Tại sao người Trung Quốc không thể hòa nhập vào xã hội nước ngoài?

Tại sao người Trung Quốc không thể hòa nhập vào xã hội nước ngoài?

Trong thời đại phổ biến thông tin ngày nay, những hành vi tiêu cực của người Trung Quốc ở nước ngoài như: đi vệ sinh bừa bãi, ăn như sắp chết đói khi vào nhà hàng dù không hề đói khát… đã khiến phần còn lại của thế giới ngỡ ngàng. Chuyện xấu của người Trung Quốc ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng. 

Có nhiều lý giải đã được nêu ra nhưng tựu trung lại người ta đều lý giải rằng đó là bởi sự khác biệt trong giá trị nhân sinh quan của người Trung Quốc với người dân hầu hết các quốc gia trên thế giới. 

Trong vụ đắm tàu Titanic, triệu phú Isidor Straus, người đồng sáng lập công ty Macy’s của Hoa Kỳ, vào thời điểm đó đã từ chối lên xuồng cứu sinh để cứu phụ nữ và trẻ em, vợ ông cũng nhường cơ hội cho một người khác để cùng chồng đối diện với cái chết. 

Mạng sống của triệu phú với mạng sống của những người nghèo là như nhau, cái làm nên sự khác biệt là sự cao cả của nhân cách. Hành động đó đã thể hiện quan niệm về sự bình đẳng trong cuộc sống được phản ánh qua sự lựa chọn của họ, đó là tấm lòng nhân ái, vị tha với người khác.

Sự khác biệt về quan niệm này, ngoài việc dẫn đến sự khác biệt trong lựa chọn hành vi cá nhân, cũng sẽ ảnh hưởng đến xu hướng phát triển của toàn xã hội. Khi một quốc gia hoặc một xã hội không tương thích với thế giới bên ngoài, nó sẽ dần bị gạt ra ngoài lề, và cuối cùng bị bỏ lại phía sau rất xa.

Một số người cho rằng phương Đông và phương Tây là hai hệ thống văn hóa hoàn toàn khác nhau, nhưng những giá trị phổ quát, cơ bản nhất thì ở đâu cũng vậy, là đức nhân nghĩa, biết nghĩ đến người khác trước khi nghĩ đến mình. Tuy nhiên, sau Cách mạng Văn hóa, nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp đã bị phá hủy một cách trắng trợn ở Trung Quốc. Những giá trị đạo đức muôn đời vẫn cần để níu giữ nhân tính lại bị đánh đồng là thủ cựu, cần phải phá trừ. Thay vào đó sự thù hận giai cấp được đẩy lên cao, con người với nhau như kẻ thù, luôn đề phòng nhau và tranh đấu sinh tồn. 

Cách mạng Văn hóa theo thời gian có thể mai một dần trong ký ức cá nhân và cộng đồng, nhưng vết thương tâm lý do nó gây ra đối với người dân Trung Quốc Đại Lục là mãi mãi.

Hầu hết người trong xã hội Trung Quốc ngày nay đều tin tưởng thành công của một người được tính bằng tiền nhiều, địa vị xã hội cao, là một người vợ xinh đẹp, con cháu đề huề, sự xuất sắc trong học tập và những giá trị hình thức khác.

 Trong những bữa tiệc hoặc ở những nơi đông người, người ta thích khoe tiền nhiều, nhà đẹp, xe sang, và cả những cô vợ trẻ đẹp, nếu không có những điều kiện này thì sẽ bị xem là người thất bại.

Có vị tỷ phú Trần Quang Tiêu, tự nhận là “Trung Quốc thủ thiện” (người làm từ thiện đứng đầu Trung Quốc), so với nhiều người nước ngoài giàu có, tài sản của ông có lẽ chẳng là gì nhưng ông rất thích công khai sự giàu có đó trước bàn dân thiên hạ.

Ở các nước khác, ngay cả khi người ta có điều kiện kinh tế bình thường, nhưng miễn là họ có một công việc ổn định và một gia đình hạnh phúc, thì họ đều là những người thành công. Ngay cả khi bạn không có những điều đó, bạn có thể sống theo cách bạn thích và bạn vẫn có thể nhận được sự tôn trọng của người khác. Nhưng trong xã hội Trung Quốc ngày nay, nếu bạn chẳng có gì và bạn sống theo ý mình, thì bạn sẽ bị xã hội xa lánh và thường bị đem ra làm trò đùa.

Đối với người phương Tây, tiền không phải là duy nhất. Nhiều người giàu có thường không tích trữ tiền của cho con cái họ ngay cả khi họ có rất nhiều tiền. Họ chọn quyên góp và trả lại cho xã hội, họ sẽ không làm nô lệ cho tiền, nhưng sẽ vẫn kiếm sống từ xã hội để lo cho bản thân và gia đình, khi dư giả họ giúp đỡ những người thiệt thòi.

Không có gì lạ khi người Hoa ở nước ngoài cảm thấy rằng mỗi khi họ gặp khó khăn ở nước ngoài, người nước ngoài là những người đầu tiên giúp đỡ họ chứ không phải người Trung Quốc.

Hành vi của người Trung Quốc ngày nay quá dị biệt với thế giới, ví như việc vẽ bậy lên các di tích văn hóa (ảnh: Watson).

Khi một người chỉ biết đến bản thân mình, dùng mọi cách để lợi dụng người khác, làm lợi cho mình thì họ sẽ không có sự đồng cảm và cảm thông cho người khác. Trong xã hội Trung Quốc đã lan truyền câu nói:

“Trong những năm 50 mọi người giúp đỡ lẫn nhau,
Trong những năm 60 mọi người đấu tranh với nhau,
Trong những năm 70 mọi người lừa đảo lẫn nhau,
Trong những năm 80 mọi người chỉ lo cho chính mình,
Trong những năm 90 mọi người lợi dụng bất cứ ai mà họ gặp”.

Có lẽ xã hội Trung Quốc trượt trên con dốc đạo đức cho đến mức này, một phần là bởi cái lý thuyết tăng trưởng kinh tế lấn át hết thẩy, nhà nhà làm kinh tế, người người làm kinh tế. Ngày nay, sự theo đuổi của cải của xã hội Trung Quốc chưa có dấu hiệu dừng lại, việc hưởng thụ vật chất bên ngoài nhiều hơn so với những giá trị tình cảm giữa con người với con người.

Trong một xã hội mà bạn có thể cảm thấy thiện chí, mọi người sẽ đối xử tốt với nhau một cách thiện chí và nó tạo thành một vòng tròn đạo đức tốt đẹp, thì xã hội đó cũng ngày càng tốt đẹp hơn.

Ngược lại, khi mọi người trong xã hội đấu tranh và cạnh tranh với nhau, khi bạn cảnh giác với người khác, ngay cả khi bạn có nhiều tiền, trái tim bạn vẫn thiếu sự an toàn và chứa đầy sợ hãi và tuyệt vọng.

Khi chúng ta có thể biến đổi các giá trị của mình và đối xử với mọi người xung quanh bằng thái độ cởi mở, hào phóng, tốt bụng và nhân hậu hơn, xã hội có thể phát triển theo hướng lành mạnh. Nếu không, chỉ với một xã hội đột biến như ngày nay, con người sống trong đó sẽ tiếp tục chìm xuống, hủy hoại bản thân, cũng như hủy hoại các thế hệ tương lai.

Ngọc Linh
Theo Secretchina

From: Xuan Nguyen & Nga Thu Tran

Dấu ấn VNCH tại hải ngoại ảnh hưởng ngược về Việt Nam

Dấu ấn VNCH tại hải ngoại ảnh hưởng ngược về Việt Nam

Nguyễn Hòa/Người Việt

Nhiều chương trình âm nhạc mang dấu ấn văn nghệ của thời VNCH vẫn tiếp tục được duy trì tại Little Saigon, Nam California. Trong hình là ca sĩ Mộng Thủy trong đêm nhạc Nguyễn Đình Toàn, Tháng Tư 2019. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

EUGENE, Oregon (NV) – Di sản của hơn hai mươi năm thể chế Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975) là một dấu ấn rất sâu đậm trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại.

Trong cuộc hội thảo về VNCH tại Đại Học Oregon trong hai ngày 14 và 15 Tháng Mười, 2019, đã có nhiều bài phân tích về khía cạnh văn hóa, âm nhạc,… của dấu ấn này.

Ông Jason Gibbs, diễn giả đến từ thư viện thành phố San Francisco, California, mang đến cho hội thảo những bất ngờ lý thú với bộ sưu tập hình ảnh các hãng đĩa ở miền Nam Việt Nam trong hai mươi năm 1955-1975.

Ông Gibbs cũng nhận thấy rằng âm nhạc sáng tác trong thời kỳ VNCH tiếp tục có ảnh hưởng rất mạnh mẽ trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại, cho dù thời gian đã là hơn 40 năm.

Hơn thế nữa, ông Vinh Phạm, đến từ Đại Học Cornell, nhận thấy rằng thể loại “nhạc vàng” rất thịnh hành ở miền Nam Việt Nam trong thời gian trước 1975 được tiếp tục sáng tác tại hải ngoại, nhưng không chỉ là hồi ức về một thời, một vùng quê hương đã mất mà là những yếu tố mới mang tính cách xây dựng một quốc gia từ hải ngoại.

Quan sát những hoạt động âm nhạc tại Việt Nam hiện nay, ông Vinh Phạm thấy các sô diễn của âm nhạc hải ngoại, với rất nhiều sáng tác nhạc vàng trước và sau năm 1975, lại được đón nhận mạnh mẽ, cho dù có những cố gắng hạn chế nó từ nhà cầm quyền.

Từ một sự mong muốn ban đầu là kết nối, cảm nhận một quê hương mà mình không thể trở về lại được, âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại lại tạo ra được một tác dụng khác, đó là ảnh hưởng trực tiếp lên nước Việt Nam hiện nay.

Một quán bar mang tên “Sài Gòn Nhỏ” trên đường Đồng Khởi, Sài Gòn hiện nay. (Hình: Nguyễn Hòa/Người Việt)

Lĩnh vực văn chương của người Việt tại hải ngoại cũng được các diễn giả trẻ phân tích tại hội thảo.

Bà Phạm Vũ Lan Anh, diễn giả đến từ Việt Nam, giới thiệu hai tác giả nữ là Hoa Phạm, và Chi Vũ, hiện sống tại Úc.

Bà Lan Anh nói tại buổi hội thảo rằng bà rất ngạc nhiên vì các tác giả có một sự gần gũi rất mạnh mẽ với Việt Nam, mặc dù họ lớn lên ở Úc và thậm chí không rành tiếng Việt.

Các tác giả này, theo bà Lan Anh, có cùng một hồi ức về tin thần và tôn giáo chung với cộng đồng (người Việt) di cư sau chiến tranh, và họ đã sử dụng hồi ức ấy như là một công cụ thể hiện “căn cước” gốc của họ, cũng như để chữa lành những vết thương, và nỗi buồn.

Tương tự, diễn giả Hao Jun Tam, đến từ Đại Học Pennsylvania, giới thiệu hai tác giả là Lý Thu Hồ ở Pháp, và Lan Cao ở Mỹ. Tác phẩm của họ tập trung rất mạnh vào việc khẳng định “căn cước” miền Nam Việt Nam của cộng đồng người Việt hải ngoại, cũng như tinh thần ái quốc, và mong muốn gìn giữ “căn cước” và tinh thần ấy tại hải ngoại, sau cuộc chiến Việt Nam.

Đặc biệt trong chủ đề sáng tác văn chương này, cuốn tiểu thuyết The Sympathizer (Cảm Tình Viên) đoạt giải Pulitzer của nhà văn Mỹ gốc Việt Nguyễn Thanh Việt được thảo luận khá sôi nổi với những quan điểm trái nhau.

Một số cho rằng tác phẩm Sympathizer có cái nhìn phiến diện về VNCH (Peter Zinoman, Đại Học Berkerley), hay là có nhiều khuyết điểm về chứng liệu lịch sử.

Nhưng diễn giả Hao Jun Tam lại không hoàn toàn đồng ý và cho rằng những điều đó có thể được hiểu như vậy vì thủ thuật của tác giả Nguyễn Thanh Việt, viết với hình thức một lời khai của nhân vật chính, một điệp viên cộng sản gài vào quân đội Việt Nam Cộng Hòa và cộng đồng tị nạn Việt Nam tại Mỹ.

Theo Ho Jun Tam, nếu nói tác phẩm The Sympathizer có cái nhìn không thân thiện với chế độ VNCH thì hẳn nó phải được đón nhận nồng hậu bởi nhà cầm quyền Cộng Sản tại Việt Nam hiện nay, nhưng điều đó không xảy ra, và The Sympathizer vẫn không được dịch ra tiếng Việt để lưu hành ở Việt Nam. (Nguyễn Hòa)

(*) Loạt bài của phóng viên Nguyễn Hòa ghi nhận về cuộc hội thảo này sẽ tiếp tục trong các số báo sắp tới.

Đừng đọc …đọc có thể uất nghẹn mà chết !

Image may contain: 8 people, people smiling, text
Phan Công Hải

Đừng đọc …đọc có thể uất nghẹn mà chết !!

Cán bộ cao cấp thì ở biệt phủ, từ nhà đến cơ quan đều ngồi máy lạnh, sống thì giành đất, cạp đất mà giàu, vô bệnh viện thì có khu cao cấp đặc trị, chết thì cũng giành vài mẫu đất để chôn cất.

Mở miệng ra thì vì dân, vì nước hi sinh để bảo vệ tổ quốc.Theo Tôi Hy sinh, phải nói đúng là người dân bị bắt buộc hy sinh mới đúng, nhát thấy mẹ, cứ mỗi lần đụng độ với đối phương là cứ lùa dân ra trước giữa 2 làn đạn để dân đỡ đạn cho mình, lỡ chẳng may đạn né dân trúng mình, bây giờ gọi là hy sinh !!

Giai cấp giàu nghèo,quan dân thật rõ nét đó là chế độ XHCN CS chỉ phục vụ và làm giàu cho nhóm lợi ích quyền lực.

CHÚA CHỔM LƯỜI NHÁC KHOE TÀI LÀM KINH TẾ

CHÚA CHỔM LƯỜI NHÁC KHOE TÀI LÀM KINH TẾ

-Đỗ Ngà

Năm 2015 tôi vay ngân hàng A 1 tỷ kỳ hạn 1 năm. Đến năm 2016 số tiền nợ bây giờ là 1,1 tỷ, nhưng tôi không có xu nào trong túi, tôi buộc phải vay ngân hàng B 1,5 tỷ để trả cho ngân hàng A 1,1 tỷ và còn lại tôi dùng để chi tiêu. Đến năm 2017 số nợ ở ngân hàng B là 1,65 tỷ, và trong túi không có 1 xu nên tôi vay ngân hàng C 2 tỷ để trả cho ngân hàng B 1,65 tỷ còn lại tôi chi tiêu cho bản thân. Cứ như thế, hàng năm tôi vay ngân hàng này trả cho ngân hàng kia và ngắt thêm một ít trong đó để chi tiêu. Và cuối cùng đến năm 2019 tôi đã nợ ngân hàng 2,75 tỷ. Nếu tôi cứ làm như vậy thì nợ mỗi ngày một phình to chứ không thể nào giảm nợ được, điều đơn giản này chắc chắn ai cũng hiểu.

Vậy qua đây chúng ta thấy gì? Vay nhiều hơn nợ phải trả để chi tiêu và trả nợ thì sẽ làm cho nợ ngày một phình to chứ không có chuyện giảm nợ được. Ấy vậy mà CS họ khoe khoang rằng, họ đã làm được. Chả nhẽ họ có phép mầu hô biến là có tiền trả nợ chăng? Để hiểu về họ, tôi xin hệ thống số liệu từ các bài báo nhà nước để chúng ta thuận tiện trong vấn đề đánh giá.

Ngày 02/06/2017 trên báo Vietnamfinance “Nếu nợ công là 431 tỷ USD, ai trả nợ cho DNNN thua lỗ?”. Trong bài này cho biết nợ công tính luôn cả khối doanh nghiệp nhà nước được chính phủ bảo lãnh vào thời điểm năm 2015 là 431 tỷ USD tương đương với 210% GDP, trong đó chính phủ nợ nước ngoài là 59,5% GDP, còn lại là phần nợ của khối doanh nghiệp nhà nước. Thế nhưng thật lạ, chính phủ Việt Nam không thừa nhận phần nợ của khối doanh nghiệp nhà nước do họ bảo lãnh vay, mà họ chỉ thừa nhận con số 59,5% GDP của chính họ vay.

Ngày 07/06/2016 trên báo Vnexpress có bài “Chính phủ trả nợ hơn 12 tỷ USD năm 2016”. Trong bài này cho biết, năm 2016 chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vay 20 tỷ đô nhưng trả nợ chỉ có 12 tỷ USD còn lại 8 tỷ USD là chính phủ dùng để chi tiêu. Họ lại vay nhiều hơn nợ để vừa trả nợ vừa chi tiêu, cách vay như thế này làm nợ công tăng rất nhanh, và qua đây cũng cho thấy nền kinh tế đất nước làm ra không đủ trả nợ.

Ngày 03/05/2017 trên báo Vnexpress có bài “Chính phủ vay hơn 15 tỷ USD trả nợ năm 2017”. Trong bài này cho biết, chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vay 15 tỷ USD để trả nợ và không dùng bất kỳ khoản nào trong số tiền vay này để chi tiêu. Nếu xét về số tiền vay thì giảm đi 5 tỷ USD nhưng số nợ đáo hạn năm 2017 đã cao hơn năm 2016 là 3 tỷ USD. Đây là năm hiếm hoi chính phủ ông Phúc vay đủ để trả nợ.

Ngày 23/04/2018 trên báo Vnexpress có bài “Chính phủ sẽ chi 11 tỷ USD trả nợ năm 2018”. Trong bài này cho biết, chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vay đến 16,8 tỷ USD nhưng trong đó họ dùng chỉ 11 tỷ USD để trả nợ và còn lại 5,8 tỷ USD dùng để chi tiêu. Như vậy số nợ đáo hạn năm 2018 ít hơn năm 2017 là 4 tỷ USD thì ngay lập lập tức chính phủ vay thêm để chi tiêu.

Và cuối cùng là hôm ngày 21/10/2019 trên báo Vietnamnet có bài báo “Vay nợ thêm gần 500 ngàn tỷ để bù đắp thiếu tiền chi tiêu”. Số tiền này tương đương với 21,5 tỷ USD. Trong đó, phần trả nợ gốc (chưa tính lãi) là 217 ngàn tỷ đồng tương đương 9,4 tỷ USD. Đây là cách đưa tin khá gian trá, vì sao? Vì khi nói đến trả nợ, người ta luôn tính tiền gốc+ lãi đến thời điểm thanh toán chứ không ai chỉ tính số tiền nợ gốc cả. Cách tính này là cách tính có chỉ đạo của tuyên giáo nhằm làm giảm số nợ thực tế để phục vụ công tuyên truyền mà thôi.

Thói quen đi vay nhiều hơn khoản nợ đáo hạn nhằm mục đích vừa trả nợ vừa dùng để chi tiêu thì hệ quả của nó là sẽ làm tốc độ tăng nợ công rất nhanh. Theo thống kê trên một bài báo có tựa “Tốc độ tăng nợ công gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP” được đăng trên tờ Zing ngày 01/11/2016 cho biết thực tế như vậy. Với đà tỷ số tăng trưởng nợ công cao gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP thì làm sao có chuyện tỷ số nợ công so với GDP giảm được? Ấy vậy mà trong bài báo “Vay nợ thêm gần 500 ngàn tỷ để bù đắp thiếu tiền chi tiêu” người ta cho biết tỷ số nợ công so với GDP giảm hằng năm. Cụ thể là năm 2016 nợ công 52,6% GDP, năm 2018 là 50% GDP và dự kiến năm 2019 là 49,2% GDP.

Ở đây chúng ta thấy rằng, qua các năm chính phủ CSVN đi vay trả nợ, mà chỉ cần vay để trả nợ thì nợ đã tăng rồi, đàng này chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và vay nhiều hơn nợ để vừa trả nợ vừa chi tiêu. Thế thì ĐCSVN dựa vào phép toán nào để giảm tỷ trọng nợ công so với GDP đây? Từ đây chúng ta thấy đây là những con số gian.

Thực ra đây là cách tính gian trá của CS để mị dân rằng, đảng đã từ từ từng bước trả nợ. Đó là lý do tại sao ban tuyên giáo đã chỉ đạo báo chí nặn ra con số để lừa dân. Ngay ban đầu, chính phủ loại bỏ phần nợ doanh nghiệp nhà nước ra khỏi mục tính toán nợ công quốc gia là đã là một sự gian trá lớn rồi. Dù nợ của khối doanh nghiệp nhà nước, nhưng những doanh nghiệp này mất khả năng trả nợ thì các chủ nợ nắm đầu ai? Họ chỉ biết nắm đầu chính phủ. Mà khi chính phủ trả nợ thay doanh nghiệp nhà nước thì khoản nợ đó được đổ hết lên đầu dân bằng thuế phí. Mà trong hàng loạt doanh nghiệp nhà nước được mấy ông làm ăn có lãi? Chỉ thấy toàn là lỗ.

Nếu như con số tăng trưởng đúng như bài báo nói là 7% thì tăng trưởng nợ công năm nay là 21% chứ? Nếu vậy thì mừng thế nào nhỉ? Anh kiếm lời chỉ có 7 đồng mà lãi phát sinh là 21 đồng thì anh phát triển cách nào đây? Đấy là giả sử nợ công bằng GDP, còn với nợ công bằng 210%GDP thì khác, khi đó, nếu anh làm 7 đồng lời anh thì phải trả 44,1 đồng nợ. Thực chất sẽ không có sự phát triển nào cả mà sự triển của Việt Nam chỉ là một trò gian trá. CS chỉ lấy số đẹp khoe còn số đang làm đất nước tan hoang họ không lấy. Làm 1 phá 10 nhưng họ kể 1 và giấu con số 10 kia, thế là CHXHCN tốt đẹp thôi, tốt đẹp theo cách của họ.

CS mà! Họ phát triển đất nước nhờ chế tác số liệu chứ thực chất có phát triển hay không người dân tự cảm nhận. Không có chuyện đất nước càng phát triển mà đời sống kinh tế nhân dân càng ngột ngạt được. “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói”, quả thật là câu nói chưa bao giờ sai. Thực ra ĐCS chỉ là anh chúa chổm lười nhác khoe tài làm làm kinh tế giỏi mà thôi, không hơn không kém.

-Đỗ Ngà-

Những số liệu chứng minh, xin xem ở các bài báo sau:

https://vietnamfinance.vn/neu-no-cong-la-431-ty-usd-ai-tra-…

https://vnexpress.net/…/chinh-phu-tra-no-hon-12-ty-usd-nam-…
https://vnexpress.net/…/chinh-phu-vay-hon-15-ty-usd-tra-no-…

https://vnexpress.net/…/chinh-phu-se-chi-11-ty-usd-tra-no-n…
https://vietnamnet.vn/…/no-cong-vay-them-gan-500-nghin-ty-d…

https://news.zing.vn/toc-do-tang-no-cong-gap-3-lan-tang-tru…

No photo description available.

Vợ chồng già

Vợ chồng già.

_ Nè ông ăn đi. Có món soup khoai tây và gà rim mà ông thích đó. Làm từ sáng bảnh mắt tới giờ mới xong , tay chân rã rời luôn. Già rồi làm gì cũng chậm chạp hết. Gân cốt cũng rệu rạo. Ông nhai cho kỹ, đừng nuốt vội rồi mắc nghẹn . Cái tật kỳ cục. Ăn gì mà vội vội vàng vàng như sợ ai dành mất phần.

Có tiếng chó sủa . Bà ngưng càm ràm, bước lập cập ra cửa , hấp hái mắt, rồi lại lập cập quay vô.

_ Chó bên nhà hàng xóm sủa bậy. Làm mình cứ tưởng tụi nhỏ. Ông ăn thêm chút nữa đi. Rồi lát nữa tụi nó thế nào cũng mua về cho ông chai vang . Thứ đó mà kèm với món gà rim này thì ngon phải biết.

Có tiếng động ngoài sân. Bà vội đứng dậy, bước ra, nhìn quanh. Chiếc xe hơi giãm tốc trước sân làm bà mừng suýt kêu lên . Nhưng không phải, nó ngừng lại ở sân nhà bên cạnh. Bà thở dài bước trở vào nhà.

_ Từ sáng tới giờ cả chục lần rồi , mà không thấy đứa nào hết. Thôi chắc là hôm nay tụi nó không về kịp rồi ông ơi . Nhưng mai chắc chắn tụi nhỏ sẽ về . Tết mà, tụi nó biết cha mẹ trông mà. Thôi ông đừng buồn nhen. Đi ngủ đi, rồi mai tụi nó về. Để tui đóng cửa, rồi còn dọn dẹp.

Bà lụm cụm đứng lên, ngước nhìn tấm ảnh của ông trên bàn thờ .Từ ngày ông chết đến nay đã hai năm và bà vẫn lui cui trong nhà , vẫn nói với ông đủ chuyện như ngày ông còn sống. Của đáng tội, nhà chỉ có hai vợ chồng già.

From: Tu-Phung

Một câu chuyện rất hay

Một câu chuyện rất hay

Một chàng trai trẻ vừa tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, nộp đơn dự tuyển vào vị trí quản lý tại một tập đoàn lớn. Anh đã vượt qua vòng phỏng vần đầu tiên. Đến vòng cuối, đích thân giám đốc sẽ đặt các câu hỏi và đưa ra quyết định cuối cùng. Ông giám đốc rất ấn tượng với CV của chàng trai bởi trong suốt các năm học, anh luôn đạt thành tích xuất sắc.

– Anh có bao giờ nhận được học bổng từ trường không – vị giám đốc hỏi.
– Thưa, không bao giờ – chàng trai trả lời.
– Vậy là cha mẹ anh đã trả toàn bộ học phí cho anh? – ông hỏi tiếp.
– Cha tôi đã mất từ hồi tôi được một tuổi, toàn bộ số tiền học phí là do mẹ tôi gánh vác – chàng trai trẻ trả lời.
– Vậy mẹ anh làm việc cho công ty nào?
– mẹ tôi làm công việc giặt quần áo – chàng trai trẻ đáp.

Người giám đốc im lặng một lúc. Sau đó, ông đề nghị chàng trai trẻ đưa hai bàn tay ra cho ông xem. Hai bàn tay chàng trai khá đẹp và mềm mại.
– Trước đây, có bao giờ anh giúp đỡ mẹ anh trong việc giặt quần áo chưa? – ông hỏi.
– Thưa ngài, xin thú thực là tôi chưa bao giờ – chàng trai trả lời,
– mẹ tôi lúc nào cũng chỉ muốn tôi học và đọc thật nhiều sách. Hơn nữa, mẹ nói có thể giặt quần áo nhanh hơn tôi. Tôi động vào chỉ khiến công việc của bà chậm lại.
Vị giám đốc nghe xong liền nói: “Tôi có một yêu cầu. Hôm nay lúc về nhà, anh hãy rửa hai bàn tay cho mẹ mình. Rồi đến gặp tôi vào sáng ngày hôm sau”.

Qua ánh mắt và giọng nói của người giám đốc, chàng trai trẻ cảm giác rằng cơ hội trúng tuyển của mình chắc rất cao. Anh vui vẻ về nhà gặp mẹ và nói với mẹ hãy để anh ra rửa hai bàn tay của bà ngày hôm nay. Người mẹ nghe vậy cảm thấy rất lạ, trong lòng dấy lên những cảm xúc vui buồn lẫn lộn. Bà đưa hai bàn tay mình ra cho con trai rửa.

Khi nhìn thấy bàn tay của mẹ từng giọt nước mắt của chàng trai trẻ rơi xuống. Lần đầu tiên anh nhận ra rằng đôi bàn tay của mẹ thật nhăn nheo, hơn nữa chúng còn chằng chịt những vết sẹo và chai sạn. Những vết sẹo này hẳn từng rất đau đớn vì chàng trai cảm nhận được mẹ khẽ rùng mình mỗi khi anh rửa chúng trong nước. Đây cũng là lần đầu tiên chàng trai trẻ nhận ra chính đôi bàn tay này hàng ngày làm công việc giặt quần áo để có thể trang trải đủ tiền học phí trong suốt thời gian anh đến trường. Những vết sẹo trên đôi bàn tay mẹ cũng là cái giá cho kết quả đậu tốt nghiệp, cho những bảng điểm xuất sắc và cho cả tương lai của anh.

Sau khi rửa sạch đôi bàn tay của mẹ, chàng trai trẻ lặng lẽ giặt nốt luôn chỗ quần áo còn lại trong ngày. Tối hôm đó, mẹ và anh đã nói chuyện với nhau rất lâu.

Sáng ngày hôm sau, chàng trai trẻ quay lại nơi phỏng vấn. Vị giám đốc nhận thấy một đêm dài không ngủ trên đôi mắt của anh. Ông hỏi: “Anh có thể cho tôi biết những gì anh đã làm và học được ở nhà mình ngày hôm qua?”. Chàng trai trả lời: “Tôi đã rửa đôi bàn tay của mẹ và tôi cũng đã giặt nốt chỗ quần áo còn lại”. Giám đốc hỏi tiếp: “Vậy hãy cho tôi biết cảm giác của anh như thế nào?”

Chàng trai trẻ bèn trả lời trong nước mắt: “Thứ nhất, tôi thấu hiểu thêm những gì tôi đã có được ngày hôm nay đều là nhờmẹ. Thứ hai, nhờ việc giúp đỡ mẹ, tôi hiểu được để kiếm tiền được đồng tiền mọi người đã vất vả như thế nào. Thứ ba, tôi đã nhận thức được sự quan trọng và giá trị của tình cảm gia đình”.

Vị giám đốc nói: “Đó chính xác là những gì tôi cần tìm ở một nhà quản lý. Tôi muốn tìm những ứng viên có thể nhận thức được sự giúp đỡ từ những người khác, người có thể hiểu được sự khó nhọc của người khác khi hoàn thành một công việc nào đó, và là người không đặt tiền bạc là mục đích sống duy nhất của mình. Và còn nữa, xin chúc mừng anh. Anh đã được tuyển”.
(St.)

MÙI HƯƠNG CỦA ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG

MÙI HƯƠNG CỦA ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Mùi hương của đức khiêm nhường Theo Isaac người Syria, giám mục và là nhà thần học nổi tiếng ở thế kỷ thứ 7, một người thực sự khiêm nhường là người tỏa ra một hương thơm nhất định nào đó mà người khác sẽ cảm nhận được và ngay cả động vật cũng cảm nhận đến mức mà các động vật hoang dã kể cả rắn cũng bị thu hút và không bao giờ dám làm hại người này.

Và đây là lập luận của ngài, ngài tin rằng một người khiêm nhường tìm thấy được mùi hương của thiên đàng, khi đứng trước một người như vậy, chúng ta không cảm thấy mình bị phán xét, không có gì để sợ, và điều này đúng với cả động vật.  Họ cảm thấy an toàn bên cạnh người khiêm nhường và bị người đó thu hút.  Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy những người như Thánh Phanxicô Assisi có thể nói chuyện với chim muông và kết bạn với chó sói.

Dù đẹp như thế nào, có phải đây là câu chuyện cổ tích ngoan đạo hay đây là một ẩn dụ phong phú và nguyên mẫu?  Tôi thích nghĩ đây là ẩn dụ phong phú và có thể có một cái gì còn hơn nữa.  Quả vậy, đức khiêm nhường có một mùi hương, mùi của đất mùn, đất thó, mùi của thiên đàng.

Nhưng như thế nào?  Bằng cách nào mà một đức tính thiêng liêng lại tỏa ra một mùi hương vật lý? 

Chúng ta có tâm thế, là những tạo vật vừa có thể xác vừa có tâm linh.  Vì thế trong chúng ta, thể chất và tâm linh là một phần của một và cùng một thực thể mà nó không thể nào tách cái này ra khỏi cái kia.  Cơ thể và tâm hồn chúng ta cũng giống như đường có màu trắng và có vị ngọt, độ trắng và độ ngọt không thể nào tách riêng ra được.  Cả hai có bên trong đường.  Chúng ta là một thực thể, không thể tách rời, là thể xác và tâm hồn, như thế luôn vừa là thể lý vừa là tâm linh.  Vì vậy, trên thực tế, chúng ta cảm nhận những chuyện về thể chất một cách thiêng liêng, cũng như ngửi những chuyện thiêng liêng qua các giác quan thể lý của mình.  Nếu điều này đúng, thì quả thật khiêm nhường tỏa ra mùi hương có thể cảm nhận được về mặt thể xác và khái niệm của Isaac người Syria không chỉ là một ẩn dụ.

Nhưng nó cũng là một ẩn dụ: chữ khiêm nhường có nguồn gốc từ tiếng la-tinh là mùn (humus) có nghĩa là đất: nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa này thì người khiêm nhường mà chúng ta biết là người sát đất nhất, và người có nền tảng nhất.  Người khiêm nhường có bàn chân đạp đất, là tiếp xúc với đất, mang mùi đất.  Hơn nữa, khiêm nhường là lấy chỗ hợp pháp như một mảnh nhỏ của đất, chứ không phải như một con người hay một cái gì đó tách khỏi đất.

Nhà thần nghiệm và khoa học gia nổi tiếng Pierre Teilhard de Chardin đôi khi đã diễn tả điều này trong lời cầu nguyện của ngài.  Trong nhiều năm, với tư cách là nhà cổ sinh vật học, ngài làm việc một thời gian dài trong các sa mạc hẻo lánh ở Trung quốc, có khi ngài soạn các lời cầu nguyện cho Chúa dưới hình thức mà ngài gọi đó là Thánh lễ cho thế giới.  Nói chuyện với Chúa trong tư cách linh mục, ngài kết hiệp tiếng nói của mình với chính tiếng nói của đất, nơi sự sáng tạo vật lý chính là đất, nền của đất, để có thể mở ra và nói chuyện với Chúa.  Là linh mục, ngài không nói cho đất; ngài nói như là đất, cho đất một tiếng nói, với những chữ có tác động:

Lạy Chúa, con đứng trước mặt Chúa như một sinh linh bé nhỏ của đất, để cho đất có tiếng nói: xin Chúa nhìn đến sự mở lòng ra của con, sự mở lòng ra của thế giới, sự bất trung của con, sự bất trung của thế giới; trong sự chân thành của con, sự chân thành của thế giới, trong đạo đức giả của con, trong đạo đức giả của thế giới; trong sự quảng đại của con, sự quảng đại của thế giới, trong sự quan tâm của con, sự quan tâm của thế giới, trong sự xao lãng của con, sự xao lãng của thế giới; trong ước muốn ca ngợi Chúa của con, trong ước muốn ca ngợi Chúa của thế giới, trong lợi ích riêng của con, trong sự quên lãng Chúa của thế giới.  Vì con là đất, là chút đất nhỏ, chút đất mở ra hoặc khép lại qua cơ thể của con, tâm hồn và tiếng nói của con.

Đây là khiêm nhường, một biểu hiện của khiêm nhường đích thực.  Khiêm nhường không bao giờ được nhầm lẫn với hình ảnh bản thân bị tổn thương như chúng ta thường thấy, với sự dè dặt quá mức, với sự rụt rè và sợ hãi hay với một nhận thức quá nhạy cảm về mình.  Thường thường khái niệm một người khiêm nhường là khái niệm về người nhận lỗi khi mình có lỗi, người không nhận lời khen (dù mình xứng đáng), người quá rụt rè để không thể thân tình tin tưởng thổ lộ, hay người quá sợ hãi hoặc tự ti ý thức, lo lắng sợ xấu hổ để không bao giờ mở lòng đi tới trước, và tặng cộng đoàn món quà của mình.  Những điều này có thể là những điều của người hiền lành và quên mình, nhưng do chúng ta chê chính mình khi phủ nhận tài năng của mình, đây là khiêm nhường giả tạo và xét cho cùng, chúng ta biết điều này, vì vậy điều này thường làm cho một người nào đó che giấu sự giận dữ của mình sẽ dễ trở thành người gây hấn thụ động.

Người khiêm nhường nhất mà các bạn biết là người vững chãi nhất, có nghĩa là người biết họ không phải là trọng tâm của trái đất nhưng cũng biết họ không phải là một mẫu vụn đất hạng hai.  Và người đó sẽ tỏa ra một mùi hương mang cả hương thơm của thiên đàng (món quà thần thánh) cũng như mùi hương của trái đất.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Suyniemhangngay1 

Cõi đời một kiếp yêu em Dẫu là bỏ cuộc, mộng tìm dáng xưa

Cõi đời một kiếp yêu em
Dẫu là bỏ cuộc, mộng tìm dáng xưa

Bùi Giáng (1926-1998): là nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam. Các bút danh khác của ông là: Trung niên thi sĩ, Thi sĩ đười ươi, Brigitte Giáng, Giáng Moroe, Bùi Bán Dùi, Bùi Bàn Dúi, Bùi Tồn Lưu, Bùi Tồn Lê, Bùi Bê Bối, Bùi Văn Chiêu Lỳ…

Ông nổi tiếng từ năm 1962 với tập thơ Mưa Nguồn.

Kỳ nữ Kim Cương: chiếm một vị trí đặc biệt trong cuộc đời, trong tâm hồn và trong sáng tác của Bùi Giáng. Trong tâm hồn ông, Kim Cương là “đệ nhất mỹ nhân” trong thiên hạ. Ông yêu Kim Cương bằng một tình yêu lạ lùng nhất thế gian. Chỉ có thể nói đó là một tình yêu bất tử. Đã có rất nhiều giai thoại xung quanh mối tình kỳ bí này.
Đối với Kim Cương, tuy là mối tình đơn phương từ phía Bùi Giáng, nhưng nữ nghệ sĩ này đã rất trân trọng tình yêu của ông, một sự trân trọng vô cùng cảm động và hiếm thấy.

Nhiều năm qua, nghệ sĩ Kim Cương có những lý do riêng nên đã không lên tiếng một cách chính thức. Lần đầu tiên, bà tiết lộ với báo chí một số sự thật về thiên tình sử này, vì đã đến lúc bà không còn lý do để tiếp tục im lặng…

Có lẽ trong cuộc đời của thi sĩ Bùi Giáng, ngoài chuyện văn chương ra thì chuyện tình đơn phương của ông với Kim Cương là nổi bật nhất, kỳ lạ nhất, và cũng cảm động nhất.

Kim Cương còn giữ rất nhiều bài thơ của ông viết tặng riêng bà, cả hình ảnh nữa, nhưng từ lâu bà từ chối mọi lời yêu cầu của các tờ báo, nhà xuất bản xin được phát hành, đặc biệt sau khi Bùi Giáng qua đời nhiều đơn vị còn đặt vấn đề “mua” những tấm ảnh, tập thơ đó. Bà nói: “Tôi không muốn đem tình cảm của Bùi Giáng ra đánh bóng tên tuổi của mình hoặc làm gì đó có dấu ấn kinh doanh. Dù tôi không yêu ông, nhưng tôi trân trọng tình yêu của ông. Tuy nhiên, bây giờ sau loạt bài của báo TN, tôi thấy đây không còn là chuyện riêng tư nữa, mà Bùi Giáng là một sự kiện văn học chung và nếu không lên tiếng thì có những thêu dệt không đẹp cho Bùi Giáng, vì vậy tôi chỉ muốn

nói rõ một vài sự thật để người ta hiểu ông đúng hơn”.

Kim Cương biết Bùi Giáng lúc bà khoảng 19 tuổi, còn theo đoàn cải lương của má Bảy Nam nhưng Kim Cương đã được mệnh danh là “kỳ nữ”. Thật ra, ông chú ý đến bà trong một đám cưới của đôi bạn Hạnh – Thùy. Sau đám cưới, một hôm Thùy bảo Kim Cương: “Có một ông giáo sư Đại học Văn khoa, đi học ở Đức về, ái mộ chị lắm, muốn đến nhà thăm chị”.

Kim Cương trả lời: “Ừ, thì mời ổng tới”.

Hóa ra là Bùi Giáng, lúc ấy đang dạy học, cũng áo quần tươm tất chứ chưa có “điên điên” như sau này. Bùi Giáng lui tới, mời Kim Cương lên xe đạp ông chở đi chơi, rồi cả cầu hôn, nhưng bà đều né tránh. Bởi sau vài lần tiếp xúc, bà thấy ở ông toát lên cái gì đó “kỳ kỳ”, bất bình thường, nên bà sợ. Đeo đuổi mãi không được, Bùi Giáng thở dài nói: “Thôi, chắc cô không ưng tôi vì tôi lớn tuổi hơn cô (Bùi Giáng lớn hơn Kim Cương mười mấy tuổi), vậy cô hứa với tôi là sẽ ưng thằng cháu của tôi nhé. Nó trẻ, lại đẹp trai, học giỏi”. Kim Cương ngần ngừ: “Thưa anh, chuyện tình cảm đâu có nói trước được. Tôi không dám hứa hẹn gì đâu, để chừng nào gặp nhau hẵng tính…”. Ý bà muốn hoãn binh. Nhưng Bùi Giáng đã đùng đùng dắt cháu tới.

Trời ơi, hóa ra đó là thằng nhỏ mới… 8 tuổi. Kim Cương hết hồn. Thôi rồi! Ổng đúng là không bình thường!

Từ đó, mỗi năm Bùi Giáng mỗi bệnh nặng hơn. Ông không có vợ con, suốt ngày đi lang thang ngoài đường, hò hét, rồi cứ địa chỉ nhà Kim Cương mà tới. Thằng bé Toro con của Kim Cương lúc ấy khoảng 5 tuổi, thường trố mắt ra nhìn ông, và hỏi: “Mẹ ơi, sao bác này giống cái xe hoa quá ?”. Tư duy trẻ con thật ngộ nghĩnh, nhưng lại rất chính xác. Thì trên người Bùi Giáng có đủ thứ: nào hộp lon treo lủng lẳng, nào lá cờ giắt sau lưng, nào nhánh cây, vòng hoa trên đầu… cả một nải chuối đeo thường xuyên trên cổ. Không mở cửa cho ông vào là ông la hét, đập cửa, chửi um sùm, ném đá nữa, khiến hàng xóm náo động. Nhưng riết rồi quen, mỗi lần ông tới nhà Kim Cương ai nấy đều cười. Má Bảy Nam ở trên lầu chỉ cần nghe la rùm beng, đập cửa ầm ầm, là hỏi “Bùi Giáng phải không?”.

Nhiều lần ông say khướt, nằm ịch xuống gốc cây trước nhà Kim Cương, mọi người phải khiêng vào. Bà lắc đầu: “Sợ ổng chết. Tướng tá vầy có thể chết bất cứ lúc nào. Nhưng khiêng vô rồi cũng sợ rủi ổng chết trong nhà mình. Mà điều, không nỡ bỏ ổng lăn lóc ngoài đường, thấy tội quá”.

Nhưng điều hay nhất là mỗi khi vô nhà Kim Cương ông lại sáng tác thơ để tặng bà. Tiện tay xé bất cứ tờ giấy, tờ lịch nào là ông viết ào vô đó. Nguồn thơ yêu cứ tuôn trào như suối, không vơi cạn theo năm tháng. Về sau, khi ông “quậy” quá thì Kim Cương nghĩ ra cách, không mở cửa, mà lòn một cuốn sổ ra khe cửa cho ông viết thơ. Ông hí hoáy một hồi, rồi vui vẻ bước đi.

Suốt 40 năm, cả chục cuốn sổ tay đã đầy ắp chữ của ông, chỉ riêng tặng “Nương tử Kim Cương”. Bà trân trọng gìn giữ trong ngăn tủ. Những vần thơ yêu với nét chữ ngả nghiêng chệnh choạng nhưng hồn nhiên say đắm lạ kỳ.

Kính thưa nương tử Kim Cương
Tấm lòng rộng mở phi thường bấy nay
Ngàn năm điêu đứng đọa đày
Thiên thu sử lịch cau mày về sau
Thưa em đời mộng dạt dào
Tình yêu vô tận yêu đào vô biên
Kể từ tao ngộ đầu tiên
Kim Cương vô tận, thuyền quyên vô cùng
Bốn mươi năm đã lẫy lừng
Âm thầm tưởng niệm lạ lùng giai nhân
Trái tim thiết thạch vô ngần
Từ tam thu tới tử phần hôm nay
Kể từ sử lịch xa xuôi
Bất ngờ một bận bùi ngùi yêu em
Lang thang vạn dặm độc hành
Cẩm nang bỏ cuôc đời mình trao em.

Phải nói là Kim Cương có “quyền lực” rất lớn đối với Bùi Giáng. Cứ nghe tên bà là ông trở lại ngoan ngoãn như một đứa trẻ con. Một lần, ông làm “chim bay cò bay” giữa phố, gây ách tắc giao thông, công an tới lôi ông vào cũng không được. Tình cờ có ông nhà báo trông thấy, thế là anh ta rỉ tai ông: “Kim Cương nhắn ông tới nhà kìa !”. Lập tức ông riu ríu đi theo nhà báo.

Ông còn “ái mộ” bà theo kiểu “kinh khủng” của ông. Người ta ái mộ thì xin chữ ký, xin hình, còn ông thì xin… quần. Ông tới nhà nằng nặc đòi bà cho ông cái quần. Bà lấy quần của cậu Toro nay đã lớn cỡ ông mặc vừa. Ông giãy nảy không chịu, đòi cái quần của Kim Cương mới được. Bà bực quá, đưa thiệt. Lập tức ông mặc vô và rồi không chịu thay ra. Tắm xong, mặc lại. Tỉnh bơ.

Và sau này khi ông ở nhờ nhà anh Hoài – cháu gọi ông bằng bác họ – tại Gò Vấp, thì cũng chỉ Kim Cương là người phụ nữ duy nhất được ông cho phép bước vào nhà. Nhiều lần, các bạn thơ nữ có ghé thăm ông, nhưng vừa mới nghe cháu vô báo tin là ông đã la hét om sòm, đuổi họ như đuổi tà: “Chỉ có tiên nữ Kim Cương mới được bước tới đây. Đi ra ! Đi ra hết !”.

Nghệ sĩ Kim Cương nói: “Tôi rất trân trọng tài năng của ông, nhưng phải nói thật là ông điên nặng, nhưng là cái điên trí tuệ, nói ra nhiều câu cực kỳ sâu sắc”. Thỉnh thoảng, khi ông hơi tỉnh thì Kim Cương cũng ngồi bàn chuyện thơ văn với ông cho ông vui. Những lúc ấy, ông gọi bà bằng “cô” đàng hoàng chứ không “nương tử”, không “Hằng Nga” gì hết. Nhưng có một lần, ông làm bà hết hồn. Hai người bàn luận đến Kiều, bà đọc mấy câu lỡ có sai một chút, ông liền đập bàn, la hét, nhảy dựng lên: “Tại sao Kiều mà cô nói sai như vậy? Câu vậy mà cô nói là của Kiều hả?”. Thấy ông trợn mắt giận dữ, bà cứ ngỡ ông sắp bóp cổ mình tới nơi. Bà quên mất rằng ông cũng yêu Kiều say đắm như yêu bà

Có một chuyện nhỏ, nhưng cảm động. Kim Cương nói rằng Bùi Giáng có đóng phim gì nữa đó, chắc đóng vai phụ nho nhỏ thôi. Kim Cương nhớ khi ông lãnh tiền thù lao, liền mua hai trái xoài đem tới cho bà. Rất dễ thương.

Kim Cương bùi ngùi nhớ lại: “Suốt 40 năm, ông đối với tôi như một người yêu đơn phương, thì ngược lại, tôi đối với ông như chỗ dựa tinh thần, bất cứ lúc nào nghe ông đau ốm hay bị công an bắt, bị người ta đánh là tôi có mặt”. Bởi đơn giản, trong đầu Bùi Giáng chỉ có một số điện thoại duy nhất, một địa chỉ duy nhất, đó là địa chỉ và số điện thoại của Kim Cương. Nhiều lần ông đứng giữa đường dang tay la hét, làm kẹt xe, công an tới bắt, hỏi cách gì ông cũng chỉ nói một câu: “Người thân cuả tôi là Kim Cương, ở số… Hoàng Diệu, điện thoại 844…”. Thế là công an réo gọi Kim Cương. Bà đi lãnh ông ra. Chuyện đó xảy ra không biết bao nhiêu lần. Có khi ông bị té, bị thương, người ta chở vô bệnh viện, ông cũng chỉ “khai báo” y như vậy.

Bệnh viện lại réo bà. Bà lại đến. Hoặc những lúc ông lên cơn, có khi vô quậy cả đám cưới nhà người ta, bị người ta đánh, bà lại đến đưa ông về. Có lần, ông xuất hiện trước nhà bà với tóc tai mặt mũi đầy máu vì mới bị ai đó đánh, bà hoảng hốt gọi xích lô cho ông đi cấp cứu. Ông không chịu: “Chừng nào cô đi với tôi thì tôi mới đi”. Ừ, thì đi. Kim Cương gọi chiếc xích lô chở ông, vừa ngồi xe ông vừa nói vung vít, mặc cho Kim Cương chịu trận.

Và như thường lệ, trong cơn điên điên tỉnh tỉnh, ông lại tiếp tục làm thơ yêu qua cuốn sổ nhỏ nhét vào khe cửa nhà bà:

Yêu nhau từ bấy tới nay
Xiết bao tâm sự từ ngày qua đêm
Thưa em nương tử dịu mềm
Bốn mươi năm lẻ êm đềm vô biên
Đầu tiên tiên nữ Kim Cương
Cuối cùng muôn một phi thường Cương Kim
Cúi đầu bái tạ tình em
Về sau vĩnh viễn êm đềm thương nhau
Làm thơ tiếp tục yêu em
Ồ Kim Cương ạ êm đềm vô song
Kể từ lịch kiếp long đong
Anh điêu tàn tới thong dong bây giờ

Bùi Giáng về ở nhà của anh Hoài vào khoảng năm 1978, thì đến khoảng 1992 đã hơi tỉnh tỉnh. Nhà thơ Trụ Vũ thường ghé chơi với ông. Một lần Trụ Vũ bảo: “Kim Cương hẹn ngày mai lên thăm anh”. Thế là suốt đêm ông không ngủ. Sáng dậy, ông đi tới đi lui, đứng ngồi không yên, và càu nhàu: “Cái thằng Trụ Vũ, chừng nào lên thì lên, nhắn nhe làm chi cho người ta sốt ruột”.

Anh Hoài còn tiết lộ ông phải giả vờ uống một tí rượu để đóng vai “say”, như thế khi Kim Cương lên thăm ông mới có cớ đi ngả nghiêng cho Kim Cương dìu đỡ. Nhưng có lần uống mãi, uống mãi, rồi say thật lúc nào chả biết, khi Kim Cương đến nơi thì ông đã… ngủ khò. Một bữa, Kim Cương đến nhà, tặng ông đóa hoa hồng. Ông sung sướng quá. Kim Cương về rồi, ông hỏi anh Hoài: “Làm sao giữ được hoa tươi mãi hè ?”. “Ba ngày là nó héo thôi bác ơi!”. “Trời ơi, của Kim Cương tặng tao, phải giữ hoài chớ bây !”. “Con có cách. Đem hoa trút ngược xuống thì sẽ giữ giùm bác được vài tháng”. Đúng là giữ được vài tháng, đến khi hoa đã khô nát ông mới đành lòng chia tay.

Gần 60 tuổi, ông tới nhà bà với đôi mắt nheo nheo không nhìn thấy rõ. Bà dắt ông đi mua cặp kính lão. Nhưng chỉ một tháng sau, ông xuất hiện với một bên tròng kính bị bể vì người ta đánh. Bà dỗ ngọt: “Tôi mua cho anh kính mới nghen”. Ông lắc đầu: “Thôi cô, nhìn đời bằng một con mắt đủ rồi.

Kể ra, đâu chỉ có Bùi Giáng kiên nhẫn và thủy chung với kỳ nữ Kim Cương, mà chính Kim Cương cũng đã đáp lại mối tình đơn phương của Bùi Giáng một cách chân thành và kiên nhẫn, thủy chung suốt 40 năm, gần giống một người chị, một người mẹ. Cho nên, có người nói với bà: “Chắc kiếp trước Bùi Giáng mắc nợ bà !”. Bà đáp vui trở lại: “Hổng biết ổng mắc nợ tui hay tui mắc nợ ổng!”. Những lúc tỉnh táo, ông nói: “Cô nhơn hậu lắm cô mới chịu nói chuyện với tôi tới giờ này !”. Nhân đó bạn bè hỏi: “Kim Cương có cái gì mà anh thương dữ vậy ?”. Ông đáp: “Lúc tôi gặp cô trong đám cưới của Hạnh – Thùy, cô mặc cái áo dài lụa trắng, tôi thấy hào quang tỏa tỏa ra, tới bây giờ vẫn còn tỏa”.

15 ngày trước khi chết, Bùi Giáng đến nhà Kim Cương để lại mấy câu thơ như báo trước điềm chia ly:

Thương yêu có lẽ như là
Nghi ngờ nhau mãi vẫn là Kim Cương
Ta đi đau xiết vui buồn
Một mình ở lại muôn trùng em yêu.

Rồi ông té, chấn thương sọ não, chở vào Bệnh viện Chợ Rẫy. Người đầu tiên gia đình gọi đến là Kim Cương. Kim Cương nói : “Lần đầu tiên tôi thấy Bùi Giáng sạch sẽ. Đầu cạo sạch, không còn mớ tóc bù xù nữa. Và quần áo bệnh viện thì trắng bong. Cho nên tôi nhìn ổng không ra, cứ chạy đôn chạy đáo khắp các phòng tìm ổng”. Những đứa cháu xin bà cho ý kiến. Bà đồng ý để bác sĩ phẫu thuật cho ông dù chỉ còn 1% hy vọng.
Nhưng rồi Bùi Giáng đã ra đi.

Trước mộ ông trước giờ hạ huyệt, Kim Cương nhẹ nhàng thủ thỉ: “Thưa Bùi Giáng! Đời ông là một đời giang hồ, nhưng mọi người vẫn mến thương ông, chắc ông cũng mãn nguyện rồi. Riêng tôi có 3 điều cảm ơn ông. Thứ nhất, ông đã để lại một sự nghiệp thơ cho đời. Thứ hai, cảm ơn mối tình 40 năm ông dành tặng tôi, tới giờ tôi có thể nói đó là mối tình lớn, ông là người yêu tôi chung thủy nhất, lâu dài nhất. Thứ ba, cảm ơn vì ông đã cho tôi một bài học, rằng dù điên hay tỉnh, giàu hay nghèo, già hay trẻ, trong lòng mỗi người cũng phải có một mối tình để sống”.

Nhưng chắc gì Bùi Giáng đã chịu xa lìa Kim Cương. Ông còn một lời nhắn nhủ viết trong cuốn sổ tay tại nhà Kim Cương:

“Kiếp sau gặp lại nhau, anh Bùi Giáng chỉ mong được Kim Cương chấp thuận cho phép anh Bùi được làm đầy tớ trung thành tuyệt đối của Kim Cương”.

Và:
Vô ngần tao ngộ đầu tiên
Em bao giờ biết anh phiền ưu sao
Yêu em từ những kiếp nào
Về sau cũng niệm nguyên màu ban sơ.

Huỳnh Văn Yên
(st)  

Image may contain: 1 person

Nhà hoạt động bị giam cả năm mà không được đưa ra xử

Theo Ân Xá Quốc Tế, bà Đoàn Thị Hồng bị biệt giam suốt 11 tháng, và gia đình chỉ được phép gặp mặt lần đầu tiên vào ngày 4 tháng 9 vừa qua. Sau cuộc gặp, gia đình cho biết sức khỏe của bà suy giảm đáng kể. Gia đình cho biết cuộc gặp bị giám sát bởi một công an cho nên không thể hỏi kỹ về tình hình sức khỏe của bà Đoàn Thị Hồng. Tuy nhiên, khi gia đình ra về thì viên công an trao cho họ một danh sách những loại thuốc trị bệnh bao tử, não, và da để mua gửi vào cho bà Đoàn Thị Hồng mà không giải thích gì thêm.

Ân Xá Quốc Tế nhắc lại bà Đoàn Thị Hồng bị bắt vào ngày 2 tháng 9 năm 2018 khi đang đi chơi cùng một bạn nữ khác mà không có lệnh bắt. Trước đó vào tháng 6 bà có tham gia một cuộc biểu tình ôn hòa diễn ra ở Thành phố Hồ Chí Minh chống hai dự luật đặc khu và an ninh mạng.

Bà Đoàn Thị Hồng sinh năm 1983, quê quán Hàm Tân, Bình Thuận. Bà tham gia nhóm xã hội dân sự độc lập có tên Hiến Pháp.

GẶP GỠ Ở LƯNG ĐÈO-Vũ Thư Hiên

GẶP GỠ Ở LƯNG ĐÈO

Vũ Thư Hiên·Saturday, September 7, 2019·35 minutes

1

Thời gian trôi, chớp mắt đã quá nửa thế kỷ. Không thể níu kéo nó, không thể bắt nó dừng. Nó đi rồi là hết, may chăng còn rớt lại cái bóng.

Tôi có giữ lại một cái bóng có thể bổ sung cho tiểu sử một con người đáng nhớ. Người ấy có thể là người quen của bạn, người ấy có thể không xa lạ với bạn, biết đâu đấy.

Chuyện là thế này.

Cuộc kháng chiến đã vào năm thứ tư. Con đường hàng tỉnh từ Tuyên Quang đi Thái Nguyên vốn hẹp không có ô tô qua lại còn trở nên hẹp hơn nữa. Những bụi cây lúp xúp tràn ra mặt đường. Cỏ gà, cỏ mần trầu mọc thành bụi ở những ổ gà. Ở đôi chỗ hoa lau loà xoà quệt vào mặt khách bộ hành.

Ba lô trên vai, tôi cắm cúi đi.

Một mình. Nắng chói chang.

Đường vắng ngắt, không bóng người. Thỉnh thoảng lắm mới thấy một chiếc xe đạp lọc cọc vượt qua.

Đang đi bỗng dưng tôi thấy người ngây ngấy sốt. Trong người cảm giác rét tăng dần. Sốt rét rồi! Cái thứ bệnh tai quái không đến khi mình còn ở cơ quan tĩnh tại hoặc ở một trạm chờ nào đó, khốn nạn thế, lại nhằm lúc mình đang trên đường, không còn gì tệ hơn.

Tôi sốt đùng đùng và rét run cầm cập.

Thứ ánh sáng tàn nhẫn của nắng quái thiêu đốt tất tần tật mọi thứ nó đụng tới. Những bụi rậm ven đường rũ xuống, lá nào lá ấy quắt queo.

Đến lúc không còn chịu đựng được nữa, tôi tạt ngang, lao bừa vào rừng qua những bụi rậm gai góc và dây leo chằng chịt. Chỉ ở trong ấy, dưới những tán lá rậm của cây cao mới có chỗ trú khỏi cái nắng chết người.

Sức trong người tôi cạn dần cùng với mỗi bước đi, cùng với mỗi hơi thở nóng hổi, như thể nước trong thùng từng đợt ộc ra ngoài. Đi được vài chục bước, tôi kiệt lực, gieo mình xuống thảm lá mục, cố lê đến một gốc cây thấp, tựa vào nó mà thở hồng hộc. Hơi thở làm bỏng môi trên. Những dòng mồ hôi lăn dài trên ngực. Áo quần chẳng mấy chốc đã ướt đẫm.

Dù sao thì cuộc chạy trốn khỏi con đường đá răm vắng ngắt phơi mình dưới ánh nắng kinh khủng ngoài kia cũng ngừng được trong giây lát. Một con chim đỏ chót bay vút qua những bụi rậm trước mắt tôi với một tiếng hót lanh lảnh làm tôi giật mình.

Tôi chợt hiểu: cái mà tôi đang chịu đựng không phải sốt rét thường. Rất có thể nó là một cơn ác tính.

Tôi đã biết sốt rét ác tính cái gì. Nó thường đi kèm với cái chết.

Tôi thì còn quá trẻ để chết.

Không, tôi không thể chết thế này.

Tôi gắng gượng đứng lên, lảo đảo lao trở lại con đường chói lòa.

Không thể dừng. Phải tiếp tục đi. Ngay lập tức.

Bằng mọi giá, phải tới được trạm quân y, tôi nhớ nó cách đấy không xa lắm.

2

Tiếng đàn làm tôi tỉnh giấc. Tôi nằm yên, lắng nghe những giọt âm thanh thánh thót tan vào không gian im ắng. Nó thoáng hiện, thoáng mất, nhưng không phải trong mơ.

Giai điệu mơ hồ đưa tôi về quá khứ, nhắc tôi tới một cái gì mang máng nhớ mà không sao nhớ ra.

Choàng tấm chăn sui [1] lên vai, tôi đứng lên đi, những bước xiêu vẹo về phía có tiếng nhạc.

Qua tấm liếp khép hờ ngăn với gian ngoài tôi thấy một người đàn ông đang cúi xuống cây ghi ta Hạ Uy Di. Cảnh tượng làm tôi sững sờ – tôi không nghĩ tới, không tưởng tượngnổi giữa rừng Việt Bắc thời chiến lại có người nhàn tản chơi đàn như thế.

Tiếng đàn đột ngột tắt.

Người đàn ông ngẩng lên. Rồi bật dậy, sải bước về phía tôi, ngắm nghía tôi, đoạn buông một câu hỏi bất ngờ:

– Hà Nội hở?

Rất ngạc nhiên, nhưng tôi gật:

– Hà Nội.

Anh ta nhìn tôi chằm chằm, đặt tay lên trán tôi, rồi cười lớn:

– Lạy Trời, cậu sống rồi!

3

Tôi không tới được trạm quân y.

Hình ảnh cuối cùng mà tôi nhớ được là một mái tranh lờ mờ trước mặt.

Tỉnh lại, tôi thấy mình trong gian bếp thấp tè, đen sì mồ hóng với bầu không khí đậm mùi khói lưu cữu.

Người đàn ông kéo tôi đến bên chõng, đặt tôi ngồi.

– Tốt rồi! – anh nắm tay tôi, nhìn sâu vào mắt tôi, lặp lại lần nữa – Đã tưởng cậu không sống nổi.

Tôi nhìn anh. Dáng thanh mảnh, cao ráo, gương mặt thông minh, đôi mắt sáng, đen láy, cái nhìn thẳng thắn. Tất cả gợi cảm giác tin cậy , thoải mái. Cách xưng hô “cậu, tớ” ngay lập tức xoá nhoà ranh giới giữa tôi và người lạ.

– Lúc khiêng cậu vào, mặt cậu tím ngắt, lay gọi thế nào cũng không tỉnh.

Tôi ấp úng lời cảm ơn.

– Vớ vẩn! – anh lắc đầu, cười hiền – Cảm ơn cái con khỉ. Cảm ơn trời ấy.

Thì ra đây là người cứu tôi. Tôi chỉ nhớ khi quán nước hiện ra lờ mờ trước mặt, thì trời đất bỗng nghiêng ngả rồi đổ sụp.

Anh đặt tay lên vai tôi:

– Cậu nằm đây vài ngày cho lại sức, mọi cái tính sau.

Nụ cười nói về con người nhiều hơn bất cứ ngôn ngữ nào. Qua nụ cười ta có thể biết mọi thật giả, tốt xấu nơi người đối thoại. Nụ cười của anh cho tôi niềm tin.

– Cậu người phố nào?

– Nhà Rượu, anh ạ.

– Ờ, Sergent Larrivet – anh nói, mắt mơ màng – Tớ cũng hay qua đấy. Bên kia Nghĩa địa Tây có cái marbrerie [2] Ngô Văn Vỹ. Tớ quen gia đình này.

Cái xưởng đá với vô số bia mộ đẽo dở nằm ngổn ngang trong một bãi rộng tràn cả ra ngoài đường là hình ảnh quen thuộc với tôi. Tôi thường đi qua đây để ra phố Huế, nơi lũ trẻ chúng tôi đặt những nút bia lên đường tàu điện, chúng sẽ bị bánh tàu điện ép phẳng lì thành một thứ tiền trong tròăn thua của trẻ con, gọi là xèng.

Từ chỗ chúng tôi đang ngồi, Hà Nội xa tít tắp, như ở một thế giới khác.

Anh đặt cây đàn sang một bên, bắt tôi nằm, rồi ngồi bên – Giữa đường được gặp cậu, lại là người Hà Nội, tớ vui lắm.

Tôi nằm, ngước nhìn anh.

– Cậu có hay đi ciné [3] không?

Tôi gật.

Anh mơ màng:

– Mình hay đi Majestic. Cậu cũng hay xem ở đấy chứ?

Tôi lại gật.

Majestic nằm giữa phố Huế, là rạp cho tây đầm, cho nhà giàu, vé đắt. Tôi mê xem phim, nhưng chỉ có thể xem phim ở rạp Moderne phố Hàng Quạt. Giá hạng bét ở rạp này một hào rưỡi, nhưng khi buổi chiếu đã bắt đầu, cửa đã khép, thì chỉ cần giúi vào tay ông gác cửa to béo có hàng ria mép rậm một hào hoặc không đủ một hào là con người dễ tính liền gạt bức màn bằng vải thô nặng nề đẩy tôi vào không gian mơ ước. Tôi thường được vào khi đã qua phần thời sự hoặc phim chính bắt đầu chiếu. Phim nói tiếng Pháp nhưng đọc chương trình tóm tắt có thể hiểu chuyện phim. Chúng tôi, những đứa trẻ mê xi-nê, đứa nào cũng tích được một tập chương trình. Chúng tôi thuộc tên các diễn viên, ngày ấy gọi là tài tử – Clark Gable, Cary Grant, Gary Cooper…

– Phim cuối cùng cậu xem là phim nào?

– Bạch Tuyết và bảy chú lùn, anh ạ.

Tôi không thể cậu tớ với người hơn mình nhiều tuổi

Bạch Tuyết và bảy chú lùn không được chiếu ở các rạp rẻ tiền. Tôi phải hy sinh vài buổi xem ở rạp Moderne để được ngồi ghế hạng bét ở Majestic.

– Thích chứ?

– Thích.

– Còn mình thì thích Pinoccio.

Mắt anh mờ đi.

Nỗi nhớ chung dắt chúng tôi về nơi đã trở thành dĩ vãng.

– Tôi cũng thích Pinoccio. Nhưng thích nhất là những phim cao-bồi như La Chevauché fantastique[4].

– Tớ có xem phim này. Charles Starett vai chính.

– Xem xong, sau buổi chiếu muộn – tôi mơ màng nhớ lại – khi ngoài tiếng guốc gỗ khua trên vỉa hè đêm là tiếng huýt sáo bản nhạc trong phim vừa xem.

Anh huýt sáo giai điệu tôi vừa nhắc:

– Tuyệt. Người Hà Nội rất có khiếu âm nhạc. Không thế thì làm sao nhớ được một giai điệu vừa mới nghe.

4

Một cô gái xuất hiện ở cửa quán.

Ánh sáng ngược tạo ra một vầng hào quang trên mái tóc cô, nó làm gương mặt cô chìm trong tối, trừ cặp mắt long lanh.

– Cô chủ quán – anh ngừng nói, mắt tươi rói.

Nhìn thấy tôi, cô gái reo lên mừng rỡ:

– Ối trời, anh đã dậy được rồi kìa!

Cô đặt bàn tay mềm và mát rượi lên trán tôi, cười khanh khách:

– A lúi, lúc ấy trông anh kinh lắm. Mấy ngày rồi ấy nhỉ? Hôm nay là ngày thứ ba.

– Không có cô ấy thì một mình tớ không tài nào tha nổi cậu đâu – anh nói – Cậu trông thế mà nặng kinh.

Anh cười tươi, mắt không rời cô gái.

– Như chết rồi ấy – cô gái nói – Người chết nặng hơn người sống, các cụ bảo thế.

Nước da trắng hồng, nụ cười phô hàm răng trắng đều đặn – một cô gái xinh. Thoạt nghe cô “a lúi”, tôi nghĩ cô người Tầy, nhưng “may ơi là may” thì chỉ có người Kinh nói.

– Đang nằm xuội anh bật dậy, răng nghiến chặt, bọt mép sùi ra, giãy giụa như lên cơn động kinh – cô miêu tả tình cảnh của tôi – Hai anh em đè không nổi.

Tôi nói xinh là không đủ, hoặc sai.

Tôi đang ở cái tuổi nhìn thấy cô gái nào cũng đẹp, không đẹp lắm thì cũng đẹp vừa. Trong bộ quần áo xanh chàm, trông cô không khác những cô gái Tày. Cô có giọng liến thoắng, rất trong, như hát.

Anh cười theo cô, lắc đầu:

– Khiếp, lại còn đái cả ra quần nữa chứ.

Tôi nhìn xuống.

Tôi đỏ bừng mặt. Ai đã thay cho tôi? Người đàn ông nọ? Hay… cô gái?

Cái ba lô của tôi nằm dưới chân chõng. Tôi kéo nó lại. Bộ quần áo cũ đã được giặt sạch nằm trên cùng. Cái tôi quan tâm hơn hết là bó tài liệu bọc trong vải mưa tẩm nhựa thông. Nó còn nguyên vẹn.

Anh không để ý cử chỉ hấp tấp của tôi. Nếu nhận thấy, anh sẽ giận vì nó chứng tỏ tôi không tin người đã cứu mình.

– Ca ác tính này tớ đã gặp. Khó qua lắm – anh chậm rãi nói – Phải có Quinoform tiêm thẳng vào ven mới xong. Ở cái chốn hẻo lánh này thì làm gì có nó. May sao, tớ còn nhiều ký ninh. Mới hòa thật đặc cho cậu uống. Là còn nước còn tát, chứ chẳng hi vọng gì.

– Cả một vốc thuốc. Răng anh cắn chặt lắm – cô gái kể – hai người cậy mãi mới được. Anh vùng vẫy, phun phì phì.

– Tớ còn sợ làm cậu chết vì thuốc ấy – anh nghiêm nghị – Thôi thì cứ liều, đổ đại cho cậu. Coi như còn nước còn tát.

5

Tôi không quên từng chi tiết cuộc gặp gỡ bất ngờ. Nó hằn sâu trong trí nhớ bề bộn.

Nó đúng là như thế. Bắt đầu không phải cái gì khác, mà một câu hỏi:
– Hà Nội hở?

Làm sao anh có thể thoáng qua đã nhận ra một nét Hà Nội trong tôi?

Tôi không đặt câu hỏi ấy ra với anh. Anh hỏi mà như khẳng định. Không khảo sát, không đánh giá.

Quán nước này giống hệt mọi quán khác – một mái tranh nhỏ, tạm bợ, không chái, không vườn. Những quán nước như thế nằm rải rác trên con đường hàng tỉnh với quãng cách không thể nào biết trước, có thể vài cây số, có thể hơn. Chúng hiện ra bất ngờ ở những khúc ngoặt, những ngả rẽ bên con đường ngoằn ngoèo hết lên lại xuống giữa đồi núi chập chùng.

– Em phải chạy ngay, mẹ em bảo. Đã có các anh ở đây rồi.

Tôi gặp mẹ cô vài lần mấy ngày sau khi bà tạt qua quán – một người hết sức đồng bằng, chít khăn mỏ quạ, thấp bé, nhanh nhẹn, ít nói, cười nhiều. Bà kể: khi làng bị Tây càn, bà đắt con chạy theo gia đình một ông lái gỗ, vùng này ông quen khi còn làm sơn tràng. Thời chiến, nghề buôn gỗ về xuôi không còn đất, ông dựng hai ngôi nhà tạm cho hai gia đình. Đất rộng, hai nhà phát hoang trồng khoai trồng sắn, nuôi gà, chạy chợ.

Trong gian ngoài cái quán có cái chõng tre đã ngả màu cánh gián, trên đó có ấm nước vối sứt vòi, mấy cái bát sành, vài nải chuối, mấy tấm bánh lá, mấy gói kẹo vừng, kẹo lạc, vài phong thuốc lào – hàng hoá muôn thuở của bất cứ quán ven đường nào. Sang hơn cả, được đặt trong một lọ thuỷ tinh không trong suốt là những cái kẹo đen sì làm bằng đường thẻ, có tên là “kẹo đầu Tây”, vì chúng trông giống những cái mũ sắt. Khi vắng chủ quán, khách vãng lai tự ăn tự uống, rồi tự bỏ tiền vào một cái hộp bánh quy đã rỉ sét, không có nắp. Hàng bày trên chõng đều có ghi giá, khi bằng bút chì, khi bằng mực tím, viết nguệch ngoạc trên một mẩu giấy.

Nhiều quán trên mấy tỉnh lộ vùng núi cũng thế – người ta chẳng cần trông, khách không bao giờ ăn uống mà không trả tiền.

– Có lần người ta trả bằng gạo, chắc là của mấy chú bộ đội – bà chủ quán kể – Tội nghiệp, không còn tiền thì thôi, chứ ai nỡ đòi gạo bộ đội.

Ngoài hai mẹ con, trong quán còn có một con chó bốn mắt, thứ chó mực có hai đốm vàng trên mặt, tôi gặp nhiều ở vùng này. Cả ngày nó tha thẩn theo cô chủ, cô đi đâu nó theo đấy. Nhưng khi cô bảo nó ở lại quán thì nó nghe lời, ở lại với hai chúng tôi.

Con bốn mắt không có tên. Nó quấn tôi lắm. Mỗi khi tỉnh giấc thấy con bốn mắt nằm giãi thải dưới chân, mắt lim dim, cùng tôi nghe đàn, tôi có cảm giác đang ở nhà mình.

Khi tôi còn bé, nhà tôi có một con Kiki trắng vá đen. Lứa đầu nó đẻ bốn con rất đẹp, cũng trắng vá đen như mẹ. Suốt ngày tôi chơi với chúng. Khi một đứa con của nó chết, tôi đem con chó tí xíu chôn ở dưới gốc hoàng lan cuối phố, nơi có con đường tắt đầy cỏ may dẫn vào chùa Hai Bà. Những giọt nước mắt đầu tiên của tôi trước sự mất đi không thể nào lấy lại của sinh linh bé bỏng đã nhỏ xuống nấm mồ cũng tí xíu.

Tôi trên đường công tác. Người đàn ông chẳng nói mình đi đâu, làm gì. Tôi cũng không hỏi.

Anh không giống những người tôi thường gặp. Áo sơ mi trắng, quần ka ki, sạch sẽ. Như thế anh không thể là bộ đội, bao giờ cũng xộc xệch, cũng nhếch nhác, không nhiều thì ít. Cũng không phải cán bộ chính trị chỉn chu trong bộ ka ki với cái xà cột bất ly thân, cán bộ cấp cao một chút còn cưỡi xe đạp Sterling. Anh cũng chẳng giống dân “bờ lờ”, cách gọi tắt dân buôn lậu, trong bộ cánh nâu tươm tất, kính đen Stigmal gọn gàng trên sống mũi. Tôi đoán anh là nhạc công trong một đoàn nào đó. Nhưng dân văn công thường đi đoàn với đủ mọi thứ lỉnh kỉnh. Người này chắc hẳn có công việc gì đấy không quan trọng, không cấp thiết. Không thế thì sao anh có thể ở lại giữa đường để trông nom một kẻ không hề quen biết.

Khi tôi hỏi ở lại giúp tôi có làm dở dang công việc của anh không, thì anh thờ ơ: “Chuyện vặt. Người nào gặp trường hợp này thì cũng làm như tớ thôi. Cậu có thể bỏ một người thập tử nhất sinh mà không cứu? Phải đợi cậu khỏe lại hẳn tớ mới đi được.

Mấy ngày tôi nằm lại, anh bắt tôi uống thuốc, chơi đàn cho tôi nghe, trò chuyện với tôi về thành phố từ đó chúng tôi ra đi.

Hà Nội đã tít tắp xa. Chẳng ai biết trước ngày trở lại. Có thể mường tượng nó – những con phố với những cột điện, những hàng cây, lá rụng trên hè, nước lặng lẽ chảy trong rãnh. Và “mái buồn nghe sấu rụng” trong thơ Chính Hữu.

Rõ ràng là con người này chẳng vội vàng, gặp chỗ dừng chân dễ chịu thì dừng, chẳng buồn kén chọn. Rất có thể cuộc gặp gỡ bất ngờ với người cùng quê hương cho anh cái cớ để dừng lâu hơn.

Tôi còn ngờ anh dừng lâu hơn vì cô gái.

– Một bông hoa rừng. Nhưng từ dưới xuôi lên.

Khi nhìn cô, mắt anh vừa sáng lên, vừa mơ màng. Cũng có thể tôi nhầm. Đôi lúc tôi có cảm giác vừa nói chuyện với tôi anh vừa nghĩ về một cái gì khác rất xa, chẳng dính dáng tới điều chúng tôi đang nói.

Ngày nào anh cũng bảo cô chủ quán mua gà, mua trứng về nấu cháo cho tôi ăn. Những bữa ăn như thế giúp tôi lại sức rất nhanh. Không những thế, chúng còn là những bữa ăn sang trọng hiếm có trong đời lính.

Một hôm, thấy tôi có vẻ băn khoăn, anh gọi tôi ra sau quán. Đứng trong những bụi sắn, anh trật quần dài, kéo tay tôi đặt vào cạp quần đùi:

– Cậu nắn đi.

Tôi nắn thấy những vật tròn cứng.

– Vàng đấy. Toàn nhẫn cả. Dự trữ cho kháng chiến trường kỳ. Thỉnh thoảng tớ lấy ra một cái bán đi ăn dần.

Anh xắp lại quần, cười hì hì:

– Đừng lo tớ không có tiền.

Tôi kể dài dòng văn tự chỉ cốt để người đọc những dòng kỷ niệm này hình dung được khung cảnh một thời đã mất. Thời ấy con người với con người là bạn, và còn hơn thế. Mà cũng để ghi lại một cái ơn. Không có cuộc gặp gỡ tình cờ ấy, biết đâu tôi chẳng còn.

Thời gian ngắn ngủi ở bên nhau đủ để chúng tôi thân nhau, yêu quý nhau nữa, có thể nói như thế. Những cuộc tâm sự đêm khuya trong tiếng sương rơi lộp độp trên mái tranh làm tôi hiểu và quý anh hơn.

Tôi trách mình đã không hoàn toàn tin anh. Thời chiến, tinh thần cảnh giác cách mạng làm cho cuộc chia tay giữa hai chúng tôi không được như lẽ ra nó phải có. Chúng tôi quyết định lên đường đi Thái Nguyên khi tôi đã có thể đi được. Tôi cố ý đi quá nơi tôi phải rẽ vào chừng một cây số mới chia tay với anh:

– Mình sẽ còn gặp lại – tôi nói.

– Chắc chắn – anh nói.

6

Tôi đã gặp Đoàn Chuẩn đúng như thế. Chia tay với anh, tôi chỉ biết cái tên.

Tôi gặp một con người, không phải một danh tiếng.

Những tác phẩm của Đoàn Chuẩn tôi không được nghe trong những năm kháng chiến. Tôi không nghĩ rằng đã có một lệnh cấm những bài hát lãng mạn. Chúng có vẻ không thích hợp trong thời chinh chiến thì người ta không hát, thế thôi. Hoặc giả có một lệnh cấm nào đó mà tôi không biết, không được nghe phổ biến.

Cuộc gặp gỡ thứ hai với người cứu mạng mình xảy ra mấy năm sau.

Ngày 10.10 năm 1954, xong việc quay cảnh thượng kỳ ở Cột Cờ, tôi đi lang thang. Ở phố Huế, trước cửa rạp chiếu bóng Majestic, tôi thấy một chiếc xe hơi bồng bềnh đi chầm chậm theo mình. Một gương mặt lạ – mái tóc bóng mượt, miệng ngậm bót thuốc lá ló ra ở cửa để mở. Người ngồi sau tay lái chăm chú nhìn tôi rồi cho xe vượt lên ngang tầm:

– Hiên hả? Phải Hiên không?

Đến lúc ấy tôi nhận ra anh: Đoàn Chuẩn.

Anh cho xe dừng, bước ra, ôm chặt tôi, mừng rỡ.

– Về khi nào?

– Đêm qua. Mới đi bát phố một lát.

– Cậu ở đâu?

– Khách sạn Splendid.

Anh cười:

– Sang nhỉ?

Rồi kéo tôi vào quán cà phê An Thái Majestic.

Người Hà Nội xưa đều biết quán cà phê này. Nó ở bên trái rạp chiếu bóng nếu đứng từ ngoài đường nhìn vào. Sau này, khi rạp Majestic đổi tên thành Tháng Tám thì nó biến thành một cái gì khác, một quán tạp hoá thì phải.

Quán đầy người. Khói thuốc lá mù mịt.

Đoàn Chuẩn lấy ra một cái hộp đựng thuốc lá lạ mắt bằng nhựa trong, màu vàng. Hộp này có rất nhiều ngăn, trong mỗi ngăn là một thứ thuốc lá: Phillips Morris, State Express, Craven A, Camel, Melia Jaune, Bastos… Các ngăn nối với nhau bằng dây thun. Chọn thứ thuốc loại nào thì bẻ gập nó ra. Tôi ngắm hộp thuốc lá của anh không rời – lần đầu tiên tôi thấy một hộp thuốc lá như thế.

– Cậu chọn loại nào?

Tôi chọn Craven A.

Anh bật lửa cho tôi. Cái bật lửa cũng lạ mắt như hộp thuốc lá, nó nhỏ, mạ vàng. Trong vùng kháng chiến chúng tôi chỉ có thứ bật lửa có khắc hình xe tăng, được gọi là “bật lửa tàu bò” có bán ở các chợ giáp ranh.

Anh nheo mắt ngắm tôi:

– Sao cậu không mặc uniforme (đồng phục)?

– Tôi không thích nó – tôi cười – Mặc vào như người gỗ.

Tôi trở về Hà Nội từ Nam Định. Trong thành phố người Pháp vừa bỏ lại mọi sinh hoạt vẫn diễn ra bình thường. Đoàn quay phim chúng tôi được lệnh phải may mỗi người một bộ đại cán để vào tiếp quản Hà Nội.

Đúng vào lúc lên đường, mọi người mới ngớ ra – cả đoàn đều vận đại cán, riêng tôi thì mặc đồ dân sự: áo popeline Thuỵ Sĩ, quần simili, giày tây.

Tôi phân trần:

– Mọi hiệu may đều hết vải ka ki.

Lý do này nghe cũng hợp lý. Tôi không bị “kiểm điểm” về thói tự do chủ nghĩa là cái tôi thường bị phê phán, và người ta phê phán đúng – tôi không vừa cho một cái khung nào.

Tiền tiêu chuẩn phát cho cán bộ may đại cán không đủ cho bộ quần áo tôi chọn. Ông chủ tiệm hào phóng không lấy thêm:

– Có mấy khi ta được gặp nhau như thế này.

Hoà bình ở Việt Nam chỉ có một nghĩa: hết chiến tranh.

Đoàn Chuẩn ngắm tôi:

– Với bộ diện này ai bảo cậu là cán bộ.

Tôi móc túi lấy cái phù hiệu tiếp quản thủ đô mọi cán bộ đều được phát cho anh xem. Đoàn Chuẩn ngắm nó lâu với vẻ tò mò.

– Tôi không đeo nó – tôi phân trần – Như thế tôi lẫn vào mọi người . Mới nghe được những nhận xét: “Quân phục xấu quá! Mà xăng Liên Xô thối kinh!”

Đoàn Chuẩn cười vui, giống hệt anh trong lần đầu chúng tôi gặp nhau.

– Xuống xe điện tôi vẫn nhảy bổ được, chưa quên đâu – tôi khoe.

– Vẫn còn Hà Nội – anh khen.

Tôi không đụng tới chuyện anh bỏ kháng chiến. Có cả đống lý do cho chuyện đó, mỗi người mỗi kiểu. Nghe người ta kể thì Phạm Duy rất bực khi anh đã có trong danh sách đi dự festival thanh niên và sinh viên thế giới ở Berlin, nhưng vào phút chót không hiểu sao anh đã bị gạt ra. Vì thế, và chắc vì nhiều điều khác nữa, anh bỏ kháng chiến. Sau này, tôi gặp Phạm Duy nhiều lần tôi cũng không hỏi anh chuyện đó. Nó không bao giờ là một thắc mắc. Người ta đi, người ta về, chẳng liên quan tới ai.

Đoàn Chuẩn không bực bội gì với kháng chiến. Người ta không quan tâm anh, anh không quan tâm họ. Anh đi kháng chiến như đi vào một cuộc viễn du thú vị, có vẻ chỉ là thế. Rồi anh trở về khi anh thấy đi đã đủ. Chẳng có chính chị chính em gì trong chuyện anh đi và về.

Chúng tôi hàn huyên cả giờ, uống mấy ly cà phê rồi mới chia tay.

Tối hôm đó tôi bị kiểm điểm: “Vừa mới vào đã liên lạc với bọn tư sản”. Tôi không biết mấy cậu bảo vệ đã tình cờ gặp tôi hay đi theo tôi, họ đã báo cáo. Dường như những cuộc tiếp xúc giữa chúng tôi với người ăn vận sang trọng đều bị coi là thiếu cảnh giác với cái gọi là “viên đạn bọc đường”.

Họ bảo vệ tôi vì được dạy dỗ như thế. Chứ không có ý xấu.

7

Sau cuộc gặp gỡ bất ngờ với Đoàn Chuẩn tôi được đi Liên Xô học, rồi làm báo, rồi đi tù 9 năm. Giữa những khoảng cách ấy tôi còn gặp Đoàn Chuẩn vài lần. Ngoài anh ra tôi không gặp một người nào chơi ghi ta Hạ Uy Di. Thứ đàn ấy ít người chơi, người ta thành kiến với tiếng ngân nga của nó, chắc vậy.

Ra tù, tôi bận lăn lộn kiếm sống, rồi liều mạng vào Sài Gòn, nơi không có bàn tay quen thuộc nào chìa ra cho mình. Đất phương Nam rộng rãi, người miền Nam phóng khoáng, che chở tôi, cho tôi mái ấm trong tha hương.

Thỉnh thoảng lắm tôi mới ra Hà Nội thăm cha mẹ và các em. Hoá ra bác Đoàn Vạn Vân, cha anh, là bạn với cha tôi. Bác là một trong số ít nhà mà cách mạng gọi là tư sản dân tộc, chủ một hãng nước mắm nổi tiếng. Cha tôi nói bác có giấm giúi cho cách mạng tiền, nhưng tôi không thấy những người viết hồi ký nhắc tới bác. Có lẽ tại bác cho không đủ nhiều. Hoặc vì chẳng bao giờ bác ra mặt ủng hộ cách mạng.

Đoàn Chuẩn vẫn vui khi gặp tôi, chắc hẳn như gặp một kỷ niệm không quên. Có một lần anh nhắc tới cô gái ở quán lưng dèo, mắt mơ màng. Trong đời anh chắc có nhiều bóng hồng lướt qua, cô là một. Mặt thêm nhiều nếp nhăn, anh không đi xe hơi nữa, hút thuốc lá Điện Biên bao bạc.

Chúng tôi hay kéo nhau tới quán cà phê ở gần Cột Đồng Hồ, nơi văn nghệ sĩ Hà Nội thường lui tới. Ông chủ quán có biệt danh Lâm Toét trọng các nghệ sĩ, nhất là các hoạ sĩ, mắt hấp him nhận ra Đoàn Chuẩn, đãi chúng tôi Gold Flake, thứ thuốc lá ngoại không biết của nước nào, vào Việt Nam bằng đường nào.

Thời gian ở Sài Gòn, cũng tới mười năm có lẻ, tôi mới được nghe nhạc Đoàn Chuẩn. Tôi nghe và sung sướng – tôi đã gặp một nhạc sĩ tài ba mà không biết.

Văn Cao đánh giá Đoàn Chuẩn:

– Nhạc hay. Ca từ lạ, là tâm sự mà đi thẳng vào hồn người.

Nhớ lại cuộc gặp gỡ ở lưng đèo Re, tôi đồ rằng những ngày ấy anh cho tôi nghe những bản nhạc anh vừa sáng tác:

Đây khách ly hương mấy thu vàng ấm…
Nơi quán cô đơn mơ qua trùng sóng…
Mơ tới bên em em tô quầng mắt…
Em tôi ngập ngừng trong tấm áo nhung…

Tung phấn hương yêu qua muôn lời hát…
Bay tới bên em tới em thầm nhắc…
Đây ý tơ xưa đâu duyên tình cũ…
Bóng anh phai dần ái ân tàn theo…

Và:

Chiều nào áo tím nhiều quá

Lòng thấy rộn ràng nhớ người

Đường về Việt Bắc xa cách mây

Nhìn về đường lối muôn khó khăn

Đây núi cao. Đây suối sâu

Đây lá xanh như ngàn xưa

Đường về ngập gió tha phương

Tiếc đời gấm hoa ta đành quên núi rừng…

Đoàn Chuẩn là một tiên ông lạc bước xuống trần. Anh không thuộc về thế giới này. Tôi không thể nghĩ khác thế.

Năm 2001 khi tôi đang lang thang ở miền Nam Ý thì nhận được tin nhắn của một người bạn cho biết Đoàn Chuẩn không còn nữa.

Ông tiên của tôi đã về trời!

2019

[1]Chăn làm từ vỏ cây sui, một thứ cây trong rừng Việt Bắc. Người ta lột vỏ nó, đập giập, ngâm nhiều ngày trong nước suối cho nó cho tới khi mềm nhũn chỉ còn lại những sợi gỗ làm thành một thứ có thể dùng làm chăn.

[2] Xưởng sản xuất đá bia mộ.

[3]Ciné (xi nê, tiếng Pháp, chiếu bóng)

[4]Chuyến đi ngựa kỳ thú.

From: Bác sĩ Phùng Văn Hạnh