Đại sứ Kritenbrink: Mỹ thượng tôn pháp luật ở Biển Đông, sát cánh với Việt Nam

Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.
Đại sứ Mỹ: Mỹ sát cánh với Việt Nam.

VOA 21.07.2020

Đại sứ Kritenbrink: Mỹ thượng tôn pháp luật ở Biển Đông, sát cánh với Việt Nam

Trước những hành động của Trung Cộng nhằm bác bỏ luật pháp quốc tế và dần xóa bỏ quyền chủ quyền và lợi ích của Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo ngày 13/7 tuyên bố thay đổi chính sách của Washington đối với các yêu sách hàng hải, đại sứ Kritenbrink viết.

“Mỹ phản đối bất cứ yêu sách nào của Trung Cộng đối với vùng biển ngoài lãnh hải 12 hải lý tính từ các đảo nước này đưa ra yêu sách ở quần đảo Trường Sa hoặc từ bãi cạn Scarborough”, nhà ngoại giao Mỹ nêu rõ.

Điều này bao gồm cả sự bác bỏ rõ ràng yêu sách của Trung Cộng đối với bãi Tư Chính, nơi Bắc Kinh đã tiến hành “một chiến dịch cưỡng bức và quấy rối hoạt động dầu khí lâu nay của Việt Nam”, vẫn lời của Đại sứ Kritenbrink. Ông viết tiếp rằng Ngoại trưởng Pompeo và Mỹ coi sự bắt nạt này “không chỉ mang tính khiêu khích và gây bất ổn, mà còn là bất hợp pháp”.

Mỹ cho rằng Bắc Kinh lợi dụng việc thế giới tập trung đối phó đại dịch Virus Vũ Hán để đẩy các yêu sách của họ ở vùng biển đi xa hơn, thay thế luật pháp quốc tế bằng tư duy “chân lý thuộc về kẻ mạnh”, người đứng đầu phái bộ ngoại giao Mỹ ở Việt Nam bày tỏ.

Đề cập đến quan hệ ngoại giao song phương kéo dài 25 năm mà hai nước vừa kỷ niệm, và quan hệ Đối tác toàn diện có từ tháng 7/2013, Đại sứ Kritenbrink chỉ ra rằng những tuyên bố của Mỹ cũng là “minh chứng cho sức mạnh” của mối quan hệ này, đồng thời bình luận thêm:

“Lập trường của Mỹ về Biển Đông cho thấy Mỹ sát cánh với Việt Nam để bảo vệ quyền chủ quyền và lợi ích của các bạn nhất quán với luật pháp quốc tế – bao gồm cả quyền đối với các nguồn dầu khí ngoài khơi, và quyền đánh bắt cá, là những điều sống còn cho sự thịnh vượng kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á”.

Đại sứ Mỹ Kritenbrink cũng khẳng định: “Mỹ sát cánh với Việt Nam để bác bỏ sự áp đặt tư duy ‘chân lý thuộc về kẻ mạnh’ tại Biển Đông”.
______

Xem thêm : https://www.voatiengviet.com/a/dai-su-kritenbr…/5509714.html

Image may contain: 1 person

SỰ TRẢ THÙ HÈN HẠ CỦA LŨ SỢ TIẾNG NÓI SỰ THẬT

Hoa Kim Ngo and 3 others shared a post.
No photo description available.
Image may contain: one or more people and people sitting
Şơñ PhêRô is with Khánh Ly and Khanh Ly.

SỰ TRẢ THÙ HÈN HẠ CỦA LŨ SỢ TIẾNG NÓI SỰ THẬT:

Hiện gđ đã gặp Khánh Ly, e đã phẫu thuật và qua cơn nguy kịch hôm qua. Tại Bv Trung Ương Huế và hiện đang nằm phòng hồi sức. E bị Đâm 3 phát, 2 vào bụng và 1 vào chân.

Hiện e đang rất yếu nhưng vẫn gắng tường thuật cho gđ và người bảo hộ e.
Theo như e kể vào khoảng 22h30 ngày 17-7-2020 trên đường đi ăn đêm về nhà tại khu vực thị xã Hồng Lĩnh cách nhà khoảng 600m. E bị 2nam thanh niên bịt khẩu trang đi xe SH không có BKS chặn và hỏi đường e và e bảo không biết. Và 1nam thanh niên xuống xe tiến lại phía e e thấy trong tay cầm 1con dao Thái. E chạy vừa chạy vừa kêu cứu nhưng bị đuổi lại và lúc đấy e thấy ê ẩm toàn thân, e không còn cảm giác gì nữa nhưng e chỉ nghe được câu: NHANH LÊN LẤY ĐỒ CỦA NÓ RỒI ĐÂM CHO NÓ CHẾT! Đến đây e không hề biết gì nữa, cũng chẳng biết ai là người đưa e và Bv Trung Ương Huế nữa.

Vâng: và đây chắc chắc là 1màn TRẢ THÙ hèn hạ của lũ người sợ tiếng nói SỰ THẬT của e Khánh Ly. Vì hiện tại e bị cướp mất 2cái Điện thoại Iphons mà thôi.

Nếu mà vụ việc đơn giản chỉ là CƯỚP thôi thì sao trong túi e có 800nghìn (vnđ) và tay e có đeo lắc vàng và cổ e có đeo vòng cổ vàng sao không bị cướp…?

Ngày mai gđ sẽ gắng tìm hiểu thông tin ai là người gọi xe cứu thương hoặc xe cứu thương nào đưa e vào đây(Bv Trung Ương Huế), gđ sẽ cập nhật sớm nhất.

Khánh Ly cảm ơn tất cả mọi người luôn quan tâm và chia sẽ. Khánh Ly chúc mọi người luôn bình an và thiện hảo. Và đặc biệt những người luôn có tiếng nói sự thật bảo trọng!

Ông Tập Cận Bình lặp đi lặp lại về ‘vai trò trọng tâm của Đảng Cộng sản’ – BBC News Tiếng Việt

 

Ông Tập Cận Bình lặp đi lặp lại về ‘vai trò trọng tâm của Đảng Cộng sản’

6 giờ trước

Lúc Trung Quốc gặp khó khăn, Chủ tịch Tập Cận Bình nhắc đi nhắc lại rằng Đảng Cộng sản lãnh đạo ở ‘Đông, Tây, Nam, Bắc và cả Trung tâm’.

Một bài viết quan trọng của Chủ tịch Trung Quốc, ông Tập Cận Bình đăng trên tạp chí của Đảng Cộng sản hôm 15/07/2020 nhắc lại định hướng “Đảng lãnh đạo tổng thị toàn cục” cho đất nước và xã hội Trung Quốc.

Thế nhưng bài trên tạp chí Cầu Thực (Qiushi – Tìm Sự thật), của Trung ương Đảng CS TQ bị các học giả Phương Tây cho là “nhàm chán, lặp lại” (monotony), và chỉ có mục tiêu khẳng định quyền lực cá nhân của ông Tập.

Tuy thế, giới quan sát cho rằng điều đáng nói chính là sự xuất hiện của bài báo vào lúc Trung Quốc đang gặp khó khăn bên trong: lụt lội lớn, dịch Covid-19 chưa dứt, và bên ngoài: va chạm với Hoa Kỳ, vấn đề Huawei, Hong Kong.

Theo James Palmer viết trên Foreign Policy (17/07) thì bài của ông Tập không có gì mới, chỉ là sự nhắc lại 18 đoạn trích dẫn đã cũ của chính ông.

Phần dẫn nhập thậm chí còn dùng một đoạn trích lời ông Tập từ 2013.

Đây là dấu hiệu mục đích duy nhất của việc đăng bài là nhằm xác tín lại quyền lực của Tập Cận Bình, bài trên Foreign Policy trích chuyên gia về TQ, ông Carl Minzer cho biết.

Việc kiểm soát này gồm hai phần: Đảng nắm tất cả, và ông Tập Cận Bình là hạt nhân, nắm trọn quyền trong Đảng.

‘Đặc sắc Tập Cận Bình’

Bản tiếng Anh của bài có tựa đề nói rõ rằng: “Sự lãnh đạo của Đảng chính là nét đặc sắc trọng yếu nhất của Chủ nghĩa xã hội mang đặc tính Trung Hoa”.

“Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc là sự lựa chọn của toàn thể nhân dân Trung Quốc, gồm các đảng phái dân chủ, tổ chức xã hội, dân tộc, các gia tầng và tất cả mọi người.”

Cụm từ quen thuộc “Đông, Tây, Nam, Bắc, và Trung tâm, mọi nơi đều do Đảng lãnh đạo”, được nhắc lại năm lần trong bài.

James Palmer viết trên trang Foreign Policy, gọi đây là “Bài báo Đỏ nhỏ xíu”, (Xi’s Little Red Article), gợi lại hình ảnh cuốn Mao Tuyển (Mao’s Little Red Book), để cho rằng tư duy nhàm chán của ông Tập tuy thế rấ̃t nguy hiểm.

Còn Richard McGregor, cựu phóng viên báo Anh, tờ Financial Times tại Trung Quốc, hiện là học giả ở Viện Lowy Institute ở Sydney, Úc thì cho rằng ông Tập Cận Bình đang tìm cách nhấn mạnh, để lỡ có ai quên, về vai trò trung tâm của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

McGregor cũng viết trên tờ The Sunday Times hôm Chủ nhật 19/7 rằng nhân dịp vụ Anh loại Huawei, truyền thông Trung Quốc, và cả một số nhà ngoại giao Trung Quốc công khai đe dọa Anh.

Tuy thế, ông McGregor, tác giả cuốn sách hồi 2010 về Đảng Cộng sản Trung Quốc, “The Party: The Secret World of China’s Communist Rulers” tin rằng với nước Anh, lời đe dọa của Trung Quốc không hiệu quả với Anh, vì trên thực tế, chỉ có 4% hàng xuất khẩu từ Anh là sang Trung Quốc, năm 2019.

Kinh tế Anh vì thế, không lệ thuộc nhiều vào Trung Quốc như kinh tế Úc, vì Úc xuất đi 40% hàng xuất khẩu sang Trung Quốc.

Ngoài ra, Anh vẫn đang nắm trong tay lá bài quyết định hay không về số phận của công ty Trung Quốc trong hợp đồng xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở Bradwell-on-Sea, Essex.

Tuần trước, một tác giả khác, Ambrose Evans-Richard viết trên tờ The Telegraph rằng Anh Quốc không việc gì phải sợ Trung Quốc, vì theo ông, kinh tế Trung Quốc “đã lên tới đỉnh (peaked), và sẽ chỉ đi vào đình trệ”. Điều quan trọng nhất, theo Evans-Richard, là chế độ của Tập Cận Bình không có một đồng minh kinh tế nào nữa.

Ngoại giao Trung Quốc lên tiếng

Gần đây, giới ngoại giao Trung Quốc lên tiếng mạnh mẽ phản đối ‘sự bao vây” của Phương Tây và lên án các hoạt động của Mỹ, Anh ở châu Á.

Đại sứ Trung Quốc tại Anh, ông Lưu Hiểu Minh gần đây nhất xuất hiện trên chương trình phỏng vấn của phóng viên BBC Andrew Marr bác bỏ các cáo buộc về việc Trung Quốc giam giữ người Hồi giáo ở Tân Cương trong các trại cải tạo.

Ông Lưu Hiểu Minh nói với Andrew Marr rằng người Uighurs được đối xử giống như bất kỳ các nhóm sắc tộc nào khác ở Trung Quốc.

Trong một động thái khác thường, tuần trước, trang Facebook của Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội đăng bài của Tổng biên tập Hoàn cầu Thời báo, ông Hồ Tích Tiến, cảnh báo Việt Nam không đứng về phía Hoa Kỳ.

“Quan hệ quốc tế như trò trẻ con, thích dở mặt thì dở mặt. Mỹ hiện dành muôn vàn cưng chiều cho Việt Nam, mục đích chỉ có một, đó là ly gián quan hệ Trung– Việt, dung túng Việt Nam đối trọng với Trung Quốc trong vấn đề trên biển khiến Việt Nam cũng trở thành con cờ phục vụ cho chiến lược Mỹ chèn ép Trung Quốc.”

Ông giải thích về các lý do vì sao quan hệ Trung – Việt quan trọng, gồm cả câu về ý thức hệ chung: xã hội chủ nghĩa”, và “thực lực giữa Trung Quốc và Việt Nam là không sao thay đổi”.

Điểm quan trọng hơn cả, theo ông Hồ Tích Tiến, là Việt Nam cần trách bị Hoa Kỳ “lợi dụng”.

Vài hôm sau, nội dung bài của ông Hồ Tích Tiến bằng tiếng Việt đăng tải nhân dịp Mỹ – Việt kỷ niệm 25 năm quan hệ ngoại giao đã bị bỏ khỏi trang Facebook của Đại sứ quán TQ tại Việt Nam.

BBC.COM

Ông Tập Cận Bình lặp đi lặp lại về ‘vai trò trọng tâm của Đảng Cộng sản’ – BBC News Tiếng Việt

TBT Tập Cận Bình nhắc lại định hướng ‘Đảng lãnh đạo tổng thị toàn cục’ cho đất nước và xã hội Trung Quốc.

Ngoại trưởng Mỹ Pompeo tuyên bố nức lòng 90 triệu dân Việt Nam

httpv://www.youtube.com/watch?v=BhE2AB3igDg&feature=share&fbclid=IwAR0OrWTdMJHDwYrDgFHTosPZCps2GQr5fWwolFMr7fEjdEkHxsAXaz4DSWc

DTV Thuyết Minh: Ngoại trưởng Mỹ Pompeo tuyên bố nức lòng 90 triệu dân Việt Nam

DTV Thuyết Minh Tiếng Việt: Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo tuyên bố sẽ dùng mọi biện pháp để giúp các quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh hải hợp pháp tại Biển Đông trước nguy cơ xâm chiếm và bành trướng lãnh thổ của Trung Cộng. Một thông tin gây nức lòng 90 triệu dân tại Việt Nam và chỉ có thể xảy ra dưới thời của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump mà thôi.

Cuộc sống trong căn nhà siêu nhỏ ở quận 1

Kimtrong Lam
Cuộc sống trong căn nhà siêu nhỏ ở quận 1

Chủ Nhật, ngày 19/07/2020

Căn nhà có diện tích đất vỏn vẹn hơn 2m2 với 4 người sinh sống và có thể xem đây là một trong những căn nhà siêu nhỏ ở TP HCM.

Đó là căn nhà của ông Nguyễn Văn Em (58 tuổi) nằm sâu trong hẻm 16 Nguyễn Thái Học, quận 1, TP HCM.

Ông Em cho biết do diện tích căn nhà quá nhỏ nên lúc trước, muốn đi tắm gia đình ông phải đi bộ ra công viên hoặc tìm nhà vệ sinh công cộng.

Căn nhà ông Em có diện tích đất vỏn vẹn hơn 2m2 và cửa ra vào căn nhà thấp hơn chiều cao của vợ ông Em.

Muốn lên xuống căn gác phải lên cầu thang thẳng đứng và chui khéo léo qua các khe hở.

Những năm gần đây, có điều kiện ông Em làm bệ xí ngay trước cửa ra vào, cạnh bếp ăn. Nhà chật đến mức vợ nấu ăn một chân đặt trong nhà, chân còn lại bỏ ngoài đường.

Phía trên là 2 căn gác gỗ xập xệ. Tầng thứ nhất, là nơi đặt đồ dùng sinh hoạt, tivi và tạm gọi là “phòng khách”. Nơi chỉ có thể cho một người ngồi bó gối xem truyền hình. Tầng phía trên nữa là phòng ngủ nơi chỉ đủ cho 1 người.

Tầng trệt căn nhà là khu vực nhà vệ sinh và nhà bếp. Lối lên là cầu thang sắt bên tay trái.

Tầng 2 căn nhà là phòng ngủ, sau khi ngã lưng chân thò ra cửa sổ mới ngủ được. Lối lên xuống chỉ vừa cơ thể một người gầy.

Cầu thang làm tạm bợ dựng đứng, nếu người lạ muốn lên xuống cần phải có sự trợ giúp. Muốn họp mặt gia đình phải ra ngoài đường.

Nhưng theo ông Em đó là cái giá xứng đáng khi phải chấp nhận sống ở giữa trung tâm TP HCM để mưu sinh. Hơn 40 năm, cả gia đình sống bằng nghề bán trái sơ-ri ở chợ Cầu Ông Lãnh (quận 1) và gia đình phải bám víu vị trí này mới có thể mưu sinh được.

Phòng khách nằm tầng 1 căn nhà, đi lên bằng cầu thang sắt và chỉ vừa một người ngồi để xem tivi.

Căn nhà có 4 người sinh sống, gồm vợ chồng ông và hai người con. Buổi tối có 2 người ngủ ở tầng trên cùng và 2 người còn lại mang ghế ra ngoài đường nằm. Thi thoảng lại thay nhau vị trí để ngủ.

Gần đây ông Em bị bệnh tiểu đường, suy thận dẫn đến biến chứng mù hai mắt khiến ông bám chặt vỉa hè hơn là căn nhà siêu nhỏ.

Vợ ông Em muốn soi gương phải đứng vị trí cách kính 15cm.

Phòng khách của gia đình chỉ vừa một người ngồi nhưng chân phải bó sát vào cổ mới có thể xem được truyền hình.

Bàn thờ và tủ lạnh được trang bị ngay cầu thang lên xuống.

Mới đây, trong kế hoạch thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững của TP HCM, Sở Xây dựng báo cáo trong năm 2020, phấn đấu xây dựng để ra mắt thị trường 4,8 triệu m2 nhà ở, cộng gộp lại sẽ đạt mục tiêu bình quân 20 m2/người như kỳ vọng.

Trong khi đó, trường hợp của ông Em không phải là hiếm ở đây. Trong con hẻm này ít nhất trên 5 căn rơi vào cảnh tương tự. Thực trạng hiện nay, tồn tại rất nhiều căn nhà siêu nhỏ trong khi hàng loạt căn hộ trong các chung cư cao tầng về đêm vẫn tối đèn.

Nguồn: https://nld.com.vn/…/cuoc-song-trong-can-nha-sieu-nho-o-qua…

Image may contain: 1 person, standing
Image may contain: people sitting and indoor
No photo description available.
Image may contain: one or more people
Image may contain: 1 person, sitting
+4

Dịch Covid-19 tăng tốc trên thế giới, đẩy số tử vong vượt ngưỡng 600.000 người

Từ Thức to TT GROUP

Nhiều chuyên gia Pháp đã nói từ lúc đầu: sẽ phải sống với virus 2,3 năm nữa, trừ khi tìm ra vaccin,

Khi nào trên thế giới còn có nơi bị nhiễm dịch, không nơi nào an toàn. Virus không ngừng ở biên giới, không ngại leo tường

Đại dịch Covid-19 càng lúc càng có dấu hiệu lan mạnh trở lại trên thế giới, đặc biệt tại các ổ dịch lớn hiện nay. Ngày 18/07/2020, Tổ chức Y tế Thế giới WHO/OMS báo động về số ca nhiễm toàn cầu trong…
About this website

“Một dân tộc không thích đọc sách là một dân tộc không có hy vọng” – Trí Thức VN

Từ Thức to TT GROUP

Chỉ cần đổi chữ ”người Trung quốc” trong bài thành người An Nam. Khỏi phải viết bài khác

Mới đây, bài viết có tiêu đề “Người Trung Quốc không đọc sách khiến người ta quan ngại” của một kỹ sư người Ấn Độ rất nổi tiếng trên mạng.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Địa Đàng Hạnh Phúc

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Địa Đàng Hạnh Phúc

Ảnh của tuongnangtien 

tuongnangtien

Bản chất nó là cuồng bạo
Huênh hoang lấp biển vá trời
“Kiến tạo địa đàng – hạnh phúc”
Khốn nạn thay!

Phùng Cung

Tôi có chút giao tình (không đậm đà gì mấy) với nhà văn Vũ Thư Hiên. Chúng tôi không sinh cùng nơi, cũng chả sống cùng thời, tính tình lại hoàn toàn khác biệt nên chuyện trò giữa ông và tôi đôi lúc (nghe) hơi trệu trạo.

Gặp bất cứ ai tôi cũng chỉ thích nói về mình, và “văn mình” thôi. Văn mình vợ người là chuyện thường tình nhưng riêng Vũ Thư Hiên thì bất bình thường thấy rõ.  Lúc nào ông cũng say sưa bàn về tác phẩm, hay nhân vật, của… một người cầm bút khác:

      –   Dứt khoát là phải làm một cuốn phim về cuộc đời của Già Đô thôi.

      –    Dạ vâng!

      – Không làm thì tiếc lắm đấy.

      – Dạ đúng!

Tôi cứ “vâng/dạ” đều đều (và nhẹ hều) như vậy vì chả hào hứng chút nào về chuyện của thiên hạ, và cũng vì đã nghe về cái dự tính điện ảnh này gần chục lần rồi.

Già Đô là ai?

“Già là một lính thợ Pháp quốc trong đại chiến thế giới thứ hai. Từ Pháp già đã tới Algérie, Maroc (cái lý lịch ấy thật tai vạ cho già). Già đã là thợ đốt lò dưới con tàu Commerce Maritimes thuộc hãng Đầu Ngựa. Hải Phòng – Marseille là hành trình những năm tuổi trẻ của già. Làm được hai năm già thôi việc. Chỉ vì già không chịu được những lời mắng nhiếc của chủ… Già bỏ tàu lên thành phố Marseille. Vào quán rượu quen. Uống. Uống nhiều. Và không trở về tàu nữa. Lang thang ở Marseille cho đến đồng frăng cuối cùng, già tìm được việc làm trong một xưởng sửa chữa xe có động cơ. Từ xe gắn máy, các loại ô-tô tới xe nâng, cần cẩu. Tại đây già bị động viên vào một đơn vị cơ giới. Già sang Maroc, Algérie, vẫn làm nhiệm vụ sửa xe.

Đại chiến thế giới thứ hai kết thúc. Già trở về Marseille. Trở về xưởng cũ. Lấy vợ. Cô Jeannette bán hoa quả ở gần bến cảng lớn bổng lên khiến già ngỡ ngàng, xao xuyến. Hai vợ chồng vay vốn mở một tiệm rượu nhỏ. Khách là những người phu pooc-tê, những thuỷ thủ, những người thợ nhan nhản ở thành phố Marseille.

Rồi già biết quê nhà đã được độc lập. Niềm sung sướng lớn lao và nỗi nhớ quê hương, nỗi sầu biệt xứ bỗng cồn cào trong lòng không chịu nổi. Càng không chịu nổi khi biết tin hiệp nghị Genève đã ký kết. Một nửa đất nước được độc lập. Lại thêm thôi thúc vì chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo đất nước là người từng lâu năm ở Pháp, cũng từng là một mạch-lô.

Già về nước. Khi đó bà Jeannette đã sinh cho già một cô con gái xinh đẹp, có nước da trắng của bà, có mái tóc và đôi mắt đen của già Đô. Mặc bà vợ khóc can ngăn, già nhất định về nước. Rồi già sẽ sang đón bà về. Độc lập rồi, xây dựng sẽ rất nhanh. Đất nước sẽ phát triển rất nhanh. Dân tộc ta thông minh, cần cù, chiu khó lại được bao nước giúp đỡ. Đất nước đang cần những bàn tay như già…” (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập II. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).

Nói tóm lại, và nói một cách ví von: Già Đô là một Nguyễn Mạnh Tường của giới công nhân nhưng trung vận, cũng như hậu vận, đen đủi hơn cái ông luật sư (bất khuất và bất hạnh) rất nhiều. Ông Tường không bị CS giam cầm một ngày nào ráo, và cuối đời vẫn còn có hội lên tiếng (Une Voix Dans La Nuit) giữa kinh đô ánh sáng Paris trước khi nhắm mắt. Già Đô không có cái may mắn đó. Ông chết vì đói lạnh, trong một cái miếu hoang ở Việt Nam, sau khi “thất bại” trong việc làm đơn xin trở lại trại tù – vẫn theo như lời của Bùi Ngọc Tấn:

“Khoảng một tháng sau, già Đô trở lại nhà hắn. Ở nhà hắn đi ra như thế nào, già trở lại cũng y như vậy. Một Vitali cô đơn, bị bọc, rách rưới, mang xách, nặng mùi. Có một điều khác: Tàn tạ hơn, mệt mỏi hơn, nhưng ẩn một tia hy vọng vì đã tìm ra lối thoát. Già hỏi hắn: ‘Cụ có giấy bút không?’ Và nhanh nhẹn đỡ lấy những thứ đó từ tay hắn. Già đeo kính. Cái kỉnh lão mắt tròn tròn cổ lỗ hồi đầu thế kỷ, một mắt lại vỡ rạn hẳn là quá nhẹ với già, nên già phải ngửa đầu ra phía sau mà nhìn vào tờ giấy. Già viết rất khó khăn… 

Bỗng già buông bút, nhìn hắn:

– Hay là cụ viết giúp tôi.

Hắn vui vẻ nhận lời. Già đọc:

– Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Kính gửi Sở Công an.

– À, gượm đã. Hay là kính gửi Ban giám thị trại VQ nhỉ?

– Nhưng mà nội dung đơn là gì cơ?

– Tôi xin trở lại trong ấy.

Hắn choáng người, đặt bút xuống, nhìn già chăm chăm.

– Tôi suy nghĩ kỹ rồi, cụ ạ. Ở trong ấy tốt hơn.

Già chớp chớp mắt:

– Đời tôi là không gia đình. Ở đâu cũng vậy thôi…

– Ở ngoài này tôi không chịu đựng nổi nữa rồi.

Hắn cảm thấy già có lý: Với già sống ở ngoài đời đáng sợ hơn chết ở trong tù nhiều lắm.

–  Thế thì phải làm đơn gửi Sở Công an. Trại người ta không nhận đâu. Phải là từ Sở đưa lên. Trại đã xuất kho mình rồi, ai người ta nhập kho mình nữa.

–  Ý tứ thế. Cụ viết giúp tôi.

Hắn viết. Già ngồi im lặng. Hắn bảo già:

–  Cụ nghe tôi đọc lại nhé.

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Đơn xin vào lại trại cải tạo… (B. Tấn, sđd 224 – 225).

Lạ nhỉ! Sao một công dân của một quốc gia Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc mà lại  làm đơn xin “vào lại trại cải tạo”, hả Giời? Mà hạnh phúc ở Việt Nam đâu có quá xa vời hay quá tầm tay với của bất cứ ai. Nó tràn lan khắp hang cùng ngõ hẹp và tràn ngập khắp mọi nhà mà. Nơi đất nước này, đã có lúc, hễ ra ngõ là gặp anh hùng. Còn bây giờ, cứ mở mắt ra là thấy ngay hạnh phúc:

  • Nguyễn Phú Trọng, TBT kiêm CTN: “Mỗi mùa xuân có Đảng là một mùa hạnh phúc an vui.”
  • Nguyễn Thị Quyết Tâm, Phó Bí thư Thành Ủy TP.HCM: “Việc con em lãnh đạo được giao trọng trách quản lý là điều hạnh phúc của dân tộc.”
  • Nguyễn Hồng Diên, Phó Trưởng Ban Tuyên Giáo TƯ : “Trường hợp đặc biệt về tuổi như Tổng bí thư là hạnh phúc của Đảng, dân tộc.”

Quan niệm của đám thường dân cũng thế, cũng “đơn sơ” lắm – theo như cách dùng từ của blogger Ku Búa:

“Đa số người dân Việt Nam có định nghĩa rất đơn sơ đối với ‘Hạnh Phúc.’ Họ không cần quá nhiều để cảm thấy vui vẻ. Một anh công nhân chỉ cần có việc làm trả lương. Một cô bán bán hàng chỉ cần ngày nào cũng có khách. Một người dân nông chỉ cần làm vài vụ một năm. Một sinh viên chỉ cần thi qua môn. Như vậy là đủ…”

Chả những “đủ” mà còn dám “dư” nữa là đằng khác vì hạnh phúc (hay đau khổ) đều do do nhận thức mà ra cả, và nhận thức thì luôn luôn rất chủ quan và tương đối. Xin đan cử một thí dụ:

Đang đêm khuya khoắt bỗng nghe tiếng xe thắng gấp trước nhà, công an nhẩy xuống rầm rập và túm cổ ngay cái thằng cha ở cạnh bên. Thế là bạn thở phào nhẹ nhõm. Vậy chả hạnh phúc sao?

Ngay cả khi chính bạn bị vồ lên đồn chăng nữa nhưng chỉ vài ngày sau là được thả luôn. Chả những thế, bạn vẫn có thể ra khỏi đồn công an (bằng chính đôi chân của mình) không cần đến băng ca hay brancard gì cả. Thế mà không hạnh phúc à?

Điều trở ngại lớn nhất trong việc mưu tìm hạnh phúc là chúng ta luôn luôn mong muốn một thứ hạnh phúc lớn hơn (hoặc nhiều hơn) chút nữa . Ấy chớ bạn ạ. Ở VN mà còn được thở, và thở được, là hạnh phúc lắm rồi, dù không khí có ô nhiễm hay ngột ngạt đến đâu chăng nữa.

Chế độ cộng sản VN: Cỗ máy nghiền nát nhân tài nước Việt

Chế độ cộng sản VN: Cỗ máy nghiền nát nhân tài nước Việt

Ảnh của nguyenvandai

nguyenvandai

Báo điện tử Vietnamnet ngày 13 tháng 7 có bài viết của tác giả TS Đinh Đức Sinh với tiêu đề

Chọn nhân sự cấp chiến lược: Cuộc tổng tìm kiếm hiền tài

Trước đó, cũng trên tờ báo này, tác giả Đinh Duy Hòa,  có bài “Nhân tài: Người là ai, đang ở đâu”?

Có vẻ như đất nước Việt Nam đang rất hiếm nhân tài về chính trị để phục vụ đất nước. Vậy thực hư thế nào chúng ta cùng đi trả lời cho các câu hỏi sau để tìm ra đáp án?

Câu hỏi đầu tiên, Việt Nam có nhân tài về chính trị để lãnh đạo đất nước không?

Việt Nam với dân số khoảng 97 triệu người. Trong khoảng 2 thập kỷ trở lại đây, mỗi năm có hàng chục ngàn bạn trẻ đi du học ở các nước dân chủ văn minh Âu, Mỹ theo các hình thức khác nhau. Các trường đại học trong nước cũng đào tạo ra hàng trăm ngàn sinh viên mỗi năm. Trong số các sinh viên đã tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ ở trong và ngoài nước, đa số họ là nhân tài của đất nước.

Trong lịch sử khoảng 4000 năm của dân tộc Việt Nam, thời nào cũng có nhân tài giúp xây dựng và phát triển đất nước.

Nhưng có thể nói dưới sự cai trị của đảng và chế độ CSVN thì không có một nhân tài nào xuất hiện mà chỉ xuất những kẻ bất tài, vô đức cai trị Nhân dân, chiếm đoạt tài sản của Nhân dân và của quốc gia như Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Xuân Anh, Tất Thành Cang,…

Câu hỏi thứ hai là  chế độ cộng sản Việt Nam là nơi ươm mầm, đào tạo tài năng hay là cỗ máy nghiền nát tài năng của nước Việt?

Thứ nhất, nhà nước cộng sản thực hiện một chế độ lương bổng thấp, chưa tới 200USD cho một công chức, viên chức mới được tuyển dụng, Với mức lương này không đủ để họ song và yên tâm học tập, nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm và cống hiến.

Họ vận lộn với chuyện cơm, áo, gạo, tiền, cuộc sống hàng ngày. Họ phải tìm mọi mánh khóe, thủ đoạn để kiếm thêm thu nhập. Họ nhìn thấy đồng nghiệp lâu năm, cấp trên của họ chẳng có tài năng gì, nhưng giàu có nhờ thủ đoạn xấu. Như vậy thì họ không phải dành thời gian để học tập và nghiên cứu, mà dành thời gian để tích lũy kinh nghiệm xấu và thủ đoạn. Tài năng của các công chức, viên chức trẻ dần dần mai một và biến thành những con chuột, lươn và trạch.

Chúng ta đã thấy căn cứ đầu tiên chế độ CSVN là cỗ máy nghiền nát tài năng nước Việt

Thứ hai là việc bổ nhiệm các cấp lãnh đạo không công bằng, dân chủ mà đó là việc mua quan, bán chức.

Mọi chức vụ trong hệ thống chính trị của chế độ cộng sản VN đều có thể mua bán, trao đổi. Một ví dụ điển hình là việc cựu Bộ trưởng 4T Nguyễn Bắc Son đã hứa với cựu thứ trưởng 4T lúc đó là Trương Minh Tuấn rằng nếu Tuấn ký chấp nhận cho Tổng công ty MobiFone mua lại công ty AVG thì Tuấn sẽ ngồi vào ghế Bộ trưởng khi Son nghỉ hưu. Và thực tế diễn ra đúng kịch bản.

Hay việc mua quan bán chức của Trịnh Xuân Thanh, Hồ Thị Kim Thoa,….

Việc mua quan bán chức trong chế độ CSVN cũng nghiền nát nhân tài nước Việt.

Thứ ba là nạn con ông, cháu cha làm mưa làm gió trong hệ thống chính trị.

Trong các cơ quan nhà nước cộng sản luôn tồn tại các con ông cháu cha. Bọn này lợi dụng mối quan hệ của cha mẹ, chú bác của chúng để lũng loạn, chèn ép những người có tài nhưng không có thế.

Kết quả những người có tài phải rời bỏ cơ quan hay chấp nhận làm tay sai cho bọn con ông, cháu cha.

Thứ tư là nạn bè phái, nhóm lợi ích trong hệ thống chính trị

Trong bất cứ cơ quan công quyền nào của chế độ CSVN đều tồn tại các nhóm bè phái hay nhóm lợi ích. Chúng vừa tranh giành, vừa đấu đá với nhau để đoạt quyền lực, để tham nhũng và vơ vét tài nguyên của đất nước.

Những người có tài không thể đứng thẳng mà phải luồn cúi theo các băng nhóm trong hệ thống đó. Kết quả là tài năng của họ bị thui chột và họ từng bước cũng trở thành những tham lam và xấu xa.

Thứ năm, quan điểm và ý thức chính trị quyết định việc thăng quan tiến chức.

Việc đặt nặng ý thức chính trị cao hơn tài năng của chế độ CSVN cũng bóp chết những tài năng từ trong trứng nước. Bởi ý thức hệ cộng sản lạc hậu và hủ bại đã được chứng minh trên thực tế. Nó chỉ tạo ra những con người giả dối, những con chuột, lươn, trạch trong hệ thống chính trị cộng sản VN.

Vậy câu hỏi cuối cùng là làm sao để các nhân tài nước Việt có quyền và cơ hội cống hiến tài năng phục vụ đất nước và Nhân dân?

Chỉ có người hiền tài mới chọn và sử dụng được người hiền tài!

Nhưng cả hệ thống chính trị cộng sản Việt Nam đều hủ bại và thối nát nên nó không thể chọ được hiề tài và sử dụng hiền tài.

Cách duy nhất là Nhân dân Việt Nam phải tiến hành một cuộc Cách mạng xã hội hay Cách mạng dân chủ để giải phóng đất nước khỏi sự cai trị của giặc nội xâm.

Xây dựng chế độ tự do, dân chủ đa đảng, khi đó mọi công dân Việt Nam có quyền tự do thành lập, hoạt động đảng phái chính trị. Mọi người được tự do ra ứng cử, Nhân dân có quyền tự do lựa chọn và quyết định người lãnh đạo đất nước, đảng cầm quyền.

Đó là lúc mọi tài năng của nước Việt có quyền và cơ hội phục vụ đất nước và Nhân dân.

“ĐỪNG SỢ” trong mùa Đại Dịch Toàn Cầu này

“ĐỪNG SỢ” trong mùa Đại Dịch Toàn Cầu này.

 Fx Nguyễn Văn Mơ

Làm thống kê sĩ số tổng kết những người ít lo sợ bị lây nhiễm Đại Dịch Bệnh Covid Wuhan – so sánh với sĩ số những người lo sợ nhiều, chắc chắn chúng ta sẽ thấy cán cân nghiêng hẳn về bên sợ là đại đa số, còn bên không sợ là thiểu số. Dịch bệnh Covid Wuhan đã, đang và còn hoành hành dữ dội, từ Á Châu sang Âu Châu, rồi sang đến Mỹ Châu. Cho đến nay,  dịch bệnh Covid Wuhan vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm ở nhiều nơi, nhất là tại Hoa Kỳ còn cộng thêm bạo loạn chưa từng xảy ra khủng khiếp từ hồi lập Quốc tới giờ, bên Trung Quốc + thêm lụt lội kinh hoàng, rồi đến các Quốc gia châu Mỹ La Tinh như Ba Tây, Mễ Tây Cơ đang đứng đầu trong 213 Quốc Gia có nhiều người chết vì Dịch Bệnh Corona Wuhan. Tổ Chức Y Tế Thế Giới còn xác quyết  rằng dịch bệnh vẫn chưa có dấu hiệu nào chậm lại. Vậy mà bảo rằng:

* “ĐỪNG SỢ” trong mùa đại dịch toàn cầu này, tôi thấy chỉ có mình tự cứu mình bằng cách ý thức, cẩn trọng tối đa, tuân hành các qui luật  nghiêm ngặt của Chính Quyền điạ phương, có như thế may ra mới hy vọng bớt được lây lan Dịch Bệnh cực kỳ nguy hiểm gây chết người này.

* “ĐỪNG SỢ” quá đáng rồi gây ra lộn xộn trong gia đình. Lúc này là thời gian thử thách căm go nhất trong mọi gia đình vì nhiều lý do ảnh hưởng lớn lao đe doạ cuộc sống gia đình: cha mẹ mất công ăn việc làm, con cái phải học trực tuyến ở nhà, gia đình gặp khó khăn, eo hẹp về tài chánh, bị Chính Quyền ra lệnh Lockdown.

Mặc dù còn nhiều lý do hơn nữa đang tác hại đến hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, cha mẹ là những người có thể giữ vững tay chèo và đưa con thuyền gia đình mình lướt trên sóng gió bình an, chính là nhờ tình yêu thương gắn bó, quyết tâm sống chết có nhau, nhất là các thành viên trong gia đình đều đặt hết niềm cậy trông vào Chúa.

How (Covid – 19) spread day by day

Cho Con Thấy Chúa – Sr Hiền Hòa [Lyric]:

https://www.youtube.com/watch?v=gt3gyjaYjjE

Để có đủ niềm tin, lòng trông cậy, hầu tăng thêm nghị lực cho chúng ta dẹp bỏ được những lo sợ đủ thứ do Đại Dịch Wuhan đang tác hại, làm cho muôn vàn gia đình sinh ra lộn xộn. Chúng ta cùng nhau lần giở lại trong Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước, rồi bình tâm đọc đi, đọc lại và suy ngẫm Lời Chúa và các Thánh Nhân của Ngài truyền thừa qua các trích dẫn sau đây:

ISAIA:

“Đừng sợ hãi: có Ta ở với ngươi. (Is 41: 10).

GIOSUE:

“Mạnh bạo lên, can đảm lên! Đó chẳng phải là lệnh Ta đã truyền cho ngươi sao? Đừng run khiếp, đừng sợ hãi, vì ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, sẽ ở với ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi tới.” (Gs 1:9)

THÁNH VỊNH 49

17 Đừng sợ chi khi có kẻ phát tài,
hoặc cửa nhà tăng thêm vẻ phong lưu,

18 vì khi chết, nó đâu mang được cả,
kiếp vinh hoa chẳng theo xuống mộ phần. (Tv 49: 17-18)

 MATTHEW:

“Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục. Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ. (Mt 10: 28-31) (Lk 12: 2-9).

“Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14: 27).

“Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ!” (Mt 17: 7).

“Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ: “Này các bà, các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói.” (Mt 28: 5-6).

MARK:

“Khoảng canh tư đêm ấy, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông và Người định vượt các ông. Nhưng khi các ông thấy Người đi trên mặt biển, lại tưởng là ma, thì la lên. Quả thế, tất cả các ông đều nhìn thấy Người và đều hoảng hốt. Lập tức, Người bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ! “(Mc 6: 48-50).

“Đức Giê-su còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa? “Nhưng Đức Giê-su nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.” (Mc 5: 35-36).

LUKE:

“Nhưng sứ thần bảo ông: “Này ông Da-ca-ri-a, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin.” (Lk 1:13).

“Sứ thần liền nói: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa” (Lk 1: 30).

“Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-môn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” (Lk 5: 10).

“Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi, là con gái ông sẽ được cứu.” (Lk 8: 50).

“Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.” (Lk 21: 25-28).

“Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em! ” Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói: “Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực? (Lk 24: 36-38).

GIOAN

“Chiều đến, các môn đệ xuống bờ Biển Hồ, rồi xuống thuyền đi về phía Ca-phác-na-um bên kia Biển Hồ. Trời đã tối mà Đức Giê-su chưa đến với các ông. Biển động, vì gió thổi mạnh. Khi đã chèo được chừng năm hoặc sáu cây số, các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt Biển Hồ và đang tới gần thuyền. Các ông hoảng sợ. Nhưng Người bảo các ông: “Thầy đây mà, đừng sợ! ” Các ông muốn rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến.” (Gioan 6: 16-21).

“Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.” (Gioan 14: 27).

“Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.” (Gioan 16: 33).

PHILIPPHÊ

“Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su”. (Phil 4:6-7).

THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong ngày đầu tiên lãnh đạo Giáo Hội đã lặp lại lời Thầy Chí Thánh: Đừng sợ”. Trong suốt triều đại giáo hoàng của mình, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã không ngừng kêu gọi toàn thể Hội Thánh và mọi người trên thế giới Đừng sợ”:

 “Anh chị em đừng sợ đón lấy Chúa Kitô và nhận lấy quyền năng của Người!”.

 “Anh chị em đừng sợ! Hãy mở ra, mở toang mọi cánh cửa đón lấy Chúa Kitô! Hãy mở mọi biên giới các quốc gia, các hệ thống chính trị, những lãnh vực bao la của nền văn hóa, văn minh, phát triển cho quyền năng cứu độ của Chúa bước vào”.

 Đừng sợ! Chúa Kitô biết rõ mọi điều trong lòng người”! Và chỉ một mình Người biết rõ” (Thánh Gioan Phaolô II, Giáo Hoàng – Bài Giảng Lễ Khai Mạc Sứ Vụ Tông Đồ Phêrô).

 Đừng sợ đón lấy và thực thi lối sống Tin Mừng. Đó là sống yêu thương, không hận thù, như chính Đức Kitô yêu thương và đã tha thứ cho kẻ bách hại mình: “Tình yêu thì kiến tạo. Chỉ có tình yêu mới có thể kiến tạo được. Còn thù hận thì phá hủy. Lòng hận thù không kiến tạo được gì hết. Nó chỉ gây đổ vỡ. Nó làm tan nát đời sống xã hội. Nó chỉ có thể gây sức ép đối với những người yếu đuối và chẳng xây dựng nổi một điều gì” (Gioan Phaolô II – Bài Giảng Lễ nhận Nhà Thờ Chánh Tòa Gioan Latêranô của Giám mục Rôma).

ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI

Trong Sứ điệp Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ XXVII, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã viết: “Các bạn trẻ thân mến, đừng sợ phải liều mạng mình cho Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài. Đó là phương cách tìm được bình an nội tâm và hạnh phúc đích thực”.

ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ

“Lúc đó cũng vậy, cũng có nỗi sợ về tương lai và tất cả những gì cần phải được xây dựng lại. Một ký ức đau đớn, một hy vọng bị cắt ngắn. Đối với họ, đối với chúng ta, đó là giờ đen tối nhất”. Đừng sợ, đừng để sợ hãi lấn át: đây là thông điệp của hy vọng. Nó được gửi đến chúng ta hôm nay”. (Bài Giảng Lễ Phục Sinh – Năm 2020 – Bài Tin Mừng các phụ nữ ra viếng Mộ Chúa Giêsu).

Một khi chúng ta vừa đọc qua hết các thượng dẫn khuyên răn chúng ta đừng sợ. Chúng ta cần chọn một nơi chốn riêng tư, tìm giờ giấc thích hợp, rồi trầm lắng tâm hồn mình để gặp gỡ, kết hợp với Chúa trong lời cầu nguyện: xin Chúa là khiên che, thuẫn đỡ giúp cho mình xa lánh những lo toan vượt quá sức mình. Với lòng tin cậy, phó thác tuyệt đối vào Chúa, chắc chắn Chúa sẽ làm cho sóng lặng, gió yên trong tâm hồn chúng ta , như Thánh Phêrô đã hết sợ tức thì, khi Ngài thấy có Chúa là Cha ban sự bình an ngay trên thuyền của Ngài.

CON VẪN TRÔNG CẬY CHÚA:

https://www.youtube.com/watch?v=48y_55thk_s

Để tạm biệt bài chia sẻ: “Đừng Sợ”, tôi xin kết thúc bằng Lời Nguyện Tắt và hiệp thông trong hai Bài Thánh Ca sau đây:

Loving God, in Your majestic quietness,

where I know nothing can grasp You,

no word defines You, no prayer bends You,

there I find my deepest security and the purest awe.

Amen.

 Dear Lord and Father of Mankind:

https://www.youtube.com/watch?v=WqOnjmr9Ah0

Be not afraid:

https://www.youtube.com/watch?v=dWpG7qHtB8g

 Fx Nguyễn Văn Mơ

Tài Liệu Tham Khảo Thêm:

Đừng sợ và đừng lo

(theo Li Chúa)

  • Sáng thế 15: 1 (Chúa là khiên che); 21: 17 (Chúa đã nghe); 26: 24 (Chúa ởcùng); 35: 17 (có con trai); 42: 23 (Chúa ban kho báu); 46: 3 (Chúa ban một dân lớn); 50: 19 (không thay quyền Chúa); 50: 21 (cấp dưỡng).
  • Xuất hành14: 13-14 (Chúa chiến đấu cho); 20: 20 (Chúa thử thách).
  • Dân Số 14: 9 (Chúa ởvới); 21: 34 (Chúa đã trao).
  • Đệ Nhị Luật 1: 17 (việc xét xửcủa Chúa); 1: 21 (Chúa đã trao); 1: 29 (Chúa chiến đấu);  3: 2 (Chúa đã trao); 3: 22 (Chúa chiến đấu); 7: 18 (Chúa bảo vệ); 18: 22 (ngôn sứ giả), 20: 1 & 3 (kẻ thù); 31: 6 & 8 (Chúa không bỏ rơi).
  • Giô-suê 1: 9 (Chúa ở với); 8: 1 & 10: 8 & 25 & 11: 6 (Chúa nộp vào tay).
  • Thủ Lãnh 6: 10 (thần ngoại); 6: 23 (dù gặp Chúa).
  • Rút3: 11 (được đáp lời vì đức hạnh).
  • 1 Samuen 12: 20 (nếu không bỏChúa); 22: 23 (Chúa ở cùng); 23: 17 (không bị hại).

2 Samuen 9: 7 (xử tình).

  • 1 Vua 17: 13 (Elia trấn an bà góa).

2 Vua 1: 15 (vua); 6: 16 (được phù hộ); 19: 6 (điều nghe).

  • 1 Sử Biên Niên 22: 13 (sẽ thành công); 28: 20 (Chúa ở cùng).

2 Sử Biên Niên 20: 15 & 17 (Chúa chiến đấu);  32: 7 (Chúa          mạnh hơn).

  • Nêhêmia4: 14 (Chúa chiến đấu).
  • Giuđitha11: 1 (báo tin).
  • Étte9: 22 (kẻ thù).
  • 1 Macabê 4: 8 (dù kẻ thù đông).
  • Gióp5: 21 (Chúa bảo vệ); 9: 34 (cầu nguyện); 11: 15 (nếu không tì ố); 21: 9 (Chúa bảo vệ).
  • Tv3: 5-8 (Chúa đỡ nâng); 23; 4 (có Chúa ở cùng); 27: 1-3 (Chúa bảo vệ); 34: 4 (tìm kiếm Chúa); 46: 1-4 (Chúa là nơi ẩn náu); 49: 17-18 (kẻ giầu); 56: 3-5 & 115: 11 (tin tưởng Chúa), 56: 3-4 & 11 (tin tưởng Chúa); 91: 5 (đêm vắng, tên bay); 94: 9 (Chúa ủi an); 112: 8 (coi thường kẻ thù); 118: 6 (Chúa ở cùng).
  • Châm Ngôn 3: 24-25 (khi nằm ngủ, tai họa).
  • Huấn Ca 34: 14 (nếu kính sợ Chúa).
  • Isaia7: 4 (bị hãm hại); 8:12 (âm mưu); 10:24 (kẻ thù); 12:2 (Chúa cứu độ); 17: 2 (nằm nghỉ); 41: 10 (Chúa ở cùng); 35: 4 (Chúa báo phục); 37: 6 (điều nghe nói); 40: 9 (có Chúa); 41: 10 (Chúa là Chúa); 41: 13-14 (Chúa giúp). 43: 1 (Chúa cứu); 43: 5 (Chúa ở bên); 44: 2 (Chúa giúp); 44: 8 (là chứng nhân); 51: 7 (theo chỉ dẫn của Chúa); 54: 4 (không xấu hổ); 54: 14-17 (Chúa bảo vệ).
  • Giêrêmia 1: 8 & 46: 27-28 (Chúa ở với); 10: 5 (không bịhại); 17: 8 (thiên tai); 30: 10 (Chúa cứu); 42: 11 (vua chúa); 46: 27-28 (Chúa cứu); 51: 46 (tiếng đồn).
  • Ai Ca 3: 57 (Chúa ở bên).
  • Êdêkien 2: 6 (kẻphản loạn); 3: 9 (kẻ thù).
  • Đanien10: 12 (Chúa nghe); 10: 19 (Chúa tăng sức).
  • Giôen2: 21-22 (Chúa thực hiện điều vĩ đại).
  • Xôphônia3: 16-17 (Chúa ngự giữa).
  • Khắcgai2: 5 (Thần Khí Chúa ở giữa).
  • Dacaria8: 13-15 (Chúa cứu và chúc phúc).
  • Mátthêu1: 20 (nhận Maria); 6: 25-34 (Chúa quan phòng); 10: 19 (Chúa giúp nói); 10: 26-28 (người đời và người chỉ giết thân xác); 10: 31 (giá trị hơn chim); 14: 27 (Thầy đây); 17: 7 (Chúa đỡ nâng); 28: 5 (Chúa đã sống lại); 28: 10 (đi nói với anh em).
  • Máccô5: 36 (vững tin); 6: 50 (Thầy đây); 13: 7 (chiến tranh); 13: 11 (Chúa giúp nói); 16: 6 (Chúa đã sống lại).
  • Luca1: 13 (Chúa đã nhận lời); 1: 30 (đẹp lòng Chúa); 1: 74 (Chúa sẽ giải thoát); 2: 10 (tin mừng trọng đại); 5: 10 (đánh cá người); 8: 50 (vững tin), 12: 4 (người chỉ giết thân xác); 12: 7 (đáng giá hơn chim sẻ): 12: 11 (khi ra tòa); 12: 22-34 (Chúa quan phòng); 12: 32 (Chúa ban nước trời); 21: 9 (dù chiến tranh, loạn lạc).
  • Gioan3: 15-18 (Chúa đến để cứu chuộc); 6:20 (Thầy đây); 12:15 (vua ngự đến); 14: 27 (bình an của Chúa): 16:33 (can đảm).
  • Công Vụ 18: 9 (cứnói); 20: 10 (cậu ta sống); 27: 23-24 (Chúa ban cho).
  • Rôma8: 38-39 (yêu Chúa); 13: 3 (thế quyền).
  • Philípphê4: 6 (cầu nguyện); 1: 14 (tin cậy vào Chúa)

2 Timôthêô 1: 7 (Thần Khí Chúa giúp).

  • Do thái 13: 6 (Chúa giúp).
  • Giacôbê2: 13 (xét xử).
  • 1 Phêrô 3: 6 (nếu làm điều thiện); 3: 14 (chịu khổ); 5: 6-7 (Chúa chăm sóc).
  • 1 Gioan 4: 18 (nhờ ty).
  • Khải Huyền 1: 17 (Chúa là đầu và cuối); 2: 10 (đau khổtù tội).

        (Virginia, 14-7-2020jpah)

 From: Thầy Định gởi

Chuyện Buồn Người Vợ Tù

Chuyện Buồn Người Vợ Tù

Trần Thị Thanh Minh

 Thân gửi đến quý anh chị “Chuyện Buồn Người Vợ Tù” của chị Trần Thị Thanh Minh. Thật tội cho những người vợ phải gặp hoàn cảnh khó khăn đi thăm nuôi chồng trong những trại học tập cải tạo của chế độ Việt Cộng. Xin chúc phúc cho chị và các cháu đã may mắn đến được bến bờ tự do. Thân ái trong tình người Việt tha hương.

 Đinh công Đức

Một ngôi biệt thự nhỏ khiêm tốn cuối đường Hoàng Diệu, Đà Lạt. Phía sau là vườn hồng và có thể nhìn thấy trường Couvent thấp thoáng áo xanh lam của các nữ sinh nội trú. Đó là “ngôi nhà hạnh phúc” của chúng tôi cũng là tên do các bạn yêu thương đặt cho nó. Chúng tôi sống êm đềm hạnh phúc với ba đứa con thật dễ thương và một em bé còn đang trong bụng mẹ. Căn nhà lúc nào cũng rộn rã vui tươi nhất là Tết đến còn thêm “những con bà phước” (tức là những sỹ quan Võ bị không được về Sài Gòn ăn Tết vì cấm trại) tất cả đều quay quần vui chơi như chính nhà của họ, bởi vì các anh thích cái không khí thoải mái và thân thương nhất mà chúng tôi đã thật thân tình đón tiếp. Nếu cuộc sống ấy được kéo dài thì thật đúng là chúng tôi đã có một thiên đàng hạnh phúc thật sự rồi. Nhưng đâu có ai ngờ rằng Buôn Mê Thuột mất, mọi nơi di tản về Sài Gòn. Gia đình tôi cũng trong làn sóng kinh hoàng đó. Tôi và các con được ông bà nội các cháu yêu thương đùm bọc, và tôi đã sinh cháu bé ngay tháng tư năm đó. Cũng vì thế mà chồng tôi không thể ra đi một mình. Anh đã lên được tàu nhưng anh lại nhảy xuống bơi về. Nếu anh biết trở về rồi lại phải xa mẹ con tôi vĩnh viễn chắc anh đã chẳng quay về. Đó cũng chính là nỗi đau ray rứt, niềm ân hận khôn nguôi của chúng tôi.

 Tháng sáu anh đã đi trình diện học tập cải tạo, với hy vọng sau mười ngày sẽ trở về… Không có chồng tôi ở nhà, tôi rất sợ hãi và buồn lo. Anh đã cho tôi một đời sống ổn định vững vàng. Nay không có anh tôi không thể làm gì hết, tôi đã mất hết, mất cả những ước mơ toan tính của chúng tôi cho con cái sau này. Tôi không còn gì hết ngay cả mạng sống của tôi cũng rất mong manh vì mới sanh cháu còn quá nhỏ. Rất may nhờ sự lo xa của bà nội các cháu nên mẹ con tôi còn được ăn cơm thêm vài tháng. Toàn dân ở thành phố đã phải ăn khoai lang, khoai mì và bo bo. Lương thực bán theo sổ gia đình, hoàn toàn không có gạo. Khi nào được mua bột mì thì sung sướng lắm. Vì có thể đổi bột lấy bánh mì (món ăn ngon nhất lúc bấy giờ) Nhờ có bánh mì tôi có thêm việc làm để kiếm được vài đồng đi chợ. Tôi phải lo làm nước sốt (muối + cà chua) thái cà rốt, củ cải, dưa leo làm đồ chua mang ra trước cửa bán từ 4 giờ sáng.

 Ngày tháng cứ qua đi với buồn lo nặng trĩu vì 4 đứa con cần ăn để sống.  Tôi như con chong chóng hết bán bánh tôm bánh cuốn tại đường Duy Tân lại quay ra bún ốc bún riêu ở đường Gia Long. Nhưng cũng không được bao lâu vì “chiến dịch dẹp lòng lề đường”. Tôi lại phải chạy thuốc tây, ai cần bán cần mua là có tôi làm chân chạy. Tôi còn nhớ một lần có người cần mua 5 chai nước biển, mà tôi chỉ có đủ vốn cho 2 chai, thế là tôi phải chạy làm 3 lần từ chợ Vườn Chuối qua chợ Bà Chiểu mới giao đủ hàng được.  Đạp xe đạp muốn kiệt sức vì mồ hôi và nước mắt nhoè nhoẹt đến không thấy đường đi. Nhiều lúc đầu óc tôi muốn vỡ tung ra vì những tính toán cho cuộc mưu sinh, vì những thay đổi khôn lường của xã hội chủ nghĩa và nhất là vì những hoang mang lo sợ cho chồng tôi đã bao lâu biệt vô âm tín. Ban đêm, nhìn những khuôn mặt ngây thơ của các con tôi trong giấc ngủ say sưa; tôi yên tâm vì tôi vẫn còn có chúng ở bên tôi. Nhưng chồng tôi nay ở đâu? Đói no ấm lạnh ra sao? Anh là người nặng tình chồng vợ, yêu quý các con, liệu anh có yên giấc được không? Hay cũng như tôi thao thức suốt đêm thâu với bao nỗi lo âu tắc nghẽn không phương giải thoát. Chỉ có lúc này tôi mới được tự do khóc nức nở để vơi bớt nỗi buồn lo nặng trĩu bên mình. Tôi không dám khóc trước mặt các con vì chúng sẽ òa khóc theo ngay khi thấy tôi chảy nước mắt.

 Mãi gần một năm sau tôi mới được tin chồng tôi dù chẳng phải là tin vui. Anh đang bị một cơn sốt rét ác tính và thiếu thức ăn trầm trọng có thể chết bất cứ lúc nào. Mong ước của anh là muốn biết tin tức của mẹ con tôi trước khi anh nhắm mắt. Trời đất như sụp đổ dưới chân tôi. Tôi lạy van người đưa tin xin chỉ đường cho tôi đi gặp anh.

Sau cuộc hành trình khá vất vả, lội suối băng rừng, những con vắt cắn tôi chảy máu tùm lum mà tôi không hề biết sợ biết đau. Quần áo ướt hết, gió lạnh làm tôi rét run, xanh mét. Tới nơi chưa kịp mừng thì đã bị cán bộ trưởng trại tra hỏi lâu ơi là lâu. Cuối cùng vì “cảm phục lòng yêu chồng của phụ nữ miền Nam”. Họ cho tôi gặp mặt. Vì chồng tôi đau nặng nên anh em cùng “láng” cho mắc võng ở giữa còn các anh mắc võng chung quanh để che gió lạnh. Thật sự thì có che được bao nhiêu đâu vì mỗi khi gió tạt vào thì tất cả đều lãnh gió cát đầy cả mặt mũi. Tôi chết đứng khi thấy chồng tôi chỉ còn là bộ xương sơn đen, hàm răng trắng nhô ra vì đôi má đã hóp lại, cặp mắt lõm sâu không còn thần sắc. Tôi khóc lặng lẽ nước mắt như mưa nhào tới bên anh, ôm lấy tay anh, còn anh thì không còn đủ sức để nắm tay tôi nữa. Thời gian như ngừng lại, các anh xung quanh cũng yên lặng ngậm ngùi.

Tôi không thể nào quên được đêm hôm ấy, trước đống lửa bập bùng, mấy chục khuôn mặt mà tôi chắc trước kia đẹp đẽ oai phong lắm trong bộ quân phục VNCH, bây giờ thì chao ơi là tội nghiệp, họ chỉ còn là những bộ xương người biết cử động. Thương người, thương mình tôi khóc đến đau nhức cả hai mắt. Chồng tôi thì nằm thoi thóp, miệng vẫn cố cười, chắc anh đã mãn nguyện? Đứa con gái út của anh mới tám tháng nên hãy còn bú mẹ. Hai bầu sữa căng nhức, tôi chợt tỉnh táo để xin lỗi mọi người ra xa để vắt sữa. Tôi bưng chén sữa bỏ thêm hai muỗng đường rồi đổ cho chồng tôi từng muỗng một.

Chồng tôi có lẽ nhờ vào mấy chén sữa của tôi mà tới sáng anh đã tỉnh hẳn. Mấy anh bạn cứ chọc anh là uống sữa tiên nên mới được như vậy.

 Sau chuyến đi ấy tôi ngã bệnh cả tuần lễ. Vừa khỏi là tôi lại sửa soạn đi một chuyến nữa vì tôi biết chồng tôi rất cần thuốc men và tẩm bổ. Hai chân anh ấy không mang nổi tấm thân gầy chỉ còn 40 ký lô. Nỗi buồn lo này chưa hết, lại đến nỗi buồn vì con bé không thèm sữa mẹ nữa. Thế là tôi mất thêm niềm hạnh phúc vô biên là được ôm con, ngắm cái miệng xinh xinh của con như gắn liền với bầu vú mẹ để được mẹ chuyền cho giòng sữa chan chứa yêu thương. Các cụ đã nói là khi đang cho con bú thì không được cho ai sữa của mình kẻo trẻ sẽ chê sữa mẹ. Tôi cũng tin như thế nhưng biết làm sao hơn khi thấy chồng tôi cũng đang cần sức sống.

 Muốn có thuốc men và đồ ăn cho chồng thì phải lo tiền nhiều hơn. Bán ngoài đường bị đuổi, tôi xoay ra làm bánh croissant ở nhà. Tối nào tôi cũng nhờ mấy cậu hàng xóm sang nhào bột hộ, xong bắt bánh rồi chờ bột nở cho vào lò. Lúc đầu tôi tự làm, tự bán nhưng sau tôi để bà con lối xóm lấy bánh đi bán các nơi, bán nhiều thì lời nhiều. Nếu không bán hết thì tôi lấy lại để nướng khô bán cho các chị đi thăm nuôi. Vậy mà cũng chẳng được bao lâu thì hết vốn vì bánh thì vẫn phải làm mà tiền thì không thu về được vì ai cũng nghèo nên dù bánh bán hết cũng không đủ tiền mua gạo nên lại khất tôi lần sau, rồi lần sau nữa… Dù sao tôi vẫn phải cố xoay sở cho có đủ tiền đi thăm nuôi chồng.

 Tới năm 1977, chồng tôi bị “biên chế” chuyển từ Kà Tum qua Trại An Dưỡng Biên Hòa. Lúc đó chúng tôi mới được đi thăm chính thức. Cán bộ trong trại đã gửi giấy về nhà, cho phép thân nhân đi thăm sau gần hai năm biệt tăm tin tức. Có được đặc ân này là do những xôn xao, bất mãn của gia đình tù nhân cải tạo. Sau lần thăm đó, anh bị đưa ra Bắc lúc nào tôi không hay.

 Thời gian này là khủng khiếp nhất vì họ đổi anh đi lung tung, nào Lào Cai, nào Yên Bái, nào Lạng Sơn! Vừa được tin ở nơi này thì đã bị chuyển đi nơi khác, không có cách nào thăm nuôi được. Tôi phải mua chui những tấm phiếu để được phép gửi quà, mỗi gói chỉ có 3 kg thôi, địa chỉ phải viết theo ám số. Tôi phải làm thịt kho với cả chai nước mắm, hy vọng mặn thì để được lâu vì không biết bao giờ gói quà mới tới tay người nhận. Trông thấy tôi kho thịt, các con tôi nói: “Bố sướng quá, có nhiều đồ ăn ngon hơn tụi mình!” Còn gì đau khổ và xót xa hơn cho tôi khi nghe thấy câu so sánh thơ ngây này!!

 Cuối cùng tôi cũng tìm ra được họ chuyển anh về Vinh-Nghệ Tĩnh. Tôi và chị anh vội ra thăm. Vì không có giấy phép nên chúng tôi phải đi tàu với giá chợ đen, nghĩa là đi từng chặng một và giá vé gấp đôi. Tới nơi tôi sẽ vào báo công an là tôi bị mất cắp nên mất luôn cả giấy phép thăm nuôi và xin họ chứng nhận cho. Phải có giấy đó tôi mới được phép vào trại thăm chồng tôi. Tôi đã phải nói dối mới thoát qua ải lính gác.

 Vừa xuống tàu là tôi đã hoảng sợ vì dân địa phương đứng chỉ chỏ bọn tôi: “Vợ ngụy kìa!” Cũng may họ không ném đá chúng tôi như đã ném đá các anh khi phải chuyển ra Bắc. Chúng tôi tới nơi là chiều thứ Bảy, họ không kiếm được chồng tôi. Qua ngày Chủ Nhật tôi vẫn còn hy vọng gặp mặt vì họ nói anh đi xa làm việc, đã cho gọi rồi, thứ hai sẽ gặp. Đêm Chủ Nhật, tôi nằm mê thấy anh về báo cho tôi biết là anh đã chết!? Anh linh thiêng như vậy chăng? Tôi tỉnh dậy khóc quá trời làm thức giấc mọi người. Các chị đi thăm nuôi an ủi tôi “Sinh dữ tử lành, yên chí đi, mai được gặp”. Tôi không thể nào tả được hết nỗi buồn lo, bối rối của tôi đêm đó và thức luôn đến sáng, không thể nào ngủ lại được. Mờ mờ sáng tôi đã dậy. Mọi người lo nấu cơm vì nghe nói ở đó không bao giờ tù nhân có cơm ăn. Trời sáng hẳn. Dưới lớp sương mù của núi, từ trên nhìn xuống, tôi thấy từng toán người đi ra lao động. Tôi như người mộng du, như có ai đẩy tới, tôi từ từ đi xuống chân núi, nơi cấm các thân nhân tù cải tạo tới gần. Toán 1 đi qua, rồi toán 2, rồi toán 3, tôi nghe thấy tiếng gọi “Chị Chung, chị Minh” và tiếp theo tiếng ai la to: “anh Chung chết rồi!” Tôi ngã xuống và không còn biết gì nữa.

 Khi tỉnh lại, tôi thấy tay chân bị trói vào trõng tre, y sĩ đang chích thêm hai mũi thuốc khoẻ. Tôi nghe kể là tôi đã ngất đi và họ khiêng tôi lên núi cả tiếng đồng hồ qua rồi. Họ phải trói tôi lại vì sợ tôi vật vã làm gẫy kim chích. Tôi nói tôi không sao, cởi trói ra cho tôi. Sau cơn choáng quá đau tôi lại trở thành bình tĩnh quá làm họ cũng phát hoảng luôn. Tôi yêu cầu gì thì họ cũng cho phép hết. Tôi xin được gặp bạn bè thân của chồng tôi, trao lại cho các anh hơn 120 kí lô quà tôi mang đến. Ai cần gì thì lấy rồi viết thư về nhà nhắn vợ con đem tiền trả tôi. Cuối cùng cán bộ mang đến cho tôi một cái túi xách tay, trong chả có gì ngoài bộ bà ba cũ mèm của chồng tôi. Họ cho tôi một chén cơm hẩm, hôi mùi gạo mốc, trên có quả trứng luộc dể mang ra mộ. Trẻ em theo sau để nhìn bát cơm, trầm trồ: “cơm kìa! cơm kìa!” tôi đi như một thây ma sống, mắt mở to mà nào có nhìn thấy gì, tai cũng chẳng nghe thấy gì, bước thấp bước cao theo hai người dìu tôi đi, tim như đau buốt, nước mắt chảy không ngừng. Khi ra tới mộ tôi lại ngất đi một lần nữa. Giá mà khi ấy tôi được đi luôn theo chồng tôi thì hay biết mấy!

 Tôi trở về nhà với một thân xác rã rời, một đầu óc rỗng không, biếng ăn, mất ngủ, chả nói năng gì, mắt mở to mà chả nhìn thấy gì. Tôi đã phải ra, vào nhà thương Chợ Quán mấy lần. Rất may cho tôi và các con tôi là lúc đó tôi có một cô em và một người bạn lo lắng và chăm sóc mẹ con tôi tận tình.

 Vài tháng sau, tôi nhận được 2 thùng quà trả lại với hàng chữ “Người nhận đã chết. Trại yêu cầu hoàn.” Ra bưu điện lĩnh 2 gói quà xong, vừa ra đến cửa tôi lại ngất đi. Rất may có anh bạn hàng xóm đạp xe xích lô đang chờ để chở tôi về nhà. Tới bữa ăn, nhìn bốn đứa con ngồi ăn ngon lành với tóp mỡ ngào đường và nước mắm, quà của bố trả lại, nước mắt tôi lại chảy như mưa. Rồi tới gần cả năm sau, phường trưởng mới cử đại diện đến chia buồn và đưa cho tôi biên bản “phạm nhân chết”. Nhờ mảnh giấy này mà mẹ con tôi mới được đi Mỹ theo diện HO. (Tôi vẫn còn giữ mảnh giấy này, xin gửi kèm theo đây để mọi người biết “tội ác” của chồng tôi!) Can tội: Giảng viên tâm lý chiến xã hội học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà lạt. Án phạt tù: 3 năm; nhưng khi chết đã 3 năm 7 tháng. Nếu họ đúng lời chắc chồng tôi không thể chết.

 Thế là xong là tuyệt vọng cả đời. Lúc đó tôi sống cũng như chết rồi, nhưng vì bốn đứa con nhỏ, chúng đâu có tội tình gì. Bên nội, bên ngoại ai cũng muốn nuôi dùm 1, 2 đứa nhưng tôi không thể nào chịu được nếu để 1 đứa con xa tôi. Tình thương con đã thắng cái “điên” của tôi để lo lắng cho chúng nhưng với phường khóm thì tôi thật là một “mụ điên dữ dằn”. Tôi không chịu đi họp tổ, họp phường gì cả. Công an khu vực tới tận nhà bắt đi họp. Tôi nói: “Người mà các anh thấy có tội là chồng tôi thì anh đã chết rồi, tôi và 4 con nhỏ không còn gì phải họp với hành nữa”.

Lúc trước mình ngu nên cứ tin là phải họp hành cho tốt thì họ xét cho chồng về sớm. Nay tôi không còn gì để sợ nữa thì họ lại để tôi được yên thân.

 Tôi bắt đầu tính chuyện vượt biên, mấy mẹ con dắt díu nhau đi tìm đất hứa không biết bao nhiêu lần. Hết đi từ Nhà Bè, Vũng Tàu, Mỹ Tho đến Rạch Giá, Sóc Trăng nhưng đều không thoát, ở tù cũng mấy lần. Xuống ghe ra biển lại thấy hối hận vì thương con, chưa thấy thoát mà chỉ thấy chết tới nơi. Bị bắt tù đày thì lại càng hối hận hơn vì các con không có thức ăn, nước uống chỉ có một ca nhỏ. Trong trại chỉ có 1 cái ao tù, ăn cũng đó mà tắm giặt cùng nơi. Bẩn thỉu không thể tả cho nên trẻ con không bị đau bụng, ỉa chảy thì cũng ghẻ lỡ ghê hồn. Tôi sợ quá đến không dám nghĩ đến đi nữa. Phải cậy nhờ xin đi dạy lại dù biết là nhà giáo chỉ húp cháo thôi.  Nhưng dù sao đi nữa cũng còn có chỗ để mua “nhu yếu phẩm” và được “thầu” để bán quà cho học trò trong trường.

Thời gian này tạm ổn định, lo cho các con tới trường cũng phải chạy chọt vì “nhất thân, nhì thế” của xã hội lúc bấy giờ. Phận mình thì xong rồi, bạn bè tôi còn rất nhiều có chồng đang tù tội. Thỉnh thoảng chúng tôi họp nhau để “lá rách nát đùm lá tả tơi” đứa nào có thứ gì cho tù ăn được thì mang tới gom lại để chia cho những bạn sắp đi thăm. Trong cái tình đó tôi lại thấy được nhiều sự đau khổ mà người vợ tù phải chịu đựng nhục nhằn mà không ai có thể chia xẻ với họ. Chẳng hạn như một chuyện rất thật của một người bạn thân của tôi, chúng tôi đã chia sẻ từng bó rau muống từng chén nước mắm “muối + nước màu” cho các con ăn. Từng viên đường thẻ để mang vào tù cho chồng. Chỗ chồng bạn tôi ở lại có “nhà hạnh phúc” và các anh tù phải làm việc thật tốt thì cán bộ mới cho phép gặp vợ tại đó. Lẽ dĩ nhiên chồng bạn tôi làm khổ sai cật lực để được ân huệ đó. Chị cũng là một cô giáo, sống rất đạo dức và thành tín, thương chồng vô cùng, nhưng khi vào thăm đã thấy “nhà hạnh phúc” có mấy cái trõng tre và mấy anh cán bộ ngồi canh. Chị đã không thể “cho anh” và điều này đã khiến anh nổi giận nghĩ là chị đã có “ai khác” ngoài đời. Chị đã bị anh chửi bới tơi bời còn gì thê thảm hơn nữa không? Thời gian đã qua tôi hy vọng anh đã thông cảm với chị về cái “không thể cho anh” đó. Mặc dù giờ thì anh chị cũng đã xa nhau, thật là một điều rất đáng tiếc. 

 Lại thêm một cô bạn láng giềng, may mắn có ông chồng được thả về sau bảy năm tù tội. Những tháng ngày trong lao tù khiến con người cũng thay đổi nhiều lắm. Dễ nóng giận và mặc cảm đầy mình. Một hôm cô bạn tôi được nhà nước cho mua một khúc vải may quần với giá rẻ dành cho các công nhân viên nhà nước. Cô mang về khoe nói là bán đi sẽ lời được sáu ngàn đồng. Ông chồng lại muốn may để mặc vì ông ta thấy cũng cần phải có một cái quần mới. Bạn tôi ngần ngại nửa muốn cho chồng may, nửa muốn bán đi để thêm tý tiền lo cho gia đình nên nói với chồng: “Khúc vải này sáu ngàn lận đó anh.” Chưa nói dứt lời là bạn tôi bị một cái tát tai choáng váng mặt mày, sự việc xảy ra quá sức tưởng tượng của mọi người. Anh chồng rất hối hận về hành động vũ phu của mình; tuy nhiên anh vẫn đổ lỗi cho bạn tôi cái tội “coi cái quần hơn chồng”. Đó lại là một trong muôn ngàn cảnh ngộ trớ trêu của vợ tù cải tạo.  

 Thắm thoát đã qua 7 năm lúc này cuộc sống mấy mẹ con tôi đã dễ thở vì chị em bạn bè ở ngoại quốc đã bắt đầu gửi tiền về cứu trợ. Tôi được mẹ chồng cho theo đi để bốc mộ Anh. Tâm trạng tôi thật rối bời và lo sợ liệu bốc lên có phải là Anh không hay lại là mồ của ai khác?!! Trên đường đi cũng không kém gian nan cực khổ như khi đi thăm nuôi tại Kà Tum. Tôi phải gửi mẹ tôi tại Nghệ Tĩnh để cùng với người cháu đi vào K3 chỗ họ chôn xác Anh. Đường thì xa, đất sét trơn trượt tôi nghĩ đành phải bỏ cuộc vì hai bàn chân đã sưng rát. Tôi ngồi xuống bên đường vừa khóc vừa van vái “anh có linh thiêng xin phù hộ cho em tới nơi để mang anh về gần em và các con”.  Đang gục đầu khấn nguyện thì nghe tiếng xe lọc cọc do một con trâu kéo, trên là các cán bộ đi công tác về. Họ tra hỏi và tôi “thành khẩn khai báo” nên họ cho tôi lên xe quá giang tới tận nơi. Tôi nhờ người cháu trở lại để đón Mẹ tôi trở vào trại ngày hôm sau để bốc mộ. Tôi không thể nào quên cái cảm giác hãi hùng khi được anh cán bộ đưa lên núi, chỗ đó là chỗ để các thân nhân tù lên ở tạm qua đêm vì không có xe về ngay. Khổ cho tôi là khi tôi tới nơi thì chỉ có một mình, có sợ cũng chẳng làm sao hơn được tôi đành cầu cứu nơi các đấng thiêng liêng, Chúa Mẹ, Phật Quan Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, cầu chồng tôi che chở bảo vệ tôi. Cứ mở mắt to mà van xin cầu nguyện đâu có dám nhắm mắt mặc dù đã quá mệt mỏi. Rất may trời bắt đầu tờ mờ sáng là mẹ tôi đã đến nơi. Chúng tôi được cán bộ hướng dẫn đi tìm mộ, may mắn tôi gặp được anh cán bộ người miền Nam rất tốt bụng đã cho phép chúng tôi được gặp những người đã chôn chồng tôi lúc trước. Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi mới biết bốc mộ là gì và nhất là thấu hiểu được câu nói “cát bụi trở về với cát bụi”. Thịt da đã tan vào với cát, chỉ còn bộ xương trắng mà các bạn anh đã từ từ cầm lên từng cái đầu, xương vai, xương cổ ống tay ống chân, và ngay cả những đốt xương nhỏ họ cũng mò tìm cho đủ. Một sợi dây làm bằng giây thép nhỏ, cái mặt làm bằng kính máy bay có hình dáng 2 người đứng bên nhau đã được anh bạn lấy lên trao cho tôi và nói chính chồng tôi đã làm để tặng cho tôi khi nào tôi lên thăm gặp mặt. Anh đã phải cất giấu bao ngày vì nếu cán bộ thấy là bị tịch thu ngay. Rất may là có mẹ tôi và người cháu lo lắng lấy rượu rửa xương rồi quấn vào vải bỏ vão trong một cái bị to để chúng tôi mang về. Còn tôi ngồi chết cứng với nước mắt rơi sầu tủi. Xót thương anh.

 Trên đường về mới gặp toán người thăm nuôi. Gặp cô bạn cũng đi với mẹ già, đang chuyển quà từng khúc một, tôi chạy lại đỡ một tay. Khi tôi dắt bà cụ qua một người tù đang cuốc đất dưới ruộng, ngẩn nhìn và khẻ gọi mẹ.  Tôi quay lại giúp cô bạn còn vài giỏ đồ ăn, chúng tôi vừa đi ngang thì lại nghe anh ta gọi “em Liễu”. Cô bạn tôi nghe tên ngoảnh mặt lại nhìn và lại bỏ đi luôn. Đem đồ lên đặt cùng chỗ với bà cụ chúng tôi lại quay lại trở lại để đem nốt chỗ còn lại, tôi bảo cô bạn, có lẽ anh tù kia quen Liễu đấy. Ta thấy anh gọi Mẹ lại kêu tên Liễu đó. Chạm mặt nhau rồi mà Liễu vẫn không nhận ra. Tới khi anh ta quên cả sợ cán bộ chồm lên đường kêu Liễu. Anh dây, Tuấn đây mà. Lúc đó bà cụ cũng đã trở lại và nhận ra con, cụ khóc òa ôm lấy anh tù, còn Liễu cũng khóc nhưng la “không phải anh mà” không phải anh đâu. Người chồng yêu quý vì tháng năm đói khổ phải ăn khoai mì nên mặt anh ta biến dạng vì quai hàm bạnh ra và nhựa độc của khoai mì làm cho tất cả tù nhân đều có cái mặt vuông gần giống nhau cả. Tôi cũng không cầm được nước mắt lại nghĩ rằng chắc chồng tôi còn sống thì mặt mũi cũng chỉ như vậy mà thôi.

 Từ trại về chỉ có độc nhất một chiếc xe đò, mọi người ngồi chật cứng trong xe, còn có nhiều người phải đứng bám vào cửa xe rất là nguy hiểm. Mẹ con tôi về đến ga Vinh là trời đã tối, lại ôm cồng kềnh một cái bị hài cốt của chồng tôi. Ngồi sân ga đợi tàu rất là nguy hiểm vì mẹ con tôi ngơ ngác với xứ lạ quê người. Mẹ tôi phải lấy giây buộc cái bị và cuốn quanh người. Chỉ sợ lỡ mất đi thì khổ lắm. Tôi hồi hộp sợ hãi còn hơn khi đi vượt biên nữa.  Tôi đánh liều vào nhà nghỉ mát của nhân viên xe lửa. Sau một lúc nói chuyện gây cảm tình và nhờ có “thủ tục đầu tiên” (xin trả tiền trước) nên mẹ con tôi được vào tạm trú qua đêm yên lành. Sáng hôm sau cũng nhờ có ông quản lý nhà nghỉ đó mà chúng tôi được lên tàu ở trong toa xe của các nhân viên đi nghỉ mát. Tôi phải tin tưởng là chúng tôi đã có ơn trên che chở nên đã mang thoát được bộ xương của chồng tôi về đến nơi đến chốn. Vì nếu không được ở trong xe đó chắc chắn chúng tôi không thể thoát khỏi xự khám xét trên tàu mà nếu họ phát giác ra là có xương người là lập tức đuổi chúng tôi xuống giữa rừng hoặc quăng xuơng đi. Giờ đây lâu lâu tôi lại có cơn ác mộng gặp lại cái cảnh mà công an đi sục sạo trên tàu, bắt mở tất cả mọi thứ để khám xét là tôi hét lên bật giậy mồ hôi ướt đẫm người. Sau đó lại nằm xuống với nước mắt trào ra không thể ngăn nổi vì nhớ thương anh và tủi phận mình đơn độc.

 Hiện tại thì chồng tôi đã được yên nghỉ tại nghĩa trang Thiên Chúa Giáo ở Bình Dương. Nhưng cũng không biết được bao lâu nữa vì họ còn tính dẹp cả nghĩa trang mặc dù đó là đất tư mà gia đình tôi đã phải mua bằng những cây vàng lúc họ dẹp nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi ngay trong thành phố Saigon.

Bốn mẹ con tôi xuống phi trường Dulles vào một buổi tối mưa tầm tả của tháng 6 năm 1994. Được gia đình cô em ra đón, tôi mừng quá nhưng vẫn chưa hết lo sợ, không biết đây là thật hay mơ. Nỗi ám ảnh bị bốc đi vùng kinh tế mới và sự không nói có, có nói không của nhà nước công sản đã khiến tôi mất hết niềm tin. Tôi chỉ còn biết cầu Đức Mẹ ban cho tôi một phép lạ.

 Chúng tôi cố gắng học hỏi để hoà nhập vào cuộc sống mới ở Mỹ. Nay các con tôi đã lớn, đã thành đạt và rất hiếu thảo. Chúng hết lòng lo lắng, chăm sóc tôi. Tôi thật mãn nguyện, nhưng tôi biết tôi không thể ôm giữ chúng mãi được. Chúng phải có cuộc sống riêng, hạnh phúc riêng. Dù biết vậy, nhưng mỗi khi chúng vắng nhà, còn lại một mình tôi, tôi lại thấy sợ hãi. Những năm tháng khổ cực, hãi hùng của thời dĩ vãng lại kéo đến ám ảnh tôi. Hình ảnh chồng tôi lúc oai hùng, mạnh mẽ trong bộ quân phục, lúc rách nát, tả tơi, thoi thóp trên trõng tre lại chập chờn quanh tôi. Tôi đã thì thầm với anh: “Đợi em đi cùng!” Vâng, tôi ước mong được sớm ra đi bình yên để được xum họp với chồng tôi. Chúng tôi chỉ mới được hưởng hạnh phúc gia dình có 4 năm 5 tháng. Tôi chắc chồng tôi cũng nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đi với anh. Chúng tôi phải nối tiếp lại những ngày hạnh phúc ngắn ngủi xa xưa.  Tôi không thể sống mãi trong cô đơn để run sợ trước những ám ảnh của dĩ vãng và những nhung nhớ khôn nguôi người chồng mà tôi mãi mãi yêu thương như buổi đầu gặp gỡ!!