam không hoàn toàn băng hoại. Hay xã hội đã băng hoại, nhưng vẫn còn những ốc đảo là hàng triệu gia đình, đang âm thầm cố thủ.

Người Việt hết lòng với gia đình, nhưng hoàn toàn thờ ơ với xã hội.

Phương châm của người Việt: Vườn ai nấy rào. Người ta đốn cây, tôi mặc kệ, vì là cây ngoài đường. Người ta xẻ núi, phá rừng, xây chung cư, khách sạn, tôi ngoảnh mặt đi để tránh vạ lây. Hậu quả là Việt Nam được trời cho một giang sơn gấm vóc, ngày nay bị tàn phá một cách thô bạo. Nha Trang, Đà Lạt, Sapa,… những thắng cảnh tuyệt vời đang trở thành những đống xi măng, cốt sắt thô kệch, trước sự thờ ơ của mọi người. Cha chung không ai khóc.

Tại các nước Tây phương, các di tích lịch sử được bảo trì một phần lớn nhờ các foundation, các tư nhân. Ở Việt Nam, ngược lại, người ta biến của công thành của riêng, không nương tay tàn phá di sản của đất nước để làm giàu, để trục lợi.

Khi nào tình thương, sự liên đới, lòng bác ái, tinh thần trách nhiệm của người Việt ra khỏi ngưỡng cửa gia đình, lúc đó Việt Nam sẽ có một xã hội lành mạnh, lạc quan, tích cực. Đủ lành mạnh, lạc quan, tích cực, để xây dựng một chế độ dân chủ đích thực. Để xây dựng lại đất nước đang trở thành một bãi rác, nghĩa đen cũng như nghĩa bóng. (Từ Thức)

Stanford Oval planting with 125th Anniversary numbers. This image photoshopped to remove trucks.

“Người gieo hạt đi gieo hạt giống”.

“Người gieo hạt đi gieo hạt giống”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

 PHÚC ÂM: Mc 4, 1-20

Khi ấy, Chúa Giêsu bắt đầu giảng dạy ở bờ biển và có đám đông dân chúng tụ lại gần Người, nên Người xuống ngồi trong một chiếc thuyền trên mặt biển, tất cả đám đông thì ở trên đất theo dọc bờ biển. Người dùng dụ ngôn mà dạy họ nhiều điều, và khi giảng, Người nói với họ rằng: “Các ngươi hãy nghe! Này người gieo hạt đi gieo hạt giống. Khi gieo, một phần hạt rơi xuống vệ đường và chim trời đến ăn hết. Phần khác rơi trên đất sỏi, nơi không có nhiều đất. Hạt giống đã mọc lên ngay, vì lớp đất không sâu. Nhưng khi mặt trời mọc lên, hạt giống bị nắng đốt và vì không rễ, nên bị chết khô. Một phần khác rơi vào bụi gai, và gai mọc lên làm hạt giống chết và không sinh hoa trái được. Phần hạt khác rơi vào đất tốt, mọc lên, nẩy nở và sinh quả, hạt thì sinh được ba mươi, hạt được sáu mươi, hạt được một trăm”. Và Người phán rằng: “Ai có tai để nghe thì hãy nghe”.

Khi Người còn lại một mình, thì mười hai ông là những kẻ luôn ở với Người, hỏi Người về ý nghĩa dụ ngôn, Người liền bảo các ông: “Các con được ơn biết mầu nhiệm về nước Thiên Chúa, còn những kẻ khác ở ngoài thì mọi sự được giảng dạy bằng dụ ngôn, vì chúng nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu, kẻo chúng trở lại mà được tha tội”.

Người nói với các ông: “Các con không hiểu dụ ngôn đó sao? Vậy thì hiểu sao được tất cả những dụ ngôn khác? Người gieo hạt là gieo lời Chúa. Vệ đường mà lời Chúa được gieo vào, là những kẻ vừa nghe xong, thì Satan đến và cất lấy lời Chúa gieo trong tâm hồn họ. Và cũng thế, những hạt giống rơi trên đất sỏi là những kẻ khi nghe lời Chúa thì đón nhận vui vẻ, nhưng chúng không đâm rễ bên trong và là những người hay thay đổi: sau đó gặp phải cơ cực hay bắt bớ vì lời Chúa, thì họ sa ngã liền. Lại có những hạt giống rơi trong bụi gai. Đây là những kẻ nghe lời Chúa, nhưng những lo lắng trần tục, sự quyến rũ của giàu sang và những đam mê khác xâm chiếm họ, bóp nghẹt lời Chúa, khiến không thể sinh hoa trái được. Còn những hạt giống gieo trong đất tốt: đó là những người nghe lời Chúa, biết giữ lấy và làm sinh lợi, hạt ba mươi, hạt sáu mươi, và hạt một trăm”.

Kẻ thù của người Tàu

Kẻ thù của người Tàu

Bá Dương

29-1-2019

Tác giả Bá Dương

Trên thế giới không có nước nào có lịch sử lâu đời như Tàu, không có nước nào có một nền văn hóa không đứt đoạn như Tàu, mà cái văn hóa đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người Hy Lạp thời nay với người Hy Lạp ngày xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai Cập cũng vậy. Nhưng người Tàu hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Tàu cổ đại.

Tại sao một nước khổng lồ như vậy, một dân tộc to lớn như vậy ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược, quan bạo ngược, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược. 

Thế kỷ thứ XIX, quần đảo Nam Dương thời nay tức là Đông Nam Á, còn là thuộc địa của Anh và Hà Lan, có một chuyên viên Anh đóng ở Malaysia nói rằng: “Làm người Tàu ở thế kỷ thứ XIX là một tai họa”. Bởi vì ông này đã thấy cộng đồng người Hoa sống ở quần đảo Nam Dương giống một lũ lợn, vô tri vô thức, tự sinh tự diệt, tùy thời còn có thể bị sát hại hàng loạt. Thế mà tôi thấy người Hoa ở thế kỷ XX so với người Hoa ở thế kỷ XIX tai họa của họ còn lớn hơn.
 
Điều làm chúng ta đau khổ nhất là bao mong đợi của người Hoa từ một trăm năm nay cơ đồ như đã bị tiêu tan toàn bộ. Cứ mỗi lần có một mong chờ trở lại, hứa hẹn nước nhà một tương lai sáng sủa hơn, thì kết quả lại càng làm cho chúng ta thất vọng và tình hình lại càng trở nên tệ hại hơn. Một mong chờ khác lại đến, để rồi lại đem về những ảo vọng, thất vọng, những tồi tệ liên miên vô tận.
 
Dân tộc cố nhiên là trường tồn, sinh mệnh của cá nhân là hữu hạn. Một đời người có được bao ước vọng lớn? Có được bao lý tưởng lớn, chịu được mấy lần tan vỡ? Con đường trước mặt sáng sủa thế nào? Hay lại đen tối? Thật khó nói cho hết!
 
Bốn năm trước, lúc tôi diễn giảng tại New York, đến đoạn “chói tai”, có một người đứng dậy nói: “Ông từ Đài Loan đến, ông phải nói cho chúng tôi nghe về những hy vọng, phải cổ võ nhân tâm. Sao lại đi đả kích chúng tôi?.” Con người đương nhiên cần được khích lệ, vấn đề là khích lệ rồi sau đó làm gì nữa? Tôi từ nhỏ cũng từng được khích lệ rồi. Lúc 5, 6 tuổi, tôi được người lớn nói với tôi: “Tiền đồ của Tàu nằm trong tay thế hệ các cháu đấy!” Tôi cho rằng trách nhiệm của tôi lớn quá, chắc không thể nào đảm đương nổi. Sau đó tôi lại nói với con tôi: “Tiền đồ của Tàu nằm trong tay thế hệ các con đấy!” Bây giờ con tôi lại nói với cháu tôi: “Tiền đồ Tàu nằm trong tay thế hệ các con đấy!
 
Một đời, rồi một đời, biết bao nhiêu lần một đời? Đến đời nào thì mới thật khá lên được?
 
Tại Tàu đại lục rộng lớn, sau thời Phản hữu (Phong trào chống phe hữu năm 1958), tiếp theo lại là Đại Cách Mạng Văn Hóa long trời lở đất. Từ ngày loài người có lịch sử đến nay chưa bao giờ thấy được một tai họa do con người làm ra to lớn đến như vậy. Chẳng nói đến tổn thất sinh mạng, cái tổn thương lớn lao nhất là sự chà đạp nhân tính, giầy xéo lên phẩm hạnh cao quý. Con người nếu rời bỏ nhân tính và những đức hạnh cao quý thì sánh với cầm thú.
 
Bây giờ người ta nói nhiều về Hương Cảng [Hồng Kông]. Bất cứ nước nào, nếu có đất đai bị nước ngoài chiếm cứ đều cảm thấy tủi nhục. Chờ cho đến lúc lấy được về chẳng khác nào lòng mẹ bị mất con. Ai cũng nhớ chuyện nước Pháp lúc phải cắt hai tỉnh Alsace và Lorraine giao cho Đức đã đau khổ như thế nào, lúc lấy lại được về đã sung sướng ra sao.
 
Nhưng Hương Cảng của chúng ta chỉ cần nghe đến việc trả về tổ quốc là lập tức hồn bay phách lạc. Chuyện gì mà lạ thế?
 
Còn nói về Đài Loan, hiện nay nhiều thanh niên người tỉnh này hoặc người nơi khác ở đây đều chủ trương Đài Loan độc lập. Tôi nhớ lại 30 năm trước đây, lúc Nhật Bản trả lại Đài Loan cho Tàu (1945), mọi người sung sướng như si cuồng chẳng khác nào đứa con lạc mẹ lại tìm được đường về nhà. Cái gì đã xảy ra sau 30 năm đó để cho đứa con kia lại muốn bỏ nhà ra đi?
 
Ở nước ngoài, có lúc tôi dừng lại trong công viên, nhìn trẻ con ngoại quốc, thấy sao chúng sung sướng thế. Trong lòng tôi lúc ấy tự nhiên cảm thấy thèm thuồng quá. Chúng không phải mang gánh nặng, con đường chúng đi bằng phẳng, rộng rãi quá, tâm lý khỏe mạnh, sung mãn, sảng khoái.
 
Con trẻ Đài Loan chúng ta đến trường học, đeo kính cận, mặt khó đăm đăm vì phải đối phó với áp lực bài vở. Mẹ ngất ngã xuống đất, con đến đỡ mẹ dậy, mẹ kêu rống lên:
 
“Mẹ có chết cũng chẳng sao, việc gì đến con! Con đi học bài đi! Đi học bài đi!”
 
Vợ tôi lúc dạy học ở Đài Loan, thỉnh thoảng cứ đề cập đến đạo đức làm người, tức thì sinh viên nhao nhao phản đối: “Chúng tôi không cần học làm người, chỉ cần học để ứng phó với việc thi cử.” Lại nhìn về trẻ con ở Tàu lục địa, từ nhỏ đã phải học đánh đấu nhau, lừa dối bịp bợm nhau, lại luyện tập cách lừa bạn, phản đồng chí, lại phải học cách bốc phét, bịa đặt. Một nền giáo dục đáng sợ thay! Một thế hệ nữa những đứa trẻ này lớn lên sẽ như thế nào?
 
Người ta thường nói: “Mình nắm tương lai mình trong tay mình.” Lúc đã luống tuổi, tôi thấy câu này không ổn; sự thực, có lẽ chỉ nắm được một nửa trong tay mình, còn một nửa lại ở trong tay của kẻ khác.
 
Kiếp người trên đời này giống như một cục sỏi trong một máy nhào xi măng, sau khi bị nhào trộn, thân chẳng tự chủ được. Điều ấy khiến tôi cảm thấy đó không phải là một vấn đề của riêng một cá nhân nào, nhưng là một vấn đề xã hội, văn hóa.
 
Lúc chết, Chúa Giê Su (Jesus) bảo: “Hãy tha thứ cho họ, họ đã làm những điều mà họ không hề hiểu.” Lúc trẻ, đọc câu này tôi cho rằng nó chỉ là một câu tầm thường. Lớn lên rồi lại vẫn thấy nó không có gì ghê gớm cả, nhưng đến cái tuổi này rồi tôi mới phát hiện rằng nó rất thâm thúy, thật đau lòng thay! Có khác nào người Tàu sở dĩ trở thành xấu xí như ngày nay bởi chính vì họ không hề biết rằng mình xấu xí.
 
Chúng ta có đủ tư cách làm chuyện đó và chúng ta có lý do tin rằng Tàu có thể trở thành một nước rất tốt đẹp. Chúng ta không cần cứ phải muốn có một quốc gia hùng mạnh. Quốc gia không hùng mạnh thì có can hệ gì?  Chỉ cần sao cho nhân dân hạnh phúc rồi thì đi tìm quốc gia hùng mạnh cũng chưa muộn.
 
Tôi nghĩ người Tàu chúng ta có phẩm chất cao quý. Nhưng tại sao cả trăm năm rồi, cái phẩm chất ấy thủy chung vẫn không làm cho người Tàu thoát khỏi khổ nạn?
 
Nguyên do vì sao?
 
Tôi muốn mạo muội đề xuất một câu trả lời có tính cách tổng hợp: Đó là vì văn hóa truyền thống Tàu có một loại siêu vi trùng, truyền nhiễm, làm cho con cháu chúng ta từ đời này sang đời nọ không khỏi được bệnh.
 
Có người sẽ bảo: “Tự mình không xứng đáng, lại đi trách tổ tiên!.” Xét cho kỹ câu nói này có một sơ hở lớn. Trong vở kịch nổi tiếng “Quần ma” (Những con ma) của Ibsen (íp sen) có kể chuyện hai vợ chồng mắc bệnh giang mai sinh ra một đứa con cũng bị bệnh di truyền. Mỗi lần phát bệnh nó lại phải uống thuốc. Có lần tức quá nó kêu lên: “Con không uống thuốc này đâu! Con thà chết đi thôi! Bố mẹ đã cho con cái thân thể như thế này à!?” Trường hợp này thì nên trách đứa bé hay trách bố mẹ nó? Chúng ta không phải trách bố mẹ, cũng không phải trách tổ tiên chúng ta, nhưng nhất quyết phải trách cái thứ văn hóa họ đã truyền lại cho chúng ta.
 
Một nước rộng ngần đó, một dân tộc lớn ngần đó, chiếm đến một phần tư dân số toàn cầu, lại là một vùng cát chảy của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu mà không tự thoát được. Tôi nhìn cách cư xử giữa con người với nhau ở những nước khác mà lại càng thèm. Cái văn hóa truyền thống kiểu nào để sinh ra hiện tượng này? Nó đã khiến cho người Tàu chúng ta mang sẵn trong mình nhiều đặc tính rất đáng sợ!
 
Một trong những đặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống hỗn loạn, nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn. Nhà cửa chúng ta cũng vậy. Có nhiều nơi hễ người Tàu đến ở là những người khác phải dọn đi.
 
Tôi có một cô bạn trẻ tốt nghiệp đại học chính trị. Cô này lấy một người Pháp rồi sang Paris sinh sống. Rất nhiều bạn bè đi du lịch Âu châu đều ghé nhà cô trú chân. Cô ta bảo với tôi: “Trong tòa nhà tôi ở, người Pháp đều dọn đi cả, bây giờ toàn người Á đông nhảy vào!” (Người Á đông có khi chỉ người châu Á nói chung, có khi lại chỉ người Tàu). Tôi nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Tôi hỏi: “Các người không thể tổ chức quét dọn được hay sao?” Cô ta đáp: “Làm sao nổi!”
 
Không những người nước ngoài thấy chúng ta là bẩn, loạn, mà qua những điều họ nhắc nhở chúng ta cũng tự thấy mình là bẩn, loạn.
 
Còn như nói đến ồn ào, cái mồm người Tàu thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này người Quảng Đông phải chiếm giải quán quân. Ở bên Mỹ có một câu chuyện tiếu lâm như sau: Có hai người Quảng Đông lặng lẽ nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau, bèn gọi điện báo cảnh sát. Khi cảnh sát tới, hỏi họ đang làm gì, họ bảo: “Chúng tôi đang thì thầm với nhau.”
 
Tại sao tiếng nói người Tàu lại to? Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng, to tiếng là lý lẽ mình mạnh. Cho nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình. Nếu không, tại sao họ cứ phải gân cổ lên như thế?
 
Tôi nghĩ những điểm này cũng đủ để làm cho hình ảnh của người Tàu bị tàn phá và làm cho nội tâm mình không yên ổn. Vì ồn ào, dơ bẩn, hỗn loạn dĩ nhiên có thể ảnh hưởng tới nội tâm, cũng như sáng sủa, sạch sẽ với lộn xộn, dơ bẩn là hai thế giới hoàn toàn khác xa nhau.
 
Còn về việc xâu xé nhau thì mọi người đều cho đó là một đặc tính nổi bật của người Tàu. Một người Nhật đơn độc trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại lại thành một con rồng. Tinh thần đoàn kết của người Nhật làm cho họ trở thành vô địch.
 
Bởi vậy trong lĩnh vực quân sự cũng như thương mại, người Tàu không thể nào qua mặt được người Nhật. Ngay tại Đài Loan, ba người Nhật cùng buôn bán thì lần này phiên anh, lần sau đến lượt tôi. Người Tàu mà buôn bán thì tính cách xấu xa tức thì lộ ra bên ngoài theo kiểu: Nếu anh bán 50 tôi sẽ bán 40. Anh bán 30 tôi chỉ bán 20.
 
Cho nên, có thể nói, mỗi người Tàu đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Người Tàu ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi nơi không cần quan hệ với người khác thì lại có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người Tàu họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa. Bởi vì người Tàu có biệt tài đấu đá lẫn nhau.
 
Chỗ nào có người Tàu là có đấu đá, người Tàu vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Tàu không biết đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa: “Anh có biết người Tàu vì sao không đoàn kết không? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người Hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy cho người Hoa mất đoàn kết!” Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng.
 
Người Tàu không chỉ không đoàn kết, mà mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đoàn kết. Cái điều này thấy rõ nhất tại nước Mỹ với những hình mẫu ngay trước mắt. Bất cứ một xã hội người Hoa nào ít nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau.
 
Ở Tàu có câu: “Một hòa thượng gánh nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống.” Người đông thì dùng để làm gì? Người Tàu trong thâm tâm căn bản chưa biết được tầm quan trọng của sự hợp tác. Nhưng nếu anh bảo họ chưa biết, họ lại có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết.
 
Lần trước (năm 1981) tôi sang Mỹ ở tại nhà một người bạn làm giáo sư đại học. Anh này nói chuyện thì đâu ra đấy; thiên văn, địa lý; nào là làm sao để cứu nước.
 
Ngày hôm sau tôi bảo:
 
“Tôi phải đi đến đằng anh A một tý!” Vừa nghe đến tên anh A kia, anh bạn tôi trừng mắt giận dữ. Tôi lại bảo: “Anh đưa tôi đi một lát nhé!” Anh ta bảo: “Tôi không đưa, anh tự đi cũng được rồi!”
 
Họ cùng dạy học tại Mỹ, lại cùng quê với nhau mà tại sao không thể cùng đội trời chung? Có thể nào nói như vậy là hợp lý được? Bởi vậy việc người Tàu cắn xé nhau là một đặc tính nghiêm trọng.
 
Những người sống tại Mỹ đều thấy rõ điều này: đối xử với người Tàu tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính lại là người Tàu với nhau. Bán rẻ người Tàu, hăm dọa người Tàu lại cũng không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Tại Malaysia có một chuyện thế này. Một ông bạn tôi làm nghề khai thác mỏ khoáng sản. Anh ta bỗng nhiên bị tố cáo một chuyện rất nghiêm trọng. Sau khi tìm hiểu mới biết rằng người tố cáo mình lại là một bạn thân của anh ta, một người cùng quê, cùng đến Malaysia tha phương cầu thực với nhau. Người bạn tôi chất vấn anh kia: “Tại sao anh lại đi làm cái việc đê tiện đó?” Người kia bảo: “Cùng đi xây dựng cơ đồ, bây giờ anh giàu có, tôi vẫn hai tay trắng. Tôi không tố cáo anh thì tố ai bây giờ?”
 
Cho nên kẻ thù của người Tàu lại là người Tàu.
 
Không hiểu vì sao người ta lại so sánh người Tàu với người Do Thái được? Tôi thường nghe nói “người Tàu và người Do Thái giống nhau ở chỗ cần cù.” Điều này phải chia làm hai phần:
 
Phần thứ nhất: cái đức tính cần cù từ mấy ngàn năm nay cũng chẳng còn tồn tại nữa, nó đã bị thời kỳ “Tứ nhân bang” (bè lũ bốn tên) phá tan tại lục địa rồi.
 
Phần thứ hai: chúng ta còn gì để có thể đem so sánh với người Do Thái được? Báo chí Tàu thường đăng: “Quốc hội Do Thái (Knesset) tranh luận mãnh liệt, ba đại biểu là ba ý kiến trái ngược nhau”, nhưng cố ý bỏ sót một sự kiện quan trọng là sau khi họ đã quyết định với nhau thì hình thành một phương hướng chung. Tuy bên trong quốc hội tranh cãi tơi bời, bên ngoài đang giao chiến, bốn phía địch bao vây, nhưng Israel vẫn tổ chức bầu cử.
 
Ai cũng biết cái ý nghĩa của bầu cử là vì có đảng đối lập. Không có đảng đối lập thì bầu cử chỉ là một trò hề rẻ tiền.
 
Tại Tàu chúng ta, hễ có ba người sẽ cũng có ba ý kiến, nhưng cái khác nhau là: sau khi đã quyết định xong, ba người đó vẫn làm theo ba phương hướng khác nhau. Giống như nói hôm nay có người đề nghị đi New York, người đề nghị đi San Francisco… Biểu quyết, quyết định đi New York, nếu ở Israel cả hai người sẽ cùng đi New York, nhưng ở Tàu thì một người sẽ bảo: “Anh đi New York đi, tôi có tự do của tôi, tôi đi San Francisco!”
 
Người Tàu không thể đoàn kết, hay cắn xé nhau, những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Không phải vì phẩm chất của họ không đủ tốt. Nhưng vì con siêu vi trùng trong văn hóa Tàu ấy làm cho chúng ta không thể đè nén, khống chế hành vi của chúng ta được. Biết rõ rành rành là xâu xé nhau, nhưng vẫn xâu xé nhau. Nếu nồi vỡ thì chẳng ai có ăn, nhưng nếu trời sụp thì người nào cao hơn người đó phải chống đỡ.
 
Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: “Chết cũng không chịu nhận lỗi.” Có ai nghe thấy người Tàu nhận lỗi bao giờ chưa? Giả sử anh nghe một người Tàu nói: “Việc này tôi đã sai lầm rồi!” Lúc đó anh phải vì chúng tôi mà uống rượu chúc mừng.
 
Con gái tôi hồi bé có một lần bị tôi đánh, nhưng cuối cùng hóa ra là nó bị oan. Nó khóc rất dữ, còn tâm can tôi thì đau đớn. Tôi biết rằng đứa con thơ dại và vô tội của tôi chỉ biết trông cậy vào bố mẹ, mà bố mẹ bỗng nhiên trở mặt thì nó phải sợ hãi biết nhường nào. Tôi ôm con vào lòng rồi nói với nó: “Bố xin lỗi con. Bố không đúng. Bố làm sai. Bố hứa lần sau bố không làm như vậy nữa. Con gái ngoan của bố, con tha thứ cho bố nhé!” Nó khóc mãi không thôi. Cái sự việc này qua rồi mà lòng tôi vẫn còn đau khổ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy vô cùng kiêu hãnh bởi tôi đã dám tự nhận lỗi của mình đối với nó.
 
Người Tàu không quen nhận lỗi và có thể đưa ra hàng vạn lý do để che giấu cái sai trái của mình. Có một câu tục ngữ: “Đóng cửa suy ngẫm lỗi lầm” (Bế môn tư quá). Nghĩ về lỗi của ai?  Dĩ nhiên của đối phương.
 
Lúc tôi đi dạy học, học sinh hàng tuần phải viết tuần ký để kiểm thảo hành vi trong tuần. Kết quả kiểm thảo thường là: “Hôm nay tôi bị người này người nọ lừa tôi. Cái người lừa tôi ấy đã được tôi đối xử mới tốt làm sao, cũng bởi vì tôi quá trung hậu!.” Lúc đọc đến kiểm thảo của đối phương, lại cũng thấy anh học trò kia nói mình quá trung hậu. Mỗi người trong kiểm thảo của mình đều là người quá trung hậu. Thế còn ai là người không trung hậu?
 
Người Tàu không thể nhận lỗi, nhưng cái lỗi vẫn còn đó, đâu phải vì không nhận mà nó biến mất. Để che đậy một lỗi của mình người Tàu không nề hà sức lực tạo nên càng nhiều lỗi khác hòng chứng minh rằng cái đầu tiên không phải là lỗi. Cho nên có thể nói người Tàu thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa.
 
Họ liên miên khoa trương về dân Tàu, về tộc Đại Hán, huyên thuyên về truyền thống văn hóa Tàu, nào là có thể khuếch trương thế giới v.v… Nhưng bởi vì không thể đưa ra chứng cớ thực tế nào nên tất cả chỉ toàn là những điều bốc phét.
 
Tôi chẳng cần nêu ví dụ về chuyện nói khoác, láo toét làm gì. Nhưng về chuyện nói độc của người Tàu thì không thể không nói được. Ngay như chuyện phòng the, người phương Tây vốn rất khác chúng ta, họ thường trìu mến gọi nhau kiểu “Em yêu, em cưng” [Bá Dương dùng chữ “đường mật” và “ta linh” để dịch chữ Honey, Darling của tiếng Anh: ND] thì người Tàu gọi nhau là “kẻ đáng băm vằm làm trăm khúc” (sát thiên đao đích).
 
Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hoặc tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định, khiến cho ai nấy nghe thấy cũng phải tự hỏi: “Tại sao người Tàu lại độc ác và hạ lưu đến thế?”
 
Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử. Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: “Tôi cảm thấy tôi có khả năng giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!.”
 
Còn người Tàu sẽ xử sự như Gia Cát Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời, anh ta sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là “Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!” Kỳ thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt đời.
 
Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn giảng, tôi sẽ nói: “Không được đâu, tôi chẳng quen nói chuyện trước công chúng!” Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp nhau ở Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu.
 
Một dân tộc hành xử theo kiểu này không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi của mình; sẽ còn phải dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm trăm cái khác để che đậy mười cái kia thôi.
 
Tàu diện tích rộng thế, văn hóa lâu đời thế, đường đường là một nước lớn. Thế mà, thay vì có một tấm lòng bao la, người Tàu lại có một tâm địa thật hẹp hòi.
 
Cái tấm lòng bao la đáng lẽ chúng ta phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nhìn thấy được trên màn ảnh. Có ai bao giờ thấy một người Tàu có lòng dạ, chí khí sánh ngang được với tầm vóc nước Tàu không? Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái là đã có thể rút dao ra rồi, thử hỏi nếu có người không đồng ý với mình thì sự thể sẽ ra sao?
 
Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Tàu đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết.
 
Mọi người Tàu đều sợ sệt đến độ không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn biết đấu tranh, gìn giữ nó được? Mỗi khi gặp một chuyện gì xảy ra y nhiên lại nói: “Bỏ qua cho rồi!”
 
Mấy chữ “bỏ qua cho rồi” này đã giết hại không biết bao nhiêu người Tàu và đã biến dân Tàu thành một dân tộc hèn mọn.
 
Giả sử tôi là một người nước ngoài hoặc một bạo chúa, đối với loại dân tộc như thế, nếu tôi không ngược đãi nó thì trời cũng không dung tôi.
 
Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa, bạo quan ở Tàu không bao giờ bị tiêu diệt.
 
Trong truyền thống văn hóa Tàu, các vị có thể xem ở “Tư trị thông giám” (Một pho sử của Tư Mã Quang tóm hết chuyện hơn 2.000 năm để làm gương cho người đời sau), cái việc bo bo giữ mình đã được xem là kim chỉ nam và nhấn mạnh năm lần bảy lượt. Bạo chúa, bạo quan cũng chỉ cần dân chúng cứ bo bo giữ mình là được, cho nên người Tàu mới càng ngày càng khốn đốn đến như thế.
 
Nơi nào người Tàu đã đặt chân đến thì không thể có chỗ nào là không bẩn. Có hơn một tỷ người Tàu trên thế giới này, làm sao mà không chật chội được? Ngoài ồn, chật, bẩn, loạn, lại còn thêm cái tật “thích xem” (người khác đau khổ), hoặc “chỉ quét tuyết trước nhà mình mà không động tý gì đến sương trên mái ngói nhà người khác.”
 
Họ luôn mồm “nhân nghĩa” mà tâm địa ích kỷ, tham lam. Một đằng hô to khẩu hiệu: “Phải tử tế với người và súc vật!” Trong khi đó ngày ngày không ngừng xâu xé lẫn nhau.
 
Tóm lại, người Tàu đúng là một dân tộc vĩ đại, vĩ đại đến độ làm cho người đời nay không có cách nào hiểu nổi tại sao họ có thể tồn tại được trên quả địa cầu này những 5.000 năm?

Chuyện hai người mẹ và những đứa con – Ai là người dũng cảm?

Chuyện hai người mẹ và những đứa con – Ai là người dũng cảm?

29-1-2019

Báo chí vừa rồi đưa tin, có hai người mẹ nghèo tự tử vì hết đường sống. Nhưng mỗi người chọn cho mình một cách chết. Một người cho các con mình uống thuốc độc. Khi biết chắc các con chết rồi người mẹ uống thuốc độc chết theo con. Còn người mẹ kia chết đi để lại mấy đứa con, hy vọng tiền phúng điếu của bà con hàng xóm và tiền trợ cấp xã hội cho người nghèo sẽ giúp chúng có tiền sống, có tiền đi học.

Chuyện chỉ có vậy, bạn đọc đọc qua, có người hờ hững, có người chép miệng thương tâm. Chuyện thường ngày ở… báo mà. Tin tự tử của hai bà mẹ chìm trong hàng chục, hàng trăm tin giật gân xảy ra từng phút, từng giờ trong nước và trên thế giới.

Nhưng câu chuyện tự tử của hai người mẹ không dừng lại trên mấy dòng chữ vô tình trên trang báo. Họ tình cờ gặp nhau ở cõi bên kia.

Người mẹ chết đi để lại mấy đứa con, nhìn người mẹ với bốn đứa trẻ lau nhau từ ngạc nhiên tới sững sờ, kêu lên:

Sao lại thế này? Chị sực nhớ lúc còn trên kia có nghe chuyện mấy mẹ con nghèo tự tử chết cùng một lúc: Hóa ra là chuyện thật à?

Người mẹ có mấy đứa con cười như mếu. Vâng, cả mấy mẹ con tôi, chị trông chúng có kháu không?

Người mẹ kia vừa nghe xong như muốn nhảy bổ vào cấu xé người mẹ có mấy đứa con đang sợ sệt bu quanh mẹ.

Mày đúng là con thú ác nhất trong các loài thú. Mày không còn là con người, không bằng loài cầm thú.

Nhưng tôi có làm gì chị đâu. Người đàn bà ngạc nhiên.

Mày không làm gì tao. Nhưng mày đã giết mấy đứa con đứt ruột đẻ ra kia. Lẽ ra phải đưa mày xuống địa ngục ném vô vạc dầu hay cho chó ngao xé xác. Đi cô đi với tôi.

– Nhưng chị định đưa tôi đi đâu.

Tới gặp Diêm Vương ngài sẽ phán xử. Có ai nỡ đang tâm giết con như cô không. Có ném cô cho chó ngao chúng cũng không thèm đụng tới xác cô.

Người đàn bà kia chợt hiểu và nói trong nước mắt:

Chị tưởng tôi làm chuyện này dễ lắm à. Còn đau gấp vạn lần những nhát dao cắt vào da thịt mình. Chị không hiểu được hoàn cảnh của tôi.

Không có bất kỳ hoàn cảnh nào bắt các cháu bé kia chết theo mình. Đến loài cầm thú còn biết thương con. Cô không bằng loài cầm thú.

Vâng, chị cứ chửi cho sướng miệng. Giá chị lâm vào hoàn cảnh tôi.

Thế cô tưởng tôi sướng lắm hả. Tôi cũng lâm vào tình cảnh chắc không khác cô, cũng tới bước đường cùng, không còn cách nào sống nổi, chỉ còn mỗi cách chết đi. Nhưng tôi khác với cô, tôi đi một mình, tôi không giết các con tôi, chúng nó chẳng có tội tình gì. Cũng mấy đưa lau nhau như mấy cháu này. Tôi đứt từng khúc ruột ra đi. Tưởng không có nỗi đau nào đau hơn. Khi phải xa lìa con cái còn thơ dại.

Thế chị đi rồi chúng nó sống bằng gì?

Tiền phúng điếu của bà con, tiền trợ cấp xã hội.

Thế mà em tưởng chị có phép tiên hay ít ra có sự hỗ trợ bên nội, bên ngoại.

Tôi đã bảo không có gì sất.

Thế còn bố các cháu, anh ấy?

Ma men nó tha đi lúc lũ nhỏ còn bé xíu.

Thế chị có bảo đảm những thứ chị nói đó giữ nổi chúng nó trong nhà được bao lâu, hay hết tiền hết gạo lại chẳng lóc nhóc kéo nhau ra đường, đi bụi đời, nhỏ thì trộm cắp lớn lên thành bọn đâm thuê chém mướn. Nhẹ thì vào tù ra tội, nặng thì dựa cột. Vừa khổ cho mình vừa là nỗi khổ cho xã hội. Đấy, chị có dám nói chắc cách của chị là hay, là đúng, khôn ngoan hơn không rồi hãy mắng nhiếc tôi cũng còn kịp.

Không để cho đối phương kịp suy nghĩ, người đàn bà kia nói luôn một hồi:

Chị bảo tiền phúng điếu của bà con được mấy đồng, toàn bà con cảnh nghèo cả. Còn tiền trợ cấp xã hội, chị tin à? May lắm chỉ được vài tháng đầu, làm gì người ta chẳng xà xẻo vô đó. Tiền tử tuất của người chết họ còn chẳng tha. Bây giờ mới xuống đây, hãy còn sớm. Độ vài ba tháng, một năm nữa chị lên thăm, sẽ tận mắt chứng kiến bọn trẻ ra sao. Chắc lúc đó chỉ đứng xa mà nhìn không nhận ra con mình nữa. Lúc đó ân hận thì quá muộn rồi.

Thấy người đàn bà kia dường như gục xuống không còn sức để nghe nữa, chị dừng lại, cảm thấy mình có lỗi đã quá lời.

Sau đó hai bà mẹ đáng thương ôm nhau khóc.

Cả hai cái chết, cách chết đều vô lý và suy cho cùng cũng có lý cả. Điều vô lý thuộc về trách nhiệm của xã hội, về chính quyền các cấp…

Bây giờ xin trở lại cái tít của bài viết. Vậy trong hai bà mẹ ai là kẻ dũng cảm?

Xét cho thấu tình đạt lý, trong hai người mẹ đáng thương đó không có ai là dũng cảm cả. Sống được mới là chuyện khó, dám vượt qua mọi khó khăn nuôi con khôn lớn. Nhưng chết như họ cũng không ai nỡ chê bai họ hèn nhát.

Dũng cảm là những người “ngoài cuộc”. Giữa những năm tháng đất nước còn vô vàn khó khăn, nợ công nợ tư chồng chất, dân ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, trẻ em bụng đói tới trường, trường không ra trường, lớp không ra lớp. So với mặt bằng thế giới, đời sống nhân dân ta được xếp vào hàng gần cuối bảng, sau cả Lào, Campuchia, thế mà có nhiều người đứng đầu một số địa phương, còn có ý định xây dựng những tượng đài nghìn tỷ, trên nghìn tỷ. Và tệ hại hơn có người dám cầm bút ký quyết định cho phép. Những người đó mới chính là người dũng cảm. Dũng cảm trước công luận ngồi xổm trên, dư luận và vô cảm trước nỗi đau khổ của người dân. Thật đáng phục thay!

Đúng là chuyện oái ăm. Người dân ai cũng muốn sống nhưng không được sống. Còn chắc chắn người chết (dẫu là Đại anh hùng dân tộc hay Lãnh tụ vĩ đại) đâu có muốn xây tượng đài, nhưng tượng đài cứ mặc nhiên mọc như nấm trên đất nước nghèo nàn và lạc hậu. Hỏi có đất nước nào có chuyện lạ, ngược đời như nước ta không? Khi người có quyền cầm bút ký quyết định cho phép xây dựng những tượng đài trăm, nghìn tỷ, có bao giờ nghĩ rằng mình đang ký lệnh kết án tử hình những người dân lương thiện, những trẻ em bị chết khi chưa kịp làm người.

Tượng đài lớn nhất, vĩnh cửu ở trong lòng người dân. Thời gian, mưa gió bão bùng dù cho chế độ thay đổi cũng không hề làm suy xuyển. Nguyễn Trãi 500 năm, Nguyễn Du 300 năm, rồi Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Lê Quý Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, cùng bao nhiêu vị khác, hình ảnh các vị trường tồn cùng dân tộc, đất nước này.

Lãnh đạo phe đối lập Venezuela bị đóng băng tài khoản, cấm xuất cảnh

LS LÊ CÔNG ĐỊNH :
Kể cả trong một thể chế XHCN độc đoán như Venezuela dưới thời Maduro, việc cấm xuất cảnh một công dân cũng cần phải có án lệnh của Tòa án Tối cao, bởi quyền tự do đi lại là một quyền hiến định mà cơ quan hành pháp không có quyền ngang nhiên tước đoạt.

Còn ở chế độ toàn trị cộng sản Việt Nam, một cơ quan hành pháp như Bộ Công an lại có toàn quyền cấm ai xuất cảnh thì cấm, chẳng cần đến tòa án hay lý do hợp pháp nào cả.

Do vậy, tuy đều là XHCN và đều độc đoán, nhưng Venezuela vẫn là một nước pháp trị, biết tôn trọng luật pháp của chính mình. Việt Cộng thì bất chấp.

Hai mươi năm gông cùm đau đớn …

Yvonne Nguyen shared a link to the group: NHÓM ẾCH VÊ.

Khong có con gì ác hơn con người , thế giới này nếu như khong có người Tây Phương chắc có lẽ khong còn một con vật nào sống duoc dưới tụi Trung Quốc nói riêng và tụi Á Châu nói chung ! Chỉ dùng duoc chữ ác độc dã man tàn nhẫn khốn nạn để nói về tụi này

 

TINNHANH.DKN.TV
Câu chuyện dưới đây vạch trần tội ác dã man của các trang trại nuôi gấu lấy mật ở một số nước châu …

Chính phủ đóng cửa 5 tuần, kinh tế Mỹ thiệt hại $11 tỉ

Chính ph đóng ca 5 tun, kinh tế M thit hi $11 t

Tiệm ăn vắng khách trong thời gian chính phủ đóng cửa. (Hình: AP Photo/David Goldman, File)

WASHINGTON, D.C. (NV) – Nền kinh tế Mỹ thiệt hại tới $11 tỉ trong vụ chính phủ đóng cửa 5 tuần qua, mà gần một phần tư của số thiệt hại này không thể thu hồi, theo ước tính của Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office CBO) hôm Thứ Hai, 28 Tháng Giêng.

Báo New York Times nói rằng văn phòng độc lập CBO cho hay cuộc đóng cửa, vốn khởi sự vào cuối Tháng Mười Hai và kéo dài cho tới ngày Thứ Sáu tuần qua, gây trì trệ cho số chi tiêu trị giá khoảng $18 tỉ của các nhân viên chính phủ liên bang. Con số này có thể sẽ khiến mức phát triển tổng sản lượng nội địa (GDP) trong quý 4 năm 2018 giảm $3 tỉ và cắt mức phát triển GDP trong quý một 2019 khoảng $8 tỉ, tức khoảng 0.2%.

Sự thiệt hại trực tiếp nhất cho nền kinh tế Mỹ là từ việc các nhân viên liên bang bị cho nghỉ ở nhà không có tiền chi tiêu, cũng như sự trì trệ trong mức sử dụng dịch vụ cũng như tiêu xài của chính phủ liên bang, cũng theo CBO.

Tuy nhiên, theo cuộc nghiên cứu này, nền kinh tế Mỹ cũng bị các thiệt hại gián tiếp, vốn khó xác định giá trị hơn, như từ các cơ sở doanh nghiệp không xin được giấy phép hay có sự chứng nhận và không mượn được các món tiền có sự hỗ trợ của chính phủ liên bang.

“Các yếu tố đó có thể khiến các công ty phải hoãn việc đầu tư và thuê nhân viên,” CBO cho biết.

Tuy việc đóng cửa chính thức chấm dứt hôm Thứ Sáu tuần qua, điều này chỉ là sự tạm thời. Tổng Thống Donald Trump cảnh cáo rằng chính phủ có thể sẽ phải đóng cửa lần nữa nếu Quốc Hội không đồng ý với đòi hỏi có $5.7 tỉ để xây tường biên giới của ông. (V.Giang)