NGƯỜI MẸ CỦA BIÊN GIỚI SỐNG VÀ CHẾT.

NGƯỜI MẸ CỦA BIÊN GIỚI SỐNG VÀ CHẾT.

Lm. NGUYỄN TẦM THƯỜNG, Dòng Tên

Năm 2000, tôi tới giúp tĩnh tâm cho cộng đoàn Công Giáo Việt Nam ở Oakland, miền bắc California. Hôm ấy, cuối nhà thờ có người gọi tôi. Quay lại nhìn, ngờ ngợ, ai ngờ đâu tôi gặp lại người đàn ông tôi đang muốn tìm từ lâu…

Sáu năm làm việc tại trại tỵ nạn Palawan, Philippines 1989 – 1995, tôi gặp ông ở đấy. Một người đàn ông im lặng, ít nói. Ông lúc nào cũng như có chuyện khổ tâm. Ngày ngày ngồi tráng bánh ở một góc đường trong khu trại tỵ nạn. Ngâm gạo đêm trước, dậy tráng bánh từ hai giờ sáng bên vỉa đường. Mỗi ngày vài chục pesos. Ngày ấy,1 US dollar được 25 pesos tiền Philippines.

Hoàn cảnh tỵ nạn bấy giờ nhiều người túng cực. Ông phải đùm bọc hai người gốc Chàm không người quen với bốn em bé không thân nhân. Mấy người sống chung với nhau trong căn nhà tỵ nạn. Kẻ xách nước, người kiếm củi, ông tráng bánh. Khoảng ba tháng ông góp được hai chục đô la, lại nhờ cha Crawford, một cha già người Mỹ trước ở Việt Nam, sau qua trại tỵ nạn giúp đồng bào, gởi qua trại tỵ nạn Hongkong cho vợ.

Ông rời cửa biển Cam Ranh ngày 2.9.1988 vào đất Philippines. Một năm sau, tháng 9 năm 1989 ghe của vợ ông rời Vạn Ninh, Nha Trang được hai ngày bị bể máy. Ghe lênh đênh trên biển đông, rồi lâm nạn. Vợ ông đem theo ba con nhỏ. Hết lương thực, nhờ mưa gió có nước uống mới sống sót. Sau nhiều ngày bão táp, một chủ ghe đánh cá người Tầu ở đảo Hải Nam bắt gặp chiếc ghe lâm nạn này. Ông ta chỉ đồng ý tiếp tế gạo, cho nước và kéo ghe ra khỏi vùng lâm nạn san hô với điều kiện cho ông ta bé cháu trai trên ghe. Cháu bé chính là con của người đàn ông này.

Kể từ ngày rời bờ biển Vạn Ninh đến khi gặp chiếc ghe người Tầu rồi cập được vào đất liền là 25 ngày. Nước Tầu hạn chế sinh sản. Ông chủ ghe người Tầu mong một cháu trai mà không được. Cuộc mặc cả là xé ruột gan người mẹ. Trước biên giới sống và chết, họ phải chọn sống. Vấn đề ở đây là sự sống của toàn thể 44 người trên chiếc ghe. Nếu không mất đứa bé, toàn ghe có thể chết.

Chiếc ghe đánh cá người Tầu mang theo cháu bé rồ máy chạy vội vã biến mất hút về phía Trung Quốc. Rồi tin ấy đưa đến cho người đàn ông này ở Palawan. Mỗi ngày ông cứ lặng lẽ tráng bánh, kiếm ăn gởi qua cho vợ ở trại tỵ nạn Hongkong. Ðau thương vì mất con. Con tôi trôi giạt nơi đâu? Vợ chồng mỗi người một ngả.. Ðứa con mất tích sẽ ra sao? Dáng ông buồn lắm. Cháu bé lúc đó mới hơn ba tuổi.

Cha Crawford kể cho tôi câu chuyện này. Không biết người đàn ông đã nhờ cha già gởi tiền cho vợ như thế bao lâu rồi. Theo ông kể lại, vì không là người Công Giáo, ông đâu có tới nhà thờ. Một hôm có mấy người vào cha xin tiền mua tem gởi thư. Ông cũng đi theo. Rồi một linh cảm nào đó xui khiến ông gặp cha. Ông kể cho cha già nghe chuyện ông mất con.

Một trong những ý định qua trại tỵ nạn làm việc của tôi là thu lượm những mẩu đời thương đau của người tỵ nạn. Tôi tìm gặp ông ta để hỏi chuyện.

Câu chuyện bắt đầu…

Sau khi chiếc ghe được kéo vào đảo Trung Quốc, một nửa số người quá sợ hãi, đi đường bộ trở về Việt Nam. Số còn lại kết hợp với ít người đã trôi dạt vào đảo trước đó, sửa ghe tìm đường qua Hongkong. Người đàn ông tưởng chừng vợ đã chết trên biển vì hơn ba tháng sau mới nhận được mấy lời nhắn tin viết vội bằng bút chì từ trại tỵ nạn Hongkong. Ông đưa miếng giấy nhàu với nét bút chì mờ cho tôi. Sau khi ông rời trại tỵ nạn, mất liên lạc, tôi chỉ còn giữ tấm giấy như một kỷ niệm quý hơn chục năm nay.

Ðó là lá thư thứ nhất ông nhận được. Những lần giảng trong Thánh Lễ về tình nghĩa vợ chồng, tôi lại nghĩ đến ông.. Một người đàn ông cặm cụi tráng bánh để rồi ba tháng trời dành được 20 đô la gởi tiếp tế cho vợ.

Ông tâm sự với tôi là ông dự tính một ngày nào đó được đi định cư, dành dụm tiền rồi đi Trung Quốc dò hỏi tin con. Nghe ông nói vậy, tôi thấy ngao ngán cho ông. Bao giờ ông mới được định cư? Rồi định cư xong, biết bao giờ ông mới thực hiện được mơ ước? Tình trạng tỵ nạn lúc này quá bi đát. Mười người vào phỏng vấn may ra đậu được ba. Ðất Trung Quốc rộng mênh mông như thế biết đâu tìm? Bao nhiêu khó khăn như tuyệt vọng hiện ra trước mặt. Tôi thấy ý nghĩ mơ ước đi tìm con của ông như cây kim lặng lờ chìm xuống lòng đại dương.

– Tại sao không nhờ Cao Ủy Tỵ Nạn, nhờ Hội Chữ Thập Ðỏ Hongkong?

Người đàn ông này sợ lên tiếng như thế gia đình Tầu kia biết tin sẽ trốn mất. Chi bằng cứ âm thầm tìm kiếm. Tôi thấy dự tính của ông khó khăn quá. Những năm làm việc bên cha già, tôi biết một đặc tính của ngài là thương kẻ nghèo. Ngài thương họ vô cùng, ngài sẽ làm bất cứ gì có thể. Tôi đề nghị cha già cứ viết thư khắp nơi, kêu cầu tứ chiếng.

Các thư được viết đi. Ngài cầu cứu Cao Ủy Ti Nạn, Hội Hồng Thập Tự, cơ quan từ thiện dịch vụ tỵ nạn Công Giáo, từ Manila đến Bangkok, Thailand. Ðợi chờ mãi mà năm tháng cứ bặt tin. Tôi vẫn thấy người đàn ông cứ dáng điệu buồn bã ngồi bên đường tráng bánh. Trời nhiệt đới nắng và nóng, mỗi khi xe chạy qua, bụi đường bay mờ người. Hàng ngày lên Nhà Thờ, tôi lại hình dung bóng hình ông. Chỗ ông ngồi không xa tháp chuông Nhà Thờ bạc vôi sơn và tiếng chuông mỗi chiều là bao.

Mỗi chiều dâng lễ, tôi lại nhìn thấy cây Thánh Giá trên nóc Nhà Thờ đã nghiêng vì gỗ bị mục. Cây thánh giá trải qua nhiều mùa mưa nắng quá rồi. Bức hình Mẹ Maria bế Chúa Hài Nhi trên tấm ván ép dưới cây Thánh Giá cũng bạc nước sơn. Những người tỵ nạn đã bỏ một vùng đất rất xa. Quê hương của họ bên kia bờ biển mặn. Nhiều người cứ chiều chiều ra biển ngồi. Ðêm về sóng vỗ ì ầm. Biết bao người đã không tới bến.. Họ đến đây tìm an ủi trong câu kinh. 

Giữa tháng ngày cằn cỗi ấy, rồi một chiều bất ngờ tin vui đến.. Hội Hồng Thập Tự Hongkong báo tin về Manila. Manila điện xuống báo cho cha Crawford biết người ta đã tìm được cháu bé.

Lúc bắt cháu bé, người Tầu trên ghe đánh cá kia đã lanh trí che tất cả số ghe. Không ngờ trời xui khiến, trong lúc thương lượng bắt cháu, trên chuyến ghe tỵ nạn Việt Nam có kẻ lại ghi được mấy chữ Tầu ở đầu ghe bên kia vào một chiếc áo. Không ngờ chiếc áo này lại là chính chiếc áo của cháu bé bỏ lại. Quả thật là chiếc áo định mệnh. Nguồn gốc nhờ mấy số ghe đó mà sau này người ta mới phanh phui ra được gốc tích chiếc ghe. Ðó là một thuyền đánh cá ở đảo Hải Nam.

Tìm được cháu rồi, bây giờ lại đến phần gia đình người Tầu đau khổ. Cháu không còn nói được tiếng Việt, vì hơn một năm liền mọi sinh hoạt trong gia đình kia là của cháu. Hồi bị bắt cháu còn bé quá, mới hơn ba tuổi. Bà mẹ người Tầu cũng khóc, biết mình sẽ mất đứa con mà họ đã nuôi. Họ nhất định không trả. Cao Ủy phải can thiệp nhiều lắm. Gia đình ở đảo Hải Nam kia dựa lý do là cháu đang được nuôi nấng tử tế, còn ở trại tỵ nạn cháu thiếu thốn đủ thứ, họ không chịu mất con. Nhưng Cao Ủy bắt phải trả cháu về cho bố mẹ ruột.

Ðể thỏa mãn điều kiện kia, Sở Di Trú Mỹ liền cho bà mẹ bị bắt con quyền định cư tại Mỹ, dù đã đến trại sau ngày thanh lọc. Trong lúc đó người đàn ông này đã bị Mỹ từ chối tại Philippines. Ông buồn lắm. Cha Crawford bảo tôi rằng vợ người đàn ông đã được vào Mỹ, nên cơ quan Cao Ủy Tỵ Nạn tại Philippines yêu cầu cho ông cũng được vào Mỹ theo. Vì nhân đạo, sở di trú Hoa Kỳ đồng ý. Tin vui như vậy mà ông cứ đứng như trời trồng không tin chuyện có thể xảy ra như thế.

Ngày trao trả cháu bé, báo chí Hongkong đăng hình cháu khóc thảm thiết. Cháu đẩy mẹ ruột ra, đòi về với mẹ nuôi. Người mẹ nuôi khóc vì thương nhớ cháu. Mẹ ruột cũng khóc vì thấy lại con mà con không biết mình. Tất cả ai cũng khóc.. Cao Ủy Tỵ Nạn bồi thường lại phí tổn nuôi nấng cháu bé cho gia đình người Tầu kia. Chuyến bay rời Hongkong mang theo bao tình cảm nhân loại của con người với con người.

Thời điểm bấy giờ không biết bao chuyện thương tâm xảy ra. Hàng trăm ngàn người chết trên biển, ăn thịt nhau vì chết đói. Hải tặc Thái Lan tung hoành bắt người nhốt ngoài đảo, hãm hiếp, chặt răng vàng, giết. Ðối với thế giới chuyện cháu bị bắt cóc chỉ là chuyện nhỏ. Vậy vì đâu họ ra sức đi tìm?

Ðây là lý do:

Câu chuyện thương tâm của người mẹ mất con đến tai Mẹ Têrêsa Calcutta. Ấn Ðộ là thuộc địa cũ của người Anh. Mẹ Têrêsa viết cho chính phủ Anh xin can thiệp chuyện này. Từ London, chính phủ Anh xin Bộ Ngoại giao Bắc Kinh điều tra tìm chiếc ghe mang số như thế..

Bên ngôi mộ Mẹ Têrêsa ở Calcutta, ngày 14.5.2001 tôi kể chuyện này cho Sơ Bề Trên Dòng. Sơ yêu cầu tôi viết lại cho sơ làm tài liệu. Trong những ngày này, nhân viên Tòa Thánh đang ở Calcutta điều tra để xúc tiến hồ sơ phong thánh cho Mẹ Têrêsa. Một Linh Mục ngồi nghe chuyện tôi kể, ngài nói:

– Tâm hồn Mẹ Têrêsa rất bao dung. Mẹ thương người nghèo. Mẹ là người của biên giới giữa sống và chết.

Nghe câu nói đó của cha. Tôi hiểu ý là Mẹ luôn đứng bên lề sự sống kéo kẻ chết về phía mình. Chính vì thế tôi đặt tên cho bài viết này là: Người Mẹ của biên giới sống và chết.

Nghe tiếng người đàn ông gọi. Quay lại nhìn, không ngờ chính người đàn ông mất con, ngồi tráng bánh ở trại Palawan ngày xưa, tôi mừng lắm. Sau lễ chiều, tôi tới nhà ông dùng cơm. Ông rời trại tỵ nạn Palawan tháng 6, lên Bataan rồi vào Mỹ tháng 12 năm 1990. Không ngờ mười năm sau tôi gặp lại.

Cháu bé bây giờ lớn rồi. Chuyện đã hơn cả chục năm qua. Cháu chẳng nhớ gì. Riêng cha mẹ thì nhớ lắm, nhất là những gì đau thương vì con cái thì trong trái tim cha mẹ không bao giờ quên. Còn tôi, đấy là một kỷ niệm đẹp trong những ngày làm việc bên trại tỵ nạn.

Không ngờ có ngày tôi gặp lại người đàn ông này. Không ngờ có ngày tôi ngồi bên mộ Mẹ Têrêsa trên đất Ấn. Một vùng đất rất xa với chỗ ngồi tráng bánh của người đàn ông mất con. Không ngờ tôi lại là kẻ chứng kiến những chuyện tình này, để rồi nối kết khung trời này với khung trời kia. Không ngờ vào ngày Lễ Phục Sinh năm 1999 ông đã nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội, nếu ông không đi lễ ở Nhà Thờ Oakland hôm đó, làm sao tôi gặp lại.

Tại vùng đất Vạn Ninh, chỉ có một ngôi Nhà Thờ nhỏ miền quê độc nhất. Ðêm Noel năm 1985 sau khi đến Nhà Thờ về, em bé chào đời đúng ngày 25 tháng 12 năm 1985. Người đàn ông kể cho tôi ngày sinh nhật của em thật đặc biệt. Còn tôi, tôi thấy ngày em mới hơn ba tuổi phải hy sinh để cứu chuyến ghe là hình ảnh thế mạng sống chuộc thay cho người khác.

Trong câu chuyện này cả ba người đàn bà đều có những tấm lòng rất đỗi đáng yêu. Người mẹ sinh cháu bé, bao yêu thương và xót xa. Mẹ Têrêsa với tấm lòng hiểu nỗi thương đau của những người mẹ. Bà mẹ nuôi người Tầu đã săn sóc em khi ông chồng đánh cá đem cháu về. Tất cả là tấm lòng bao dung của những bà mẹ.

Tôi viết dòng này, cha già Crawford đã chết rồi. Mẹ Têrêsa cũng chết rồi. Ngày mai, giữa biên giới của sự sống và chết ,còn những chuyện không ngờ nào sẽ xảy đến nhỉ ?

Lm. NGUYỄN TẦM THƯỜNG, Dòng Tên,
trích trong sách “Những Trang Nhật Ký Của Một Linh Mục”

From: anneuyenthu & NguyenNThu

Vũng Tàu được phép nhận chìm xuống biển 14,3 triệu m3 bùn

Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Hóa dầu Long Sơn vừa được cấp giấy phép để nhận chìm 14,3 triệu m3 bùn ngoài khơi biển Vũng Tàu.

Tin cho biết, đây là số bùn phát sinh trong quá trình nạo vét làm cảng chuyên dùng cho dự án hóa dầu Long Sơn, có tổng mức đầu tư hơn 5 tỉ USD.

Số lượng bùn sẽ được nhận chìm tại vị trí khu A, cách mũi Vũng Tàu khoảng 10 km, với diện tích được đổ bùn là hơn 200 km2. Thành phần nhận chìm gồm cát mịn, bụi và sét. Thời gian nhận chìm sẽ kéo dài 2 năm, từ 1/4/2019 đến 31/3/2021.

Bàn Thờ Cho Người Nô Lệ

Bàn Thờ Cho Người Nô Lệ

Du khách đến viếng thăm nước Tanzania bên châu Phi không thể không dừng chân trước Nhà Thờ chính tòa Anh Giáo tại Zanzibar.

Bước vào nhà thờ, người ta có thể đọc ngay lời chào đón được viết trên tường như sau: “Bạn đang ở trong nhà thờ chính tòa của Ðức Kitô. Nơi đây đã từng là chợ buôn người nô lệ”.

Ngôi thánh đường này đã được xây ngay trên chính khu đất mà ngày xưa người da trắng đã tập trung không biết bao nhiêu người Phi Châu để buôn bán đổi chác như những con thú. Ðặc biệt nhất là bàn thờ củangôi thánh đường: đây là nơi mà trước khi được bán, người nô lệ phải chịu đánh đòn. Sở dĩ người ta phải dùng roi để quất vào người nô lệ là để xem người ấy còn khỏe mạnh không.

Cột trụ ở ngay lối vào nhà thờ là một cây thánh giá gỗ có mang tên của nhà giải phóng Livingstone, một nhà thám hiểm người Anh, đã hô hào chống lại cuộc buôn bán vô nhân đạo này. Cây thánh giá mang tên ông đã được chạm trổ từ gốc cây nơi ông thường đứng để hô hào cuộc chiến bãi bỏ việc buôn bán người nô lệ.

Mãi đến ngày 06 tháng 6 năm 1873, việc buôn bán người nô lệ mới chính thức bị cấm chỉ bằng một đạo luật. Kể từ đó, phẩm giá đích thực của người da đen mới được nhìn nhận.

Cũng như một đan viện dòng kín đã được dựng lên ngay bên cạnh trại tập trung Auschwitz bên Ba Lan để âm thầm nhắc nhở về những độc ác dã man mà con người đã có thể làm cho người khác, thì nhà thờ chính tòa Anh Giáo tại Zanzibar cũng là một nhắc nhở về một quá khứ vô cùng đau thương và đen tối của cả nhân loại, khi con người chỉ xem những giống người khác như thú vật để đổi chác. Nhưng một tưởng niệm không chỉ dừng lại ở khía cạnh kết án, nó còn là một mời gọi để cam kết sống đích thực hơn. Ðối lại với chà đạp dã man phải là sự tôn trọng yêu thương mà con người phải có đối với tha nhân.

Cuộc sống của người Kitô chúng ta được xây dựng trên một tưởng niệm vô cùng cao cả:

đó là cái chết của Ðức Kitô được thực hiện trong Thánh Lễ

Thánh lễ

-vừa là một nhắc nhở về cái chết vô cùng dã man mà Ðức Kitô đã trải qua,

-vừa là một tưởng niệm về Tình Yêu vô bờ của Thiên Chúa đối với con người,

-vừa là một mời gọi sống yêu thương, yêu thương đến nỗi có thể chết thay cho người khác… 

Chúng ta không thể tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu mà vẫn tiếp tục cưu mang hận thù, mà vẫn nuôi dưỡng sự khinh rẻ đối với tha nhân.

 Trích sách Lẽ Sống

From: hnkimnga & NguyenNThu

Những cảnh tượng làm xấu mặt Hà thành.

Sau 65 năm xây dựng XHCN ưu việt ở miền Bắc Việt Nam???

Những cảnh tượng làm xấu mặt Hà thành.

 

DANTRI.COM.VN
(Dân trí) – Những chậu hoa nhỏ dùng để trang trí trên dải phân cách đường Kim Mã bị nhiều người dân tới “hôi”. Thậm chí có cả những người đi ô tô dừng giữa đường lấy hoa rồi nhanh chóng bỏ đi.

Tướng Quân khu 9 chiếm đất công xây biệt thự

Tướng Quân khu 9 chiếm đất công xây biệt thự

Biệt thự của ông Lê Minh Tuấn và phần khoanh tròn là phần đất được quy hoạch làm đường giao thông nhưng hiện đang bị chiếm dụng. (Hình: Tuổi Trẻ)

CẦN THƠ, Việt Nam (NV) – Lợi dụng lúc còn đương chức, ông phó tư lệnh Quân Khu 9 đã ngang nhiên chiếm phần đất công dùng để làm con đường trong Khu Dân Cư An Thới, quận Bình Thủy, xây biệt thự cho riêng mình.

Ngày 4 Tháng Ba, 2019, Ủy Ban Nhân Dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, xác nhận với báo Tuổi Trẻ về việc người dân tố cáo Thiếu Tướng Lê Minh Tuấn, cựu phó tư lệnh Quân Khu 9, đã xây khuôn viên biệt thự của mình trên phần đất quy hoạch dùng làm đường giao thông cho Khu Dân Cư An Thới (phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy) là có thật.

Tài xế phản đối BOT, Hà Văn Nam bị bắt

Tài xế phản đối BOT, Hà Văn Nam bị bắt

RFA
2019-03-05

Tài xế Hà Văn Nam

Tài xế Hà Văn Nam

 Youtube captured
Ông Hà Văn Nam, tài xế ở tỉnh Thái Bình, người tham gia phản đối nhiều trạm thu phí BOT bất hợp lý, bị bắt tạm giam theo thông báo của Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, do Thượng tá Nguyễn Kim Cương ký hôm 5/3/2019.

Theo thông báo này thì ông Hà Văn Nam bị bắt giam do có hành vi ‘Gây rối trật tự công cộng tại trạm thu phí BOT Phả Lại trên tuyến QL 18 địa phận xã Đức Long, Quế Võ, Bắc Ninh phạm vào Khoản 2 Điều 318 BLHS’. Thông báo cho biết ông Nam đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.

Từ trại tạm giam, ông Hà Văn Nam có đơn ủy quyền cho vợ ông là bà Trần Thị Nhài thay mặt ông mời luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông. Ông đề nghị luật sư Trần Thu Nam và cụ Lê Hiền Đức cùng các luật sư tự nguyện nếu cần.

Chị Nhài vợ anh Nam cho Đài Á Châu Tự Do biết như sau:

“Sáng ngày 5/3/2019, khi anh Nam mới ngủ dậy ngồi tầng 1 tại nhà ở quận bắc Từ Liêm, Hà Nội. Tôi đang ở tầng 2 thì nghe ai đó nói có công an Bắc Ninh đến, tôi tưởng chỉ công an đến nói chuyện bình thường thôi nên chưa tôi chưa xuống ngay.

Khi anh Nam gọi tôi với giọng gấp gáp, tôi chạy xuống thì thấy tay anh Nam đã bị còng cùng một lực lượng công an rất đông khoảng 15 người đọc lệnh bắt anh Nam tội ‘Gây rối trật tự công cộng’ hôm 31/12/2018. Sau khi đọc lệnh bắt thì họ đưa anh Nam đi, còn một nhóm công an ở lại đọc lệnh khám nhà và chỉ thu một điện thoại. Họ giam anh Nam ở công an tỉnh Bắc Ninh.”

Ông Hà Văn Nam từng bị công an bắt và đánh trọng thương vào ngày 28/1/2019 vừa qua khi đang cùng các tài xế khác phản đối việc thu phí sai quy định tại BOT An Sương và phát trực tiếp trên tài khoản Facebook cá nhân. Ông được thả ra vài tiếng sau đó. Đoạn video được lưu lại thể hiện một nhóm người dường như đang khống chế ông Nam lên xe, buộc ông này im miệng bằng băng keo (băng dính) và nói với nhau là “chở về đồn”.

Báo Triều Tiên: Chuyến đi Việt Nam của ông Kim Jong Un ‘làm rung chuyển thế giới’

Việt Kết Nối is with Quoc Vo and 2 others.

Mấy ông có mắt không, vì ông TT Mỹ đã bỏ ngang hội nghị không lời từ giã và không có một chính trị gia Mỹ hay chuyên gia thế giới nào chê bai, thậm chí còn ca ngợi hành động bỏ về ngang xương của ông ta.

Vậy thì rung chuyển ở chỗ nào.

Dân Triều tiên có thể không biết nên họ nói như vậy, nhưng mấy ông, CSVN là những người tổ chức thì mấy ông phải biết rõ mà không thể nói dối chứ nhỉ?

Nếu mấy ông muốn lấy lại lòng tin dân chúng VN thì hãy tập đừng gian trá hay xạo xĩnh.

Bỏ mọi sự vì Thầy

Bỏ mọi sự vì Thầy (5.3.19–TB Tuần 8 TN)

Lời Chúa: (Mc 10, 28-31)

Khi ấy, ông Phêrô lên tiếng thưa Đức Giêsu: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!” Ðức Giêsu đáp: “Thầy bảo thật anh em : Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà bây giờ, ngay ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống đời đời ở đời sau. Quả thật, nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.”

Bình thường con người làm gì cũng ít nhiều nghĩ đến cái lợi cho mình. Không lợi vật chất thì cũng lợi tinh thần. Không lợi đời này thì cũng lợi đời sau. Không lợi cho cá nhân mình thì cũng lợi cho gia đình mình, tôn giáo của mình, quê hương của mình. Con người dám hy sinh bỏ cái này để được cái kia lớn hơn. Nếu biết giữ cho đúng mực, khuynh hướng này không phải là xấu. Anh thanh niên giàu có đã không dám bán và cho tất cả tài sản để nhẹ nhàng thanh thản bước theo Thầy Giêsu. Đối với anh, cái mất ở đời này lớn quá so với cái được ở tương lai. Các môn đệ đã bỏ gia đình và nghề nghiệp ổn định để đi theo một vị Thầy không chỗ tựa đầu, sống cuộc sống bấp bênh, vất vả, thiếu thốn. Khi nghĩ về cuộc sống hiện tại của cả nhóm đang theo Thầy,

Phêrô đại diện anh em đặt câu hỏi: “Phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!” (c. 28).

Vậy chúng con sẽ được gì? (x. Mt 19, 27).Thầy Giêsu không coi thường hay gạt bỏ câu hỏi này của Phêrô.

Thầy còn muốn long trọng trả lời câu hỏi này cho cả những người ở thế hệ kế tiếp.

Bất cứ ai vì Thầy và vì Tin Mừng mà bỏ những điều được coi là thiết yếu đối với cuộc sống như tương quan máu mủ: cha mẹ, anh chị em, con cái, như phương tiện để sống và sống còn: nhà cửa, ruộng đất (c. 29),  những người ấy, ngay bây giờ, ở đời này, sẽ được gấp trăm về những điều đã mất.

Hơn nữa, họ còn được sự sống vĩnh cửu ở đời sau (c. 30), điều mà anh thanh niên giàu có mơ ước.

Hẳn các môn đệ sau khi theo Chúa đã chẳng có thêm nhà đất, vợ con. Nhưng họ đã thuộc về một cộng đoàn rộng lớn hơn gia đình xưa của họ. Nơi cộng đoàn Kitô này..

Hạnh phúc đến ngay từ đời này khi con tim và vòng tay rộng mở.

Hạnh phúc này chỉ là hưởng trước chút hạnh phúc đời sau. Người kitô hữu hôm nay sống ở thế kỷ hai mươi mốt cũng có lúc nghĩ về cái mất, cái được của việc một đời theo Giêsu.

Chúa Giêsu đòi chúng ta đặt mọi sự dưới Ngài và sau Ngài.

Điều đó kéo theo những từ bỏ đớn đau, những thập giá thầm lặng.Theo Giêsu, chúng ta thấy mình phải bỏ thế gian với bao quyến rũ.

Theo Giêsu, chúng ta thấy mình không thể chiều theo cái tự nhiên. Nhưng theo Giêsu, chúng ta được điều lớn hơn cả.  Chúa Giêsu đòi chúng ta đặt mọi sự dưới Ngài và sau Ngài. Điều đó kéo theo những từ bỏ đớn đau, những thập giá thầm lặng.Theo Giêsu, Chúng ta thấy mình phải bỏ thế gian với bao quyến rũ.Theo Giêsu, Chúng ta thấy mình không thể chiều theo cái tự nhiên. Nhưng theo Giêsu, Chúng ta được điều lớn hơn cả.

Đó là chính Giêsu.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, khi đến với Chúa con tháo bỏ đôi giày: những tham vọng của con: thời khóa biểu của con, con đóng lại bút viết: các quan điểm của con, con bỏ xuống chìa khóa: sự an toàn của con, để con được ở một mình với Ngài, lạy Thiên Chúa duy nhất và chân thật.

Sau khi được ở với Ngài, con sẽ xỏ giày vào để đi theo đường của Chúa, con sẽ đeo đồng hồ để sống trong thời gian của Chúa, con sẽ đeo kính vào để nhìn thế giới của Chúa, con sẽ mở bút ra để viết những tư tưởng của Chúa, con sẽ cầm chìa khóa lên để mở những cánh cửa của Chúa.(Graham Kings)

 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu,