July 4 và Người Mỹ Gốc Việt

July 4 và Người Mỹ Gốc Việt

 Vi Anh

July 4 là Ngày lễ Độc Lập của Mỹ. July 4 năm nay 2019 là  July 4 thứ 44 đối với người Mỹ Gốc Việt.

Về nền độc lập của Mỹ, có vài sự kiện và ngày tháng đáng ghi nhớ. Ngày 6 tháng 7 năm 1776: thành lập Ủy ban soạn thảo bản Tuyên Ngôn Độc Lập đứng đầu là Thomas Jefferson, và thành viên là John Adams, Ben Benjamin Franklin, Philip Livingston và Roger Sherman. Ngày 6/7/1776: báo Pennsylvania Evening Post là tờ báo đầu tiên đăng bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Ngày 8/7/1776: công bố đầu tiên bản tuyên ngôn trước công chúng tại Independence Square của Philadelphia với hồi chuông lịch sử của Independence Hall lúc bấy giờ gọi là “Province Bell”  sau này đổi tên là Liberty Bell. Ngày 4/7/1776 là ngày Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bắt đầu ký. Ngày 8/7/1776 ký xong. Ngày 4 tháng 7 năm 1776 được chấp nhận là ngày kỷ niệm chính thức của nền độc lập Hoa Kỳ khỏi nước Anh.. 4/7/1777: Lễ Independence Day được cử hành lần đầu tiên.

Ngày Lễ Độc Lập của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, đại lễ July 4 của Mỹ năm nay 2019 vào Thứ Năm 4 tháng 7. Đối với người Mỹ gốc Việt July 4 này là July 4 thứ 44 trên dất Mỹ. Đây là mộtngày lễ liên bang để kỷ niệm Tuyên ngôn Độc lập được ký năm 1776.  Dân chúng Mỹ nói chung của mọi ngành nghề đươc nghỉ. Không thể thiếu những cuộc hành lễ, chào quốc kỳ, viếng di tích lịch sử, chiêm ngưỡng di vật  lịch sử tại các viện bảo tàng, bắn và xem pháo bông, họp mặt gia đình, hòa nhạc, ăn ngoài trời, chơi  hay coi bóng chày, ăn thịt nướng, tổ chức đi chơi ngoài trời, ra bãi biển, và mua những món hàng bán hạ giá ở các siêu thị. Đó là những hành động văn hoá vật thể có tính truyền thống của người Mỹ.

Nhưng  cũng không thiếu những hành động văn hoá phi vật thể, như suy gẫm, hoài niệm, hồi hướng lịch sử của nhiều người Mỹ sống nội tâm nhơn ngày khai nguyên của Hiệp Chủng Quốc Hoa kỳ. Về tiến trình lập quốc, chống thực dân, bầu quốc hội, thảo bản tuyên ngôn độc lập, suy tưởng của những nhà lập quốc, lập hiến cao minh, viễn kiến nổi bật trong hiến pháp, ý nghĩa của quốc kỳ, quốc ca Mỹ, những thăng trầm của lịch sử, những khúc quanh của lịch sử để Mỹ được như ngày hôm nay nhờ độc lập, tự do, dân chủ là yếu tố căn bản tạo thành.

Văn hoá Mỹ rất chú trọng lợi ích của việc ôn cố để tri tân. Không thể tưởng tượng được nhiều viện bảo tàng qua nhiều biến cố vẫn còn bảo tồn những di vật và di tích lịch sử như vầy đây. Trong một phóng sự nhơn ngày July 4 của VOA, có kể lại một chuyện rất cảm động về lá cờ thiêng liêng của Mỹ. Viện Bảo tàng Lịch sử Mỹ thuộc hệ thống bảo tàng viện quốc gia Smithsonian, trưng bầy lá cờ Mỹ đã 200 năm tuổi. Đó là lá cờ làm bằng tay đã tạo nguồn cảm hứng để Francis Scott Key viết bài thơ đã trở thành bài quốc ca Mỹ. Một bài quốc ca nói lên Mỹ là một hiệp chủng quốc đa sắc tộc, đa văn hoá của những người dũng cảm, những người nhập cư, nhưng là một, out of many one. 

Hỏi nước Mỹ làm sao không mạnh khi mà một thiếu niên 14 tuổi nhìn lá cờ thiêng của Tổ Quốc Mỹ có những suy nghĩ như Em Milena Carothers 14 tuổi từ Miền Tây nước Mỹ ngây ngất nhìn và nói “Lá cờ lớn hơn rất nhiều so với suy nghĩ của em. Và thật là kỳ diệu khi thấy nó được bảo trì khá tốt – ta vẫn còn nhận ra đấy là một lá cờ, không bị hư hại bao nhiêu – quả là kỳ diệu.”

Còn người lớn thì nâng niu, trân trọng những di vật buồn hay vui của lịch sử. Như Ông Andrea Lowther, giám đốc dịch vụ phục vụ khách của Viện Bảo tàng Lịch sử Mỹ cho biết: “…chúng tôi có cái mũ mà Tổng thống Abraham Lincoln đã đội vào đêm ông bị ám sát. Chúng tôi có cái hộp kê mà tổng thống Thomas Jefferson đã thảo bản Tuyên ngôn độc lập trên đó, ý tôi muốn nói không có gì hoàn hảo hơn đối với ngày 4 tháng 7 so với những bảo vật này.”

Đối với những nguời sống nhiều với nội tâm, thiên về văn hoá phi vật thể, như Bà Christine Coombs ở thành phố Gaithersburg, trong bang Maryland nói “Tự do là tất cả trên đất nước chúng ta. Tôi nghĩ đó là ý nghĩa của đất nước chúng ta. Đó là biểu trưng của chúng ta – là khả năng được chọn lựa. Tôi thực sự yêu mến tôn giáo của tôi và điều quan trọng đối với tôi là được quyền chọn lựa.”

Ông Ronnie Stephens, ở Jacksonville, Florida nhận định: “Tôi nghĩ là người Mỹ, chúng ta thường cho các quyền tự do mà chúng ta có là điều đương nhiên. Tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta cần ngưng lại và suy ngẫm về mức độ lợi ích của việc chúng ta được hưởng các quyền tự do đó bất kể chúng ta theo đường lối chính trị nào. Chúng ta có thể cùng đến với nhau và tận hưởng những gì chúng ta có ở đây.”

Nền độc lập, tự do, dân chủ Mỹ là một kinh nghiệm máu xương, quí giá nếu không muốn nói là bài học rất có ích cho người Việt..Lich sử tự do, dân chủ Mỹ có cả 241 năm, còn dài hơn Pháp nữa; cách mạng tự do dân chủ của Pháp xảy ra vào năm 1789. Còn Mỹ  độc lập tự do, dân chủ năm 1776. Người Việt chỉ có 20 năm tự do, dân chủ thời Việt Nam Cộng Hoà.

Kinh nghiệm cho biết tự do, dân chủ không phải đương nhiên mà có. Phải chiến đấu, phải tranh đấu mới có. Không bao giờ ngồi không chờ mà được. Đoàn quân của 13 tiểu bang tiền thân của quân đội Mỹ đứng lên giành độc lập từ chế độ thuộc địa Anh, thiếu súng, thiếu đạn, thiếu cả giày vớ, mùa đông giày rách, vớ rách máu chân thấm đỏ đường hành quân đầy tuyết trắng.

Người Việt di tản qua Mỹ định cư được 44 năm. Nhờ tự do, dân chủ Mỹ, người Việt đã đạt được những thành tích xuất sắc. Vận động khéo léo với chánh quyền các tiểu bang, quận hạt và thành phố Mỹ giương cao quốc kỳ VN Cộng Hoà nền vàng ba sọc đỏ lên, được chánh quyền của một trăm mấy chục thành phố thừa nhận là biểu tượng, là di sản tự do, dân chủ của người Mỹ gốc Việt. Người Mỹ gốc Việt đưa quốc kỳ VN nền vàng ba sọc đỏ vào nghi thức các lễ hội chánh trị và văn hoá. Quốc kỳ, quốc ca  VN Cộng Hoà được chào kính, ca vang lên. Kể cả trong các cuộc biểu tình chống Cộng cũng trương cờ VN lên như biểu tượng của tự do, dân chủ, nhân quyền VN.

Lý tưởng, chánh nghĩa tự do, dân chủ mà người Mỹ gốc Việt đấu tranh cho đồng bào mình trong nước đã và đang bị CS độc tài đảng trị toàn diện tước đoạt, được chánh quyền Mỹ, đặc biệt là Quốc Hội Mỹ tích cực yểm trợ. Vì lý tưởng tư do, dân chủ này cũng là giá trị truyền thống, lịch sử của Mỹ, mà ngày lễ Độc Lập July 4 là ngày kỷ niệm, hòai niệm, tưởng và suy niệm. Nhứt là người Mỹ gốc Việt cần suy niệm để giúp cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN của đồng bào trong nước sớm thắng lợi./. (VA)

Linh Mục mới nhất Hoa Kỳ, David Michael Moses, tốt nghiệp đại học năm 18 tuổi.

Linh Mục mới nhất Hoa Kỳ, David Michael Moses, tốt nghiệp đại học năm 18 tuổi.

Phan Sinh Trần

Hai năm trước đây, trong bản tin vào ngày  27 tháng 7  đài truyền hình ABC, đã giới thiệu  về một nhân vật đặc biệt như sau:

Khi bạn nghĩ về một linh mục Công giáo, bạn có thể không nghĩ đến việc ông trình diễn nhạc Rap, chơi trống hát solo và lướt mình trên đám đông. Tuy nhiên, một chủng sinh địa phương đang thay đổi nhận thức đó và ông hy vọng điều này sẽ truyền cảm hứng cho những người trẻ sống một cuộc đời tận hiến cho ơn gọi của Chúa.

David Michael Moses hồi đó, vốn  là một chủng sinh 23 tuổi, đang tu học tại chủng viện St. Mary’s ở Houston.

Lớn lên trong một gia đình đạo đức có tới mười hai anh em, David có một bộ óc thần đồng, anh theo học đại học năm 14 tuổi, tốt nghiệp loại giỏi năm 18 tuổi, được học bổng theo học tại trường luật sáng giá chuẩn bị cho một tương lai trong hàng ngũ các luật sư danh tiếng nhất và có lẽ sẽ trở nên rất giàu có. Tuy nhiên, ngay từ năm 16 tuổi khi cầu nguyện với Chúa về định hướng cuộc đời, Chúa dành cho David một lời mời gọi khác, và sau khi suy nghĩ và tiếp tục cầu nguyện … cuối cùng anh can đảm đi theo ơn gọi của Chúa.

Thần đồng David viết nhạc từ năm lên 10 tuổi, anh thông thạo nhiều loại nhạc cụ như piano, guitar, harmonica, trống. Anh có thể hát nhạc Rap, Blue và Rock… do chính  mình sáng tác để đề cao tính cao quý của sự sống và mô tả nét đẹp của tình yêu Chúa, sự kỳ diệu của Tin Mừng Chúa. Anh trình diễn ở các hội trường đại học Houston, Dallas, …

Năm nay, tháng sáu 2019, Chủng sinh David Michael được thụ phong, làm linh mục phục vụ ở Tổng giáo phận Galveston-Houston. Được tham dự thánh lễ sốt sắng của Cha dâng tại giáo xứ thánh Faustina, cho dù dáng vẻ bên ngoài trông cha trẻ như một cậu học sinh trung học vừa tốt nghiệp, Cha toát ra sự thánh thiện, và yêu đời. Cha cử hành thánh lễ với sự chuyên chú sốt sắng, cha cầu nguyện trước Thánh Thể cách say sưa. Nói chuyện với Cha, các bậc phụ huynh thường vui mừng và thầm mong ước gì con cháu mình cũng yêu Chúa như Cha.

Thật là một ơn đặc biệt Chúa chúa ban, Chúa vẫn còn ưu ái nước Hoa Kỳ giữa cơn khủng hoảng trong Giáo Hội. Thật đúng như lời Chúa đã dạy:

–                   vì ở đâu tội lỗi gia tăng, thì ở đó ân sủng siêu bội (Roma 5:20)

Từ năm 2015 đến nay, Cha tổ chức các buổi “Hòa nhạc cho cuộc sống” vào cửa miễn phí, đem đến bao nhiêu hứng khởi cho người tham dự, các em giới trẻ rất quý mến và hâm mộ Cha như một hình tượng tiêu biểu của giới trẻ, một ngôi sao nhạc trẻ vừa duyên dáng yêu đời vừa quá thánh thiện. Thật là một hình ảnh tuyệt vời quảng bá nét đẹp của ơn gọi, “Ai bảo đi tu là khổ, đi tu sướng lắm chứ”.

Thiện nguyện viên của chương trình “Hòa nhạc cho cuộc sống” đã  quyên góp được hơn 400.000 đô la. Số tiền này được dành riêng và dành hết cho các tổ chức ở Houston trợ giúp các em gái trẻ gặp khủng hoảng vì lỡ mang thai vô thừa nhận. Cha và ban nhạc đã đoạt giải thưởng “Âm nhạc để mang đến thay đổi”.

https://www.youtube.com/watch?v=PvesbCXM3no

Cha có lời nhắn gởi sau đây cho các bạn trẻ:

–    … không có gì thú vị hơn một cuộc sống dành cho việc theo đuổi sự thánh thiện. Luôn luôn cảm nhận thật nhiều yêu thương, hướng đến sự trọn hảo khi mình được sống trong sự thân mật, sâu sắc hơn với Thiên Chúa… được kinh nghiệm về các mầu nhiệm, được có cơ hội xoa dịu các nỗi đau nơi các tâm hồn đang cần được chữa lành, cần được cảm thông. và một cuộc sống vĩnh cửu… Bạn chỉ có một cuộc đời và trở thành một người tin Chúa là hành trình vĩ đại nhất. Đừng đánh mất nó!

https://www.youtube.com/watch?v=fvI5D6BSU9I

Mời bạn tham dự buổi ca nhạc đặc sắc, miễn phí của Cha David  Michael Moses tại Revention Music Center, 520 Texas Ave, Houston, TX 77002, Ngày 1 tháng 8, 2019. Từ 7:30 -9:00 PM

Dân mình đáng thương lắm, bị lừa mà vẫn cứ ngây ngô mãi.

Image may contain: mountain, outdoor, nature and water

Nguyễn Thị HoàngHải

Dân mình đáng thương lắm, bị lừa mà vẫn cứ ngây ngô mãi. Dù đem biết bao nhiêu là sự thật, vẫn cứ vờ đi! Là vì sao? Vì bị nhồi sọ, nhồi sọ có quy trình và bài bản.

Làm ơn mở mắt đọc, rồi tư duy, rồi so sánh bài viết với thực tế dùm tôi, để thoát khỏi cảnh bị lừa biến thành nô lệ.

Bây giờ tôi hỏi, rồi tự trả lời và so sánh với câu trả lời của tôi xem có đúng không nhé!

1. Các bạn có biết ai là người đưa CNCS vào VN?
Trả lời: HCM

2. CNCS đã đem lại lợi ích gì cho dân tộc VN?
Trả lời: chỉ đem lại chết chóc và nghèo đói, tất nhiên không riêng gì VN mà cả khối CNCS ở Đông âu đã chết mấy chục vạn người và sụp đổ từ 1990 do kinh tế lụn bại. TQ chỉ nhìn Thiên An Môn đã thấy độ tàn ác. Vn thì học theo ccrđ của TQ đã giết gần 200 ngàn người! (Còn nữa: mong các bạn bổ sung) Còn VN thì nhìn thực tại quá rõ: dân nghèo khổ nuôi một lũ quan tham!

3. Vì sao đảng CSVN tuyên truyền dựng tượng HCM trong lòng dân, và sau đó xây tượng cho dân ngắm. Lại còn năm nào cũng phát động học tập- làm theo tấm gương đạo đức HCM?
Có 3 ý để trả lời: 
a. họ dựng tượng HCM trong lòng dân bằng hình tượng yêu nước, dám hy sinh cả đời cho tổ quốc, không lập gia đình, quên hết bản thân, từ CN yêu nước của ông họ muốn kêu gọi nhân dân hãy theo ông ấy, và rằng đảng mà ông ấy lập ra cũng sẽ như ông ấy. Dân tin sái cổ là đảng viên ai cũng có phẩm chất như ông. 
b. Sau khi dân tin sái cổ vào đảng, thì họ bắt đầu dựng tượng thật để móc khoét các bức tượng (nghĩa đen hẳn hoi nhé). Đảng càng ấm no. Nhưng dân thì đói khổ vì phải đóng thuế vào ngân sách để đảng xây tượng đài.
c. Họ củng cố thêm để cho dân tin vẹo cổ hơn nữa, đó là hằng năm phát động phong trào học tập sống và làm theo tấm gương đạo đức HCM (mỗi lần như thế tốn kém đâu có ít, mấy triệu đảng viên, công chức mà). Như vậy dân luôn tin đảng ta liêm khiết trong sạch như bác vậy.

Bây giờ tôi mời nhìn lại những điều này:
– hãy kiểm tra xem có nhà cán bộ nào nghèo không? (Dù theo quy định chung của nhà nước thì mức lương cb nn đều theo ngạch cơ bản)
– Hãy để ý xem con cái của cán bộ học ở đâu, ở những trường gọi là trường điểm, những trường có mức học phí rất cao. Đúng không? Và rất nhiều cán bộ cho con du học nước ngoài.
– Xem lại tầng lớp người lao động trực tiếp làm ra sản phẩm, đời sống họ thế nào? Có phải họ lam lũ suốt ngày mà không đủ sống, họ phải đi tha phương cầu thực cả trong nước và ngoài nước để kiếm ăn…. nhiều nữa lắm, các bạn giúp tôi liệt kê ra.

Các bạn có nhìn thấy công bằng không? Dù họ luôn trương các khẩu hiệu đầy ở các công sở, ngã tư và ngang các ngã đường: phấn đấu vì một XH công bằng, dân chủ, văn minh. Rồi CHXHCNVN quang vinh muôn năm. Rồi chủ tịch HCM vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. …. ôi, còn nhiều lắm, kể tiếp hộ tôi!

Chỉ chừng ấy thôi là các bạn đã nhận ra cái sự lừa.

Tôi thật tình muốn các bạn nhìn vào sự thật, tha thiết muốn các bạn hiểu chính chúng ta sẽ phải làm gì. Viết ra thế này cũng đau lắm, nhưng tôi không muốn đau một mình, hãy chia sẻ cùng tôi!

Chị Hon – 22 năm lưu lạc và cuộc sống địa ngục ở xứ Tàu Cẩu.

Image may contain: 3 people, people smiling
Giáp Ngọc Duyên is with Giáp Ngọc Duyên.

Nguồn Copy !

Chị Hon – 22 năm lưu lạc và cuộc sống địa ngục ở xứ Tàu Cẩu.

Năm ấy chị Hon vừa tròn 21 tuổi, xinh đẹp và hoạt bát. Từ miền quê Đông Điền chị lên TP Bạc Liêu làm phục vụ nhà hàng. Vào một đêm tối trời năm 1997, như bao đêm khác, chị phục vụ một nhóm khách, sau khi ăn vài miếng thức ăn và uống một ly rượu sẫm để chiều khách, chị thiếp đi. Tỉnh dậy, chị thấy mình bị nhốt ở một nơi xa lạ cùng 20 cô gái trẻ khác, sau này mới biết, đó là một căn nhà ở Trung Quốc. Ngay tối hôm đó, chị bị đưa đi tiếp khách toàn đầu trọc, mắt híp.., khi không chịu, chúng đã tra tấn chị dã man như thời Trung cổ. Không chịu nổi đòn, chị chấp nhận bán dâm. Từ đó, hàng ngày chị cùng với các cô gái khác lê lết theo đám ma cô đi từ Khu tự trị dân tộc Choang (Quảng Tây), sang tỉnh Phúc Kiến, Ôn Châu làm trò mua vui cho các đại gi, có lần chị tiếp hơn chục khách mỗi ngày đến thân tàn ma dại không còn cảm giác.

Ngày này qua tháng khách chị tiếp không biết bao nhiêu người đàn ông, từ thằng gầy tong teo như nghiện đến những gã béo ngậy toàn mỡ. Tấm thân của chị bị dày vò như một món đồ chơi,… Vào một buổi chiều khi bị ma cô lơ là, chị đã trốn khỏi hang ổ quỷ dữ và chạy như điên dại về nơi vô định, chị cứ chạy mãi, chạy mãi rồi gục ngất bên ngôi mộ trong một cái nghĩa địa. Tỉnh dậy, chị thấy mình nằm trong một ngôi nhà lạnh lẽo, tỉnh lại chút, chị thấy ngôi nhà đó chính là lầu xanh mà chị vừa trốn ra. Mụ chủ trắng béo như lợn cạo mắt ti hít phẩy tay 1 cái, 3 thằng xăm trổ lao vào người đè chị xuống và tiêm cho chị 1 liều thuốc màu nâu đục, rồi chị lại ngất đi. Tỉnh dậy, chị không còn biết mình là ai, đến từ đâu, não gần như bị tẩy trắng, quên cả tiếng mẹ đẻ, trong đầu lúc nào cũng mơ màng luẩn quẩn câu hỏi mình là người nước nào, Thái Lan, Việt Nam hay Lào…

Mười năm bị ép làm gái, chị thân tàn ma dại, ế khách, chúng bèn thanh lý chị như một món hàng, với giá 200 triệu đồng. Người mua chị là một người đàn ông ở tít một ngôi làng xa xôi tỉnh Phúc Kiến. Chị về làm vợ ông ta. May sao, bà mẹ chồng rất yêu thương chị, dạy chị nói tiếng, cách nội trợ nữ công gia chánh theo văn hoá địa phương, hoà nhập cộng đồng theo phong tục. Tuy nhiên cách đây chừng 4 năm, bà mẹ chồng ốm yếu bạo bệnh, trước khi chết, bà cầm tay chị và nói: “Đừng xa con ta nhé”… Rồi bà chết.

Những tưởng cuộc đời mình sẽ mãi mãi nằm lại nơi đất khách quê người, nhưng vì không đẻ được con, nên một ngày, chồng chị mang về một người phụ nữ khác – không biết nên buồn hay nên vui, nhưng đúng là định mệnh. Khi chồng chị có vợ mới, ông ta hắt hủi và đánh đập chị thường xuyên. Mặc dù thương và nể bà mẹ chồng đã khuất, nhưng trong lòng chị lúc nào cũng hoang hoải với câu hỏi mình là ai, người nước nào. Rồi bỗng 1 lần trên tivi có chiếu 1 bộ phim, chị loáng thoáng nghe thấy từ “Ăn cơm” và nhân vật có đếm “Một, Hai, Ba, Bốn….” Bỗng ký ức của chị trở về trong tiềm thức, như một cơn sóng nhỏ, chị nghĩ thầm “mình là người Việt Nam”. Từ đó chị bắt đầu nung nấu ý định trốn nhà chồng tìm đường về quê hương xứ sở.

Rồi, chưa kịp tìm đường chạy trốn, trong một đêm giông bão tối trời, chị bị ông chồng đánh đập và tống ra khỏi nhà. Dù đau đớn và sợ hãi nhưng đây cũng là cơ hội để chị chạy trốn, chị đã đội mưa chạy mãi, chạy mãi rồi cũng sáng ra, chị bắt đầu cuộc sống lang thang làm thuê làm mướn kiếm tiền sống lay lắt qua ngày và trong lòng nung nấu tìm đường về Cố Hương. Một ngày, chị lạc vào một ngôi đền, và chị ở đó niệm phật cầu cúng 3 ngày chỉ uống nước không ăn gì. Rồi có người mách cho đường về biên giới, chị lần mò bao ngày mới đến được khu vực đường ranh giới giữa hai nước, thế là chị chạy, cứ ngã rồi lại dậy, vùng biên giới cỏ lau um tùm, chị cứ thế mà chạy rồi cũng đến khu vực cửa khẩu Việt – Trung.

Những người ở biên giới phát hiện ra chị, một phụ nữ trong tâm trạng hoảng loạn đã đến hỏi han và làm mọi thủ tục để chị được trở về quê hương. Những người tốt bụng và các cơ quan chức năng ở Lạng Sơn đã nhờ mạng xã hội tìm người thân cho chị. Hai ngày sau, anh trai chị đã đi từ Bạc Liêu ra Lạng Sơn đón chị, phút gặp nhau sau 22 năm đớn đau tủi cực, chị đã khóc tu tu như một đứa trẻ, niềm hạnh phúc được trở về cố hương cùng những tủi hổ khiến chị không thể kiềm chế. Rồi chị cũng đã về đến Bạc Liêu, gặp lại người mẹ 82 tuổi của mình, chị đã khóc oà vì những điều đã xảy ra với mình, trong vòng tay mẹ già, chị đã tìm thấy được bình yên của cuộc đời.

BÌNH AN

BÌNH AN

 Nói đến các trường đại học nổi tiếng tại thủ đô Manila Phi Luật Tân, người ta không thể không nhắc đến đại học Ateneo de Manila của các Linh mục Dòng Tên.  Đây là một trong những trường cung cấp rất nhiều nhân tài cho nước Phi Luật Tân và dĩ nhiên là đa số học sinh và sinh và sinh viên của đại học này đều là thành phần khá giả trong xã hội. 

Dưới chân trường học nằm trên một ngọn đồi này là một khu lao động nghèo mà có lẽ nhiều người không biết đến, và trong cái xóm nghèo nàn ấy có một cộng đoàn tu sĩ mà có lẽ nhiều người không biết đến, đó là cộng đoàn các tiểu đệ Charles de Foucaul, đa số các tu sĩ sống ở đây là người Việt Nam hoặc từng sống ở Việt Nam.

 Một hôm, một Linh Mục Dòng Tên người Mỹ là giáo sư đại học Ateneo tình cờ đi lạc vào trong cái khu lao động ấy, điều làm cho ông ngạc nhiên là trong cái khu nghèo nàn đó lại có một người Bỉ, đây là một tiểu đệ đã sống ở Việt Nam gần 30 năm và đã bị trục xuất sau năm 1975.  Sau một hồi trao đổi với nhau, vị linh mục người Mỹ mới hỏi người Bỉ như sau: Ông làm gì ở đây?  Người Bỉ trả lời: Tôi đi chợ, tôi nấu ăn, tôi giặt quần áo, tôi sống với những người anh em nghèo trong khu lao động này.

 Nghe thế vị linh mục người Mỹ như có vẻ tiếc rẻ sự hy sinh lãng phí của người Bỉ.  Ông nói về mình như sau: Còn tôi, tôi sang đây là để dạy học và thuyết trình.  Tôi đi đây đi đó, tôi đào tạo những người hữu ích cho xã hội.

 Cuộc gặp gỡ và đối thoại trên đây giữa hai vị tu sĩ trong Giáo Hội, có lẽ cho chúng ta thấy được một số những khía cạnh khác nhau trong công cuộc truyền giáo trong Giáo Hội.  Vị Giáo sư người Mỹ trên đây là điển hình cho một đội ngũ đông đảo các nhà truyền giáo trong xã hội trên khắp thế giới, từ thành thị cho đến thôn quê, từ học đường cho đến các xưởng, từ đất Kinh đến miền thượng… nơi nào cũng có những nhà truyền giáo ngày đêm hăng say truyền giáo và hoạt động.  Nếu có những nhà truyền giáo hăng say hoạt động và rao giảng, thì cũng có những nhà truyền giáo sống giống như chứng nhân Tin Mừng.

 Việc tiểu đệ Charles de Foucaul người Bỉ trên đây có lẽ là tiêu biểu của không biết bao nhiêu nhà truyền giáo âm thầm lấy cuộc sống chia sẻ của mình như một chứng từ cho Nước Chúa.  Tựu trung tích cực hoạt đồng hay âm thầm sống chứng nhân, cả hai hình thức đều có chung một sứ mệnh, đó là làm chứng cho Đức Kitô và mở mang Nước Chúa.  Cả hai đều được sai đi, cả hai đều bị ràng buộc bởi một đòi hỏi cơ bản nhất mà Chúa Giêsu đã đề ra cho các đồ đệ khi Ngài sai các ông lên đường rao giảng Tin Mừng.  Ngài nói với các ông: “Các con đừng mang theo túi, tiền, bao bị, giầy dép và đừng chào hỏi ai dọc đường.”  Như vậy, một cuộc sống siêu thoát một cuộc sống không lệ thuộc vào những của cải trần gian này, đó là biểu hiện tiên quyết của những chứng nhân Nước Trời.

 Ra đi không hẳn là rời bỏ quê hương xứ sở của mình để đến một vùng đất xa lạ.  Ra đi thiết yếu là ra khỏi chính mình, ra khỏi con người ích kỷ của mình để đi đến với tha nhân trong tinh thần hòa giải, yêu thương, phục vụ quên mình.  Đó là ý nghĩa của mệnh lệnh mà Đức Giêsu trao ban các môn đệ khi Ngài nói: “Vào nhà nào trước tiên các con hãy nói: Bình an cho nhà này.”  Hiện diện với tha nhân bằng tinh thần chia sẻ, cảm thông, tha thứ, đó là sự ra đi đích thực của nhà truyền giáo.

 Giáo Hội tự bản chất là truyền giáo.  Điều đó có nghĩa là Giáo Hội phải thể hiện ý muốn của Nước Trời mà Chúa Giêsu đã loan báo, nước của công lý, nước của hòa bình, nước của yêu thương, nước đó phải được tìm thấy trong Giáo Hội của Đức Kitô.  Là thành phần của Giáo Hội, mỗi người tín hữu chúng ta tự bản chất cũng là một nhà truyền giáo.  Điều đó cũng có nghĩa là những giá trị của Nước Trời cần phải được thể hiện trong chính cuộc sống của chúng ta. 

Người tín hữu Kitô sẽ chỉ là người có tên gọi, có danh nghĩa mà không có thực chất nếu cuộc sống của họ chưa thực sự là một chứng nhân của Nước Trời.  Trong một xã hội nếu chỉ có những lời lẽ rêu rao và những khẩu hiệu rỗng tuếch thì con người chưa đạt được những thực tại của Nước Trời, hơn bao giờ hết người tín hữu Kitô Việt Nam chúng ta đang đứng trước một thách đố lớn, đó là trở thành những điểm tựa đáng tin cậy, những chứng từ sống động của những thực tại Nước Trời.

 Chúng ta sẽ phải sống như thế nào để những người xung quanh nhìn vào sẽ phải thốt lên sự bỡ ngỡ như các người Do thái ngày xưa nhìn vào các tín hữu tiên khởi đã phải thốt lên: “Xem kìa, họ thương nhau là dường nào.”  Kitô giáo thiết yếu là một sức sống, sức sống ấy chính là Đức Giêsu Kitô, và sống đạo là sống bằng chính sức sống của Chúa Giêsu và truyền đạt sức sống ấy cho mọi người xung quanh.  Chúng ta hãy xin Chúa mở rộng tâm hồn để đón nhận sức sống ấy và chia sẻ sức sống ấy với tất cả mọi người qua mọi thế hệ. 

Sưu tầm

 From: Langthangchieutim

Không phải chỉ có một Lê Thanh Hải | Tiếng Dân

Ngày 27/6/2019, khi báo chí nhà nước hỏi về kết luận Thanh tra Chính phủ vụ Thủ Thiêm, ông Lê Thanh Hải, người có hơn 15 năm lãnh đạo cao nhất, từ Chủ tịch đến Bí thư Tp HCM, trả lời: “Giờ tôi hưu rồi, có làm được gì mà trả lời…!”.

Chỉ 2 hôm sau, ngày 29/6/2019, ông Hải lại có bài phát biểu dài tại Hội thảo 50 năm Đảng bộ Tp HCM. Ông nói “… còn có một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động về phẩm chất chính trị, ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’, suy thoái, sa sút về phẩm chất đạo đức”.

Rồi kết luận “Các cấp, các ngành, mỗi cán bộ, đảng viên phải bám sát thực tiễn, trọng dân, tin dân, lắng nghe ý kiến của dân và kịp thời giải quyết thỏa đáng các vấn đề bức xúc của nhân dân, quan tâm nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, không ngừng nỗ lực chăm lo tốt đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân, nâng cao ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân. Càng khó khăn, trắc trở càng phải lắng nghe dân, dựa vào dân, xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Nội dung và kết luận bài phát biểu mới nghe cứ tưởng là của một ông tai to mặt lớn nào đó suốt ngày ngồi trong phòng máy lạnh nghiên cứu về lý thuyết CNCS nên chẳng hề hay biết bên ngoài và cũng chưa bao giờ đặt chân đến Tp HCM, chứ không phải là chính ông Lê Thanh Hải! Vì thế dù có hàng chục ngàn người dân bị cướp đất, cướp nhà, phá chùa… phải sống đói rách, lây lất lang thang đi kêu cứu khắp nơi từ địa phương ra đến Hà Nội ròng rã những hơn 20 năm… chỉ như là “chuyện rất ngạc nhiên vì vô can”!

Cách dạy dỗ như vậy không phải riêng của một Lê Thanh Hải mà là của tất cả lãnh đạo đảng hiện tại. Giữa hậu quả do chính họ gây ra và việc họ nói như chẳng hề có liên quan với nhau. Họ chủ trương “dân chủ tập trung” là “cha chung không ai khóc”. Họ chỉ “làm công việc do đảng giao” như ông Nguyễn Tấn Dũng từng lý luận, nên ông Dũng không chịu trách nhiệm về hậu quả. Cứ đổ vấy chạy tội, cùng đường thì trút lên đầu… “lỗi tại thằng đánh máy”(!)

Rồi đọc chuyện kể của một người dân 3 đời sống/chết với đất Thủ Thiêm, từng nuôi dưỡng, bảo vệ các “đồng chí” thời trước năm 1975 để hiện tại là dân oan những hơn 20 năm.

“Sống nghèo, chết khổ” là hình ảnh trung thực của gia đình ông/bà/cha/mẹ chị Nguyễn Thùy Dương. Cách hành văn tự nó đã nổi bật bản chất rất hiền lành, mộc mạc đặc trưng của người miền Nam. Chỉ là một nhân chứng sống đang kể chuyện chứ không mang hận thù.

Chất “Thủ Thiêm” trong sáng quý hiếm đó vẫn còn giữ được nguyên vẹn cho dù hơn 44 năm bị nhồi nhét thứ “văn hoá XHCN”!

Và qua đó sẽ hiểu rõ hơn nữa mặt thật cộng sản.

Không hiểu “người Bắc có lý luận” Tổng Chủ Nguyễn Phú Trọng sẽ “lý luận” ra sao về nguyên nhân gốc rễ tình trạng băng hoại về mọi mặt của dàn cán bộ lãnh đạo từ trung ương xuống địa phương? Ai phản động?

Ai làm cho xã hội bị băng hoại? Ông Trưởng ban Tuyên giáo Võ Văn Thưởng đổ tội cho “thế lực thù địch”, đổ tội mạng xã hội, trong lúc thế giới Tự do chẳng có nước nào có cái gọi là “tuyên giáo” vẫn phát triển vượt bực. Còn ông?

Khi mà cả dàn lãnh đạo (cứ coi như ông Trọng sạch, tốt) rặt là “củi”, rặt là phường nói dối không biết ngượng thì lò nào đốt cho xuể?

BAOTIENGDAN.COM
Không phải chỉ có một Lê Thanh Hải Bởi AdminTD – 30/06/2019 Kông Kông 30-6-2019 Ngày 27/6/2019, khi báo chí nhà nước hỏi về kết luận…

HỌ ĐANG THỰC THI “PHÁP QUYỀN XHCN”?

HỌ ĐANG THỰC THI “PHÁP QUYỀN XHCN”?

Ngày 09/07/2018, báo Dân Trí có đăng bài “Nguyễn Kim trốn thuế cả trăm tỉ đồng”. Trong bài này nói rằng Công ty cổ phần thương mại Nguyễn Kim bị Cục thuế TPHCM truy thu và xử phạt vi phạm hành chính với số tiền lên đến hơn 148 tỉ đồng giai đoạn từ năm 2012 đến cuối năm 2017. Và tuyệt nhiên không có chuyện Công An Thành Phố Hồ Chí Minh khởi tố vụ án, và cũng không có chuyện công an huy động lực lượng hùng hậu để khám xét và hốt hết mọi tài liệu của công ty Nguyễn Kim. Hằng năm, những đại gia Việt Nam trốn thuế hàng ngàn tỷ nhưng chẳng thấy chính quyền khởi tố vụ án trốn thuế nghiêm trọng nào cả.

Ngày 02/07/2019, lực lượng công an đã bủa vây văn phòng luật sư của luật sư Trần Vũ Hải lục soát và hốt hết tài liệu trong văn phòng luật của vị luật sư này tại Hà Nội với tội trốn thuế. Được biết Công An Tỉnh Khánh Hòa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can luật sư Trần Vũ Hải. Điều nực cười ở chỗ, người bán nhà cho luật sư Trần Vũ Hải bị cho là trốn thuế số tiền là 276 triệu đồng, nhưng công an không lục soát nhà người có trách nhiệm đóng thuế mà lục soát nhà và văn phòng luật sư của ông Trần Vũ Hải.

Năm 2008, nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải – Điếu Cày bị bắt và kết án 30 tháng tù giam vì tội “trốn thuế”, nhưng sau đó năm 2012 ông bị truy tố về tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo điều 88 Bộ Luật Hình sự. Ai cũng biết, ông Hải – Điếu Cày là một trong những thành viên sáng lập “Câu lạc bộ Nhà báo Tự do”. Năm 2008, ông tham gia và tường thuật về các cuộc biểu tình của người Việt Nam chống lại Thế vận hội Mùa hè 2008 tổ chức ở Bắc Kinh, sau một tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và Việt Nam. Tội trốn thuế chỉ là cái cớ.

Năm 2012 luật sư Lê Quốc Quân cũng bị buộc tội “trốn thuế”, nhưng thực chất của vụ việc là ông Quân có bài viết chỉ trích Điều 4 Hiến pháp về quyền lực tối cao của Đảng Cộng sản trên BBC Tiếng Việt.

Quay lại trường hợp khám xét văn phòng luật sư Trần Vũ Hải ta thấy gì? Việc mua bán nhà của vị luật sư này là tư cách cá nhân trong giao dịch dân sự có liên quan gì đến vai trò luật sư của ông đâu mà khám xét văn phòng luật sư người ta nhỉ? Thế nhưng ở xứ tự xưng là “pháp quyền XHCN” này mà lực lượng công an phớt lờ luật pháp khám xét bừa bãi và tịch thu tài liệu vô cớ như thế. Điều đó cho thấy họ có động cơ khác.

CS là một tổ chức chính trị hành động tùy tiện như thảo khấu, điều đó nó ăn vào bản chất của tổ chức chính trị này rồi. Lấy cái sai này để che lấp cái sai khác, ai làm cho chính quyền này lộ tẩy sai phạm đều bị chính quyền CS đưa vào diện phải chăm sóc đăc biệt. Vì thế mà ông Trần Vũ Hải chắc chắn là cái gai trong mắt chính quyền CS này. Được biết, ông Hải đã từng tham gia những vụ án gai góc, những vụ án mà chính quyền sai mười mươi vẫn cố buộc tội công dân như: vụ án Cù Huy Hà Vũ năm 2011, vụ án Đoàn Văn Vươn bị cưỡng chế đất ở Tiên Lãng, vụ Đồng Tâm, vụ Vườn Rau Lộc Hưng, và mới đây ông nhận bào chữa cho nhà báo Trương Duy Nhất.

Bản chất của chính quyền này là nó không màng đến sự thượng tôn pháp luật mà nó chỉ chuyên rình mò ai chọc vào sai trái của nó để trừ khử, chỉ vậy thôi. Đấy chính là giá trị của cái gọi là “pháp quyền XHCN” mà chính quyền này hay rêu rao. “Pháp quyền XHCN” thực sự có pháp quyền hay không? Không! Cái gọi là “Pháp Quyền XHCN” chỉ là một thứ “lưu manh quyền” mà thôi. Chính xác là vậy.

– Đỗ Ngà –

Tham khảo:

https://dantri.com.vn/…/nguyen-kim-tron-thue-ca-tram-ti-don…

https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-48836079
https://vnexpress.net/…/vo-chong-luat-su-tran-vu-hai-bi-kho…

https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Qu%E1%BB%91c_Qu%C3%A2n

https://vietnamnet.vn/…/vach-mat-nhung-dai-gia-tron-thue-ng…

Image may contain: one or more people

Bàn về nghệ thuật: Nội tâm phong phú mới có thể nhìn thấy mỹ cảnh

Kinh Thánh có nói đại ý là: Nếu không giống một đứa trẻ, thì không thể tiến nhập vào thiên quốc. Trẻ thơ thật sự là thời hoàng kim của đời người. Thời hoàng kim của những người đọc bài viết này hẳn là đã qua, nhưng là một họa sĩ mà nói, tôi tin rằng chúng ta vẫn có thể dùng sự tu dưỡng nghệ thuật để quay trở về tuổi thơ, có được hạnh phúc trong một thế giới nhân ái và bình hoà.

Có lần một bé trai vào phòng tôi chơi. Khi nhìn thấy cái mặt đồng hồ bị úp trên mặt bàn, cậu liền lật nó trở lại. Thấy tách trà của tôi để đằng sau cái vòi của ấm trà, cậu liền xoay đầu vòi ấm trà ra phía trước của tách trà. Thấy dưới giường tôi có đôi hài để ngược nhau, cậu liền giúp tôi chỉnh lại cho đúng. Nhìn thấy mặt dây buộc tóc treo trên tường không được đẹp, cậu kéo ghế đứng lên và chỉnh cho nó quay ngược lại. Tôi cảm thấy rất thích thú: “Con thật là siêng năng!”

Cậu trả lời tôi: “Không phải vậy đâu ạ, là vì để vậy con cứ cảm thấy khó chịu thế nào ấy”. Cậu nói thêm: “Ví như tách trà đặt đằng sau ấm trà, thì làm sao mà rót? Đôi dép mà để ngược nhau, thì làm sao chúng nói chuyện được với nhau?”. Tôi thật sự đồng tình với nội tâm phong phú của cậu bé. Từ đó tôi cũng lưu ý đến vị trí của đồ vật và để chúng đúng vị trí. Vị trí của chúng mà đúng đắn, thì chúng ta tự nhiên sẽ thấy tâm tình của mình dễ chịu hơn.

Đối với việc này, tôi bỗng nhiên hiểu ra được, đây chính là tâm cảnh đẹp, chính là thủ pháp thường dùng trong mô tả văn học, cũng là vấn đề sáng tác trong hội hoạ. Việc này là sự phát triển của lòng trắc ẩn, cảm thông. Sự cảm thông của một người bình thường đôi khi chỉ là đối với đồng loại hoặc giả với động vật, nhưng sự cảm thông của một nghệ thuật gia lại phải sâu sắc và rộng lớn hơn, là sự cảm thông đối với tạo hoá trời đất, có thể lan toả đến tất cả các loài cũng như các vật.

Ngày hôm sau khi tôi đến lớp học tại trường Trung học nghệ thuật, tôi đã nói:

Mọi vật trên thế gian đều có các chủng phương diện, những người khác nhau sẽ nhìn thấy các phương diện khác nhau. Ví dụ như một cái cây, đối với một nhà sinh học, một người làm vườn, một người thợ mộc, một người hoạ sĩ, thì mỗi người nhìn thấy là khác nhau. Nhà sinh học thì xem tình trạng của nó, người làm vườn thì xem sự sinh trưởng của nó, thợ mộc thì nhìn vào nguyên liệu của nó, người hoạ sĩ thì nhìn vào hình dáng tư thế của nó. Tuy nhiên, cái nhìn của người hoạ sĩ so với 3 người kia thì căn bản là không giống. Ba người kia đều là có mục đích, đều là nghĩ về mối quan hệ nhân quả của cái cây. Còn người hoạ sĩ chỉ là có thưởng thức cái hình dáng tư thế hiện tại của bản thân cái cây, mà không có mục đích.

Vì vậy phương diện mà người hoạ sĩ nhìn là phương diện hình thức. Không phải là phương diện thực dụng. Nói cách khác, đó là một thế giới đẹp (mỹ). Chúng ta hiểu được hình trạng, sắc thái, tư thái của sự vật mà thưởng thức nó, không muốn hỏi giá trị về phương diện thực dụng.

Cho nên, một cái cây khô, một hòn đá lạ, ở phương diện thực dụng thì vô giá trị nhưng đối với một hoạ sỹ thì lại là một đề tài rất hay. Một cánh hoa hoang dã không tên, dưới con mắt của một thi nhân thì rất mỹ lệ lạ thường. Nghệ thuật gia thời xưa khi nhìn thế giới, thì có thể nói là cả thế giới đều là nhân ái và bình đẳng.

Tâm của một nghệ thuật gia, đối với tất cả sự vật trên thế gian đều là đồng cảm nhiệt thành. Hoạ sĩ đem tâm của bản thân mình tiến nhập vào tâm thái chân chất của một đứa trẻ mà miêu tả được đứa trẻ, cũng giống như việc đem tâm bản thân mình nhập vào cái khổ của người ăn mày mà miêu tả người ăn mày vậy. Tâm của người hoạ sĩ phải luôn đồng cảm và cộng hưởng với đối tượng mà mình mô tả, cùng vui cùng buồn, cùng khóc cùng cười. Nếu không có sự đồng cảm sâu sắc đó, mà chỉ dùng tay vẽ, thì quyết không thể trở thành một hoạ sĩ thật sự. Cho dù có thể vẽ ra, thì nhiều nhất cũng giống như ảnh chụp.

Hoạ sĩ cần có cái tâm đồng cảm sâu sắc như vậy, đồng thời cũng cần có một tinh thần phong phú và sung mãn. Nếu sự vĩ đại không đủ cộng hưởng với hình tượng anh hùng, thì khiến không thể miêu tả được anh hùng. Nếu sự nhún nhường mềm mại không đủ cộng hưởng với hình tượng của tiểu nữ, thì khiến không thể miêu tả được tiểu nữ. Nghệ thuật gia cổ đại tất phải là người nhân cách lớn. Sự đồng cảm của nghệ thuật gia, không chỉ liên hệ với nhân loại, mà còn phổ biến đến tất cả các sinh vật, đến cả ngựa chó hoa cỏ. Chúng ở trong “mỹ thế giới” thì đều là có linh hồn, là sinh vật có sự sống, có thể khóc, có thể cười.

Bàn về nghệ thuật: Nội tâm phong phú mới có thể nhìn thấy mỹ cảnh

Thi nhân nghe thấy được tiếng máu chảy của loài chim, tiếng dế mùa thu, thấy được gió đông cười với hoa đào, sự quay về của bướm mùa xuân. Nếu dùng đầu não thực dụng để nhìn, thì thấy những điều này như những lời điên rồ của thi nhân. Kỳ thật, chúng ta nếu có thể để thân nhập được vào trong “mỹ thế giới” đó, thúc đẩy sự đồng cảm đó, thì chúng ta thật sự có thể cảm nhận được tình cảnh này.

Hoạ sĩ và thi nhân là giống nhau, bất quá thì hoạ sĩ chú trọng vào phương diện hình thức hình dáng. Nếu không có sự cảm nhận từ tâm về sức mạnh của long mã, thì không thể vẽ được long mã. Nếu không có sự cảm nhận từ tâm về vẽ đẹp cứng cỏi của tùng bách thì không thể vẽ được tùng bách. Các hoạ sĩ cổ đại đều có giáo huấn rõ ràng về điều này. Một bức hoạ Tây phương độc đáo như thế nào? Hoạ sĩ chúng ta khi vẽ một bình hoa, thì tâm nhập vào bình hoa, có thể biểu hiện được tinh thần của cái bình hoa. Nếu tâm của chúng ta có thể phóng xạ ra ánh sáng mặt trời buổi sáng, thì có thể miêu tả được mặt trời buổi sáng. Nếu tâm chúng ta có thể cùng nhảy múa với sóng biển thì có thể miêu tả được sóng biển. Đây chính là “chân trời” cảnh giới tận cùng của “vật ngã nhất thể”, vạn vật đều ở trong tâm, của nghệ thuật gia.

Để có được sự đồng cảm sâu sắc này, những hoạ sĩ phương Đông cổ đại cần thắp hương và ngồi yên tĩnh, hàm dưỡng tinh thần, sau đó mới chuẩn bị mực giấy, tuỳ theo sự việc mà biểu hiện ra. Kỳ thực thì các hoạ sĩ Tây phương cũng cần có chủng tu dưỡng này, bất quá chỉ là họ không nói rõ hình thức như thế. Không chỉ có vậy, một người phổ thông thông thường, đối với hình sắc dáng điệu, ít nhiều cần có thiên tính về việc cộng hưởng và đồng cảm với sự vật. Trang sức, bố trí của phòng ốc, hình dạng và màu sắc của các đồ vật, sở dĩ yêu cầu cần phải đẹp, chính là cần thích nghi với tự nhiên.

Nếu những gì trước mắt chúng ta đều là vẻ đẹp của hình sắc, thì tâm chúng ta chính là đồng cảm, cảm thấy thoải mái. Ngược lại, nếu trước mắt đều là hình sắc xấu xí, tâm chúng ta cũng chính là đồng với với cảm giác không thoải mái. Bất quá mức độ đồng cảm là có sâu cạn cao thấp khác nhau. Người mà đối với thế giới sắc thái mà không có sự đồng cảm nào, thì thế giới đáng sợ không có gì cả, tất là người có tư chất hẹp hòi, hoặc là làm nô lệ của lý trí, người này có thể coi là người “lạnh lẽo vô tình”.

Những nhà lý luận Tây phương khi bàn về tâm lý nghệ thuật có bàn về khái niệm tạm gọi là chuyển nhập sự đồng cảm. Cái gọi là chuyển nhập sự đồng cảm, chính là chúng ta có thể di chuyển được sự đồng cảm của bản thân nhập vào vẻ đẹp của tự nhiên hoặc các tác phẩm nghệ thuật, thì có thể cộng hưởng và trải nghiệm được hương vị của vẻ đẹp. Kỳ thực đây chính là hành vi thường thấy trong sinh hoạt của trẻ con. Những đứa trẻ thường chìm đắm trong sở thích và trò chơi của chúng mà quên cả cái đói và sự mệt mỏi của tự thân.

Ở đây chúng ta không thể không khen ngợi trẻ con. Là vì trẻ con có sự đồng cảm phong phú nhất. Sự đồng cảm của chúng không chỉ dành cho nhân loại, mà cũng tự nhiên đối với chó mèo, hoa cỏ, chim bướm, cá, côn trùng, đồ chơi… chúng thật sự có thể nói chuyện với chó mèo, chúng thật sự có thể hôn lên hoa, có thể thật sự chơi được với búp bê, tâm của chúng so với nghệ thuật gia thì chân thật mà tự nhiên hơn biết nhường nào! Chúng thường có thể chú ý đến những việc mà người lớn không thể chú ý, có thể phát hiện ra những điểm mà người lớn không thể phát hiện. Vì vậy, bản chất của trẻ con, từ phương diện một họa sĩ mà nhận xét, thì chính là nghệ thuật.

Nói cách khác, nhân loại ban đầu là nghệ thuật, bản lai là có sự đồng cảm phong phú. Chỉ vì tiếp thụ áp lực từ thế gian, nên tâm linh bị trở ngại hoặc tiêu mất đi. Chỉ có ai thật sự thông tuệ, có thể không bị quấy nhiễu, dù chịu áp lực từ ngoại cảnh mà giữ được cái tâm cao quý, thì mới là nghệ thuật gia. Đây là tiêu chuẩn hoàn toàn khác so với nghệ thuật gia thời hiện đại.

Kim Khôi biên dịch

 DÀNH CHO AI ĐÃ TỪNG ĐỔ VỠ!

 DÀNH CHO AI ĐÃ TỪNG ĐỔ VỠ!

Ở Nhật Bản, khi một cái bát bị nứt vỡ, họ dùng vàng gắn lại những mảnh vỡ để tạo thành một tác phẩm nghệ thuật mới.

Người Nhật tin rằng, khi một thứ gì đó từng bị tổn thương và mang trong mình một lịch sử, nó sẽ đẹp hơn. Vì thế, thay vì vứt một cái bát vỡ đi, họ sẽ gắn lại những mảnh vỡ bằng vàng. Thay vì tìm cách che dấu đi những vết nứt vỡ, họ dùng vàng để làm chúng nổi bật lên như một cách để ca tụng và biến chúng thành điểm nhấn của cả chiếc bát.

Con người cũng vậy. Tất cả những khó khăn, thương tổn bạn đã hoặc đang phải trải qua không làm cho bạn xấu xí hơn. Bạn có quyền lựa chọn để sơn lên những thương tổn ấy của mình một lớp vàng. Bạn hoàn toàn có thể vực mình dậy và rút ra bài học từ những vấp váp ấy để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình.

Bạn hoàn toàn có thể tự hào về những vết sẹo từ những tổn thương của mình và nói rằng: “Hãy nhìn những gì tôi đã trải qua. Nhờ chúng mà tôi trở thành tôi của ngày hôm nay. Giờ không có gì là tôi không thể vượt qua.”

Không ai có một cuộc đời hoàn hảo. Nhưng ai cũng có thể lựa chọn để sơn vàng lên những mảnh vỡ của cuộc đời mình.
Đừng hổ thẹn vì những gì đã xảy ra với bạn. Bạn càng phủ nhận và than vãn vì những gì đã xảy ra, chúng càng không giúp ích gì cho bạn.

Ngược lại, khi bạn chấp nhận và rút ra bài học từ những đổ vỡ và gắn lại chúng bằng vàng, bạn đã biến những thứ tưởng như xấu xí, vô dụng thành một một câu chuyện đẹp đẽ và đầy cảm hứng.
Có một câu nói rằng: “Mỗi cấp độ tiếp theo của cuộc đời đòi hỏi một phiên bản mới của bạn.” Và đôi khi, những mảnh vỡ là thứ cần thiết để bạn trở thành phiên bản mới tốt đẹp hơn.

Cuộc đời, rồi ai cũng từng làm vỡ đi một cái gì đó. Người ta chưa từng bị đổ vỡ nên người ta đứng đó phán xét khi thấy bạn làm vỡ đi thứ mình yêu thích. Sau này, khi trải qua những cảm giác tương tự, người ta cũng sẽ có cảm giác như bạn mà thôi.

Hãy sống cho bản thân và tự đi đến nơi mình cảm thấy hạnh phúc, hà cớ gì phải sợ người đời dèm pha, ai tốt, ai xấu theo thời gian cũng sẽ nhìn thấy rõ. Và sẽ có người bước đến, rồi bạn sẽ lại yêu, sẽ lại tìm thấy hạnh phúc… để nhận ra, đổ vỡ không có gì đáng sợ cả, vấp ngã ai mà chưa từng, đứng lên đi tiếp hay ngồi yên tại chỗ ngã than khóc mới là điều bạn cần phải chọn lựa.

Đừng vì một lần đổ vỡ mà bỏ luôn cả một đoạn đường dài phía trước, chỉ cần bạn không ngừng tìm kiếm, thì sớm muộn cũng nhìn thấy hạnh phúc đích thực mà thôi.

Chúc cho bạn biết cách gắn vàng lên từng vết nứt.

Yêu thương!Yêu thương!

From: Trương Nghĩa