THÁNH MARIA GORETTI TRINH NỮ TỬ ĐẠO

THÁNH MARIA GORETTI TRINH NỮ TỬ ĐẠO

 Lm Đa-minh Thiệu O. Cist

Thánh Maria Goretti sinh ngày 16 tháng 10 năm 1890 tại Corinaldo, Italia, và qua đời với tư cách là vị thánh Đồng Trinh Tử Đạo ngày mồng 06 tháng 07 năm 1902 tại Nettuno, Italia.  Khi mới lên 11 tuổi, thánh nữ đã trở thành nạn nhân của một vụ sát hại dã man vì thánh nữ quyết bảo vệ sự trinh trong của mình.  Vào năm 1950, Maria Goretti đã được Đức Pi-ô XII tôn phong lên bậc Hiển Thánh.

1.Tiểu sử của thánh Maria Goretti:

Cha Mẹ của Maria Goretti là ông Luigi Goretti và bà Assunta Carlini.  Cả hai người đều có quê gốc tại Corinaldo, Italia, và là những nông dân thuần túy.  Họ có tất cả bảy người con, và Maria Goretti là người con thứ ba.  Cuộc sống của Maria Goretti, kể từ khi chào đời cho tới khi cô bị sát hại, đã diễn ra không khác gì cuộc sống của hầu hết các em bé vùng nông thôn Italia cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20: không được học hành tại trường, khả năng đọc sách rất kém, thậm chí còn không thuộc bảng chữ cái, phải làm việc trong nhà và trên các cánh đồng ngay từ khi tuổi đời còn rất nhỏ.  Khi Maria Goretti qua đời (lúc cô sắp mừng sinh nhật lần thứ 12), cô chỉ cao 1m38, thiếu cân, và đã có triệu chứng mắc bệnh sốt rét đang ngày một phát triển.

Vào năm 1897, gia đình ông Luigi Goretti chuyển nơi cư trú từ Corinaldo tới Agro Pontino, tức vùng đồng bằng Pontini.  Họ đến định cư tại làng Ferriere thuộc huyện Nettuno, và lại tiếp tục làm nghề canh tác ruộng vườn.  Agro Pontino là một vùng đồng bằng nằm tại khu vực Đông Nam Rô-ma, và hồi đó có tên là Paludi Pontine (tức đầm lầy Pontini), vì đó là một khu vực đầm lầy thường xuyên bị tấn công bởi bệnh sốt rét.  Mãi tới những năm 30 của thế kỷ 20, Mussolini mới ra lệnh phải tháo cạn nước khỏi khu vực đầm lầy đó.

Tại nơi ở mới, gia đình ông Luigi Goretti đã cùng với gia đình Serenelli điều hành một hợp tác xã nông nghiệp.  Nhưng chỉ một năm sau thôi thì ông Luigi Goretti, tức thân phục của Maria Goretti, đã qua đời vì bệnh sốt rét.  Vì thế, cô bé Maria đã phải cùng với mẹ mình chăm lo cho gia đình.  Mãi cho tới khi Maria lên 11 tuổi, cô mới được Xưng Tội Rước Lễ lần đầu.

Còn ông Serenelli, người cùng điều hành hợp tác xã nông nghiệp nói trên với gia đình Luigi Goretti, có một người con trai tên là Alexandro Serenelli, lớn hơn Maria Goretti 5 tuổi.  Cậu ta là người thanh niên hư hỏng, suốt ngày ăn chơi nêu lổng.  Khi Maria Goretti xuất hiện, cậu ta đã thường xuyên đeo đuổi và gạ gẫm cô.  Nhưng Maria luôn luôn cự tuyệt trước những lời gạ gẫm của cậu.  Vào ngày mồng 05 tháng 07 năm 1902, lúc đó Alexandro đã 16 tuổi, anh ta tìm mọi cách để cưỡng hiếp cô bé 11 tuổi này.  Khi anh ta xông vào cô bé, thì cô đã cố hô lên: “Không được, không được!  Làm vậy là có tội đấy anh Alexandro ạ, anh sẽ phải sa hỏa ngục đấy!”  Khi bị Maria nhất quyết từ chối và cự tuyệt, Alexandro cảm thấy nhục nhã và vô cùng tức giận, hắn đã vớ lấy chiếc đục gỗ và đâm cô bé tới 14 nhát.  Tuy nhiên, dù bị đâm tới 14 nhát, nhưng Maria vẫn còn thoi thóp.  Người ta đã mang cô vào bệnh việc Nettuno.  Tại đây, các bác sĩ đã tiến hành giải phẫu khẩn cấp cho cô, nhưng cuộc giải phẫu đã không thành công.  Cô đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày hôm sau, tức ngày mồng 06 tháng 07 năm 1902 tại bệnh viện nêu trên lúc sắp bước sang tuổi 12.  Khi Maria hấp hối, cô đã tha thứ cho kẻ giết mình với những lời sau đây: “Tôi tha thứ cho anh ta; tôi muốn có anh ta bên cạnh tôi trên Thiên Đàng.”

Về phần mình, Alexandro đã bị kết án lao động khổ sai 30 năm.  Theo lời kể của nhiều người, anh ta đã tỏ ra rất hối hận về hành vi của mình.  Anh ta đã trải qua nhiều thị kiến, và trong các cuộc thị kiến đó, Maria đã hiện ra với anh ta và còn mang hoa đến tặng cho anh ta nữa.  Vào dịp Lễ Giáng Sinh năm 1928, sau 27 năm lao động khổ sai, Alexandro đã được trả tự do trước thời hạn vì anh ta đã cải tạo rất tốt.  Ngay khi được phóng thích, anh ta đã tức tốc đến gặp bà Assunta Carlini – thân mẫu của Maria Goretti – để xin bà tha thứ cho hành vi của mình.  Và cũng ngay sau đó, anh ta đã gia nhập Dòng Thánh Phan-xi-cô, và quyết định sống ở bậc Hiến Sinh của Dòng này.  Thầy Alexandro qua đời trong Dòng Thánh Phan-xi-cô tại Tu Viện Macerata vào ngày mồng 06 tháng 05 năm 1970 lúc xấp xỉ 84 tuổi.

2.Thánh Maria Goretti Trinh Nữ Tử Đạo:

Còn về phía Maria Goretti, sau khi qua đời, cô đã được an táng trong nhà thờ Nettuno nằm ở phía Nam thành phố Rô-ma.  Sau khi cô được phong Thánh, nhà thờ này đã được đổi tên theo tên của cô, đó là Thánh Đường kính Thánh Maria Goretti.  Cả Đức Phao-lô VI lẫn Đức Gioan Phao-lô II đều đã đến viếng Thánh Đường này.  Trong nghệ thuật hội họa, cô được trình bày với hình ảnh một cô bé trong tay cầm bông huệ và cành lá cọ – biểu tượng của sự Đồng Trinh Tử Đạo.

Chẳng bao lâu sau khi Maria Goretti qua đời, nhiều người đơn thành, đặc biệt là các nông dân, đã bắt đầu tôn kính cô như một vị Thánh.  Lòng sùng kính dành cho cô càng ngày càng được nhân lên, và nở rộ dưới thời Phát-xít.  Trong thời chiến tranh, cả trong cuộc thế chiến thứ nhất lẫn thế chiến thứ hai, một vai trò mới của phụ nữ trong gia đình và xã hội đã trở nên nổi bật, và vì thế, mẫu gương của Maria Goretti đã được Giáo hội sử dụng để tán dương hình ảnh của phụ nữ trong vai trò truyền thống của mình với tư cách là những người mẹ và những người nội trợ tận tâm.  Alexandro – kẻ sát hại Maria Goretti – đã làm chứng về cô với những lời như sau: “Tôi không biết bất cứ điều gì khác về cô ấy ngoài việc biết rằng, cô là một cô bé tốt lành, ngoan ngoãn, vâng lời cha mẹ, kính sợ Thiên Chúa, nghiêm trang, không nhẹ dạ nông nổi và không thất thường như những cô bé khác; trên đường đi, cô ấy luôn luôn khiêm tốn, nhã nhặn, và chỉ nghĩ về chuyện làm sao để hoàn thành các nhiệm vụ được giao.”

Vào ngày 27 tháng 04 năm 1947, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong Maria Goretti, “Tớ Nữ Đáng Kính của Thiên Chúa”, lên bậc Chân Phước.  Trong Thánh Lễ tôn phong Chân Phước cho Maria Goretti, Đức Piô XII đã giới thiệu cô như là một ý tưởng ngời sáng và là một mẫu gương của sự giữ mình.

Ngay sau khi Maria Goretti được tôn phong lên bậc Chân Phước, cô đã thực hiện hai phép lạ chữa lành.  Phép lạ thứ nhất được cô thực hiện cho Anna Grossi Musumarra vào ngày mồng 04 tháng 05 năm 1947, và phép lạ thứ hai đã được cô thực hiện cho công nhân Giuseppe Cupe vào ngày mồng 08 tháng 05 cùng năm.  Anna Grossi đã phải chịu đựng cơn bệnh sưng màng phổi rất nặng.  Một thành viên trong gia đình của cô đã lên đường đến nơi bảo quản các Thánh Tích của Chân Phước Maria Goretti.  Người này đã ngắt một ít lá trên những đóa hoa được đặt trên rương đựng các Thánh Tích của vị Chân Phước, và mang những chiếc lá đó về cho bệnh nhân.  Bệnh nhân đã tiếp nhận những chiếc lá đó, và chỉ 24 tiếng đồng hồ sau, cô đã được hoàn toàn khỏi bệnh.  Còn anh Giuseppe Cupi thì lại bị một tai nạn: Một tảng đá khá lớn đã rơi xuống chân anh khi anh đang làm việc, và vì thế, tất cả bàn chân của anh đều bị dập nát.  Anh đã phó thác sự việc cho Chân Phước Maria Goretti.  Ngay sau đó, sự đau đớn đã biến mất, và anh đã có thể quay trở lại nơi làm việc ngay trong ngày hôm đó.

Vào ngày 24 tháng 06 năm 1950, sau hơn ba năm được tôn phong lên bậc Chân Phước, Maria Goretti đã được Đức Thánh Cha Piô XII tôn phong lên bậc Hiển Thánh.  Thánh Lễ Tôn Phong Hiển Thánh này đã diễn ra tại quảng trường Thánh Phê-rô với sự tham dự của hàng triệu tín hữu.  Trong số đó có rất nhiều những người hành hương từ xa đến, vì năm 1950 là Năm Thánh.  Thân mẫu của vị Thánh, bà Assunta Carlini, lúc đó đã 85 tuổi, cũng đã hiện diện trong buổi Lễ Tôn Phong Hiển Thánh cho con mình, giống như bà đã tham dự Lễ tôn Phong Chân Phước của con bà.  Thánh Lễ này có một điều đặc biệt, đó là sự hiện diện của Thầy Alexandro Serinelli – người đã sát hại Maria Goretti 48 năm trước đó, nhưng giờ đây đã là Tu Sĩ của Dòng Thánh Phan-xi-cô.

Vào năm 1951, Thánh Nữ Maria Goretti đã được Giáo hội đặt làm Nữ Bổn Mạng của các Hội Đoàn Đức Maria.

Giáo hội mừng kính Thánh nữ Maria Goretti vào ngày mồng 06 tháng 07, tức ngày qua đời của Thánh Nữ, với bậc Lễ Nhớ không buộc.

Phần lớn các Thánh Tích của Thánh Maria Goretti hiện đang được bảo quản và tôn kính tại Corinaldo, Italia, nơi chôn nhau cắt rốn của Ngài.  Phần còn lại, gồm hộp sọ và xương tay chân của Ngài, hiện đang được bảo quản và tôn kính tại Nettuno, Italia, nơi Thánh Nữ trút hơi thở cuối cùng.

Lm Đa-minh Thiệu O. Cist

From: Langthangchieutim

Covid-19 : Bệnh viện tại nhiều thành phố Mỹ có nguy cơ bị quá tải

RFI Tiếng Việt

 Tình hình dịch bệnh Covid-19 tại Mỹ tiếp tục căng thẳng: Số ca nhiễm mới không ngừng tăng, nhiều nghị sĩ lên tiếng báo động nguy cơ quá tải tại các bệnh viện.

 
About this website

Covid-19 : Bệnh viện tại nhiều thành phố Mỹ có nguy cơ bị quá tải

Tình hình dịch bệnh Covid-19 tại Mỹ tiếp tục căng thẳng: Số ca nhiễm mới không ngừng tăng, nhiều nghị sĩ lên tiếng báo động nguy cơ quá tải tại các bệnh viện.

NỔ LỚN TẠI CƠ SỞ HẠT NHÂN IRAN

Image may contain: cloud, sky and outdoor
Image may contain: fire
Image may contain: night, fire and outdoor

Nguyễn Văn ĐềFollow

NỔ LỚN TẠI CƠ SỞ HẠT NHÂN IRAN

Theo Thời báo Israel đưa tin vào ngày 2 tháng 7, giờ địa phương, một vụ nổ dữ dội xảy ra tại căn cứ hạt nhân Natanz gần Tehran, Iran. Nhiều nhà khoa học đã chết và nhiều thiết bị đã bị hủy hoại.

Các cơ quan tình báo quân sự của Hoa Kỳ và Israel cho biết sau khi hiểu rõ tình hình, họ phát hiện ra rằng vụ nổ là do một số quả bom được đặt bên trong uranium đã làm giàu trước và phá hủy tất cả các máy ly tâm vừa lắp đặt ở Iran khi quả bom phát nổ. Đồng thời, một số lượng lớn các nhà khoa học cũng tử vong, Và như vậy, chương trình hạt nhân của Iran sẽ bị gác lại hoàn toàn.

Không biết vụ nổ này có gây ra ô nhiễm hạt nhân hay không cũng là mối quan tâm chính của dư luận. Rốt cuộc, tác hại do rò rỉ hạt nhân là rõ ràng đối với tất cả mọi người, và nó có ảnh hưởng rất lớn.

Các thông tin vẫn đang được các bên thận trọng xem xét.

Theo Tin tức Apollo

NGHỊ LỰC PHI THƯỜNG…

Kimtrong Lam

Ông ngoại đặt tên là Thường với hy vọng cháu gái bình thường, không bị tâm thần giống mẹ. Mười tám năm sau, cô bé trở thành niềm tự hào của cả gia đình.

Xếp tập vở lên chiếc giá sách bong tróc từng mảng gỗ đặt nơi góc tường, Thường rảo bước về phía cổng. “Mẹ ơi”, tiếng gọi cất lên giữa đêm tối. Không nghe thấy tiếng đáp lại, cô gái đi vòng qua nhà người hàng xóm rồi đến trước cổng đình, chạy ngược lên cánh đồng đầu làng, trên bờ đê mẹ cô đang ngồi thơ thẩn. Nhiều năm qua, việc tìm mẹ mỗi ngày không còn xa lạ với cô.

Nguyễn Thị Thường chào đời năm 2002 trong một gia đình chỉ có ba người đàn bà. Em không biết bố mình là ai. Tiếng là nhà có ba người nhưng mẹ em, bà Nguyễn Thị Hồng Minh (sinh năm 1973) và một người chị nữa người bị tâm thần, chỉ có chị cả Nguyễn Khánh Linh là tỉnh táo, bình thường. Đứa bé ấy lớn lên bằng chính sự yêu thương đùm bọc của người bác trong ngôi nhà rộng 20 m2, không có cả phòng vệ sinh.

Mẹ Thường, thi thoảng vẫn tỉnh táo vẫn giúp chị cả năm nay 56 tuổi, cắt cỏ, gặt lúa. Khi trái gió trở trời, bà lang thang đầu đường xó chợ, chẳng nhớ nổi đường về nhà.

Khi mang thai Thường, nhà nghèo chẳng có gì đáng giá ngoài chiếc giường gỗ cũ tróc sơn. Hàng xóm tặc lưỡi bảo: “Thân nó còn chẳng nuôi nổi nữa là thêm đứa trẻ”, bà Linh đưa em gái lên trạm xá với ý định bỏ cái thai. Tại đây, gặp người họ hàng khuyên: “Nhà nhiều người tâm thần, cố giữ đứa trẻ sau này còn đỡ đần lúc tuổi già”. Bà Linh lại vuốt nước mắt, quay xe đưa em về.

Giữa trưa nắng tháng 4/2002, Thường chào đời, tên được ông ngoại đặt với mong muốn lớn lên cháu bình thường, không thần kinh giống mẹ. Mẹ đẻ suốt ngày lang thang, không biết chăm con, mọi việc ăn ngủ, tắm giặt của đứa trẻ đều do bà Linh đảm nhận. Lớn lên với ba người phụ nữ, Thường gọi tất cả là mẹ.

Để nuôi cháu và hai đứa em thần kinh, bà Linh ngày chỉ dám ngủ 3-4 tiếng. Ngoài 7 sào ruộng, bà đi cuốc mướn thuê, trồng thêm rau cỏ. Mỗi lần thiếu tiền mua sữa, bà lại vay mượn người quen, quyết không để cháu thiếu đói.

Nhiều cái Tết, gia đình không có gạo nếp và thịt để gói bánh chưng. Thương cháu, bà Linh đi gói bánh thuê, lấy công là cặp bánh về cho cả nhà ăn Tết. Từ năm 7 tuổi, sau 23 tháng chạp, Thường luôn bận rộn bởi ngoài việc đồng áng, em còn phải lo cơm nước, giặt giũ cho hai mẹ thay bác.

“Tết đến cả nhà quây quần ăn bánh chưng bác mang về. Các mẹ cùng cười, cùng chia nhau chiếc bánh, với em đó là khoảnh khắc hạnh phúc nhất”, Thường hồi tưởng.

Hàng ngày, bà Linh dậy từ 1-2 giờ sáng ra đồng hái rau cho kịp phiên chợ sớm. Nhiều lúc em gái đi lang thang, không dám để cháu ở nhà một mình giữa đêm khuya, bà cho Thường đi cùng. Bác dưới ruộng, cháu trên bờ ríu rít trò chuyện. Chuyện chán, Thường ngủ thiếp trên bờ đê đến khi được đánh thức dậy với gánh rau to quằn mình trên vai bác.

***Năm Thường 4 tuổi, thấy những tờ giấy mời họp của bác để trên bàn, cô bé lôi ra tô theo chữ trong giấy.

Thấy cháu thích viết, bà Linh thử dạy chữ. Thường học nhanh, sau vài buổi đã thuộc, đọc vanh vách. “Mừng quá mày không giống mẹ, cháu ạ”, bà reo lên vui sướng. Từ ngày đó, những cánh cửa gỗ sần, cũ kỹ quanh nhà được Thường tận dụng làm bảng học cho riêng mình. Viết vẽ cô bé đều thể hiện lên đó.
Thấy cháu ham học, mỗi ngày đi bán rau, bà Linh đều chi một khoản mua sách. Nghỉ hè theo chân bác lên chợ, cô bé chỉ thích đến cửa hàng sách to nhất huyện đọc ké. Biết hoàn cảnh gia đình, chủ hàng ít khi đuổi. Dù nhỏ tuổi nhưng Thường không đọc truyện tranh, cổ tích như các bạn mà chọn những cuốn trong bộ sách hạt giống tâm hồn hay cách sống đẹp.
Năm lớp 6, từ một khúc mắc với người bạn, cô bé bị mắng “Đồ không có bố”. Thường bắt đầu cảm nhận sự khác biệt giữa mình và các bạn. Sau 2 đêm khóc ướt gối, sang ngày thứ 3, ngủ dậy thấy bác vẫn còng lưng bó rau, mồ hôi nhỏ xuống thành dòng, cô bé đứng thẳng dậy, vẽ một mặt cười và dòng chữ “Hãy cười lên” trên cánh tủ – nơi có nhiều ánh sáng nhất trong nhà.

Từ lúc đó, cô bé không bao giờ khóc khi ai đó nói những câu tương tự.

***Năm lớp 7, Thường được giới thiệu tới Khát Vọng – tổ chức chuyên giúp đỡ trẻ em gặp hoàn cảnh khó khăn. Khi là thành viên, em được giúp đỡ về vật chất và tham gia hội trại dành cho trẻ cùng hoàn cảnh.

Một lần biết đến câu chuyện một bạn mồ côi cha mẹ, phải đi bán vé số, Thường tự nhủ: “Mình may mắn hơn bạn vì vẫn có người yêu thương”. Từ ngày đó, từ một cô bé ít chia sẻ cảm xúc, Thường tham gia nhiều hoạt động trên trường như hội diễn văn nghệ, câu lạc bộ sách, cuộc thi hùng biện, thường xuyên viết và đăng các bài cảm nhận sách lên trang cá nhân của mình.

Bốn năm cấp 2, Thường là học sinh giỏi, năm nào cũng đạt giải Olympic Toán của huyện Thạch Thất. Năm lớp 9, sau khi đạt giải Nhì môn Văn cấp thành phố, cô bé được xét tặng học sinh ưu tú của Thủ đô.

Không có tiền đi học thêm, Thường tự học, tra cứu từ sách vở và Internet. Năm lớp 10, quỹ Khát Vọng tặng cho chiếc máy tính cũ. Nhà không có wifi, Thường kê bàn ra cổng ngồi học, bắt wifi nhờ hàng xóm. Dù ban đêm muỗi đốt, ban ngày nắng thiêu đốt, nhưng hiếm khi cô bé nghỉ học.

Không chỉ đảm bảo điểm số và thành tích tại trường, Thường cũng tự lên mạng học tiếng Anh, tập thuyết trình và luyện phát âm. “Ở cô bé này luôn có sự thôi thúc vươn lên mạnh mẽ tiềm ẩn dưới vẻ dễ thương, nhí nhảnh, hòa ái của một cô bé sinh ra từ nông thôn”, cô Vũ Thị Dung – người sáng lập quỹ Khát Vọng nhận xét.

Lên lớp 11, Thường tham gia cuộc tranh biện tại trường với chủ đề “Phụ nữ có nên phá thai không?”.

“Em nghĩ đến bản thân mình, nếu bác không cho cơ hội sống thì em đã không có mặt ở đây ngày hôm nay”, Thường nêu lý do tham gia. Kết quả, cô bé giành giải nhì.

Một năm trước, Thường biết tới Đại học Fulbright Việt Nam. Cô gái 18 tuổi đã quay lại quá trình tự gói bánh chưng và kể lại câu chuyện cuộc đời gắn liền với chiếc bánh bác làm bằng tiếng Anh, gửi đến hội đồng tuyển sinh. “Chiếc bánh này có ý nghĩa rất lớn vì nó gói ghém tình yêu và sự hy sinh của bác – người mẹ thứ hai của tôi – trong đó”, Thường diễn giải.

Đầu tháng 6/2020, biết tin cháu gái nhận được hỗ trợ tài chính trị giá 2,2 tỷ đồng trong 4 năm đại học, bà Linh chạy khắp xóm khoe: “Cái Thường được học trường Tây”, trong khi mẹ đẻ chỉ hềnh hệch cười khi biết con gái được đi học miễn phí.

Dưới cái nắng oi ả tháng 7, Thường mở chiếc hộp đựng giấy báo đỗ đại học lấy chiếc huy hiệu của nhà trường lau đi lau lại sạch bóng. Trong bốn năm tới, cô gái 18 tuổi quyết định chọn ngành tâm lý để trở thành nhà xã hội học, tốt nghiệp sẽ trở về quỹ Khát Vọng giúp đỡ những trẻ bất hạnh khác.

“Giờ em có thể tự tin đứng trước bác và mọi người nói rằng, quyết định giữ lại em 18 năm trước là một việc làm đúng đắn”, Thường nói, khóe mắt ánh lên niềm tự hào.

Theo Vnexpress

Image may contain: 3 people, text

Không ngày nào không có người vào tù…

Từ Thức shared a post.
Không ngày nào không có người vào tù…
Image may contain: people sitting and indoor
Image may contain: 3 people, people standing
Võ Hồng Ly is with Võ Hồng Ly.

06.07.2020

Ngày hôm nay, 06/07/2020, TAND tỉnh Lâm Đồng đã đưa ra xét xử sơ thẩm 3 cô chú :

1- Đặng Toàn Trung (68 tuổi, quê Bạc Liêu) ;

2- Trần Thị Ánh Hoa (57 tuổi, quê Đà Nẵng) ;

3- Đặng Quang Khánh (56 tuổi, quê Sài Gòn)

với cáo buộc “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.

Theo cáo trạng của VKSND tỉnh Lâm Đồng, cả ba cô chú này đều được cho là thường xuyên in tờ rơi, livestream trên các mạng xã hội với nội dung xuyên tạc lịch sử, nói xấu lãnh tụ, phủ nhận vai trò của Đảng và nhà nước, nói xấu lãnh tụ…

HĐXX đã tuyên phạt chú Đặng Toàn Trung 7 năm tù giam, cô Trần Thị Ánh Hoa và chú Đặng Quang Khánh mỗi người 6 năm tù giam.
_____
Nguồn : https://nld.com.vn/…/tuyen-truyen-nham-lat-do-chinh-quyen-3…

MÔ PHỎNG VỠ ĐẬP TAM HIỆP CHO KẾT QUẢ CHẤN ĐỘNG: “CHỈ CÓ MỘT NƠI Ở HỒ BẮC THOÁT NẠN”

Image may contain: cloud, sky, outdoor, water, nature and text

Nguyễn Văn Vô added a new photo to the album: THIÊN SÁT BẮC MAN.

THIÊN SÁT BẮC MAN

BÀI 015: MÔ PHỎNG VỠ ĐẬP TAM HIỆP CHO KẾT QUẢ CHẤN ĐỘNG: “CHỈ CÓ MỘT NƠI Ở HỒ BẮC THOÁT NẠN”

Đó là một kết quả đáng kinh sợ đối với toàn bộ dân sống quanh sông Dương Tử, muốn chạy phải vượt sang phía Bắc sông Hoàng Hà mới có hy vọng. Từ đầu tháng 6, Tàu đã liên tục hứng chịu những cơn mưa xối xả, nhiều khu vực của quốc gia này đang ngập trong biển nước. Câu hỏi về việc đập Tam Hiệp có bị vỡ hay không là một chủ đề đang thu hút rất nhiều sự quan tâm của không chỉ người dân Tàu mà cả người dân toàn thế giới.

Việc xả lũ 24/24 giờ để giải cứu con đập đã làm cho tình trạng ngập lụt ở các vùng Hồ Nam, Hồ Bắc, An Huy và các nơi khác trở nên trầm trọng hơn. Một chuyên gia gần đây đã tiết lộ với truyền thông tiếng Hoa ở hải ngoại rằng các chuyên gia thủy lợi ở đại lục đã tiến hành các thử nghiệm mô phỏng về vụ vỡ đập Tam Hiệp, và kết quả thật đáng kinh sợ, chỉ có một nơi ở Hồ Bắc có thể được sử dụng làm địa điểm ẩn nấp. Epochtimes tiếng Tàu dẫn lời một nguồn tin từ đại lục cho biết, chuyên gia thủy lợi thế hệ cũ đã từng tiến hành các thử nghiệm mô phỏng về tình trạng vỡ đập Tam Hiệp. Nếu đập Tam Hiệp bị vỡ, thành phố thượng nguồn sẽ là nơi đầu tiên bị ngập lụt, chứ không phải là Nghi Xương hay các thành phố ở hạ du con đập và Tứ Xuyên sẽ trở thành một đại dương rộng lớn.

Kết quả mô phỏng cho thấy, sau khi đập Tam Hiệp bị vỡ, lũ không phải lập tức ập xuống mà một khối lượng bùn đất khổng lồ sẽ trút xuống, tạm thời chặn dòng chảy, dẫn đến mực nước thượng nguồn dâng cao và lưu vực vùng trũng Tứ Xuyên sẽ phải đứng mũi chịu sào. Sau khi lũ lên đến đỉnh điểm, nó chảy xuôi dòng hướng tới hạ du, sẽ có một khoảng thời gian trì hoãn ở giữa nhưng không kéo dài quá lâu.

Các chuyên gia còn nhắc nhở khi nước lũ gia tăng sức mạnh rồi mới ập xuống thì sức tàn phá còn mạnh hơn so với khi chúng bị cuốn trôi ngay từ đầu, và không phải là Nghi Xương chịu thiệt hại nặng nề nhất, mà là các thành phố trung và hạ lưu sông Trường Giang. Các chuyên gia cũng nhắc nhở rằng nếu như có nước lũ lớn trong tương lai, phía nam sẽ là một biển hồ, nên hướng về phía bắc mà chạy, nhưng nhất định phải vượt qua sông Hoàng Hà mới được.
Các chuyên gia nói rằng chỉ có một địa phương có thể thoát nạn là Thần Nông Giá, vì khu vực này có độ cao đủ để không bị ảnh hưởng bởi biển nước lớn hình thành lúc đó. Secretchina dẫn lời nguồn tin khác cho biết, chính từ kết quả thí nghiệm mô phỏng này mà quan chức thủy lợi của ĐCS Tàu đã xây dựng một khu nghỉ dưỡng và trung tâm y tế ở Thần Nông Giá. Trên thực tế công trình này có thể chính là để làm nơi ẩn náu trong trường hợp lũ lụt.

Chuyên gia tiết lộ với Epochtimes cũng chỉ ra rằng thế giới bên ngoài đã phân tích xem đập Tam Hiệp có bị vỡ hay không với nhiều dữ liệu khác nhau. Tuy nhiên, nhiều dữ liệu do ĐCS Tàu đưa ra là sai và kết luận được rút ra từ phân tích dữ liệu giả có thể không quá chính xác. Đập Tam Hiệp đã bị cáo buộc về những nguy hiểm tiềm ẩn kể từ khi xây dựng. Trong những năm gần đây, tin tức về sự biến dạng và rò rỉ của đập Tam Hiệp đã gây ra các cuộc thảo luận rộng rãi trong và ngoài Tàu.

Một số chuyên gia thủy lợi đã cảnh báo trước đó rằng cuộc khủng hoảng lớn nhất ở đập Tam Hiệp sẽ là một trận động đất và lở đất ở thượng nguồn. Trên thực tế, kể từ tháng 6, Tứ Xuyên và Trùng Khánh ở thượng nguồn của Tam Hiệp đều đã trải qua vài lần lở đất, động đất. Trong số đó, vào ngày 1-7, một trận lở đất đã xảy ra ở Kỳ Vạn, Trùng Khánh, gây ra lở đất, làm tắc nghẽn đường cao tốc S010 Trùng Khánh – Vạn Thịnh đoạn đi qua Kỳ Vạn. Dòng chảy của đất đá bị lở có sức mạnh ghê gớm, ở chỗ nó đi qua, tất cả mọi thứ đều bị cuốn phăng.

Vào lúc 4h07 sáng ngày 2-7, Trạm địa chấn Tàu xác định rằng một trận động đất mạnh 3,2 độ xảy ra ở huyện Ruoergai, A Bá, tỉnh Tứ Xuyên (tọa độ 34,10 độ vĩ bắc, 102,68 độ kinh đông), với tâm chấn nằm ở độ sâu 8 km. Một trận động đất mạnh 3,2 độ richter chỉ có thể được coi là một trận động đất nhẹ, nhưng tỉnh A Bá nằm ở thượng nguồn của đập Tam Hiệp, và cảnh báo mưa lớn đã được đưa ra trong hơn một tháng. Thế giới bên ngoài lo lắng rằng trận động đất có thể gây ra những nguy hiểm địa chất nghiêm trọng và ảnh hưởng đến sự an toàn của đập Tam Hiệp.

Đồng thời, lũ lụt trong lưu vực sông Dương Tử đã tăng cường.

Vào ngày 2-7, Ủy ban Tài nguyên Nước sông Dương Tử của Tàu đã ban hành một thông báo khẩn cấp về “Lũ sông Dương Tử số 1 năm 2020”. Đập Tam Hiệp từ lâu đã bị ngập để tự bảo quản. Các nhà chức trách tuyên bố rằng trận lụt đã được xả lần đầu tiên vào ngày 29-6, nhưng phương tiện truyền thông của Hồng Kông, Đông Phương Báo đạo (Oriental Daily News), xác nhận rằng trận lụt thực sự đã được xả ra vài ngày trước đó, nhưng được nói dối là để “sản xuất điện”. Theo thông tin mới nhất của tờ Nhật báo Nhân dân của ĐCS Tàu vào ngày 3-7, đập Tam Hiệp, ban đầu chỉ mở hai cửa để xả lũ, giờ đã mở cửa thứ ba để xả lũ vào ngày 2-7 và lưu lượng xả đạt 35.500 mét khối mỗi giây. Điều này cũng xác nhận sự gia tăng áp lực của đập Tam Hiệp.

Để đối phó với thảm họa vỡ đập có thể xảy ra, Hoàng Tiểu Khôn, tiến sĩ của Học viện nghiên cứu xây dựng Tàu, đã đưa ra cảnh báo trong vòng tròn bạn bè trên WeChat, rằng những ai từ Nghi Xương trở xuống hạ lưu Dương Tử hãy trốn chạy. Một số cư dân mạng thậm chí đã tạo ra “Bản đồ tên các địa điểm bị ngập lụt ở trung và hạ lưu sông Dương Tử” để nhắc nhở nhau hãy tự cứu mình.
Vào cuối tháng trước, một chuyên gia về động đất của Tàu lấy tên dùng trên mạng xã hội là “Phụng Thiên lão Vương”, cũng dự đoán trên các phương tiện truyền thông rằng lũ lụt ở Tàu có thể trở thành một thảm họa. Ông thuyết phục cư dân của lưu vực sông Dương Tử phải lánh nạn. Vào ngày 30-6, một số cư dân mạng cũng tiết lộ với thế giới bên ngoài thông qua Twitter rằng thượng nguồn của sông Dương Tử, khu chung cư tiểu khu vịnh San Hô, Đại Kiều, Trùng Khánh đã nhận được thông báo từ Trung tâm bất động sản Hồng Phàm vào ngày 25-6, yêu các hộ dân từ tầng 4 trở xuống chuẩn bị đón lũ. Trong một cuộc phỏng vấn với truyền thông nước ngoài, nhân viên khu chung cư nói rằng họ đã đưa ra cảnh báo sớm “để trong trường hợp nước dâng lên, mọi người đã đóng gói các vật có giá trị trước, nói đi liền đi được luôn”.

(Phụng Minh – ĐKN 04/7/2020)

Trí tuệ cổ nhân: Căn nguyên của hết thảy hạnh phúc và phúc báo

Trí tuệ cổ nhân: Căn nguyên của hết thảy hạnh phúc và phúc báo

  • An Hòa
  • Thứ Hai, 06/07/2020 • 5.3k Lượt Xem
  • Con người thế gian, ai ai cũng không ngừng theo đuổi hạnh phúc, mong muốn có được phúc báo trong đời người hữu hạn. Nhưng điều gì mới là hạnh phúc chân chính đây?

(Ảnh minh họa: Album “Tuổi thơ quê hương” của Vũ Anh Dũng)

Có rất nhiều người cho rằng tiền tài có thể mang lại hạnh phúc, vì thế họ một mực truy cầu tiền tài. Nhưng tục ngữ có câu: “Tâm bỉ thiên cao, mệnh bỉ chỉ bạc”, tâm cao hơn trời thì mệnh mỏng hơn tờ giấy. Một số người tuy rằng lòng tham rất mạnh, trong cuộc sống đem hết những thủ đoạn “hại người lợi mình” để chiếm được lợi ích, nhưng bởi vì trong mệnh không có đức nên từ đầu tới cuối đều không có “duyên” với tiền tài. Cả đời người ấy sống trong nghèo khó, túng quẫn và thất vọng.

Cũng có rất nhiều người thông qua “đầu cơ trục lợi”, lừa gạt, lấp liếm, và những thủ đoạn bất chính khác mà chiếm được tiền tài nhưng lại không có cách nào thoát khỏi sự tra tấn của thiên lý “sinh lão bệnh tử” và “nhân quả báo ứng”. Tiền tài sau khi mang đến cho con người một chút khoái hoạt ngắn ngủi thì lại kéo theo sự phiền não và thị phi vô tận. Người có nhiều tiền tài không đồng nghĩa với có nhiều hạnh phúc hay khoái hoạt.

Khi truy cầu và đạt được vật chất, điều mà nội tâm người ta phát ra không phải là niềm vui, mà là sự thỏa mãn nhất thời, là sự thỏa mãn của dục vọng, ham muốn. Nhưng chính dục vọng và ham muốn sau khi được thỏa mãn rồi lại thúc đẩy con người ta khao khát nhiều hơn. Do vậy cái tâm thỏa mãn này không phải là khoái hoạt như nhiều người nhầm tưởng.

Thực ra, lúc trong tâm một người phát ra niềm vui, niềm hạnh phúc, thông thường cũng không phải là lúc đạt được tiền tài vật chất. Niềm vui, niềm hạnh phúc thực sự thường đến khi tinh thần của con người siêu thoát khỏi hết thảy sự trói buộc của vật chất và danh lợi tình nơi thế gian. Hạnh phúc sẽ đến khi người ta có thể chế ngự được “thất tình lục dục” của bản thân mình, không còn là “nô dịch” của những điều này nữa. Vào những lúc như thế, cho dù người ta ở vào tình thế “hai bàn tay trắng” về vật chất thì cũng vẫn có được sự khoái hoạt và hạnh phúc lâu dài.

Lão Tử giảng: “Tri túc chi túc, hằng túc hĩ”, nghĩa là người biết đủ thì sẽ vĩnh viễn không thấy thiếu thứ gì. Cho nên cũng nói, tiền tài vật chất không quyết định hạnh phúc của con người, nhưng hạnh phúc của một người lại có quan hệ mật thiết với đạo đức của người ấy.

Sự huy hoàng của nền văn hóa truyền thống mấy ngàn năm của nhân loại đều là có quan hệ với đạo đức của con người. Có thể nói nền văn hóa này hính là nền văn hóa của đạo đức, của tu thân dưỡng tính. Bất luận là Nho gia, Đạo gia hay Phật gia đều được thành lập trên nền tảng đạo đức, dạy con người hành thiện tích đức. Đức là trung tâm của văn hóa truyền thống. Nó cùng với “Đạo” tổ hợp thành một chỉnh thể.

Nho gia giảng: “Đức nhuận thân” (đức hạnh làm cho thân thể nhuần nhã), “Tu thân dĩ đạo, tu đạo dĩ nhân” (tu thân cốt ở đạo, tu đạo cốt ở lòng nhân từ), “Đại đức tất đắc kỳ thọ” (người có đạo đức cao cả thì tự sẽ sống lâu), “Nhân giả thọ” (người nhân từ thì sống thọ). Những câu này đều có hàm ý khuyên răn con người phải tu dưỡng đạo đức cao thượng. “Thọ” là một trong ngũ phúc lớn của con người. “Thọ” bao hàm hai tầng ý nghĩa. Thứ nhất là chỉ việc con người sống lâu, thứ hai là “Tử nhi bất vong vị chi thọ” (chết mà không mất). Nói cách khác, có một số người sống tuy rằng không được lâu nhưng công trạng và tên tuổi của họ thì được người đời lưu truyền mãi mãi.

Đạo gia giảng: “Thiểu tư niệm, khứ tham tâm” (giảm tư tâm, bớt tham tâm), “Họa mạc đại vu bất tri túc, cữu mạc đại vu dục đắc” (không họa nào lớn bằng không biết đủ, không hại nào lớn bằng ham muốn có được). Một người có lòng tham không đáy tất sẽ “được voi đòi tiên”, suy nghĩ vẩn vơ xằng bậy, thậm chí “hại người lợi mình”, cả ngày đều để tâm hồn đi đâu mất. Người như thế sẽ bị gánh nặng tâm lý đè nén mà không thể vui vẻ, hạnh phúc được. Tác phẩm kinh điển của Lão Tử được đặt tên là “Đạo Đức kinh”, cho nên có thể thấy “đạo đức” cũng là tinh hoa của Đạo gia.

Thời xưa có rất nhiều người tu luyện có tín ngưỡng đều không lấy “theo đuổi danh vọng, vật chất” làm mục tiêu cho cuộc đời của mình. Họ lấy tích đức hành thiện, lấy khổ làm vui, thăng hoa nội tâm làm mục đích của cuộc đời, cuối cùng công thành viên mãn, tu thành chính quả.

Trong thế gian, thiện không gì ngoài tu đức, người có đức chắc chắn sẽ được Thượng Thiên chúc phúc. Người có thể bảo trì tâm tính thiện lương sẽ không dễ dàng sinh bệnh, cũng không dễ dàng bị thiên tai nhân họa xâm hại. Bởi vì, đức là căn nguyên, là ngọn nguồn của vạn phúc.

Người có đức hạnh không tốt cho dù có dùng “linh đan dược liệu” cũng không thể kéo dài được thọ mệnh. Từ xưa đến nay, đạo đức là một thể thống nhất, tu đạo chính là tu đức, tu đức chính là tu đạo. Chỉ người có đạo đức mới có thể có được đại trí tuệ, minh tỏ và nắm giữ được những chân lý của vũ trụ. Người không có đạo đức thì vĩnh viễn không có khả năng đạt được trí tuệ, đây là do cảnh giới tư tưởng của họ quyết định.

Mặt khác, đối với con người mà nói, dục vọng là điều đáng sợ nhất. Một người mà có tâm chỉ hướng đến tư dục thì chính là ác nhân, tư dục là ngọn nguồn của vạn ác.

Người có thể đồng hóa với chân lý của vũ trụ thì chính là người đắc đạo. Người có thể thật tâm tu đạo tu đức thì có thể trở thành người đại đức. Còn người có thể thông qua tu luyện mà trở thành người đại đức thì chính là đã đạt được cảnh giới cao nhất của hạnh phúc nhân sinh. “Đức” là ngọn nguồn của phúc, bởi vậy mà người xưa vẫn giảng “tích đức, tích đức”, những lời này thật là có đạo lý!

An Hòa

M.TRITHUCVN.ORG

Trí tuệ cổ nhân: Căn nguyên của hết thảy hạnh phúc và phúc báo

Con người thế gian, ai ai cũng không ngừng theo đuổi hạnh phúc, mong muốn có được phúc báo trong đời người hữu hạn. Nhưng điều gì…

“Về ngang trường Luật”

“Về ngang trường Luật”

Lê Hữu

Đường Duy Tân, chợ Bến Thành

Chân ai thả bộ còn in khóe cười

(thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn…

Câu hát quen thuộc từng được nghe đi nghe lại trên các làn sóng phát thanh ở miền Nam một thời nào. “Nỗi buồn hoa phượng”, tên bài hát của Thanh Sơn, có thể xem là bài “tình ca học trò” tiêu biểu thuở ấy với sân trường phượng vỹ, với tiếng ve gọi hè, với những tà áo nữ sinh nhẹ bay trong gió và những lưu bút ngày xanh chuyền tay nhau của những cô cậu học trò dưới mái trường trung học mến yêu.  

Cho đến một ngày kia, những “tình ca học trò”này bỗng trổ sang một nhánh khác; nói khác hơn, được “nâng cấp” thành những bài “tình ca sinh viên”. Không còn những “phượng thắm sân trường”, những “cổng trường vôi tím”, những “một thời áo trắng”… Sân trường trung học được thay bằng khuôn viên đại học, lớp học được thay bằng giảng đường, hình ảnh cô nữ sinh hay mơ hay mộng được thay bằng cô sinh viên hay buồn thường nhắc nhở những chiến công (“Anh không chết đâu em”, nhạc Trần Thiện Thanh). Lần đầu tiên người ta nghe được những câu hát:

Trả lại em yêu / khung trời đại học… 

Buổi chiều khuôn viên / mây trời xanh ngát… (“Trả lại em yêu”, nhạc Phạm Duy). Hay là:

Kể từ sau đêm đó / sân vui đại học mất tiếng chim ca… (“Trên đỉnh mùa đông”, nhạc Trần Thiện Thanh)

Cũng đúng thôi, xong bậc trung học thì phải lên đại học chứ, và tình yêu cũng… chuyển trường. Có thể xem việc “nâng cấp” những bài tình ca học trò này là một cách “tạo dáng” (như cách nói bây giờ) và là cái mode thời thượng khá phổ biến vào thời ấy.

Trong số những bài “tình ca sinh viên” ấy, không thể không nhắc tới một bài hát trữ tình viết riêng cho những anh chàng, cô nàng sinh viên Luật khoa Sài Gòn, mặc dù trong bài hát không hề có câu, chữ nào nói về ngôi trường “Luật khoa đại học đường” ấy. Bài hát chỉ nhắc đến tên một con đường quen thuộc như là nét phác trong một bức họa đẹp. 

Con đường Duy Tân / cây dài bóng mát 

Chắc chắn đấy không phải là con đường có nhiều “cây dài” và “bóng mát” nhất ở Sài Gòn, thế nhưng con đường mang tên vị vua yêu nước của triều Nguyễn ấy lại như gắn liền với ngôi trường đại học Luật khoa, và trở thành một trong những “con đường tình ta đi” quen thuộc của những câu chuyện tình sinh viên ngày ấy. Duy Tân, con đường của những hàng cây sao già cỗi–như tuổi của ngôi trường cũ kỹ đó–với những trái sao tròn nhỏ gắn đôi cánh mỏng dài và cong vẹt màu nâu đất, khi lìa cành bay là là và xoay tít trong gió như những cánh chuồn chuồn mỏng manh của một thuở nào mộng mơ.

Con đường Duy Tân ấy, ngôi trường Luật ấy, Hồ Con Rùa (hay Công Trường Duy Tân) ấy và Nhà Thờ Đức Bà nữa, kết hợp thành một quần thể thân thuộc đối với những ai từng có thời kỳ gắn bó nơi chốn ấy, từng in những “dấu chân kỷ niệm” trên những lối đi, về ấy. 

“Trả lại em yêu”, bài hát của Phạm Duy được cất lên lần đầu với giọng lảnh lót của Thái Thanh đã hớp hồn tuổi trẻ ngày ấy, hóa thành bài tình ca một thuở của sinh viên trường Luật và những ai vẫn có ít nhiều kỷ niệm với ngôi trường này. Bài hát kể về tình yêu trong một đất nước chiến tranh, khi mà đời sống con người luôn bị đè nặng, phủ trùm bởi những âu lo và bất trắc. Những chàng “trai thời loạn” đành “xếp bút nghiên theo việc đao cung”, giã biệt tình đầu để lên đường theo tiếng gọi của non sông, không hẹn một ngày về. 

Anh sẽ ra đi về miền cát nóng 

Nơi có quê hương mịt mù thuốc súng… 

Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó 

Anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…

Trả lại em yêu / mây trời xanh ngát…

Trả lại, trả lại hết những “con đường học trò”, những “mối tình vời vợi”, những mắt sáng môi tươi, những khung trời đầy trăng sao và những Chủ Nhật uyên ương hẹn hò đây đó / Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt… “Trả lại em yêu” trở thành bài hát duet khá tình tứ được nhiều đôi nam nữ ca sĩ trình bày. Có thể nói không ca sĩ nào ngày ấy mà không từng hát “Trả lại em yêu”, không chàng sinh viên nào ngày ấy mà không từng nghêu ngao câu hát Trả lại em yêu khung trời đại học…

Một bài tình ca khác, gọi đúng tên, gọi đích danh ngôi trường đại học nằm trên con đường Duy Tân ấy.

Người từ trăm năm / về ngang trường Luật… 

“Thà như giọt mưa”, cũng nhạc sĩ Phạm Duy, là một bài phổ thơ. Bài hát được phổ biến tràn lan trên các làn sóng đài phát thanh, các băng cassette, trên những đường phố, trong những quán café hay những sân trường.

Thà như giọt mưa / vỡ trên tượng đá 

Thà như giọt mưa / khô trên tượng đá…

Điều khá lý thú, bài thơ được phổ nhạc (“Khúc tình buồn”, thơ Nguyễn Tất Nhiên) không hề nói năng gì đến trường Luật, cũng không hề có câu, chữ nào nói về ngôi trường ấy cả. “Về ngang trường Luật” là những chữ được nhạc sĩ Phạm Duy thêm vào một cách cố ý (hẳn ông phải yêu mến ngôi trường này lắm). Điều này quả là bất ngờ và hẳn nhiều sinh viên Luật khoa cũng cần cám ơn người nhạc sĩ đã đưa hình bóng “ngôi trường thân yêu” của mình vào trong bài hát, làm cho trường Luật được “lên điểm”, như cách nói ngày ấy. Trong bài thơ của Nguyễn Tất Nhiên chỉ có những câu:

“Người từ trăm năm về qua sông rộng

Người từ trăm năm về khơi tình động”

Hoàn toàn không có vụ Người từ trăm năm về ngang trường Luật hay là thi rớt, thi đậu Tú Tài chi chi cả như là lời của bài hát mà người ta vẫn nghe Duy Quang và các ca sĩ khác kể lể nỗi niềm. 

“Thà như giọt mưa” là bài hát kể về câu “chuyện tình thư sinh” (chữ của nhạc sĩ Phạm Duy) của anh chàng thất tình vì ta hỏng Tú Tài, ta hụt tình yêu, với những lời lẽ vu vơ, phất phơ như là “sao cũng được”, “thế nào cũng xong”, “tới đâu thì tới”…, chỉ cốt rong chơi cho qua ngày tháng.

Thà như mưa gió / đến ôm tượng đá 

Có còn hơn không / có còn hơn không

“Có còn hơn không” trở thành một “triết lý sống” dễ dãi, an phận của tuổi trẻ thời ấy. Hoặc những câu hát ngồ ngộ:

Người từ trăm năm / về như dao nhọn

Dao vết ngọt đâm / ta chết trầm ngâm

Chết… trầm ngâm là một kiểu chết mới, nghe giống như là “Trầm tư của một tên tội tử hình” (tên một tựa sách của học giả Hồ Hữu Tường). Điều lý thú khác, trong bài thơ được phổ nhạc không hề thấy có kiểu “chết trầm ngâm” nào như thế cả, mà chỉ có:

“Người từ trăm năm

về như dao nhọn

ngọt ngào vết đâm

Ta chết âm thầm

máu chưa kịp đổ”

Câu thơ được người nhạc sĩ đổi thành câu hát mang vẻ triết lý lừng khừng của một “triết nhân” tự nguyện chết cho tình yêu. Không rõ chàng thi sĩ đã phải gồng mình hứng chịu bao nhiêu là nhát dao “ngọt ngào vết đâm” như thế trong đờimình. Những vết đâm nghiệt ngã khiến cho…

Ta chạy vòng vòng / ta chạy mòn chân…

Ta chạy mù đời / ta chạy tàn hơi

quỵ té trên đường rồi…

Chuyện tình yêu của tuổi trẻ ngày ấy là vậy, là “chạy vòng vòng”, là “chạy mòn chân”, chạy hụt hơi để đuổi bắt chiếc bóng lung linh của tình yêu. 

* * *

“Trả lại em yêu”, “Thà như giọt mưa” và những bài hát nào nữa đã khởi đầu cho một nhánh tình ca xanh tươi–tách ra từ dòng nhạc tình muôn thuở của nhạc Việt–gọi là “tình ca sinh viên, học sinh”. Có không ít những bài tình ca kể chuyện những ngôi trường quen thuộc từng được hát, được nghe, được yêu thích một thời mà ai cũng dễ dàng kể tên ra được. Không ai biết chắc sẽ còn bao nhiêu bài tình ca đáng yêu như thế nữa, nếu không có cơn bão của lịch sử bất thần ập đến vào một ngày tháng Tư năm 1975. Cơn bão tàn khốc đã quét sạch, đã cuốn phăng đi tất cả.

Qua bao mùa tang thương dâu bể, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, thành phố ấy đã thay tên, con đường ấy đã đổi tên, ngôi trường ấy cũng thay hình đổi dạng như hóa thành một người nào khác. Tôi đứng đó, ngỡ ngàng, hụt hẫng trước bao cảnh đổi thay của từng góc phố, mỗi con đường. Ngôi trường nhìn tôi dửng dưng, xa lạ. Tôi đã như chiếc bóng nhạt mờ của “những người đã qua”..

Lịch sử đã sang trang, chiếc bánh xe nặng nề của thời gian đã lăn đi một vòng. Chỉ mấy mươi năm mà tôi tưởng chừng dài đến cả trăm năm. Người từ trăm năm…, lúc này đây tôi hiểu ra câu hát ấy, câu hát về những đời người đã cũ, về những ngày vui mơ hồ còn đọng lại trong tôi như những giấc mơ ngọt ngào không bao giờ tắt hẳn. 

Con đường xưa cũ ấy không còn những “cây dài bóng mát”. Những “bạn bè cũ, mới” của tôi nay đâu?! Câu hát ngày xưa ấy chỉ còn ngân nga trong trí tưởng, nghe như một nỗi ngậm ngùi. 

Người từ trăm năm / về ngang trường Luật… 

Lê Hữu

From: TRUONG LE

Nhật Bản : Số người thiệt mạng, mất tích do mưa lũ tăng nhanh

Image may contain: outdoor
Image may contain: outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: outdoor
Image may contain: house and outdoor
+3
Võ Hồng Ly is with Võ Hồng Ly.

05.07.2020

Nhật Bản : Số người thiệt mạng, mất tích do mưa lũ tăng nhanh

Chỉ trong vòng 1 ngày, tỉnh Kumamoto đã rơi vào tình trạng tan hoang như thế này. Tính đến chiều 5/7/2020, chỉ riêng ở tỉnh Kumamoto số người thiệt mạng đã tăng lên là 18 người chết, 14 người bị mất tích. Bên cạnh đó, có thêm 16 người trong tình trạng nguy kịch và tim ngừng đập.

Số người chết và mất tích do mưa lũ tại các tỉnh phía Tây Nhật Bản vẫn tăng lên từng giờ, trong đó chịu thiệt hại nặng nề nhất vẫn là tỉnh Kumamoto.

Hàng trăm người rơi vào tình trạng cần cứu trợ. Hàng chục nghìn hộ gia đình trong đối tượng phải sơ tán. Thủ tướng Shinzo Abe cho biết khoảng 10.000 binh sĩ sẽ được huy động để hỗ trợ cứu hộ người dân vùng lũ.

Đến chiều 05/07/2020, có khoảng 4.650 ngôi nhà ở tỉnh Kumamoto vẫn không có điện, theo công ty điện lực Kyushu.

Trận mưa lũ năm nay mới chỉ là đợt đầu tiên của mùa mưa lũ. Nhật Bản lo ngại cùng với dịch Virus Vũ Hán, mưa lũ có khả năng khiến thêm hàng trăm người khác thương vong.
____
Ảnh : Asahi Shimbun./.
Nguồn : https://m.baomoi.com/lu-nhat-ban-it-nhat-18-…/c/35589671.epi

Lịch sử huyện Cần Giuộc

Kimtrong Lam
Lịch sử huyện Cần Giuộc

* Thời kỳ trước năm 1859: thời khẩn hoang mở đất, xác lập tổ chức hành chính của Nhà nước triều Nguyễn.

Cần Giuộc thuộc đất Gia Định xưa – một thời còn gọi là “xứ Đồng Nai”, nơi đã hình thành nước Phù Nam vào thế kỷ thứ nhất và bị Chân Lạp chinh phục vào thế kỷ VI. Các kết quả khảo cổ tại di tích lịch sử khảo cổ học Chùa Núi (thuộc xã Đông Thạnh) cho thấy vùng đất Cần Giuộc cách nay 2000 – 3000 năm đã có người sinh sống nhưng do địa thế đất đai chưa ổn định nên đến cuối thế kỷ XVI hầu hết vùng này vẫn còn là rừng rậm hoang vu. Vào đầu thế kỷ XVII, một lớp lưu dân người Việt từ phía Bắc tha phương cầu thực, hoặc chạy nạn thiên tai, nạn Trịnh – Nguyễn phân tranh, nội loạn Lê – Trịnh, vào xứ Đồng Nai, Sài Gòn khai hoang lập ấp; có một bộ phận là những người tù tội bị lưu đày biệt xứ. Về sau còn có thêm những binh lính đào ngũ, rã ngũ trong thời kỳ tranh chấp Nguyễn Ánh – Tây Sơn. Đặc biệt, vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, những quan lại, những người có tiền của, quyền thế mang theo nô tỳ và chiêu mộ dân nghèo vào phương Nam khẩn đất theo chính sách “dinh điền” của nhà Nguyễn.

Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh được cử vào Nam kinh lý, lấy đất Nông Nại (từ bờ biển Vũng Tàu vào Sài gòn đến Sông Vàm Cỏ) đặt làm phủ Gia Định. Phủ Gia Định gồm 2 huyện: Phước Long trên vùng đất Đồng Nai, Tân Bình trên vùng đất Sài Gòn. Vùng cần Giuộc thuộc huyên Tân Bình.

Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, đổi phủ Gia Định thành trấn Gia định; năm 1808 đổi trấn Gia Định làm thành Gia Định.

Năm 1832, Minh Mạng thứ 13, thành Gia Định được phân chia lại từ 5 trấn thành 6 tỉnh (gồm Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) với 14 phủ, 41 huyện, lúc đó Cần Giuộc nằm trong huyện Phước Lộc, thuộc phủ Tân An, tỉnh Phiên An.

Năm 1836, ssau khởi nghĩa của Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng lại đổi tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định và gọi toàn thành Gia Định là Nam Kỳ. Khái niệm Nam Kỳ – Lục tỉnh ra đời từ đấy.
Đến năm 1859 Pháp bắt đầu xâm lược Nam Kỳ. Lúc này tổ chức hành chính đã ổn định toàn cõi Nam Kỳ. Đất Cần Giuộc vẫn nằm trong huyện Phước Lộc, là một trong trong 4 huyện của phủ Tân An, thuộc tỉnh Gia Định.

* Thời kỳ 1859 – 1975: Thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ.

Sau năm 1862, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường), chia tỉnh Gia Định làm 7 hạt; cai trị là chức quan tham biện nên còn gọi hạt là khu tham biện. Hạt nhỏ hơn phủ nhưng lớn hơn huyện. Phước Lộc thành khu tham biện riêng (tiền thân 2 huyện Cần Giuộc, Cần Đước). Tên Cần Giuộc xuất hiện với tư cách là một đơn vị hành chính cấp huyện từ ngày 09/11/1864.

Năm 1877 khu tham biện Phước Lộc giải thể, sáp nhập vào khu tham biện Chợ Lớn.

Năm 1899 bãi bỏ khu tham biện, Chợ Lớn đổi thành tỉnh, Cần Giuộc trở thành một quận của tỉnh Chợ Lớn (Cần Giuộc gồm cả Cần Đước).

Năm 1923 tỉnh Chợ Lớn có 4 đại lý, sau gọi là quận: Cần Giuộc, Cần Đước, Trung Quận, Đức Hòa.

Sau Cách mạng tháng tám 8 – 1945, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập ở Nam bộ 3 khu: 7, 8, 9. Cần Giuộc là một quận nằm trong tỉnh Chợ Lớn thuộc khu 7. Tỉnh Chợ Lớn lúc này gồm 4 quận: Đức Hòa, Trung Quận, Cần Giuộc, Cần Đước. Tháng 7 năm 1957, Liên Tỉnh ủy Tân An – Chợ Lớn hợp nhất hai tỉnh thành tỉnh Long An, tách Mộc Hóa ra thành lập tỉnh Kiến Tường.

Cuối năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm nhập tỉnh Chợ Lớn với tỉnh Tân An, chia thành hai tỉnh Long An, Kiến Tường theo địa giới mới. Hai huyện Cần Giuộc, Cần Đước thuộc tỉnh Long An, được đổi tên là Thanh Đức và Cần Đức. Cuối năm 1963 chế độ Diệm đổ, hai huyện trở lại với tên cũ.

Năm 1967, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tách 8 xã của huyện Cần Đước, nhập thêm một phần huyện Cần Giuộc gồm xã Phước Lý, ấp Thuận Tây (của xã Thuận Thành), ấp Long Đức, ấp Phước Thuận (của xã Phước Lâm), ấp Long giêng (của xã Phước Hậu), thành lập quận Rạch Kiến.

* Thời kỳ thống nhất đất nước:

Sau năm 1975, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hợp nhất hai tỉnh Kiến Tường và Long An thành tỉnh Long An. Huyện Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An, gồm 16 xã, một thị trấn như hiện nay.

Image may contain: sky and outdoor
Image may contain: outdoor
No photo description available.

THÔNG CẢM VÀ THA THỨ

Image may contain: text

Dung Do Huu to Những câu chuyện thú vị

THÔNG CẢM VÀ THA THỨ

(Câu chuyện rất ý nghĩa)

Tại một quán ăn ở San Jose, có một cô hầu bàn phụ trách mang thức ăn lên cho chúng tôi, nhìn cô ấy trẻ trung tựa như một chiếc lá non.

Khi cô ấy bê cá hấp lên, đĩa cá bị nghiêng. Nước sốt cá tanh nồng rơi xuống chiếc cặp của tôi đặt trên ghế. Theo bản năng, tôi muốn nhảy dựng lên, nộ khí xung thiên. Thế nhưng, khi tôi chưa kịp làm gì thì đứa con gái yêu của tôi bỗng đứng dậy, nhanh chóng đi tới bên cạnh cô gái hầu bàn, nở một nụ cười dịu dàng tươi tắn, vỗ vào vai của cô bé và nói: “chuyện nhỏ thôi, không sao đâu”.

Cô hầu bàn vô cùng ngạc nhiên, luống cuống kiểm tra chiếc cặp của tôi, nói với giọng lúng túng: “Tôi… để tôi đi lấy khăn lau … ”.

Không thể ngờ rằng, con gái tôi bỗng nói: “Không sao, mang về nhà rửa là sạch thôi. Chị đi làm việc của chị đi, thật mà, không sao đâu.”

Khẩu khí của con gái tôi thật là nhẹ nhàng, cho dù người làm sai là cô hầu bàn.

Tôi trừng mắt nhìn con gái, cảm thấy bản thân mình như một quả khí cầu, bơm đầy khí trong đó, muốn phát nổ nhưng không nổ được, thật là khốn khổ.

Tối hôm đó, sau khi quay trở về khách sạn, lúc hai mẹ con nằm lên giường, nó mới dốc bầu tâm sự…

Con gái tôi phải đi học ở London 3 năm và để huấn luyện tính tự lập cho nó, chồng tôi quyết định không cho nó về nhà vào kỳ nghỉ, anh ấy muốn nó tự lập kế hoạch để đi du lịch, đồng thời cũng muốn nó thử trải nghiệm tự đi làm ở Anh Quốc.

Con gái tôi hoạt bát nhanh nhẹn. Khi ở nhà, mười đầu ngón tay không phải chạm vào nước. Những công việc từ nhỏ tới lớn cũng không đến lượt nó làm. Vậy mà khi rơi vào cuộc sống lạ lẫm tại Anh Quốc, nó lại phải đi làm bồi bàn để thể nghiệm cuộc sống.

Ngày đầu tiên đi làm, nó đã gặp phải rắc rối. Con gái tôi bị điều đến rửa cốc rượu trong nhà bếp. Ở đó có những chiếc cốc thủy tinh cao chân trong suốt, mỏng như cánh ve, chỉ cần dùng một chút lực nhỏ là có thể khiến chiếc cốc bị vỡ, biến thành một đống vụn thủy tinh.

Con gái tôi thận trọng dè dặt, như bước đi trên băng, không dễ dàng gì mà rửa sạch hết một đống lớn cốc rượu. Vừa mới thả lỏng không chú ý, nó nghiêng người một chút, va vào một chiếc cốc, chiếc cốc liền rơi xuống đất, “xoảng, xoảng” liên tục những âm thanh vang lên. Chiếc cốc hoàn toàn biến thành đống thủy tinh vụn lấp lánh trên mặt đất.

“Mẹ ơi, vào thời khắc đó, con có cảm giác bị rơi xuống địa ngục.” giọng nói của con gái tôi vẫn còn đọng lại sự hồi hộp lo lắng.

“Thế nhưng, mẹ có biết người quản lý ca trực đó phản ứng thế nào không? Cô ấy không hề vội vàng mà bình tĩnh đi tới, kéo con lên và nói: “Em gái, em không sao chứ?”

Sau đó, cô ấy quay đầu lại nói với những người khác: “Các bạn mau đến giúp cô gái này dọn dẹp sạch đống thủy tinh nhé!” Đối với con, ngay đến cả nửa câu trách móc cũng không có!”

Lại một lần nữa, khi con rót rượu, không cẩn thận, làm đổ rượu vang nho lên chiếc váy trắng của khách, khiến cho chiếc váy trở nên loang lổ. Cứ tưởng vị khách đó sẽ nổi trận lôi đình, nhưng không ngờ cô ấy lại an ủi con:

“Không sao đâu, rượu ấy mà, không khó giặt.”. Vừa nói, vừa đứng lên, nhẹ nhàng vỗ vào vai con, rồi từ từ đi vào phòng vệ sinh, không nói toang lên, cũng không làm ầm ĩ, khiến con tròn mắt như con chim yến nhỏ vì quá đỗi ngạc nhiên.

Giọng nói của con gái tôi, mang đầy tình cảm: “Mẹ à, bởi vì người khác có thể tha thứ lỗi lầm của con trước đây, nên mẹ hãy coi những người phạm sai lầm kia như con gái của mẹ, mà tha thứ cho họ nhé!”

Lúc này, không khí trở nên tĩnh lặng như màn đêm. Tròng mắt của tôi ướt đẫm lệ…

Tha thứ cho người khác chính là tha thứ cho chính mình. Như tác giả nổi tiếng Andrew Matthews từng viết:

“Bạn tha thứ cho mọi người vì chính lợi ích thân thiết của bạn. Nó sẽ làm cho bạn hạnh phúc hơn.”
____________________
Các bạn thân mến của tôi, chúng ta cảm động khi được người khác tha thứ. Điều đó khiến chúng ta có thể thay đổi hành vi và lời nói của chính mình. Hãy để những thiện ý này lưu truyền mãi về sau … như thế, mỗi ngày của chúng ta, sẽ là mỗi ngày hạnh phúc và may mắn!

Nguồn sưu tầm
#ncctv