Đảng Cộng Sản buôn thần bán thánh

 Đảng Cộng Sản buôn thần bán thánh

Ngô Nhân Dụng

March 26, 2019

Chùa Ba Vàng ở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. (Hình: Chuabavang)

Vụ chùa Ba Vàng bị vỡ lở vì làm tiền bằng cách gieo rắc mê tín dị đoan không phải chỉ là một hành động lẻ loi của một ông sư đảng viên quá tham lam. Cũng không phải chỉ là cuộc tranh chấp giữa một ông sư tỉnh lẻ với một ông sư ở trung ương được báo chí nhà nước hỗ trợ. Nhìn kỹ, thì đây là một “hiện tượng” nổi lên trên mặt nước mà dưới đáy lâu là “bản chất,” một chế độ độc tài toàn trị muốn kiểm soát cả các hoạt động tôn giáo.

Ông sư chùa Ba Vàng, Vũ Minh Hiếu, 52 tuổi, là một đảng viên Cộng Sản. Ông ta mới cạo đầu năm 1999 sau khi xin vào chùa thực tập năm trước. Ông đã chọn tới xin học tại một thiền viện ở miền Nam do một vị hòa thượng được mọi người kính trọng sáng lập. Chính vị hòa thượng lớn tuổi chắc cũng không biết ông là người thế nào khi ông được xuất gia; nhưng ông sư trẻ 40 thì được hưởng lây uy tín.

Năm 2001, Vũ Minh Hiếu, hiệu là Thái Minh, trở lại miền Bắc, từ năm 2007 được giao cho coi ngôi chùa Ba Vàng thuộc thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh; lúc đó chỉ là một chùa rất nhỏ. Ông đã làm tiền rất giỏi, trong bảy năm xây nên một ngôi chùa với chánh điện được mô tả là lớn nhất Đông Nam Á!

Nhưng hoạt động kinh doanh của ông đã đi quá đà khi lợi dụng lòng mê tín của người dân một cách quá lộ liễu. Và ông thành công rầm rộ đến nỗi “cấp trên” trong tổ chức tôn giáo của đảng Cộng Sản phải ganh tức. Báo chí được khuyến khích đi phanh phui, tố cáo những hoạt động mê tín làm ra tiền này.

Vũ Minh Hiếu đã tổ chức các lễ “thỉnh vong, giải oan gia trái chủ,” được một bà đệ tử góp công vận động qua những bài thuyết giảng, video và tổ chức việc kinh doanh. Họ thỉnh vong, theo phong tục “gọi hồn,” khi một người muốn tiếp xúc với vong linh người đã chết. Họ có thể mời vong hồn nhập vào một người, giống như khi “lên đồng.” Khi đó “bà đồng” sẽ chữa bệnh và “phán số kiếp” của người đến xin. “Vong” sẽ bắt người thân của mình phải “trả nợ” để chính họ được thoát nợ những tội lỗi đã làm từ kiếp trước. Số tiền gọi là “tiền giải nghiệp,” lớn từ vài triệu đến vài chục triệu đồng Việt Nam.

Vũ Minh Hiếu đã bị mất chức, nhưng chưa thấy nói có mất thẻ đảng hay không. Nhưng qua vụ này người ta thấy bản chất của việc lũng đoạn các tổ chức tôn giáo của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bản chất của Cộng Sản là độc tài toàn trị. Họ muốn kiểm soát tất cả các hoạt động trong xã hội, qua các đoàn thể phụ thuộc, từ các hội nhà văn, công đoàn, cho tới Hội Chữ Thập Đỏ. Họ không thể kiểm soát được Giáo Hội Công Giáo, nhưng đã nắm Phật Giáo trong tay qua tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, mà người dân gọi là Giáo Hội Phật Giáo Quốc Doanh.

Từ mấy ngàn năm nay, Phật Giáo vốn không có một tổ chức cai quản tất cả các người đi tu và các tu viện, chùa chiền. Thời xưa ở nước ta, các ông vua, họ có thể phong chức “tăng thống” nhưng vị tăng thống chỉ là một người đạo hạnh cao để làm gương chứ không phải là người quản trị, điều hành các chùa hoặc tu viện. Và ông vua không có quyền hành gì trên vị tăng thống, cũng như các chùa chiền.

Tại những nước Nam Tông mà đạo Phật được coi là quốc giáo, vẫn luôn luôn có các vị sư sống độc lập, có khi sống một mình trong rừng. Các Phật tử kính mộ có thể mời vị sư vào một ngôi chùa, mà không cần chỉ thị nào từ trên ban xuống. Miền Nam Việt Nam trước đây vẫn sống trong truyền thống như thế, cho nên mới có những danh tăng nổi tiếng. Phật Thầy Tây An, Ông Sư Vãi Bán Khoai, đều là những người tự do hành đạo xây dựng những đạo tràng trong thế kỷ 19. Đức Huỳnh Giáo Chủ đã xây dựng cả một tông phái Phật Giáo mới vào đầu thế kỷ trước.

Hiện nay tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hoàn toàn nằm trong vòng tay kiểm soát của đảng Cộng Sản; đặc biệt tại miền Bắc. Không ai được “tu độc lập, tự do.”

Như chúng ta thấy, ông sư Vũ Minh Hiếu đã bị Ban Thường Trực Hội Đồng Trị Sự của khu vực miền Bắc họp bàn và cách chức. Nhưng trong hội nghị của họ, “có mời đại diện Cục An Ninh Nội Địa và Ban Tôn Giáo Chính Phủ cùng tham dự.” Chỉ cách chức ông sư tại một ngôi chùa, mà cũng phải mời cả hai ngành của guồng máy nhà nước chứng giám! Chính những người cầm đầu “giáo hội” chịu cúi đầu khuất phục dưới chế độ độc tài!

Ban Tôn Giáo Chính Phủ, mà báo Lao Động gọi là “cơ quan có nhiệm vụ theo dõi hoạt động tôn giáo,” là một tổ chức vừa lo kiểm soát vừa làm kinh tài của đảng Cộng Sản. Họ “chỉ đạo” cho những người cầm đầu “Giáo Hội Phật Giáo.” Không ai được phép trụ trì một ngôi chùa nếu không được đảng cho phép, dù đông đảo Phật tử có kính mộ. Các chùa thu được nhiều tiền sẽ được hỏi thăm.

Cuối cùng, các chùa chiền thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam bị biến thành guồng máy kinh tài cho đảng Cộng Sản. Không khác gì các doanh nghiệp nhà nước làm kinh tài cho các bộ công nghệ, bộ canh nông hoặc thương mại.

Một điều đặc biệt là tổ chức kinh doanh tôn giáo này không bị ràng buộc như các “xí nghiệp” khác.

Luật Sư Phùng Thanh Sơn ở Sài Gòn viết trên Facebook cá nhân cho thấy “Kinh doanh thần thánh là ngành nghề được ưu đãi và an toàn nhất Việt Nam.”

Nghề này được ưu đãi “vì được miễn tiền sử dụng đất, không đóng thuế thu nhập, không bị thanh tra, kiểm tra thuế, không bị nhà nước kiểm toán, không bị xử lý nếu sử dụng tiền (cúng dường) sai mục đích.”

Ngoài ra, Luật Sư Phùng Thanh Sơn còn nhận thấy “những người có chức sắc không bị xử lý hình sự nếu lấy tiền công đức (tức là thu nhập của công ty) làm của riêng.” Trong khi đó, giám đốc các xí nghiệp quốc doanh có thể bị hỏi tội này nếu phe đảng của họ đổ.

Khi một một vụ tham nhũng ở công ty quốc doanh bị khui ra, các chức sắc sẽ bị đưa ra tòa. Còn khi vụ kinh doanh mê tín của Vũ Minh Hiếu bị đổ bể, ông ta mất chức ở chùa, nhưng không biết có bị đưa ra tòa án ngoài đời hay không!

Các ông cựu giám đốc doanh nghiệp nhà nước đang ra tòa có thể khiếu nại: Tại sao, cùng là đảng viên nhận nhiệm vụ do đảng giao phó, mà chúng tôi bị bạc đãi còn các cán bộ đầu trọc được hưởng đủ thứ ưu tiên như vậy?

Tất cả những tệ nạn mê tín, buôn thần bán thánh như trên, đều là hậu quả của tình trạng đảng Cộng Sản kiểm soát tôn giáo, đặc biệt là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Đảng Cộng Sản không thao túng được tất cả các chùa chiền và các tăng ni. Rất nhiều chùa bị bắt buộc phải gia nhập tổ chức này, nhưng tăng ni vẫn sống trong thanh quy, giới luật. Họ vẫn giúp các Phật tử tìm về chánh đạo nhờ gìn giữ hạnh tu. Họ không bị đảng Cộng Sản sách nhiễu nếu không tỏ ra chống đối nhà nước. Nhờ những người đó mà đạo Phật vẫn còn tương lai; nhất là khi các tăng ni tu học theo các pháp môn mới, đáp lại nhu cầu tu tập của thế hệ trẻ và có học.

Nhưng không ai tin rằng những người cầm đầu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam có thể cải thiện các chùa dưới quyền họ để giảm bớt nạn kinh doanh lợi dụng óc mê tín như ở chùa Ba Vàng. Bởi vì mỗi quyết định của “Giáo Hội,” ở trung ương và nhất là địa phương, đều phải được các bí thư và đảng ủy phê chuẩn. Một ngôi chùa “phát tài” là một nguồn lợi lớn và an toàn cho các ông bà quan này. Lớn và an toàn hơn các doanh nghiệp nhà nước trong địa phương của họ. Ai muốn giết những con gà đẻ trứng vàng như thế?

Đại nạn của Phật Giáo Việt Nam hiện nay là phải sống dưới một chế độ độc tài toàn trị. Khi nào chế độ đó tan rã, mới có thể xây dựng lại xã hội, xây dựng lại đạo ý, và trùng hưng Phật Giáo. (Ngô Nhân Dụng)

‘Sư đảng viên’ Ba Vàng từng gom tiền xây chùa Quảng Nam rồi ‘biến’

‘Sư đảng viên’ Ba Vàng từng gom tiền xây chùa Quảng Nam rồi ‘biến’

Động thổ xây dựng khu du lịch năm 2016, có mặt ‘Sư đảng viên’ Thích Trúc Thái Minh, đứng giữa, đeo kính trắng. (Hình: Tuổi Trẻ)

QUẢNG NAM, Việt Nam (NV) – Trụ trì chùa Ba Vàng đã từng mượn đất cho động thổ xây dựng dự án Khu Du Lịch Tâm Linh Thiền Trúc Lâm – Quảng Nam, hay còn gọi là chùa Ba Vàng Quảng Nam, ở huyện Phú Ninh hồi năm 2016, gom tiền các Mạnh Thường Quân quyên góp rồi…“biệt tăm”.

Theo báo Tuổi Trẻ ngày 28 Tháng Ba, 2019, cho biết  hồi ngày 26 Tháng Năm, 2016, tại khu vực rừng phòng hộ Phú Ninh, xã Tam Đại, huyện Phú Ninh, Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Ba Vàng Quảng Nam tổ chức lễ động thổ khởi công xây dựng dự án Khu Du Lịch Tâm Linh Thiền Trúc Lâm – Quảng Nam (chùa Ba Vàng Quảng Nam) rất “hoành tráng”.

Đồ án khu du lịch tâm linh thiền Trúc Lâm Quảng Nam. (Hình: Tuổi Trẻ)

Tại lễ khởi công, chủ đầu tư cho hay việc xây dựng chùa Ba Vàng Quảng Nam nhằm “thúc đẩy phát triển du lịch, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng đạo đức con người đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, đời sống tâm linh của người dân,” làm nhiều người dân ở đây phấn khởi vì sắp có một dự án du lịch tâm linh lớn.

Cũng tại buổi động thổ khởi công này, nhiều nhà hảo tâm, tập thể, cá nhân đã ủng hộ hàng tỷ đồng và nhiều hiện vật có giá trị để góp phần xây dựng chùa.

Trong đó, có những nhà hảo tâm đưa tận tay hàng trăm triệu đồng tiền mặt cho đại diện nhà đầu tư, một số trao bảng tượng trưng với số tiền rất lớn, có người tặng 1 tỷ đồng. Đáng chú ý, người trực tiếp đứng ra nhận số tiền và hiện vật trên chính là “sư đảng viên” Thích Trúc Thái Minh, trụ trì chùa Ba Vàng Quảng Ninh, ngôi chùa mà những ngày qua đang gây xôn xao dư luận bởi việc gọi vong, nhập hồn thông qua hình thức công đức.

Thế nhưng, sau lễ khởi công thì chủ đầu tư thông báo, báo cáo tỉnh Quảng Nam dừng thực hiện dự án do “gặp một số khó khăn, vướng mắc.”

Theo báo Tuổi Trẻ, cho đến hiện tại, khoảnh đất mà chủ đầu tư đã làm lễ động thổ nằm bên cạnh hồ Phú Ninh vẫn để trống, người dân thả bò trên phần đất ấy và trồng keo con.

Ông Nguyễn Xuân Phước,  giám đốc Ban Quản Lý Rừng Phòng Hộ Phú Ninh, cho biết phần đất mà chủ đầu tư làm lễ động thổ và toàn bộ diện tích dự kiến xây chùa vẫn là đất rừng phòng hộ, chưa được chuyển đổi mục đích sử dụng từ rừng phòng hộ sang đất xây dựng chùa chiền.

“Họ xin mượn địa điểm là khoảnh đất trống ở rừng phòng hộ để làm lễ khởi công thôi chứ chẳng có văn bản gì hết, mình cũng thấy không ảnh hưởng gì nên để họ làm. Và từ khi làm lễ khởi công xong họ cũng chẳng làm gì hết, chưa tác động đến rừng phòng hộ khu vực này,” ông Phước nói.

‘Sư đảng viên’ Thích Trúc Thái Minh nhận văn bản tiền ủng hộ xây chùa. (Hình: Tuổi Trẻ)

Trước việc dự án xây chùa trên dừng thực hiện, rất nhiều người dân và chính quyền địa phương bất ngờ. Do vậy từ năm 2017, Ban Thường Vụ Tỉnh ủy Quảng Nam và Ban Chỉ Đạo Công Tác Tôn Giáo đã có ý kiến đề nghị Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Nam phúc trình cho biết rõ nguyên nhân dự án dừng triển khai.

Đến Tháng Tám, 2017, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Nam có phúc trình giải đáp cho biết, trong quá trình khai triển dự án, chủ đầu tư gặp một số khó khăn, vướng mắc, như thủ tục pháp lý chuyển đổi mục đích sử dụng đất, bồi thường, giải tỏa mặt bằng, công tác bảo vệ môi trường, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ khai triển dự án, nguồn vốn thực hiện. Trong đó, khó khăn lớn nhất là “không bảo đảm năng lực tài chính” nên chủ đầu tư báo cáo Ủy Ban Nhân Dân tỉnh không tiếp tục khai triển, dừng thực hiện dự án…

Điều đáng chú ý là sau khi chủ đầu tư dừng dự án này, dư luận cho rằng chủ đầu tư đã “vẽ” ra dự án để động thổ, khởi công rồi nhận tiền ủng hộ xây chùa của các nhà hảo tâm, bây giờ số tiền ấy đi đâu? Và đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. (Tr.N)

Chỉ có những kẻ ngu mới đi làm việc!

Chỉ có những kẻ ngu mới đi làm việc!

Tác giảĐỗ văn Phúc NguồnBáo Mai Tái đăng: 2019-03-27

y, xin chớ nhanh miệng mắng người viết bài này nói nhảm. Xin hãy bình tĩnh đọc cho hết từ dòng đầu tiên cho đến chữ cuối bài để thấy cái lập luận “Chỉ có những kẻ ngu mới đi làm việc!” không phải là phi lý đâu.

Từ xưa đến nay có ai thử làm một cuộc tham khảo các trẻ em, hỏi các em thích ở nhà chơi đùa suốt ngày hay thích đến trường để học. Chúng tôi tin rằng sẽ có một đa số áp đảo, có khi đến 95% các em sẽ chọn ở nhà chơi hơn là đi học. Cũng tương tự như thế, nếu làm một cuộc trưng cầu dân ý hỏi xem người dân thích được lãnh tiền để nằm nhà, ăn nhậu, đi chơi hay thích đến hãng xưởng văn phòng làm việc vất vả mỗi tuần 40 tiếng. Tôi tin rằng đa số những người lao động chân tay sẽ chọn ở nhà lãnh tiền hơn phải đổ mồ hôi trên các cánh đồng, xưởng máy. May ra chỉ có những người lương thật cao hay dân làm văn phòng hay những người yêu nghề mới thích đến sở.

Trợ cấp Phúc Lợi Xã Hội

Trước tiên, xin nêu ra một vài con số thống kê mới nhất, tính đến lúc viết bài này.

Dân số Hoa Kỳ hiện nay là 328,516,241 người, trong đó số người làm việc là 156,741,895 nhưng chỉ có 122,362,482 người đóng thuế. Lý do những người không đóng thuế có thể vì thu nhập thấp… Hoa Kỳ có 94,995,989 không lao động (vì lý do hưu trí 52,884,551; cựu chiến binh 20,889,341; tàn phế 10,161,784; học sinh, sinh viên …).

Thu nhập trung bình tính theo đầu nguời là 30,475 đô la mỗi năm. Dân số được xem ở mức nghèo khó là 38,072,087 (12.3% dân số). Số người nhận phiếu thực phẩm là 37,174, 033; nhận trợ cấp y tế miễn phí là 75,387,813; tổng cộng số người nhận các loại trợ cấp là 168,913,450.

GDP của Hoa Kỳ là 20,514 tỷ, ngân sách của Hoa Kỳ là 4,094 tỷ đô la. Một phần 3 ngân sách đó dành cho các dịch vụ phúc lợi, an sinh xã hội tổng cộng là 1,091 tỷ đô la trong đó 642 tỷ cho Medicaid và 449 tỷ cho các dịch vụ khác.

Tốn kém nhất là tiền trả cho dịch vụ y tế Medicaid cho người nghèo gia tăng nhanh; từ 1% ngân sách năm 1960, đến nay chiếm hết hơn 4% ngân sách.

Năm 2018, toàn liên bang chi ra hết 216 tỷ để chi trả cho người thụ nhận phúc lợi xã hội. Các tiểu bang chi trả nhiều nhất là: California 45 tỷ, New York 21 tỷ, Pennsylvania 11.4 tỷ, Texas 9.8 tỷ, Washington 4.7 tỷ, Oregon 4.6 tỷ. Nhưng nếu tính theo tỷ lệ dân số thì tốn kém nhất là District of Columbia (1.9 tỷ trên 700 ngàn dân, tức 2714 đô la theo đầu người). (xem phụ bản số 1).

Theo tài liệu của Bộ Y Tế và Dịch Vụ Xã Hội, năm 2010, có cả thảy 4,375,022 gia đình nhận trợ cấp phúc lợi xã hội. Qua năm 2015, mỗi tháng có khoảng 52.2 triệu người, tức 21.3% dân số Mỹ thụ nhận các phúc lợi xã hội. Trợ cấp này gồm tiền mặt (cash assistance), phiếu thực phẩm (food stamp), dịch vụ y tế (Medicaid), gia cư (housing).

Phúc lợi xã hội (social welfare) khác với An sinh xã hội (Social Security) là tiền hưu hàng tháng trả cho những người về hưu sau khi đã đi làm đóng thuế ít nhất là 40 tam cá nguyệt (10 năm).

Chương trình phúc lợi xã hội (The welfare program) nhằm giúp đỡ những gia đình hay cá nhân có lợi tức thấp hay không có lợi tức và cũng chẳng có nguồn tài trợ nào. Các chuyên viên áp dụng những phép tính rất phức tạp căn cứ vào tiêu chuẩn nghèo để ấn định ở mức độ tài chánh nào thì các gia đình hay cá nhân có đủ điều kiện thụ nhận các phúc lợi xã hội.

Các hướng dẫn cho thấy gia đình hay cá nhân phải có thu nhập kém hơn một tỷ lệ nào đó của lợi tức trung bình hàng năm trong địa phương thì mới được cấp phát trợ cấp. Ví dụ như tại Texas thu nhập trung bình hàng năm là 59,500 đô la, một gia đình 4 người nếu thu nhập dưới 30% số tiền này tức 17,850 đô la coi như đủ điểu kiện xin trợ cấp xã hội.

Tiền mặt (cash assistance) được tính toán dựa trên thu nhập hàng tháng, tiêu chuẩn về các nhu cầu và tiêu chuẩn về sự chi tiêu. Các tiêu chuẩn về nhu cầu thay đổi tùy theo khu vực cư trú, gia đình đông hay ít, giá thuê mướn nhà cửa. Tiêu chuẩn về chi tiêu ấn định mức tối đa mà gia đình sẽ được cấp phát sau khi cứu xét về thu nhập và các nguồn tài trợ nếu có. Các tiểu bang sẽ tùy nghi ấn định trợ cấp tiền mặt. Tại Texas, một người cha độc thân hay mẹ độc thân có 3 con nhỏ nhận 312 đô la mỗi tháng; trường hợp hai vợ chồng với hai con nhỏ thì lãnh 320 đô la. Tiểu bang Alaska, nơi có ấn định rộng rãi hơn, một gia đình 4 người sẽ đụoc cấp 1025 đô la tiền mặt.

Phiếu thực phẩm (food stamp) là một phần quan trọng trong trợ cấp phúc lợi. Nó còn được gọi là Chương trình Trợ cấp Phụ trội về Dinh dưỡng (SNAP- Supplemental Nutrition Assistance Program) do Bộ Nông Nghiệp (The Department of Agriculture) đảm trách. Mỗi tháng, chính phủ chi ra khoảng 4.8 tỷ đô la cho chương trình này. Các tiểu bang có thể dùng các tên gọi khác nhau. Như ở California, gọi là CalFresh với 3.8 triệu người thụ nhận, tại Texas gọi là Lone Star Card với 3.5 triệu người nhận 410 triệu đô la mỗi tháng. Tại Ohio, có 1.4 triệu người nhận SNAP.

Đại khái, tiền trợ cấp thực phẩm tối đa cho một cá nhân đơn độc là 192 đô la; gia đình 4 người là 668 đô la. Theo tài liệu năm 2018 của Tiểu bang Florida, một gia đình 4 người mà thu nhập hàng tháng 2092 đô la hay ít hơn sẽ nhận được 642 đô la tiền food stamp.

Tính chung cả hai thứ tiền mặt và food stamp, một gia đình 4 người ở Texas có thể nhận 980 đô la mỗi tháng.

Trợ cấp bảo hiểm sức khoẻ miễn phí (Medicaid)

Những người về hưu nhận bảo hiểm sức khoẻ (medicare) từ tiền họ đã bị khấu trừ vào các kỳ lương trong suốt hàng chục năm làm việc, những người thụ hưởng phúc lợi xã hội, nhận bảo hiểm medicaid tức là tiền cho không từ chính phủ. Những người nhận medicare còn phải đóng hàng tháng khoảng 130 đô la lấy từ tiền hưu bổng. Họ phải trả thêm tiền (copay) khi đi khám bệnh hay điều trị hay mua thuốc. Ít thì 10. 35 đô la khi đi bác sĩ gia đình hay chuyên khoa, nhiều thì có khi lên hàng trăm, hàng ngàn nếu đi thử nghiệm hay giải phẫu hay nằm bệnh viện.

Trong khi đó, người nhận Medicaid không phải trả một xu nào cho cả khám bệnh và toa thuốc. Khoản Medicaid này là gánh nặng lớn nhất trong chương trình trợ cấp xa hội. Hoa Kỳ đã chi ra 642 tỷ đô la để trả cho chương trình Medicaid.

Có cả một hệ thống chằng chịt phức tạp như mạng nhện của những cơ quan nhà nước, dịch vụ, nhà thầu, y bác sĩ, bệnh viện ăn bám vào đó làm cho việc trong sạch hoá trở nên khó khăn, không sao giải quyết được. Những người thụ hưởng đã lạm dụng triệt để và càng được khuyến khích bởi cái hệ thống ăn bám này vì ai cũng chia phần lợi trong đó.

Vài nhận xét về thực tế.

Như đã nói ở trên, tiền trợ cấp phúc lợi xã hội (Social welfare) và phiếu thực phẩm (food stamps) là dành cho những những người tàn tật, người lớn tuổi không đi làm mà cũng chẳng có nguồn tài trợ nào, người nghèo khó ở một mức mà chính phủ quy định. Số tiền này nhiều hay ít tùy theo từng tiểu bang, được coi là cứu đói, lẽ ra phải ít hơn tiền lương của người đi làm. Theo một tài liệu của chính phủ, thì trung bình gia đình 4 người nhận khoảng 900 đô la mỗi tháng. Nhưng trong thực tế, có nhiều Tiểu bang chi tiền phúc lợi xã hội cao hơn tiền lương lao động căn bản ở các tiểu bang đó.

Theo một bài nghiên cứu khả tín;

  • Trung bình mỗi người thụ nhận tiền phúc lợi xã hội là 1000 đô la mỗi tháng.
  • Có 39 tiểu bang trả tiền phúc lợi cao hơn người đi làm lương 8 đô la mỗi giờ.
  • Có 6 tiểu bang trả tiền phúc lợi cao hơn người đi làm lương 12 đô la mỗi giờ.
  • Có 8 tiểu bang trả tiền phúc lợi cao hơn lương trung bình một thầy giáo.

Trong một phụ bản 2 kèm theo đây, chúng tôi ghi ra 15 tiểu bang trả tiền trợ cấp phúc lợi cao nhất.

Ví dụ, tại Hawaii, một phụ nữ với 2 con nhỏ lãnh tổng cộng 49,175 đô la/năm. so với lương người đóng thuế là 60590 (trước khi trừ thuế); tính ra tiền trợ cấp tính theo giờ là 29.13, so với tiền lương giờ tối thiểu của người đi làm ở Hawaii là 9.25. Như thế, ở nhà vui chơi, lãnh lương cao hơn người lương thiện đi làm việc gần 20 đô la mỗi giờ.

Tiền trợ cấp ở Hawaii còn cao hơn lương một cử nhân mới ra trường, cao gấp rưỡi lương một thầy giáo!

https://www.cheatsheet.com/culture/states-welfare-recipients-paid-more-minimum-wage.html/

Thế cho nên, những kẻ lười biếng họ sẽ nghĩ rằng: Ngu gì đi làm cho mệt xác! Và bọn Socialist mi dân có phiếu là nhờ bọn dân lười này. Và đây cũng là lý do mà Socialism thất bại ở các nước Âu Châu khi lương một anh học trung học chẳng kém mấy so với lương một ông tiến sĩ giám đốc; khi mà người ở nhà hưởng thụ không kém người đi làm. 

Trường hợp California

Qua các số liệu vừa dẫn, có lẽ quý vị sẽ đặt câu hỏi hóc búa cho người viết rằng: các tiểu bang trả tiền phúc lợi quá cao so với dân số của họ, thì lấy tiền đâu ra.

Lấy California làm thí dụ. Tiểu bang này có 39.6 triệu dân, thu nhập tiểu bang là 2,803 tỷ, có ngân sách 179,5 tỷ mà chi ra 45 tỷ đô la tiền cho phúc lợi xã hội. Nếu tất cả mọi người dân đóng thuế, mỗi người phải gánh hết 1,136 đô la cho những người nhận trợ cấp. Trong thực tế, những người không lao động hay không đóng thuế gồm trẻ em, học sinh sinh viên, người già, tàn tật vân vân chiến khoảng 60%. Số 40% còn lại tức khoảng 1.3 triệu người đóng thuế sẽ gánh khoảng 2500 đô la cho những người nhận trợ cấp. Vậy làm sao Tiểu bang này chịu đựng nổi?

Xin thưa rằng mỗi năm, chính phủ liên bang phải chi thêm cho các tiểu bang vào ngân sách phúc lợi xã hội. California nhận thêm 26 tỷ đô la và chỉ chi ra 18.8 tỷ. New York nhận thêm 17.7 tỷ trong khi chỉ chi ra 3.4 tỷ. Philadelphia nhận 5.5 tỷ và chỉ chi 6 tỷ.

Hiện nay, thì do chính sách quá phóng túng, mị dân, California còn mở rộng thêm các dịch vụ phúc lợi cho cả hàng triệu cư dân bất hợp pháp nữa. Các tiểu bang này xem như đang lâm vào khủng hoảng ngân sách có thể đi dến vỡ nợ nếu liên bang cắt bớt tài trợ. Thống đốc trước đây của California là Jerry Brown cho hay California sẽ lâm vào tình trạng thâm thủng ngân sách khoảng 1.6 tỷ đô la. Thế nhưng ông Thống đốc mới Gavin Newsom cùng Thống đốc Cuomo của tiểu bang New York, đã tuyên bố cấp y tế miễn phí và các trợ cấp khác cho tất cả cư dân bất kể là hợp pháp hay bất hợp pháp.

Những nhà cầm quyền đảng Dân Chủ sẽ làm bất cứ điều gì dù thất sách đến đâu, miễn lấy lòng và lấy phiếu của đám dân nghèo (hay chẳng đến nỗi nghèo mà chỉ vì lười biếng).

 Tại sao mình nghèo hơn người khác?

Các nhà lãnh đạo Cộng sản, xã hội chủ nghĩa sở dĩ thành công trong việc lôi cuốn hàng triệu người bỏ phiếu cho họ trong các cuộc bầu cử hay chạy theo chịu đổ máu hy sinh làm lực lượng nòng cốt trong những cuộc bạo động, cách mạng; là do họ hiểu biết tâm lý, nhu cầu của những kẻ nghèo, thất bại trong cuộc sống. Những người này thường mang tâm lý tự ti mặc cảm, đố kị, ghen tị và hận thù đối với những người giàu có hơn họ. Nghe theo luận điệu của bọn Cộng sản, Xã hội Chủ nghĩa thì, những bọn nhà giàu này là bè lũ bóc lột, tàn ác, lợi dụng công sức của nhân công để làm giàu. Đó là cái giai cấp bóc lột, thống trị cần phải tiêu diệt để đem lại bình đẳng cho tất cả mọi người. Những người Cộng sản, Xã hội Chủ nghĩa hứa hẹn sẽ xây dựng một xã hội không giai cấp, không kẻ thống trị, mọi người được hưởng bình đẳng về mọi lãnh vực, kể cả phân phối tài sản quốc gia, săn sóc y tế, học hành miễn phí…

Không biết những người nghèo có khi nào tự hỏi tại sao mình nghèo hơn người khác?

Sở dĩ nghèo, phần lớn là do thiếu khả năng, thiếu trình độ, tài cán, thiếu ý chí vươn lên. Có những người kém may mắn, không gặp thời vận dù đã hết sức nỗ lực. Nhưng một phần không nhỏ là do lười biếng, chỉ thích hưởng thụ hơn là đem mồ hôi ra làm việc.

Xã hội tư bản thời sơ khai, không tránh khỏi có nhiều bất công, nạn bóc lột tàn tệ. Chúng ta ghi nhận sự ra đời của tư tưởng xã hội đã làm một đối lực, giúp cho chế độ tư bản hoàn thiện hơn.

Bất bình đẳng trong phân phối lợi tức, tài sản thì không thời nào không có. Ngày xưa, tài sản của các vua chúa là do cướp bóc bằng quyền lực. Tài sản của địa chủ là do mồ hôi công sức của nông dân, tá điền. Nhưng trong thời đại ngày nay, tài sản khổng lồ của các nhà tỷ phú là do từ trí tuệ sang kiến, phát minh, óc điều hành, tính toán thương trường… Họ có tiền tỷ thì người dân thường cũng hưởng lây những thành quả của họ trong cuộc sống thêm nhiều tiện nghi. Có phải chúng ta mang ơn các vị hiện có hàng trăm, hàng chục tỷ đô la như các ông Jeff Bezos, công ty Amazon, ông Michael Dell, chủ hãng Điện tử Dell, ông Bill Gates chủ công ty Microsoft, ông Mark Zuckerberg chủ Facebook. Có bất bình chăng là đối với một số viên chức chính quyền, dân cử đã lợi dụng địa vị của họ để làm giàu bất chính.

Xã hội tư bản không cho miễn học phí đại học, nhưng biết bao nhiêu sinh viên từ các gia đình nghèo vẫn thành đạt, lấy các bằng cấp từ các trường có giá trị. Bằng chứng sờ sờ là con cái người di dân tị nạn Việt Nam. Khi đến Hoa Kỳ với hai bàn tay trắng, cha mẹ làm đủ mọi việc ít lương; nhưng con cái đa số đều có bằng đại học.

Xã hội tư bản không cho miễn phí các dịch vụ y tế. Nhưng có ai bị bệnh mà bị từ chối điều trị, bị đẩy ngược ra khỏi cửa bệnh viện, cấp cứu vì không có tiền trả đâu?

Cô Ocasio-Cortez thù ghét người giàu thì cũng là tâm lý chung của bọn vô tài, thất học, luời biếng nên không làm ra nhiều tiền và trở nên ghen tị, đố kỵ, căm hận người giàu có hơn mình. Chính ông tổ Karl Marx của Cộng Sản hiểu rõ điều này nên đã khích động bọn khố rách áo ôm làm cách mạng, thống trị một nửa nhân loại trong gần 100 năm. Họ quên rằng người ta giàu lên là nhờ tài năng, óc tính toán, sự làm việc (Dĩ nhiên trừ bọn cầm quyền tham nhũng và bọn ăn theo). Chúng ta thụ hưởng những tiện nghi vật chất ngày nay là do phát minh, tài năng của những người giàu đó.

Bản thân Cortez cũng khoe có bằng về Bang Giao Quốc Tế, nhưng chắc đỗ được là do affirmative action (nâng đỡ các dân thiểu số Mễ, Đen). Vì thế, cô ta không tìm được việc làm tương xứng với cái bằng mà phải đi làm bồi pha rược ở các bar. Cortez to miệng đòi đánh thuế những người giàu 70% lợi tức của họ. Cả mụ Hồi giáo Omar cũng đòi đánh thuế đến 90%!!!

Những người xã hội chủ nghĩa này quên rằng những người giàu bạc tỷ chiếm 1% dân số, nhưng đã đóng góp gần một nửa tổng thu của tiền thuế quốc gia. Không thể tưởng tượng nổi có những người thiếu suy xét về kinh tế như thế. Nếu bị tăng thuế, những người này sẽ bỏ đi ra ngoại quốc. Ai gánh cái 50% kia cho ngân sách nhà nước? Ai chịu trách nhiệm về việc hàng triệu nhân công mất việc làm? Nhà nước lại thêm một lần thất thu thuế hàng hoá.

Nghe bọn Dân Chủ tả khuynh mà thương hại cho những kẻ thiển trí, a dua! Câu hỏi đích đáng dành cho những kẻ chủ trương Chủ nghĩa Xã hội với mọi thứ miễn phí là: họ sẽ lấy TIỀN ĐÂU để trả cho các chi phí khổng lồ đó? Và phẩm chất những thứ miễn phí thì chắc chắn là không ra gì, nếu chủ trương của họ có thể thi hành được.

Ở thành phố Albuquerque, New Mexico có một nhà hàng rất đông khách, công nhân được trả $10.50/giờ cao hơn mức lương quy định của tiểu bang là $9.00/giờ. Nhưng khi Hội Đồng Thành Phố biểu quyết nâng mức lương tối thiểu lên $12.00/giờ thì chủ nhà hàng này quyết định đóng cửa. Khi thị trưởng thành phố hỏi lý do tại sao đóng cửa, chủ nhà hàng cho biết ông ta bỏ tiền ra kinh doanh may nhờ rủi chịu, thuê công nhân với đầy đủ benefit, bây giờ thành phố nâng mức lương lên cao ông không cáng đáng được nên thà đóng cửa.

Như thế cho chúng ta thấy phía chủ nhân không thể bóc lột sức lao động của công nhân, nhưng phía công nhân cũng phải biết giới hạn sự đòi hỏi quyền lợi của mình. Cô gái pha rượu Ocasio Cortez đòi đánh thuế chủ nhân giàu 70%, nghe đâu cô vừa vớ được 10 triệu từ Netflix muốn mua tài liệu của cô, không biết cô có tình nguyện đóng thuế 70% hay không? Xin hãy chờ xem!!!

 Đỗ Văn Phúc

Mấy chuyện nho nhỏ!

Mấy chuyện nho nhỏ!

Tiểu Tử

1

Hôm đó, trên đường về nhà, tôi gặp một người đàn ông Pháp cỡ bốn mươi tuổi ăn mặc đàng hoàng, kè theo hỏi:

– Xin lỗi ! Ông là người Tàu hay người Việt Nam ?

Tôi dừng lại, ngạc nhiên, trả lời:

– Tôi là người Việt Nam.

Ông ta mừng rỡ:

– Vậy, có phải trưa hôm qua, ông đã đỡ một bà cụ té ở chỗ này không?

Tôi càng ngạc nhiên thêm:

– Không! Tôi không có đỡ ai hết!

Tôi trả lời mà nghĩ đến mấy chuyện ra tay cứu người rồi mang vạ vào thân vì sau đó nạn nhân quay lại thưa người cứu mình đã lấy tiền lấy đồ.. v v …

Có lẽ đoán được ý nghĩ của tôi nên ông ta mỉm cười ôn tồn nói:

– Ông yên tâm! Không có chuyện gì rắc rối hết. Tôi chỉ muốn tìm người Việt Nam đã đỡ mẹ tôi thôi. Bà cụ đó là mẹ của tôi, thưa ông.

– Vậy à! Nhưng mà tôi nói thật: Hôm qua, vào giờ này tôi có đi qua đây, không thấy ai té hết. Mà… bà cụ có sao không ?

– Cám ơn ông, Mẹ tôi không có sao hết.

Rồi, không đợi tôi hỏi, ông kể lại những gì mà mẹ ông đã kể cho ông nghe… Hôm qua, bà cụ đi thăm một bà bạn. Bà đi qua lối này để về nhà. Đây là ngõ đi tắt duy nhứt dẫn qua khu nhà bà ở. Khi đến khoảng đất trống có bốn trụ đèn đường, bà trợt chân té. Lúc đó, cũng có mấy người hấp tấp qua lại, họ quay đầu nhìn nhưng rồi bỏ đi luôn. Một người đàn ông Á Đông, đã đi qua rồi, thấy vậy chạy trở lại đỡ bà đứng lên, lượm cái xắc da mang chéo vào người bà, ân cần hỏi bà có sao không ? Bà bước thử vài bước, nói không sao, rồi kể rằng già rồi, đi thì được, chỉ có ngồi xuống đứng lên mới là khó. Ông ta tỏ vẻ ái ngại, bước lại cập tay bà nói để dìu bà về. Hai người đi như vậy một lúc, bỗng bà hỏi ông người Tàu hả, ông trả lời rằng mình là người Việt Nam. Mắt bà sáng lên, bà nói bà có bà bạn năm nào cũng đi du lịch Việt Nam vào dịp đầu năm, bả nói xứ ông đẹp lắm rẻ lắm, dân chúng hiếu khách dễ thương …

Đến một đoạn đường ngắn, bà cụ bỏ tay ông Việt Nam, bước một mình vừa đi vừa nói tôi đi được ông khỏi lo, tôi ở đường Colette gần đây, còn ông, ông ở đâu? Ông đó nói tôi ở khu xa hơn, phía bên kia trường học, ngày nào cũng đi và về bằng ngã này. Bà cụ đi một đỗi nhìn lại thấy ông Việt Nam còn đứng nhìn theo coi bà cụ có thật sự đi một mình được không! Tối đó, bà kể chuyện cho người con nghe, rồi sực nhớ ra, bà nói: “Chúa ơi! Tao quên nói cám ơn ông ta!”. Vậy là bà cụ bắt người con hôm sau ra lối đi tắt chận hỏi từng người Á Đông để tìm ngưởi Việt Nam đã đỡ bà chỗ “khoảng trống có bốn trụ đèn”, tìm để chỉ nói lời cám ơn mà bà đã quên nói hôm qua!

Kể xong, ông nắm tay tôi siết nhẹ. Rồi ông nhìn tôi, mắt đầy thiện cảm, nói: “Cám ơn!”. Tôi bước đi, lòng lâng lâng hãnh diện, mặc dầu tôi biết rằng lời cám ơn đó không phải cho tôi mà là cho chung hai chữ “Việt Nam” …

2-

Năm 2006, vợ tôi về Việt Nam lo ma chay cho má tôi. Sau đó, bả được mấy đứa cháu chở đi Châu Đốc viếng Chùa Bà.

Cúng vái xong, ra đến cổng chùa thì có một đám bé gái độ mười hai mười ba tuổi bu lại chen lấn nhau xin tiền. Một đứa đứng gần vợ tôi, có vẻ lanh lợi nhứt, xè tay nói một hơi có ca có kệ: “Ngoại ơi ngoại! Ngoại cho con 5000 đồng, con cầu nguyện Bà cho con gái ngoại lấy được chồng Đài Loan! Ngoại ơi ngoại! Ngoại cho con 5000 đồng, con… ”

Trên đường về, vợ tôi miên man suy nghĩ về mấy đứa nhỏ đó: Không có tiền để đi học, còn quá nhỏ để có một cái nghề, và chắc nhiều đứa – rất nhiều đứa – chỉ ước ao lấy được chồng Đài Loan khi mình lớn lên một chút! Rồi vợ tôi thở dài…

Nghe kể mà tôi thấy thương quê hương tôi vô cùng. Trước đây, dù có nghèo đi mấy cũng chưa bao giờ tệ đến như vậy! Viết lại chuyện này mà tôi nghe rát từ đáy lòng rát lên khóe mắt …

ĐẠP XÍCH LÔ

Trung đã cao lớn lại ham chơi thể thao và tập thể dục đều đặn nên anh ta rất “đô” con. Đi với tụi bạn đồng nghiệp người Pháp hay người da đen, Trung là người Việt Nam mà vóc dạc ngang ngửa với tụi nó. Có đứa nói giỡn: “Thằng này, nó ăn phở không mà nó lớn con như vậy. Nếu nó ăn bánh mì “xúc xích – phô mai” như mình chắc nó thành ông khổng lồ quá!”.

Cách đây hai năm, Trung về thăm Việt Nam. Đó là lần đầu tiên anh về. Tôi không có dịp gặp anh để hỏi thăm. Mãi đến gần đây tình cờ gặp nhau ở khu 13 Paris, anh mới kể cho tôi nghe chuyến về Việt Nam của anh lần đó. Tôi xin ghi lại chuyện nhỏ sau đây …

… Con qua Pháp với ba mẹ hồi con mới năm tuổi, bây giờ về, thấy cái gì cũng lạ! Cho nên con dành mấy ngày đầu để đi vòng vòng cho biết Sài Gòn. Con nhờ anh tiếp viên của khách sạn kêu cho con một anh xích lô bao chạy một ngày. Vậy là sáng hôm sau, đúng theo lời con dặn, anh tiếp viên gọi con dậy bằng điện thoại cho hay xích lô đang đợi, đồng thời cho biết luôn số tiền thuê bao. Con đếm số tiền rồi để riêng vào một túi quần, con muốn tránh móc bóp đếm tiền trước mặt mọi người sợ bọn lưu manh nó giựt. Con xuống tới quầy thì anh tiếp viên vui vẻ chỉ ra phía trước. Con cám ơn rồi bước ra ngoài. Thấy con, ông xích lô đang ngồi chồm hổm trên vỉa hè vội vã đứng lên chấp tay chào. Tự nhiên, con khựng lại, mặc dù ông ta đang đón con bằng một nụ cười rạng rỡ. Bác biết không? Ổng già khú, ốm nhom, nhỏ xíu. Cái nón vải đen ổng đội, đã rách bươm. Còn bộ đồ trên người ổng, con không biết tả làm sao cho bác thấy. Nó là cái áo bà ba xanh dương vá chầm vá đụp và không còn hai ống tay! Còn cái quần ka-ki là loại quần dài đã bị xé mất hai khúc ống cỡ ngang đầu gối, một bên cao một bên thấp. Đó! Ông xích lô của con đó! Bác coi: Con như vầy thì nỡ lòng nào lên ngồi cho ông già ốm nhom đó đạp xe đưa con đi. Mà liệu ổng có đạp nổi một ngày cho con xem chỗ này chỗ nọ không? Con định hồi không đi nhưng nghĩ lại tội nghiệp ông già. Cái cười tươi rói của ổng cho thấy là ổng đang “trúng mối lớn”. Con bước lại bắt tay ổng, móc túi đưa tiền, nói: “Đây, tiền công của bác trọn ngày nay đây!”. Ổng mừng rỡ, móc trong lưng ra một túi vải miệng có dây rút, run run tay mở ra cho tiền vào. Con hỏi: “Bác không đếm sao?”. Ổng cười, nhìn con: “Khỏi! Hổng lẽ cậu như vầy mà đi ăn gian tui sao?”. Rồi ổng xăng xốm chạy lại kềm phía sau xe, mời: “Cậu lên ngồi, đi!”. Con lắc đầu: “Không! Bác lên ngồi đi, để tôi đạp!”. Nụ cười của ổng tắt mất: “Ủa! Gì kỳ vậy?”. Con giải thích: “Tôi như vầy mà để cho bác đạp, coi sao được!”. Ổng vỗ vỗ lên yên xe: “Tôi đạp được! Bảo đảm! Cậu đừng lo! Cậu lên ngồi đi! ”. Con nghĩ chắc ổng sợ con chê ổng rồi không đi, lấy tiền lại, nên con ôn tồn nói: “Bác yên tâm. Bác cứ giữ số tiền tôi đưa, rồi lên xe ngồi. Tôi đạp từ từ”. Ổng bắt đầu nhìn con nửa ngạc nhiên nửa hốt hoảng. Để khỏi cù cưa, con bước lại đưa hai tay cặp eo ếch của ổng nhấc bổng lên đặt vào chỗ ngồi của khách. Ổng nhẹ đến nỗi cái xe không nhúc nhích! Rồi con trèo lên đạp đi. Ông già cứ nhìn ngược về phía sau, lo lắng: “Cậu liệu được không cậu?”. Con vui vẻ trả lời cho ông yên tâm: “Được mà… Dễ ợt hà!”. Con men theo lề đường đạp chầm chậm để tránh luồng xe chạy ồ ạt trên lòng đường. Thiên hạ nhìn con chở ông già, cười nói chỉ trỏ. Ông già ngồi không yên, lâu lâu ngoáy nhìn lại coi con ra sao! Có lẽ vững bụng nên không nghe ổng nói gì hết. Một lúc sau bỗng ổng la lớn: “Quẹo mặt! Quẹo mặt! Khúc này cấm xe xích lô!”. Từ đó, ổng chỉ cho con chạy: “Từ từ… Đằng trước có xe đậu. Khi nào kềm bằng chân không nổi thì kéo thắng ở dưới đít… .” Có lúc thấy con xiên xiên định quẹo vô một con đường nằm ngang, ổng la lên: “Đừng! Đừng! Đường cấm xe xích lô!”… Và như vậy, con đạp đi loanh quanh, nhìn ngang nhìn ngửa, yên chí có ông già coi chừng đường nhắc trước con phải làm gì… làm gì… Gần trưa, con tấp vô một quán phở, nói: “Mình vô ăn cái gì đi”. Ổng nói: “Cậu vô ăn đi, tôi không đói”. Con kéo tay ổng để cùng đi vào tiệm, ổng rị lại: “Thôi mà cậu! Tôi lạy cậu mà cậu! Cậu để tôi ngồi ngoài này giữ xe!”. Rồi ổng gỡ tay con ra, bước lại vệ đường ngồi chồm hổm bên cạnh xe xích lô, vấn thuốc hút. Trong quán, con nhìn ông già mờ trong khói thuốc sao bỗng nghe bất nhẫn vô cùng. Không còn lòng dạ đâu để ăn phở, con kêu tách cà phê uống đại rồi đi ra. Thấy con, ổng quăng điếu thuốc, đứng lên vẻ ngạc nhiên: “Ăn gì mau vậy cậu?”. Con nói trớ: “Thấy không ngon nên không ăn”. Rồi con nói tiếp: “Bây giờ, tôi trả xe lại cho bác đó! Bác cứ giữ nguyên số tiền tôi đưa hồi sáng, đừng thắc mắc. Tôi đi bộ chơi lanh quanh được rồi”. Nói xong con bước đi, lâu lâu ngừng coi cửa hàng này cửa hàng nọ. Thấy ông già cứ đạp xe rề rề đi theo, con bèn gọi một xe Honda ôm đang đợi khách ở ngã tư đường, trèo lên “ôm” đi thẳng!

Kể xong, Trung hỏi: “Nhà nước đang có lịnh cấm sử dụng xe xích lô xe ba gác, không biết bây giờ ông già đạp xích lô sẽ sống làm sao, hả bác?”. Tôi nói: “Ờ…”. Rồi nín luôn. Một cách trả lời để không trả lời!

-3

Một ông bạn ở Paris cho tôi uống một thứ trà Tàu đặc biệt ổng đem từ bên Mỹ về. Ổng cầm cái hộp vuông màu xanh ve chai đưa lên khoe: “Trà này bên nây chưa có. Nó tên là Trà Vương. Hộp 150 gr này tôi mua bên Mỹ giá là 15 đô đó!”.

Trà ngon thiệt! Vị ngọt phớt chớ không đắng hay chát như loại trà Tàu khác và nhứt là mùi thơm rất “vương giả” chớ không phải mùi lài hay sói hay sen như thường thấy. Uống cạn chén trà, hương trà còn đọng lại trong đáy chén phất lên mũi gợi thèm mùi vị đặc biệt này! Ông bạn tôi nói Trà Vương có nhiều số, nhưng số 103 là ngon nhứt!.

Tôi đã đi lùng sục ở Paris nhưng không thấy bán loại Trà Vương này. Một hôm, đi với vợ tôi ở khu 13 chợ Tàu, tôi chợt thấy một bà Á đông cầm một hộp vuông màu ve chai vừa quơ quơ ra dấu vừa nói chuyện với hai bà khác cùng ngồi trên băng gỗ vỉa hè. Tôi bước lại nhìn: Thì ra đúng là hộp Trà Vương! Mừng quá! Nghe mấy bà đó nói tiếng Việt Nam nên tôi hỏi ngay: “Phải Trà Vương không bà?”. Bả quay qua tôi, trả lời cụt ngủn: “Ờ! Mà hết rồi!”. Rồi quay về tiếp tục nói chuyện với hai bà kia. Tôi chen vào: “Xin lỗi! Bà mua ở đâu vậy?”. Lần này, không quay lại nhìn tôi nhưng bả vẫn trả lời: “Mà tôi nói hết rồi!”. Tôi không dám cười, sợ bả bị chạm tự ái. Tôi vẫn ôn tồn hỏi: “Dạ! Nhưng xin bà làm ơn cho tôi biết bà mua ở đâu vậy?”. Bả nhìn tôi, chắc coi tôi có… khùng không mà cứ lải nhải hỏi hoài. Rồi bả cầm cái hộp lia lia về hướng phía dưới con đường một chiều: “Dưới kia kìa”. Tiếp theo là bả gằn từng tiếng: “Tôi-nói-hết-rồi!”. Tôi cám ơn rồi kéo vợ tôi đi “mò” dài dài xuống “dưới kia kìa”, tiệm nào cũng vô kiếm Trà Vương! Khi đi gần … rã chân thì vào một siêu thị lớn. Họ nói: “Có!. Nhưng mà hết rồi!”. Hỏi chừng nào có nữa, họ trả lời không biết! Thì ra bà già hồi nãy nói đúng. Bả đã tốt bụng “nói cho thằng chả biết là hết rồi để thằng chả khỏi phải lội xuống tuốt dưới kia xa thấy mồ chớ bộ”!

Các bạn có thấy chuyện nhỏ này dễ thương không? Bà già đó, cho dầu có lưu vong ở chân trời góc biển nào đi nữa, bà vẫn giữ nguyên phong cách Việt Nam. Trân quý lắm, các bạn à !

-3

Má tôi mất vào ngày đưa Ông Táo. Thằng con lớn của tôi đi với má nó về Việt Nam lo ma chay. Ông thầy làm đám (phái Cổ Sơn Môn thường gọi là thầy cúng) là ông thầy Non. Cái tên này do má tôi đặt ra để tránh gọi “Thầy Con” vì ổng là con ông thầy Cả, ông này là bà con kêu má tôi bằng cô và là bạn học của tôi từ thời tiểu học ở trong làng. Kể như vậy để thấy thầy Non đối với gia đình tôi không phải là ngưởi xa lạ.

Sau đám ma, thầy Non lấy Honda chở con tôi đi đầu trên xóm dưới thăm bà con và cũng để xem vùng quê ăn Tết. Đang chạy trên đường xóm Nhà Máy, thấy một ông lái mô tô đi cùng chiều chở phía sau một chậu mai. Thầy Non nói với con tôi: “Coi kìa! Cây Mai đẹp quá kìa!”. Rồi thầy chạy kè theo để con tôi thấy rõ hơn. Ông chở mai quay qua nhìn, con tôi nói lớn cho ổng nghe: “Cây Mai đẹp quá!”. Ông đó nói: “Ờ! Mà không có bán!”. Vì tiếng máy mô tô ồn quá nên con tôi phải nói lớn hơn cho ổng nghe: “Không! Tôi chỉ muốn nói là cây Mai của ông đẹp quá hà!”. Ổng có vẻ bực mình: “Ờ! Người ta nói không có bán là không có bán!”. Rồi ổng vọt ga chạy thẳng, làm thầy Non phải ngừng xe lại để cả hai cùng ôm bụng cười! Sau đó, lại tiếp tục đi. Một lúc, thấy một ông chạy Honda chở thằng nhỏ ngồi phía sau đâu lưng với ổng, ôm trong lòng một quày dừa tươi. Con tôi, nhớ lại vụ cây Mai, muốn phá chơi nên hỏi chọc: “Dừa có bán không vậy?”. Thằng nhỏ thúc cùi chỏ vào lưng người lái xe: “Ba! Ba! Thằng chả hỏi có bán dừa không kìa!”. Người đàn ông làm thinh nhưng có vẻ suy nghĩ. Bỗng, ông ta la lên “Ừa! Bán!” rồi tấp xe vào lề ngừng lại. Thầy Non nói: “Ở chùa thiếu gì dừa! Mua chi vậy?”. Hỏi chơi mà đâu có dè ổng bán nên con tôi đành mua một trái. Ông đó nói: “Dừa tôi mua cho vợ tôi kho thịt ăn Tết. Thấy cậu hỏi mua, tôi nhường một trái cho cậu uống chơi!”. Con tôi nói cám ơn mà không dám cười!…

Sau hơn ba mươi năm “đổi đời”, cái thật thà chân chất của quê tôi, may quá, vẫn còn nguyên như cũ !

-4

Trên chiếc bắc Mỹ Thuận. Chiếc bắc chở đầy nhóc xe và người, ùng ục qua sông. Mấy người bán dạo rao hàng inh ỏi. Vợ chồng tôi đứng ở khoảng trống phía đầu chiếc bắc, nhìn sông nước minh mông với những về lục bình xanh biếc nhấp nhô trên sóng nước. Mùa này, lục bình bắt đầu nở bông nên thấy có màu tim tím e ấp lấp ló giữa những bựng lá to láng mướt. Đẹp quá! Sau hăm mấy năm xa xứ, bây giờ có dịp về thăm, chúng tôi thấy cái gì cũng đẹp! Nước sông đục ngầu phù sa… cũng đẹp! Chiếc ghe bầu phình bụng chở lúa khẳm lừ tưởng chừng như sắp chìm…. cũng đẹp! Chiếc đò ngang hay đò dọc gì đó dài thòn có cái mui bằng phẳng thấp lè tè, hai bên hông trống trơn không có gì che chắn, lướt sóng chạy bắn nước như giành sông với những ghe thuyền khác… cũng đẹp!

Bỗng, một bé gái cỡ 10 tuổi đến gần vợ tôi, tay chìa một tấm vé số, năn nỉ bằng một giọng trong trẻo nhưng nói khá to để át tiếng những người bán dạo chung quanh: “Ngoại ơi ngoại! Con còn có một vé số này thôi, ngoại mua dùm con để con còn về phụ má con lo việc nhà”. Con bé mặt mũi sáng sủa dễ thương. Vợ tôi lấy tiền mua vé số rồi vuốt đầu nó, hỏi: “Nhà con ở đâu lận?”. Chắc bả thấy tội cho con nhỏ, mới có bây lớn tuổi đầu mà bán xong còn phải lội bộ về nhà giúp mẹ! Nó nhìn vợ tôi, mỉm cười rồi mới trả lời: “Dạ! Ở xóm rạch Ngo gần đây hà!”. Cái cười của nó có duyên vô cùng. Trước khi đi, nó còn biết nói: “Cám ơn nghe ngoại!”. Tôi nhìn theo mà thấy mến cái dáng nho nhỏ thon thon của nó trong bộ đồ bà ba vải trắng đã ngả màu bùn non lờn lợt …

Một lúc sau, tôi nghe ở hành lang phía bên kia vang lên tiếng lảnh lót của con bé: “Ngoại ơi ngoại! Con còn có một vé số này thôi, ngoại mua dùm con để con còn về phụ má con lo việc nhà”. Tôi nhón gót nhìn sang: Đúng là nó! Vợ tôi hỏi: “Nó hả ?”. Tôi gật đầu mà không nén được tiếng thở dài …

Tôi nhìn ra sông nước với vài chiếc ghe thuyền đi lại, nghĩ mà thương cho thân phận người dân bây giờ… Tôi buột miệng nói: “Bây giờ… sao thấy nhiều lục bình quá hổng biết” …

Chiếc bắc vẫn ùng ục nhả khói qua sông… ráng nhả khói mà qua sông…

From: Lucie 1937

COI CHỪNG KHÔNG CÒN ĐƯỜNG NÀO ĐỂ CHẠY

COI CHỪNG KHÔNG CÒN ĐƯỜNG NÀO ĐỂ CHẠY

Huỳnh Quốc Bình

“Nếu có ai muốn từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ một cách chính thức để có thể gia nhập quốc tịch các nước độc tài cộng sản hay những nơi quá khích về tôn giáo… Thì tôi sẵn sàng giúp điền đơn hay giúp đóng tiền lệ phí nộp đơn, một cách hợp pháp…”

Người viết thường tự nhắc nhở chính mình và dạy con cái trong nhà phải ý thức rằng, chúng ta không thể xem đất nước Hoa Kỳ như chỗ để mình lợi dụng sống qua ngày, để chỉ ăn bám mà không đóng góp, hoặc chỉ để hưởng thụ vật chất mà lại không góp phần bảo vệ, vun bồi cho tốt hơn, giống như căn nhà của riêng mình.

Để làm sáng tỏ ý niệm đó, tôi xin phép thu gọn đất nước Hoa Kỳ nhỏ lại như căn nhà của một gia đình, để mạo muội nêu ra một câu hỏi rằng: Nếu chúng ta từng hoan nghênh ai đó vào tá túc trong nhà của mình lâu dài, nhưng họ chẳng bao giờ quan tâm đến nhà cửa của chúng ta. Trái lại họ chỉ lợi dụng để lén lút bòn rút tài sản của chúng ta hầu chuyển đi hay gởi về một nơi nào khác. Khi họ cần giúp đỡ thì nhờ cậy chúng ta, nhưng cứ xem chúng ta như người xa lạ hay kẻ thù của họ… Đối với loại người như thế thì chúng ta sẽ nghĩ về họ như thế nào? Người Việt Nam gọi đó là những kẻ “ăn cháo đá bát”, người Mỹ gọi đó là “cắn luôn bàn tay người đút thức ăn cho mình” (bite the hand that feeds you).

Nếu có ai nghĩ rằng Hoa Kỳ không xứng đáng là nơi để họ có thể sinh sống, thì tại sao họ không quay về cái nơi họ từng bỏ ra đi? Ngoài ra, họ cũng có thể xin “tỵ nạn Hoa Kỳ” tại các nước độc tài cộng sản như Bắc Hàn, Trung Cộng, Cu Ba và Việt Nam… hoặc những nơi quá khích về tôn giáo. Dĩ nhiên ra khỏi nước Mỹ thì rất dễ dàng, tuy nhiên nếu có ai muốn từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ một cách chính thức để có thể gia nhập quốc tịch của những nơi vừa nêu… Thì tôi sẵn sàng giúp điền đơn hay giúp đóng tiền lệ phí nộp đơn một cách hợp pháp. Tôi nói thật, không đùa. Xin giữ bài viết này của tôi để làm bằng chứng.

Chúng tôi thường xuyên nhắc nhở những thành viên trong gia đình mình rằng:
1 Một công dân Hoa Kỳ lương thiện và khôn ngoan, sẽ không ngại phê bình hay lên án những sai quấy của Tổng Thống hay chính phủ Mỹ, nhưng chúng ta sẽ không ngu xuẩn đến độ đứng ở vị trí cùa kẻ thù nước Mỹ để vô cớ hay điên cuồng lên án Tổng Thống và chính phủ của mình.
2 Một công dân Hoa Kỳ lương thiện và khôn ngoan, không thể xúc phạm quốc kỳ Hoa Kỳ, bằng cách xé, đốt hay giẫm đạp dưới chân, để bày tỏ sự tức giận Tổng Thống hay chính phủ. Thái độ đó là sự xúc phạm đối với những người đã và đang hy sinh để bảo vệ nước Mỹ. Cho dù quốc kỳ chỉ là một miếng vải vô tri, nhưng là biểu tượng thiêng liêng của nước Mỹ. Tôi không tin có ai mất dạy đến độ mang hình ông bà cha mẹ mình ra xé, đốt hay giẫm đạp dưới chân, chỉ vì tức giận anh chị em mình. Hãy để kẻ thù nước Mỹ làm điều đó nếu họ muốn, còn chúng ta là công dân Mỹ thì chớ nên dại dột làm như thế.
Chúng ta được Hiến Pháp Hoa Kỳ bảo vệ sự tự do bày tỏ chính kiến, sự bất mãn nào đó, ngay cả những “bất mãn” không chính đáng… Nhưng chúng ta không thể đập phá nhà cửa, hành hung những người không cùng suy nghĩ như mình. Luật pháp và chính sách để vận hành nước Mỹ, phải được bàn luận, hình thành trong tự do dân chủ và trong sáng tại Quốc Hội, chứ không thể giải quyết ngoài đường phố. Các nước cộng sản hay độc tài mới đáng nhận lãnh sự phẩn nộ của người dân giống như thế, chứ nước Mỹ tự do, dân chủ, thì không thể giải quyết những bất đồng bằng các loại bạo động.
3 Một công dân Hòa Kỳ lương thiện và khôn ngoan, nếu muốn chứng tỏ mình biết tôn trong quyền lợi của người khác thì cũng phải biết xem trọng quyền lợi đất nước mình. Một Tổng Thống hay chính phủ biết đặt quyền lợi tối thượng cho đất nước mà mình được cử tri giao trách nhiệm lãnh đạo, thì có gì sai? Không ai cấm chúng ta bày tỏ lòng nhân đạo với những người đến từ quốc gia khác, nhưng điều đó phải hợp pháp, hợp lý và có trật tự, giống như cựu Tổng Thống Clinton và Obama từng khẳng định:

Hoa Kỳ không phải là cái chợ trời để ai muốn vào thì cứ xé rào hay phá cổng mà vào. Người khôn ngoan sẽ không ngu xuẩn đến độ rước giặc vào nhà bằng cách mở toang cửa biên giới, hầu hy vọng đạt được danh vọng cá nhân, quyền lợi của đảng phái mà bất chấp quyền lợi hay sự an nguy của đất nước mình. Một công dân Hoa Kỳ lương thiện và khôn ngoan, sẽ không xem bất kỳ một cá nhân nào như thể thần thánh, như thể họ có quyền ngồi xổm trên luật pháp, hoặc điên cuồng ủng hộ một đảng đảng phái mà mình có bằng chứng là họ chỉ xem quyền lợi của đảng họ trọng, còn đất nước Hoa Kỳ là thứ yếu. Chúng ta sẽ không im lặng đứng nhìn những kẻ xem thường sự sống còn của nước Mỹ. Chúng ta phải can đảm chống đối và dùng lá phiểu để tẩy chay những kẻ cố tình san bằng những gì đã được hiến pháp Hoa Kỳ vạch rõ, mà những nhiệm kỳ của các Tổng Thống hay chính phủ vì dân đã bảo vệ mấy trăm năm qua.
4 Một công dân Hoa Kỳ lương thiện và khôn ngoan, sẽ không ủng hộ hay a tòng với những kẻ tìm cách loại bỏ những giá trị căn bản của nước Mỹ. Ai nhận mình là Cơ Đốc Nhân tuyệt đối không ủng hộ những giới dân cử nào cố tình cho những kẻ vô thần, hay những tôn giáo quá khích được cơ hội tràn vào đất nước mình, để rồi cùng tìm cách sửa đổi luật, cấm mọi người cầu nguyện với Thiên Chúa ở trường học và các nơi công cộng. Chúng ta không thể dễ dãi đến độ ngu khờ khi họ bày tỏ đức tin của họ thì được, còn chúng ta thì lại mất cái quyền thiêng liêng đó. Tại sao chúng ta có thể im lặng trước những kẻ tìm cách ngăn cản chúng ta bày tỏ đức tin với Thiên Chúa? Tại sao chúng ta lại bày ra hay tham dự vào những vụ bỏ phiếu để loại trừ ý niệm “one Nation under God” qua lời bày tỏ sự trung thành với Hoa Kỳ được ghi trong bản “The Pledge of Allegiance to the Flag”. Có phải chúng ta đã trở thành những kẻ dại khờ, chỉ vì muốn chìu ý những kẻ muốn triệt hạ nước Mỹ để mình khỏi bị mang tiếng là kỳ thị đức tin của người ta?
Trong tiếng Anh có câu nói đáng cho chúng ta suy nghĩ: “Người ta sẽ không bao giờ thật sự hiểu thấu một vấn đề éo le nào đó, cho đến khi chuyện ấy xảy ra với chính họ”. (People will never truly understand something until it happens to them).
Người viết tin rằng không một dân tộc nào trên thế giới có thể thấm thía về đời sống tha phương nơi xứ người cho bằng những dân tộc từng bị mất nước, trong đó có dân tộc Việt Nam.

Trong thời chiến tranh Việt Nam, một số người dân Hoa Kỳ với chiêu bài phản chiến đã biểu tình đòi hỏi chính phủ phải chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Họ đòi hỏi như thế cũng là dễ hiểu, bởi vì qua những sự tường trình về hình ảnh chiến đấu can trường của binh sĩ Hoa Kỳ và chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị bóp méo. Những cơ quan truyền thông thiếu lương thiện đã làm những điều có lợi cho bọn VC và khối cộng sản quốc tế. Kết quả sự hy sinh của trên dưới 58 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ tại Việt Nam đã trở nên vô nghĩa dưới con mắt của những người Mỹ “chống chiến tranh Việt Nam”. Hoa Kỳ “thua” một cuộc chiến, còn người Việt Nam phải mất trọn đất nước vào tay quân cộng sản kể từ ngày tan thương đó và bao nhiêu chia ly, tang tóc, liên tục xảy ra cho đến ngày nay.

Nhân dân Hoa Kỳ thật có phước vì họ được hưởng sự tự do đích thực mà khó có quốc gia nào có được. Cho nên cái câu “People will never truly understand something until it happens to them.”, có thể áp dụng cho người Mỹ với tình hình chính trị tại Hoa Kỳ hiện nay. Những người sinh ra và lớn lên tại nước Mỹ chưa có kinh nghiệm chạm trán với thực tế của những chia ly, tang tóc như người Việt Nam, cho nên nếu họ có ” take freedom for granted” là điều cũng dễ hiểu. Tiếc là trong hàng ngũ người Việt tỵ nạn có người đã chóng quên. Họ không còn ý thức vì sao họ có mặt tại Hoa Kỳ ngày hôm nay, và họ lại giống những người chuyên “take freedom for granted” tại xứ tự do này.

Tôi không ngại để nói rằng, bất cứ ai được sanh ra và trưởng thành tại quốc gia này hay được chính phủ Hoa Kỳ đón nhận vào đây sinh sống hợp pháp, thì những người đó thật sự may mắn và hạnh phúc, nếu không muốn nói họ là những người vô cùng có phước. Tại Hoa Kỳ người dân có nhiều sự tự do. Quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do bày tỏ quan điểm chính trị và nhất là quyền tự do lập đảng đối lập với chính quyền. Tiếc là nhiều người không biết trân quý những thứ tự do đó và dường như họ đang đi tìm một “thế giới đại đồng”, một loại “xã hội chủ nghĩa” thiếu thực tế, là chiêu bài của kẻ cướp, mà nhiều nước từng kinh qua và đã quăng nó vào sọt rác lâu rồi.
Cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan từng nói: “Tin tưởng nhưng phải kiểm chứng và đừng e ngại nhìn nhận sự thật…” (Trust but verify; watch closely and don’t be afraid to see what you see)

Nếu chúng ta cứ tin vào một điều gì đó mà không kiểm chứng, hoặc không dám nhìn nhận một sự thật hiển nhiên, hoặc cứ cúi đầu tin vào màn ảnh TV hay các loại tin tức một chiều, và nếu chẳng may đất nước Hoa Kỳ lọt vào tay kẻ thù của nước Mỹ, thì mọi người nên coi chừng, chúng ta sẽ không còn đường nào để chạy, kể cả những kẻ hay những cơ quan truyền thông từng làm lợi cho kẻ thù nước Mỹ.

Huỳnh Quốc Bình

Image may contain: sky, tree and outdoor

TT Trump kêu gọi Nga rút quân ra khỏi Venezuela

VOA Tiếng Việt
Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump hôm thứ Tư, 27/3, kêu gọi Nga rút quân khỏi Venezuela và cảnh báo rằng “mọi lựa chọn” vẫn được bỏ ngỏ để biến điều đó thành hiện thực.

Hai máy bay không quân Nga chở gần 100 binh sĩ Nga hạ cánh ởngoại ô Caracas hôm 23/3 càng làm leo thang cuộc khủng hoảng chính trị ở Venezuela.

Nga và Trung Quốc lâu nay ủng hộ Tổng thống Nicolas Maduro, trong khi Hoa Kỳ và hầu hết các nước phương Tây ủng hộ nhà lãnh đạo phe đối lập Juan Guaido. Vào tháng 1, ông Guaido viện dẫn hiến pháp để đảm nhận chức tổng thống lâm thời của Venezuela, ông lập luận rằng việc ông Maduro được tái cử năm 2018 là chuyện không chính danh.

“Nga phải rút đi”, ông Trump nói với các phóng viên ở Phòng Bầu dục, nơi ông đón phu nhân của Guaido, là bà Fabiana Rosales.

Khi được hỏi ông sẽ làm thế nào để khiến các lực lượng Nga rút đi, ông Trump nói: “Hãy chờ xem. Tất cả các tùy chọn được bỏ ngỏ”.

Nga có quan hệ song phương và các thỏa thuận với Venezuela, và Nga có ý định tôn trọng những điều đó, Đại sứ Nga tại Liên Hiệp Quốc Dmitry Polyanskiy phát biểu, đáp lại những lời lẽ của ông Trump.

“Mỹ không phải là nước có thể quyết định các hành động và số phận của các quốc gia khác. Mọi việc tùy thuộc vào chính người dân Venezuela và tổng thống hợp pháp duy nhất của đất nước là Nicolas Maduro”, ông Polyanskiy nói trên Twitter.

Phu nhân của ông Guaido, bà Rosales, một nhà báo và nhà hoạt động đối lập 26 tuổi, nói với Tổng thống Trump rằng ông Guaido đã bị tấn công hôm 26/3, nhưng bà không nói chi tiết hơn. “Tôi lo sợ về tính mạnh của chồng”, bà nói.

Trước đó, tại Nhà Trắng, bà Rosales gặp Phó Tổng thống Mike Pence và nói với ông rằng tình trạng mất điện và thiếu lương thực đang làm tổn thương trẻ em ở đất nước bà.

Ông Pence ca ngợi bà Rosales là người “dũng cảm”. “Thông điệp của chúng tôi rất đơn giản là: Chúng tôi sát cánh với bà”, ông Pence nói.

(Reuters)

About this website

VOATIENGVIET.COM

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump hôm thứ Tư, 27/3, kêu gọi Nga rút quân khỏi Venezuela và cảnh báo rằng “mọi lựa chọn” vẫn được bỏ ngỏ

Vì sao Phật giáo Việt Nam ra nông nỗi này?

Vì sao Phật giáo Việt Nam ra nông nỗi này?

Nam Nguyen Hoang Dao

27-3-2019

Các chân tu đã bị cộng sản tiêu diệt hay giam cầm hết rồi, thì là lúc ma tăng xuất hiện. Vụ việc lừa đảo ở chùa Ba Vàng là những gì phải đến sau những gì mà cộng sản đã làm hại Phật giáo chính thống ở VN.

Năm 1994, Hoà thượng Thích Quảng Độ bị bắt khi dẫn phái đoàn Viện Hoá Đạo đi cứu trợ nạn bão lụt ở đồng bằng sông Cửu Long, bị kết án 5 năm tù. Chỉ vì thầy không tu theo kiểu cộng sản muốn, không muốn giáo hội Phật giáo là cánh tay nối dài của tổ chức Mặt trận Tổ quốc. Việc cứu trợ của thầy không thông qua 3 tổ chức dưới quyền đảng trong đó có MTTQ theo như luật của cộng sản đặt ra làm họ rất khó chịu.

Cộng sản còn lo sợ việc cứu tế của thầy sẽ thu phục được nhân tâm của dân chúng, khiến dân chúng đứng về phía thầy, phản đối lại cộng sản, nên phải bắt bỏ tù thầy ngay lập tức bằng cáo buộc “phá hoại chính sách đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước”.

Hòa thượng Thích Quảng Độ (trái) bị bắt và đưa ra tòa Cộng sản. Ảnh trên mạng

Trong ảnh, ngoài cùng bên trái là hòa thượng Thích Quảng Độ. Một chư tăng đi cứu trợ giúp dân chân chính như vậy mà bị bắt giam, còn kẻ lừa đảo có tổ chức quy mô lớn ở Ba Vàng lại nhởn nhơ, hỏi sao không mạt pháp

Đó chỉ là 1 trong nhiều vụ án mà đảng cộng sản đã tiến hành thực hiện trong toàn bộ công cuộc phá nát Phật giáo miền nam sau 1975, để tạo dựng nên một hệ thống Phật giáo mới, nằm dưới quyền kiểm soát của đảng, mà ngày nay còn bị gọi là Phật giáo quốc doanh.

Kể từ tháng 9 năm 75, cuộc đàn áp Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bắt đầu theo Chỉ thị số 20 của Đảng do ông Lê Duẩn ký năm 1960, phát động cho quần chúng và bộ đội, công an đập phá các tượng Phật lộ thiên. Cuối tháng 9 năm 75, Hoà thượng Thích Huyền Quang nhân danh Viện Hoá Đạo, đã có văn thư phản đối Chủ tịch Cách Mạng Lâm thời về việc này.

Nhiều hiện tượng khác, như bắt treo hình Hồ Chí Minh trên bàn thờ tổ tiên, áp lực chư Tăng hoàn tục, hoặc đưa sang chiến trường Kampuchia, cấm treo cờ Phật giáo trong các chùa viện, cưỡng chiếm các cơ sở văn hoá, giáo dục, từ thiện Phật giáo, như Cô nhi viện Quách Thị Trang, Viện Đại học Vạn Hạnh, v.v… hàng chục nghìn Tăng Ni, Phật tử bị đưa vào trại cải tạo.

Trong lịch sử Việt Nam, chưa có thời đại nào mà số lượng Tăng Ni, Phật tử bị cầm tù đông đảo như dưới triều đại Hồ Chí Minh.

Tình trạng áp bức thiết khiến 12 Tăng Ni tự thiêu tập thể ngày 2-11 năm 75 tại Thiền viện Dược Sư, tỉnh Cần Thơ, dưới hàng biểu ngữ “Chết vinh hơn sống nhục“. Đáng buồn, lúc đó toàn đất nước đã nằm trong tay cộng sản, mà cộng sản nắm quyền toàn bộ thì làm gì có sự xuất hiện của những phóng viên tự do để đăng tải những sự thật khủng khiếp này. Tất cả những việc tàn ác như vậy được các chư tăng bị trục xuất hay trốn ra nước ngoài sau này kể lại.

*Chú thích: Phật giáo miền nam trước năm 1975 có danh xưng là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHVNTN) ra đời năm 1964 tại Sài Gòn. Khác với Phật giáo quốc doanh ngày nay là cánh tay nối dài của Mặt trận Tổ quốc, có danh xưng Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) ra đời năm 1981 tại chùa Quán Sứ – Hà Nội.

Chùa Liên Trì ở Thủ Thiêm bị giải tỏa cách đây mấy năm chính là chùa cuối cùng thuộc GHPGVNTN, tính riêng khu vực Sài Gòn – Gia Định cũ.

Bạn đọc có thể kiểm chứng qua lời thu âm lại của thượng tọa Thích Thiện Minh từng bị giam 26 năm trong nhà tù cộng sản:

Hay nghe từ phút thứ 6, đệ tam tăng thống Thích Đôn Hậu tố cáo:

Và tìm đọc “Hồ sơ Thống nhất Phật giáo” của Đỗ Trung Hiếu – cán bộ tôn giáo vận, góp tay thực hiện thống nhất Phật giáo dưới sự kiểm soát của Mặt trận Tổ quốc, sau này hối hận ông tiết lộ tất cả sự thật:

https://phatgiaokhongcongsan.blogspot.com/2011/05/ho-so-thong-nhat-phat-giao-o-trung-hieu.html

Ghi chú: Tựa đề do Tiếng Dân đặt

Tục cầu vong, thờ cúng ở châu Á trong mắt học giả Phương Tây

Tục cầu vong, thờ cúng ở châu Á trong mắt học giả Phương Tây

"Đi chùa đầu năm xuất phát từ mong muốn tìm một lòng tin nào đó," theo bà Giang Hà, nhà nghiên cứu triết học phương Đông.
Bản quyền hình ảnh  LINH PHAM/GETTY IMAGES

Câu chuyện chùa Ba Vàng ‘gọi vong’ ở Việt Nam gần đây lật trở lại một số vấn đề mà giới học giả Phương Tây đã nêu ra khi đề cập đến tín ngưỡng ở xã hội châu Á.

Việt Nam, giống Trung Quốc, hiện về nguyên tắc theo chủ nghĩa cộng sản vô thần, nhưng xã hội lại theo rất nhiều tín ngưỡng, đạo giáo.

Vụ thỉnh vong chùa Ba Vàng: dư luận dậy sóng

Một tài liệu của ĐH Cambridge, Anh Quốc khi nói về Việt Nam gọi đây là hiện tượng “Nhà nước cộng sản trong quốc gia tôn giáo” (Communist state in a religious nation).

Vai trò của Phật giáo, tôn giáo vốn kêu gọi tối giản các phép thờ cúng – Đức Phật khi còn tại thế đã bác bỏ nhiều nghi lễ Bà La Môn của Ấn giáo – nhưng nay lại “đồng hành cùng tín ngưỡng dân gian”, cũng được đề cập đến.

Mặt khác, như một số tài liệu của Hoa Kỳ về Myanmar ngày nay nhận định, Phật giáo cũng có mặt bạo lực và tham vọng chính trị của nó.

Tục thờ ma quỷ, vong hồn

Đầu tiên là về phong tục thờ ma quỷ, vong hồn ở vùng Đông Á.

Angela Tempest nêu quan sát rằng mỗi dịp Tết Nguyên Đán là dịp người Trung Hoa bị ám ảnh bởi ma quỷ.

Mộ Hán
Bản quyền hình ảnh  MARCO SECCHI
Mộ thời Hán với các hình nhân mã bằng đồng – ảnh từ một triển lãm tại Milan, Ý năm 2010
Hán
Bản quyền hình ảnhENCYCLOPAEDIA BRITANNICA
Đế chế Trung Hoa thời Hán. Giới sử học tin rằng chính Hán Cao tổ đặt ra truyền thống xây lăng tẩm khắp các châu quận để thời tổ tiên của ông ta

Họ tin rằng có nhiều loại ác quỷ, ngạ quỷ có năng lực hại người sống và cần trấn áp hoặc mua chuộc chúng.

Có những loại hồn ma ‘hiền lành’ hơn cũng sống cùng loài người.

Nhưng ranh giới giữa hồn ma ‘tốt’ và ‘xấu’ rất mong manh.

Món bánh dành cho người chết ở Kyrgyzstan

Miến Điện: Pháp sư nơi cửa Phật

Phật giáo Tây Tạng với sự sống và môi trường

Họ tin rằng có hai phần của linh hồn (soul) là phách (po) vốn thoát xác sau khi người ta chết, và hồn (hun) thì ở lại một thời gian và chỉ đi sau khi nhận được lễ.

Ngay cả hồn của thân nhân ta cũng có thể “quấy phá” sau khi đã chết.

Đặc biệt, các linh hồn còn chưa có chốn đi về, gọi là ‘vong linh’ (wangling – wandering spirit), cần được chú ý chăm sóc.

Dù người Hoa và nhiều dân tộc Đông Nam Á khác đều tin vào vong hồn nhưng con số vong hồn, ma quỷ có tên và đi vào sự tích văn học Trung Hoa lên tới trên 1500, cho thấy sự ‘bành trướng’ không nghỉ của tín ngưỡng này qua thời gian.

Vậy tín ngưỡng này đến từ đâu?

Mark Cartwright viết rằng tục thờ người chết đã có từ thời Đồ Đá ở Trung Hoa.

Sang đời Thương (1600 – 1046 trước Công nguyên) đã có bằng chứng khảo cổ rằng vua chúa, quý tộc thờ tổ tiên đã khuất của họ.

Hồn người chết ngự trên trời, theo đúng trật tự xã hội ‘có trên có dưới’ như xã hội dưới mặt đất, “trần sao âm vậy”.

Đây cũng là tín ngưỡng thầy cúng (shamanism) có ở cả vùng Siberia, Mông Cổ, châu Phi, Nam Mỹ và nhiều nơi trên thế giới thời sơ khai.

Amanda Ruggeri
Bản quyền hình ảnhAMANDA RUGGERI
Người Kyrgyzstan có phong tục làm món bánh bột rán phồng để cúng người chết, gọi là bánh borsook

Người nhà Thương tin rằng có thể nhờ vị shaman (thầy cúng) làm trung gian để nói chuyện với người đã chết.

Sang đời nhà Chu (1046 – 256 trước Công nguyên), tục thời tổ tiên của tầng lớp cầm quyền phát triển mạnh.

Lăng tẩm của vua chúa, quý tộc dành cho tổ tiên họ được xây ở thủ đô của đế chế.

Từ thời Hán, tục thờ tổ tiên ở Trung Hoa đã tiến lên một bước, thành vũ khí chính trị của các vị hoàng đế.

Vẫn theo Mark Cartwright, Hán Cao tổ đã cho xây 176 đền thờ tổ tiên ông ta ở thủ đô tại Trường An, và 167 ngôi nữa ở tất cả các thủ phủ châu quận.

Việc tôn thờ Thái miếu của nhà Hán trở thành tôn giáo cho cả đế chế.

Duy trì đền thờ, lăng tẩm vào thời gian đó đã cần số nhân lực 67 nghìn người.

Các quan coi lăng dâng lễ tới 25 nghìn lần một năm, tính theo tổng số lăng mộ.

Tại sao nhà Hán biến việc tôn thờ tổ tiên của vua thành quốc giáo?

Đó là vì chính quyền đề ra thuyết Thiên Mệnh để khẳng định vị thế vĩnh viễn, mang tính thần bí của quyền lực gắn liền với cá nhân hoàng đế và thân tộc.

Thiên Mệnh (Mandate of Heaven) là ý thức hệ chủ chốt của Trung Hoa, và ngày nay, theo một số tác giả, được áp dụng trong cả vấn đề lãnh thổ: thiên mệnh vươn ra đến đâu thì Trung Quốc có quyền đến đó.

Thần tính của Thiên Tử, gạch nối giữa Thiên – Địa – Nhân, là sự đảm bảo quyền lực chính trị xuyên cả không gia và thời gian.

Phật giáo cũng chấp nhận thờ cúng

Nếu như thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng sơ khai có ở khắp nơi – ai cũng muốn kéo dài sự hiện diện của thân nhân đã khuất qua lễ lạt, tưởng nhớ – thì tôn giáo có cách nhìn khác nhau về phong tục này.

Thiên Chúa Giáo cho đến các thập niên 1960 nghiêm cấm việc thờ cúng tổ tiên.

Các giáo sĩ dòng Tên (Jesuit) khi sang châu Á truyền đạo đã đề nghị với Vatican vào thế kỷ 17 cho chấp nhận một số nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người bản địa.

Hmong
Bản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM
 Việt Nam: mẹ con người Hmong ngồi nghỉ trước một nhà thờ địa phương. Ki Tô giáo vào Việt Nam khi các tín ngưỡng bản địa đã bám rễ từ lâu và tiếp tục có ảnh hưởng

Nhưng họ bị từ chối và công tác truyền giáo bị ảnh hưởng nhiều vì người Hoa, Việt và Nhật không muốn bỏ thờ cúng tổ tiên.

Người Hoa và Việt có lễ Thanh minh chăm sóc phần mộ tổ tiên và cúng vong hồn vào Rằm tháng 7.

Với người Nhật, lễ Bon là dịp quan trọng thứ nhì trong năm, chỉ sau lễ mừng năm mới, khi người ta đem hoa trái dâng lên bàn thờ Butsudan cho tổ tiên.

Phải sau Công đồng Vatican II năm 1960, Tòa Thánh mới nới lỏng lệnh cấm.

Khi đến các nước đã thờ tổ tiên, vấn đề của Phật giáo này là làm sao thuyết phục người dân xa thế sự, gia đình để tập trung vào tu tập nhằm giải thoát con người.

Nhưng các tăng ni Phật giáo thấy rất khó gỡ bỏ truyền thống có từ lâu và cuối cùng thì không ít nhà sư đã tham gia “trợ giúp” người dân thực hành các nghi lễ mang tính cầu cúng vong hồn.

Trên thực tế, nhiều năm sau khi Đức Phật giác ngộ và nhập Niết Bàn, có một phái là Vajrayana (Kim Cương thừa) đã hình thành tại Ấn Độ, nhấn mạnh đến các phép ma thuật, bắt quyết, quán tưởng để giải thoát.

Nhưng nhìn chung Phật giáo tìm cách diễn giải các nghi lễ có sẵn của xã hội bản địa Đông Á và Đông Nam Á theo cách hiểu của kinh sách Phật.

Đây cũng là sự thỏa hiệp để tồn tại và không “mất dân”.

Sau thời Tùy và Đường, Phật giáo Trung Hoa hoàn thành “bản địa hóa” để hòa trộn với nhiều nghi lễ Khổng giáo, Lão giáo và thờ cúng tổ tiên, theo Charles Custer.

Từ đó, Trung Hoa – và Việt Nam – chấp nhận Tam giáo đồng nguyên, với cả Khổng, Phật và Lão cùng tồn tại, bên cạnh các tín ngưỡng dân gian, trong nhiều thế kỷ về sau.

Phật giáo nguyên thủy không yêu cầu các lễ lạt đình đám để thờ cúng tốn kém nhưng các phái ‘bản địa hóa’ tại Trung Hoa đã diễn giải thuyết ‘giác ngộ’, và ‘giải thoát’ qua nghi thức cúng bái.

The wizards are said to gain their powers through Buddhist teachings, spells and alchemy
Bản quyền hình ảnhFANNY POTKIN
Tại Myanmar, các thầy phù thủy được cho là có được sức mạnh từ việc rao giảng Phật pháp, dùng bùa chú và thuật giả kim

Kiểm soát các nghi thức này cũng là cách để sư sãi có quyền lực với dân chúng, điều đôi khi gây ra căng thẳng với tầng lớp quan lại theo Khổng giáo.

Tôn giáo và chính trị

Có ý kiến cho rằng từ lâu nay, Phương Tây bị cuốn hút bởi mặt tâm linh và huyền bí của Phật giáo mà quên đi rằng có những lúc, tín đồ của đạo này ủng hộ bạo lực.

Các ví dụ được nêu ra là giới tăng lữ Thiền tông Nhật Bản cổ vũ cho phe quân phiệt đem quân xâm lăng Trung Quốc.

Ở Sri Lanka, Bodu Bala Sena – Binh đoàn Phật giáo – đã gây ra các vụ tiêu diệt người Hồi giáo.

Charles Haviland của BBC News viết hồi 2015 trong bài ‘The darker side of Buddhism’ rằng “bất bạo động là nguyên tắc căn bản của đạo Phật” nhưng tại Sri Lanka, đã có các nhà sư bị cáo buộc vận động, hô hào Thánh chiến và thanh lọc sắc tộc.

Gần đây hơn, dư luận thế giới sửng sốt trước các vụ kích động bạo lực chống người Rohingya ở Myanmar đến từ các vị sư Phật giáo nước này.

Đây không phải là lần đầu tiên ở Đông Nam Á, Phật giáo có mặt trong các xung đột.

Phật giáo chiến đấu (militant Buddhism) có truyền thống trong phái Tiểu Thừa và thường được biện hộ bởi khẩu hiệu Thánh chiến (Dhamma Yudhaya) để bảo vệ đạo.

Riêng tại Nam Việt Nam, theo tác giả Mark Moyar, có phong trào các nhà sư ‘chiến đấu’ (militant monks) xuất hiện thời Ngô Đình Diệm và đã tạo ra bất ổn chính trị lớn trong giai đoạn 11/1963- 07/1965.

“SỰ THẬT CAY ĐẮNG VỀ CHÍNH QUYỀN!

 

Image may contain: 1 person, smiling, outdoor
Nguyễn Thị HoàngHải

Nhặt trên fb Oanh Bùi một bài hay của nhà báo Nguyễn Như Phong:

“SỰ THẬT CAY ĐẮNG VỀ CHÍNH QUYỀN!

Chiều nay, tôi gặp một doanh nhân rất nổi tiếng, từng là đại biểu quốc hội. Anh cũng vừa nghiên cứu và đưa vào ứng dụng thành công về phương pháp xử lý nước thải từ các khu công nghiệp rất thành công, và cực kỳ độc đáo, nếu như chưa muốn nói là thế giới cũng chưa có. Từ nước thải công nghiệp, nhiễm kim loại nặng, qua tay anh xử lý, hàm lượng kim loại chỉ còn 0.03 ( thấp hơn 10 lần tiêu chuẩn cho phép)… Hồ nước thải của anh , cá Koi của Nhật lội tung tăng… và nước đó, thừa tiểu chuẩn dùng làm nước sinh hoạt ( tắm, giặt, vệ sinh, nấu cơm…) chỉ không uống trực tiếp được thôi.
Tôi bảo : ” Anh mang công nghệ này áp dụng cho mấy thánh phố lớn như HN, TP HCM…”

Anh nói ngay : ” Không bao giờ tôi làm gì dính với Nhà nước. Một xu, một cắc cũng không?”

Rồi anh quay sang nói với một nhân viên : ” Có mấy khu công nghiệp thuê mình xử lý nước thải, các cô phải kiểm tra là trong số đó có doanh nghiệp Nhà nước không? Nếu có doanh nghiệp Nhà nước,dù họ chỉ chiểm 25-30% cổ phần cũng không được làm. Cái gì dính đến chữ Nhà nước là không làm. Dứt khoát không.”

Tôi ngạc nhiên, hỏi : ” Tại sao lại thế”

Anh nói dứt khoát: ” Ký làm ăn với ông Nhà nước, hôm nay bảo đúng, ngày mai ông khác lên, bảo sai, lôi doanh nghiệp ra chém…Thế thì có mà bỏ mẹ. Cho nên từ lâu rồi, tôi là không chơi với Nhà nước. Đó là chưa kể muốn làm ăn với doanh nghiệp Nhà nước, với chính quyền mà sử dụng tiền ngân sách, không có ăn thì họ gây đủ thứ khó dễ, mặc dù biết việc làm đó là có lợi cho dân, cho xã hội…”

Nghe ông nói mà thấy choáng. Nhưng đúng thế thật! Nhỡn tiền là vừa rồi, ông muốn làm tặng cho một thành phố một khu xử lý nước thải ( làm tặng nhé), vậy mà chính quyền ” củ chuối” gây khó dễ, ông cho rút hết máy móc về luôn, và ” Chào thân ái và Quyết Thắng”