TUYÊN BỐ BIỂN ĐÔNG

No photo description available.
No photo description available.
Image may contain: outdoor and water
No photo description available.

Trần Bang

TUYÊN BỐ BIỂN ĐÔNG

SAU 16 GIỜ, CÓ 4 TỔ CHỨC + 130 CÁ NHÂN KÝ TUYÊN BỐ BIỂN ĐÔNG. XIN CẢM ƠN TẤT CẢ. MỜI TIẾP TỤC KÝ TÊN

Các tổ chức và cá nhân đồng ý ký tên xin ghi rõ: Tên tổ chức và tên người đại diện/ Tên cá nhân và chức danh/nghề nghiệp (nếu có), tỉnh/thành (và quốc gia nếu ở nước ngoài) đang cư trú. Gửi về địa chỉ email: tuyenbobiendong3@gmail.com
Hạn chót nhận chữ ký: 20 giờ ngày 30/8/2019

TUYÊN BỐ VỀ BIỂN ĐÔNG (LẦN THỨ BA)
(văn bản chính thức, có chỉnh sửa, bổ sung sau khi nhận góp ý của thân hữu)

Từ ngày 3 tháng 7 năm 2019, Trung Quốc ngang nhiên đưa tàu thăm dò Hải Dương 8 với sự hộ tống của nhiều tàu cảnh sát biển và dân quân biển xâm nhập Vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa Việt Nam tại khu vực bãi Tư Chính, Vũng Mây, nơi Việt Nam đang thực hiện các hoạt động dầu khí của mình theo đúng Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNCLOS). Đây là một hành động rất nguy hiểm đối với an ninh, hoà bình của khu vực; tiếp tục leo thang trong quá trình nhất quán thực hiện tham vọng bá quyền biển Đông của Trung Quốc.

Cuộc xâm nhập tiến hành đúng vào thời điểm Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Lật ChiếnThư mời Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân thăm hữu nghị chính thức. Đó là động tác chà đạp lên những nguyên tắc ngoại giao tối thiểu, chứng tỏ những lời nói hữu hảo của Trung Quốc chỉ nhằm che đậy những hành động thù địch của họ.

Sau nhiều lần cố gắng tỏ thiện chí, ngày 19 tháng 7 năm 2019 Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phải lên tiếng mạnh mẽ phản đối Trung Quốc về hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Ngày 20 tháng 7 năm 2019 Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mạnh mẽ yêu cầu Trung Quốc ngưng ngay hành động bắt nạt và can thiệp với hoạt động theo dạng khiêu khích và gây bất ổn tại Biển Đông. Tuy nhiên đến ngày 22 tháng 7 năm 2019, quan sát viên quốc tế vẫn ghi nhận sự có mặt của các tàu Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam theo UNCLOS.

Trải qua 4000 năm biến động của lịch sử, dân tộc Việt Nam vẫn đứng vững bên bờ Thái Bình Dương. Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc đã nói: “Dẫu cường nhược có lúc khác nhau song hào kiệt đời nào cũng có”.

Người Việt Nam từ nhiều đời ông cha luôn có cách xử sự mềm dẻo với một nước lớn ở sát bên mình, nhưng không bao giờ đánh mất lòng tự tôn tự hào của một dân tộc anh hùng.
Đất nước đang đứng trước tình hình rất nguy hiểm. Chiến tranh có thể nổ bất kỳ lúc nào. Nhân dân Việt Nam quyết tự bảo vệ đất nước mà không biến thành con cờ của các thế lực ngoại quốc.

Chúng tôi, các tổ chức xã hội dân sự và cá nhân có tên dưới đây ra tuyên bố yêu cầu Nhà nước Việt Nam:

1. Tăng cường nội lực của đất nước làm chỗ dựa cho an ninh quốc phòng, thực hiện kế sách giữ nước của Đức Thánh Trần Hưng Đạo: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”. Làm tất cả những gì có lợi cho mối đoàn kết dân tộc trong và ngoài nước; thực thi các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã cam kết và những điều được qui định trong Hiến pháp Việt Nam. Trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm, sửa các luật phản dân chủ như: luật đất đai, luật báo chí, luật an ninh mạng, ban hành luật lập hội, luật biểu tình… Tiến tới một Nhà nước Việt Nam có thể chế dân chủ pháp quyền phổ quát. Nâng cao sức chiến đấu và lòng trung thành bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân của Quân đội, đặc biệt là Hải quân, Cảnh sát biển.

2. Trong các mối quan hệ với Trung Quốc, đặc biệt là quan hệ kinh tế thương mại, phải hết sức cẩn trọng, đề cao cảnh giác, đặt quyền lợi quốc gia trên hết.

3. Khẩn trương đẩy mạnh hợp tác quốc phòng với Mỹ và các nước tôn trọng luật pháp quốc tế và hiện không cưỡng chiếm đất đai biển đảo của Việt Nam nhằm bảo vệ tổ quốc một cách hiệu quả.

4. Lên tiếng tố cáo trước Hội đồng Bảo an, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế việc Trung Quốc xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam ở khu vực bãi Tư Chính, Vũng Mây… vi phạm Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNCLOS). Khẩn trương chuẩn bị hồ sơ kiện Trung Quốc ra các Toà án Quốc tế thích hợp.

5. Thông tin thường xuyên và kịp thời diễn biến tình hình biển Đông cho toàn thể nhân dân Việt Nam và thế giới, tranh thủ sự đồng thuận của công luận cho cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền của Việt Nam. Mặt khác, Nhà nước Việt Nam không được ngăn cản quyền công khai bày tỏ một cách ôn hoà lòng yêu nước, ý chí bảo vệ Tổ quốc của người dân Việt Nam.

Ngày 24 tháng 7 năm 2019

DANH SÁCH KÝ TÊN

Đợt 1.

Tổ chức:

1. Nhóm lập quyền dân. Đại diện: Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai
2. Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng. Đại diện: Nhà hoạt động xã hội Lê Thân, Chủ nhiệm CLB 
3. Diễn đàn xã hội dân sự. Đại diện: Tiến sĩ Nguyễn Quang A
4. Diễn đàn Bauxite Việt Nam. Đại diện: GS Phạm Xuân Yêm.

Cá nhân:

1. Nguyễn Quang A, Tiến sĩ Tin học, Hà Nội 
2. Nguyễn Khắc Mai,Trung tâm Minh Triết, Hà Nội 
3. Nguyễn Thị Kim Chi, Nghệ sĩ Ưu tú, Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn 
4. Kha Lương Ngãi, nguyên phó TBT báo SGGP, Sài Gòn
5. Trần Minh Thảo, CLB Phan Tây Hồ, viết văn, Bảo lộc, Lâm đồng
6. Hoàng Hưng, nhà thơ-dịch giả, Sài Gòn
7. Đào Công Tiến, PGS TS nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế tp HCM
8. Hồ Ngọc Nhuận, nhà báo Sài Gòn
9. Vũ Trọng Khải, PGS. TS, chuyên gia độc lập về chính sách nông nghiệp, Sài Gòn
10. Phạm Hoàng Tam Lưu, kiến trúc sư, Saigon
11. Võ Văn Thôn, nguyên Giám đốc sở Tư pháp thành phố HCM
12. Nguyễn Nguyên Bình, nhà văn Hà Nội, thành viên CLB LHD
13. Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sàm), Hà Nội
14. Dương Đình Giao, nhà giáo nghỉ hưu, Hà Nội
15. Hoàng Anh Khiêm, giảng viên đại học, TP. HCM
16. Nguyễn Viện, nhà văn Sài Gòn
17. Phạm Nguyên Trường, dịch giả, Vũng Tàu
18. Phạm Anh Tuấn, dịch giả tự do, Hà Nội
19. Nguyễn Tuệ Hải, Hưu trí, Canberra- Australia
20. Nguyễn Gia Lưu, Sài Gòn, Việt Nam
21. Nguyễn Quang Nhàn, CBL Phan Tây Hồ, Đà Lạt
22. Nguyễn Đăng Hưng, GS Danh dự Đại học Liège, Bỉ. Sống tại Sài Gòn
23. Dương Khánh Lâm, nhân viên kỹ thuật, Sài Gòn.
24. Tiêu Dao Bảo Cự, nhà văn tự do, Đà Lạt
25. Nguyễn Huệ Chi GS Ngữ văn, Hà Nội
26. Đặng Thị Hảo, TS Văn học, Hà Nội
27. Nguyễn Đình Nguyên, TS Y khoa, Australia
28. Phùng Hoài Ngọc, cựu giảng viên đại học, tỉnh An Giang.
29. Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, nhà giáo, Sài Gòn
30. Võ Văn Tạo, nhà báo, Nha Trang
31. Lê Thăng Long, nghiên cứu quản trị chiến lược, cựu tù nhân lương tâm, Quận 1, Sài Gòn.
32. Trần Tiến Đức, nhà báo độc lập, đạo diễn truyền hình và phim tài liệu, Hà Nội
33. Hoàng Thị Hà, giáo viên hưu trí, Thanh Xuân, Hà Nội
34. Lê Quang Hợp, nghỉ hưu, tại TPHCM
35. Nguyễn Hàn Chung, nhà thơ, Houston Texas Hoa Kỳ
36. Tô Lê Sơn, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
37. Đặng Hữu Nam, linh mục, Giáo phận Vinh
38. Đặng Văn Lâp, kiến trúc sư, Hà Nội
39. Sơn Hồ, Freelancer, Đảo Rhode, Hoa Kỳ
40. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM
41. Hoàng Cường, kỹ sư giao thông, Hà Nội
42. Nguyễn Đình Cống, GS, hưu, Hà Nội
43. Nguyễn Mạnh Sơn, cán bộ hưu trí, Hải Phòng
44. Nguyễn Viết Dũng, công dân Việt Nam, Hà Nội
45. Phạm Lưu Vũ, nhà văn, Hà Nội
46. Vi Đức Hồi, Lạng Sơn
47. Nguyễn Tiến Dân, nhà giáo, Hà nội.
48. Hoàng Anh Khiêm, giảng viên đại học, TP. HCM
49. Phan Thanh Liêm, công dân nước CHXHCN Việt Nam, kinh doanh bất động sản
50. Đinh Quang Tuyến, Q.8, Tp HCM
51. Nguyễn Lương Thịnh, hưu trí, Thủ Đức Tp HCM
52. Nguyễn Ngọc Hùng, hưu trí
53. Trần Kế Dũng. Australia
54. Nguyễn Ngọc Ánh, nghề nghiệp tự do, Bảo Lộc Lâm Đồng.
55. Phạm Thế Cường, sĩ quan quân đội nghỉ hưu
56. Nguyễn Kế Quang, KS Xây dựng, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
57. Nguyễn Đình Ấm, nhà báo, Hà Nội
58. Hà Quang Vinh, hưu trí Quận 11, Tp HCM
59. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, Q.Thủ Đức Sài Gòn
60. Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An
61. Đoàn Công Nghị, hành nghề tự do, Nha Trang, Khánh Hoà
62. Đỗ Duy, chuyên viên kỹ thuật, Bà Rịa – Vũng Tàu
63. Nguyễn Chí Công, TS, Hà Nội
64. Nguyễn Trọng Bách, kĩ sư, Nam Định
65. Nguyễn Thu Giang, nguyên Phó Giám đốc Sở Tư pháp TPHCM
66. Nguyễn Văn Lịch, cựu lính xe tăng, Đống Đa, Hà Nội.
67. Nguyễn Ngọc Lanh, Nguyên GS đại học Y Hà Nội, NGND
68. Vũ Quốc Hưng, giáo viên trường THPT Nguyễn Hữu Tiến, Duy Tiên, Hà Nam
69. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên, hưu trí Tp HCM
70. Võ Thị Cẩm Nhung, hưu trí, Nha Trang
71. Vũ Ngọc Tiến, Nhà văn, Hà Nội
72. Vũ Hồng Ánh, nghệ sĩ cello, Sài Gòn
73. Võ Xuân Tòng, Hội Nhà văn Hà Nội
74. Trần Trung Hậu, giảng viên, TP.HCM
75. Đỗ Như Ly, hưu trí, Quận 10
76. Phạm Đình Trọng, nhà văn, Sài Gòn
77. Thái Kế Toại, Đại tá An ninh, nhà văn, Hà Nội
78. Dương Sanh, nghề nghiệp tự do, Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
79. Nguyễn Kim Khánh, lao động tự do. Sài Gòn 
80. Hứa Minh Hải Đăng, lao động tự do. Tp. Đà Lạt, Lâm Đồng
81. Liêu Thái, lao động tự do, Quảng Nam
82. Lương Xuân Bằng, công nhân xây dựng tự do, Cần Thơ
83. Đinh Công Khải, họa sỹ
84. Nguyễn Ngọc Ngân Nga, kinh doanh, TPHCM
85. Huỳnh Phi Long, công dân Sài Gòn
86. Nguyễn Khắc Bình, kỹ sư, Hà nội
87. Dạ Ngân, nhà văn, Sài Gòn
88. Nguyễn Thịnh Phú, Hà nội
89. Đỗ Trung Quân, nhà thơ, Sài Gòn
90. Phạm Thị Hảo, hưu trí, Thái Nguyên
91. Ngô Thị Hồng Lâm, nghiên cứu khoa học nghỉ hưu, Vũng Tàu
92. Phạm Cường, đạo diễn phim, Hamburg CHLB Đức
93. Nguyễn Việt Hải, Học sinh C. 3 An Dương. Hải phòng
94. Phạm Thị Ánh Nga, Nha Trang, Khánh Hòa
95. Đinh Đức Long, Bác sĩ, Sài Gòn, Việt Nam.
96. Tô Linh Giang, Phố Hàng Chuối, Hà Nội
97. Trần Bang, kỹ sư, thành viên CLB LHĐ, Sài Gòn 
98. Ngô Kim Hoa (Sương Quỳnh), nhà báo tự do, Sài Gòn
99. Lại Thị Ánh Hồng, nghệ sĩ, Sài Gòn
100. Lại Nguyên Ân, nhà nghiên cứu văn học, Hà Nội
101. Mai Thái Lĩnh, nhà nghiên cứu, CLB Phan Tây Hồ, Đà Lạt.
102. Bùi Hiền, hưu trí, tại Canada
103. Bùi Công Tự, Hưu trí, TP HCM
104. Nguyễn Công Hiệp, kinh doanh tự do, Quận 2
105. Đỗ Việt Tuy, cây viết tự do, Sài Gòn
106. Phạm Phương Luyện, Giảng viên chính Đại học Ngoại ngữ ĐHQG (hưu trí)
107. Trương Hoàng Long, Hà Nội
108. Hà Trọng Tấn, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn.
109. Huỳnh Văn Bé, nghệ nhân gốm, Bình Dương
110. Phạm Gia Minh, TS Kinh tế, Hà nội
111. Võ Công Trí, hưu trí, Hóc Môn, Tp HCM
112. Lê Đình Lưu, nuôi trồng nấm, Củ Chi, Tp HCM
113. Nguyễn Thị Cát Tiên, buôn bán tự do, Q7, Tp HCM
114. Cao Thị Hoàng Ngọc, giáo viên Trung tâm tiếng Anh Q7, Tp HCM
115. Ngô Văn Nam, tài xế, Q2, Sài Gòn
116. Phan Văn Đức, chuyên viên tài chính, TDM, Bình Dương
117. Lý Thị Dung, kinh doanh online, Q3, Tp HCM
118. Lê Văn Năm, kiến trúc sư, Hà Nội
119. Tạ Quang Trí, công an nghỉ hưu, Q9, Tp HCM
120. Dương Chí Cao, hưu trí, Q12, Tp HCM
121. Hồ Nguyễn Hoàng Nguyên, lái xe đường dài, Thanh Hóa
122. Trần Văn Chấn, kỹ sư dầu khí, Bà Rịa – Vũng Tàu.
123.Lê Văn Mẫn, CLB hưu trí, Q12, Sài Gòn
124.Nguyễn Đức Tùng, nhà thơ, Canada
125. Chân Phương, nhà thơ, Hoa Kỳ
126.Hà Sĩ Phu, TS Sinh học, CLB Phan Tây Hồ, Đà Lạt
127. Lê Văn Tâm, nguyên Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Nhật Bản
128. Trần Hoàng Phố, nhà thơ, Huế
129. Tôn Gia Khai, nghỉ hưu, Varsaw Ba Lan

KHOẢNG CÁCH GIỮA LỜI NÓI VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CS

KHOẢNG CÁCH GIỮA LỜI NÓI VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CS

(Đỗ Ngà)

Giữa nói và làm bao giờ cũng có khoảng cách, có những khoảng cách lấp được và có những khoảng cách không thể nào lấp được. Khi nói ra mà anh không thực hiện được lời nói thì nó có nhiều nguyên nhân. Có thể kể ra 2 nguyên nhân chính: Nguyên nhân thứ nhất, kẻ thực hiện lời nói có mục mục đích duy nhất là dối trá, thì nói và làm luôn là 2 hành động trái ngược. Ví dụ như chính quyền CS nói “nhà nước của dân do dân và vì dân” thì tất nhiên thực tế nhà nước đó là của đảng do đảng và vì đảng. Loại này thì bất trị, không bao giờ chúng sửa đổi; Nguyên nhân thứ nhì, là kẻ đó hứa nhưng không có khả năng lượng sức mình. Nghĩa là sao? Là họ ảo tưởng năng lực của họ cao lắm, nhưng thực ra là bản thân vô năng không thể thực hiện được. Lấy ví dụ như, CS đặt mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp. Đặt mục tiêu là vậy nhưng toàn DdCS đều là vô năng, họ ra đủ thứ chính sách nhưng thực hiện không được.

Như vậy câu hỏi đặt ra là, chính quyền các nước dân chủ có khi nào giữa lời nói và hành động của chính phủ có khoảng cách không? Câu trả lời là có, có thể họ hứa nhưng thực hiện lời hứa không nổi chứ không bao giờ chủ trương dối trá như CS. Ở đất nước này, lãnh đạo không thực hiện lời hứa thì tất nhiên, đến hết nhiệm kỳ sau dân chọn người khác lên thay. Hứa mà không làm thì thay, còn hứa mà làm được thì giữ lại để lãnh đạo đất nước, đó là nguyên nhân đưa đến sự phát triển đất nước. Như vậy nói đi đôi với làm, người ta chỉ tìm thấy nó hiện diện trong các nhà lãnh đạo đất nước ở xứ dân chủ, còn ở độc tài CS thì không bao giờ có. Vì sao? Vì đơn giản, CS hoặc dối trá nói một đường làm một nẻo, hoặc nói nhưng năng lực kém thực hiện nửa vời làm mọi dự định đều thất bại.

Dối trá là một chủ trương lớn của đảng, nó quyết định tính sống còn của đảng. Vì sao? Vì đảng không có năng lực quản trị đất nước nên đảng biết có hứa với dân thì đảng cũng không có khả năng thực hiện, đó là lý do mà đảng xem dối trá là chính sách lớn. Ở các nước dân chủ, không hề tồn tại cái gọi là Ban Tuyên Giáo như ĐCS đã làm. Bởi vì ở những đất nước này, lãnh đạo đã hứa thì họ dốc toàn lực để thực hiện lời hứa ấy, chỉ khi nào bất lực thì họ mới không hoàn thành lời hứa chứ họ không có chủ trương hứa lèo hay nói xạo trước toàn dân. Cho nên, họ chẳng việc gì phải lập nên cái gọi là Ban Tuyên Giáo để lừa gạt nhân dân làm gì cả. Thực hiện lời hứa không xong thì xuống cho người khác lên làm chứ việc gì dối trá để duy trì quyền lực.

Khi CS cho báo chí loan báo một điều gì ầm ĩ thì, ẩn đằng sau đó luôn có mục đích chính trị của Ban Tuyên Giáo. Mấy ngày nay, sau khi báo chí nước ngoài đưa tin về Bãi Tư Chính dày đặt trên mạng xã hội, thì cuối cùng báo chí nhà nước cũng lên tiếng nhưng ở một mức độ dè chừng. Khi không thể phanh được một chiết xe đã mất phanh thì, thì tài xế bẻ lái cho xe vào chỗ an toàn nhất có thể, ấy là thượng sách. Tương tự vậy, khi tin tức Trung Quốc quần Việt Nam tại Bãi Tư Chính không thể nào bưng bít được nữa, và sự ngày càng có dấu hiệu nóng lên làm người dân ngày càng muốn đi tìm kiếm nguồn tin để giải cơn khát thông tin. Trước thực tế như vậy, thì Ban Tuyên Giáo đã làm gì? Ban Tuyên Giáo đã bật đèn xanh cho báo chí nhà nước đăng tin tức về Bãi Tư Chính, nhưng với lời lẽ nhẹ nhàng và họ gọt dũa bớt mức độ nghiêm trọng sự việc để làm cho sự phản ứng của nhân dân không đẩy lên quá mức. Nếu bưng bít không được thì vẫn đăng nhưng đăng theo kiểu lái dư luận về phía không còn nghiêm trọng nữa.

Giả sử hiện nay ở Việt Nam có 5 triệu người đang khát tin tức về Bãi Tư Chính, vì nguồn tin báo nhà nước không có nên họ cố tìm tin tức Bãi Tư Chính đọc. Nếu trong lúc này Ban Tuyên Giáo tiếp tục im lặng thì 5 triệu người này sẽ tìm đến các trang tin từ facebook, BBC, VOA, RFA .. thì rất có thể 1 triệu người này sẽ xuống đường, lúc đó nguy cho chính quyền. Biết không thể che đậy, Ban Tuyên Giáo cho báo chí đưa tin. Mục đích là để kéo bạn đọc về để định hướng họ theo ý đảng. Giả sử, trong 5 triệu người đang khát tin đó thì có đến 4,5 triệu người vớ được nguồn tin báo chí chính thống thì họ sẽ trở thành thờ ơ hơn với vận mệnh đất nước. Còn lại rất ít đọc nguồn ngoài chính thống, vì ít nên họ không đủ đông để làm nên chuyện như ngày 10/06 năm ngoái được, thế là Ban Tuyen Giáo góp công lớn trong việc không cho biểu tình bùng phát. Đó là mục đích của báo chí CS đưa tin về căng thẳng Bãi Tư Chính, chứ không phải họ muốn chống Tàu như mọi người vẫn kỳ vọng một cách ngây thơ.

Với CS, lời nói của họ không như những gì mà chúng ta nghĩ, họ luôn nói một đường, dụng ý một nẻo. Vì sao? Vì đơn giản họ là CS điều đó thuộc bản chất di truyền của họ rồi, thế thôi.

– ĐỖ NGÀ –

Image may contain: water

Phép màu giá bao nhiêu?

NHÌN BỨC HÌNH đấu tố thời cải cách ruộng đất ở miền Bắc giết chết gần 200 ngàn người, đã không hề có phép màu nào xảy ra với họ… và ĐỌC CÂU CHUYỆN DƯỚI ĐÂY.. 

Bạn có xót thương và căm giận ???

Bạn có bao giờ tự hỏi dân tộc VN phải chăng vì mông muội, man rợ chưa đủ lòng trắc ẩn, chưa đủ nhân ái, không có lòng tin, lòng biết ơn … nên họ không thể có phép lạ để hưởng phúc lành sống trên mảnh đất xinh đẹp đầy tiềm năng ven bờ đại dương … 
____________

Phép màu giá bao nhiêu?

Một cô bé tám tuổi nghe cha mẹ mình nói chuyện về đứa em trai nhỏ. Cô bé chỉ hiểu rằng em mình đang bị bệnh rất nặng và gia đình cô không còn tiền. Chỉ có một cuộc phẫu thuật rất tốn kém mới cứu sống được em trai cô bé, và cha mẹ em không tìm ra ai để vay tiền. Do đó, gia đình em sẽ phải dọn đến một căn nhà nhỏ hơn vì họ không đủ khả năng tiếp tục ở căn nhà hiện tại sau khi trả tiền bác sĩ.
Cô bé nghe bố nói với mẹ bằng giọng thì thầm tuyệt vọng: “Chỉ có phép màu mới cứu sống được Andrew”. Thế là cô bé vào phòng mình, kéo ra một con heo đất được giấu kỹ trong tủ. Em dốc hết đống tiền lẻ và đếm cẩn thận.
Rồi cô bé lẻn ra ngoài bằng cửa sau để đến tiệm thuốc gần đó. Em đặt toàn bộ số tiền mình có lên quầy.
Người bán thuốc hỏi: “Cháu cần gì?”
Cô bé trả lời: “Em trai của cháu bệnh rất nặng và cháu muốn mua phép màu.”
– Cháu bảo sao? – Người bán thuốc hỏi lại.
– Em cháu tên Andrew. Nó bị một căn bệnh gì đó trong đầu mà ba cháu nói chỉ có phép màu mới cứu được nó. Phép màu giá bao nhiêu ạ?
– Ở đây không bán phép màu, cháu à. Chú rất tiếc – Người bán thuốc nở nụ cười buồn và tỏ vẻ cảm thông với cô bé.
– Cháu có tiền trả mà. Nếu không đủ, cháu sẽ cố tìm thêm. Chỉ cần cho cháu biết giá bao nhiêu?
Trong cửa hàng còn có một vị khách ăn mặc thanh lịch. Sau khi nghe câu chuyện, ông cúi xuống hỏi cô bé: “Em cháu cần loại phép màu gì?”
– Cháu cũng không biết nữa – Cô bé trả lời, rơm rớm nước mắt. “Nhưng em cháu rất cần phép màu đó. Nó bị bệnh nặng lắm, mẹ cháu nói rằng nó cần được phẫu thuật, và hình như phải có thêm loại phép màu gì đó nữa mới cứu được em cháu. Cháu đã lấy ra toàn bộ số tiền để dành của mình để đi tìm mua phép màu đó.”
– Cháu có bao nhiêu? – Vị khách hỏi. Cô bé trả lời vừa đủ nghe: “Một đô la mười một xu.”
Người đàn ông mỉm cười: “Ồ! Vừa đủ cho cái giá của phép màu”.
Một tay ông cầm tiền của cô bé, tay kia ông nắm tay em và nói: “Dẫn bác về nhà cháu nhé. Bác muốn gặp em trai và cha mẹ cháu. Để xem bác có loại phép màu mà em cháu cần không.”
Người đàn ông thanh lịch đó là Bác sĩ Carlton Armstrong, một phẫu thuật gia thần kinh tài năng. Ca mổ được hoàn thành mà không mất tiền, và không lâu sau Andrew đã có thể về nhà, khỏe mạnh.
Mẹ cô bé thì thầm: “Mọi chuyện diễn ra kỳ lạ như có một phép màu. Thật không thể tưởng tượng nổi. Thật là vô giá!”. Cô bé mỉm cười. Em biết chính xác phép màu giá bao nhiêu. Một đô la mười một xu, cộng với niềm tin chân thành của một đứa trẻ, và lòng tốt của người bác sĩ.
Vâng! Niềm tin, sự chân thành và lòng trắc ẩn của con người có thể khiến phép màu xảy ra!
(Sưu tầm)

Image may contain: 1 person, outdoor

Ba hệ quả khi Trung Quốc điều tàu đến vùng Nam Biển Đông của Việt Nam

Ba hệ quả khi Trung Quốc điều tàu đến vùng Nam Biển Đông của Việt Nam

Hoạt động của Trung Quốc ở vùng biển của Việt Nam sẽ dẫn tới các tình huống “gậy ông đập lưng ông”, theo các chuyên gia.

Trung Quốc toan tính gì khi điều tàu xâm phạm vùng biển Việt Nam.

Khi nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc có hành vi vi phạm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông từ đầu tháng 7, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định đây là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam, theo Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc (UNCLOS).

Trao đổi với VnExpress, Giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia, Đại học New South Wales, đánh giá hành động của Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh bất tuân luật quốc tế, muốn đơn phương thực hiện cái gọi là “quyền lịch sử” với toàn bộ Biển Đông. Và việc điều động tàu Hải Dương 8 đi vào EEZ của Việt Nam có thể do chỉ đạo của người phụ trách của công ty thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc hoặc quan chức ở cấp cao hơn nhắm tới mục tiêu chính trị.

Dưới góc nhìn của chuyên gia an ninh châu Á lâu năm, Thayer cho rằng việc Trung Quốc điều tàu đến vùng biển của Việt Nam dẫn tới ba hệ quả chính.

Thứ nhất

Trung Quốc đã làm suy giảm lòng tin chiến lược của Hà Nội với Bắc Kinh, khi quan hệ giữa hai nước trong năm 2019 dường như có chiều hướng đi lên sau một loạt sự cố năm 2014, 2017 và 2018.

Trong các cuộc gặp cấp cao, lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc thường xuyên nhắc lại việc thống nhất tuân thủ “Thỏa thuận những Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển” mà hai bên đã ký năm 2011. Trong đó, hai nước nhất trí tôn trọng lẫn nhau, không ngừng thúc đẩy tiến trình đàm phán, tuân theo luật quốc tế, làm cho Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình.

“Tuy nhiên, các hành động của Trung Quốc đã vi phạm Thoả thuận năm 2011”, Thayer nói.

Trên phạm vi khu vực và thế giới, Trung Quốc đã có các hoạt động gây mất niềm tin với thành viên của ASEAN và với các đối tác lớn như Mỹ, Nhật Bản, Australia. Dù Bắc Kinh cam kết không làm phức tạp tình hình Biển Đông, không quân sự hóa khu vực này, nhưng nhiều nước đã công bố các hình ảnh vệ tinh không thể chối cãi cho thấy Trung Quốc xây dựng quy mô lớn, thiết lập các căn cứ quân sự và triển khai nhiều thiết bị hiện đại.

Thứ hai

Trung Quốc đã tự quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Hành động phi pháp của Trung Quốc ở vùng biển Nam Biển Đông thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề lâu nay nước này muốn giải quyết song phương.

Ngay sau phản ứng mạnh mẽ của Bộ Ngoại giao Việt Nam, Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 20/7 đã bày tỏ quan ngại trước những báo cáo về việc Bắc Kinh có hành vi can thiệp hoạt động khai thác dầu khí trong khu vực, bao gồm hoạt động thăm dò và khai thác lâu nay của Việt Nam.

Mỹ nhấn mạnh “hành động lặp đi lặp lại” của Trung Quốc nhằm vào hoạt động phát triển dầu khí ngoài khơi đe dọa an ninh năng lượng khu vực, đồng thời làm suy yếu thị trường năng lượng Ấn Độ – Thái Binh Dương tự do và cởi mở.

“Mỹ kiên quyết phản đối hành vi cưỡng chế và đe dọa từ bất kỳ bên nào nhằm khẳng định yêu sách lãnh thổ cũng như hàng hải của mình. Trung Quốc cần kiềm chế tham gia vào những hoạt động khiêu khích và gây bất ổn này”, thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ cho hay.

Các quan chức an ninh cấp cao của Mỹ sau đó cũng lên tiếng. Đô đốc Philip Davidson, chỉ huy Bộ tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của hải quân Mỹ, chỉ trích các hoạt động mang tính khiêu khích của Trung Quốc như quân sự hoá các đảo, phô trương sức mạnh quân sự ở Biển Đông. Ông cho rằng mối đe dọa chiến lược lâu dài lớn nhất với Mỹ và trật tự quốc tế dựa trên luật pháp chính là Trung Quốc. Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ John Rood cũng coi Bắc Kinh là mối đe dọa an ninh hàng đầu, cho rằng Trung Quốc có thể thay đổi trật tự toàn cầu, theo hướng tốt lên hoặc xấu đi.

“Có thể nói hành động của Trung Quốc đã giúp quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông, điều mà Bắc Kinh luôn phản đối”, Thayer nói…

Thứ ba

Việc điều tàu lần này của Trung Quốc có thể dẫn tới sự trì hoãn đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) giữa Bắc Kinh và ASEAN. Theo Thayer, sự trì hoãn này sẽ làm thất bại ý đồ của Trung Quốc là “dùng COC để thuyết phục các nước có tranh chấp hợp tác khai thác tài nguyên, loại trừ sự can dự của các nước ngoài khu vực”.

Trung Quốc nhiều lần tuyên bố không muốn các nước ngoài khu vực can thiệp vào đàm phán giữa Bắc Kinh với các nước cùng có tranh chấp và ASEAN.

Viễn cảnh đạt được thỏa thuận COC, bộ quy tắc ứng xử có tính ràng buộc về mặt pháp lý, vẫn còn chặng đường dài phía trước. Trung Quốc và ASEAN khởi động thảo luận COC từ 2013 nhưng đến tận tháng 8/2018, hai bên mới thống nhất được dự thảo văn bản của COC, điều được coi là “một tiến triển lớn”.

Về diễn biến sắp tới, Thayer dự báo nhóm tàu của Trung Quốc sẽ rút đi nhưng lưu ý Trung Quốc không từ bỏ ý đồ bá chủ ở khu vực và ép các nước khác chấp nhận.

“Bắc Kinh sẽ tiếp tục thúc đẩy việc đưa các công ty dầu mỏ và lực lượng hải cảnh đến vùng đặc quyền kinh tế của các nước ven biển nhằm buộc họ chấp nhận vai trò của Trung Quốc”, Thayer cảnh báo…

Thayer gợi ý Việt Nam nên tập trung tăng cường việc hợp tác với nhiều nước trong xây dựng năng lực cho các lực lượng trên biển, đặc biệt là trong vùng EEZ.

Nếu tính đến hành động pháp lý với Trung Quốc như Philipines đã từng làm, Việt Nam nên chứng tỏ hành động đó vẫn thể hiện mong muốn “giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình”. Hà Nội nên lập luận rằng mình có thiện chí và đã nỗ lực trao đổi hết mức với Bắc Kinh.

Năm 2020, khi làm Chủ tịch ASEAN, Việt Nam cần tăng cường vận động hành lang để tạo nên mặt trận thống nhất của Hiệp hội trong đàm phán COC với Trung Quốc. “Việt Nam nên nói rõ là sẽ không chấp thuận một COC mà cho phép Trung Quốc tiếp tục vi phạm luật quốc tế, trong đó có UNCLOS”, Thayer nhấn mạnh.

Viet Anh, VnExpresss, July 25, 2019

Ảnh: Các tàu của hải cảnh Trung Quốc. Ảnh: Manila Journo.

Nguồn: VNEXPRESS 
https://vnexpress.net/…/ba-he-qua-khi-trung-quoc-dieu-tau-d…

Image may contain: ocean, outdoor, water and nature

LÁ THƯ TÌNH TRONG CẶP

LÁ THƯ TÌNH TRONG CẶP

   Nguyễn Thị Thanh Dương.

 

Tuấn hồi hộp đợi chờ giờ ra chơi, cuối cùng thì tiếng chuông cũng reng lên inh ỏi, thày giáo gấp sổ rời khỏi bàn cùng lúc với các học sinh nam nữ lục tục nhanh chóng chạy ra ngoài cửa lớp  Không ai muốn lãng phí phút giây nào trong giờ ra chơi cả

Trong chớp nhoáng lớp học sĩ số 40 người vắng hoe không còn ai ở lại. Tuấn chơi luẩn quẩn bên ngoài nhưng mắt luôn dáo dác ngó những người xung quanh rồi thừa cơ không ai để ý Tuấn quay trở vào lớp của mình.

Đi giữa hai dãy bàn, một bên là nam sinh một bên nữ sinh, tới bàn của Ngọc Thơ thì Tuấn giả vờ cúi xuống như đang nhặt cái gì đó, anh chàng nhanh chóng rút từ túi áo tờ giấy đã được gấp gọn gàng làm tư và nhét vội vào một chiếc cặp trong hộc bàn ngay chỗ của Ngọc Thơ.

Không ai trông thấy hành động của Tuấn, nhất là lũ con gái còn đang mải mê nhiều chuyện ngoài kia. Thế là Tuấn  khoan khoái làm bộ thản nhiên bước ra khỏi lớp.

Anh chàng đút tay vào túi quần đi bộ dưới gốc cây hoa Phương trong sân trường,  gốc cây này từng chứng kiến Tuấn đi tha thẩn giờ ra chơi và nghĩ ra mấy câu thơ được nắn nót trong lá thư tỏ tình vừa lén lút bỏ vào chiếc cặp kia

Thẩn thơ dưới gốc Phượng già,

Anh yêu em lắm nhưng mà tình câm,

Hỏi em có yêu anh không?

Trả lời anh gấp. Anh mong anh chờ.

Ký tên Tuấn  người si tình ngồi cùng dãy bàn với em và hàng ngày hóng về phía em..

Tuấn vốn nhút nhát, thấy nữ sinh nào đẹp đến gần là bối rối nói không nên lời, nên dù thầm yêu trộm nhớ Ngọc Thơ xinh đẹp suốt từ năm đệ tam đến năm nay đệ nhị mà Tuấn chưa bao giờ dám mở miệng mời Ngọc Thơ đi ăn chè chứ đừng nói tới chuyện đại sự là tỏ tình.

Hôm nay Tuấn đã chọn cách tỏ tình là bỏ bài thơ tương tư nàng vào trong ngăn cặp của nàng và ký tên, chắc nàng sẽ hiểu.

Không biết khi nhận và đọc lá thư này Ngọc Thơ sẽ phản ứng ra sao nhỉ? Tuấn căng thẳng lắm nhưng xen lẫn niềm vui hi vọng. Tuấn đẹp trai, học giỏi, mấy đứa con gái trong lớp luôn nhìn Tuấn bằng ánh mắt ngưỡng mộ lẽ nào Ngọc Thơ lại hững hờ?

Suốt giờ học còn lại Tuấn ngồi dãy bàn bên này mà luôn hướng mắt về dãy bàn nữ bên kia xem thái độ Ngọc Thơ ra sao, nàng đã thấy lá thư chưa?

Tuấn thấy Ngọc Thơ vẫn chăm chỉ nghe thày giảng bài hay thỉnh thoảng nói chuyện với Thu Diệu bên cạnh. Hai đứa này chơi thân nhau, chưa biết chừng mai mốt Ngọc Thơ sẽ kể cho Thu Diệu chuyện lá thư tình và cả lớp cùng biết thì mắc cở lắm nên Tuấn luôn để ý thái độ cả hai đứa nó

Mọi chuyện vẫn bình yên như thường ngày. Vậy là lá thư chưa được phát hiện, càng may, lát nữa về nhà Ngọc Thơ sẽ thấy lá thư  để con nhỏ nhiều chuyện Thu Diệu kia đừng xía vô.

Sáng hôm sau Tuấn đến trường với tâm trạng hồi hộp lo lắng, anh chàng thấy Ngọc Thơ nhìn chàng cười cười, nhưng lại thấy con nhỏ Thu Diệu nhìn chàng với ánh mắt…sầu thương. Ngọc Thơ cười cười vui vẻ thế kia là đắc ý với lá thư tình của Tuấn rồi, còn Thu Diệu mắc mớ gì mà mặt nó buồn sưng xỉa thế?

Thật khó hiểu? Tuấn vốn giỏi toán, giỏi suy tính mà ca toán khó này Tuấn đành chịu thua.

Thỉnh thoảng Tuấn …lén nhìn sang dãy bàn Ngọc Thơ và Thu Diệu, lại bắt gặp đứa nhìn Tuấn mỉm cười và đứa  rưng rưng buồn. Hai đứa hai tâm trạng ngược xuôi mới lạ.

Thôi , Tuấn đành chờ đợi một lá thư hồi âm .

Quả nhiên giờ ra chơi Ngọc Thơ chủ động đến bên Tuấn và rủ trưa nay tan học hai đứa ghé hàng chè đá đậu…nói chuyện.

Tuấn mừng rỡ trong lòng. Không ngờ Tuấn nhút nhát bao nhiêu Ngọc Thơ lại dạn dĩ bấy nhiêu, nó hẹn hò Tuấn ra quán chè chắc là để trả lời lá thư tình của Tuấn.

Tan học, Tuấn đúng hẹn ra hàng chè đá đậu trước sân trường, giấc này quán chè vắng tanh vì lớp sáng ra về, lớp chiều chưa tới.

Tuấn chọn một ghế ngồi chờ Ngọc Thơ., một lát sau Ngọc Thơ ra tới. May quá nó không dẫn con nhỏ Thu Diệu theo cản mũi kỳ đà, dù hai đứa này đi đâu luôn có đôi.

Tuấn thầm cám ơn người yêu của lòng đã tế nhị thật dễ thương. Ngọc Thơ gọi hai ly chè và vào chuyện:

–         Tuấn ơi, Thu Diệu không thể đến được…

Tuấn gạt phăng:

–         Khỏi cần, cứ để Thu Diệu thảnh thơi, mình nói chuyện đủ rồi.

Ngọc Thơ  quậy ly chè đậu xanh bánh lọt nước dừa cho đều và lựa lời nói:

–         Thật tình nói ra Ngọc Thơ cũng…ngại ngùng lắm, lá thư tình của Tuấn bỏ trong ngăn cặp…

Tuấn chen vào giọng run run cảm xúc:

–         Ừ, lá thư tình của Tuấn đó, mấy câu thơ của Tuấn làm đó…

–         Nhưng muộn rồi Tuấn ơi, nhỏ Thu Diệu đã thương một anh bên lớp đệ Nhất rồi…

–         Thu Diệu?

–         Chứ còn gì nữa, Tuấn đã nhét lá thư tỏ tình trong ngăn cặp của Thu Diệu, nó đưa cho Ngọc Thơ đọc rồi. Đây nè…

Ngọc Thơ mở cặp táp lôi ra tờ thư gấp làm tư của Tuấn, chìa ra trước mặt Tuấn:

–         Phải lá thư này không? Nằm trong ngăn cặp Thu Diệu đó.

Trời ơi, bây giờ thì Tuấn đã hiểu nụ cười của hai đứa, Ngọc Thơ cười cười là trêu chọc Tuấn vì biết bí mật một chuyện tình. Còn Thu Diệu buồn buồn vì nó  thương hại Tuấn, không thể đáp lại một tình yêu.

Thấy vẻ mặt thất thần của Tuấn, Ngọc Thơ ái ngại an ủi:

–         Tuấn đừng buồn, đừng thất vọng mà ảnh hưởng đến chuyện học hành nha. Phải nói lời từ chối Tuấn nhỏ Thu Diệu cũng khổ tâm lắm.

Tuấn nói nhỏ mà như gào lên:

–         Không…không…Tuấn không yêu Thu Diệu..

 Ngọc Thơ càng cuống quýt ngắt lời Tuấn và an ủi tiếp:

–         Ngọc Thơ biết mối tình si bị từ chối người ta dễ bị cú “sốc” lắm. Tuấn hãy bình tâm đừng giận hờn nói lẫy  hay oán trách Thu Diệu nữa…

Tuấn hạ giọng rên rỉ:

–         Tuần không yêu Thu Diệu, Người Tuấn yêu là…là…

Máu nhát gan lại hiện về, Tuấn ấp úng mãi mới nói được:

–         Là Ngọc Thơ đó. Tuấn yêu Ngọc Thơ…

Vừa nghe xong Ngọc Thơ đứng phắt dậy, tự ái đùng đùng:

–         Tuấn đừng có cho Ngọc Thơ…ăn đồ thừa, đồ ế nha, bị Thu Diệu từ chối rồi quay ra nói yêu Ngọc Thơ để gỡ gạc đỡ quê hả? hả? Còn lâu…

Cô nàng xách cặp ngoe nguẩy bước đi. Tuấn vụng về gọi theo:

–         Ngọc Thơ ơi còn ly chè ….

–         Biết rồi, tôi chưa trả tiền chứ gì. Tuấn trả tiền hai ly chè giùm đi, mai mốt tôi trả lại. Bữa nay tôi mời.

–         Ý Tuấn là còn ly chè đầy, Ngọc Thơ ngồi ăn chè với Tuấn và nghe Tuấn nói chuyện. Lá thư tình Tuấn đã bỏ lộn cặp Thu Diệu thay vì bỏ vào cặp Ngọc Thơ.

Lời phân bày của Tuấn lạc vào gió bay, Ngọc Thơ đã đi khỏi, nó có nghe thấy gì đâu

Tuấn nhớ lại hôm qua lúc lén bỏ lá thư tình vào cặp, vì hai cặp của Ngọc Thơ và Thu Diệu nẳm cạnh nhau trong hộc bàn và vì Tuấn hành sự vội vàng nên đã bỏ lộn.

Tuấn thấy từ xa con nhỏ Thu Diệu hiện ra đón Ngọc Thơ, chắc nãy giờ nó núp đâu đó để chờ đợi Ngọc Thơ làm sứ giả đi gặp Tuấn. Hai đứa nó chở nhau về trên chiếc xe đạp, không biết Ngọc Thơ sẽ kể lại những gì.

                 *****************

Dòng đời trôi chảy, 40 năm sau Tuấn và Ngọc Thơ tình cờ gặp lại nhau trong buổi họp mặt trường xưa tại Mỹ. Cả hai nhận ra nhau mừng vui chuyện trò hỏi thăm nhau về thày cô bè bạn .

Thu Diệu thuở đó yêu anh chàng lớp đệ nhất nhưng nàng đã nên duyên với người khác và hiện định cư ở Úc.

Vợ chồng Ngọc Thơ mới sang Mỹ định cư  vài năm nay do con cái bảo lãnh.

Tuấn thoáng  trầm ngâm:

–         Ai cũng có thời học trò để yêu thương và mộng mơ nhưng cuối cùng lấy người mình không mong mà gặp, không chờ mà đến…

Rồi Tuấn nhắc  chuyện lá thư tình ngày xưa:

–         Bây giờ tôi với Ngọc Thơ ai có phận nấy, con cháu cả rồi,  mối tình si của tôi ngày xưa đã tan vào thời gian từ lâu, nhưng tôi vẫn muốn hỏi lại, Ngọc Thơ đã tin là tôi bỏ lộn lá thư tình và người tôi yêu chính là Ngọc Thơ không?

Ngọc Thơ gật đầu:

–         Sao ngày ấy chúng mình trẻ con thế nhỉ?  lúc ở quán chè tôi quyết không tin và chảnh chọe thiếu điều muốn…táng cho Tuấn một bạt tai . Nhưng vài năm sau khi lớn khôn thêm, suy nghĩ lại thì tôi tin và đã…để mất một tình yêu.

–         Chắc là mình không duyên nợ yêu nhau

Ngọc Thơ mỉm cười:

–         Nhưng chúng ta vẫn còn duyên nợ bạn bè, gặp nhau đây thế là vui rồi, và ở phương trời kia Thu Diệu chưa bao giờ biết rằng ngày ấy Tuấn đã bỏ lộn lá thư tình vào cặp nàng. Lá thư vẫn là một hình ảnh đẹp, một kỷ niệm lãng mạn nên thơ thời học sinh của Thu Diệu.

Nguyễn Thị Thanh Dương

( July, 15, 2019)

From: Ngoc Tran & Tu-Phung

60 năm nhìn lại cuộc di cư 1954 – vĩnh biệt Hải phòng

60 năm nhìn lại cuộc di cư 1954 – vĩnh biệt Hải phòng

Trùng Dương

Kính dâng hương hồn Cậu Mợ, với lòng tri ân sâu xa.

Khi cuộc Di Cư 1954 diễn ra, tôi vừa lên 10 tuổi, đang sống với gia đình ở Hải Phòng, cái thành phố hải cảng đã trở thành chặng cuối cùng đối với hàng trăm ngàn người Việt miền Bắc muốn di cư vào Nam thay vì ở lại sống dưới sự cai trị hà khắc phi nhân bản của Việt Minh, tên gọi của những người cộng sản hồi ấy.

Cũng cái thành phố hải cảng này đã là nơi Bác sĩ Trung úy Hải quân Mỹ, Thomas A. Dooley, và vài quân nhân Mỹ đã làm việc trong suốt 11 tháng, từ giữa tháng 8 năm 1954 tới giữa tháng 5 năm 1955, để giúp dân tị nạn ổn định sức khỏe trước khi gửi họ lên tầu Mỹ di cư vào Nam. Kết quả của thời gian hoạt động này đã được Bác sĩ Dooley ghi lại trong cuốn hồi ký “Deliver Us From Evil” (“Xin cứu chúng tôi khỏi mọi sự dữ”, trích từ một câu trong Kinh Lạy Cha của tín đồ Thiên Chúa giáo) xuất bản vào năm 1956.(*) Cuốn sách, mô tả, với sự quan tâm chân thực, xót xa của một vị lương y mới ra trường, những giao tiếp của ông với dân di cư từ các vùng quê đổ về, phần lớn là những giáo dân thuộc đạo Thiên Chúa, đói rách và bệnh hoạn, và nghe kể về những cảnh huống tàn bạo ngoài sức tưởng tượng mà những người dân quê phải gánh chịu do những người cộng sản cuồng tín gây ra.

Cha mẹ tôi không có ý định di cư vào Nam. Cha mẹ tôi nguyên là con nhà nông thuộc giới điền chủ. Ông bà cùng sinh ra vào khoảng năm 1910, và lớn lên ở làng Trình Xá, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông. Cha tôi là con trai duy nhất trong một gia đình gồm năm chị em. Ông học lực chỉ xong được bằng tiểu học, và với tí vốn liếng học thức đó, ông được bầu làm lý trưởng, hay xã trưởng, thời vua chúa xưa là hương mục, có trách nhiệm trông coi tài sản công và tư của làng. Hồi còn nhỏ tôi nghe mẹ tôi kể chuyện là, vì ông có máu mê cờ bạc, nên có cái triện để đóng dấu trên những giấy tờ sang nhượng ruộng đất bà nội tôi nắm giữ luôn, còn cẩn thận cuốn trong ruột tượng quấn quanh bụng suốt ngày đêm cho chắc ăn, để ông không tự do bán ruộng đất của gia đình. Do đấy, mỗi lần có ai tới xin ông lý trưởng đóng nhận một sang nhượng bất động sản nào đó, ông lại phải nói với mẹ cho mượn cái triện. Có lẽ cái say mê nhất của ông là xe hơi và máy móc mà những lần ra tỉnh chơi ông đã thấy, và có để ý theo giõi việc làm ăn của một ông chú của tôi, chủ một hãng xe đò ở Hà Nội.

Tôi không nhớ ông bà quyết định dọn ra tỉnh vào năm nào, vì chỉ có ở tỉnh ông mới được thoả mãn lòng say mê máy móc xe hơi, song căn cứ vào năm và nơi sinh, là tỉnh Sơn Tây, của các anh chị kế tôi, thì có lẽ vào khoảng năm 1940 hay trước đó đôi năm. Tóm lại trong đám anh chị em 11 đứa tụi tôi thì ba người đầu sinh ở quê, năm người, trong đó có tôi là thứ bẩy, ra đời ở Sơn Tây, và ba đứa em cuối cùng sinh ở Hải Phòng. Thoạt đầu cha tôi làm công cho người ta. Dần dà ông tậu được một cái xe chở hành khách, dậy anh Cả và vài người cháu trai đồng lứa học lái, sửa xe và đi theo làm lơ xe. Có lần, mẹ tôi kể, chiếc xe đò của ông bị quân đội Pháp trưng dụng đi sang tận bên Miên, Lào mà mẹ tôi không được tin tức gì tới hai tuần, cuối cùng ông vể kể chuyện bà mới hay. Ông làm ăn vất vả nuôi một bầy con lúc nhúc. Cũng nhờ sự chịu khó cần cù của ông mà hồi xẩy ra nạn đói năm 1945 giết chết cả triệu người miền Bắc, gia đình tôi lớn bé không có ai bị thiếu ăn cả.

Trí nhớ của tôi bắt đầu ghi nhận được là lúc gia đình tôi đã dọn xuống Hải Phòng, có lẽ vào cuối thập niên 1940. Nhỏ nên không biết gì về tình hình chiến sự sôi động hồi ấy, nhưng tôi nhớ có lần anh lơ xe hớt hải chạy về giữa ban ngay, nói không ra hơi, báo với cha tôi, vỏn vẹn, “Ông ơi, xe bị mìn lật rồi!” Cha tôi lặng người chết đứng, mẹ tôi ngưng mọi việc đang làm thất thần nhìn cha tôi, trong khi lũ nhỏ chúng tôi biết đã tới lúc đi chỗ khác chơi.

Cha tôi, như nhiều người Việt khác, là người có khả năng sinh tồn mạnh mẽ, sẵn sàng vượt qua mọi trở ngại và bất hạnh của đời sống để lo cho gia đình. Vào các năm trước cái gọi là Chiến thắng Điện Biên Phủ, rồi tiếp theo là việc ký kết Hiệp định Genève vào mùa hè năm 1954 giữa Pháp, chính phủ Bắc Việt của Hồ Chí Minh, Lào, Trung Cộng, Liên Xô và Anh (Hoa Kỳ từ chối không ký, còn chính phủ Nam Việt Nam không nằm trong những phe ký nên không chấp nhận Hiệp định đình chiến này) được ký kết, cha tôi đã làm chủ một hãng xe chở hành khách gồm cả xe đò và xe nhỏ, hình như hiệu Citroen, không rõ tại sao gọi là xe lô-ca-xông, tôi đoán từ chữ “location”, ngược xuôi các tuyến đường Hà Nội – Hải Dương – Kiến An – Hải Phòng và Hải Phòng – Đồ Sơn, tôi nhớ đại khái thế. Hãng xe của cha tôi tên là Đông Bình, nên người ta hay gọi cha mẹ tôi là Ông Bà Đông Bình, chúng tôi là con Ông Bà Đông Bình. Tôi không bao giờ có dịp hỏi tại sao ông chọn tên đó, nhưng nghĩ có lẽ đó là do khao khát được nhìn thấy hoà bình trên giải đất dọc theo bờ biển Thái Bình Dương lâu nay chiến tranh triền miên này. Hai người anh họ con mấy bà bác ruột của tôi cũng mỗi người được cha tôi nâng đỡ tậu được một hay hai xe chở hành khách, tự đặt tên là Bắc Bình và Nam Bình. Tôi không rõ vì sao cha tôi không nghĩ tới việc mua bất động sản, mà suốt thời gian sống ở Hải Phòng ông thuê nhà chứ không mua. Tôi còn nhớ ngôi nhà chúng tôi ở trước khi di cư vào Nam là ở số 3 Ngõ Nghĩa Lợi, một đầu ngõ gặp đường Cát Dài, và đầu bên kia đụng một đường rầy xe lửa nằm bên cạnh một hồ sen mà hình ảnh vẫn còn in trong trí nhớ tôi, mà loài sen là hoa tôi rất thích. Không mua nhà đất có lẽ vì cha tôi thấy không cần thiết vì ông chắc chắn sẽ thừa hưởng nhiều ruộng đất để lại của bà Nội tôi khi bà qua đời.

Vào những ngày trước khi kết thúc cuộc chiến mà sách vở gọi là Cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954) và nhiều người trong chúng ta cho là không cần thiết vì sau Đệ nhị Thế chiến đa số các nước thuộc địa đều lần lượt trước sau lấy lại được độc lập mà không cần đổ máu, tin dữ từ nhà quê ra: Bà Nội tôi bị chết sau khi bị trúng một mảnh mọc chê vào đầu trong khi đang trốn dưới một cái phản gỗ vào một đêm nọ. Bà tôi chết khi được 84 tuổi, tuy già nua nhưng cụ còn khá minh mẫn. Mỗi lần nhớ đến Bà Nội thì tôi không thể không nhớ tới một lần về quê ăn Tết, tôi ở miết bên nhà ông cậu ruột vì ở đó có các người em họ cỡ tuổi tôi hay lớn hơn. Đến giờ đi ngủ, bà tôi lụm cụm tay xách cây đèn dầu tay chống gậy sang đón về nhưng tôi không chịu về. Tôi sợ những nét già nua nhăn nheo của bà một phần, nhưng sợ nhất là cái quan tài bằng gỗ sơn đỏ bà sắm sẵn để trong cái gian đầu nhà chuyên để chứa thóc gạo và các đồ lỉnh kỉnh khác.

Hiệp định Genève được ký kết vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, chia cắt Việt Nam làm hai, miền Bắc do Việt Minh cai trị, miền Nam sau đó trở thành một quốc gia mới. Người dân hai miền có 300 ngày để chọn nơi mình muốn sinh sống. Quê tôi là một trong những vùng được Việt Minh tiếp thu sớm nhất vào cuối năm 1954. Cha tôi quyết định gửi vợ chồng anh Cả và đứa con gái đầu lòng mới được mấy tháng về nhà quê sống. Cùng đi với anh chị Cả là anh Sáu, tôi và thằng em Chín. Như nhiều chủ gia đình Việt xưa, cha tôi ít khi giải thích lý do ông có một quyết định nào đó, hoặc có thì ông cũng chỉ bàn với anh Cả, vì khi viết bài này tôi hỏi Chị Năm, người chị kế tôi, chị cũng nói không rõ tại sao cha tôi quyết định gửi một số con về quê ngay sau khi đình chiến. Tôi suy đoán là thứ nhất, anh Cả hồi ấy bị động viên, đã mặc đồ lính (tôi còn nhớ, mặc dù hồi ấy chỉ mới 9, 10 tuổi, đã trố mắt trước vẻ đẹp trai khác thường của ông anh trong bộ quân phục mầu rêu khít khao với thân hình và cái nón chào mào cùng mầu), có lẽ là bỏ ngũ về quê sống, có thể là do ý muốn của cha mẹ tôi vì lo cho cậu con cả. Ngoài ra, có thể cha tôi, cũng như đa số người Việt ở thành thị hồi ấy chưa biết gì về hậu quả của các cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu đã và đang diễn ra ở các làng quê nhưng chưa về tới làng tôi, nên ông gửi một số con về quê để tiện thể trông nom ruộng đất chăng.

Chúng tôi về quê sống được vài tháng vào cuối hè và đầu thu, thì một bữa chị Năm, hồi ấy mới 14 tuổi song tính nhanh nhẹn nên được cha tôi tin cậy giao phó việc đi đi về về đem tiền bạc và thông tin, được cha tôi gửi về bảo thu xếp về Hải Phòng để đi Nam. Để tránh nghi ngờ là có ý định đi Nam và có thể bị bao vây giữ lại, khi ra tới Hà Nội, lúc ấy cũng đã được tiếp thu, chúng tôi phải giả bộ như sẽ sinh sống ở đó, bằng cách thuê một căn phòng nguyên là lớp học ở trong một nữ tu viện và trường học mà hầu hết nhân sự đã di cư, nằm trên đường Hai Bà Trưng, để ở ít tuần. Anh Sáu và thằng Chín thì đã theo chị Năm về Hải Phòng trước, còn tôi ở lại với gia đình anh chị Cả để giúp trông con cho chị. Để cho màn trình diễn có vẻ thực hơn, tôi còn được ghi danh đi học lớp ba hay tư ở một trường công tại đây. Tất nhiên vì là con nít nên tôi không được cho biết các mưu tính đó của các người lớn.

Khi chúng tôi chuẩn bị đi Hải Phòng thì tôi được người lớn dặn dò là nếu có ai hỏi đi Hải Phòng làm gì thì nói là đi thăm người nhà sắp đi Nam để khuyên họ ở lại, đừng đi Nam nữa vì nước nhà đã độc lập tự do. Ngoài ra, riêng tôi còn được giao thêm một việc nữa, đó là khi các cán bộ Việt Minh sắp khám đến chị Cả đang bế cháu bé thì tôi phải tìm cách… cấu vào đùi con bé thật mạnh để nó phải khóc ré lên và chị Cả sẽ đưa nó cho tôi bảo bế ra ngoài. Thế nhưng chính việc đó lại làm cho người nữ cán bộ khám chị Cả càng sinh nghi, túm tôi lại và lột lấy hai chiếc giầy trên chân con cháu, lôi ra và tịch thu hai cọc giấy bạc tiền Đông Dương còn mới tinh. Tuy thế, chúng tôi sau đó cũng được phép lên xe đi Hải Phòng, chỉ có mớ tiền ở lại. Của đi thay người, chị tôi ứa nước mắt suýt xoa tiếc của song tự an ủi. Lúc ấy chúng tôi hoàn toàn không biết tới những cảnh tìm đường vượt thoát vô cùng thương tâm của bao nhiêu ngàn con người muốn tìm đường tới Hải Phòng, một thành phố đang hấp hối song vẫn còn là nơi còn cho họ cái hy vọng tới được Đường tới Tự Do – Passage to Freedom – như tên Chiến dịch Đường Tới Tự Do do Hải Quân Hoa Kỳ đảm trách, bên cạnh Pháp và Anh lo phần chuyên chở người vào Nam bằng máy bay.(**)

Nếu trong cuộc Di cư 1975 và sau đó, câu hỏi của hầu hết người Việt ở Miền Nam, trong một cái xã hội vô vọng mà “đến cả cái cột đèn nếu biết đi thì cũng tìm cách đi”, là làm sao để đi; thì ở thời điểm 1954 tình thế phức tạp hơn, và câu hỏi lớn nhất của họ là nên đi hay ở. Trước hết, một trong những điều khoản của Hiệp định Genève là hai năm nữa, vào năm 1956, sẽ có một cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước và người dân hai miền Nam Bắc tự định đoạt lấy thể chế chính trị thích hợp. Đây chính là điều đã, theo tôi, khiến nhiều người dân miền Bắc quyết định ở lại để chờ cái ngày không bao giờ đến đó, một phần cũng vì quá mệt mỏi với chiến tranh và muốn thấy hoà bình bằng mọi giá, và cũng vì tiếc của, bên cạnh ảnh hưởng bởi một chiến dịch tuyên truyền ráo riết của Việt Minh. Tuyên truyền và cả dọa nạt, nhất là đối với dân quê, rằng tầu “há mồm” của Mỹ sẽ đưa họ ra biển rồi mở cái cổng mồm đó và trút họ xuống biển, hoặc thủy thủ Mỹ sẽ nướng con nít ăn thịt nếu đến với họ, vv. Và thứ hai là dạo ấy chỉ có một số ít nghe biết, chứng nhân thì lại càng ít hơn, được những cuộc tàn sát giết hại và đầy đọa những người không cùng chính kiến của người cộng sản.

Cha tôi, tôi nghĩ, thuộc loại người đã quá mệt mỏi với chiến tranh, muốn tin vào cái viễn ảnh tổng tuyển cử năm 1956, và nhất là tiếc của, của do ông đã tốn bao mồ hôi nước mắt tạo dựng nên và đất đai mà ông tưởng là sẽ được thừa hưởng của bà tôi. Tuy vậy, ông cũng còn bán tín bán nghi, chưa quyết sẽ có di cư hay không. Và có lẽ để cho dễ dàng quyết định vào phút chót, cha tôi bảo anh Cả đem gia đình anh và một số các em vào Nam, trong đó có chị Ba, chị Năm, anh Sáu và tôi.

Nghe biết sẽ phải đi Nam với chúng tôi, chị Ba khóc lóc thú nhận đang yêu anh Tuấn và muốn được cha tôi chấp thuận cho lấy anh, mà gia đình anh Tuấn thì đã nhất định ở lại. Chị Ba là người đẹp nhất trong đám sáu chị em gái chúng tôi, và khá tân tiến: chị là người đầu tiên trong gia đình tôi đi uốn tóc, và chị còn học chơi đàn guitar nữa. Tôi hay ngồi xem chị gẩy đàn và hát bài “Dư âm”, có lẽ là bài chị chọn để học đánh đàn, nên tôi rất nhớ bài đó vì nghe tới nghe lui. Cha tôi tất nhiên là rất tức giận vì bị đẩy vào một trường hợp khó xử: trước khi chấp thuận cho chị Ba lấy anh Tuấn, ông lại còn phải xin từ hôn với gia đình anh Nhân, là người đã làm đám hỏi với chị Ba, chỉ chờ ngày cưới. Việc chị Ba từ hôn vậy mà cũng thành một tin trên một tờ báo địa phương, tôi còn nhớ đã đọc được. Dù vậy, chị Ba cuối cùng cũng được toại nguyện: lấy chồng trong một đám cưới chạy tang rất đơn sơ, vì bên gia đình chồng đang có tang. Nghe nói chị bị mẹ chồng đối xử không tốt. Nhiều năm tháng sau đó, tôi được đọc mấy cái bưu thiếp chị gửi vào xin một chiếc xe đạp. Tôi không nhớ lời yêu cầu của chị có được đáp ứng. Chị đã qua đời vì bệnh tiểu đường cách đây gần hai thập niên.

Khác với đa số người di cư 1954 đáp tầu Mỹ, chúng tôi được di tản bằng máy bay do Pháp cung cấp. Đó là vào một ngày tháng 3 năm 1955, và đấy là lần đầu tiên tôi được đi máy bay, nên bụng dạ làm reo, ói lên ói xuống, ngồi trên xe GMC chở từ phi trường Tân Sơn Nhất đến nhà ông chú ở đường Phan Đình Phùng để tá túc tạm, tôi vẫn còn ói. Chúng tôi vừa mới ổn định chỗ ở tại một căn nhà gỗ, không có cầu tiêu riêng, thuê được ở bên Khánh Hội chưa được bao lâu thì có thư của cha tôi nói ông đã quyết định ở lại, bảo mấy anh em ở trong Nam tự lo liệu lấy. Tôi khóc xưng cả mắt, nghĩ từ đây sẽ không còn gặp lại cha mẹ và các em, nhất là Tám, cô em thua tôi hai tuổi song hai đứa rất gần nhau từ hồi nhỏ. Chị Năm mới 15 tuổi, phải khai gian lên hai tuổi để xin đi làm sau khi học lấy được cái bằng đánh máy, rồi sau đó vừa đi làm vừa đi học thêm tiếng Anh. Anh Cả thì mướn xe taxi chở khách, trong khi chị Cả đi buôn quần áo từ trong Chợ Lớn rồi thuê sạp ở chợ bán lại. Anh Sáu và tôi còn nhỏ, 12 và 10 tuổi, nên được đi học.

Tôi làm quen với đời sống của vùng đất mới có tên là Sài Gòn, thấy cái gì cũng lạ. Một vài chi tiết mà tôi thấy ngộ nghĩnh, nói lên đặc tính dễ dãi và sởi lởi của người Miền Nam: Đi mua đồ giá năm cắc, tức 50 xu, đưa tờ giấy một đồng, người bán hàng thản nhiên xé tờ giấy bạc làm đôi cái rẹt, đưa trả lại mình một nửa. Tôi thích lối làm bánh mì của miền Nam, đầy tính sáng tạo: ngoài thịt nguội hay ba tê còn có đồ chua, ngò và dưa leo, mà ở bên Mỹ bây giờ chúng ta gọi là Vietnamese sandwich.

Nhưng cái tôi thích nhất của Miền Nam là vô số truyện bằng tranh, một loại sách không thấy ở miền Bắc, và những nhà cho thuê truyện, thay thế cho những thư viện công cộng không hiện hữu ở Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung. Miền Nam, từ đấy, mở ra không biết bao nhiêu là cơ hội, so với Miền Bắc sau ngày bức màn tre buông xuống. Kể từ ngày bắt đầu cầm bút sáng tác, đặc biệt sau khi đọc cuốn sách “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của Hoàng Văn Chí (***), tôi thường cố thử hình dung mình sẽ ra thể nào nếu lớn lên ở Miền Bắc. Có lẽ, giống như một nhà phê bình Miền Bắc nói vài năm trở lại đây, rằng nếu họ được sống ở Miền Nam thì họ cũng sáng tác nên những tác phẩm đâu thua của văn nghệ sĩ của Miền Nam, và ngược lại.

Thế rồi đùng một cái, lại có thư của cha tôi nói quyết định đi Nam. Lúc bấy giờ đã gần tới ngày Việt Minh tiếp thu Hải Phòng. Nhà của cha mẹ tôi cũng là nơi các người thân trong họ từ làng quê, mượn lý do “đi Hải Phòng khuyên người thân ở lại vì nước nhà đã độc lập tự do” để xin giấy thông hành di chuyển, tới ở tạm trong khi chờ ngày lên tầu đi Nam. Cha mẹ tôi chắc đã nghe không thiếu các thảm cảnh cải cách ruộng đất và địa chủ bị đấu tố và xử tử ở các vùng quê, bên cạnh các chuyện cấm đạo, giáo dân bị buộc đi học tập chính trị vào đúng lúc có Thánh Lễ, các giáo sĩ bị tra tấn, hành hung. Một trong những chuyện kinh hoàng nhất là việc một ông linh mục bị Việt Minh đóng bẩy cây đinh xung quanh đầu giả làm mão gai, được vài giáo dân chở tới trại tạm trú ở Hải Phòng dưới sự điều động của Bác sĩ Dooley để nhờ ông cứu chữa.(****)

Thấy không thể ở lại được nữa, cha mẹ tôi bán tống bán tháo tài sản để đi Nam, bằng lòng nhận vàng thay vì tiền mặt, hồi ấy là tiền Đông Dương có in hình ông Bảo Đại. Những gì không bán được hay muốn giữ lại thì giao cho chị Tý, đã ở với gia đình tôi được vài năm để nuôi em gái út của tôi, đi theo tầu Mỹ chở vào Nam, cùng với anh Tư và Út, cận ngày Hải Phòng đóng cửa. Tóm lại, gia đình tôi tổng cộng gần hai chục người thì chia nhau đi Nam thành bốn đợt, kể cả đợt chị Hai theo chồng lúc ấy có quốc tịch Pháp di cư vào Đà Nẵng trước mọi người trong gia đình.

Khi cha mẹ tôi đem vàng đi bán, định để mua một căn nhà để gia đình an cư và lo chuyện xây dựng lại cuộc đời thì khám phá ra là toàn vàng giả. Tôi có thể hình dung ra nỗi đau đớn của ông bà khi ở tuổi ngoài 40, chợt thấy hai bàn tay trắng, với một lũ con mà phần lớn còn nhỏ, tại một vùng đất lạ hoắc.

Dù vậy, tôi không hề nghe ông bà than phiền hay nuối tiếc đã bỏ mọi thứ để đem anh chị em tôi đi Nam. Tôi sẽ mãi mãi ghi ơn ông bà đã chọn lựa Miền Nam làm nơi cho anh chị em tôi lớn lên, trong một không khí tự do dù là tương đối. Chỉ tiếc là 20 năm sau, chúng tôi lại phải đối đầu với thêm một lần bỏ cửa bỏ nhà ra đi tới những nơi còn xa hơn từ Bắc vào Nam, tuốt tận bên kia đại dương nghìn trùng. Và không đứa nào trong vài anh chị em chúng tôi đi thoát được khỏi Việt Nam vào những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975 đã đem theo được cha mẹ già. Cha tôi không muốn đi, nói đã lớn tuổi, rằng ông không dính dáng gì tới chính quyền Cộng Hoà hay Mỹ, nên chẳng lo, và có lẽ cũng không muốn nhờ và con cái. Mẹ tôi thì rất muốn đi khỏi Việt Nam, nhưng thấy cha tôi không muốn đi nên cũng lặng lẽ gạt nước mắt nhìn chúng tôi lần lượt biến mất khỏi cuộc đời bà.

Mẹ tôi mất khoảng một năm sau ngày Sàigòn thất thủ, có lẽ vì bị tim. Cha tôi nể lời con cái bằng lòng đi Mỹ đoàn tụ vào đầu năm 1983, nhưng cũng chỉ sống được tám tháng thì qua đời, vì bệnh một phần, song có lẽ vì cảm thấy quá cô quạnh. [TD, 2014/07]

Chú thích:

(*) Thomas A. Dooley, M.D., Deliver Us From Evil – The Story of Viet Nam’s Flight to Freedom, New York: Farrar, Straus and Cudahy, 1956, có thể tải xuống toàn bộ cuốn sách tại https://archive.org/details/deliverusfromevi006715mbp. Cuốn sách đã được chính phủ Mỹ hồi ấy dùng vào chiến dịch tuyên truyền chống Cộng của thập niên 1950 và 1960. Cũng do đấy mà có nhiều người Mỹ, kể cả giới học giả, thuộc phong trào chống cuộc chiến tại Việt Nam vào thập niêm 1960, đã kết luận, hoặc để biện minh cho khuynh hướng chính trị hay hành động chống đối nào đó của mình, rằng ông Dooley đã thiện lệch vì làm việc cho cơ quan tình báo Mỹ CIA dạo ấy. Có lời phê bình còn độc địa hơn cho rằng những chuyện trong sách hoàn toàn bịa đặt cho chủ đích tuyên truyền của chính quyền Mỹ.

(**) Xem “60 Năm Cuộc Di Cư Lịch sử 1954, đọc ‘Chiến dịch Đường Tới Tự Do’,”http://www.diendantheky.net/2014/07/trung-duong-60-nam-sau-cuoc-di-cu-lich.html

(***) Hoàng Văn Chí, Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc,http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9495&rb=08

(****) Deliver Us From Evil, trang 198; và “Viet Nam: The Lesson of Seven Nails,” Time, 21 tháng 2, 1955, http://content.time.com/time/magazine/article/0,9171,892973,00.html

Hình ảnh:

 

Bản đồ về hành trình của mỗi chuyến tầu do Hải Quân Hoa Kỳ đảm trách chở người di cư từ Hải Phòng vào Sàigòn trong cuộc di cư năm 1954-55. (Hình National Geographic, số tháng 6-1955) 

 

Các người di cư đang được giúp lên chiếc máy bay của Không Quân Pháp để di cư vào Nam. Cô bé ở góc phải có lẽ cỡ tuổi tôi khi tôi cùng một số người trong gia đình di cư vào Nam cũng bằng một chuyến bay tương tự. (Ảnh National Geographic, số tháng 6-5-1955)

Các thủy thủ trên chiếc tầu Hoa Kỳ USS Bayfield cầm biểu ngữ chào mừng đoàn người di cư

 

Hàng ngàn người được tầu đổ bộ của Pháp đón vớt từ các nơi dọc theo bờ biển Băc Việt Nam đang chờ lên tầu Mỹ USS Montague để di cư vào Nam

 

Xuống bến Sàigòn để bắt đầu một cuộc đời mới và tự do. (Ảnh U.S. Navy) Theo Ronald B. Frankum, Jr., tác giả “Operation Passage to Freedom – The United States Navy in Vietnam, 1954-1955” (Texas Tech University Press, Lubbock, Texas, 2007), cuộc di cư vĩ đại này có sự tham dự của 115 chiến hạm và các loại tầu lớn, nhỏ khác của Mỹ, và đã chuyên chở trên 310,000 người trong số 800,786 tổng số người di cư cho tới tháng 5 năm 1955, kể cả dân lẫn quân sự, từ Bắc vào Nam. Số còn lại do các cơ quan của chính phủ Việt, Pháp và Anh đảm trách, bằng phương tiện vừa tầu thủy vừa máy bay. Ngoài ra, có khoảng trên 40,000 người tự túc bằng các phương tiện riêng. Số người bị Việt Minh ngăn cản bằng mọi cách, kể cả đe dọa và hành hung, không cho tới được Hải Phòng để đáp tầu vào Nam ước tính lên tới nhiều chục ngàn người.

BÀ CỐ

BÀ CỐ

Ở cái chợ cá này ai mà chẳng biết bà có thằng con trai đi tu. Mà hình như nó làm thầy rồi. Bữa trước thấy bà mặc áo dài thật đẹp đi lễ khấn nó thì phải? Ai mà chẳng gọi bà bằng giọng điệu kính nể: “Bà Cố!”. Lúc đầu bà cũng ngài ngại. “Cố gì, cứ gọi bà Hai được rồi. Bà Hai bán cá!” Lâu dần bà cũng quen. Gọi: “Bà Cố” nghe cũng hay hay.

***

Kể từ sau ngày đi lễ khấn con về, bà vui hẳn. Bà hãnh diện nơi chốn đông người. Ngẩng cao đầu trong mỗi Thánh lễ. “Dù gì con ta cũng là tu sĩ tu sọt chứ bộ” – Bà nghĩ thầm vậy. Nhưng dù cho có một chút hãnh diện về thằng con trai, bà vẫn cứ lo sợ. 

Người đời nói đi tu khó lắm chứ đâu phải dễ. Làm bà cố lại càng khó. Bà sợ lòng người nham hiểm. Bữa trước kìa, mới đây thôi, nhà ông Năm xóm trên chứ đâu xa. Chỉ vì cái hàng rào nhà bên xây lấn qua sân, ông qua phân bua phải trái với họ. Chưa nói được câu nào đã bị chửi sang sảng vào mặt: “Tưởng làm ông cố mà tui nể hả. Ông thuộc về cái dạng quá cố thì có. Mang tiếng có con làm cha mà sống không biết điều.” Nghe đến đó, ông Năm lầm lũi về nhà, mặt buồn rười rượi. Người nhà nói ông bệnh liệt giường cả tuần.

***

Hằng ngày bà vẫn phải dậy từ hai ba giờ sáng đi lấy cá ở chợ đầu mối về bán. Công việc cũng mấy chục năm rồi. Từ cái hồi bà còn con gái. Lấy chồng, chồng chết, để lại cho bà hai đứa con, một trai, một gái. Đứa con gái lầm lỡ chửa hoang, trốn biệt tăm mấy năm rồi cũng về lại ở chung với bà, đem về thêm một thằng nhóc. Bà nói: “Kệ, người ta nói gì cũng được, về đây má nuôi hai mẹ con.”  Mọi sự bà trông mong vào cậu con trai. Hi vọng nó sẽ làm chỗ dựa cho bà khi tuổi già xế bóng.

Bà kể hồi đó có mấy cha về làm Tuần Đại Phúc ở nhà thờ, ghé thăm vì nhà bà thuộc những hộ nghèo. Không biết các cha nói gì mà thằng nhỏ bỏ bà cái rụp. 

– Má, con đi tu nha! Con đi tu, mai mốt má được làm bà cố. Bà cố bán cá!

Bà gật đầu. Hai mẹ con cùng cười. Có cái gì đó vui lắm trong lòng bà không tả được.

 ***

Bẵng đi mấy năm, cậu con trai về. 

– Má, tuần sau con khấn rồi, má với chị hai đi lễ của con. 

Ngoài chợ biết chuyện, nhiều người đến chia vui, nói đùa: “Con chào Bà Cố ạ!” Bà đỏ mặt, không giấu được niềm hạnh phúc dâng tràn qua ánh mắt.

Từ sau ngày khấn của con bà thay đổi hẳn. Bà siêng đi lễ hơn. Vì sợ miệng đời nói bà cố gì mà chẳng đạo đức tí nào. Bà bán cá không dám lời nhiều. Vì sợ miệng đời nói bà cố gì mà bán cắt cổ. Bà không dám to tiếng với ai. Vì sợ miệng đời nói bà cố phải nhỏ nhẹ chứ… “Bà Cố” nghe thấy cũng thích nhưng mang được nó sao nặng nề quá. Cũng vì con, bà chấp nhận tất cả. Đứa con gái thấy mẹ mệt mỏi, bực mình nói: “Thằng út đi tu chứ má có đi tu đâu mà chịu khổ dữ vậy!” Bà nghĩ, con đi tu thì mình cũng tu theo con chứ còn gì. Đời bà giờ chỉ trông mong vào thằng con. Bà không cầu xin Chúa điều gì ngoài cầu xin cho con bà có ơn bền đỗ trong ơn gọi

***

Đang bán hàng, bà nghe tiếng đứa con gái oang oang: “Thằng út nó về thăm má ở nhà kìa, má về đi. Để đó con bán cho.” Bà chạy về thật nhanh như vớ được phải vàng. Mà cũng lâu lắm nó mới về thăm bà chứ có phải thường xuyên đâu.

Bước vào nhà, bỏ cái nón lá xuống đất, vừa nhìn thấy con trai, linh tính của một người mẹ nhắc bảo có chuyện chẳng lành. 

– Nhà Dòng cho con về rồi má – cậu con trai lên tiếng.

Chẳng kịp để bà phản ứng, cậu nói tiếp: “Má có tin con không?”

Bà gật đầu. Má tin.

***

Rồi cậu lại đi.

– Con đi đâu?

– Con đi để không phụ lòng tin của má.

***

Ở cái chợ này là thế. Việc tốt chẳng thấy nói tới nhưng hễ nhà nào có chuyện chẳng lành là lan còn nhanh hơn cả in-tơ-nét. Mà cái chuyện của nhà bà, chuyện thằng con trai của bà có phải chuyện nhỏ nhoi gì đâu. “Đi tu mà còn mê gái! Phải chi nó mê con nhỏ nào đẹp đẹp. Bữa tao thấy rồi, con nhỏ đó xấu quắc hà! Nghe đâu ổng làm cho con nhỏ có bầu. Giờ nhà Dòng đuổi rồi. Thiệt nhục hết sức.”

Bà chẳng còn vui vẻ bán cá như thường lệ kể từ ngày ấy. Bà cũng không thể yên tĩnh được giây phút nào khi ở nhà. Đâu đâu người ta cũng bàn ra bàn vào, nói tới nói lui, nói bóng nói gió. Mà cũng có khi nói thẳng vào mặt: “Bà Hai, thằng con bà tu được tui cắm đầu xuống đất!”

Mới ngày nào người ta còn gọi bà bằng cái danh hiệu rất cao cả “Bà Cố!” Ấy vậy mà mọi việc đến quá nhanh. Bà dường như không hiểu chuyện gì đã xảy ra cho thằng con của bà và cho cả bà. 

Lầm lũi. Ít nói. Hiếm lắm người ta mới thấy bà cười với thằng cháu ngoại.

***

Mười lăm năm kể từ ngày đứa con trai về thăm bà, cũng là mười lăm năm bà chờ đợi. Mười lăm năm chưa phải là quá dài nhưng cũng đủ khiến cho tóc bà bạc trắng, lưng còng, mắt mờ và nhất là bà không thể đi bởi căn bệnh thấp khớp hành hạ. Mười lăm năm người ta vẫn nói tới nói lui như chuyện vừa hôm qua: “Thằng đó còn mặt mũi nào nữa mà về đây. Hại con người ta có bầu giờ phải chịu trách nhiệm chứ sao.”

Đứa con gái thay bà bán cá ngoài chợ. Bà ở nhà, ngồi xe lăn. Khi nào thằng cháu ngoại rảnh rang việc học thì đẩy bà đi vài vòng cho đổi không khí. Còn không thì suốt ngày bà chỉ quanh quẩn trong căn phòng kín như bưng, hôi hám. Lâu rồi người ta không gọi bà là “Bà Cố” nữa, mà gọi “Bà Hai Xe Lăn”. Mà hình như bà cũng quên cái danh hiệu đó rồi thì phải.

***

Rồi cậu con trai cũng về.

Nhìn thấy mẹ, cậu tựa đầu vào ngực mẹ mà khóc: “Má giận con lắm hả?” Bà cũng khóc theo con. 

– Tháng sau con được làm linh mục rồi.

Cậu nhìn thẳng vào mắt mẹ mà nói. Bà ôm đầu con. Hai mắt ráo hoảnh.

 ***

Rồi cái ngày con bà bước lên Bàn Thánh cũng đến. Người ta đẩy bà trên xe lăn lên gian cung thánh để trao áo lễ cho Tân Linh Mục. Đâu đó ở phía sau thì thầm: “Nhìn bà cố tội quá!”

Mọi người quy tụ quanh bà, quanh Tân Linh Mục reo hò, chúc mừng. Mấy bà bán cá trong chợ cũng bao quanh: “Chúc mừng bà cố!”

Bà trả lời nhỏ nhẹ như khẽ, như gió thoảng: “Không dám, tôi chỉ là bà Hai bán cá, hoặc gọi tôi Bà Hai Xe Lăn cũng được, tôi quen rồi!”

Lm. Mar – Aug Bùi Văn Hồng Phúc, SSS

 From: luong bui & Kim Bang Nguyen

Có bao giờ trong lịch sử Việt Nam mà chính quyền lại bị khinh ra mặt như vậy

Lê Vi

Báo chí cũng “quốc tế hóa” vấn đề bằng các bài viết cho thấy động thái của Mỹ liên quan biển Đông, như muốn nhắc Mỹ rằng bảo vệ biển Đông trước Trung Quốc là điều phải làm như một phần của lợi ích quốc gia Mỹ. Ấy thế phần mình thì Việt Nam luôn lấp lửng hai mặt trong chính sách đối ngoại với Mỹ. Cần nhắc lại, năm 2013, thời Barack Obama, khi Mỹ thúc Việt Nam thành lập “đối tác chiến lược song phương” (bilateral strategic partnership) thì Việt Nam chỉ chọn mô hình “vừa phải” là “đối tác toàn diện” (comprehensive partnership).

Tháng 10-2018, Việt Nam còn hủy 15 hoạt động quốc phòng với Mỹ trong lịch làm việc cho năm 2019. Cần để ý thêm một chi tiết: trong khi báo chí được xua ra để cho “thế giới” và “bạn bè khu vực” thấy “dã tâm” Trung Quốc, trang web Bộ Ngoại giao Việt Nam vẫn lặng như tờ. Truy cập trang web Bộ Ngoại giao cách đây vài phút, ở phần “chính sách đối ngoại”, thấy bài “mới nhất” liên quan “công tác đối ngoại” là “Trả lời phỏng vấn báo chí của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập quốc gia ngoại giao Việt Nam-Campuchia”, đăng ngày 24-6-2017!

Truyền thông những ngày qua cũng làm “nổi bật” hình ảnh “nạn nhân” Việt Nam trước Trung Quốc, như thể Việt Nam chưa từng là nạn nhân, chưa từng bị bắt nạt, chưa từng bị đối xử khinh miệt như một quốc gia vừa tiểu vừa nhược. Hình ảnh “nạn nhân đáng thương” của Việt Nam trước tên côn đồ Trung Quốc, đáng tiếc, không hề được các nước khu vực “đồng cảm” và “chia sẻ”. Chẳng có thành viên ASEAN nào cho thấy họ sẵn sàng đứng chung chiến tuyến với Việt Nam. Tệ hơn, hình ảnh nạn nhân của Việt Nam cũng chẳng được người dân trong nước “cảm thông”. Mặc cho báo chí, sau khi không còn “nghe hơi nồi chõ”, tung ra hết bài báo này đến bài báo khác “vạch trần thủ đoạn” Trung Quốc, người dân vẫn phản ứng “lịch sự”, bằng cách ra vài tuyên bố lên án Trung Quốc hoặc chỉ trích Trung Quốc trên trang cá nhân, hơn là cho thấy họ sẵn sàng sát cánh nhà cầm quyền để đối phó ngoại xâm.

Có bao giờ trong lịch sử Việt Nam mà chính quyền lại bị khinh ra mặt như vậy? Có giai đoạn nào trong lịch sử mà sự yêu nước của người dân đã không hề song hành với việc “yêu” cái chính quyền mà theo lẽ mặc định là nơi để họ nương tựa vào giúp bảo vệ chủ quyền quốc gia? Có bao nhiêu người dân đang đứng về phía chính quyền Việt Nam? Hãy xem câu hỏi này như một thực tế và chính quyền cần phải giải đáp trước khi đủ can đảm ngưng sụt sịt diễn vai “nạn nhân quốc tế” để ít nhất một lần đứng lên gọi thẳng tên Trung Quốc là “kẻ thù”.

Mạnh Kim

Người đàn ông ấy ngồi một mình bên bàn, trong ngày Tình yêu 14/2, và khóc.

Người đàn ông ấy ngồi một mình bên bàn, trong ngày Tình yêu 14/2, và khóc. Phía trước mặt ông là bình tro của người bạn đời đã quá cố. Cạnh đó có một ly rượu.

Đấy là một hình ảnh buồn mà Chasidy Gwaltney đã post lên Facebook trong ngày 14/2 năm ngoái, sau khi chứng kiến cảnh xúc động trên trong một tiệm ăn ở bang Texas, Mỹ. Bức ảnh cùng với thông điệp “đừng bao giờ quên yêu mến những người thân thiết” của cô chỉ trong vài ngày đã được hơn nửa triệu like và nửa triệu share, cho thấy bức ảnh đã chạm đến trái tim của rất nhiều người.

“Bạn biết đấy”, cô viết, “thường thì chúng ta không phải lúc nào cũng quan tâm đến nửa kia của mình. Chúng ta có thể quên hôn tạm biệt, quên nói lời yêu thương hoặc sống vô tâm, và chúng ta không nhận ra những điều có khi rất nhỏ nhặt lại có ý nghĩa thế nào với những người đặc biệt”. Chasidy viết, những gì cô đã nhìn thấy khiến cô nhớ ra rằng, “chúng ta không phải lúc nào cũng có ai đó để ôm, để nói chuyện cùng hoặc để yêu”.

Chasidy kết luận, hãy luôn yêu thương người yêu dấu của mình khi còn có cơ hội, “bởi không ai biết, ngày mai sẽ đem đến hoặc lấy đi của ta điều gì”…

Fb Truong Anh Ngoc

Image may contain: people sitting and indoor