Những ngày tháng cuối đời của ca sĩ Ngọc Lan.

  Những ngày tháng cuối đời của ca sĩ Ngọc Lan.

Tiếng hát trữ tình truyền cảm của Ngọc Lan đã mang đến và để lại trong tâm thức của người thưởng ngoạn những âm điệu ngọt ngào, lôi cuốn. Tính tình cô nhu mì, điềm đạm với dáng dấp mảnh mai và một ánh mắt u buồn. Ngần ấy những đức tính và tài năng của cô đã đủ để giới thưởng ngoạn đánh giá cao và sẵn sàng dành cho Ngọc Lan một cảm tình sâu đậm, và một chỗ đứng cao trong lòng giới mộ điệu âm nhạc.

Nhưng không ngờ, định mệnh khắt khe và đầy nghiệt ngã đã cướp lấy của chúng ta một con người tài hoa nhưng mệnh bạc.

Ngọc Lan có một đời sống gần như bí ẩn, ngoài thời gian trình diễn, cô ít xuất hiện trong đời thường và cũng không có bạn bè nhiều, nên đã có không ít những huyền thoại thêu dệt chung quanh cuộc sống của cô. Bài viết này mong rằng sẽ đánh tan những ngộ nhận vô căn cứ và là điều không công bằng đối với người đã khuất. Xin hãy trả về những sự thật cho cô.

Ngọc Lan tên thật là Lê Thanh Lan, tên thánh là Maria. Cô sinh ngày 28/12/1956 (Bính Thân), lớn lên tại Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, là người con thứ 4 trong gia đình 11 anh chị em, con của ông bà Lê Đức Mậu. Ông đã phục vụ trong ngành Truyền Tin của Sư Đoàn Bộ Binh VNCH. Thuở nhỏ Lê Thanh Lan học trường Trung Học Lý Thường Kiệt tại Quang Trung (Hóc Môn). Cô có người chị ruột là nhà văn nữ Lê Thao Chuyên mất năm 1993. Từ bé cô đã có khiếu ca hát và ngâm thơ, từng hát trong ca đoàn nhà thờ ở Việt Nam, cô cũng từng là học trò của nhạc sĩ Lê Hoàng Long (tác giả bài hát nổi tiếng “Gợi Giấc Mơ Xưa”).

Năm 1980 Ngọc Lan đến Thái Lan tị nạn. Thời gian này cô có hoạt động văn nghệ trong trại cùng với MC Trần Quốc Bảo, sau đó định cư tại Hoa Kỳ, thời gian đầu cư ngụ tại Minnesota. Hai năm sau, Ngọc Lan về California và khởi sự tham gia các hoạt động văn nghệ tại Orange County.

Còn nhớ vào năm 1982, tại Cali chỉ có vài quán cà phê trong cộng đồng Việt Nam như Café Lan, Đỉnh Thiêng, Hoài Hương… Các nơi này Ngọc Lan đều góp mặt với giọng hát của mình và nhanh chóng trở thành một trong những ca sĩ hàng đầu tại hải ngoại. Ngọc Lan hát được nhiều thể loại nhạc, từ nhạc Việt đến nhạc Pháp, Mỹ, tiếng hát của cô như có một ma lực quyến rũ người nghe, như lời thì thầm kể lể của người tình với nhau.

Ngọc Lan đã từng cộng tác với hầu hết các Trung Tâm Băng Nhạc tại hải ngoại, nhưng giữa lúc sự nghiệp ca hát của cô đang lên đến đỉnh cao của danh vọng thì bỗng nhiên cô dần ít xuất hiện sau năm 1993 (sau cái chết của người chị ruột). Có thể nói Ngọc Lan là một hiện tượng mà ở mỗi nơi cô trình diễn, khán giả đã đứng chật sàn nhảy, không phải là khiêu vũ mà là để theo dõi từng lời ca và lối trình diễn của cô.

Đầu năm 1994, Ngọc Lan trở lại sân khấu vẫn với tiếng hát buồn muôn thuở, nhưng ánh mắt thẫn thờ như không còn thiết tha với cuộc đời. Đến tháng 12 năm đó, cô quyết định kết hôn với Mai Đăng Khoa (có tên Kelvin Khoa, một nhạc sĩ xử dụng keyboard trong ban nhạc Bolero, ban nhạc này có xuất hiện trong băng Video Thúy Nga Paris số 15 với 2 M.C. Kim Anh và Trần Quốc Bảo). Sau thời điểm đó Ngọc Lan đã vắng bóng sân khấu. Biết mình mang chứng bệnh hiểm nghèo nên cô không muốn có con, khác với lời đồn là cô có hai con, sự thật Ngọc Lan chưa lần nào sinh nở.

Đám cưới Ngọc Lan – Kevin Khoa

Vào khoảng năm 1999, tại Việt Nam có tin đồn Ngọc Lan đã qua đời vì chứng bệnh Diabetic, nên MC, nhạc sĩ Nam Lộc đã dành một cuộc phỏng vấn cho vợ chồng Ngọc Lan trong chương trình truyền hình của đài Văn Nghệ VN Television vào một sáng thứ Bảỵ

Có nhiều lời đồn về bệnh tình của Ngọc Lan khi người ta thấy mắt cô bị kém thị lực. Nhưng sự thật cô bị bệnh thuộc dạng “The Demyelinating Diseases”, mà trong danh từ y khoa Medical Term là M.S. – có nghĩa là Multiple Sclerosis. Bệnh này phá hỏng hệ thống thần kinh, làm cho các vỏ bao bọc dây thần kinh bị hủy hoại. Đây là một loại bệnh chưa có thuốc chữa, chỉ dùng thuốc Prednisone để kéo dài thời gian. Bệnh này hiếm thấy ở người Á Châu và Phi Châu, và thường có tỉ lệ cao đối với phụ nữ.

Triệu chứng mắc bệnh (First Symtoms of MS in 937 patients):

  • Weakness 48% (Suy yếu)
  • Paresthesias 31% (Giảm cảm giác, tê)
  • Visual Loss 25% (Hỏng thị giác)
  • Incoordination 15% (Không phối hợp, làm tay chân vụng về)
  • Vertigo 6% (Chóng mặt)
  • Sphincter Impairment 6% (Cơ vòng suy yếu không kiểm soát được)

Cho đến nay giới y khoa vẫn chưa biết nguyên nhân của bệnh này, có vẻ như một loại virus lạ xâm nhập vào não bộ và phá hủy lớp vỏ ngoài của dây thần kinh làm mất dần thị giác.

Đầu năm 2001, Ngọc Lan trở bệnh, được đưa vào bệnh viện Vancor, và đột ngột từ trần vào 8 giờ 25 phút sáng thứ Ba ngày 6/3/2001, hưởng dương 44 tuổi. Hơn 500 khán thính giả ái mộ và nghệ sĩ thân hữu đã đến làm lễ tiễn đưa Ngọc Lan tại Thánh Đường Thánh Linh và Ngọc Lan đã được an táng tại nghĩa trang Chúa Chiên Lành, Huntington Beach vào sáng thứ Bảy 10/3/2001 trong niềm thương tiếc của mọi người. Sự ra đi đột ngột của Ngọc Lan là một mất mát lớn cho nền âm nhạc Việt Nam.

Tại nhà quàn để thăm viếng Ngọc Lan, mọi người thấy cô nằm đó, chung quanh là những nụ hoa hồng đỏ thắm, trên đầu là chuỗi ngọc nữ trang màu bạc, che phủ mái tóc đen trên gương mặt của một tuyệt thế giai nhân. Hôm tiễn đưa Ngọc Lan lần cuối, lúc hạ huyệt mọi người đã ném những đóa hoa như gởi đến nàng những lời tiếc thương cuối cùng trước lúc chia tay. Tôi đứng lại, bỗng chợt nhìn thấy một cây tùng phía sau mộ có hình dáng như một tàng cây ngả rạp về một phía, giống như một cơn gió mạnh vừa thổi qua – “Gone with the Wind”.

Ngồi viết những giòng này, ngoài trời đêm lấm tấm mưa. Như trời đất cũng tiếc thương cho một người tài hoa bạc mệnh đã trở về với cát bụi. Lòng tôi ngậm ngùi khi nghĩ đến cô.

“Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu”

Vĩnh biệt Ngọc Lan
“Một ánh sáng chói lọi đã tắt”.

Nguồn: Đặng Hùng Sơn – Trẻ Magazine 2001

From: TU PHUNG  

Tự ý sửa điểm bài thi, quan có công cũng bị xử tử

Tự ý sửa điểm bài thi, quan có công cũng bị xử tử

  • Quê Hương Online
  • Thứ Sáu, 29/05/2020 • 20.9k Lượt Xem
  • Vì sửa điểm mà Tiến sĩ Ngô Sách Tuân mặc dù là bậc đại khoa, công thần của triều đình đương thời vẫn bị thắt cổ chết.

Ngô Sách Tuân (1648-1697) là người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh). Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng bậc nhất lúc bấy giờ. Bản thân gia đình Ngô Sách Tuân có cha và anh trai cùng đỗ tiến sĩ và làm quan to trong triều.

Ông đỗ tiến sĩ năm Bính Thìn (1676) đời Lê Hy Tông khi 29 tuổi, làm quan thời vua Lê Hy Tông và chúa Trịnh Căn, từng được thăng tới chức Hữu thị lang bộ Lại. Khi trấn giữ vùng Lạng Sơn, ông đã lập công lớn trong việc dùng mưu bắt được dư đảng nhà Mạc lẩn tránh tận Trung Quốc.

Nhưng chỉ vì một sai lầm trong việc chấm bài thi mà cuộc đời cũng như danh tiếng của ông đã tiêu tan thành bọt nước. Không những phải mất mạng, Ngô Sách Tuân còn để lại một “vết đen” trong lịch sử khoa bảng nước nhà.

Các thí sinh đi vào trường thi Nam Ðịnh (năm 1897), họ phải tự làm lều và đặt chõng để viết bài.

Chuyện bắt đầu từ tháng 7-1694, Ngô Sách Tuân tố cáo Tham tụng Lê Hy lên triều đình về chuyện ông này lén lút đưa người con là Lê Thuyên và học trò là Tô Hinh vốn không có năng lực vào quan trường. Sự việc được tấu trình lên nhưng nhà vua xét thấy không đủ bằng cớ để kết tội Lê Hy nên đã giáng chức Ngô Sách Tuân. Hai người giữ mối hiềm khích kể từ đó.

Sau này, khi Ngô Sách Tuân giữ chức Phó chủ khảo trường thi ở Thanh Hóa thì trước khi đi ông có đến yết kiến Lê Hy.

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (quyển 34) chép lại nội dung câu chuyện này như sau:

Lê Hy bèn đem hình dáng giấy đóng quyển thi của các con mình cho Sách Tuân biết.

Nhưng, sau vì thấy quyển thi của các con Lê Hy không được xếp vào hạng trúng cách Sách Tuân muốn nhân dịp này xoá mối hiềm khích với Lê Hy, bèn lấy quyển thi của con Lê Hy đưa cho các quan giám khảo, bảo họ phê lấy đỗ.

Quan Đề điệu trường thi này là Phó đô ngự sử Ngô Hải biết chuyện, có thề với Sách Tuân là sẽ giấu kín việc này nhưng quan Tham chính Thanh Hóa là Phan Tự Cường phát giác được, tâu lên.

Triều đình giao cho các quan văn võ họp bàn, khép Ngô Sách Tuân vào tội giảo (bắt phải thắt cổ mà chết), Ngô Hải vì không biết lòng chính trực nên bị bãi chức, các quan giám khảo và phúc khảo đều bị phạt, còn Tự Cường được thăng chức Thiêm đô ngự sử.

Chép xong chuyện này, các sử gia thời Nguyễn đã có Lời cẩn án rất sắc sảo như sau:

Lê Hy làm Tể tướng một nước, thế mà gởi gắm con mình cho viên quan giữ việc chấm thi và Sách Tuân xu nịnh với riêng bậc đại thần mà mình nhận lời kí thác, đặt trong phép nước mà xét thì tội hai người như nhau, vậy mà chỉ mình Sách Tuân bị trị còn cha con Lê Hy thì không ai xét hỏi gì đến, như thế thì còn gọi là phép nước làm sao được nữa!

Phan Tự Cường biết hạch tội Sách Tuân mà không một lời nào đả động đến Lê Hy, thế thì so với người nịnh hót Lê Hy cũng chẳng hơn kém nhau bao nhiêu vậy. Tự Cường cũng cùng một loại với Sách Tuân mà thôi.

Có lời bình rằng:

Có mỗi một khoa thi Hương, kẻ đỗ cao nhất cũng chỉ là Cử nhân, vậy mà hỏng một cách thảm hại lại là bốn vị Tiến sĩ lừng danh: Lê Hy, Ngô Sách Tuân, Phan Tự Cường và Ngô Hải, nhục thay! Chư vị sử gia thời Nguyễn, sắc sảo thì quả là thật sắc sảo, song chừng như chư vị chỉ muốn mượn Lời cẩn án để kí thác chút tâm sự với thời cuộc đó thôi.

Tự cổ, búa rìu của phép nước vẫn giáng từ trên xuống, có đâu lại vung từ dưới lên, vung lên như thế, lỡ bay đầu Tể tướng, bay luôn đầu cả Chúa lẫn Vua, thiên hạ như gà con mất mẹ, biết nương tựa vào đâu. Vả chăng, vung lên lâu ngày quen tay thành tật, chư vị ngồi trong kinh thành, nhỡ bị họa lây thì lấy ai mà viết sử?

Kẻ hậu sinh này viết tới đây, ngẩn ngơ mà tình cờ dừng lại, ngắm mãi cái gì đen đen trong trang sử cũ, một lúc sau mới chợt nhận ra đó chính là xác Tiến sĩ Ngô Sách Tuân đang treo lủng lẳng, khô như một nét sổ của trang chữ Hán lạnh lùng. Mạo muội dịch ra quốc ngữ, lại nhìn kĩ lần nữa, thì chao ơi, cái xác treo lủng lẳng ấy bay vào trang đánh máy, chẳng khác gì cái dấu chấm than. Hóa ra, dấu chấm hết cuộc đời của Tiến sĩ Ngô Sách Tuân lại là dấu chấm than!

Tổng hợp theo bài viết “Dấu chấm hết cuộc đời Ngô Sách Tuân”
Theo Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần
Đăng tại tạp chí Quê Hương Online (quehuongonline.vn)

Đọc lại “Trại súc vật” của George Orwell

Đọc lại “Trại súc vật” của George Orwell

 Blogger Thuận Nhân

 Trại súc vật của George Orwell là một tác phẩm nổi tiếng từng được tờ Time bình chọn là một trong 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất, nằm thứ 31 trong danh sách các tác phẩm hiện đại hay nhất của thế kỷ 20, và nằm trong tuyển tập các tác phẩm lớn của thế giới phương Tây. Nó là một bức biếm họa sâu cay về những gì mà George Orwell cảm nhận được về Liên bang Xô Viết…

Tác phẩm Trại súc vật (Ảnh qua Pinterest)

Trại súc vật bắt đầu bằng việc một bầy súc vật không chịu nổi sự “bóc lột” của con người mà vùng lên làm cách mạng tạo phản, cuối cùng đã đuổi được con người và thành lập một “Trại súc vật” do mình làm chủ.

Nhưng không lâu sau đó, con heo lãnh tụ, kẻ dẫn đầu bầy động vật tiến hành “cách mạng”, lại được hưởng đặc quyền, một mình hưởng thụ sữa bò và táo. Khi các loài động vật khác, những kẻ từng ôm giữ ý niệm “tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau” mà tham gia cách mạng, nghi ngờ con heo lãnh tụ, con heo phụ trách tuyên truyền đã giải thích rằng:

Chúng tôi ăn những thứ này mục đích duy nhất là phải giữ gìn sức khỏe cho chúng tôi. Toàn bộ việc quản lý và tổ chức công việc trong khu vườn đều dựa vào chúng tôi. Chúng tôi vì hạnh phúc của mọi người mà ngày đêm tận tâm tận lực. Do đó, điều này là vì các bạn, chúng tôi mới uống sữa bò và mới ăn táo. Các bạn có biết không, lỡ khi loài heo chúng ta mất chức, vậy chuyện gì sẽ xảy ra? Jones sẽ cuốn bụi mà quay trở lại! Đúng vậy Jones sẽ cuốn bụi mà quay trở lại! Quả thực, các đồng chí! Jones vốn là ông chủ của khu vườn, cũng là kẻ thống trị của ‘xã hội cũ’.

Một vài loài động vật cá biệt mơ hồ nhớ rằng khi Jones còn ở đây, tình hình cuộc sống của các loài động vật hầu như không kém hơn so với hiện tại. Nhưng theo sự tuyên truyền ngày qua ngày, nỗi sợ hãi Jones sẽ cuốn bụi mà quay trở lại đã ăn sâu vào đầu những loài động vật như một phản xạ có điều kiện. Vậy là lũ động vật không còn lời nào để nói về đặc quyền của heo. Rất nhanh, đặc quyền của heo càng ngày càng nhiều…

Lũ động vật nghe tuyên truyền. (Ảnh qua Pinterest)

Mặt khác, làm thế nào để đề phòng việc Jones lại cuốn bụi quay trở lại, đặc biệt là sự câu kết giữa kẻ đồ tể và Jones, phá hoại trang trại mà lũ động vật vận hành, đã trở thành một nội dung quan trọng trong cuộc sống thường nhật của các loài động vật. Đối mặt với “đại sự hàng đầu” như vậy, những bất mãn và ý kiến bất đồng khác đã trở thành chuyện vặt vãnh không quan trọng. Hơn nữa, luôn luôn “đề cao cảnh giác”, “chuẩn bị chiến đấu” đã trở thành một nội dung quan trọng bậc nhất vượt qua mọi điều trong cuộc sống xã hội. Bên cạnh đó, dưới sự điều động của con heo lãnh tụ, lũ động vật làm việc ngày càng chăm chỉ hơn, hứa hẹn cho một “cuộc sống tương lai dễ chịu”.

Cá biệt trong lũ động vật, có một con ngựa cần cù chăm chỉ, làm việc cho đến khi gục ngã. Thế là con heo lãnh tụ cử một chiếc xe kéo tới, nói là để đưa ngựa tới bệnh viện an dưỡng. Tuy nhiên, con lừa biết đọc lại phát hiện ra rằng đó là chiếc xe của một tay giết thịt. Vậy là con heo tuyên truyền phải vào cuộc, nói rằng chiếc xe đó đã được mua lại từ tay kẻ đồ tể, và rằng con ngựa sẽ được an dưỡng thích đáng.

Con ngựa làm việc đến gục ngã. (Ảnh qua Pinterest)

Một thời gian sau, con heo tuyên truyền công bố rằng con ngựa đã ra đi hạnh phúc trong bệnh viện, và lũ heo tổ chức một ngày lễ để tôn vinh con ngựa, cùng trại súc vật vinh quang, và khuyến khích các con vật khác noi gương con ngựa…
Nhưng sự thật là con ngựa đã bị bán cho kẻ đồ tể, để lũ heo có tiền mua rượu whisky.

Nhiều năm sau đó, trại súc vật ngày càng hoạt động tốt hơn, và thu được nguồn lợi nhiều hơn. Nhưng những gì được hứa hẹn như đèn điện, hệ thống sưởi, nước uống đều bị quên lãng. Con heo lãnh tụ đã khiến lũ động vật tin rằng sống một cuộc sống giản dị là điều hạnh phúc nhất. Những con heo bắt đầu bắt chước lối sống của người, đi bằng hai chân, mang theo roi da, mặc quần áo. Lý niệm “tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau” được thay thế bằng lý niệm “tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau, nhưng một số thì bình đẳng hơn những con khác”.

“Tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau, nhưng một số thì bình đẳng hơn những con khác” (Ảnh qua cageyfilms.com)

Khi con heo lãnh tụ mở một bữa tiệc và mời những người nông dân ở địa phương tới, lũ động vật trong trại nhìn từ heo sang người, và chợt nhận ra rằng, chúng không còn phân biệt được heo và người nữa…
Mặc dù Trại súc vật vẫn còn thể hiện rõ những luyến tiếc về quan niệm bình đẳng xã hội không tưởng của tác giả, nhưng quả thật George Orwell đã thành công trong việc khắc họa bản chất triết học đấu tranh của kẻ thống trị chuyên chế một cách giàu hình tượng và sâu sắc.

“Thế lực thù địch” vô hình… (Ảnh qua illustrators.ru)

Thông qua hình tượng kẻ địch vô hình được tạo ra và lưu giữ mọi thời khắc trong đầu óc lũ động vật, thông qua việc cường điệu sự nguy hiểm của kẻ địch mọi lúc, cường điệu tính tất yếu của việc “đoàn kết nhất trí”, kẻ thống trị đã khiến lũ động vật phải “tạm thời nhẫn nhịn” tất cả sự bạo ngược. Lũ động vật ngây thơ tin rằng hành vi bạo lực này xuất phát từ một nguyện vọng bình đẳng tốt đẹp, và cuối cùng sẽ mang lại hạnh phúc cho mọi người.
Nhưng tất nhiên, người ta có nam có nữ, có giàu có nghèo, có sướng có khổ, có ngọt bùi có đắng cay, có chăm chỉ có lười biếng, có giỏi có kém, có cảm nhận khác nhau, có tính cách khác nhau, có hoàn cảnh khác nhau, vậy thì cuộc sống mới thật là phong phú và có hương vị. Cái gọi là nguyện vọng bình đẳng không tưởng bên trong nguồn tài nguyên có hạn là trái đất này, và thứ học thuyết đấu tranh luẩn quẩn kia, đều chỉ là ngụy biện lừa dối mà thôi…

Blogger Thuận Nhân

 
M.TRITHUCVN.ORG

Đọc lại “Trại súc vật” của George Orwell – Trí Thức VN

Trại súc vật của George Orwell là một tác phẩm nổi tiếng từng được tờ Time bình chọn là một trong 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất…

Tuyên ngôn thành lập “N H À N Ư Ớ C L I Ê N B A N G T R U N G H O A M Ớ I”

Image may contain: 2 people, people standing and text
Image may contain: 1 person, text

Võ Hồng Ly is with Võ Hồng Ly.

07.06.2020

Tuyên ngôn thành lập “N H À N Ư Ớ C L I Ê N B A N G T R U N G H O A M Ớ I” gây chấn động đã khiến T.rung C.ộng điên cuồng ngăn chặn mọi tìm kiếm truy cập thông tin.

Chập tối ngày 03/6/2020, có ít nhất 5 chiếc máy bay, bay theo vòng tròn quanh thành phố Hudson ở bang Iowa, Hoa Kỳ, mang theo thông điệp “Chúc mừng Nhà nước Liên bang Trung Hoa Mới”.

Nhà nước Liên bang Trung Hoa Mới cũng được tuyên bố thành lập vào ngày 04/6/2020 theo giờ Bắc Kinh. Ông Hác Hải Đông (Hao Haidong) – cựu ngôi sao bóng đá người Trung Hoa đã tuyên đọc tuyên ngôn “Nhà nước Liên bang Trung Hoa Mới” phiên bản tiếng Trung.

Buổi lễ được phát sóng lúc 7 giờ tối theo giờ New York. Người khởi xướng và thực hiện bản tuyên bố này bao gồm: Kyle Bas – Nhà sáng lập kiêm Giám đốc đầu tư của Quỹ đầu tư Hayman Capital Management có trụ sở ở Dallas (Mỹ), Steve Bannon – chiến lược gia trưởng và cố vấn cấp cao nhất của Tổng thống Trump, và ông Quách Văn Quý – tỷ phú người Trung Hoa hiện đang sống lưu vong tại Mỹ.

Đây là buổi lễ tuyên ngôn kiến lập “Nhà nước Liên bang mới của Trung Hoa” do tỷ phú Quách Văn Quý khởi xướng. Trong buổi lễ, cựu cố vấn chiến lược Nhà Trắng Steve Bannon đọc bản tuyên ngôn bằng tiếng Anh, trong khi cựu ngôi sao bóng đá người Trung Hoa Hác Hạo Đông đọc bản tuyên ngôn bằng tiếng Trung. Hác Hạo Đông đã liệt kê hết thảy những tội ác của Trung cộng sau khi thành lập chính quyền, và tuyên bố thành lập Nhà nước Liên bang Trung Hoa Mới, đồng thời nói rõ cương lĩnh lập quốc.

Ông Quách Văn Quý và ông Steve Bannon đứng cạnh nhau trên thuyền, đằng sau họ là Tượng Nữ thần Tự do ở New York.

Ông Quách Văn Quý cắn rách ngón tay, dùng máu in lên bản tuyên ngôn tỏ rõ ý chí. Ông nói rằng phải lật đổ Trung cộng, xây dựng đất nước theo đường lối pháp trị và tự do để người Trung Hoa sống một cuộc sống có phẩm giá, có tôn nghiêm.

Ông Steve Bannon nói rằng Trung cộng là một tổ chức lưu manh, và nó không được phép nô dịch người Trung Hoa thêm nữa.

Ngôi sao bóng đá Hác Hải Đông, có thể nói là người mà mỗi gia đình ở Trung Hoa đại lục đều biết đến, đã liệt kê một loạt các tội ác phản nhân loại của Trung cộng như: Phớt lờ nhân quyền, hủy hoại nhân tính, chà đạp dân chủ, vi phạm pháp luật, hủy bỏ hiệp ước, tắm máu Hồng Kông, giết hại người dân Tây Tạng, xuất khẩu tham nhũng và mang lại nguy hại cho toàn cầu.

Ông nói: “Lật đổ chế độ Trung cộng là cần thiết để phá bỏ xiềng xích của người dân Trung Hoa và là điều thật sự cần thiết để mang lại hòa bình yên ổn cho thế giới. Nhà nước Liên bang Trung Hoa Mới không có Đảng Trung cộng là điều cần thiết cho toàn thể người dân và là điều cần thiết để gây dựng một xã hội phồn vinh hùng cường”.

Chỉ trong một ngày 4/6, lượng tìm kiếm cụm từ “Hác Hải Đông” trên WeChat đột nhiên tăng nhanh chóng mặt, lên đến 2148,3%, và lượt tìm kiếm Google cho cụm từ “Liên bang Trung Hoa mới” hơn 1,1 tỷ lần. Tài khoản Twitter “Sự thật Tài chính” cho biết, số lượt tìm kiếm cụm từ “Hác Hải Đông” trên WeChat vào ngày 4/6 cao gấp 9,87 triệu lần. So với dữ liệu 430.000 vào ngày 3/6, nó đã tăng 2195,34% chỉ trong một ngày.

Trung cộng đang khẩn trương thực hiện các biện pháp phong tỏa thông tin về Hác Hải Đông và Diệp Chiêu Dĩnh, WeChat và Weibo của cặp đôi này đều bị chặn, tin tức của Sina Sports về Hác Hải Đông hiện đã bị đóng chức năng bình luận. Khu vực bình luận tài khoản Weibo con trai Hác Nhuận Trạch cũng bị chặn sau khi xuất hiện một số lượng lớn các cụ từ như ”Thái tử điện hạ” và “Thái tử Liên Bang”…

Hiện tại ở Trung Hoa Đại Lục, “Hác Hải Đông” đã trở thành những từ nhạy cảm, truyền thông chính phủ thậm chí không dám nhắc đến tên đầy đủ, mà phải thay thế bằng chữ “H” đầu tiên của họ Hác để lên án và chỉ trích ông.
_____
Nguồn :

1- ĐKN : Link bị chặn cả trong comment. Xem hình bên dưới ạ.

2 – Trí Thức Việt Nam : Link đã chia sẻ dưới comment vì nếu không sẽ bị chặn đăng bài luôn.

3- https://twitter.com/caijingxiang/status/1268761324672020481…

Con người mất nhân phẩm – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

Con người mất nhân phẩm – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

  • Nguyễn Hiến Lê
  • Trong một xã hội như vậy, con người dễ mất hết nhân phẩm, hóa ra đê tiện, tham lam, bất lương, nói láo, không còn tình người gì cả.
  • Tiếp theo phần trước

Năm 1975 đa số cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không còn giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa.

Gởi họ mang ra giùm một cuốn sách tặng một người ở Hà nội, họ giữ lại 5-6 tháng, vợ chồng con cái, bạn bè coi cho hết lượt, sách nhàu rồi, họ mới đem lại cho người nhận sách; có khi họ lấy luôn, nhắc họ, họ bảo thất lạc, để kiếm. Mà ba người nhận được sách thì chỉ có một người cảm ơn tôi.

Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi, đưa họ, họ đăng, nhưng kí tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn.

Thời Pháp thuộc, không bao giờ nhân viên bưu chính ăn cắp đồ trong các bưu kiện. Thời Nguyễn Văn Thiệu thỉnh thoảng có một vụ ăn cắp nhưng nhỏ thôi. Từ bốn năm nay ở khắp miền Nam, cứ 10 bưu kiện ở ngoại quốc gởi về thì có 6-7 bưu kiện bị ăn cắp hoặc đánh tráo vài ba món, thường là dược liệu và vải. Kêu nài thì nhân viên bưu chính bảo: “Không nhận thì thôi; có muốn khiếu nại thì cứ làm đơn đi”. Không ai buồn khiếu nại cả vì cả năm chưa có kết quả, mà nếu có thì số bồi thường không bõ. Cho nên chúng tha hồ ăn cắp, ăn cướp một cách trắng trợn. Trắng trợn nhất là chúng lấy trộm tất cả bưu kiện trong một kho, như ở Long xuyên năm 1981; nếu là kho lớn thì chúng đốt kho như ở Tân Sơn Nhất hai năm trước.

Nhơ nhớp nhất là vụ một cán bộ nọ vào hàng phó giám đốc, mưu mô với vợ, làm bộ tổ chức vượt biên cho vợ chồng con cái một đứa cháu ruột, bác sĩ ở Sài Gòn, nhận mấy chục lượng vàng của cháu (và sáu chục lượng vàng của gia đình bên vợ đứa cháu đó nữa vì họ cũng muốn vượt biên), rồi lừa gạt người ta, tố cáo với công an bắt hết cả nhóm trên mười người khi họ ra Vũng Tàu chờ ghe đưa ra khơi. Ða số cán bộ ở Nam đã tư bản hóa rồi, một xã hội chủ nghĩa xã hội mà như vậy thì chủ nghĩa đó chỉ còn cái tên thôi.

Sống dưới chế độ cộng sản, con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm việc điểm chỉ đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó.

Nạn làm tiền, tống tiền lan tràn khắp các ngành, cả trong ngành cứu nhân độ thế và ngành tống táng. Ðể cho bác sĩ ngụy đủ sống mà khỏi vượt biên, chính phủ năm 1980 cho phép họ ngoài giờ làm việc được khám bệnh ở nhà và định cho họ số tiền thù lao là 1 đồng ở Sài Gòn, 0.8 đồng ở tỉnh. Nhưng ở Long Xuyên bác sĩ nào cũng thu của bệnh nhân 10 đồng. Có kẻ ra một cái toa cần 9 thứ thuốc toàn đắt tiền, trị đủ các bệnh: tim, phổi, gan, thận, bao tử… cho một bà lão suy nhược, rồi bảo lại mua của một tên buôn lậu đồng lõa với họ. Tính ra toa đó mua cho đủ thì mất cả triệu đồng cũ (2.000 đồng mới). Một số bác sĩ không làm tiền cách đó, không ra toa mà bắt bệnh nhân mỗi ngày lại để các ông ấy cho thuốc và chích cho, và phải trả các ông ấy từ 60 đồng đến 100 đồng mỗi lần. Năm 1981, tiền thù lao từ 10 đồng đã hạ xuống còn 5 đồng, có lẽ vì bác sĩ làm riêng khá đông, cạnh tranh nhau. Và tháng 7-1981 có lệnh không cho bác sĩ công làm tư tại nhà nữa, mà muốn làm tư thì lại dưỡng đường làm ngoài giờ làm việc. Chưa thấy ai theo.

Bệnh nhân lỡ mà chết thì bị hàng xăng tống tiền: quốc doanh định giá 45 đồng kể cả một bịch thuốc lá và 4 thước vải thô, nhưng tang gia phải trả 400 đồng thì xăng mới được ghép lại kĩ, khỏi trống hổng trống hoảng với 8 cây đinh đóng hờ. Rồi tới nhà đòn cũng đầu cơ: hạ huyệt xong, phủ qua một lớp đất cho bằng mặt, muốn có cái mồ cho ra mồ thì phải đưa thêm vài trăm đồng nữa. Nếu đem thiêu mà cứ nộp đúng lệ thì xương ống, xương hông bị ném riêng vào một chỗ, chứ không thiêu hết. Ai nỡ để cha mẹ mình què!

Tất cả chỉ tại cái lệ chính phủ định giá, định lương rẻ quá không đủ cho dân sống, dân phải xoay sở lấy, bóc lột lẫn nhau. Cổ kim chưa có một xã hội nào phi lí như vậy. Vì biết mình phi lí nên chính quyền làm ngơ cho bác sĩ làm ăn, cho phép các giáo viên ngụy dạy thêm tại nhà.

Nói cho ngay, thời nào trong xã hội cũng có một số người lương thiện. Và ông Phạm Văn Ðồng đã nhận rằng thời này hạng đó thiệt thòi nhất. Tôi được biết một hai cán bộ trung cấp liêm khiết, chịu nghèo, nuôi heo thêm, chứ không tham nhũng. Gia đình họ phải ăn rau muống; quần áo thì vá đụp; có thể nói họ nghèo như các nông dân nghèo nhất thời xưa.

Tóm lại sau 5 năm chúng ta không thấy chút tiến bộ nào cả mà chỉ thấy sự chia rẽ trong xã hội, sự tan rã trong gia đình, sự sa đọa của con người, sự suy sụp của kinh tế.

Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Tập 3)
Đăng lại từ Diễn Đàn Thế Kỷ (Diendantheky.net)

Nền công nghiệp sau 1975 – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

Nền công nghiệp sau 1975 – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

• Nguyễn Hiến Lê

• Xí nghiệp quốc doanh nào cũng lỗ nặng. Người ta không hề tính sản xuất một hóa phẩm phí tổn mất bao nhiêu, bán ra được bao nhiêu, lời hay lỗ. Cứ việc sản xuất, lỗ cũng không sao, bán không được thì bắt dân tiêu thụ hoặc đổ đi.
Một kĩ sư ở Nga về đã trên mười năm, năm 1967 vào tham quan các xí nghiệp lớn miền Nam bảo tôi rằng cảm tưởng đầu tiên và mạnh nhất của ông ta là các xí nghiệp này chú trọng đến cái “profit” (lời) quá. Ông ta không hiểu nổi đó là một điều tự nhiên. Một cơ quan xuất bản, một tờ báo của chính quyền có lỗ cũng không sao, vì công việc đó có mục đích giáo dục quần chúng, không có tính cách thương mãi. Nhưng sản xuất một món hàng để xuất khẩu mà không tính lời, lỗ thì kinh tế làm sao đứng vững được.

Ngay như một tổ hợp vận tải trong nước mà lỗ hoài thì cũng phải dẹp tiệm, vì hết vốn, không có tiền mua xe mới để thay thế xe cũ.

Từ bia, nước ngọt, đến tôm cá, đồ hộp như khóm, màn trúc, quần áo may sẵn, đồ sơn mài… bất kì món gì, mới đầu phẩm còn kha khá, sau cứ mỗi ngày một tệ, bị ngoại quốc gởi trả về. Bia, nước ngọt có hồi bị trả về nhiều quá, bán cho công nhân viên không hết, tung ra bán cho dân, nhà nào cũng có một tuần lễ được mua một hai lần; kì cục nhất là đường thì thiếu cho dân dùng mà nước ngọt thì dân tha hồ uống.

Tôi hỏi một người bà con ở Hà Nội, họ bảo ở Bắc cũng vậy: công nghiệp mỗi ngày một xuống dốc. Những năm đầu (1955-1960), xe đạp chế tạo còn tốt, bây giờ tồi quá, dùng chưa đầy sáu tháng đã hư một vài bộ phận, lốp đã bể. Xe đạp là thứ cần thiết nhất, phổ thông nhất trong nước, mà như vậy thì những máy móc khác mới ra sao?

“Vua lốp” Nguyễn Văn Chẩn, một trong những cá nhân nổi bật với nhiều lần vào tù ra tội thời bấy giờ. (Ảnh bổ sung – Ảnh qua tienphong.vn)
Nguyên nhân rất nhiều: quản lí dở, thiếu kĩ thuật gia giỏi – những kĩ sư giỏi không được dùng hoặc phải ở dưới quyền một kẻ dốt, có tuổi đảng cao hơn; chương trình, kế hoạch không bao giờ thực hiện được đúng vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu, thiếu đủ thứ; vì các cơ quan không phối trí với nhau, chèn ép nhau là khác; vì chính sách làm chủ tập thể, máy móc không ai săn sóc, vật liệu không ai tiếc, tha hồ phí phạm, nhiều khi ăn cắp nữa; không có tinh thần trách nhiệm, ai cũng làm việc tà tà; lương ít quá, không đủ sống, mà siêng năng cũng chẳng được lợi gì, sáu năm mới lên một bực, lương tháng thêm mười đồng, mua được hai tô phở hay một kí đường.

Ngoài Bắc có câu: Làm thì đói, nói thì no, bò thì sướng, bướng thì chết.
Trong Nam lại thêm câu rằng: Làm cho lắm tắm không quần thay, làm lai rai ngày thay ba bộ.

Ðảng cộng sản là đảng của vô sản, của thợ thuyền, mà công nhân trong các xưởng tinh thần như vậy đó.

Lại còn cái này nữa: sở nào có việc nhờ sở khác giúp, muốn mau được việc, phải hối lộ sở đó; ngay sở công an cũng bị làm tiền. Việc thanh toán tiền nong giữa các sở với nhau rất bê bối! Sở thiếu nợ ỳ ra không chịu trả, sở chủ nợ không thu được, thiếu tiền, phải tạm ngưng hoạt động. Kiện ai?

Quyền của ngân hàng rất lớn. Cơ quan nào thu được bao nhiêu tiền cũng phải nộp ngân hàng, cần rút ra bao nhiêu cũng phải xin ngân hàng; mà ngân hàng có thể từ chối không phát hoặc lấy cớ là không đủ ngân khoản nên chưa phát. Vì vậy cơ quan nào cũng làm thân với ngân hàng, mua quà cáp tặng nhân viên ngân hàng, đãi đằng họ… Xứ nào, thời nào mà chẳng vậy: kẻ giữ tiền mới thực sự làm chủ.

Các công ti công tư hợp doanh cũng lỗ vì công với tư rất khó hợp tác với nhau: công làm chủ thì tư tà tà, mà công thì quản lí rất dở, kĩ thuật rất kém, nghi kị tư, bao nhiêu quyền lợi, ôm lấy trọn.

Công ti hợp doanh chỉ đứng được ít năm rồi cũng phải đóng cửa vì chính phủ cho số lời ít quá, thu thuế nặng quá, nhất là vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu. Như Công ti Giấy Bảo Lộc (trong đó tôi có ít cổ phần nhờ xin rút được tiền ngân hàng để giúp trong việc sản xuất) hoạt động được hai năm thì miền Bảo Lộc bị hạn chế điện, mỗi ngày máy chỉ chạy được 4 giờ buổi tối; rồi thiếu tre để làm bột giấy; chính phủ tự ý tăng giá tre bán cho công ti mà không cho tăng giá giấy bán cho chính phủ, rốt cuộc công ti lỗ nặng, phải tặng hết tài sản cho chính phủ (tôi cũng đã tặng cổ phần của tôi, trị giá hai triệu đồng cũ).

Các tổ hợp làm tiểu công nghệ của tư nhân như tổ hợp làm màn trúc, tranh sơn mài, đan áo, thêu, may áo… lây lất sống được là may, đa số phải ngưng hoạt động vì xuất khẩu không được, bán trong nước cũng không được.

Một ông bạn tôi mới cho hay chính quyền đã phải nhận rằng mức sản xuất của mình lúc này kém quá, có ngành chỉ được 5% ngành nào phát triển nhất cũng chỉ được 30% khả năng thôi. Thế thì biết đời kiếp nào mới xây dựng xong xã hội chủ nghĩa?

Ðã không sản xuất mà còn phá tài nguyên trong nước: phá rừng thông trên núi, rừng phi lao ở bờ biển, phá cả vườn cao su để lấy củi (bán ở Sài Gòn), dùng mìn và đồ rà điện để bắt cá lớn cá nhỏ trong sông rạch (cá linh còn nhỏ bằng đầu đũa mà đã bắt để bán ở Long Xuyên), bắn thú và chim, không có luật gì ngăn cấm cả. Làm chủ tập thể, nên không ai cấm ai được. Do đó nước mình trước kia tự hào là tiền rừng bạc bể mà nay đứng vào hàng mười nước nghèo nhất thế giới, có người nói hàng áp chót trên thế giới nữa. Lợi tức trung bình mỗi năm tính theo đầu người thì được 50 Mĩ kim, hai phần trăm của Nhật.

Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Tập 3)

Đăng lại từ Diễn Đàn Thế Kỷ (Diendantheky.net)

M.TRITHUCVN.NET

Công nghiệp mỗi ngày một xuống dốc. Những năm đầu (1955-1960), xe đạp chế tạo còn tốt, bây giờ tồi quá, dùng chưa đầy sáu tháng đã hư…

Tả quân Lê Văn Duyệt trong hồi ký của John White và John Crawfurd

Tả quân Lê Văn Duyệt trong hồi ký của John White và John Crawfurd

Patrick. J. Honey   

Năm 1822, toàn quyền Anh tại Ấn Độ, nhân danh triều đình Anh gởi sang Việt Nam một phái bộ để điều đình việc giao thương. John Crawfurd cầm đầu phái bộ, khi về nước đã cho ấn hành bản nhật ký cuộc du hành đến nước ta, mà khi ấy họ còn gọi là nước Cochin China[1]. Xin giới thiệu với bạn đọc để chúng ta biết thêm người ngoại quốc nhận xét về Tả Quân như thế nào.

…Người Mỹ đầu tiên đặt chân lên đất việt Nam là ông John White, tới Sài Gòn năm 1819. Ông ta rất khâm phục thành Sài Gòn thời ấy[2]. Theo lời ông White ghi chép lại thì “Đi ngược dòng từ Vũng Tàu trở lên, đây là mô đất cao đầu tiên, so với mặt nước sông thì cao hơn chừng 20 thước. Trước đây Sài Gòn là một vùng đồi, có rừng cây bao phủ, nhưng tổ phụ nhà vua Gia Long đã cho san bằng ngọn đồi và đào hào sâu chung quanh, lấy nước sông qua các ngòi lạch dẫn vào hào. Chung quanh thành là một bức tường dày đắp bằng gạch, cao chừng 6, 7 thước. Thành hình chữ nhật, nhưng gần như vuông, mỗi bề độ ba phần tư dặm (khoảng hơn một cây số). Đứng đầu thành này có quan Tổng trấn, hồi ấy là Tả quân Lê Văn Duyệt, dưới trướng có nhiều võ quan khác. Bên trong thành, vườn hoa ngoạn mục, ở giữa là cung điện nhà vua, có hàng rào cao vây quanh. Cung điện là một tòa nhà lớn, một chiều chừng 30 thước và chiều kia khoảng hơn 20 thước, làm bằng gạch, có hành lang bốn phía. Sàn nhà cao hơn mặt đất, lát gỗ, có cầu thang bắc lên cửa chính vào cung điện. Mái nhà lợp bằng ngói tráng men bóng lộn, đắp rồng phượng có màu sắc sặc sỡ. Hoàng Đế không hề vào thăm đất Sài Gòn từ khi bình xong nội chiến và vì thế cung điện không có ai ở, chỉ dùng để cất giữ ấn tín nhà vua và các văn thư. Trong thành có đủ chỗ để đóng tới 50 ngàn quân một cách dễ dàng…”

Nhân vật xuất chúng bấy giờ hiển nhiên là Lê Văn Duyệt. Ông White đã tỏ ý rất kính phục Tả quân ngay sau lần hội diện đầu tiên. Ông có ghi lại như sau: “Dáng diệu và phong độ của ông này (Lê Văn Duyệt) có vẻ uy nghi lẫm liệt. Ông có vẻ một đại thần đầy kinh nghiệm nhưng vẫn giữ được đức độ cương trực của con nhà tướng. Tính tò mò muốn hiểu biết và cách thức ông lựa vấn đề đem bàn tỏ ra ông là người có đầu óc phóng khoáng, luôn luôn muốn trau dồi kiến thức. Những lời bàn chính đáng của ông trong nhiều vấn đề tỏ ra ông có một khả năng tự nhiên rất mạnh và tầm kiến thức rất rộng. Chiến sự, chính trị, tôn giáo và những phong tục tập quán của các nước Âu Tây là những vấn đề mà ông bàn cãi đến một cách chăm chú… Khi óc tò mò của ông đã được thỏa về những đặc điểm ấy, thì ông tỏ vẻ khâm phục trí thông minh, tài khéo léo và sức mạnh của “Olan” (Hòa Lan) mà nói đến Hòa Lan tức là ông muốn nói đến Âu Tây. Rồi ông xúc động, như thể lòng tự ái bị tổn thương, ông than phiền về tình trạng tương đối còn thô lậu dã man trong đất nước ông”. Xuống dưới nữa, John White viết: “Sau khi gặp gỡ bậc vĩ nhân đó, ai cũng phải cảm thấy tiếc rằng lịch sử đã không xui khiến để ngôi báu lọt vào tay ông, vì ông mới là người biết dùng quyền lực để bồi đắp sự vinh quang và hạnh phúc của dân tộc, hơn hẳn ông vua độc tài thuở ấy…”.

Đối với những quan lại khác mà ông gặp thì John White chỉ tỏ ý khinh bỉ. John White kể lại rằng họ có những bộ điệu ta đây, làm ra quan trọng, nhưng cư xử như những đồ phàm tục, luôn luôn ngửa tay xin rượu Tây và uống cho đến khi say túy lúy và cãi nhau om sòm. Bọn quan lại này luôn luôn xin quà, bất cứ cái gì họ xin được của người Mỹ là họ đem về nhà. Trong sự giao dịch hành chánh thì họ vừa bất lực vùa tham nhũng, họ đớn hèn đến nỗi có thể đương kiểm tiền của người, mà ăn cắp mấy đồng nhét vội vào tay áo. Khi vị Khâm sai Lê Văn Duyệt không có mặt tại Sài Gòn thì vị quan quyền chức này có cái thói xấu là hay ném pháo để dọa khách khứa và mua tích trữ những số đường lớn để cho giá đường lên cao rồi đem bán cho khách ngoại quốc. White còn tả hệ thống quan liêu rất phức tạp của rất nhiều viên chức. Ai muốn tới buôn bán cũng phải đút lót những viên chức ấy. Nếu không chịu lễ lạc một phần tử nào trong cả guồng máy ấy thì tức thời công việc không những bị đình trệ mà bị những hậu quả trái ngược rất rõ rệt.

…Phái bộ mà toàn quyền Anh ở Bengale gởi qua Thái Lan và Việt Nam để mở liên lạc thương mại với hai nước này đã tới Vũng Tàu vào năm 1822. Ông trưởng phái đoàn này, John Crawfurd, sau này được bổ làm toàn quyền Tân Gia Ba, đã qua Sài Gòn nhưng chỉ ở lại đất Việt mấy ngày. Không như thuyền trưởng Mỹ White đã tới Sài Gòn trước ông ít lâu, Crawfurd cũng qua thăm cả Trung kỳ, đáp tàu men theo bờ biển tới Tourane[3] rồi từ đó dùng đường bộ lên kinh đô Huế. Crawfurd đã giữ một tập nhật ký về chuyến công du này và tôi muốn được trình bày cùng quý vị về những cảm tưởng và ý kiến mà ông đã phát biểu trong tài liệu đó.

Để tàu ở lại Cần Giờ là nơi tất cả thuyền bè ngoại quốc phải tới khai báo với viên chức hữu trách, Crawfurd và phái đoàn của ông lên Sài Gòn bằng những con thuyền nhỏ được cử ra để chở phái đoàn của ông lên Sài Gòn. Từ Sài Gòn, chính quyền địa phương đã phái bốn con thuyền và bảy viên quan ra tiếp phái đoàn Anh. Chất lượng những con thuyền này có thể được lượng định bởi thời gian đi ngược dòng sông lên Sài Gòn mất tất cả 10 giờ đồng hồ[4]. Mỗi con thuyền được chèo bởi 40 thủy thủ, người nào người nấy đều mặc quần áo đỏ và đội những nón lá có điểm thêm lông gà trống.

Bài của Crawfurd mô tả thành phố Sài Gòn cũng tương tự như Sài Gòn của John White. Tuy nhiên, Crawfurd đã nói thành phố này hồi đó gồm hai thị trấn, cái bây giờ gọi là Chợ Lớn thì hồi đó gọi là Sài Gòn, cái bây giờ gọi là Sài Gòn thì hồi đó gọi là Bến Nghé[5]. Một trong những thói tục kỳ lạ ở đó mà White đã không nhắc tới là tục trả lộ phí sang sông. Nhận thấy chỉ đàn bà con gái là phải trả tiền đò, còn đàn ông con trai được miễn tiền, Crawfurd bèn hỏi nguyên do thì được biết rằng tất cả trai tráng được coi như làm việc cho chính quyền nên được miễn đò phí.

Theo Crawfurd thì nhà cửa của thương gia Trung Hoa trông đồ sộ hơn nhà cửa của người Việt nhiều. Đang khi ông đi thơ thẩn trong thành phố thì ba gia đình Trung Hoa loại khá giả nhất đã ra cửa mời ông vào chơi. Bên trong những ngôi nhà của họ trông thật rộng rãi, đồ đạc rất nhiều và tiện nghi cũng đầy đủ. Và Crawfurd lại càng lấy làm ngạc nhiên khi thấy họ đã làm những bữa ăn thịnh soạn để thết đãi không những ông và tuỳ tùng mà cả những quân sĩ Ấn và Việt theo hầu nữa. Những người Trung Hoa đó, tự giới thiệu là con cháu của những người đã di cư từ Trung Quốc sang từ hàng mấy thế kỷ trước, những người đó đã khiến Crawfurd rất cảm phục vì ông đã mô tả họ như những người “rất thông minh và lịch thiệp”.

Điểm đáng chú ý thứ hai trong bản tường trình của Crawfurd là khi ông mô tả phong độ Tả quân Lê Văn Duyệt, Crawfurd đã viết như sau về đức Tả quân: “Ai cũng biết Tả quân xuất thân làm hoạn quan, nhưng nếu không được người khác cho biết thế thì chúng tôi đã không thể nào tự tìm hiểu được điều đó. Đã đành là ông hoàn toàn không có râu, nhưng râu ria người Nam kỳ là điều rất hiếm mặc dầu họ rất ưa để mọc ít nhiều. Giọng nói của ông thì cũng nhỏ nhẹ nhưng không tới độ khiến ta nghi ngờ. Là người đã đóng góp một phần quan trọng trong cuộc chiến và cuộc cách mệnh vừa qua ở Nam kỳ, ông là một nhân vật hoạt bát và thông minh. Ông cũng là một người nhỏ nhắn và mảnh khảnh nhưng trông vẫn khỏe và chẳng hề đau ốm gì trừ bệnh đau răng đã khiến cho ông bị mất gần hết hàm răng. Những vị quan lại khác thì bận những thứ quần áo lụa thêu thùa đủ kiểu, nhưng Tả quân thì trái lại, hình như hoàn toàn không để ý tới cách ăn bận và chỉ mặc một bộ áo dài thâm và vấn quanh đầu một chiếc khăn nhiễu cũng màu đen”.

Tả quân Lê Văn Duyệt đã cho trình bày với phái đoàn Anh mấy trò giải trí trong thành. Theo nguyên văn của Crawfurd thì “rất nhiều người Việt Nam đã tới xem cuộc vui này để được chứng kiến một vụ xung đột giữa hổ và voi. Con hổ này đã được buộc vào một sợi dây thừng lỏng dài chừng 30 thước cho nó có thể đi lại xung quanh một cột gỗ đóng dưới đất.

Mõm con vật đáng phàn nàn này đã được khâu lại trước cuộc tranh tài, môi dưới và môi trên sát hẳn với nhau để nó không thể mở mõm. Móng hổ đã bị rút bằng kìm để cho con vật không làm hại được voi. Tuy nhiên, con hổ đó, một con vật rất lực lưỡng, trông rất khỏe mạnh và giận dữ. Đối diện với hổ ở một khoảng xa là 46 con voi đực to lớn và trên cổ mỗi con voi đều có một anh quản tượng. Khi lệnh đánh được ban ra thì con voi thứ nhất bèn tiến lên hùng dũng và cứ trông con mắt của voi thì chúng tôi cứ tưởng nó sẽ đánh tan xác đối thủ của nó ngay. Vào vòng chiến, con voi bèn lấy ngà húc con hổ và ném hổ ta ra xa tới 6, 7 thước. Nhưng con hổ đâu chịu thua và nhảy lên mình voi định với đánh luôn cả anh quản tượng đang vắt vẻo trên đầu voi. Con voi sợ quá, co cẳng chạy mất. Con hổ đuổi theo cho tới khi bị thừng ngắt lại mới thôi. Con vật chạy trốn, tuy chẳng bị thương tích gì nhưng gầm lên một cách rất thảm thương và người quản tượng không làm được cách nào cho nó tái chiến. Sau đó ít lâu thì chúng tôi thấy một kẻ bị trói do hai sĩ quan đưa lên Tả quân.

Người đó là viên quản tượng xấu số và ngay lúc đó y bị phạt 100 trượng. Kẻ bị đánh bị nọc xuống đất, một người ngồi lên đầu, một người khác giữ chân anh ta và một số quân sĩ khác tiếp tay đánh cho đủ số 100 hèo. Hình phạt cử hành xong thì hai người khác đến khiêng kẻ bị phạt đi vì lúc đó anh ta đã chết ngất. Trong khi hình phạt này diễn ra thì Tả quân vẫn cứ nhìn cuộc đấu giữ voi và hổ một cách bình thản như chẳng có gì đặc biệt xảy ra.

Sau khi 10 hay 12 con voi đã tiến đánh con hổ thì con vật này mới chết, phần lớn là bị voi húc rồi quẳng xuống đất. Sức lực của những giống vật này thật vượt quá những gì tôi có thể tưởng tượng được. Có con đã ném được con hổ xa tới 10 thước khi hổ ta gần chết và không chống cự được nữa. Chúng tôi không khỏi kinh hãi khi nghĩ rằng chính những con vật đó có nhiệm vụ hành quyết những kẻ tội phạm bị án tử hình. Vào những dịp đó thì chỉ cần một cái ném như mô tả ở trên cũng đủ để giết tội nhân. Ai cũng bảo với tôi như thế.”

Đây là một trong những trò giải trí có thể xem được ở Sài Gòn vào thuở ấy. Lại còn một tập quán của người Việt, một tập quán đã mất đi từ lâu, đã được phái bộ Crawfurd chứng kiến khi đi chơi trong thành phố. Ở một đường phố, họ gặp hai người đang cãi nhau dữ dội. Cả hai đều ngồi dưới đất và một người thì níu lấy thắt lưng của người kia. Đó là một chị đàn bà đang giữ một anh hoạn quan và the thé tố cáo anh ta đã lấy đồ vật hay tiền bạc gì của chị ta. Hình như làm vậy tức là chị ta đã làm theo một thói tục của người Việt. Theo thói này thì khi ai muốn tố cáo một người khác lấy của mình bất cứ cái gì thì mình chỉ cần níu lấy thắt lưng của người đó. Và luật pháp buộc người bị níu phải chịu để cho người bắt giữ và không được kháng cự chi cả.

Phái bộ Anh không ở lại Sài Gòn lâu vì Crawfurd rất nóng lòng muốn ra Huế đề nghị liên lạc thương mại với vua Minh Mạng. Trước khi đi, ông ngạc nhiên thấy rằng Tả quân Lê Văn Duyệt đã từ chối những tặng phẩm mang lên biếu người, nói rằng nếu nhận những tặng phẩm thì người nợ phái đoàn Anh một món nợ và phải thúc giục vua Minh Mạng chấp nhận đề nghị của người Anh. Tả quân chủ trương rằng những đề nghị của phái đoàn Anh phải được cứu xét căn cứ trên chân giá trị của chúng và nhà vua có quyết định gì thì sự quyết định đó phải ở bên ngoài sự tán vào của những ông quan đã nhận quà biếu của phái đoàn Anh. Tả quân cũng cho biết rằng ông sẵn sàng nhận quà của phái đoàn Anh một khi cuộc đàm phán giữa hai nước kết thúc. Thái độ của Tả quân càng đáng kính phục khi ta nhớ rằng khi ấy các viên chức khắp châu Á xem những quà biếu như một quyền hạn và lắm lúc còn đòi khách ngoại quốc phải biếu xén họ…

Patrick. J. Honey
Trương Ngọc Phú chú giải
Trích “Tả Quân Lê Văn Duyệt và Vùng Đất Nam Bộ – tạp chí Xưa & Nay”

Đăng lại từ Fanpage Thú Chơi Sách

Chú thích:

[1] Xem: John Crawfurd, Journal of an embassy from the Governor – general of India to the courts of Siam and Cochin China. Henry Colburn, 1828, London.

[2] Thành này gọi là thành Phiên An, rất kiên cố, đủ cả hào và lũy. Năm 1835, sau sự biến Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng cho san bằng thành này và xây lại thành khác nhỏ hơn ở gần rạch Thị Nghè ( nay là sở Ba Son). Nhưng thành xây sau này cũng bị phá đi khi Pháp chiếm được Gia Định năm 1859. Năm 1877, khi đào móng xây nhà thờ Đức Bà, người ta còn thấy di tích của thành Phiên An cũ, một lớp tàn tro dày chừng 30 phân (theo Lê Đình Chân, sđd, trang 159).

[3] Tức Đà Nẵng ngày nay.

[4] So với phương tiện thủy ngày nay thì vẫn còn quá nhanh.

[5] Năm 1777, quân Tây Sơn vào đốt phá tan tành Nông Nại Đại Phố (cù lao Phố) ở Trấn Biên. Nhóm người Minh Hương bèn di chuyển xuống phía Nam ven hữu ngạn sông Sài Gòn mà lập thị trấn mới, tức Chợ Lớn ngày nay. Còn Sài Gòn là trung tâm hành chánh của Phiên Trấn và lưu dân khắp nơi tụ tập về sinh sống, nhỏ hơn Chợ Lớn nhiều. Qua nhiều đợt tiếp nhận dân nhập cư từ khắp nơi đổ về, Sài Gòn mới có bộ mặt như ngày nay.

SỐNG YÊU THƯƠNG THEO KHUÔN MẪU CHÚA BA NGÔI

SỐNG YÊU THƯƠNG THEO KHUÔN MẪU CHÚA BA NGÔI

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm quan trọng nhất trong các mầu nhiệm của Đạo Công Giáo.  Bởi vì mầu nhiệm này là mẹ sinh ra các mầu nhiệm khác, nói cách khác, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm nguồn của mọi mầu nhiệm.

Khi nói đến mầu nhiệm, người ta cảm thấy không thể lý giải được theo sự hiểu biết tự nhiên, vì thế, nó đã trở nên rào cản và cớ vấp ngã cho những ai mong thỏa mãn sự hiếu tri và đang cố gắng đi tìm cho được lời giả đáp “Ba Ngôi Một Chúa”; hay “Một Chúa Ba Ngôi.”  Nhưng với những người có niềm tin, qua ánh sáng mặc khải soi chiếu, và luôn khao khát đi tìm ý nghĩa của nó, thì mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi không xa lạ, nhưng lại rất gần gũi, mặc dù cao siêu và vượt quá sức tưởng của con người.  Qua mầu nhiệm này, chúng ta khám phá được sự hiệp nhất, yêu thương nơi Thiên Chúa, và mỗi lần Giáo Hội cử hành mầu nhiệm này, Giáo Hội luôn mời gọi con cái mình yêu thương nhau theo khuôn mẫu của Ba Ngôi Thiên Chúa để được cứu độ.

  1. Bản chất Thiên Chúa là “Tình Yêu”

 Khi nhắc đến Thiên Chúa, hẳn mỗi chúng ta đều có một định nghĩa riêng về Người, tuy nhiên, thánh Gioan đã cho chúng ta biết một mặc khải rất quan trọng khi nói về Thiên Chúa, đó là: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8).

Khi nói đến tình yêu, chúng ta ai cũng hiểu rằng tình yêu thì không “đơn phương độc mã”, không ích kỷ cũng chẳng bon chen; không quy chiếu về mình mà luôn hướng tha.

Muốn có được tình yêu, ắt phải đón nhận.  Khi có cả hai chiều cho và nhận, thì tình yêu mới thực sự triển nở và ý nghĩa.  Như vậy, tình yêu phải có điểm xuất phát, điểm hội tụ và mức độ lan tỏa.

Khi diễn tả ý tưởng trên, thánh Âutinh đã ví: “Nguồn mạch chính là Chúa Cha, Người chính là điểm xuất phát tình yêu; Chúa Con chính là điểm hội tụ, là điểm quy chiếu của tình yêu; và Chúa Thánh Thần là sự liên lạc hai chiều, là mối dây liên kết của tình yêu và làm cho tình yêu được tỏa sáng.”

Trong lối diễn tả của thánh Âutinh cho thấy tình yêu được khởi đi từ Thiên Chúa Cha, đến với Chúa Con và qua Chúa Thánh Thần.  Thiên Chúa Cha vì yêu nên đã trao ban tất cả, ngay cả Người Con duy nhất của mình cho nhân loại.  Chúa Con đã hoàn toàn vâng phục Chúa Cha trọn vẹn đến nỗi bằng lòng chết trên thập giá để thực hiện ý định yêu thương của Chúa Cha cho nhân loại.  Chúa Thánh Thần là mối dây liên lạc, thông hiệp giữa Chúa Cha và Chúa Con nhờ tình yêu.  Như vậy, tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu hướng ra để làm cho lan tỏa.

Thiên Chúa không để dành tình yêu cho chính mình, cho riêng Cha, Con và Thánh Thần, nhưng chính là cho chúng ta, những tạo vật được dựng nên theo hình ảnh của Người, bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8); “… nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6).  Như vậy, Thiên Chúa là tình yêu.

  1. Thiên Chúa “yêu” đến cùng

 Tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện qua hành vi tự hiến của Thiên Chúa Cha: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một…” (Ga 3,16a).  Từ “đến nỗi” ở đây cho thấy Thiên Chúa yêu đến tột cùng, yêu “đến nỗi” không còn gì để diễn tả, để trao ban hơn được nữa, vì thế chỉ còn cách duy nhất là trao ban chính Con của mình đến để diễn tả tình yêu cho nhân loại bằng chính cái chết mà thôi.

Tại sao Thiên Chúa lại trao ban Con Một?  Thưa! “…để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16b).  Như vậy, Tình yêu chân chính là mong sao người mình yêu được hạnh phúc hơn cả bản thân mình.  Thật vậy, Thiên Chúa yêu thế gian cách tuyệt đối và mong sao cho chúng ta được hưởng niềm hạnh phúc tuyệt đối là được vào ở trong tình yêu của Thiên Chúa.  Bởi vì: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” Ga 3,17).

  1. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi mời gọi ta sống yêu thương

Qua mầu nhiệm yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi, mỗi người chúng ta được mời gọi sống yêu thương, hiệp nhất như Thiên Chúa là tình yêu.  Không yêu thương nhau, chúng ta vẫn mãi là người xa lạ với mầu nhiệm này, bởi vì mầu nhiệm này là mầu nhiệm tình yêu, muốn hiểu được thì phải yêu.  Nói như thánh Gioan: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8), nên “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa” (1Ga 4,8).

Vì thế, trong đời sống gia đình, mỗi người hãy yêu thương nhau.  Chồng phải yêu thương vợ như Đức Kitô yêu thương Hội Thánh, và như Hội Thánh phục tùng Đức Kitô thế nào, thì người vợ cũng phục tùng chồng mình trong mọi sự như vậy.  Sự xuất hiện của người con trong đời sống hôn nhân chính là kết quả của tình yêu giữa vợ và chồng, vì thế, như một điều kiện cần để được hạnh phúc, con cái hãy yêu mến cha mẹ mình, và tỏ lòng thảo hiếu với cha mẹ để đáng được hưởng sự chúc lành của Thiên Chúa.

Tình yêu ấy lại không chỉ dừng lại với chính người thân của mình, mà còn phải hướng ra xa, rộng lớn hơn tới hết mọi người, kể cả yêu kẻ thù của mình nữa.

Như vậy, để tình yêu có giá trị, cần phải có sự hy sinh, quên mình và phục vụ lẫn nhau.  Yêu nhau mà không chấp nhận hy sinh, gian khổ vì nhau và với nhau, thì chưa phải là tình yêu thật sự.

Khi yêu như thế, tình yêu của vợ chồng và con cái cũng như với tha nhân đang phỏng chiếu tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi trong cuộc sống thực tại của mình.

Muốn giữ được tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa nơi mình, người Kitô hữu phải luôn ý thức mình thuộc về Thiên Chúa, khi thuộc về Người, thì ta cũng sẽ trở nên những người có: “… lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại.  Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau” Cl 3,12-13).

Mong sao, mỗi khi chúng ta đặt tay lên trán, trên ngực và ngang vai, để tuyên xưng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, thì cũng là lúc chúng ta nhớ đến bản chất của mầu nhiệm này là tình yêu; đồng thời, chúng ta cũng xin Chúa ban cho chúng ta được sống trong tình yêu đó của Thiên Chúa để “… đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2 Cr 13,13), hầu chúng ta cùng mạnh dạn tuyên xưng: “Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng. Amen”.

Jos. Vinc. Ngọc Biển

Dân chủ Pháp trị ở Mỹ

Dân chủ Pháp trị ở Mỹ

Bởi  AdminTD

06/06/2020

Lê Minh Nguyên

Nga là một đất nước, được cấu tạo bởi các yếu tố như dân tộc, lãnh thổ, chính quyền.

Liên Xô là một quốc gia ý thức hệ, nó trừu tượng, được cấu tạo bởi chủ nghĩa cộng sản, tức một quốc gia hiện hữu bằng niềm tin vào một hệ tư tưởng. Khi người ta không còn tin vào hệ tư tưởng này nữa thì nó sụp đổ.

Mỹ là một quốc gia được xây dựng bằng Hiến Pháp. Không có Hiến Pháp sẽ không có nước Mỹ, mà có thể có đến vài chục nước khác nhau cho một vùng Bắc Mỹ đa chủng tộc.

Hiến Pháp là nơi gom góp các giá trị cao đẹp của con người để thể chế hoá thành Dân Chủ Pháp Trị (Democracy and The Rule OF Law). Thể chế này gồm có hai yếu tố cốt lõi là Dân Chủ và Pháp Trị. Nếu một trong hai yếu tố này, hoặc cả hai yếu tố cùng bị sứt mẻ thì chất liệu xã hội (social fabrics) của quốc gia “hợp chủng quốc” sẽ bị rạn nứt, dễ trở thành bán độc tài hay độc tài hoặc vỡ nhỏ ra.

Yếu tố Dân Chủ mà nét chính yếu là niềm tin vào sự bầu cử tự do, trong sáng và công bằng. Nếu niềm tin này bị sứt mẻ, như có sự gian lận, có sự can thiệp của ngoại bang, hay có sự tìm cách hạn chế cơ hội bỏ phiếu của công dân (voters supression)… thì niềm tin vào trụ cột này sẽ bị lung lay, luật chơi bị vi phạm, và thay vào bằng sức mạnh cùng thủ đoạn bẩn dơ, theo đó là sự xuất hiện của những chính khách độc tài.

Yếu tố Pháp Trị mà nét chính yếu là niềm tin vào một xã hội có công lý (social justice), vào nữ thần công lý bịt mắt cầm cân, nam-nữ, mạnh-yếu, nghèo-giàu, sang-hèn đều bình đẳng trước pháp luật. Nếu niềm tin này bị thiếu vắng hay bị xiêu vẹo như sự kỳ thị chủng tộc có hệ thống (systemic racism), sự phân bổ tài sản quốc gia (taxation) không đồng đều, tạo nên khoảng cách chênh lệch giàu-nghèo quá lớn… thì chất liệu xã hội (social fabrics) bị mục rữa, nguy cơ chia rẽ đất nước và các bất ổn dễ xảy ra.

Trong cuốn sách nổi tiếng Trại Súc Vật (Animal Farm) của ông George Orwell mà trong đó các loài thú khác nhau nổi dậy chống người chủ độc tài, với hy vọng xảy dựng một xã hội bình đẳng, tự do và hạnh phúc. Những tưởng là thành công, nhưng mục đích đẹp đẽ này đã bị phản bội, trại bị rơi trở lại vào độc tài bởi heo Napoleon.

Để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, các con thú cùng nhau làm ra một hệ thống giá trị gồm 7 điều răn của Thú Cầm Chủ Nghĩa:

  1. Bất cứ thứ gì đi bằng hai chân là kẻ thù.
    2. Bất cứ thứ gì đi bằng bốn chân, hoặc có cánh, là bạn.
    3. Không thú nào được mặc quần áo.
    4. Không thú nào được ngủ trên giường.
    5. Không thú nào được uống rượu.
    6. Không thú nào được giết thú nào.
    7. Tất cả các con thú đều bình đẳng.

Nhưng sau đó, heo Napoleon muốn làm độc tài nên thay đổi điều răn số 7 thành “Tất cả các con thú đều bình đẳng, nhưng có một số thú bình đẳng hơn những con thú khác”. Còn cái khẩu hiệu “Bốn chân tốt, hai chân xấu” cũng được đổi thành “Bốn chân tốt, hai chân tốt hơn” để heo Napoleon liên minh với người.

Ông Orwell ở Anh là người chỉ trích sự độc tài của ông Stalin và quyển sách này ông muốn châm biếm Stalin.

Ảnh minh họa. Nguồn: Politics In Pink

Nước Mỹ, tất cả các viên chức làm việc cho chính quyền, dù là dân sự hay quân sự đều phải thề trung thành và bảo vệ Hiến Pháp, chứ không phải trung thành và bảo vệ lãnh đạo. Với cấp trên, nhất là trong quân đội mà cấp trên cao nhất là tổng tư lệnh tức tổng thống, họ thề tuân thượng lệnh (hợp pháp). Nếu lệnh bất hợp pháp mà họ vẫn thi hành thì họ phải chịu trách nhiệm cá nhân và có thể bị toà án buộc tội phải ngồi tù.

Dân Chủ Pháp Trị ở Mỹ đòi hỏi người làm việc trong chinh quyền trung thành với một hệ thống giá trị chứ không phải với một cá nhân nào dù người đó ở địa vị cao đến đâu, và không để hệ thống giá trị này bị tương nhượng. Tất cả đều phải đứng dưới Hiến Pháp và Luật Pháp.

Ở Việt Nam, giai cấp đảng viên đứng trên hiến pháp và luật pháp, chỉ khi nào bị khai trừ thì luật pháp mới đụng tới được. Luật pháp họ làm ra là để áp dụng cho dân chứ không phải cho họ. Luật pháp của họ là công cụ để cai trị và họ đặt cho nó một cái tên mỹ miều là Nhà Nước Pháp Quyền (Rule BY Law).

Với 244 năm từ ngày lập quốc, nước Mỹ đã trải qua rất nhiều thử thách cho thể chế Dân Chủ Pháp Trị. Trong thời gian qua đã có khá nhiều dư luận phê bình chế độ tổng thống của Mỹ, thậm chí còn tiên đoán rằng nó sẽ sụp đổ. Nhưng lửa không nóng không thử được vàng. Chỉ có những thử thách lớn mới làm cho Dân Chủ Pháp Trị Mỹ được vững chắc hơn và hoàn hảo hơn. Bởi vì Dân Chủ Pháp Trị nó tạo ra một nền văn hoá chính trị thấm sâu vào máu huyết của toàn dân. Nó trở thành một lề lối sống.

Sóng gió rồi cũng sẽ qua, một chương lịch sử sẽ đóng lại, nhưng quyển sách Dân Chủ Pháp Trị có nguồn cảm hứng từ Hiến Pháp sẽ tiếp tục được viết mãi theo dòng thời gian cùng các thế hệ nối tiếp mở ra về phía trước, vẫn là những trang giấy trắng đợi chờ những nét tinh hoa và những chở chuyên đầy sáng tạo.

Nước Mỹ vẫn là thành phố trên đỉnh đồi, Dân Chủ Pháp Trị vẫn là thể chế tốt nhất cho con người để mưu cầu hạnh phúc.

Đoạn băng ghi âm cuộc họp của WHO tiết lộ Trung Quốc trì hoãn việc cung cấp dữ liệu coronavirus

SBS.COM.AU

Đoạn băng ghi âm cuộc họp của WHO tiết lộ Trung Quốc trì hoãn việc cung cấp dữ liệu coronavirus

Hãng tin AP đã tiếp cận được các cuộn băng ghi âm cuộc họp nội bộ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), và phát hiện rằng Trung Quốc đã trì hoãn cung cấp thông tin quan trọng vào những ngày đầu của đại dịch COVID-19.